Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:07:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hồi Ký Đường Ra Trận - CCB Sư đoàn 2 : Ông Nguyễn Đăng San.  (Đọc 57061 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:41:15 pm »

NỖI ĐAU THỜI HẬU CHIẾN

Lời hẹn ước khi chia tay trong buổi chiều thu năm 1972, bên dòng Sông Vệ tỉnh Quảng Ngãi như một định mệnh cuộc đời. Chúng tôi tìm được Đồng Văn Khải, người thương binh cùng nằm viện trên núi rừng Tây Nguyên theo lời hứa khi chia tay về đơn vị, Khải đang lang thang đi bán chè khô ở thị trấn Đông Anh, thành phố Hà Nội, người anh mang nhiều dấu tích của chiến tranh với đôi chân tập tễnh, cùng hai tai bị sức ép bom nghe không rõ. Trên vai chiếc ba lô mang chè ngon của đất Thái Nguyên, bộ quần áo bạc màu điểm mấy miếng vá. Anh em ôm hôn nhau nhớ về một thời gian khó, trên đường về gia đình anh đã khóc và kể cho đồng đội nghe về nỗi đau sau chiến tranh của vợ chồng trong gia đình Khải:
Sau khi kết hôn xong người vợ mang thai cả nhà Khải mừng lắm. Nhưng rồi cái thai chẳng được bao lâu nằm trong bụng mẹ. Thuốc men chạy chữa mãi thì vợ sinh được một trai, một gái. Nhưng cả hai lại mang hậu quả của chất độc da cam/dioxin, chất độc tàn ác đã cướp đi quyền làm người của cả hai đứa con vợ chồng mình sinh ra. Thằng con đầu mười mấy năm quằn quại trên giường bệnh như một con rắn, chữa mãi rồi cháu vẫn chết, đứa con gái thì loạn điên phá phách. Chính từ bệnh tật của hai đứa, đã làm cho gia đình rơi vào cảnh nghèo khó và túng quẫn. Vợ chồng tần tảo khắp nơi, ai thuê việc gì cũng làm, mới có tiền mua gạo mắm muối cùng thuốc uống an thần cho hai đứa. Lúc đầu hai con Khải mắc bệnh dị tật quái ác, do chưa hiểu biết đã có người nói độc mồm độc miệng, nào là hướng đất cát, mồ mả và ăn ở của gia đình. Năm cháu 18 tuổi bệnh quá nặng phải đưa đi bệnh viện, nhưng gia đình thì vô cùng khó khăn, chạy khắp xóm vay mượn được hơn triệu đồng bạc cho cháu đi viện. Rồi đứa con cũng vẫn ra đi trong nỗi buồn thảm thiết của gia đình. Còn món nợ vay của bà con hàng xóm cũng đã khá lâu mà vẫn không sao trả được, nhân dân nơi đây, còn khó khăn lắm.
Đứa con gái thứ hai đến nay mười bảy mười tám tuổi rồi, lẽ ra tuổi nó cũng sắp đi xây dựng gia đình và sinh con đẻ cái. Thế nhưng người vợ chịu thương chịu khó lại phải ở nhà chăm sóc phục dịch cho con, sợ nó lên cơn phá phách chạy ra ngoài va phải ô tô, xe máy, nhẩy xuống cầu cống sông ngòi, moi móc chuột bọ cho vào miệng… Gia đình họ hàng cũng cố chạy chữa, nhưng cũng khó mà qua được cái chất độc tàn ác ấy. Nhiều lúc nghĩ cơ cực quá vợ chồng Khải đã định liều mình xoá đi tất cả. Nhưng nghĩ đến những đồng chí đã một thời ra trận cũng vơi đi phần nào của nỗi buồn nghiệt ngã…
Chúng tôi còn cho nhau biết, anh em đồng đội đến thăm một số gia đình cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam/đi-ô-xin, nhìn thấy mà đau xót thương tâm. Đó là anh Hạnh người thành phố Thái Bình, sinh bốn đứa thì đã chết mất ba. Vợ chồng Tôn người Nam Sách Hải Dương, sinh được hai cháu thì cả hai đều làm cho vợ chồng anh chị ấy sợ hãi trong những cơn hung dữ. Đồng chí Nguyễn Đại Số, phường Hà Lầm thành phố Hạ Long, ba đứa con lúc đầu học giỏi, từng tham gia giải cờ vua cấp tỉnh. Không ngờ cả ba cháu lớn lên đều phát bệnh và phá phách những gì có trong nhà anh chị ấy vất vả làm ra. Cựu chiến binh Nguyễn Văn Xoay hai đứa con gái sinh đôi, gào thét mỗi khi nắng gió trở trời, cấu xé nhau lúc ăn cơm và mặt trời mới mọc. Vào nhà hai chị em ruột Nguyễn Thị Thương, Nguyễn Văn Tâm, con của vợ chồng đồng chí Liên ở xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, da hai cháu bị nứt vỡ như những con rắn lột và máu mủ rỉ ra ngày đêm. Dẫu đã biết hai cháu như vậy, nhưng mỗi lần vào thăm mà vẫn giật mình và người bị tăng huyết áp.
 Mỗi gia đình Cựu chiến binh, Thanh niên xung phong, Dân công hoả tuyến, tham gia chiến trường có nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam/điôxin, là một biểu tượng được phơi bày bởi tội ác của chiến tranh do Mỹ gây ra. Chúng ta phải lên tiếng, các công ty sản xuất ra chất tác hại của Hoa Kỳ, phải có trách nhiệm về hậu quả đặc biệt nghiêm trọng này.
Tạm biệt Khải người thương binh nghèo, mang hậu quả tàn khốc của chiến tranh do Mỹ gây ra, chúng tôi quặn đau về một thời binh lửa, tôi và anh cùng biết bao đồng đội, từ chiến trường khói lửa trở về mà cuộc chiến vẫn quẩn quanh.

Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #31 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:42:19 pm »


Chương IV
NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI SAU CUỘC CHIẾN

Là người được may mắn sống sót trở về, mỗi khi nói về chiến trường khó khăn ác liệt. Trong trí nhớ vẫn hiện về những tháng năm của chiến tranh tàn khốc, hình ảnh đồng đội dưới thời mưa bom bão đạn và nỗi đau chiến tranh không bao giờ nguôi, không sao nói hết được sự chịu đựng gian khổ của các chiến sỹ ngoài mặt trận, những tấm gương hy sinh nơi chiến trường ác liệt. Lời đồng đội trăn trối trước lúc ngã xuống chiến hào, như một mệnh lệnh. Chúng tôi còn nguyện góp sức xây dựng đất nước ngày một thêm no ấm, làm ấm lòng các gia đình có người thân hy sinh trên chiến trường.
Thực hiện lời dặn trước lúc hy sinh của người chỉ huy giữ chốt Tô Ngọc Lâm. Từ những năm 1978- 1981, tôi dò hỏi về quê hương anh trên mảnh đất Thái Bình, nông trường chè huyện Đại Từ và Đồng Hỷ của tỉnh Thái Nguyên, nơi đồng chí có một thời gian làm việc trước khi đi chiến trường. Vào những ngày lễ tết, giải phóng Miền Nam 30 tháng 4, ngày thương binh Liệt Sỹ 27 tháng 7, Quốc khánh mùng 2 tháng 9. Ngày thành lập Quân đội nhân dân… Mỗi khi qua lại tỉnh Thái Bình, thì hình ảnh người liệt sỹ kiên cường dũng cảm của đơn vị lại hiện về, làm cho người cùng chiến hào nhớ đến tháng ngày anh và tôi quên mình trong lửa đạn.
Với mọi nguồn thông tin, đúng 36 năm ngày hy sinh của anh, cũng là ngày tôi tìm được về quê hương người liệt sỹ ở thôn Ô Mễ, xã Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Tôi cùng với Trần Mạnh Cường chiến sỹ đại đội 14 cùng Trung đoàn, về gia đình người đồng chí đã cùng tôi giữ cao điểm Pắk Kụt, ngày 09 tháng 6 năm 1971. Gia đình liệt sỹ cũng đã ngày đêm tìm kiếm thông tin anh nơi chiến trường ác liệt, nhưng vẫn bặt vô âm tín. Thì hôm nay những nghẹn ngào xúc động đã được nghe người đồng đội kể về tinh thần chiến đấu và hy sinh anh dũng của anh trên cao điểm, và lời trăn trối của đồng chí trước khi về cõi vĩnh hằng. Mà đến hôm nay tôi mới thực hiện được: “ Chiến tranh kết thúc em nào còn sống trở về, nhớ tìm đến quê hương anh ở đất Thái Bình, kể lại để gia đình biết về việc anh hy sinh trên chiến trường ác liệt trong giờ phút hôm nay…”.
Thời gian cùng qui luật của tạo hoá, bởi hơn ba chục năm sau tôi mới tìm được quê hương anh. Thay mặt Liệt sỹ tôi thắp nén hương trước hương hồn cha mẹ anh, nhắc lại lời trăn trối và chiến công của anh trước lúc ngã xuống chiến trường ác liệt ngày ấy. Người cháu đích tôn là Tô Văn Cẩn con ông anh cả trong dòng họ, nhận tôi làm người thân trong gia đình. Với tình làng nghĩa xóm trên quê hương, càng làm tôi nhớ đến chiến công và hành động Anh hùng của anh ngày ấy.
Tôi biết được quê hương liệt sỹ Tô Ngọc Lâm, là nhờ vào báo An ninh thế giới viết đưa tin về ông Lê Văn Cam, ở thôn Đồng Hạ xã Vũ Phúc, thành phố Thái Bình, người Cựu chiến binh đã bỏ toàn bộ thời gian công sức nhiều năm đi tìm địa chỉ cho các thân nhân gia đình có người hy sinh. Ông Cam tra cứu trên 51.000 liệt sỹ trong toàn tỉnh Thái Bình, tìm người có tên Lâm vì trước đó tôi không nhớ được họ anh. Người Cựu chiến binh bưu tá cho những linh hồn liệt sỹ đến các nghĩa trang, đài tưởng niệm mới tìm được quê hương của liệt sỹ Tô Ngọc Lâm trong thần tượng đồng đội.
Liệt sỹ Phạm Như Ao, cán bộ đại đội 5 cùng tiểu đoàn 2 (60), cùng tôi bị thương và tiếp tục chiến đấu cho đến khi hết đạn. Rồi hai người phải giả chết trong chuồng lợn khi địch vào lục soát phía Nam. Vì đất nước có giặc mà anh không thoát được bom đạn của kẻ thù tại chiến trường Quảng Ngãi. Về thăm gia đình liệt sỹ, tôi không sao nói hết được cảm xúc của mình, khi tìm thấy mộ Phạm Như Ao trên hàng trăm bia mộ các anh hùng liệt sỹ tại nghĩa trang huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Em liệt sỹ là: Phạm Văn Đảo, hiện ở thôn An Lao- xã An Thanh, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Hàng năm vào ngày 16 tháng 4, ban liên lạc bạn chiến đấu từ chiến trường trở về gặp nhau để nhớ về một thời cầm súng đi cứu nước. Ban tổ chức mời những gia đình có người đi chiến trường hy sinh tới dự, để vơi đi nỗi buồn cùng mất mát của chiến tranh. Gia đình liệt sỹ nghe tin trong thời gian học tập huấn luyện trên đất Chí Linh, Nguyễn Văn Vặn có mối tình sâu nặng với cô thôn nữ nơi đóng quân. Bố liệt sỹ tuổi cao sức kiệt trước khi về với tiên tổ, đã mời chúng tôi cùng một thời với con ông đến nói nguyện vọng.
 Nếu Vặn có con với người phụ nữ ấy, thì đó là giọt máu sót lại của chiến tranh đối với gia đình và dòng họ. Phải tìm đem cháu nó về với gia đình. Nhờ các đồng chí tìm hài cốt Vặn đưa về nơi chôn rau cắt rốn, đặt nấm mộ con ông ở nghĩa trang quê nhà…
Bố liệt sỹ rất tự hào của một thời hoạt động trong đội du kích đường 5. Và quê hương ông đã được Đảng Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hài cốt của Vặn được gia đình cùng đồng đội ra đi ngày ấy thực hiện theo nguyện vọng. Còn mối tình người lính trẻ với cô thôn nữ nơi đóng quân, được tôi cùng đồng đội nhập ngũ ngày ấy về mảnh đất Chí Linh tìm lại. Cô thiếu nữ ngày xưa tóc đã điểm bạc, nghe chúng tôi kể lại việc hy sinh của anh trên chiến trường, cũng như nguyện vọng của người cha quá cố cùng dòng họ.
 Người thiếu phụ nghe câu chuyện xong, chị nghẹn ngào nói trong nước mắt: Ngay sau đó em đi lấy chồng được đứa con trai, cùng với hai cháu nữa… xin cho em giữ kín trong lòng về kỷ niệm cao đẹp này các anh ạ… Gia đình em bây giờ  cũng yên bề gia thất…Vì nước mình có chiến tranh giặc giã phải không các anh …
Tôi cùng đồng đội tìm liệt sỹ Khuyến, trên các nghĩa trang nhà bia tưởng niệm, tỉnh Nam Định. Tại huyện Hải Hậu anh là người xã Hải Giang, nhưng ngày tháng hy sinh của anh sai lệch tới hàng năm tại chiến trường, từ đó người mẹ và các em có phần nghi ngờ, vì trước đó có tin anh hy sinh ở đồng bằng sông Cửu Long, gia đình đã cho người vào Nam bộ tìm kiếm. Nên khi được tin chúng tôi là người cùng đơn vị và anh bị hy sinh trong thị xã Kon Tum, làm gia đình có phần nghi vấn. Tôi và Đỗ Văn Chi chiến sỹ cùng đại đội đến thăm, nhìn bà mẹ cùng mấy người em, thì họ đều giống người hy sinh như tạc. Trong câu chuyện tôi có nhắc đến khuyết tật của anh trong khoé mắt. Nghe xong bà mẹ, ông cậu ruột (em ruột bà mẹ) đứng lên xác nhận đặc điểm ấy có từ ngày Vũ Văn Khuyến mới sinh ra.
Hai mươi ngày sau, Vũ Đình Phiên em ruột liệt sỹ vào ban chính sách Sư đoàn 2, Quân khu 5 xem lại hồ sơ, thì anh ruột mình là Vũ Văn Khuyến hy sinh trong trận chiến đấu ngày 25 tháng 5 năm 1972 trong thị xã Kon Tum, đúng với người còn lại trong trung đội về cho biết. Trước đó gia đình liệt sỹ mất không ít thời gian cùng kinh phí tìm kiếm.
Gia đình liệt sỹ: Phan Văn Tao, ông bố và anh chị em ruột trong gia đình, đều hy sinh hết vì cuộc kháng chiến. Bà mẹ được nhà nước truy tặng danh hiệu bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Gia đình anh không còn người nào, nên gia đình Phan Văn Năm, con ông chú đang phải thờ phụng gia đình liệt sỹ, tại vùng cát trắng ven biển xã Bình Giang, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Chị em gia đình liệt sỹ: Vũ Văn Quỳnh, hiện ở phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội, cô em gái có tên Vũ Thị Vân khi anh còn chung sống thường hay nói đùa “ Chiến tranh kết thúc, bạn còn sống trở về sẽ gả cô em gái cho…”, hiện đang làm việc tại Cộng Hoà Liên Bang Đức. Thỉnh thoảng Vân gọi điện về thăm hỏi người bạn chiến đấu còn lại và chứng kiến giờ phút cuối cùng lúc anh hy sinh.

Gia đình liệt sỹ: Lê Quang Nhuận, dành một phần đất ở phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội bán đi, dùng vào việc chi phí tìm kiếm hài cốt liệt sỹ, quanh khu đồi Ngọc Tụ, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum. Nhưng có lẽ vật đổi sao dời mà gia đình và đồng đội chưa gặp được nhau.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #32 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:44:06 pm »


Sau khi thực hiện việc làm tình nghĩa với đồng chí đồng đội, có gia đình chính sách cùng các Cựu chiến binh viết thư thăm hỏi, nhờ cấp thông tin người hy sinh trong mặt trận. Có lá thư của người anh trai liệt sỹ nói về sự khắc khoải của bà mẹ, cùng tình cảm của bà con xóm làng với những người hy sinh vì Tổ quốc.
Tiễn con đi mẹ mong ngày gặp lại.
Đất nước bình yên con đi mãi không về.
Hàng ngày mẹ ra ngoài hiên nhìn thanh niên qua lại, tưởng con đi lâu về quên mất ngõ vào ra. Mẹ nhìn theo và giơ tay vẫy gọi: Có phải Chử Bá Chiêm con của mẹ đấy không? Nhà mẹ đây con đi quên lối, đất nước bình yên mà đi mãi không về sao cứ để mẹ mong… Rồi đến ngày không còn đủ sức, mẹ đưa cho anh 5 chỉ vàng mua bằng số tiền trợ cấp 35 đồng/ tháng của nhà nước phụ cấp. Mẹ nói: Đây là số tiền vàng mà mẹ chắt chiu tích cóp mấy chục năm liền, để dùng vào việc đi tìm hài cốt đứa em hy sinh ở chiến trường Nam Lào đem về. Trước khi mẹ nhắm mắt còn gọi vào nói: Tìm anh em đồng đội còn sống trở về cung cấp thông tin, có khó khăn tốn kém vất vả bao nhiêu cũng phải cố tìm hài cốt của em đưa về nơi chôn rau cắt rốn con nhé…

Anh trai liệt sỹ là Chử Bá Chiếm, hiện đang ở phường Phạm Ngũ Lão, thành phố Hải Dương.
Việc con trai Tống Anh Tuấn, đi tìm người cha chưa nhớ mặt là Tống Văn Diệp. Bố Tuấn là một đại đội trưởng xuất sắc của C.11- D3- E1- F2, hy sinh trong một trận đánh ác liệt, diễn ra ngày 24 tháng 4 năm 1972 tại khu vực Tân Cảnh, huyện Đắk Tô, trên vùng đất Tây Nguyên đầy nắng gió. Bố, mẹ, vợ, chồng cùng người thân và đồng chí đồng đội chắt chiu tiền bạc đi vào núi rừng phương Nam, nơi diễn ra cuộc chiến tìm hài cốt các anh hùng liệt sỹ, cùng biết bao câu chuyện cảm động khác, của những người được sống trong hoà bình và phát triển hôm nay.


TIẾNG GỌI LINH THIÊNG BÊN NHỮNG TƯỢNG ĐÀI

Những tháng năm tôi cùng các đồng chí nơi chiến trường ác liệt, thì giờ đây hình bóng các anh, các chị, vẫn hiện về những tháng ngày mưa bom bão đạn. Trong ký ức người ra trận, luôn hồi tưởng nhớ đến những đồng chí ngã xuống cho đất nước bình yên. Đồng đội đang ở đâu, hay các anh các chị vẫn nằm lại nơi chiến trường ác liệt năm nào. Những chiến sỹ có danh và khuyết danh làm lên Tổ quốc, muốn biết tên anh hỏi con suối dòng sông sẽ biết, muốn biết tên anh hỏi con đường truy kích địch năm nào. Về thăm lại chiến trường xưa, mà tim tôi vẫn trào dâng về năm tháng khói lửa chiến tranh.
 Đoàn đại biểu chiến sỹ Trường Sơn về thăm lại chiến trường: Viếng đồng đội, cám ơn đồng bào, chứng kiến thành quả cách mạng. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn- Đường Hồ Chí Minh, Anh hùng. Tại đài tưởng niệm nghĩa trang Quốc gia đường 9 tỉnh Quảng Trị, có tới 1000 đại biểu đến làm lễ dâng hương. Tôi được ban tổ chức mời đọc lời thơ tôi viết về một thời binh lửa, được khắc hoạ vào hai đôi lục bình kính viếng ở nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn, và Bảo tàng Đường Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Khi lời thơ tôi đọc vang lên:
Trường Sơn ơi! Tôi dâng nén hương thơm.

Xúc động tự hào nhớ thời binh lửa.
Anh ở nơi đâu góc biển chân trời.
Ta đã cùng nhau chung sống một thời
Chung tiểu đội hành quân đi phía trước.
Đường Trường Sơn gian nan ta cùng bước
Một căn hầm mấy đứa ngủ chung nhau
Súng đạn ba lô quần áo gối đầu
Mảnh chăn mỏng chung nhau cùng đắp
Mỗi trận bom gầm hầm tung bật nắp
Đè đỡ lên nhau che chắn bom thù
Giữa mênh mông khói lửa mịt mù
Vẫn cố gọi mong thấy nhau đủ mặt.
Túi lương khô chia nhau dè dặt .
Điếu thuốc lào mỗi đứa kéo nửa hơi
Vẫn say sưa vẫn thấy yêu đời
Đi đánh giặc mà vui như trẩy hội.
Bởi nơi ấy là tình đồng đội.
Tình quê hương đất nước chứa chan…
* * *

Khi ta lớn lên đất nước có chiến tranh.
Như dông tố từ đâu ào ạt tới
Phía Bắc phía Nam đạn thù cày sới
Máu Lạc Hồng nhuộm đỏ non sông
Tôi cùng các anh không thể ngồi trông.
Tổ quốc gọi ta lên đường cầm súng
Buổi đầu gặp nhau gỡ ngàng lúng túng
Mưa nắng thao trường biết mấy gian lao
Tôi các anh chung một chiến hào
Chung trận địa chung kẻ thù phía trước
Chung quê hương bờ tre bến nước
Bát nước chè xanh hơi ấm quê nhà
Chung một màu Cờ, chung- Tiến Quân Ca
Chung một cái tên là anh bộ đội.
Trận đầu tiên chiến công vang dội
Tim đập dồn khoảng lặng giữa Trường Sơn
Trận địa mịt mù tiếng súng tiếng bom
Tiếng quân reo tiếng kẻ thù tháo chạy
Đường Chín Bản Đông chiến công lừng lẫy
Đồi không tên Quảng Trị Nam Lào
Anh bị thương khi đánh điểm cao
Ta và địch giành nhau từng thước đất
Máu từ bụng anh ướt đầm mặt đất
Miệng vẫn hô phải giữ chốt đến cùng
Anh vỗ vai tôi để lại tớ một mình
Phải chiến đấu không cho giặc tràn tới.
Ngày chiến thắng sống nhớ về thăm mẹ
Câu nói nửa trừng anh ngừng hơi thở
Miệng vẫn cười thanh thản giữa trời xanh
Rừng Trường Sơn ôm trọn nấm mồ anh
Sống giữ đất lại trở về với đất.
Tôi theo đoàn quân tiến về phía trước.
Giải phóng miền Nam đất nước thanh bình.
Trong biển người bát ngát những màu xanh
Bóng hình anh vẫn trong lòng đồng đội...

Khi đọc đến câu. Anh ở nơi đâu góc biển chân trời… Thì trong tôi nghe rất rõ tiếng gọi linh thiêng từ các anh hùng liệt sỹ ở nghĩa trang nơi đây: Các đồng chí ơi …San ơi …ơi…  tiếng gọi lúc to lúc nhỏ, lúc hư, lúc thực, rồi lịm dần. Trước mắt tôi là hình ảnh những người lính tuổi 18, đôi mươi, với bộ quần áo xanh cùng chiếc mũ tai bèo hiện lên, cầm súng vượt qua hàng rào bùng nhùng dây kẽm gai, xung phong đánh vào đồn bốt địch. Tôi cố trấn tĩnh đọc hết lời thơ và quan sát xem ai đang gọi, chỉ nhìn thấy mọi người xúc động rơi nước mắt nức nở, thẫn thờ. Rất khó diễn tả hình ảnh cùng nghĩa tình đồng đội nơi thế giới tâm linh. Cũng có thể từ thinh không thăm thẳm, linh hồn các anh hùng liệt sỹ đã gọi chúng tôi…Bởi nghĩa tình đồng đội vẫn như ngọn lửa cháy mãi với những người còn sống. Xin cám ơn các anh hùng liệt sỹ, cám ơn đồng đội một thời binh lửa, đã giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn thử thách. Cũng chính các anh các chị nhắc nhở chúng tôi, phải sống xứng đáng với những người hy sinh vì Tổ quốc.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #33 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:46:33 pm »


Nhân kỷ niệm 62 năm ngày thương binh liệt sỹ 27 tháng 7 năm 1947- 27 tháng 7 năm 2009, đoàn đại biểu chiến sỹ bị địch bắt năm xưa ra đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, dự lễ truy điệu và an táng trên 300 liệt sỹ bị địch sát hại, vừa mới được qui tập trên đảo. Và tôi thực sự xúc động được nghe các đồng chí bị địch bắt giam kể lại, về chuồng cọp nhà giam và trên 4000 chiến sỹ kiên cường bị địch tra tấn giết hại. Đất nước bình yên thấm đẫm máu đào bao người chiến sỹ, không chút riêng tư để đất nước trường tồn. Về thăm khu di tích nhà tù trên đảo Phú Quốc và bảo tàng các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy tại huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Chúng tôi cảm phục những người một thời trong lao tù bất khuất. Người cựu tù Phú Quốc Lâm Văn Bảng, thương binh 1/4, muốn gửi lại thế hệ mai sau bằng hiện vật và tiếng nói của lương tri, nhắc nhở cháu con không để cảnh nước mất nhà tan. Cựu tù Phùng Văn Nghị cầm dao rạch bụng, vạch tội ác kẻ thù, cứu nghìn người thoát cái chết trại giam. Ông Nguyễn Suy, đất Sông Hương Núi Ngự, vạch lối chỉ đường để Đảng bộ trong tù vùng lên tranh đấu. Và đây người Cựu tù: Ngọc Tiến, Lai Cách Hải Dương.
    
Anh bị thương mất miếng sọ đầu.
    Trong lao tù vẫn kiên trung bất khuất.
    Ngày ba mươi, tháng tám, Mậu Thân.
    Lãnh đạo anh em vùng lên tranh đấu.
    Phá xích xiềng, diệt bè lũ tay sai.
    Quyết đứng lên giành tự do độc lập…

Ông Lê Đình Thảo người đất Tổ Hùng Vương, trong lao tù vẫn đứng lên đòi quyền lợi cho anh em tù binh, chống lại sự đàn áp dã man tàn bạo của giặc, cũng từ đó mà chiến sỹ ta đã phong cho ông chức trưởng phòng bổ củi.
Người bị giặc bẻ răng, anh bị chúng cắt gân… tàn ác dã man chúng đóng đinh vào sọ. Xin cảm phục các anh về một thời bát cơm chan đầy máu, chiến công các anh trong lao tù, sẽ mãi được thế hệ mai sau ngân vang mãi bên tượng đài Nắm Đấm.

...Tôi chào anh chào người chiến sỹ
Những chứng nhân của thế kỷ anh hùng.
Đầu đội trời chân đạp sóng biển Đông.
Các anh tô cờ hồng thêm chói lọi...
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #34 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:48:10 pm »


GẶP LẠI ĐỐI THỦ TRONG TRẬN ĐÁNH ĐẮK TÔ II NGÀY 24 THÁNG 4 NĂM 1972

Theo đề nghị của các cơ quan chức năng, để phía Mỹ gặp lại đối thủ của họ gần 40 năm về trước. Cựu chiến binh và cơ quan MIA muốn nắm lại trận đánh của đơn vị tấn công vào căn cứ quân sự tại Đắk Tô và căn cứ Phượng Hoàng diễn ra ngày 24 tháng 4 năm 1972, có liên quan tới trung tá cố vấn pháo binh Brown Robert, tử trận. Ngày 10 tháng 11 năm 2009, tại khách sạn Sài Gòn- Hạ Long, Quảng Ninh, những đối thủ chiến trường năm xưa gặp lại nhau. Thay mặt cho người Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên năm 1972, ông Kell Ray thừa nhận: Lúc đó họ đánh giá quá thấp về lực lượng của đối phương thời kỳ ấy.

Phải đoàn hỏi sâu về người bị thương mà cánh tấn công của tôi lên gặp phải. Theo sỹ quan Mỹ cố vấn cho cụm quân sự được cứu thoát về kể lại: Ngày 24 tháng 4, cụm quân sự phát hiện đã bị phía đối phương bao vây. Cố vấn Mỹ cùng trung đoàn trưởng số 47 của Việt Nam cộng hoà cho xe tăng ra bắn phá để bắt sống đối phương. Nhưng khi xe tăng ra đánh phá bị đối phương bắn cháy một lúc 2 chiếc, bị pháo binh xe tăng bắn phá liên tục. Đặc biệt hoảng loạn thấy bộ binh đã ép sát hàng rào chuẩn bị tấn công vào căn cứ. Nên họ đã bàn bạc cho số sỹ quan rút chạy cách cứ điểm mấy trăm mét để cho máy bay tới đón. Nhưng đến không thể nào thực hiện được vì các hướng đã bị thắt chặt vòng vây. Cho quân chạy qua cây cầu xây lắp bí mật, lúc đặc biệt cần thiết, nhưng cây cầu đã bị công binh đối phương phá huỷ từ lúc nào không rõ. Dòng sông Pô Kô lúc trở thành vật cản nguy hiểm, một số chạy thoát vào rừng đói gần chết, mấy ngày sau được lính Sài Gòn nhảy xuống tìm, vì trong đó có cố vấn Mỹ.   Đoàn công tác bàn tán rồi nói: Lúc ấy các ông gặp rất nhiều khó khăn ác liệt, nhưng không hiểu thế nào mà vẫn đánh thắng vào được cụm cứ điểm mạnh nhất ở Tây Nguyên lúc bấy giờ? Phái đoàn Mỹ nhận được của tôi câu trả lời: Người chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam chúng tôi có lời thề. “…Thắng không kiêu bại không nản, dù gian lao khổ hạnh không sờn lòng, vào sống ra chết không nản trí…”. Bằng ý thức trách nhiệm với Tổ quốc, chúng tôi đều vượt lên để giành chiến thắng.

Phái đoàn tiếp tục nói: Trong lúc các ông đói khổ căm thù đối phương như thế, gặp đối thủ bị thương các ông có bắn giết lấy những gì mà người này có trên người không? Tôi trả lời; phía trước tôi là đồn bốt mục tiêu kẻ thù chúng tôi phải nhanh chóng tiến lên tiêu diệt. Những binh lính bị thương và đã ra đầu hàng không có vũ khí trên người, chúng tôi không bao giờ bắn giết kẻ thất bại. Chỉ sử lý những tên chống đối, hoặc để chúng lại mà chứng kiến tội ác của chính quân đội họ tiếp theo. Vì sau mỗi trận đánh đối phương thường cho máy bay ném bom bắn phá, đốt cháy, phi tang những gì còn lại trên mặt đất, kể cả binh lính thương vong còn quằn quại trong trận địa.
Những chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam đều đồng cam chịu khổ, không vì lợi ích cá nhân mà làm xấu đi hình ảnh người chiến sỹ Quân Giải phóng lúc bấy giờ. Chúng tôi đều có lòng tự trọng thương yêu Tổ quốc mình, nhân dân đất nước tôi muốn có chính trị vững vàng, kinh tế ngày một phát triển. Riêng tôi từ chiến trường ác liệt được sống trở về, đấy là điều vô cùng may mắn với một chiến sỹ bộ binh trực tiếp chiến đấu như tôi. Nhưng nỗi đau do chiến tranh gây ra thì không bao giờ nguôi. Biết bao đồng đội tôi phải ngã xuống dưới mưa bom bão đạn từ phía đối phương mang đến, người được sống trở về lại mang nhiều di hoạ của chiến tranh để lại.
Chiến tranh đã khép lại, chúng ta cần có cái nhìn đúng hơn về tội ác mà phía quân đội Mỹ mang đến. Còn tôi sẽ nói với những người đồng đội đã từng tham gia cuộc chiến, biết tin tức về những người Mỹ tử trận tại chiến trường Việt Nam và Lào. Hãy mở lòng vị tha giúp họ tìm lại những người mất tích, mà quân đội Hoa Kỳ đã đem con em nhân dân Mỹ đến gây chiến rồi tử trận.
Ông Kell Ray, trưởng phái đoàn thay mặt cho gia đình người tử trận, cảm ơn những thông tin do tôi cung cấp, về người bị thương bên cằm phải và tử nạn do chính máy bay Mỹ đánh bom Napan, bom cháy tiêu huỷ, lúc 11 giờ ngày 24 tháng 4, năm 1972, tại căn cứ Phượng Hoàng, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, Việt Nam.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #35 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:50:35 pm »

                                                         
Chương V
ĐỒNG ĐỘI VÀ NHỮNG THÁNG NĂM KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Những tháng năm gian khổ ác liệt tại chiến trường, chúng tôi không bao giờ quên những người đã từng gối đất nằm sương và có những kỷ niệm đi vào như một chương huyền thoại. Người cùng một tiểu đội trong chiến trường đầy khó khăn ác liệt là Phạm Văn Tiến, năm 1973 anh đã về làng xóm tôi báo tin, những chiến công cùng tổn thất của khói lửa chiến tranh.

Nhưng số còn may, hơn biết bao đồng đội.
Được sống trở về khi đất nước bình yên.
Bốn mươi năm sau tôi mới nhận được tin Tiến, đang bươn chải cuộc đời tại thành phố Hồ Chí Minh, với bao lo toan vất vả nơi phố phường tấp nập. Anh em trở lại Sài Gòn tìm gặp nhau, nhớ về ngày ấy trên cao điểm 748 (đồi không tên đá chồng), trong chiến dịch đường 9 Nam Lào, tháng 3 năm 1971. Với hơn ba giờ đồng hồ hai chúng tôi trên cao điểm, tính từng giây từng phút mà thoát chết. Đồng đội nắm tay nhau mà trào rơi nước mắt, nghĩ suy về ngày mưa bom bão đạn, người mất người còn trong ký ức chiến tranh.
Tiểu đoàn trưởng Trần Như Tiếp, hiện ở thành phố Đà Nẵng, nhận được tin chiến sỹ trong tiểu đoàn anh cuối năm 1970 còn sống, ông lặn lội đến thành phố Hạ Long, tìm người lính còn lại trong trận đánh vô cùng ác liệt của phân đội ông chỉ huy. Hai người cựu chiến binh gặp nhau, ôn lại một quá khứ với bao phen một mất một còn ở đường 9, trên cao nguyên Bôlôven Nam Lào...
Anh em về thành phố Hải Dương thăm đồng chí Chính uỷ Nguyễn Tá, ông nguyên là lãnh đạo của Trung và Sư đoàn. Người Cựu chiến binh văn võ song toàn, xúc động nhớ về thế hệ thanh niên chúng tôi ngày ấy, thay nhau vào mặt trận và lần lượt ngã xuống trong chiến trường ác liệt…
Chúng tôi về huyện Thái Thuỵ còn nhiều khó khăn của tỉnh Thái Bình, thăm đồng chí thương binh 1/4 Nguyễn Sỹ Hùng, anh nguyên là một cán bộ tham mưu giỏi của Trung đoàn, cũng gửi lại chiến trường bằng một bên chân trái, để cùng nhân dân Căm-Pu-Chia đánh đuổi bọn Pôn-Pốt. Gần 40 năm sau người thương binh vẫn cùng Cựu chiến binh của làng, làm giàu trên mười héc ta đầm nuôi tôm cá, để có tiền cho việc vào Nam ra Bắc, tìm lại đồng đội còn sống cùng hài cốt anh em hy sinh trên chiến trường ác liệt ngày ấy. Mấy đứa con vợ chồng anh sinh ra được đặt tên theo bóng hình đồng đội, (một cháu mang tên đồng chí Sư đoàn trưởng, một cháu mang tên Chính uỷ Sư đoàn, trăn trối trước lúc hy sinh). Trong bàn thờ của gia đình, anh còn thờ cúng danh sách những người đồng chí.
 Những việc làm cùng nghĩa cử của đồng đội tôi một thời ra trận, cũng tạo cho mỗi người có thêm sức mạnh, làm ấm lòng những gia đình có người ngã xuống trong khói lửa cuộc chiến. Mỗi lần đồng đội gặp lại nhau, là một lần thấy cái giá phải trả khi đất nước có chiến tranh.
 Gần nửa thế kỷ đã qua nhưng tình đồng đội vẫn đằm thắm thân thương như những ngày còn ở chiến trường, dù người đó hôm nay là một tướng lĩnh, công chức, doanh nhân, hay người dân bình thường, nhưng luôn có nhau về một thời binh lửa.
Bao tấm gương hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, cũng như đồng đội tôi còn lại sau chiến tranh. Như thiếu tướng: Phạm Xưởng. Chính uỷ: Nguyễn Tá. Giáo sư: Đỗ Ca Sơn. Trung tướng: Lê Minh Cược. Các đồng chí: Đỗ Văn Chi, Đồng Văn Khải, Ngô Chí Thuỳ, Trần Văn Tần, Vũ Văn Hoạ… Bà: Thái Thị Thành người chiến sỹ quân y với một gia đình, có tới năm anh chị em ruột cùng người cháu là liệt sỹ và người mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Quyên, trên mảnh đất Bình Trị Thiên khói lửa. Người Cựu tù Phú Quốc Lâm Văn Bảng với khí phách của một “Chàng trai Cầu Giẽ”. Cùng biết bao đồng chí đồng đội cùng nhân dân cả nước, vượt lên nỗi đau mất mát của chiến tranh, xứng đáng với truyền thống của non sông đất nước.
Chúng tôi, những người đã từng một thời chia bom sẻ đạn nơi chiến trường khốc liệt, được tôi luyện bằng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đã góp một phần nhỏ bé cùng nhân dân cả nước để làm lên mùa xuân 1975 đại thắng, thống nhất non sông.
Ký ức thời binh lửa, chép lại bức tranh khốc liệt về cuộc chiến đấu của đơn vị   trực tiếp giáp mặt với quân thù trên chiến trường. Nhằm giúp tôi cùng các bạn hình dung lại sự tàn khốc của chiến tranh. Cũng là bức thông điệp muốn gửi đến thế hệ mai sau, biết cái giá phải trả cho nền độc lập của đất nước hôm nay. Để mỗi người suy ngẫm và làm tốt chính sách với những người có công với nước, đặc biệt là các mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình thương binh liệt sỹ và những người bị tổn thất do chiến tranh gây ra.
 Cùng nhau tiếp tục sự nghiệp cách mạng cao cả mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Xây dựng nước Việt Nam“ Đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Như Bác Hồ kính yêu của dân tộc hằng mong muốn. Đó cũng là tâm nguyện của tác giả muốn gửi tới các độc giả cùng anh em đồng đội gần xa.
Xin cám ơn tạm biệt anh em đồng chí, của những tháng năm không thể nào quên để cùng nhau tiến về phía trước./.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #36 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:52:15 pm »

THẮM MÃI NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI

Hai người, hai lứa tuổi, hai quê hương, hai đơn vị và địa danh khác nhau … Nhưng điểm chung của chúng tôi gặp nhau. Và đều là Cựu chiến binh thời chiến tranh chống Mỹ. Chúng tôi có cùng một tâm nguyện. Sống hết lòng vì đồng chí đồng đội đã hy sinh xương máu cho nền độc lập tự do của Tổ quốc. Nên hai chúng tôi tìm đến nhau và quen nhau, qua một sự kiện.

Ông Cam kính mến !
Tôi tên là: Nguyễn Đăng San
Nguyên quán, xã Đồng Gia, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, thương binh 3/4.
Hiện thường trú tại: ............. thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Tôi đã có hàng chục tờ báo khá dài viết về ông, đăng trên các báo: Thái Bình, Giáo dục thời đại, Tuổi trẻ, Đại đoàn kết, Lao động, An ninh thế giới….
Tôi thực sự xúc động, hết sức khâm phục, vì một người đã ở tuổi “Thất thập cổ lai hy”, gầy yếu và gia đình lại nghèo khó thiếu thốn. Vậy mà ông đã làm được việc rất lớn lao, phi thường. Suốt hơn 10 năm trời ròng rã, vượt qua nắng mưa với một chiếc xe đạp cũ cọc cạch. Ông đã hành trình trên khắp đất nước. Từ Đông đến Tây Trường Sơn, sang biên giới nước bạn Lào- Campuchia. Đến từng nơi đóng quân của chiến trường xưa, từng nghĩa trang, để tìm ra một con số hơn 21.000 địa chỉ, tin tức mộ liệt sỹ. Sau đó báo cho ngần ấy địa chỉ, gia đình và thân nhân. Để giúp họ tìm lại hài cốt và tin tức của Cha, Anh, Chồng, Con mình, mà từ ngày giải phóng đến nay họ đang mong mỏi chờ mong.
Một con số khó tin, nhưng đó lại là sự thật, một sự thật đến kinh ngạc. Tôi cứ hình dung 21.000 địa chỉ, là ngần ấy bì thư, con tem, ngần ấy tờ giấy và ông ngồi viết thư đến 21.000 địa chỉ, là một chặng đường ông đã đi qua. Nếu cộng lại của chặng đường đạp bộ như thế, có thể gần hết một vòng quanh trái đất. Còn là chi phí cho hơn 10 năm với số tiền kinh phí cũng không nhỏ.
Lúc đầu đọc báo tôi cũng chưa hẳn đã tin. Đến khi ông nhận được thư của tôi, nhờ ông tìm giúp hộ địa chỉ quê hương người liệt sỹ tiểu đội trưởng đơn vị tôi. Ông đã nhanh chóng tìm ra giúp đỡ tôi. Xin thú thực với ông, tôi đã khóc nhiều khi nhận được tin báo của ông. Ông biết không. Suốt hơn 30 năm tôi đã đi tìm và gửi thư đến các cơ quan chức năng, đài báo địa phương, đến Trung ương. Mà sự khát khao tìm quê hương người đồng đội gần như vô vọng. Nhưng ông chỉ sau thời ngan ngắn đã tìm được địa chỉ mà tôi cần.                                              
Xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với ông. Ông biết không! Đó chính là thần tượng của tôi, mà suốt chặng đường tôi đã qua, thần tượng ấy đã khắc sâu trong trái tim tôi. Tôi không thể không kể lại để ông, cùng anh em đồng chí nghe và suy ngẫm.

Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #37 vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2011, 02:55:00 pm »


                
 Chuyện về người chỉ huy giữ chốt trên cao điểm: Păk Kụt.

Chúng tôi thuộc C7 – D2 – E1 – F2. Hay còn gọi là Đoàn Ba Gia. Mà không ai không biết đến một đơn vị đã được Đảng Nhà nước phong tặng. Ba lần danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Với những chiến công vang dội của chiến thắng Ba Gia-Vạn Tường ở tỉnh Quảng Ngãi. Rồi năm 1971 với chiến thắng ở Bản Đông- Sê Pôn- Đồi không tên. Điểm 660 và 723 trong chiến dịch đường 9 Nam Lào. Trên Cao nguyên Pôlôven. Đến chiến thắng lẫy lừng ở Đắc Tô, Tân Cảnh, năm 1972. Cùng mảnh đất khu 5 anh hùng.
Sau chiến dịch đánh ngăn chặn địch ở đường 9 Nam Lào năm 1971 “Lam Sơn 719”. Đơn vị tôi nhận lệnh đến cao nguyên Pôlôven. Trung đoàn đánh thắng và giao cho trung đội tôi chốt giữ cao điểm Pắc Kụt, một cao điểm rất quan trọng của địch, vì đó là một điểm án ngữ cho một vùng rộng lớn của miền hạ Lào. Chính vì vậy, cao điểm trở nên vô cùng khốc liệt.
Địch cay cú bị quân ta đánh bật khỏi cao điểm mất vị trí án ngữ. Nên chúng đã điên cuồng dùng máy bay pháo kích và bộ binh đánh phá. Có bao nhiêu bom đạn ở vùng hạ Lào, đều được chúng huy động đến bắn phá cao điểm. Pháo từ xa nã tới, lính bộ binh phản công, chiếm lại cao điểm. Chúng bắn và la hét xông lên như một lũ thiêu thân. Từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 9, tháng 6, địch tấn công lên chốt vô cùng ác liệt. Nhưng chúng đã bị trung đội tôi đánh trả quyết liệt, làm cho giặc thiệt hại, ba đại đội lính nguỵ Lào & quân Thái Lan.
Mỗi khi địch xông lên, tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, bình tĩnh và ra lệnh.  “ Phải để địch đến thật gần mới được nổ súng…”. Những tên lính địch hiện rõ qua làn khói đạn, nghe rõ hơi thở hồng hộc của chúng. Địch tưởng đơn vị tôi không thể tồn tại sau những trận bom pháo dày đặc như mưa đổ xuống, có thằng kéo lê súng bước khật khưỡng như những thằng say rượu.
Tiểu đội trưởng Lâm ra lệnh: Bắn – chúng tôi nhất tề nổ súng, địch khựng lại, từng loạt đạn quật ngã binh lính địch liều lĩnh đi đầu. Chúng bất ngờ hoảng hốt trước cách đánh gần táo bạo gan dạ dũng cảm của tiểu đội, địch cuống cuồng la hét rút chạy. Anh Lâm hô lớn “ Xung phong ….”. Chúng tôi bật khỏi chiến hào, quét đạn tới tấp sát lưng địch, số địch còn lại tháo thân chạy xuống chân cao điểm. Tranh thủ cơ hội ấy chúng tôi thu lượm vũ khí trang bị địch bổ sung khi sắp hết đạn giữ chốt.
Máy bay, bom pháo địch đánh xuống, nổ gần ùng ục, oàng oàng. Tai chỉ còn nghe tiếng o….o. Hết bom, đến pháo kích, địch tụ lại dưới chân cao điểm, bắn đổ đạn rồi hò hét tiến lên. Nhưng không một thằng nào dám xuất hiện, vì cú đánh giáp mặt của đơn vị, đã dạy cho chúng biết thế nào là “ Cộng sản”.
Khói lửa mịt mùng đen đặc, tiếng súng dần thưa thớt. Tiếng máy bay ầm ì xa dần. Chỉ còn tiếng lốp đốp của những đám cháy quanh khu rừng gần cao điểm. Gió Lào cuồn cuộn mang theo cát bụi và cái nóng xua dần khói bom, khói súng. Trận địa quang dần, lúc này mới nhìn thấy mặt trời đỏ cũng dần xuống sau dãy núi phía xa.
Đồng đội tìm lại nhau theo vị trí phân công, chiến hào biến dạng. Khi đến vị trí của tiểu đội trưởng, thì anh ngã vật xuống hào, một tay ôm chặt chiếc mũ cối ở bụng, lúc này tôi mới biết là anh bị thương rất nặng và ruột xổ ra nằm trong chiếc mũ anh đang nén giữ.  Máu từ bụng đã đổ ra đen quánh dưới vị trí anh đứng chiến đấu. Anh nói với mấy người còn lại trên cao điểm trong hơi thở đứt quãng.
 “…Các đồng chí … các em … quyết chiến đấu đến cùng, phải giữ chốt bằng được. Trả thù cho anh và đồng đội …”.
 Anh ra hiệu bằng cái đầu khẽ nhúc nhích, ba chúng tôi ghé sát vào người anh, nghe anh thều thào nói.
“… Sau này chiến tranh kết thúc … em nào còn sống trở về, nhớ tìm về quê cha mẹ anh ở đất Thái Bình kể lại trận đánh này cho gia đình anh nghe về cuộc chiến đấu giữ chốt và việc anh hy sinh ngày hôm nay…”
Ba chúng tôi là: Vũ Minh Quỳnh, Phạm Văn Tiến và Nguyễn Đăng San, từng người ghé sát xuống để anh đặt đôi môi khô ráp hôn vào má, bắt tay và anh mỉn cười thảnh thản ra đi tin tưởng vào những người còn lại.
Người tiểu đội trưởng dũng cảm kiên cường của đơn vị ra đi trong vòng tay của đồng đội lúc 16 giờ ngày mùng 9 tháng 6 năm 1971. Chúng tôi còn lại trên cao điểm chống trọi giữ chốt. Mấy tiếng sau đơn vị tăng cường lực lượng củng cố trận địa, cho những cuộc chiến đấu tiếp theo.

Thưa ông Cam !
Chiến tranh kết thúc Bắc Nam sum họp một nhà, trong niềm vui vô bờ bến ấy, song cũng chứa đựng biết bao những đau thương mất mát & hậu quả tàn khốc của chiến tranh để lại. Các chiến sĩ hy sinh ngoài mặt trận, và hy sinh một phần xương máu, cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước.
Chất độc màu da cam của kẻ thù đã để lại những di chứng đau thương, hiện có người đang phải gánh chịu, sự hy sinh mất mát không có gì bù đắp nổi. Đất nước từng ngày từng giờ đang thay da đổi thịt, cuộc sống mới bừng lên, sự hưng thịnh là thực mục sở thị. Những người từng khoác áo lính trên chiến trường, khó tin rằng mình đang sống như ngày hôm nay. Trong cuộc sống và cơ chế thị trường đây đó vẫn còn nhiều điều nhức nhối.
Người chiến sĩ sau chiến tranh trở về phải vật lộn, đối mặt với cuộc sống đời thường, mâu thuẫn nảy sinh theo quy luật. Thế hệ không phải trải qua chiến tranh tràn đầy sức sống, được trang bị đầy đủ tri thức văn hoá, phơi phới đi lên.                                                        
Một lớp người, tuổi thanh xuân đã gửi lại chiến trường, sức lực gần như cạn kiệt, phải còng lưng, gánh vác hậu quả chiến tranh. Người giàu, kẻ nghèo, cũng dần được phân định rõ rệt. Người chiến sĩ trở về sau chiến tranh, lại thêm một lần vật lộn với cuộc sống đời thường.
 Để chiến thắng với bản thân, quả là một cuộc chiến không kém phần gian khổ, có khi còn phải trả một cái giá quá đắt. Tôi cũng như nhiều đồng đội, mảnh đạn và chất độc da cam còn nằm trong cơ thể, nó vẫn đang âm ỉ tàn phá không hề buông tha. Nhiều khi tôi như sắp gục ngã, trước những nỗi đau mất mát & sự tàn khốc của cuộc chiến. Nhưng trấn tĩnh lại, tôi nhận thấy rằng. Mình vẫn còn là người rất may mắn, còn sống sót trở về, được nhìn thấy quê hương, đồng chí, đồng đội, của những năm tháng nơi bom rơi đạn nổ. Được chứng kiến đất nước, hoà bình thống nhất.
Lời nói của tiểu đội trưởng Tô Ngọc Lâm, còn văng vẳng bên tai, anh và biết bao đồng đội hy sinh còn nằm lại nơi chiến trường, để cho đất nước có cuộc sống yên vui  hôm nay. Tôi như người có lỗi và chính đó cũng là động lực vươn lên trước cuộc sống của tôi một cách vững vàng.

Ông Cam kính mến !
Từ khi nhận được sự giúp đỡ của ông, tôi tìm về quê hương gia đình liệt sỹ Tô Ngọc Lâm. Thực hiện lời dặn trước lúc hy sinh của anh. Những giọt nước mắt nghẹn ngào cảm động, nén lại hơn 35 năm tuôn rơi. Anh em con cháu Liệt sỹ coi tôi như người ruột thịt, tôi cũng toại nguyện được lời hứa trước vong linh người đồng đội trước lúc ngã xuống.
Nhưng còn một điều, khiến tôi luôn day dứt, day dứt không yên, ông có biết đó là điều gì không?. Là ông ! Vâng, chính là ông đấy…. Nhịp sống mới hối hả. Người ta lao vào làm giàu, lo toan tính toán cho bản thân, gia đình, chỗ đứng & địa vị.
Đây đó không tránh được sự bất chấp cùng thủ đoạn. Đạo đức tình cảm của con người đôi khi được xem bằng “giá cả”. Tình cảm, đôi khi cũng được đem ra thành “cơ chế thị trường”. Cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc có lúc cũng trở thành mờ nhạt trước một số người. Di tích lịch sử văn hoá có khi bị xem nhẹ. Thông tin đại chúng đã từng đưa tin, ngay chính học sinh và một số lớp trẻ cũng không mặn mà với môn học Lịch sử  văn hoá của đất nước.
Cho nên, điều tất yếu ấy cũng đã xảy ra, có người nhìn thấy những thương binh, những chiến sĩ bị địch bắt tù đày tra tấn, bị nhiễm chất độc da cam. Vì đó họ còn gặp vô cùng khó khăn và khó có điều kiện làm giàu. Còn có những ánh mắt nhìn họ rất xa lạ, chính vì vậy, mà sự đền ơn đáp nghĩa đôi khi trở thành một hình thức hời hợt.
Thế nhưng ông ! Suốt hơn 10 năm trời dòng giã, đã âm thầm chịu đựng, vượt qua bao khó khăn gian khổ, để có được con số 21.000 địa chỉ liệt sỹ, cần tìm kiếm, phải liên lạc, và hàng ngàn cây số đường xa. Quả là một hy sinh rất lớn, có nơi họ còn cho ông là “ kẻ gian, lợi dụng… ”. Cản trở việc ông làm. Ông không thanh minh lý giải. Khó có thể diễn tả, tâm trạng xúc động cảm phục kính nể của tôi, đối với ông.
Không ai có thể nghĩ rằng, trong cuộc sống hiện nay, lại còn có một người và nghĩa cử như ông, chịu đựng khó khăn, vượt lên chính mình, vượt lên tất cả. Cho một suy nghĩ  giản dị của ông … Tôi cho đó là sự đền ơn đáp nghĩa, tuy có khó khăn thiếu thốn, đó là sự thật. Nhưng không thấm vào đâu, so với sự hy sinh mất mát của đồng bào, đồng chí. Nhờ đó mà chúng ta mới có đất nước thanh bình hôm nay.
Được tận mắt chứng kiến cảnh nhà dột nát, cái gường cũ ọp ẹp, chiếc xe đạp cũ kỹ, cọc cạch trơ trụi, như thân gầy của ông, mới thấy hết giá trị to lớn của việc ông làm. Tôi hiểu cho con số 21.000 địa chỉ liệt sỹ kia. Điều khâm phục của tôi, là sự bình thản của ông, ông không bận tâm đến những gì khác, ngoài việc ông đang làm.
Nhìn từng đoàn khách, gia đình thân nhân liệt sỹ tìm về với ông, chỉ một việc tiếp khách, tìm địa chỉ, tra cứu sổ sách, ghi chép trả lời. Nếu là một cơ quan lưu trữ chính sách, thì hàng chục người có chuyên môn, được đào tạo và phương tiện hiện đại, cũng phải mất nhiều thời gian. Vậy mà ông làm việc tận tuỵ. Không lương – Không chế độ – Không một sự hỗ trợ nào. Ông bình thản, coi đó là một việc làm bẩm sinh của ông.
Có một điều tôi thấy thật ngạc nhiên, không thể ngờ được rằng: Việc làm của ông không phải ít người, không biết đến. Hàng chục bài báo có uy tín viết về ông và thực tế đã chứng minh rất cụ thể về việc của ông. Có thể nói là không ai không biết đến hàng chục năm nay. Vậy mà sao ông? Vẫn không sao, lọt vào mắt cơ quan chính sách xã hội hiện tại. Biết rằng ông không bao giờ muốn người khác nói về mình.
Thế nhưng, nhìn hoàn cảnh của gia đình vợ chồng ông. Tận mắt chứng kiến nghĩa cử của ông. Một cựu chiến binh như thế ?  Làm sao tôi không thể, không day dứt về ông. Tôi tự hỏi ?  Hay giá trị và việc làm của ông, có ý nghĩa rất lớn với 21.000 địa chỉ liệt sỹ, đã khiến cho những cơ quan chức năng, còn trong hoàn cảnh khó khăn. Cho nên không có điều kiện gần ông. Hoặc biết đâu, lại có sự mặc cảm với ông, là múa rìu qua mắt thợ.
Thay mặt cho những đồng đội của liệt sỹ Tô Ngọc Lâm, xin chân thành cám ơn ông, tôi sẽ mang điều day dứt về ông, về một sự hy sinh hết lòng vì đồng đội. Không làm gì khác hơn, tôi cầu nguyện vong linh các anh hùng liệt sỹ. Hãy về với ông, giúp đỡ ông và bao đồng đội, vượt qua cảnh nghèo khó, tiếp tục vươn lên với công việc của mình.
Riêng tôi gọi là một chút lòng thành, chia sẻ với ông, gánh vác một chút khó khăn,  tiếp sức cho ông, làm bưu tá cho những vong hồn liệt sỹ. Để ông vững bước, trên con đường vì đồng đội. Xin tặng ông bộ dàn máy vi tính, cho công việc lưu trữ hồ sơ của ông, được thuận lợi. Tuổi ông đã cao, nhưng ông cố gắng đi học để thao tác, sớm sử dụng thành thạo. Tôi tin ông sẽ vượt lên & đạt được tâm nguyện của ông cũng như bao đồng đội. Tất cả vì một nghĩa cử cao đẹp, cho những người hy sinh, để làm lên một đất nước hôm nay.

      Xin chúc ông thành công trong cuộc sống./.
                                                                  
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #38 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:00:16 pm »

                             
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12 tháng 12 năm 2009.

CHUYỆN VIẾT KỂ LẠI CHIẾN TRƯỜNG, THẤM  VÀO DÒNG MÁU VÀ HƠI THỞ TRÁI TIM TÔI.

Kính gửi: Nguyễn Đăng San. Tác giả của tập“ Ký ức thời binh lửa”.
   
Được đọc tác phẩm. Tôi có đôi dòng tâm sự cùng tác giả và các độc giả trên khắp mọi miền đất nước. Xin được nói lên cảm xúc của riêng mình.
Tên tôi là: Phạm Văn Tiến. Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1952. Quê quán xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Hiện đang cư trú tại ................, phường 24, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhập ngũ ngày 16 tháng 4 năm 1970. Đơn vị huấn luyện, Tiểu đoàn 629 trung đoàn 2 Quân khu Tả Ngạn (nay là Quân khu 3). Vào Nam chiến đấu ngày 10 tháng 10 năm 1970. Cùng tiểu đội với Nguyễn Đăng San. Đó là trung đội 1- C7- D2- E1 (Trung đoàn Ba Gia Vạn Tường), F2, Quân khu 5.

Đồng chí San thân mến! Tôi được anh gửi tặng tác phẩm anh viết, “ Ký ức thời binh lửa”. Sau 40 năm xa cách anh em gặp nhau tại thành phố mang tên Bác. Anh có biết không, tôi cứ đọc đi, đọc lại nhiều lần của dòng hồi ký. Những câu chuyện anh viết, thấm vào tôi từng hơi thở, hoà tan vào dòng máu của tôi, có cái gì đó khó tả lắm, cảm nhận của tôi thật thiêng liêng, trân trọng.

Từng dòng chữ của anh như một người chiến sỹ giao liên, chỉ dẫn dòng suy tư nhớ về những năm tháng đã qua. Đó là từ khi tôi khoác trên người bộ quân phục mang tên “Anh Bộ Đội Cụ Hồ ”. Những mốc thời gian, cùng tên làng tên đất đi qua: Nếm mật nằm gai, truy kích đánh giặc giữa đại ngàn Trường Sơn và gió Lào nắng gắt. Giữa bom đạn điên cuồng của quân thù, trút xuống nhằm huỷ diệt những gì trên mặt đất. Những trận pháo bầy 105 ly và 155 ly cầy sới nát mặt đất. Nghĩ lại thật là khủng khiếp, không có giấy bút nào tả hết được sự ác liệt ngày ấy của đơn vị, trên cao điểm 748 (đồi không tên đá chồng) ở chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1971. Để lại trong Tiến một câu hỏi đặt ra với gần 4 giờ máy bay Mỹ ném bom liên tục mà mấy anh em vẫn còn may mắn. Mới hiểu bom đạn địch không thể giết được ý trí và con người Việt Nam. Nói thêm như thế để hiểu rõ về sự tàn ác của bom đạn giặc. Cùng sự chịu đựng gian khổ của người lính chúng tôi nơi tuyến lửa. Trong đó có niềm tự hào nho nhỏ của mình, góp phần cho việc giải phóng dân tộc. Để Tổ quốc có thái bình ngày 30 tháng 4 năm 1975. Song điểm cao (đồi không tên đá chồng) nơi vị trí chốt giữ của đơn vị chúng tôi, mãi đi vào ký ức không thể nào quên, trong cuộc đời mỗi chúng tôi còn sống ngày hôm đó.

Đọc tập hồi ký anh viết tôi cảm động rất nhiều. Xin cám ơn người bạn chiến đấu  vẫn nhớ đến tôi trên từng chi tiết của trận đánh. Rồi chứng kiến nhịp thở ngắt quãng của tiểu đội trưởng: Tô Ngọc Lâm người Thái Bình, mỗi khi nhớ đến anh mà tôi bồi hồi xúc động. Do cuộc sống đưa đẩy, mà tôi chưa có dịp về quê hương của anh, song nhất định tôi sẽ đến quê hương anh, để làm cái việc mà lẽ ra tôi phải làm lâu lắm rồi. Mong anh Lâm nơi chín suối tha thứ và phù hộ cho tôi thực hiện được ước nguyện của mình.
 Song cũng thật hạnh phúc qua “Thắm mãi nghĩa tình đồng đội”, của anh Nguyễn Đăng San, thì tôi càng cảm kích về nghĩa tình đồng đội của người cùng đơn vị, đã làm được việc mà tôi còn chưa làm được. Đó là anh đã tìm được quê hương người Tiểu đội trưởng quả cảm của chúng tôi trên chốt Pắk Kụt.

Với anh, thực sự là người có tâm với đồng đội, không chỉ với người hy sinh, với anh em còn sống trên mọi miền Tổ quốc. Để lại tôi một tấm gương sáng về nghĩa tình của người lính hiện hưu giữa đời thường. Một lần nữa tôi thật sự cảm động cho sức khoẻ của anh, bị giảm sút nhiều vì bom đạn và chất độc da cam của kẻ thù, song anh vẫn ngày đêm nhớ về đồng đội rồi chia sẻ động viên, xây dựng kinh tế. Anh để lại cho tôi nhiều bài học về nghĩa tình đồng đội, xen lẫn sự cảm phục, càng thêm tin yêu cho mỗi chúng ta vào cuộc sống.

Chúc tình bạn của những người lính Cụ Hồ mãi bền chặt, thuỷ chung.

Thân tặng: Nguyễn Đăng San.
Anh vẫn đi dù tóc điểm pha sương
Một chiều thu giữa Sài Gòn hoa lệ
Mưa giăng giăng vần vũ, nước nhạt nhoà
Gặp lại anh sau một chuyến đi xa
Về nơi Miền Tây, Kiên Giang, Phú Quốc
Nơi đồng đội xưa, mọi miền Tổ quốc
Yên nghỉ ngàn thu bao năm trước quên mình
Vì độc lập tự do lớp lớp đã hy sinh
Cho giang sơn được hoà bình thống nhất
Vì một Việt Nam kiên cường bất khuất
Để dáng đứng Việt Nam mãi mãi trường tồn
* * *
Nên xá gì quản ngại mưa tuôn
Lòng lâng lâng xen nỗi buồn man mát
Sau gần 40 năm giữa bom rơi đạn lạc
Gặp lại nhau tình đồng đội dâng trào
đi bên anh lòng xen lẫn tự hào
Không hổ thẹn với bao người ngã xuống
Vì nghĩa tình, vì đất nước quê hương
Anh vẫn đi dù tóc điểm pha sương
Sức khoẻ đâu có còn thời trai trẻ
Để lại trong tôi lòng cảm mến nghẹn ngào
* * *
Đất nước hôm nay ta thay đổi biết bao
Dẫu thời gian còn hằn sâu nơi khoé mắt
Trái tim đỏ vẫn rộn ràng nhịp đập
Cùng bước chân thầm lặng nghĩa tình đời
Kỷ niệm chẳng phai bao năm tháng xa rồi
Cao điểm Không tên, 660, Sê Pôn, Thà Khống.
Tân Cảnh, Đắk Tô, đỉnh cao nguyên gió lộng
Mưa rả rích tuôn không chút nắng để ấm lòng
Cứ hiện về quanh mái tóc hoa râm
Nhớ đồng đội biết ai còn ai mất
Lan toả bên anh một nghĩa tình chân thật
Vẫn sẻ chia thương nhớ tới bạn bè
Tình đồng đội của một thời trai trẻ
Tháng năm giữa đường đời không thể nào quên./.

                                                  
Thơ: Phạm Văn Tiến.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #39 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 03:03:22 pm »


ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ KÝ ỨC THỜI BINH LỬA CỦA: NGUYỄN ĐĂNG SAN.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, đã lùi xa hơn 30 mươi năm, nhưng kỷ niệm về chiến tranh, vẫn còn đọng mãi ở mỗi cán bộ chiến sỹ quân Giải phóng miền Nam rất sâu đậm, dai dẳng…nhất là với anh em quê hương miền Bắc, tình nguyện vào Nam chiến đấu, sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, ác liệt, hy sinh… Cùng nhau tâm nguyện lời thề:
   
“ Đứng trên đỉnh núi Trường Sơn xin thề
   Chưa thắng giặc Mỹ chưa về quê hương…”.

Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất hoà bình lập lại, trên hai miền Nam Bắc. Trong ngày vui chiến thắng người mất người còn, mỗi lần họp mặt đồng đội,  kỷ niệm ngày truyền thống. Lại có dịp hồi tưởng kỷ niệm sâu sắc về một thời trận mạc  chiến trường xưa. Niềm vui nỗi buồn đan xen nhau, chuyện trò tâm sự tưởng chừng như không bao giờ cạn…
Một trong nhiều chiến sỹ trung đoàn 1 (Đoàn Ba Gia ), Sư đoàn 2, Quân khu 5. Đơn vị 3 lần, được Đảng nhà nước tuyên dương “ Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ”. Nguyên là học sinh trường cấp ba, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, rời ghế nhà trường vào bộ đội, tình nguyện đi chiến trường miền Nam chiến đấu. Đó là Nguyễn Đăng San, đồng chí đã tham gia chiến đấu ở chiến trường khu 5, Tây nguyên, đường 9 Nam Lào, nhiều lần bị thương. Được kết nạp Đảng tại trận và tặng thưởng huân chương chiến công…

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường ra, tuy sức khoẻ có giảm sút, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục lao động trên mặt trận kinh tế, cùng nhân dân làm ra nhiều của cải cho xã hội, giúp đỡ các đồng chí là thương binh, con em bộ đội, có công ăn việc làm. Đặc biệt đồng chí bỏ nhiều thời gian, công sức, đi tìm thu thập, gặp gỡ, nắm thông tin, xác minh nhiều trường hợp hy sinh, giúp cho nhiều gia đình tìm lại người thân đang yên nghỉ tại chiến trường… Đồng chí San là chiến sỹ chiến đấu giỏi, có tình cảm trách nhiệm với đồng đội, đồng chí còn say sưa, viết nhật ký chiến đấu của mình cùng đơn vị. “Ký ức thời binh lửa”, của Nguyễn Đăng San, đã ghi lại một phần cuộc sống chiến đấu gian khổ, ác liệt, tình đồng đội, tình quân dân ở chiến trường… Đây là những mẩu chuyện rất thật, sống động. Mong các đồng chí, các bạn trẻ đọc, cùng suy ngẫm để nhận biết thêm về những năm tháng, sống chiến đấu của anh bộ đội Cụ Hồ cầm súng đi đánh giặc cứu nước.

                                                                 
Hải Dương, tháng 10 năm 2009.
                                                           Nguyên Đại Tá: Chính uỷ Trung Đoàn 1
                                                                                    Nguyễn Tá.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM