hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 07:56:45 am » |
|
Chuyện ở rừng mai vàng HỒ NGỌC DIỆP Không biết ai đã trồng rừng mai ở làng Đông Dương nầy lúc nào? Khi chúng tôi lớn lên thì đã thấy nó. Ngày trước, cứ đến tết xuân sang, người Ba Đồn lên, người Hướng Phương xuống, người Quảng Hợp, Quảng Kim vào, cứ theo sở thích mà cắt, mà chặt mai đưa về cắm độc bình. Cứ thế, mai mỏi mòn, xơ xác. Có cây chỉ trơ lại gốc. Có cây chỉ còn thân, cằn cỗi, khẳng khiu. Đúng ngày Bác Hồ phát động tết trồng cây đầu tiên, cô giáo dạy cấp I chúng tôi đưa chúng tôi đến trồng tại rừng mai đó. Bọn con gái thì đào hố bỏ phân và tưới nước. Bọn con trai chúng tôi thì đi bứng những cây mai con mà hạt già rụng xuống ở những kẻ đất ẩm mọc lên đưa đến trồng và then che, rào dậu. Rồi ngày ngày, theo sự phân công của cô giáo, chúng tôi đã thay phiên nhau tưới nước, vun xới cho mai. Khi chúng tôi học lớp cuối cùng của cấp III trường huyện thì mai đã ra hoa lượt đầu tiên. Đã thôi rồi lối chặt mai bừa bãi như những năm trước đây. Những cây mai vừa lớn bên những cây mai cổ thụ đan thành rừng mai. Mùa xuân đến, mai nở vàng trời, mai rụng vàng đất. Cánh mai chấp chới trong gió như hàng ngàn hàng vạn cánh bướm vàng. Hương mai nồng nàn, ngào ngạt. Đứng dưới rừng mai tưởng như đang đứng ở một chốn thần tiên! Làng Đông Dương vì thế mà có người gọi là làng "Hoàng Mai" (Làng mai vàng). Có một người hay thơ yêu một cô gái trong làng "Hoàng Mai" và để kỷ niệm nơi bắt đầu của một tình yêu giàu chất thơ mộng, anh đã ký dưới những bài thơ tình yêu nổi tiếng của mình với bút danh: Mai Liên (Rừng mai đã kết tất cả lại). Chúng tôi rất yêu thơ Mai Liên, vì trong đó có rất nhiều hương sắc của rừng mai vàng chúng tôi. Không hiểu vì sao cô giáo của tuổi nhỏ chúng tôi không lấy chồng. Có một độ xuân chín, mai nở vàng rực, cô đã lên công sự cùng dân quân ở rừng mai nhả đạn vào máy bay Mỹ đang bắn phá một địa điểm của đơn vị bộ đội ra-đa đóng gần đó. Phát hiện được hỏa lực lợi hại, giặc Mỹ đã trút đạn xuống rừng mai. Khi biết tin cô giáo hy sinh trong cuộc chiến đấu đó, chúng tôi đến thăm thì mai đã rải thảm vàng nấm mộ. Rừng mai đã ôm ấp, chở che cho giấc ngủ ngàn năm của cô. Và từ đó, đi đâu xa về, chúng tôi đều ghé đến thăm cô. Hương trầm quyện trong hương mai gợi biết bao nỗi niềm của người đang sống với người đã khuất. Chúng tôi đã đọc và chép cho nhau bài thơ "Hương mai" của Mai Liên. Nhà thơ đã viết tặng hương hồn cô giáo chúng tôi với một niềm rung cảm sâu xa, tha thiết nhất. Những ngày tột cùng tội ác của chiến tranh phá hoại Giôn-xơn, một bệnh viện đã đến trú ngụ dưới rừng mai vàng làng Đông Dương này. Những ngôi nhà chôn mình trong cát. Rừng mai xanh, sáng chiều tỏa bóng ôm trọn những mái nhà. Dưới rừng mai đó, bao sinh linh đã sống lại. Dưới rừng mai đó, bao em bé đã oa oa chào đời. Cô bạn gái học cùng lớp tuổi nhỏ của tôi bấy giờ là y tá của bệnh viện này. Cô có cái tên rất đẹp: Thùy Mai. Một buổi sáng, từ hầm mổ bước ra sau một đêm phục vụ cho ca mổ đẻ một người mẹ hở van tim được mẹ tròn con vuông, thì Thùy Mai cùng các bác sĩ tiếp tục đón tiếp mấy cái băng ca nữa ùn ùn chuyển tới. Đêm qua, loạt bom tọa độ dội xuống một làng bên bến phà Gianh. Cả sáu người trong một gia đình bị sập hầm chết nghẹn, chỉ cứu được cháu gái chưa tròn năm. Có lẽ người mẹ đã ôm chặt con vào lòng nên cháu gái chỉ bị chấn thương nhẹ. Người ta đã nuôi cháu bằng sữa bò và bột dinh dưỡng. Nhưng bất kỳ đứa trẻ nào cũng cần có một người mẹ mới có thể đảm bảo cuộc sống lâu dài. Thùy Mai đã nhận nuôi đứa bé. Khi lên ba, bé gái đã biết bập bẹ gọi: "Mẹ! Mẹ Thùy Mai!". Đầu năm 1972, có một chuyến xe quân sự từ chiến trường Tây Nguyên ra Bắc, vượt được phà Gianh độ mười cây số, xe hỏng nặng. Người lái xe cho biết: ít ra đến hết đêm nay anh mới có thể chữa xong xe. Trung úy bộ binh Dương Trúc sau khi được đoàn trưởng đồng ý đã đi tắt đồng cát từ quốc lộ I để đến rừng mai làng Đông Dương. Nhà anh giờ sơ tán cách chỗ xe dừng không xa; ở hướng Đông nhưng anh lại đi thẳng hướng Tây. Anh đã nói với đoàn trưởng của mình: "Tôi đến đó để thăm mộ một cô giáo cũ. Chính cô đã giúp cho tôi…" Anh không nói hết ý nhưng đoàn trưởng đã hiểu. Anh cất mũ, đứng lặng yên trước nấm mộ cô giáo ngày tuổi nhỏ dưới rừng mai. Đang độ xuân, mai rắc vàng lên vai anh, lên lớp cỏ xanh phủ trên nấm mộ. Hương mai thoảng đưa trong gió, gợi những nỗi niềm nhớ thương… Nếu không có tiếng ru con à ơi vọng ra từ một nhà hầm gần đó thì không biết trung úy bộ binh Dương Trúc sẽ đứng trầm ngâm như thế trong bao lâu. Tiếng ru con à ơi… đã làm anh bừng tỉnh. Không! Không thể nào khác được, đó là tiếng ru con của Thùy Mai! Anh bước tới phía nhà hầm. Qua khe cửa sổ, dưới ánh đèn phòng không tù mù đặt kín đáo ở góc nhà, anh nhận ra được Thùy Mai đang nhẹ nhàng đẩy võng ru con. - Hãy gõ cửa - Anh nghĩ. - Đừng! - Một tiếng nói khác từ trong anh dõng dạc vang lên. Anh đã cố quên đi cô gái ấy, cô gái lần đầu tiên đã làm cho trái tim anh rung động. Tình bạn học cũ đã chuyển sang tình yêu từ bao giờ anh chẳng rõ nữa. Đêm trước lúc anh lên đường nhập ngũ, Thùy Mai đã đến với anh với những nỗi xao xuyến, ngập ngừng. Anh đã đặt chiếc hôn đầu tiên lên môi người yêu khi Thùy Mai ngả người vào ngực anh, ngay dưới rừng mai này. Lúc đó những cánh mai trong gió khẽ đưa hương, báo tin bắt đầu từ ngày mai, xuân bước vào độ chín. Bảy năm trời, anh không nhận được một lá thư nào của Thùy Mai. Có lẽ vì ở chiến trường anh không có một địa chỉ rõ ràng. Nhưng tin đầu tiên về Thùy Mai đến với anh qua lời một đồng chí trong đơn vị mới hành quân từ Bắc vào là dòng tin dữ dội: "Thùy Mai đã lấy chồng, vì tôi thấy cô ấy đã có con". "Cô ấy đã có con", anh nửa tin nửa ngờ. Nhưng trước mặt anh giờ đã là sự thật, không thể ngờ mà phải tin. Và Thùy Mai thì đang chao võng và cất tiếng à ơi… kia: Trúc với Mai, Trúc đi Mai nhớ! Trúc trở về, Trúc nhớ Mai chăng?Một câu hát ru đã được cải biên lời. Anh nhớ rất rõ mẹ anh đã ru anh thuở nhỏ, chính câu hát phải thế này: Trúc với Mai, Mai về Trúc ở Trúc trở về, Mai nhớ Trúc không?Trung úy bộ binh Dương Trúc cứ đứng như vậy để nghe những lời hát ru của cô gái vọng ra. Chợt anh nghĩ, nếu có một người nào đó từ đâu tới và thấy anh đứng đây, người ta sẽ cho anh là một đứa kẻ trộm đang nghe ngóng, rình mò, và sẽ lôi thôi hơn nữa nếu chồng Thùy Mai ở đâu đó bước về, chạm mặt anh đang đứng lặng ở đây. Anh xóa dấu dày rồi khẽ quay gót. Khi anh trở lại quốc lộ I, xe cũng vừa chữa xong. Mới quá nửa đêm, xe rồ máy thẳng hướng đèo Ngang, chồm tới.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 07:57:57 am » |
|
Cuối mùa đông năm này, tình cờ tôi lại gặp nhà thơ Mai Liên tại Hà Nội. Anh vừa bước ra từ trụ sở một nhà xuất bản với nét mặt rạng rỡ. Anh kéo tôi ngồi xuống ghế đá ở một vườn hoa gần đó, giọng rất hể hả: - Nếu không có anh, chưa hẳn tôi đã hoàn thành tiểu thuyết đầu tay này. Với những gì tôi đã biết về rừng mai vàng ở quê vợ, và câu chuyện tình dưới rừng mai vàng ấy của bạn anh: Thùy Mai và Dương Trúc mà anh đã hồ hởi kể cho tôi nghe 5 năm về trước lúc tôi đang theo học lớp đại học hàm thụ văn khoa, tôi đã soạn, đã viết, mãi hôm nay mới hoàn thành. Cảnh thực, người thực, việc thực bước vào trang sách… như thực. Tên bài thơ "Hương Mai" dạo trước tôi đã lấy làm nhan đề cuốn tiểu thuyết này. Rồi với những phấn chấn mới mẻ, anh tiếp lời mình một cách say sưa: - Nhân vật của tôi: Dương Trúc và Thùy Mai, sau đó đã thông hiểu nhau, xây dựng hạnh phúc sau ngày đất nước thống nhất. Ngày cưới của họ đúng độ xuân chín, mai vàng cắm đầy bàn giữa hai họ, hương bay ngào ngạt. Đứa con nuôi là đứa con chung của họ. Cô ấy sẽ là một bác sĩ nổi tiếng trong tương lai. - Rất đáng tiếc, cuộc đời của họ không như anh tưởng tượng. Tôi ngắt lời anh. Nhà thơ Mai Liên sửa lại đôi kính cận, há mồm nghe những lời chậm rãi của tôi sau đây: - Họ không gặp lại nhau và không bao giờ lấy nhau. Sau ngày đất nước thống nhất, không hiểu do đâu mà Thùy Mai có rất nhiều bạn bè, loại người chuyên bán buôn, móc nối. Ít lâu sau thì Thùy Mai tự bỏ nghề và đi buôn. Cô ta đã lấy một anh chàng thợ may chết vợ, giàu sụ nhưng nát rượu. Họ chửi nhau suốt ngày, Thùy Mai sẵn sàng làm bất kỳ điều gì, miễn hái ra tiền. Mùa xuân năm ngoái chính cô ta đã đến rừng mai vàng làng Đông Dương cùng một bọn xấu khác trộm cành mai đưa về bán ở chợ Ba Đồn, bị công an phát hiện, giữ lại mấy hôm. - Thế còn anh Dương Trúc? Nhà thơ Mai Liên sốt ruột hỏi tôi. - Dương Trúc bạn tôi, đã trở về quê hương sau ngày Thùy Mai lấy chồng. Nhưng chiến tranh đã cướp của anh một bàn chân phải trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1972. Anh chưa lấy vợ, nhận chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ ở rừng mai vàng quê anh, ở đó còn có nấm mồ cô giáo tuổi nhỏ của chúng tôi. Vẫn bằng giọng chậm rãi, tâm tình, tôi kể tiếp cho anh nghe: - Đứa con nuôi của Thùy Mai năm nay là một học sinh giỏi văn của trường phổ thông Trung học Ba Đồn. Cháu vẫn ở với Thùy Mai, mặc dầu có người chú ruột ở Huế tha thiết muốn đưa cháu vào sống với gia đình mình. Lần gặp lại cháu gần đây, cháu đã nói với tôi: "Cháu không thể từ bỏ người đã nuôi cháu từ cái ngày gia đình cháu gặp điều bất hạnh, mặc dầu người đó hiện nay cháu chẳng thích tí gì. Nhưng nhất định mọi cái tốt đẹp sẽ lại đến, nhất định sẽ lại đến!" Nhà thơ Mai Liên đứng dậy, lững thững đi bên tôi dọc hàng cây cơm nguội. Bỗng dưng nét mặt rạng rỡ, hả hê, phấn chấn của anh lúc nãy biến mất. Anh trầm ngâm, thỉnh thoảng đưa tay lên sửa lại đôi kính cận. Tôi đoán, chắc lúc đó anh đang nghĩ về trang sách anh đã viết và con người thực ngoài đời. Tôi chia tay anh để còn chuẩn bị thêm mấy thứ cho chuyến trở lại quê hương trong dịp xuân mới này, khi con tàu Thống nhất độ hai giờ nữa sẽ rú còi rời ga Hàng Cỏ. Tôi sẽ đến rừng mai vàng làng Đông Dương quê tôi mà ngắm hoa nở, mà ngửi hương say, mà nhìn cánh mai, như trăm nghìn cánh bướm vàng vờn trong nắng ấm. Tôi sẽ đem đến cho bạn tôi, anh thương binh Dương Trúc một chiếc chân giả loại mới có những thiết bị tự động mà tôi mua từ nước ngoài về với một giá khá đắt. Với chiếc chân giả có những thiết bị tự động này, anh ấy có thể dễ dàng đi trên cát rừng mai vàng và đến từng nấm mồ liệt sĩ nhổ từng cây cỏ, kẻ lại dòng mộ chí, trong đó có nấm mồ cô giáo tuổi nhỏ của chúng tôi. Và chắc chắn, các cháu học sinh của trường cơ sở Quảng Phương dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo sẽ đến trồng thêm những cây mai trên đồng cát, đan thêm dày rừng mai như chúng tôi trước đây đã đến trồng trong ngày tết trồng cây nhớ Bác Hồ. H.N.D (2/8-83)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:13:37 am » |
|
Thím Thoải HẠNH LÊ Sáng thứ sáu, mẹ vợ bảo “chiều nay con cố gắng về sớm lên thăm mộ ông Phương với mẹ”. Tôi gật đầu “dạ vâng” rối dắt vội xe ra cửa. Năm nào cũng thế, cứ vào ngày giỗ ông Phương, hai mẹ con lại chuẩn bị đèn nhang viếng mộ ông. Mẹ bảo ngày còn sống, món ăn ông thích nhất vẫn là cơm nếp đùm trong chiếc mo cau. Mẹ cũng không quên vào bàn thờ lấy cuốn nhật ký dã vàng ố bỏ vào tay nải. Mẹ bảo ngày còn sống cuốn nhật ký này ông qúi còn hơn vàng. Có lần ông suýt chết vì nó. Ấy là lần đánh đồn Dốc Miếu. Đánh xong rút về ông mới hay là mình đánh mất cuốn nhật ký. Thế là một mình ông mò trở lại trận địa. Ở cương vị chỉ huy, ông vẫn biết là mình sai và phiêu lưu, nhưng mất cuốn nhật ký thì đời ông còn gì. Bao nhiêu năm tháng trận mạc buồn vui đời lính ông đã ghi lại vào đó cả. Mẹ bảo chuyện đời ông buồn và tội nghiệp lắm. Mấy chục năm trời, ông xem đơn vị là nhà, đánh giặc là niềm vui, cố giấu một nỗi đau riêng kiêu hãnh và thầm kín. Ấy là năm 1956, làng Cổ Liễu bàn tán xôn xao chuyện đám cưới của thiếu úy Phương. Nhiều người kháo nhau đây sẽ là một đám cưới to và đẹp nhất làng. Cô dâu là bí thư xã đoàn, đẹp vào loại hiếm có. Còn chú rể thì tốt nghiệp trường Lục quân. Hàm đeo thiếu úy. Cao một mét bảy mươi lăm, người như gỗ lim, mũi thẳng trán vuông, mặt chữ điền. Thời chiến đám cưới không có gì là to, nhưng đúng là thật đẹp. Đám rước đông như hội, Phương và Thoải đi sóng đôi sau họ hàng. Cô dâu vận áo dài xanh ngọc, cổ đeo kiềng bạc, tóc thả dài tự nhiên. Chú rể mặc quân phục sĩ quan mới cứng. Đôi dày lính den bóng cộm lên loang loáng lối đi bờ đê xanh rì cỏ. Cô dâu Thoải thẹn thùa chỉ đến vai chú rể. Đám con trai con gái làng xầm xì ao ước đẹp đôi như Phương Thoải. Hôm ấy trời nhiều nắng. Lúa đang ở thì con gái xanh nhức mắt. Cò cũng về nhiều hơn mọi hôm, bay trắng toát cả cánh đồng Bàu Vá. Phương trông thật nghiêm nghị, anh có vẻ hồi hộp, mồ hôi rịn ra lấm tấm trên màu da như đồng hun. Còn Thoải thỉnh thoảng lại vấp, tà sau chiếc áo dài ghim đầy hoa trinh nữ màu hồng phấn. Chưa bao giờ Thoải thấy hạnh phúc như vậy. Thỉnh thoảng cô lại liếc nhìn Phương đi bên cạnh, lòng hồ nghi như rằng đây chỉ là một giấc mơ. Tim cô nhoi nhói một niềm vui với ý nghĩ Phương bây giờ đã là của Thoải. Dường như đám con nít chăn trâu trong làng đang chế nhạo Thoải. Trong số những gương mặt quen quen, Thoải chỉ nhận ra thằng Lô con nhà Bổng. Chúng nó xếp hàng dọc theo bờ đê và đồng thanh hô to “hông vợ chài là hai vợ chồng”. Thoải thấy mặt mình nóng ran ran, cô lại liếc nhìn Phương thấy anh cũng bối rối. Thoải có cảm giác là cả hai như đang bay lên. Cô khẽ nắm tay Phương và nhận thấy tay anh hơi run run. Đó là những ngày tháng hạnh phúc nhất của Phương và Thoải. Căn phòng cưới của họ đầy ắp cổ cò, một loài hoa chỉ mọc ven bờ đê làng Cổ Liễu. Tuần trăng mật của họ đúng vào mùa trăng. Đêm nào, Phương cũng đưa Thoải ra bờ đê. Dưới ánh trăng vàng rỡ, cánh đồng Bàu Vá như chìm trong sương mù. Tận phía bên kia cánh đồng, có tiếng bầy vạc kêu sương thảng thốt. Phương run run lần tìm cúc áo Thoải. Mùi hương bồ kết từ tóc Thoải thoang thoảng bay làm anh ngây ngất “lúc này em mơ điều gì hở Thoải?”. Nép vào vai chồng, Thoải bảo “em mơ một đứa con trai”. “Con trai đi lính như anh rồi không về thì sao”. Thoải đưa tay bịt miệng Phương “anh đừng có nói gở, năm tới em sẽ sinh cho anh một đứa con trai”. Những ngày hạnh phúc qua mau như một giấc mộng. Đã đến lúc Phương phải về đơn vị. Hôm đưa Phương đi, Thoải may cho chồng hai chiếc áo mới. Cô cũng không quên gói theo một mo cơm nếp tám thơm để Phương mang về đơn vị. Thoải đưa chồng đi tắt qua cánh đồng Bàu Vá. Nắng sớm mai đỏ rực như máu. Ven bờ đê hoa trinh nữ còn say ngủ. Cả hai đều im lặng đeo đuổi những suy nghĩ riêng. Họ đi ngược con đường của ngày cưới. Thoải thấy tim mình lại nhoi nhói đau. Chiến tranh biết khi nào Phương về. Một người bạn thân của cô vừa mời có giấy báo tử. Đến đầu làng, họ chia tay. Thoải bật khóc nức nở. Cứ như có một linh cảm đau buồn nào đó làm rạn nứt trái tim cô. Như rằng sau cuộc chia ly này Thoải sẽ mãi mãi mất Phương. Âu yếm hôn vợ, nhưng miệng anh méo xệch. Nước mắt Thoải mặn đắng trên môi anh. Thoải không biết sau đó mình về nhà bằng lối nào. Cô chạy như bị ma đuổi, người tê dại vô tri. Một sự trống vắng ghê rợn xâm chiếm tâm hồn Thoải. Sau đó là những ngày chờ đợi. Căn phòng cưới cứ rộng ra và trống hoang hoác. Đêm đêm, Thoải ngủ trong nước mắt. Cô ôm chiếc gối của chồng để mặc cho lòng thổn thức. Tháng đầu tiên sau ngày cưới, Thoải lại có kinh. Đêm ấy Thoải khóc nhiều nhất. Thế là ước mơ của cô vẫn chưa thành. Chiều nào đi làm đồng về lòng Thoải cũng tràn đầy hy vọng, cô ghé ủy ban xã hỏi bác Tá đưa thư có ai gửi gì cho mình không. Suốt mấy tháng ròng, Thoải chỉ nhận được một cái lắc đầu với câu nói động viên “chắc là thư đang trên đường ra, vài hôm nữa thì đến. Trong ấy nghe bảo đánh nhau căng lắm”. Niềm hy vọng chợt tắt, lòng Thoải lại rối bời. Lá thư đầu tiên của Phương, Thoải nhận được nó trong một ngày mưa dầm. Tim Thoải đập thình thình. Mở lá thư, tay cô run run. dường như lá thư đã qua nhiều tay người, nó mềm oặt và nhòe mồ hôi. Thoải đọc ngấu nghiến như một người đói lâu ngày. Thư không đề ngày gửi. Đúng là nét chữ của Phương. “Anh vẫn khỏe. Đánh nhau hăng lắm. Hết đánh nhau là nhớ em. Đi rồi anh mới tiếc sao không ngủ với em nhiều hơn, em cố gắng giữ gìn sức khỏe”. Tiếp đó la những đoạn nhòe Thoải không thể nào đọc được. Dường như là Phương viết có ai đó ở làng trên đã chết. Đoạn tái bút “Em đã có gì chưa? anh sẽ về. Chăm sóc mẹ giúp anh. Ngàn lần hôn em người vợ hiền chung thủy của anh”.Sau đó những lá thư cứ ngày một thưa dần. Thoải chờ đợi trong héo hắt. Cô lao vào công tác đoàn thể, xem đây như một niềm vui. Đã đẹp lại còn năng nổ giỏi giang. Thoải tiến vù vù. Ở cuộc họp nào Thoải cũng được mời phát biểu. Được tổ chức đánh giá là một cán bộ trẻ có nhiều triển vọng. Thoải xa nhà nhiều hơn và cũng đi họp ban đêm thường xuyên hơn. Mẹ vợ kể năm đó mẹ đâu chừng tám chín tuổi. Bà thường bảo mẹ cùng đi họp với thím Thoải cho vui. Sau này thì mẹ mới biết, ý bà muốn mẹ canh chừng thím. Đàn bà con gái đẹp hơ hớ, lại xa chồng, bao nhiêu cái dục vọng đưa đẩy, rất dễ sa ngã lầm lỡ. Nhưng đến cuộc họp đêm, mẹ chỉ biết có ngủ. Khi nào họp xong, thím lay dậy bảo “về Dụng” thì mẹ lại thức dậy cùng về. Vắng chồng, Thoải càng đẹp ra. Cô rực rỡ như một bông hoa đồng nội. Đêm đêm, Thoải phải hai ba lần đi tắm cho dịu nỗi nhớ chồng. Trai làng nhiều đứa ỡm ờ hay chặn đường Thoải chòng ghẹo. Táo tợn nhất là thằng Lô. Lô bây giờ phát mã, người cao lớn tồng ngồng. Thằng Lô hay bảo Thoải “nào, cho sờ tí”. Thoải chửi “đồ con nít” thằng Lô chỉ ngoay ngoáy cái mông rồi nhăn mặt cười hê hê. Bước ngoặt đời Thoải bắt đầu từ hôm cô được lựa chọn đi dự đại hội chiến sĩ thi đua. Lần đầu tiên trong đời Thoải đi ô tô, cô thấy cái gì cũng lạ. Hà Nội thời chiến trong mắt Thoải, một cô gái quê, vẫn cứ to đùng và đẹp rực rỡ, Thoải thấy mình cứ bé nhỏ trước những con người lịch lãm và sang trọng. Lần đầu tiên Thoải thấy mình không nhớ chồng. Trong bữa tiệc tối ấy, cô có uống một cốc rượu nhỏ. Thoải chả biết đó là rượu gì, chỉ nghe đầu lưỡi cay cay chua chua. Đêm ấy trời Hà Nội mưa rất to. Chiếc máng xối ngoài hàng hiên nhà nghỉ đổ nước ào ào. Thoải thấy người nóng rực và bức bối đến kỳ lạ. Có tiếng gõ cửa lẫn trong tiếng mưa. Thoải e dè rút then. Lấp lóa trong ánh chớp trời là gương mặt một người đàn ông. Phải một lúc lâu Thoải mới nhận ra đó là vị trưởng đoàn. Thoải không còn nhớ sau đó mọi việc diễn ra như thế nào. Cô thấy đầu óc mụ mị, chân tay tê dại. Cái bóng đen to lớn đổ ập lên người cô. Thoải thấy mình như đang bay lên trong ngày cưới. Chiếc áo dài màu xanh ngọc dính đầy hoa trinh nữ. Phương vừa khóc vừa gọi theo, nhưng không hiểu tại sao Phương cứ cắm cúi đi. Anh không hề ngoái đầu lại một lần nào. Thoải nghe loáng loáng có tiếng hô đồng thanh của bầy trẻ chăn trâu “hông vợ chài là hai vợ chồng”. Suốt đêm ấy Thoải khóc trong niềm ân hận. Cô để mặc cho những giọt nước mắt tủi hổ chảy đầm đìa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:15:36 am » |
|
Dự đại hội chiến sĩ thi đua về được hai hôm, Thoải nhận được tin chồng. Phương nhờ một người bạn viết hộ là anh đã ra Bắc, đang ở trại điều dưỡng E3 để điều trị vết thương. Thoải tức tốc thu xếp lên thăm chồng. Từ nửa đêm cô đã dậy, ra vườn nhặt mo cau và nhen lửa nấu cơm bếp. Bần thần nhìn ngọn lửa, nước mắt Thoải chảy ròng ròng. Thoải thấy người trống rỗng, cảm giác tội lỗi dày vò lòng Thoải. Thoải thoáng nghĩ đến một điều xa xôi như là cái chết. Chết là hết, nhưng Thoải sợ... Thăm chồng về độ nửa tháng Thoải thấy người hay choáng, nôn khan và thèm chua. Thoải biết là mình có thai. Mẹ vợ bảo năm ấy thím Thoải độ chừng hai lăm hai sáu. Tóc thím dài, đen nhánh. Nước da trắng như trứng gà bóc. Khuôn ngực thay lảy cái độ chín của một người phụ nữ ngấp nghé ngưỡng cửa làm mẹ. Tin thím Thoải có thai làm cả nhà vui như hội. Ông ra vườn đẵn tre để đan nôi cho đứa cháu hiếm hoi mà ông mơ ước. Còn bà ngày nào cũng tíu tít “Thoải ơi! con ăn gì bảo để mẹ mua. Ấy dà , phải là kiêng cữ cho nhiều. Đàn bà chửa là cửa mả đấy”. Rồi thím Thoải bị động thai. Máu ra nhiều. Nửa đêm ông chạy đi tìm y tá. Bà thì chầu chực bên giường. Mẹ vợ bảo trong nhà chỉ có một mình mẹ vợ biết vì sao thím Thoải động thai. Buổi sáng hôm ấy, mẹ thấy thím lặng lẽ leo lên xà nhà. Từ trên cao thím Thoải bổ nhào xuống như một con chim bị đạn. Lúc ấy mẹ vợ không hiểu vì sao thím lại làm như vậy, chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi dìu thím vào giường. Máu ra rất nhiều, chảy ướt cả quần và hai bàn chân thím Thoải. Điều trị lành vết thương, Phương được phép về thăm gia đình. Anh dành ngày phép ngắn ngủi để chăm sóc vợ. Căn phòng cưới của họ lại đầy ắp hoa cổ cò. Suốt ngày Phương ngồi bên giường vợ. Gương mặt Thoải xanh xao, gân xanh ở cổ nổi phập phồng. Cô đã ăn được một ít cháo trắng. Phương bỗng ít nói hẳn. Ngày phép cuối cùng, Phương lặn lội đi thị trấn mua tặng vợ một mảnh lụa và mấy mét vải may áo quần sơ sinh. Anh tháo tấm ảnh cưới bỏ vào ba lô. Đêm ấy trăng cũng sáng như sau ngày họ cưới nhau. Không gian thanh vắng, đầy ắp thứ ánh sáng trắng như pha lê. Có tiếng cười vọng lại từ bờ đê của lũ con trai con gái làng. Phương nghe rõ hơi thở nặng nhọc và gấp gáp của vợ. Anh thấy cổ họng đau nhức. Bao ngày qua Phương đã cố nuốt một vật đắng vô hình. Đã đến lúc Phương phải nói. Anh hỏi vợ “Cái thai mấy tháng rồi?”. “Dạ ba”. “Của ai vậy? Thoải bật khóc nức nở. Gương mặt cô phù ra dưới ánh trăng. “Chỉ cần em nói của ai, anh sẽ tha thứ cho em”. Giọng Phương buồn bã, nghe xa xôi như tiếng con vạc lẻ bầy kêu khan ngoài cánh đồng Bàu Vá. Thoải nói trong tiếng nấc “Em van anh hãy tha lỗi cho em. Ngàn lần em van anh, em cắn rơm cắn cỏ lạy anh...” Thoải sinh con trai. Phương gửi về một lá thư dài, kèm theo là một đơn ly hôn. Trong lá thư Phương viết cho gia đình anh cho biết đứa con Thoải sinh không phải là của anh. Cả làng Cổ Liễu bàn tán xôn xao. Có người cho là Phương ở bạc. Người thạo tin thì xầm xì chuyện Thoải “đi đêm”. Cũng chẳng ai biết một cách tường tận sự việc nó thế nào. Sau ngày ly hôn, Thoải bị khai trừ khỏi Đảng, bị cắt tuột hết chức tước. Thoải ẵm con về nhà cha mẹ đẻ. Người làng ngày một ít thấy Thoải. Mẹ vợ bảo đời thím Thoải sa sút lận đận từ đó. Thỉnh thoảng mẹ có gặp thím Thoải đi củi. Người gầy và héo hắt lắm, nhìn mãi mới nhận ra. Mỗi bận như thế, thím Thoải hay kéo mẹ vợ ra một góc rừng kín đáo “nì, Dụng, chú có hay gửi thư về không con?" “Dạ có mà ít”. “Chú có khỏe không?”. “ Dạ vẫn khỏe”. Thím Thoải hỏi nhiều lắm, mẹ vợ không nhớ hết. Rồi thím khóc, hai con mắt đỏ hoe hoe. Thím bảo đời thím thế là hết. Chỉ tội cho chú Phương lỡ làng. Mẹ vợ bảo mỗi bận ông Phương về phép, bà Thoải hay thập thò ngoài hàng chè tàu. Có lần bà suýt bị chó cắn. Năm sau, thím Thoải đi bước nữa, lấy thằng Lô trong làng. Cũng là rổ rá cạp lại. Thằng Lô hay rượu, lại cả ghen. Nó đánh thím Thoải ngày một. Mà đánh tàn nhẫn lắm. Nó cột tóc thím Thoải vào chân chiếc giường tre, lột hết áo xống thím, vừa đánh vừa chửi rầm rĩ “Mày là con đĩ thúi. Nghe ông nói chưa, mày là con đĩ... Phúc ba đời nhà mày mới được gặp ông”. Nghe tin này, ông Phương buồn lắm. Có bận về phép, ông ra tận chợ Tréo tìm bà Thoải. Bà đang lúi húi bán rau. Bất chợt thấy ông, mặt bà đỏ bừng, tim đập choi choi như thời con gái. Ông bảo bà “con có khỏe không? anh có chút quà này cho cháu”. Im lặng một lúc rồi ông thở dài “em đừng có cãi nhau với Lô làm gì, kẻo nó đánh nhiều mà đau”. Hai người đứng giữa chợ, nước mắt bà Thoải chảy ròng ròng. Ông chỉ nói có vậy rồi ông lại đi. Tan buổi chợ về nhà, bà Thoải lại khóc. Đêm hôm ấy, mẹ vợ thấy bà đứng thập thò bên hàng chè tàu tay cầm một gói quà. Nhác thấy mẹ vợ, bà Thoải nhao ra khỏi chỗ nấp, giọng thầm thì “nì Dụng, mang cái này vào cho chú Phương giúp thím. Mai chú đã đi chưa hở con?” “Dạ con nghe nói là mai chú đi sớm” “rứa mai mi đừng nấu cơm bếp, để tau bới cho chú nghe”. Suốt đêm đó Thoải thức trắng. Trăng tháng tám giải lên thềm nhà những vệt sáng lấp lánh. Gió từ cánh đồng Bàu Vá thổi u u. Vẫn là ánh trăng ngày ấy nhưng sao Thoải thấy nó nhợt nhạt và vô nghĩa quá. Thoắt mà đã mười năm rồi còn gì. Thoải nhen lửa nấu cơm nếp. Nhìn những tia lửa nhỏ lóe xanh nhảy nhót, Thoải nghe lòng bồi hồi. Nếu không có những vết đau nhức do buổi chiều thằng Lô đánh, có lẽ Thoải đã nghĩ rằng mình đang ở nhà Phương. Buổi sáng sau ngày cưới nắng đẹp lắm. Hôm ấy Phương trêu Thoải vì cô mặc áo trái. Ôi tiếng cười của Phương, sau bao năm tháng đau buồn Thoải vẫn thèm được nghe. Nó vang vọng như một ánh hồ quang, chói sáng rồi vụt tắt ở đâu đó trong lối đi mơ hồ của tiềm thức. Như buổi sáng hôm nào tiễn Phương đi, Thoải ra vườn nhặt chiếu mo cau. Cô dùng dao xếp cắt lấy phần bẹ, nhúng khăn ướt lau phần bụi ở mặt ngoài. Mặt trong chiếc mo cau cô lau bằng khăn mùi xoa, kỷ vật mà Phương tặng từ hồi họ mới yêu nhau. Bàn tay Thoải khéo léo đồ xôi vào ruột mo cau. Nhìn những hạt nếp dẻo dính trên chiếc khăn tay, bỗng dưng Thoải bật khóc nức nở. Mẹ vợ kể sáng hôm sau, trời còn mờ đất, mưa đổ lâm thâm, đã thấy bà Thoải vận áo mưa sùm sụp đứng thập thò bên hàng chè tàu, trông hom hem và tội nghiệp lắm. Mẹ vợ ngạc nhiên : ủa thím không biết à! chú Phương đã được xe đón đi từ hồi đêm. Hồi khuya chú bảo là sang thăm thím mà...”. Thím Thoải lắp bắp “ thế à, thế à...” rồi thím ngồi sụp xuống đất, đặt mo cơm nếp bên vệ đường, moi ruột lấy ra một tờ giấy xếp nhỏ bỏ trong bao ni lông. Phủi mấy hạt xôi bám vào tờ giấy, thím đưa cho mẹ vợ bàn tay thím Thoải run run “nì Dụng, con gửi cái này gấp cho chú”. Mẹ vợ bảo “thím vô nhà tí đã”. Thôi thím về, thím về đây, kẻo không thằng Lô nó thấy, nó lại hành thím”. Bỏ thằng Lô, Thím Thoải đi thêm ba bước nữa nhưng bà không có lấy một ngày hạnh phúc, người chồng sau cùng của thím bị liệt, cả con chồng con vợ ông lại đến mười mấy đứa. Thím suốt ngày quần quật ngoài đồng. Người đen đúa gầy nhom. Tóc cũng đã bạc nhiều. Duy chỉ có đôi mắt là vẫn đen lay láy sâu hun hút, nhìn ai như thắp lửa bập bùng. Năm 1975, Miền Nam giải phóng, Thiếu úy Phương ngày nào giờ đã là trung tá. Ông vẫn chưa có gia đình. Rồi chưa kịp nghỉ ngơi ông lại tiếp tục đi chiến trường K. Niềm vui của đời ông là đơn vi. Cánh lính trẻ tếu táo cứ gọi đùa ông bằng bố. Người ông thương nhất là binh nhất Sơn. Nó mồ côi cha. Mẹ Sơn còn rất trẻ và đẹp. Thỉnh thoảng thấy thủ trưởng buồn, Sơn nghịch nửa thật “ hay là bố về ở với mẹ con. Xin báo cáo với bố mẹ con ngày xưa là hoa hậu đấy. Bố muốn ăn cơm “ lếp” thì mẹ nấu cơm “ lếp” cho bố ăn. Thằng Sơn nói ngọng chữ “ nếp” thành chữ “ lếp”.Nói là làm thật, bữa nọ hai mẹ con vào. Chút nữa thì ông làm rơi chén. Mẹ Sơn giống Thoải đến kỳ lạ. Từ dáng đi cho đến khuôn mặt trái xoan, đôi mắt sâu hun hút những lúc vui lại nhấp nhánh cười. Lâu lắm ông Phương mới có một ngày vui như vậy. Nhưng rồi tất cả chỉ dừng lại ở đó. Nhìn mái tóc búi gọn thành tó xanh đen trên bờ vai tròn trặn của mẹ Sơn, ông biết là mình chưa thể nào quên được Thoải. Thoải là tất cả những gì ông đã có và đã đánh mất trên đời này. Ông Phương mất năm 1984 tại chiến trường K do bạo bệnh. Một tháng sau, mẹ vợ nhận được một gói bưu phẩm gồm có thư, cuốn nhật ký, bức ảnh ngày cưới ông Phương và một cuốn sổ tiết kiệm. Trong thư ông viết: “ Dụng thương yêu của chú! chú biết là mình khó có thể qua khỏi bệnh, nên chú viết thư này cho cháu. Cuốn nhật ký là cả một đời chú. Chú đã viết nó trong những ngày đau buồn nhất. Chú biết là mình không thể nào mang theo được. Bây giờ cháu hãy giữ nó giúp chú. Còn cuốn sổ tiết kiệm đó là chút tiền mọn mà chú đã cóp nhặt mấy mươi năm đi lính. Không nhiều nhặn gì nhưng với quê mình cũng là to lắm. Cháu hãy giúp chú, đưa cuốn sổ tiết kiệm cho thím Thoải, để thím đỡ vất vả trong ngày già. Chú gửi lời thăm Thuần và các cháu”. Tái bút “Chút nữa thì chú quên. Bức ảnh ngày cưới của chú giữ lại đừng gửi cho thím Thoải làm gì. Không khéo rồi ảnh hưởng đến người khác. Còn cuốn sổ tiết kiệm chú đã ghi tên của thím rồi”.Cuốn nhật ký của ông Phương rất dày. Dường như là nó đã được đóng thêm nhiều lần và đóng rất khéo. Tôi mở trang đầu, vẽ hình một đôi chim bồ câu đang bay. Trang tiếp theo “ Ngày... tháng ... năm, vừa đi đào công sự về thì nhận được thư Thoải. Đang mệt bả người bỗng dưng thấy khỏe lại. Thoải bảo là chưa có thai. Hơi buồn. Nhưng việc ấy thì vội thế nào được. Mấy thằng quỉ sứ đọc lén chúng nó cười chuyện kín của vợ chồng mình. Thoải ơi! gắng lên em nhé. Anh nhớ em vô cùng. “Ngày tháng năm, suốt mấy hôm trời vẫn không ngớt mưa. Thằng nào cũng nhớ nhà mặt nghệt ra như ngỗng. Giờ này em làm gì? ở quê chắc là đang vào vụ lúa. Chiều nay B2 chết ba đứa. Bao giờ anh mới được gặp em. Không biết là có còn được gặp em nữa không?” Ngày tháng năm. Tại sao em nông nổi vậy Thoải. Em bôi tro trát trấu lên mặt anh. Em giết chết đời anh mất rồi. Tại sao em lại làm vậy. Cái thai là của ai? nếu em nói rõ có thể là anh sẽ tha thứ. Nhưng... “Ngày tháng năm. Mày đã thấy hả giận chưa. Bây giờ mày là thằng tự do, thằng chưa vợ. Nếu còn sống từ cuộc chiến này trở về mày sẽ là mì chính cánh. Thì ra mày cũng làm như cái cách mà nhiều người khác đã làm”. Ngày tháng năm. Thoải có lỗi hay không? tại sao mình lại làm như vậy? liệu mình có vội vàng quá hay không? có phải ly hôn là cách duy nhất hay không? Thoải ơi! thế là anh đã giết chết đời em mất rồi. Cái thằng người ích kỷ trong anh đã đẩy em vào con đường cùng...”Tôi lật trang cuối đề ngày 22. 03. 1984. Trước ngày mất hai hôm ông Phương viết “Càng có tuổi anh mới hiểu cái quí nhất trên đời là vị tha. Yêu em, nhưng anh đã không làm được điều đó. Nhìn em khổ sở anh ân hận vô cùng. Mấy hôm nay bác sĩ bảo rằng anh sẽ qua khỏi bệnh. Anh không tin điều đó. Anh chỉ tiếc là đã không gặp được Thoải trong ngày chia tay này. Trước cái chết, anh hiểu là con người ta đã có biết bao nhiêu lầm lỡ. Điều anh ân hận suốt cả đời mình là tại sao anh không thể tha thứ cho Thoải. Bây giờ anh mới biết hạnh phúc của đời người là ngắn ngủi biết bao. Đã thế anh còn không biết giữ nó. Anh đã hắt hủi em. Tại sao anh làm vậy? hãy tha thứ cho anh nghe Thoải. Anh không giấu diếm rằng suốt những năm tháng đã qua anh chỉ có em. Chỉ nghĩ về em, niềm hạnh phúc lớn nhất của đời anh. Nhiều lúc anh nghĩ số phận chúng ta có thể đi theo một hướng khác nếu như... Anh biết những năm tháng qua em đã bị khinh rẻ, khổ sở như thế nào. Điều đó khiến lòng anh đau đớn. Nhưng tất cả đã muộn màng. Hãy tha thứ cho anh nghe Thoải. Ngàn lần hôn em, người vợ hiền chung thủy của anh”.Cuối năm 1999, tôi về quê dự đám cưới của Hải, người anh vợ. Trước khi đi, mẹ vợ bảo “con về nhớ ghé thăm bà Thoải. Cho mẹ gởi lời thăm bà, nhân thể mẹ gởi cho bà cuốn nhật ký. Mẹ nghĩ là đã đến lúc bà Thoải cần nó”. Tôi gặp bà Thoải trong ngày cưới của anh Hải. Bà vẫn còn rất đẹp dù đã tàn tạ nhiều. Suốt đêm hôm ấy bà Thoải chỉ nói chuyện ông Phương. Thỉnh thoảng bà lại kéo chéo áo lau nước mắt. Bà bảo suốt một đời bà chỉ có ông là người tốt nhất. Nhưng bà đã để mất ông. Khi tôi đưa cuốn nhật ký, bà cầm tay nó run run, bảo “có mấy lần bà nài con mẹ vợ anh cho bà mượn vài hôm. Nhưng Dụng nó bảo chưa cho bà mượn được”. Mân mê tấm bìa nhựa cuốn nhật ký, bà hỏi “mày đã đọc chưa hả cháu. Ông có hận mắng bà nhiều không?”. Tôi cười bảo “bà cứ đọc rồi khắc biết” Nắng đã lên. Sương mù tháng chạp giăng kín cánh đồng Bàu Vá. Gió mụ mị thổi qua những vườn chuối, tiếng tàu lá đập trong gió xao xác như những tiếng thở dài. Xa tít tận trên cao, mảnh trăng muộn cuối năm nhợt nhạt như một gương mặt người thiếu máu. Trại viết Nha Trang tháng 5 năm 2000 H.L
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:29:06 am » |
|
Tiếng súng giữa rừng PHAN VĂN LỢI Những ngày cuối năm 1970. Hướng chiến dịch của mùa khô mới đã được xác định. Địch sẽ huy động một lực lượng lớn các đơn vị quân chủ lực tinh nhuệ phối hợp với quân ngụy Lào, có sự chi viện tối đa hỏa lực pháo binh và không quân Mỹ để tiến hành một cuộc hành quân quy mô dọc đường Chín nhằm cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta, sau đó sẽ nống ra đánh phá đường giao thông và các kho tàng hậu cần của tuyến đường Trường Sơn vùng Trung - Nam Lào. Về phía ta, Bộ tư lệnh chiến dịch đã hình thành một thế trận phản kích trong thế chủ động, sử dụng khối bộ đội chủ lực cơ động tác chiến hiệp đồng binh chủng kết hợp với lực lượng tại chỗ của các mặt trận B4, B5 và bộ đội Đoàn 559, quyết tâm bảo vệ bằng được tuyến vận chuyển chiến lược cùng các cơ sở hậu cần, đồng thời tiêu diệt và làm tan rã ở mức cao nhất lực lượng quân chủ lực ngụy. Mặc dù vẫn còn lác đác những cơn mưa cuối mùa và nền rừng đang sũng nước, nhưng bên dưới tấm thảm xanh mênh mông của rừng Lào, không khí chiến dịch đang nóng lên từng ngày. Ở trung đoàn 92, các tiểu đoàn bộ binh và hỏa lực vẫn lặng lẽ ém quân trong những khu rừng dưới chân núi Pu Leng, nhưng các cán bộ chỉ huy từ cấp tiểu đoàn trở lên cùng tham mưu, trinh sát đang tất bật gấp rút lên đường trinh sát thực địa. Mặc dù đã được phổ biến kế hoạch tác chiến chiến dịch, nhưng ban chỉ huy trung đoàn vẫn hết sức lo lắng. Trong đội hình sư đoàn, trung đoàn 92 được sử dụng như một đơn vị dự bị cơ động, sẵn sàng đánh phản kích để bảo vệ các kho hậu cần dọc tuyến đường 22 nếu địch từ đường Chín tiến vào khu vực Mường Noọng - A Lưới, đồng thời phải chuẩn bị phương án đánh chặn các tiểu đoàn quân ngụy Lào tiến từ hướng tây nam lên. Công tác chuẩn bị chiến trường buộc phải chia làm hai hướng. Trung đoàn trưởng phụ trách đoàn cánh nam đi về hướng Pha Đo Tuya, còn đoàn của tham mưu trưởng Đặng đi lên hướng bắc. * Đài quan sát của đoàn chuẩn chiến cánh bắc đặt trên đỉnh một ngọn núi được ghi trong bản đồ là điểm cao 323. Ở đấy vào những ngày nắng, qua ống nhòm bội số lớn có thể quan sát cả một vùng rừng rộng từ sông Sê Băng Hiêng ra tới sông Sê Pôn. Nhưng vào mùa này những ngày trời trong rất hiếm hoi. Hầu như suốt ngày sương mù phủ trắng trên những cánh rừng và mây lấp đầy các khe núi. Ngay cả những ngày tạnh ráo, cũng chỉ có thể quan sát tầm xa trong vài giờ vào buổi chiều. Chỉ để một tổ chốt ở đài, Đặng chia đoàn thành nhiều toán hỗn hợp chỉ huy - tham mưu - trinh sát, len lỏi trong các cánh rừng trải dài hai bên đường 22. Trung đoàn đã nhiều năm hoạt động ở chiến trường Trung - Nam Lào, địa hình ở đây không phải xa lạ, nhưng quy mô chiến dịch lần này khác với những năm trước. Ý đồ chiến thuật cho những trận đánh sắp tới hoàn toàn tùy thuộc vào diễn biến của chiến dịch, đòi hỏi công tác trinh sát phải hết sức tỉ mỉ chính xác để có thể xác định phương án tác chiến cụ thể và linh hoạt. Đặng nhắc các toán trinh sát đặc biệt chú ý nghiên cứu kỹ lưỡng những con đường địch có thể cơ động tăng, thiết giáp, những cao điểm trực thăng có thể đổ quân, cẩu pháo đến đặt trận địa hỏa lực hoặc xây dựng căn cứ phong tỏa... Trong những ngày ấy, trên lớp lá rụng mục ải bốc mùi ẩm mốc phủ dày nền rừng già, dấu chân của các toán trinh sát và của thám báo ngụy giẫm đè lên nhau. Những lối đi vô hình của ta và địch đan cài ngang dọc bên dưới tán cây rừng. Đã có đôi lần chạm mặt nhưng cả hai bên đều cố né tránh, hạn chế nổ súng. Địch không muốn để lộ ý đồ cuộc hành quân. Phía ta, ngoài việc giữ bí mật, còn phải tránh bắn lầm nhau. Trong vùng chiến trường dự kiến, ngoài trinh sát của trung đoàn 92, còn có quân của các đơn vị bạn: trinh sát pháo binh, công binh, thông tin kỹ thuật, bộ đội binh trạm... Hầu hết các toán thám báo địch đều mặc trang phục giả bộ đội ta, trang bị tiểu liên AK, rất khó phân biệt khi chợt gặp trong rừng. Các trinh sát đều được phổ biến rất cẩn thận mật khẩu, ám hiệu quy ước thống nhất trong toàn sư đoàn và được thay đổi theo từng thời gian nhất định. Sau hơn nửa tháng, đoàn của Đặng đã cơ bản hoàn thành công việc. Anh cho phần lớn đoàn rút về hậu cứ, chỉ để lại hai trợ lý tham mưu và tiểu đội trinh sát của Cương. * Mãi gần trưa nắng mới hửng. Sương mù tan dần, những ngọn núi như trồi lên từ trong sương, trên đỉnh nhuốm nắng vàng hươm. Tham mưu trưởng Đặng mở nắp hộp da lấy ống nhòm đưa lên mắt, chỉnh tiêu cự chăm chú quan sát các điểm cao phía nam sông Sê Pôn. Anh muốn soát lại lần cuối toàn cảnh vùng chiến trường sẽ diễn ra trong dự kiến để quyết định một phương án tác chiến thích hợp. Mặt trời lên cao, màu mây trắng bạc chói nắng đến nhức mắt. Trước cửa lán đài quan sát, Thái khum bàn tay che mắt dõi theo chiếc OV.10 nãy giờ vẫn lượn đi lượn lại trên vùng trời phía nam Bản Đông, tiếng động cơ u u rền rĩ lúc gần lúc xa nghe khó chịu như có con nhặng vo ve quanh quẩn đâu bên cạnh. Sau lưng Đặng, hai cán bộ tham mưu đang chúi đầu trên tấm bản đồ đưa đầu bút rà theo những kí hiệu chi chít, rì rầm trao đổi với nhau. - Vừa rồi cậu nào điều nghiên cái 551? - Đặng chợt hỏi, mắt vẫn không rời khỏi ống nhòm. - Tôi, anh ạ! - Một trợ lý tham mưu trả lời - Tôi đi với trinh sát D3. Đặng buông ống nhòm, quay lại ngồi xuống bên tấm bản đồ: - Địa hình ở đấy thế nào? Trợ lý tham mưu hơi nhíu mày như để nhớ lại: - Mỏm này trên đỉnh khá rộng, tương đối bằng phằng. Không có cây cao, chỉ cỏ gianh với cây bụi lúp xúp. Sườn phía sông Sê Pôn khá dốc, phía nam và tây nam thoai thoải. - Tăng PT82 lên được không? - Đặng hỏi tiếp. Trợ lý tham mưu lúng túng: - Tôi cũng... chưa tính tới. Có sơ đồ đây anh ạ! - Anh nói, rồi lật loạt soạt xấp sơ đồ, rút ra một tờ đưa cho tham mưu trưởng. Đặng không trách cấp dưới của mình. Đây là lần đầu tiên sư đoàn chiến đấu có xe tăng tăng cường, chính anh cũng vừa nhận được thông báo qua điện mật. Nếu có tăng phối thuộc sẽ sử dụng ở đâu? Trong điều kiện nào? Chưa hẳn trung đoàn đánh ở hướng này, nhưng tài liệu trinh sát tỉ mỉ sẽ rất cần cho sư đoàn. Đặng chăm chú nghiên cứu bản sơ đồ, suy nghĩ một lúc rồi nói: - Theo mình, vị thế của 551 rất quan trọng. Nếu địch lập ở đó một cứ điểm vừa che chắn được sườn nam cho mũi tiến quân lên Bản Đông, vừa phong tỏa đường 22, đồng thời có thể làm bàn đạp để tiến về hướng Mường noọng - A Sầu - A Lưới... - Anh ngẩng lên gọi - Cương ơi, dậy đi! Tiểu đội trưởng Cương đang ôm súng ngồi tựa góc lán ngủ ngon lành, nghe gọi liền bật dậy đưa tay dụi mắt. Đặng cười: - Thèm ngủ lắm hả? Thôi, chịu khó vậy. Mình có việc cho cậu đây! Cương bước tới, ngồi xuống trước mặt tham mưu trưởng. Đặng đưa tay chỉ một điểm trên bản đồ: - Cậu chọn lấy một tổ, làm kỹ cho mình cái 551. Thật chi tiết! Trên đỉnh địa hình địa vật thế nào? Dài rộng bao nhiêu? Trực thăng đáp xuống cùng lúc được mấy chiếc? Có thể cấu tạo cứ điểm kiên cố được không? Nếu địch đặt ở đấy pháo cỡ 105, 155 tầm khống chế sẽ ra sao? Tìm hiểu sườn điểm cao về tất cả các hướng, xem hướng nào tăng PT82 của ta có thể lên. Tìm đường cho tăng đi. Nghiên cứu kỹ cấu tạo địa chất, độ dốc, độ lún, suối, hẻm núi, khe cạn; chú ý vật cản như cây, đá tảng phải ở mức độ công binh có thể bí mật khắc phục được... Ghi chép, vẽ sơ đồ cẩn thận. Thời gian năm ngày. Được không? Cương nhoẻn cười, anh hiểu đó là mệnh lệnh chứ không phải câu hỏi. Đặng quay sang nói với hai cán bộ tham mưu: “Có gì ăn không? Ăn xong ta về luôn. Ở nhà còn bao nhiêu là việc, sẽ bận tối mắt tối mũi lên chứ chả chơi đâu!”
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:30:08 am » |
|
* Thái trải tờ giấy, chỉnh cho mép dọc trùng với hướng bắc - nam của kim địa bàn rồi bắt đầu vẽ sơ đồ tổng thể điểm cao 551. Bên cạnh anh, Thắng loay hoay ráp các mảnh sơ đồ từng phần mà ba người đã vẽ phác để ghi nhớ trong hai ngày qua. Cậu vuốt phẳng một tờ nhàu nát lấm lem đất, băn khoăn nhìn những nét vẽ, miệng lẩm bẩm: “Tờ này vẽ phần nào nhỉ?”. Tiểu đội trưởng Cương đang ngồi xem lại những ghi chép trong cuốn sổ tay, nghe vậy ghé mắt nhìn sang: - Mỏm đông bắc, chỗ dốc đứng. Phần này cậu vẽ chứ còn ai! - Ừ nhỉ! - Thắng gãi đầu cười khì - Mấy hôm nay đầu óc cứ lú lẫn thế nào ấy! Mà dạo này tay em cứng quèo, nét vẽ không còn mềm mại như trước. Hồi còn đi học, em vẫn nổi tiếng là người có hoa tay nhất trường đấy! Cương tủm tỉm: - Chỉ khoác! Cậu hoa mắt hoa mũi thì có, lấy đâu ra hoa tay! Thắng giãy nảy: - Em nói thật đấy! Hồi đó em đã mơ sau này làm họa sĩ. Đi đâu em cũng mang theo tập giấy vẽ và hộp chì màu, gặp gì thích là vẽ. Đám bạn phục lăn, đứa nào cũng bảo em có năng khiếu. - Lấy cho mình những tờ sườn nam. - Thái nói, tay đưa bút họa nhanh mấy đường cong bình độ. - Đây anh! - Thắng đặt mấy tờ sơ đồ trước mặt Thái, tiếp tục tán róc - Suốt ba năm học cấp ba, em làm “họa sĩ chuyên nghiệp” chuyên trang trí cho tờ báo tường của lớp. Báo tường lớp em lần nào cũng đứng nhất toàn trường. Còn em mà vẽ mẫu thêu thì lũ con gái cứ gọi là thích mê. Dạo ấy con gái đứa nào cũng đua nhau thêu khăn tay, không phải để dùng mà đem tặng người thân: anh trai, bạn trai, người yêu... Anh Thái này, trên đỉnh đồi có mấy chỗ trũng hình yên ngựa, anh nhớ chưa? - Thấy Thái gật đầu, Thắng lại liến láu kể - Cuối năm lớp mười em bận tối mắt tối mũi. Dạo ấy cả nước rùng rùng ra trận, thanh niên trai trẻ lớp lớp nối nhau nhập ngũ. Hầu như con gái toàn trường đều đưa khăn đến nhờ em vẽ mẫu. Phổ biến nhất là hình chim bồ câu ngậm phong thư, khi một con, khi hai con. Còn mấy đứa nhờ vẽ cặp bồ câu cùng tha hai trái tim lồng vào nhau thì cứ lén lén lút lút, chẳng là các nàng thêu khăn tặng người yêu. Thành ra kỳ thi năm ấy em phải thi lại hai môn. Anh tính suốt ngày suốt đêm phải bò ra vẽ cho kịp, thời gian đâu mà ôn bài... Cương phì cười: - Cậu bịa đến khiếp! Học dốt thì cứ nói dốt, chứ chỉ vẽ mấy con bồ câu nhỉnh bằng con tôm, làm gì bận đến thế! - Em mà bịa a? - Thắng cãi - Không tin lúc nào về quê em, anh hỏi thử xem! Mà đâu chỉ có khăn. Các chị các cô trong làng trong xã còn tới “đặt hàng” em vẽ mẫu thêu áo gối. Chiến tranh, anh nào cũng tranh thủ cưới vợ trước khi ra mặt trận... - Sao cậu không cưới lấy một cô? - Em thì... - Thắng gãi đầu ngượng ngùng - Lúc đó em mới mười tám tuổi... - Thế cậu có người yêu chưa? - Em cũng có... à mà... chưa... - Một là có, hai là chưa, sao lại “à mà”? Thắng lúng túng ngập ngừng một lúc rồi kể, giọng không còn liến thoắng như trước: - Hồi ở quê em có cô bạn thân lắm, lại rất xinh, tên là Thảo. Nhà cô ấy ở xóm trên, em xóm dưới, nhưng hai đứa từ hồi nhỏ đã cùng nhau đi chăn bò ngoài bãi sông. Bãi sông quê em đất phù sa màu gan gà, đi chân đất cứ mát rượi, êm như nhung. Ở đó vào mùa nước cạn người ta thường trồng rau cải. Đến vụ hoa, dọc bãi cứ vàng rực cả lên... - Thắng ho húng hắng, lại kể tiếp - Mấy năm học cấp ba hai đứa không còn đi chăn bò nữa, nhưng cùng đến trường, học cùng lớp, ngày nào cũng gặp nhau. Cho đến năm lớp mười, những hôm phải nghỉ học không gặp, em cứ thấy bần thần... Rồi em nhận ra cả cô ấy cũng vậy, thỉnh thoảng lại cầm vở chạy từ xóm trên xuống để hỏi về một bài toán bài hóa nào đó mà em biết Thảo thừa sức làm được. Cô ấy học giỏi hơn em nhiều... Quả thực lúc đó hai đứa chưa nói gì với nhau nhưng trong đầu em cứ vấn vương nghĩ về Thảo, rồi nhớ nhớ mong mong đến nôn nao cả người... Buổi chiều cuối cùng trước ngày em nhập ngũ, Thảo đến nhà rũ em ra bãi sông... - Thắng chớp chớp đôi mắt ươn ướt - Dạo ấy vào vụ cuối đông gió heo may se lạnh, bãi sông vàng rực hoa cải. Đến bây giờ em vẫn như nhìn thấy cô ấy đứng trước mặt, ánh mắt sâu hun hút, đôi má ửng hồng, mái tóc dài bay bay... Phía sau Thảo là thảm hoa vàng dập dờn như sóng, sau nữa là dòng sông xanh, rồi đến bờ đê phía bên kia xanh ngắt màu cỏ, đẹp không thể tả! Em vội rút tập giấy vẽ và hộp chì màu, bảo cô ấy cứ đứng yên như thế để em vẽ. Em đưa bút hối hả vẽ phác hết bức này đến bức khác. Lúc đó hình như “máu” họa sĩ nổi lên, em không còn nhớ tới thời gian, không nhớ chuyện ngày mai nhập ngũ. Hồn vía bay lên mây, em múa bút cố lột tả cho được vẻ đẹp của Thảo trên nền hoa cải dòng sông bờ đê... Mãi đến khi cô ấy vùng bỏ chạy, em mới giật mình bừng tỉnh. Em ngơ ngác nhìn theo, thấy Thảo vừa chạy vừa ôm mặt khóc. Bấy giờ em mới nhận ra chiều đã muộn, mặt sông bắt đầu mờ sương... - Thắng bỗng im bặt. Cương buông thõng: - Cậu thật ngốc! - Vâng, đúng là em ngốc thật! - Thắng gượng cười - Lúc đó em nhìn xuống những tờ phác thảo, thấy chẳng bức nào ra hồn. Thế mới là ngốc! Từ đó em cạch mộng họa sĩ. Thái buông bút ngẩng lên hỏi: - Chả lẽ trước lúc ra đi, cậu không đến xin lỗi cô ấy sao? - Tối đó em đến, thấy cửa nhà Thảo đóng im ỉm. Em không dám gọi cứ đi tới đi lui đến tận khuya làm chó trong xóm sủa ran. Sáng hôm sau lên xe, em đưa mắt tìm mãi chẳng thấy Thảo đâu. Mãi lúc xe sắp lăn bánh, em gái cô ấy chạy tới đưa em gói giấy nhỏ, nói: “Chị Thảo gửi anh chiếc khăn”... - Chắc là chiếc khăn tay thêu đôi chim bồ câu mỏ ngậm hai trái tim lồng vào nhau? - Cương hỏi. - Không! Một chiếc khăn trắng tinh! - Thắng thở dài, mặt buồn thiu. - Sau này cậu có viết thư cho Thảo? - Có viết nhưng... không kịp! - Thắng nghẹn ngào - Thảo chết sau đó mấy tháng. Cô ấy trực 12 ly 7, bom đánh trúng trận địa...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:31:15 am » |
|
* Tổ trinh sát của Cương đã hoàn thành nhiệm vụ khá suôn sẻ. Trong ba ngày, họ sục sạo khắp cao điểm 551, vẽ xong sơ đồ có đánh dấu ghi chú cẩn thận những chi tiết cần thiết, và tìm được ba con đường xe tăng có thể lên. Công việc hoàn tất, mọi người thở phào nhẹ nhõm. Sáng hôm ấy, họ quay về. Đi được chừng cây số thì gặp một con suối nhỏ nước cạn, bờ bên này dốc đứng, phía bên kia thoai thoải. Lúc Cương vừa lội xuống nước, bên kia xuất hiện một toán người mặc quần áo bộ đội. Anh ngờ ngợ, định hỏi mật khẩu thì toán thám báo đã bất ngờ nổ súng. Hàng tràng tiểu liên quất tóe nước, cắm phầm phập vào bờ dốc đứng. Cương bị bắn trúng ngay từ loạt đạn đầu tiên. Anh ưỡn người loạng choạng ngã úp mặt xuống suối, vùng máu đỏ từ từ loang ra trôi theo dòng nước. Thắng đang đứng trên bờ dốc, vừa kịp trút súng khỏi vai đã thấy đau nhói cả hai chân. Anh khuỵu xuống, cố ôm súng lăn tròn mấy vòng tránh đạn. Thái từ phía sau nhào tới, nép vào gốc cây bắn xả cả băng đạn vào đám người lố nhố bên kia suối, rồi xộc tới ôm Thắng chạy quay trở lại nằm nấp sau một gốc cây to: “Cậu bị ở đâu?”, Thái thay băng đạn hỏi nhanh. “Cả hai chân anh ạ! Chắc gãy xương...” Nhìn sang bên kia thấy bọn địch vẫn thập thò trên bờ suối, Thái di chuyển nhanh về phía dưới một quãng, bắn liền mấy loạt vào những lùm cây đang lay động. Bọn thám báo lập tức bắn trả, đạn bay rào rào. Thái bò nhanh lại chỗ Thắng nằm. Anh lấy dao găm xẻ hai ống quần, băng vội vết thương để tạm cầm máu, rồi hỏi: “Cậu còn bắn được không?” Thắng mím môi gật đầu. Anh đỡ Thắng nằm sấp, đặt khẩu AK vào tay cậu, dặn: “Nấp ở đây. Nếu chúng tràn xuống suối, cố bắn cản, không cho chúng tới chỗ Cương. Tớ sẽ trở lại ngay”. Nói xong, anh xách súng chạy vội lên mé trên. Thắng nén đau gác súng lên khúc rễ cây ngắm thử, rồi quờ tay rút ba quả lựu đạn đặt trước mặt. “Không biết anh ấy đi đâu nhỉ?”. Thắng nhìn về hướng Thái vừa chạy, bỗng hiểu ra: Thái sẽ vượt suối ở quãng trên đánh vào sau lưng bọn kia. Thắng phấn chấn giương súng nổ mấy loạt vào mé rừng bên kia suối. Bọn địch bắn trả, tiểu liên nổ rền từng tràng, đạn bay ràn rạt cắt lá rụng lả tả. “Chỉ tổ phí đạn! Đố chúng mày làm gì được ông!” Thắng bình tĩnh điểm xạ nhịp đôi, hút sự chú ý của địch về phía mình. Nghe tiếng súng, anh đoán bọn chúng chưa đến một tiểu đội. Mặt trời đã nhô khỏi ngọn cây, mé rừng bên kia suối sáng rõ hẳn lên. Từ chỗ nằm không nhìn thấy Cương, nhưng Thắng biết anh ấy đã hy sinh. Bằng mọi cách phải lấy được xác. Với lại toàn bộ tài liệu trinh sát đều do Cương giữ. Bây giờ mọi sự đều trông cậy vào anh Thái... Sao anh ấy lâu thế? Thắng cảm thấy như đã hàng giờ trôi qua. Bọn địch chần chừ, nhưng chúng sẽ đoán ra bên này chỉ có một tay súng... Anh định di chuyển vị trí bắn, nhưng vừa nhỏm dậy vết thương đã nhói lên buốt đến tận óc. Thắng choáng váng, mắt nhòa đi. Nhìn sang bên kia chỉ thấy những quầng sáng chập chờn, rồi chợt mấy ánh chớp bùng lên sáng lóa, lá cây bay tơi tả trong quầng cát bụi. Trước lúc ngất lịm, anh còn kịp nghe tiếng AK nổ giòn giã từng loạt ngắn. * ...Trong cơn mê, Thắng có cảm giác như mình đang nằm trên một đám mây bồng bềnh trôi. Tiếng gió lướt rì rào bên tai, có cả tiếng cành lá xào xạc. Bên dưới anh dập dờn bãi sông nở đầy hoa cải vàng tươi sắc nắng. Bỗng đám mây tan ra, Thắng rơi thẳng xuống. Anh chới với hụt hẫng, căng người chờ sự đau đớn, nhưng khi chạm đất lại thấy êm ái như vừa ngả mình trên đống rơm. Phải rồi, mình vừa rơi đè lên vạt cải đang trổ hoa. Hình như Thảo đang nấp đâu đó trong ruộng hoa, anh không nhìn thấy cô, chỉ nghe tiếng gọi văng vẳng: “Thắng ơ...ơi... ơi...”. Thắng giật mình tỉnh lại, mở mắt ra. Anh chỉ nhìn thấy màn sương trắng mờ đục, nhưng đúng là có ai đang lay gọi anh, tiếng gọi gấp gấp: “Thắng ơi, tỉnh chưa?” Thắng chớp chớp mắt. Màn sương tan dần, hiện lên rất gần trước mặt anh là khuôn mặt ngăm đen quen thuộc với đôi mắt mở to đầy lo lắng. “Anh Thái!”, Thắng reo mừng rỡ, giọng khản đặc. Thái thở phào: - Cậu làm mình lo quá! Nào, uống chút nước cho đỡ khát. - Anh luồn tay nâng đầu Thắng lên, tay kia cầm bi đông ghé sát vào miệng cậu - Uống từng ngụm thôi, từ từ kẻo sặc. Thắng hớp mấy ngụm nước, hỏi: - Thế còn anh Cương? - Cương hy sinh rồi. Mình vừa cõng cậu ấy lên mé bờ suối. Thắng nghẹn ngào: - Cho em nhìn mặt anh ấy... - Đừng cử động. Nằm yên để mình xem lại vết thương. Anh không muốn để Thắng nhìn thấy tiểu đội trưởng của mình lúc này. Cương bị trúng hàng chục phát đạn, thân hình thủng lỗ chỗ bê bết máu, khuôn mặt vỡ toác lầy nhầy xương thịt, biến dạng đến không còn nhận ra. Cuốn sổ tay cùng bản sơ đồ cũng bị đạn xuyên thủng, lấm máu. Hai vết thương của Thắng đều ở bắp chân. Chân trái bị đạn xé một vết dài hai đốt ngón tay; chân phải nặng hơn: viên đạn xuyên qua bắp chân, lỗ đạn ra toác thịt rách xơ nhầy máu. Thái lau sạch máu khô cùng bụi bẩn rồi nghiêng lọ cồn dốc vào cuộn bông, nói: “Chịu khó nhé! Sẽ rất buốt, nhưng đỡ lo nhiễm trùng.” Anh dùng bông tẩm cồn lau kỹ quanh miệng vết thương, Thắng nghiến răng chịu đau, cơ hàm bạnh ra căng phồng, khuôn mặt tái xanh lấm tấm mồ hôi. Thái đặt gạc lên vết thương, nhẹ nhàng quấn những vòng băng. Anh động viên: - Cậu gặp may đấy! Bị ở phần mềm, không trúng xương. Chỉ dăm bữa nửa tháng là chạy nhảy được ngay ấy mà! Còn đau lắm không? - Em... chịu được! - Thắng cố giữ giọng bình thản, chợt ngờ ngợ khi nhìn thấy những cuộn băng lạ mắt - Anh lấy đâu ra mấy thứ này? - Của tụi thám báo. Có năm thằng. Mải nhăm nhăm về phía cậu nên mình đến sát sau lưng mà chúng chẳng hay biết gì. Chắc bọn này cũng định mò lên 551, và không chỉ có một toán. Chúng mang theo cả máy truyền tin, tiếc là trúng lựu đạn hỏng mất rồi. Nếu có máy, mình dò tìm tần số chúng gọi nhau sẽ biết thêm đôi điều... - Anh trầm ngâm - Mình nghĩ, anh Đặng nói đúng. Nếu chiến dịch nổ ra, nhất định địch sẽ đổ quân chiếm điểm cao này. Bằng mọi cách phải đưa được tài liệu trinh sát về trung đoàn. Thắng bảo: - Để em lại đây, anh mang tài liệu về trước, rồi cho người quay lại đón. Thái mỉm cười: - Chẳng việc gì phải vội! Cậu với mình cùng về, đã nổ súng ngay đâu mà phải cuống lên! - Thái lấy ra một hộp thịt, dùng dao mở hộp xoáy tanh tách quanh một vòng, bật nắp đưa cho Thắng - Chiến lợi phẩm đấy! Cậu cố ăn rồi nằm nghỉ một lúc lấy sức. Mình đi lo cho Cương. Nói xong anh xách súng đứng dậy đi luôn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:31:55 am » |
|
* Họ dừng một lúc bên mộ Cương. Nấm đất đơn sơ được bao quanh bằng những tảng đá bê từ dưới suối lên. Cho đến lúc này Thái vẫn chưa biết quê Cương ở đâu. Anh về tiểu đội mới một tháng, chỉ chúi đầu vào công việc, không quan tâm đến điều gì khác. Thái cảm thấy như mình có lỗi với Cương, dù biết trong hoàn cảnh này chẳng thể làm gì hơn được. Trên lưng Thái, Thắng đang khóc lặng lẽ, mấy giọt nước mắt rơi xuống gáy anh nóng hổi. “Ta đi thôi!”, Thái ngậm ngùi nói. Anh cõng Thắng đi men bờ suối tìm lối xuống. Phía bên kia suối mấy con diều hâu đang lượn vòng vòng, chúng đã đánh hơi thấy mùi xác chết của bọn thám báo. Mặt trời ngả về chiều, nắng lốm đốm trên nền lá rụng. Xung quanh yên ắng, chỉ có tiếng chim hót, tiếng gió xào xạc trên ngọn cây và tiếng sột soạt khi họ lội trong những đám cây lá rậm rạp. Thái bước từng bước ngắn, cố giữ nhịp chân đều đặn để khỏi phí sức. Lúc trưa anh đã quyết định bỏ ba lô lại, chỉ mang theo những thứ thật cần thiết: hai khẩu AK, một băng đạn dự trữ, dao găm, bi đông, cùng mấy cuộn băng cá nhân, hai phong lương khô, mấy hộp thịt và tấm võng. Chặng đường về tới hậu cứ trung đoàn không xa, người khỏe có thể đi trong một ngày, nhưng bây giờ Thái chưa biết mình phải đi mấy ngày mới tới. Điều anh lo nhất là vết thương của Thắng, để lâu sẽ nhiễm trùng. Với lại cậu ấy bị mất máu nhiều, rất dễ bị choáng... Chừng giữa buổi thì họ ra khỏi rừng, bước xuống một sườn dốc thoai thoải mọc đầy lau. Lá lau tua tủa bông trắng muốt phất phơ, vô số cây lau khô già rụi xuống chằng chéo ngang dọc trên nền đất sỏi. Thái chật vật nghiêng người lách qua những khóm lau, chân loạng choạng sục trong đám thân lau khô giòn gẫy răng rắc, thỉnh thoảng lại xốc nhẹ đỡ cho Thắng khỏi tuột. Mồ hôi ròng ròng trên mặt thấm vào những vết lá lau cứa buốt nhon nhót. Anh chớp chớp đôi mắt cay xè nhìn về phía trước, chỉ thấy nắng chiều viền lửa trên những lá lau nhọn sắc. Lúc này không thể dừng lại, phải ra khỏi rừng lau trước khi trời tối. Anh cắn môi lầm lũi bước, cảm thấy vòng tay Thắng đang lỏng dần. Chốc chốc cậu lại giật mình quàng chặt hai cánh tay níu lấy cổ áo anh. Mãi lúc chiều xế hai người mới ra khỏi rừng lau. Trước mặt họ là con suối rộng chảy qua dưới chân một ngọn núi đá, giữa dòng lô nhô những tảng đá đen sì. Thái chùng chân đặt Thắng ngồi xuống hòn đá cạnh bờ suối, ngoảnh lại hỏi: “Mệt không?”. Thắng lắc đầu, giọng khàn khàn yếu ớt: - Em... không sao! Thái vục bi đông xuống suối lấy đầy nước, đưa cho Thắng: - Cậu ngồi đây đợi, nhớ giữ súng trong tay. Mình đi tìm chỗ ngủ. - Anh lội ào qua suối đi về hướng vách núi. Thắng uống mấy ngụm nước rồi nghiêng bi đông dốc nước vào lòng bàn tay rửa mặt. Nước suối mát lạnh làm anh thấy tỉnh táo hơn. Mặt trời đã xuống thấp. Thắng nhìn bóng núi đang loang nhanh trên vùng cỏ lau, chợt nhận ra từ sáng tới giờ anh và Thái vẫn chưa ra khỏi bóng râm của điểm cao 551... Đêm đó hai người nghỉ lại trong một hang đá nhỏ ở chân vách núi. Trên nền hang vẫn còn những dấu vết chứng tỏ đã từng có người trú ở đây: mấy hòn đá sém lửa ám khói, vài đống tro tàn, những thanh củi cháy chưa hết... Thái chặt cành lá che kín trước cửa hang rồi mới nhóm lửa. Suốt đêm anh chỉ ngủ chập chờn, thỉnh thoảng lại ngồi dậy chất thêm củi vào đống lửa. Bên cạnh, Thắng nằm thiêm thiếp, chốc chốc lại giật mình ú ớ. Thái đặt tay lên trán cậu, tạm yên lòng vì Thắng không sốt, vết thương cũng không bị rỉ máu. Trước cửa hang con suối vẫn rì rào chảy miết. Trong đêm khuya thanh vắng, nghe rõ tiếng nước réo ồ ồ quanh mấy tảng đá chắn giữa dòng. Lẫn trong tiếng suối là tiếng chim ăn đêm kêu khắc khoải, tiếng côn trùng rền rĩ, tiếng con mang tác đều đều văng vẳng lúc gần lúc xa... Lúc lúc lại có đợt gió cuộn tới, lướt rào rào trên rừng lau bên kia suối. Thái đặt súng xuống đất, ngả mình cạnh đống lửa lo lắng nghĩ tới chặng đường ngày mai. Đến hôm nay là vừa hết thời hạn năm ngày theo quy định của tham mưu trưởng Đặng. Nếu đi kiểu này, chưa biết mấy ngày nữa mới về đến hậu cứ... Sáng ra Thái dậy sớm đun nước muối để nguội, rửa vết thương rồi thay băng cho Thắng. Hai người đợi đến lúc sương tan bớt mới lên đường. Rút kinh nghiệm hôm qua, Thái cõng Thắng lên lưng, xếp dọc chiếc võng buộc thành cái địu theo kiểu phụ nữ dân tộc địu con khi lên nương, lại dùng dây võng choàng qua hai đùi buộc chân Thắng treo vào thắt lưng mình. Anh nhún người xốc thử mấy cái rồi ngoảnh lại hỏi: - Cậu thấy sao? - Ổn rồi anh ạ! - Thắng nhoẻn cười - Thế này em đỡ mỏi mà anh cũng được rảnh tay. Chỉ sợ anh mệt. - Yên trí! Cậu nhẹ hều, chừng bốn chục kí chứ mấy! - Anh cầm khẩu AK đưa cho Thắng - Cậu tròng dây qua cổ, khoác chéo sau lưng cho dễ đi. Thái men theo bờ suối vòng qua ngọn núi đá rồi nhằm hướng mặt trời mọc rảo bước. Anh không sợ lạc đường. Vùng rừng nào đã đi qua một lần là anh có thể nhắm hướng cắt rừng quay trở về đúng chỗ mà không cần lần theo đường cũ. Sáng nay gặp cánh rừng thưa và tương đối bằng phẳng nên Thái đi liền một mạch, đến gần trưa mới dừng lại khi gặp một khe nước nhỏ. Để Thắng nằm nghỉ, anh xách súng lủi dọc bờ khe, lát sau quay trở lại với mớ rau rừng trong tay: “Ta sẽ nấu món canh rau với thịt hộp. Suốt tuần nay toàn ăn lương khô, nuốt nghẹn cả cổ”. Anh nói, rồi nhặt cành khô nhóm lửa. Khi ngọn lửa vừa bùng lên thì chợt nghe tiếng máy bay rì rì ngay trên đầu. Thái vội gạt banh đống lửa, bẻ cành cây dập khói. Anh ngẩng đầu lo lắng nhìn lên. Chiếc máy bay trinh sát bay khá thấp, thoáng thấy bóng nó lướt qua kẽ lá. Thái khoác chéo súng sau lưng, chạy tới gốc cây mọc ở đầu dốc bám thân cây thoăn thoắt leo lên, ngồi nép trong tán lá. Chiếc OV.10 lượn vòng trên khoảng rừng thưa, bán kính chừng ba kilomet. Hết vòng lượn thứ ba, nó tăng độ cao bay thẳng về hướng đông, nhỏ dần thành một chấm đen rồi mất hút. Thái chăm chú quan sát vùng rừng chiếc máy bay vừa lượn trên đó nhưng không phát hiện ra điều gì, chỉ thấy ngút ngàn cây lá xanh rợp im lìm như đang mơ màng trong giấc trưa. Anh tụt xuống đất, lẳng lặng quay lại chỗ bờ khe. - Sao anh? - Thắng ngước mặt lên hỏi. - Mình không rõ! Nó lượn ba vòng trên rừng, sau đó bay thẳng. Thắng luồn tay gối đầu, mắt nhìn lên vòm cây, trầm ngâm: - Em nghĩ, ở đó có địch! Năm ngoái có lần em với anh Cương đụng biệt kích, trước đó cũng có một chiếc L.19 lượn kiểu như vậy. Nó bay liên lạc chứ không phải trinh sát. - Có thể cậu nói đúng. Thôi, đành gác món canh rau lại. Cậu ăn thịt hộp nhé! - Thái nói, lấy dao mở một hộp thịt ba lát. Thắng ngồi tựa gốc cây, bẻ cành cây làm đũa gắp từng miếng thịt cho vào miệng uể oải nhai. Thấy cách Thắng cầm đũa, Thái hỏi: - Cậu thuận tay trái à? - Em thuận cả hai tay. Cầm đũa, bắn súng tay nào cũng được. - Thắng cười, kể - Dạo đang huấn luyện tân binh, em trêu ông đại đội trưởng bằng cách nheo mắt phải, bắn tay trái, ông ấy chửi um lên. Khi em bảo em bắn tay nào cũng được, ông không tin cho bắn thử, cả hai tay đều đạt loại giỏi. Có vậy khi trung đoàn đến nhận quân ông mới “tiến cử” em vào trinh sát, chứ lúc đầu thấy em thấp bé nhẹ cân ai cũng chê. Ăn xong, hai người nghỉ một lúc rồi đi tiếp. Thái dùng võng địu Thắng như lúc sáng, nhưng lần này anh nới dài dây khẩu AK, lên đạn khóa lại, bảo: - Cậu choàng qua vai phải, kẹp súng bên nách trái. Lúc gặp địch cứ cặp vào hông tớ mà bắn. Bắn găm từng loạt ngắn, đừng xả cả tràng. Chỉ có mỗi băng đạn thôi đấy... Thắng ngập ngừng: - Hay... ta đi vòng? - Biết nó ở đâu mà vòng? Cứ đường mình mình đi. Nếu gặp địch, chủ động xốc tới bắn xả mà thoát. Thế nhé! Thắng im lặng. Anh biết không còn cách nào khác. Hai người buộc chằng vào nhau thế này lúc đụng địch không thể lăn, bò, xoay trở như bình thường. Thắng nhìn xuống đôi chân quấn đầy băng của mình, chợt ứa nước mắt. Anh ấy đã quyết hai người sống cùng sống, chết cùng chết...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:39:27 am » |
|
Cánh rừng họ đi qua trong buổi chiều mọc toàn cây săng lẻ. Những thân cây thẳng tắp cao vút, lớp vỏ bên ngoài màu nâu nhạt phồng rộp bong từng mảng loang lổ. Đang mùa thay lá, những tán săng lẻ ngả màu vàng áy. Trên nền rừng thưa thoáng lác đác những chiếc lá mới rụng khô cong, giẫm lên nghe lắc rắc như những lá thiếc mỏng. Thái vừa đi vừa cảnh giác nhìn quanh, tai căng lên lắng nghe từng tiếng động. Nghe hơi thở đều đều của Thắng, anh biết cậu đang nghển đầu nhìn qua vai mình. Vài con chim cất tiếng lảnh lót, bay vụt từ cây này qua cây khác. Thỉnh thoảng lại có ngọn gió lùa tới làm lá cây rụng xao xác. Rừng vẫn êm đềm và hoang vắng như vốn có từ xa xưa. Chừng giữa chiều, rừng săng lẻ thưa dần. Nền trời xanh thấp thoáng sau những thân cây. Thái rảo bước. Ít phút sau, trước mặt anh hiện ra một trảng cỏ rộng chừng trăm mét. Mé bên kia trảng có những lùm cây bụi lúp xúp, tiếp đó là những tán cổ thụ xanh rậm lớp lớp nối nhau cao dần theo triền núi. Thái dừng sau một gốc cây, nhìn ra. Bãi cỏ vắng vẻ đìu hiu, cánh rừng phía bên kia im ắng. Không có một dấu hiệu nào đáng nghi ngại. Anh lấy bi đông vặn nắp uống mấy ngụm nước rồi quài tay đưa ra phía sau cho Thắng: - Cậu uống nước, rồi ta đi tiếp! - Hay anh đặt em xuống, nghỉ một lúc cho đỡ mệt. - Thôi, tranh thủ đi cho được độ đường. Với tốc độ này, chỉ ngày mai là về tới hậu cứ. Bước ra khỏi rừng, Thái cõng Thắng chạy băng qua bãi trống. Mặt trời từ phía sau rọi tới soi bóng họ đổ dài. Qua được nửa bãi. Thái vẫn chạy lúp xúp, những lùm cây đã ở gần trước mặt. Chợt từ rặng cây xanh ấy, mấy con chim hốt hoảng bay vọt lên. Một ý nghĩ lướt nhanh trong đầu. Thái vừa nâng súng lên thì đã thấy đám cành lá lay động, rồi mấy bóng lính mặc quần áo rằn ri bước ra. Tiếng Thắng thét ngay bên tai nhưng anh không nghe rõ; ngón tay cái tự động bật khóa an toàn, ngón trỏ siết cò, anh vừa bắn xả vào đám người mới xuất hiện vừa chạy xộc tới. Bên hông anh khẩu tiểu liên của Thắng phụt khói nẩy bần bật. Thái lao thẳng vào chỗ bọn lính vừa xuất hiện. Loáng thoáng xung quanh toàn những bóng rằn ri. Anh lia nòng súng sang phải, sang trái, nổ liên tiếp từng loạt ngắn. Thắng cũng bắn xối xả, vỏ đạn văng tóe mắc kẹt vào giữa hai người nóng bỏng. Bị bất ngờ, bọn biệt kích nhảy ào sang hai bên, có tên đã nâng súng lên nhưng không dám bắn vì sợ trúng đồng bọn ở ngay trước mặt. Thái lao vọt qua toán lính, nhào vào đám cây lá rậm rịt. Sau phút bàng hoàng, bọn lính bắt đầu bắn đuổi theo, tiếng tiểu liên cực nhanh nổ rền như tiếng máy, đạn bay chiu chíu. Thái chúi người chạy vòng vèo qua những thân cây cổ thụ, bươn lên sườn dốc. Mãi đến lúc tiếng súng phía sau thưa dần rồi ngưng hẳn, anh mới dừng lại vịn tay vào một thân cây, khuỵu hai đầu gối xuống đất há hốc mồm thở dồn dập. Tiếng Thắng gọi lọt qua tiếng ù ù trong tai. Anh lẩy bẩy cởi nút buộc trước ngực, đặt Thắng tựa vào gốc cây, rồi ngồi bệt xuống đất. “Cậu... không dính... viên nào đấy chứ?”, Thái hổn hển hỏi. - Không! Nhưng chân em... Thắng ấp úng, nhìn xuống chân phải. Máu đang loang nhanh trên những vòng băng. Không thấy dấu đạn, chắc vết thương bị va chạm nên chảy máu trở lại. Thái xé vạt áo thắt ga-rô, hỏi: - Súng cậu còn đạn không? - Em bắn hết sạch rồi! Thái lấy băng đạn cuối cùng lẩy ra ba viên đặt vào tay Thắng: - Lắp vào súng, ngồi đây đợi. Tranh thủ băng lại vết thương. Nếu địch mò lên, chưa lộ không nổ súng. Bọn chúng đang cay cú, nhất định sẽ đuổi theo. Mình phải xuống “hỏi thăm” trước. Anh cởi bi đông nước và chiếc túi vải để lại cho Thắng, xách súng bước đi, lát sau đã mất hút. * Thái len lỏi qua các gốc cây đi xuống. Văng vẳng tiếng người lao xao mé trảng cỏ. Anh nhắm hướng nhẹ nhàng luồn qua đám cây lá rậm rạp. Chợt nghe thoảng trong gió những âm thanh là lạ, Thái dừng lại nghe ngóng. Tiếng động rõ dần: cành cây lay loạt soạt, lá khô vỡ lép bép... Thái từ từ xoay người nép sau gốc cây nhìn ra. Những cành lá trước mặt rung rung. Một, hai, rồi ba tên lính bước tới, màu áo ngụy trang gần như lẫn trong màu lá. Súng ARC.15 báng gập, thắt lưng lỉnh kỉnh súng ngắn, dao găm, lựu đạn M26... Tên đi cuối khoác chiếc ba lô lính màu rêu vuông vức như chiếc máy vô tuyến. Tên dẫn đầu xách súng khom người tìm vết, hai đứa đi sau nâng súng trong tư thế bắn bình tĩnh đảo mắt quan sát, nòng súng rê theo ánh mắt. Chúng đi nhanh và êm không kém gì anh, nhưng ở trong rừng ba người cùng bước gây ra tiếng động lớn hơn. Thái nghĩ nhanh cách đánh. Bọn này thiện chiến, phản xạ như máy. Nếu nổ súng vào một tên, hai đứa kia sẽ bắn hạ anh ngay tức khắc. Chúng đã đến gần. Thái từ từ nâng súng lên, ngắm vào ngực tên đi giữa. Khoảng cách càng lúc càng ngắn lại. Ba mươi mét! Hai mươi lăm... hai mươi... “Sao lâu thế?”... Mười lăm mét. Qua đường ngắm, hai tên lính chập vào nhau. Thái bóp cò. Loạt đạn nổ vang, hất tên đi giữa nhảy dựng lên rồi đổ vật xuống. Tên đi cuối thả rơi súng loạng choạng bước thêm một bước, ngã nhào. Thái quay mũi súng sang tên còn lại. Thằng này nghe súng nổ hoảng hốt nhảy sang trái một bước, quay lưng chạy. Thái bắn theo. Trượt! Bắn loạt nữa, lại trượt. Tên lính sắp lủi vào bụi rậm. Anh bình tĩnh ngắm rồi siết cò, nã hết những viên đạn còn lại. Mấy vòi máu phụt ra trên tấm lưng áo loang lổ, tên lính chới với níu tay vào cành cây, lảo đảo xoay người lại rồi ngã vật vào đám dây leo. Đặt khẩu súng hết đạn xuống đất, Thái nhảy ra nhặt khẩu tiểu liên của tên đi giữa khoác lên vai, gỡ nịt đạn của hắn thắt vào lưng. Đột ngột, một tiếng súng nổ vang. Thái lăn nhào hai vòng, chồm dậy chĩa súng về hướng phát ra tiếng nổ. Trước mặt anh cách chưa đầy chục bước, tên lính đi cuối đang nằm sấp chĩa khẩu Côn 45 về phía anh, cánh tay cầm súng run lẩy bẩy. Tức điên người, Thái nhảy tới tung chân đá văng khẩu súng, dí nòng tiểu liên vào trán hắn. Tên lính trừng mắt nhìn lên. Thái chằm chằm nhìn hắn. Hai luồng mắt chọi nhau như tóe lửa. Chợt Thái hất súng lên vai, cúi xuống gỡ chiếc ba lô đỡ tên lính nằm ngửa, mở cúc áo xem vết thương. Trên ngực hắn thủng hai lỗ, bọt máu phì ra, phập phồng theo từng hơi thở nặng nhọc. Bỗng tên lính nấc lên một tiếng, giật nẩy người rồi chầm chậm ngoẹo đầu sang một bên, từ khóe môi trào ra dòng máu tươi. Đôi mắt hắn dại đi, hai hàng mi từ từ khép lại. Thái thở dài, nhặt khẩu tiểu liên và chiếc ba lô đứng dậy, bước loạng choạng. Lúc này anh mới nhận ra đùi bên trái đang đau nhói. Thái ngồi tựa vào gốc cây, rút dao găm xẻ ống quần chỗ máu loang: viên đạn xước qua đùi xé rách thịt, vết thương đang rỉ máu. Không có thời gian để băng. Anh hối hả mở nắp ba lô, dốc ngược đổ các thứ bên trong ra: hai bộ quân phục dã chiến, tấm chăn thám báo, cá hộp, gạo sấy, mấy cuộn băng cá nhân..., cuối cùng là một khối pin nhãn hiệu Mỹ còn mới nguyên, chắc pin nguồn dự trữ cho máy vô tuyến. Thái nhặt những cuộn băng, mấy hộp cá và hai bao gạo sấy túm trong tấm chăn, nhét trả những thứ còn lại vào ba lô, cài nắp cẩn thận. Anh buộc hai quả M26 vào khúc rễ cây trồi trên mặt đất, mở khóa rút quai ba lô luồn qua khoen lựu đạn rồi cài lại như cũ. Đặt chiếc ba lô nằm đè bên trên, anh luồn tay mò mẫm bẻ thẳng chốt hai quả lựu đạn...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoi_ls
Thượng tá

Bài viết: 5183
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 20 Tháng Giêng, 2011, 08:41:34 am » |
|
* Đang ngồi băng lại vết thương, Thắng chợt dừng tay khi nghe tiếng súng nổ rất gần, thoạt đầu là mấy loạt ngắn, tiếp theo một loạt dài nổ rền. Tiếng súng của anh Thái, bọn địch vừa gặp chỉ mang tiểu liên cực nhanh. Anh quấn nhanh mấy vòng băng cuối cùng, bỗng sững người bởi nghe một tiếng nổ nhỏ khô khốc. Tiếng súng ngắn! Thắng ngồi lặng, chân tay bủn rủn... Một con rắn trườn ngang trước mặt ngóc đầu nhìn anh, lưỡi thụt ra thụt vào như tia chớp. Thắng đờ đẫn nhìn con rắn như nhìn que gỗ, nó trườn đi lúc nào anh cũng chẳng hay. Có tiếng chân bước vội vã giẫm cành khô gãy răng rắc, Thắng nâng súng lên, vừa lúc Thái ào tới. “Anh Thái!”, Thắng mừng rơn. Thái ấn vào tay Thắng khẩu tiểu liên Mỹ rồi ngồi thụp xuống chìa lưng trước mặt cậu: “Ôm lấy tớ!” Anh cõng Thắng khập khiễng rảo bước, giải thích ngắn gọn: “Mình hạ được ba đứa, nhưng phía dưới còn đông. Ta phải đi càng xa càng tốt”. Hai người đi được chừng mươi phút thì nghe phía sau vang lên hai tiếng nổ liền nhau dội rền như tiếng sấm. Thái đứng lại, thở phào: “Ổn rồi!” Anh đặt Thắng xuống đất, mở nắp bi đông nước tu ừng ực, đưa tay quệt nước đọng dưới cằm, kể: - Mình cài lựu đạn, bọn đi sau dính rồi! Giờ hết lo chúng đuổi theo. - Lúc nãy em sợ quá! - Thắng nói - Nghe phát súng ngắn cuối cùng, cứ ngỡ anh “bị” rồi. - Cũng sém chết! - Thái lấy ra cuộn băng cá nhân, vạch ống quần xem lại vết đạn - Thằng ngụy bị thương nên run tay, nếu không giờ này mình đâu còn được ngồi với cậu! Anh vừa băng vết thương vừa nghĩ về tên lính đã bắn mình. Xét về tư cách người lính thì đó là một người lính giỏi và can đảm. Trông nó ít tuổi hơn mình; không biết quê quán nơi nào? Ở đó cậu ta cũng có những người thân đang chờ đợi... Tối đó hai người ngủ lại trong một túp lều dựng tạm lợp lá chuối che sương, không dám đốt lửa. Vừa đặt mình xuống, Thái đã ngủ thiếp đi. Mệt nhọc và căng thẳng trong mấy ngày qua làm anh kiệt sức. Gần sáng, Thái chợt giật mình bật dậy khi nghe tiếng người thét ngay bên tai. Anh vớ lấy súng đưa mắt nhìn quanh, nhưng không thấy gì lạ. Chợt hiểu ra đấy là tiếng thét của Thắng, anh vội quay sang. Thắng đang sốt hầm hập, sờ tay lên trán nóng như đụng than hồng. Thái xé vội vạt áo, mò tìm bi đông dấp nước vào mảnh vải rồi đắp lên trán cậu. Ngoài ra anh chẳng còn biết làm gì hơn, đành ngồi chờ trời sáng. Bên ngoài sương mù đặc quánh, đám hơi nước li ti tràn vào lều lạnh buốt. Sương rơi lộp độp trên những tàu lá chuối. Bên cạnh anh, Thắng vẫn nằm li bì, chốc chốc lại oằn người rên rỉ trong cơn mê. * Lúc trời sáng rõ, Thái mở băng xem lại vết thương ở chân Thắng. Cả hai vết đều đang mưng mủ, xung quanh đỏ bầm. Không có thuốc kháng sinh, giờ chỉ còn cách đưa Thắng về hậu cứ càng nhanh càng tốt. Anh đặt gạc lên trán Thắng, quấn mấy vòng băng quanh đầu rồi dấp nước vào gạc để hạ nhiệt. Nước mát lạnh làm Thắng tỉnh lại. Cậu mở mắt nhìn quanh, hỏi: - Sáng rồi hả anh? - Ừ, sáng rồi! Cậu thấy trong người thế nào? - Em... chỉ thấy mệt. - Thắng mỉm cười yếu ớt. Nhìn khuôn mặt hốc hác của Thắng, Thái biết cậu đang rất đau nhưng cố giấu. Suốt hai ngày qua trừ lúc ngủ mê, Thắng không hề rên la một tiếng. - Ta đi tiếp nhé! Tranh thủ đi sớm cho nó mát. - Thái nói, cố giữ vẻ bình thản. Chỉ mang theo một khẩu súng, Thái địu Thắng trên lưng bước khập khiễng. Sương còn phủ dày trên rừng, nhìn về hướng mặt trời chỉ thấy một quầng sáng nhòa. Thái nhắm hướng mặt trời đi tới. Rừng đang rộn lên tiếng chim hót, tiếng thú chạy sột soạt trong bụi cây. Những cành lá đọng sương quệt vào người làm quần áo ướt sũng. Thái không để ý đến sự vật xung quanh, chỉ chăm chăm tìm lối đi, cố tránh những vòm dây leo rậm rịt. Chừng giữa buổi thì sương tan hết, ánh nắng chan hòa khắp nơi. Hai người lên tới một đỉnh dốc cao, nhìn ra phía trước chỉ thấy lớp lớp cây rừng chắn ngang tầm mắt. Nếu leo được lên cây sẽ nhìn thấy ngọn núi Pu Leng, hậu cứ trung đoàn đóng ở chân núi. Nhưng lúc này Thái không thể leo được, vết thương ở đùi đang nóng ran, giật giật đau nhức. Anh cũng không dám dừng lại nghỉ, sợ ngồi xuống rồi, sẽ không đủ sức cõng Thắng đứng lên đi tiếp. Thắng vẫn đang sốt hầm hập. Cậu ngoẹo đầu trên vai anh, hơi thở ngắt quãng nóng rực. “Chắc không còn xa nữa đâu...”, Thái tự động viên, bước từng bước nặng nhọc. Mặt trời lên cao, nắng càng lúc càng gắt. Không bỏng rát như nắng hè, nhưng cái nắng rừng Lào đầu mùa khô ong ong khó chịu khiến đầu óc váng vất, lớp da trên người khô rộp lên. Thái loạng choạng đứng lại, mở nắp bi đông uống mấy ngụm nước. Anh gọi Thắng, chỉ nghe tiếng đáp nửa mê nửa tỉnh. Dừng lại lúc này là chết, chết cả hai. Thái nghiến răng chịu đau đi tiếp. “Một bước... hai bước... ba bước...”. Anh nhẩm đếm, chân phải bước tới đặt xuống làm trụ, chân trái lê theo... “Đúng một nghìn bước mình sẽ dừng lại nghỉ...”. Một lúc sau không còn nhớ đã đếm được mấy bước, anh đếm lại từ đầu... Không biết bao nhiêu thời khắc đã trôi qua! Bóng hai người lặng lẽ tròn lại rồi đổ dài liêu xiêu trước mặt. Thái vẫn lê từng bước như quán tính, như một phản xạ phát ra từ tiềm thức. Hai tai ù đặc, mắt loa lóa những quầng nắng, hầu như anh không còn nhìn thấy gì, nghe thấy gì, chỉ cảm nhận dưới bước chân nền rừng đang thấp dần. Đến lúc vấp phải một vật gì đó, anh ngã nhào. Cả hai người lăn xuống triền dốc... Vết thương nhói lên đau buốt làm Thắng tỉnh lại, thấy mình vẫn ở sau lưng Thái. Anh ấy nằm im như ngủ. Ánh mặt trời lóa mắt làm Thắng khó chịu. Sao lại ngủ giữa nắng thế này? Anh ngơ ngác chớp chớp mắt, bỗng nhận ra mình vẫn bị buộc dính vào Thái, chân trái đang bị người Thái đè lên. Thắng vội lay, vừa lay vừa gọi. Không có tiếng trả lời. Một ý nghĩ lướt qua trong đầu lạnh buốt, anh hoảng hốt đưa tay lên mũi Thái. Còn thở! Thắng cuống quýt tìm bi đông nước... Dòng nước chảy tràn trên mặt rồi xộc vào mũi khiến Thái thở hắt một tiếng. Anh mở mắt lờ đờ nhìn quanh, cảm thấy vướng víu như bị trói. “Anh Thái, anh tỉnh chưa?...”. Tiếng gọi dồn dập ngay bên tai làm Thái dần dần nhớ lại mọi việc. Anh chậm chạp cởi nút thắt trước ngực, chống tay ngồi dậy. Người anh như đang rời ra tùng mảnh, đầu nhức buốt, môi khô rộp, trước mắt loe lóe hàng ngàn đốm lửa tung tóe như lửa hàn. Anh nhắm mắt một lúc rồi mở ra nhìn. Thắng đang nằm bên cạnh, đôi mắt trũng sâu, những vệt nước mắt đọng ngoằn ngoèo trên khuôn mặt đen sạm bụi đất. Anh chống súng đứng dậy nhưng lại khuỵu ngay xuống. Chân trái bất động, máu đen bầm trên những vòng băng, vết thương sưng tấy nhức nhối. “Mình không còn đi được nữa...”, anh bất lực ngả người nằm xuống. Thắng đã lại thiếp đi, sự sống trong người cậu ấy đang cạn dần. Mình cũng hết sức rồi! Cả hai sẽ cùng chết ở đây. Anh từng thấy bao nhiêu người chết lặng lẽ trong rừng: chết vì kiệt sức, vì bị thương, bị sốt rét, bị đói... Mình chết cũng được, chỉ tiếc cho Thắng, cậu ấy còn trẻ quá... Có thể trung đoàn sẽ cho người đi tìm, nhưng giữa rừng núi mênh mông biết tìm ở đâu? Tập tài liệu trinh sát đang cồm cộm trong ngực áo anh. Vậy là sự hy sinh của ba người sẽ trở nên vô ích... Những suy nghĩ cay đắng làm Thái tuyệt vọng. Anh nhắm mắt lại, mơ hồ cảm thấy còn một điều gì đó mình chưa nghĩ tới. Điều gì nhỉ? Anh cố tập trung tư tưởng. Đầu óc lùng bùng. Những ý nghĩ lướt nhanh, mờ nhạt và vô định. Có lúc anh tưởng đã chộp được điều mình cảm thấy, nhưng nó chỉ thoáng qua, mất hút. Thôi, chẳng việc gì phải nghĩ ngợi cho mệt óc. Đằng nào cũng chết, mà chết là hết! Anh thả lỏng toàn thân, nằm lơ mơ. Thật dễ chịu khi chẳng còn phải căng thẳng lo lắng... Một ngọn gió lướt tới làm cây lá rì rào, nghe như tiếng thở dài của rừng. Và đâu đó có tiếng nước chảy róc rách đều đều như tiếng thời gian trôi... Một tia chớp lóe sáng trong đầu. Tiếng suối? Đó chính là điều anh cảm thấy mà chưa nghĩ ra. Có con suối ở gần đâu đây. Thái loạng choạng chống tay ngồi dậy, chớp chớp mắt nhìn quanh. Kia rồi! Dòng suối ở ngay phía trước, cách chưa đầy trăm bước chân. Mặt nước loáng nắng... vách núi phía bên kia... những tảng đá ven bờ... Một khúc suối quen thuộc! Thái nhặt khẩu tiểu liên bật khóa an toàn, ngón tay run run đặt nấc bắn phát một rồi dựng ngược súng tựa vào thân cây con cạnh chỗ nằm, ngoắc đầu ngắm hình tam giác vào giữa hai nhánh cây mọc chẽ đôi. “Đoành... đoành... đoành...”, từng phát súng nổ cách quãng đều đặn, tiếng nổ dội vào vách đá vọng rền rền trong rừng. Lúc các chiến sĩ vệ binh của Trung đoàn 92 ập tới thì cả hai người đều đã bất tỉnh. Thái nằm ngửa mặt lên trời, cánh tay phải dang ngang, ngón tay co cứng ngắc trên cò khẩu tiểu liên đã bắn hết đạn. * Đúng như tham mưu trưởng Đặng nhận định, ngay sau khi vượt qua biên giới Việt - Lào, địch đã chiếm điểm cao 551 làm điểm tựa bảo vệ cánh nam cho mũi tiến quân dọc đường Chín lên Bản Đông - Sê Pôn. Từng đàn trực thăng chở quân bay rợp trời như chuồn chuồn trước cơn mưa đổ xuống điểm cao hai tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến. Những chiếc Chinooks do phi công Mỹ lái nặng nề tha pháo 105 ly dưới bụng đưa tiểu đoàn pháo binh tới chiếm lĩnh trận địa. Thế trận hình thành đúng như phương án tác chiến đã chuẩn bị. Sau năm ngày vây lấn, một trung đoàn quân chủ lực của ta được tăng cường xe tăng, pháo binh và hỏa lực phòng không đã tiến đánh điểm cao 551 ngay giữa ban ngày. Địch hoàn toàn bị bất ngờ trước thời điểm tấn công cũng như sức đột kích và hướng đột kích của xe tăng ta. Toàn bộ quân địch bị tiêu diệt, ta bắt sống hơn trăm tên và thu mười hai khẩu pháo. Trận đánh này góp phần rất quan trọng trong thắng lợi bước đầu của chiến dịch, làm đảo lộn kế hoạch tiến công của địch, buộc chúng phải bố trí lại lực lượng, điều chỉnh kế hoạch hành quân. Về sau hẳn đâu đó trong sử sách sẽ có đôi dòng viết về trận đánh ấy, nhưng sẽ không ai biết trước khi chiến dịch còn chưa bắt đầu, những người lính trinh sát của trung đoàn 92 đã đổ máu dưới chân cao điểm để chuẩn bị cho trận thắng. Và đó là một trận thắng của đơn vị bạn. Còn trung đoàn ngay từ đầu chiến dịch đã rời khỏi vị trí ém quân đi về hướng tây nam... P.V.L
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|