Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:03:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân trung từ mệnh tập  (Đọc 98812 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2011, 03:23:40 pm »

20. LẠI THƯ CHO SƠN THỌ(1)

Đạt Sơn lão đại nhân rõ: Trước đây kính gửi thư, chưa được ưng chuẩn. Nay muốn lại đánh liều thất lễ, chỉ sợ phiền nhảm. Song người đau ốm thì kêu trời đất cha mẹ, đó cũng là thường tình phải thế. Mới rồi đã nhiền lần đem việc người sách Khả-lam(2) bị quan quân bắt, kêu xin tha về, không biết thế nào lại không thấy một người nào được về cả. Về những thổ quan cùng thổ nhân khác, tôi đã không dám lại làm phiền ngài, còn như người Khả-lam, họ đều là cố cựu, thân thích, nô tỳ của tôi lẽ nào tôi lại thản nhiên được. Vì thế, bất đắc dĩ tôi phải lỗ mãng phạm uy mà lại kêu nài làm phiền ngài vậy. Thư nói không hết.


(1) Trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Lam-sơn, quân Minh đã nhiều lần vây quét vùng Lam-sơn, lùng bắt bà con thân thuộc của Lê Lợi, trong đó có cả người con gái của ông, và vợ con của nghĩa quân để dụ dỗ, uy hiếp. Nhân lúc giảng hòa, Lê Lợi đã nhiều lần xin tha cho những người bị bắt, nhưng không có kết quả. Nay Nguyễn Trãi lại viết thư cho Sơn Thọ xin tha những người ở vùng Lam-sơn bị quân Minh bắt trước đây.
(2) Sách Khả làm là Kẻ Lam tức Lam-sơn, quê hương của Lê Lợi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2011, 03:31:35 pm »

21. BIỂU CẦU PHONG(1)

Thần Lê Lợi, tri phủ phủ Thanh-hóa(12 thuộc ty Bố-chính Giao-chỉ, sợ hãi cúi đầu kính dâng lời:

Thần trộm thấy lúc đại quân mới bình định, có chiếu tìm lập con cháu họ Trần cho phụng thờ tôn tự. Bấy giờ các quan Đô Bố Án(3) chưa kịp tìm kiếm khắp nơi, chỉ hỏi thổ nhân nói tâu rằng con cháu họ Trần đều bị họ Hồ tru diệt, không còn ai có thể kế tập(4). Bèn bàn đặt phủ huyện bổ quan cai trị. Đến năm đầu niên hiệu Hồng-hy (Nhân tôn nhà Minh, 1425), thần cùng kỳ lão bản quốc dò hỏi tìm được ở đất Lão-qua(5) có Trần Mỗ(6) thực là cháu đích tôn của Trần Vương Mỗ(7) sẵn tính thông minh, vốn lòng trung nghĩa, đáng được kế lập. Xin cho được tập phong, theo lệ nạp cống như xưa. Kính cẩn sai Mỗ(8) dâng biểu tâu bày:

Kính thấy: Thang Võ cứu dân mà đánh kẻ có tội(9), việc chẳng thể dừng; Kỷ Tống(10) nối dõi để dấy nước đã suy, nghĩa nên như thế. Việc xưa xét lại, minh chứng rõ ràng. Thần Lê Lợi trộng nghĩ: Thánh nhân thống trị chẳng qua chín châu(11); vương giả lòng nhân đều xem như một. Này như Giao-chỉ, xa cách Trung-hoa, Hán Đường lỏng đặt ky mi(12), Tống Nguyên nhân mà phong tước. Đến triêu ta(13) khi Thái Tổ dựng nghiệp thì họ Trần trước các nước vào chầu. Hàng năm tiến cống đế đình; nối đời tập phong vương tước. Mới rồi nhân họ Hồ thất đức, đến khiến thiên thảo(14) ra oai. Triều đình khoan nhân, chiếu tìm con cháu họ Trần cho thừa tự; biên thần(15) dối trá, tâu đặt quận huyện Giao-chỉ mà bố quan. Ngặt vì dân tâm còn mê đắm ở tục thường, vả lại di tập thật khó khăn cho giáo hóa. Cứ theo thói cũ, nên chịu vạ tai. Dân chúng giạt xiêu, luôn năm lìa tan khôn kể xiết binh sĩ đánh chác, luôn năm chết chóc đáng thương thay. Bọn thần nghĩ dân đen là kẻ vô cô, thương họ Trần gặp khi tuyệt tự. Đâu dám như Triệu Đà dùng hoàng ốc(16); trộm muốn học Trình Anh(17) giữ cô nhi. Đầu là theo ý chúng mà thuận tình dân; cho nên phải liều thân tàn mà dựng nghĩa lớn. Tự biết ngẩng đầu lên là phạm phép; nhưng lo không có chỗ để đặt mình. Có đau phải kêu, ấy thực tình người tất thế; biết lỗi thì đổi, đã xin lượng thánh cũng dung. Rỏ máu giải tình; kêu trời xin mệnh. Kính thấy Hoàng đê bệ hạ, trời che đất chở, nhật chiếu nguyệt soi. Tựa biển chừa, tựa xuân sinh, lượng bao dung gồm cả như may đi, như mưa rắc, ân cởi mở khắp tràn. Tất tôn tiền vương mà chọn kẻ nối thờ; tất dựng diệt quốc mà nối dòng đã tuyệt. Tất như Hán Võ lấy việc bỏ Luân-đài(18) mà nhận lỗi; tất như Đường Thái lấy việc đánh Cao-ly mà ăn năn(19). Lỗi thì xá, tội thì tha, lòng hiếu sinh rộng mở; binh được thôi, dân được nghỉ, việc yển vũ(20) sớm bàn. Thực lòng quy thuận; hết sức tỏ trung. Dâng biểu xưng thần, dám nguyện hầu phiên trọn chức; sợ trời thở lớn, chỉ xin tiểu quốc hết thành. Thần kẻ dưới hèn mọn, xiết nỗi trông trời ngóng thánh, cảm kích lo sợ, dâng biểu kính tâu, tỏ lời trần tạ.


(1) Để chuẩn bị giao thiệp với nhà Minh, cuối năm 1426 Lê Lợi lập Trần Cảo, một người tự xưng là con cháu nhà Trần, lên làm vua. Đây là biẻu cầu phong đứng tên Lê Lợi gửi sang nhà Minh để xin phong vương cho Trần Cảo.
(2) Năm 1424, nhà Minh phong cho Lê Lợi là tri phủ Thanh-hóa với âm mưu dùng chức tướcđể mua chuộc người lãnh tụ của nghĩa quân Lam-sơn. Nay Lê-Lợi lấy chức tước đó để giao thiệp với nhà Minh và cầu phong cho Trần Cảo.
(3)  Đô Bố Án là ty Đô, ty Bố Chính, ty Án Sát, ba cơ quan đứng đầu chính quyền đô hội của nhà Minh ở nước ta.
(4) Tháng 6 năm 1407 sau khi chiếm được nước ta, Trương Phụ sai bọn Việt gian Mạc Thúy lấy danh nghĩa là kỳ lão nước ta làm tờ biểu tâu về triều đình nhà Minh rằng: họ Trần không còn ai nữa, đất An-nam vốn thuộc Giao-châu ngày xưa, vậy xin đặt làm quận huyện như cũ.
(5) Nước Lão-qua hay Ai-lao, tức là nước Lào ngày nay.
(6) Trần Mỗ đây là Trần Cảo.
(7) Trần vương mỗ ở đây là vua Trần Nghệ-tông (1370-1372), Trần Cảo tự xưng là cháu ba đời vua Trần Nghệ-tông.
(8) Mỗ ở đây là Lê Lợi.
(9) Vua Kiệt nhà Hạ và vua Trụ nhà Ân đều là những bạo chúa. Thành Thang diệt Kiệt, Vũ vương đánh Trụ là những người có công đánh kẻ có tội để cứu dân.
(10) Xua Vũ vương đánh được Thương, tìm dòng dõi vua Vũ nhà Hạ, được Đông-lâu công, phong cho ở nước Kỷ để phụng sự vua Vũ. Vũ vương đánh nhà Trụ diệt nhà Thương, lại phong cho con Trụ là Vũ Canh ở nước Tống để phụng sự vua Thang.
(11) Chín châu là: Duyện, Kỳ, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Ung, Lương. Đó là chín châu gồm lãnh thổ Trung-quốc đời xưa.
(12) Ky mi: Ky là dây buộc đầu ngựa, mi là dây xỏ mũi bò. Ky mi có nghĩa là ràng buộc.
(13) Triều ta: chỉ nhà Minh.
(14) Thiên thảo là sự trừng phạt của trời.
(15) Biên thần là quan lại ở nơi biên cương, ở đây chỉ bọn quan lại nhà Minh ở nước ta.
(16) Xưa kia Triệu Đà ở Nam-Việt xưng vương, dùng xe mui vàng (hoàng ốc), có cờ cắm bên tả như nghi vệ của thiên tử ở Trung Quốc.
(17) Trình Anh người nước Tấn, thời Xuân Thu, cùng với Công-tôn Chủ-cữu là bạn thân của Triệu Sóc. Sóc bị Đồ Ngạn-Giả giết chết. Sau khi Sóc chết, vợ Sóc sinh được một con trai. Chủ-cữu cùng với Anh lập mưu cứu được đứa con của Sóc. Chủ-cữu cõng một đứa bé con người khác vào giấu trong rừng, rồi cho Anh đi báo với Giả là Chủ-cữu mang con Sóc đi trốn. Giả sai người giết chế đứa bé và Chủ-cữu. Nhờ đó đứa con mồ côi của Sóc được Anh giấu đi thoát nạn.
(18) Vua Vũ đế nhà Tây Hán bắt nhân dân đi làm đồn điền ở Luân-đài để cung cấp lương thực cho quân lính đi đánh các nước phương Tây. Nhưng vì đường xa, quân lính bị chết nhiều, mà không thành công, nên Vũ đế hạ chiếu bãi bỏ đồn diền ở Luân-đài và thôi việc đánh nhau.
(19) Đường Thái-tông thân hành đi đánh Cao-ly, nhưng không sao hạ được thành Liêu-đông. Thái-tông ăn năn rằng: Nếu Ngụy Trưng còn sống thì không để trẫm có việc thân chinh này, rồi rút quân về.
(20)  Yển vũ: đình chỉ việc dùng binh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2011, 03:34:48 pm »

22. VĂN TẤU CÁO (LIỆT THÁNH NHÀ TRẦN)(1)

Nay năm Bính ngọ Thiên-khánh(2) thứ 2 (1426), tháng 12, qua ngày sóc(3) Canh thân, đến hôm nay 29 ngày Mậu tý, Nhập nội kiểm hiệu thái sư bình chương quân quốc trọng sự Đại thiên hoành hóa tứ kim ngư đại song kim hổ phù Tráng vũ vệ quốc công(4), thần Lê Lợi. thực lòng sợ hãi, cúi đầu giập trán, kính cẩn tâu dưới đức Thái tôn hoàng đế, đức Hiển từ thuận thiên hoàng thái hậu, đức Thánh tôn hoàng đế, đức Nguyên thánh hoàng thái hậu, đức Nhân tôn hoàng đế, đức Khiêm từ hoàng thái hậu, đức Anh tôn hoàng đế, đức Chiêu từ hoàng thái hậu, đức Chiêu tôn hoàng đế, đức Hiến từ hoàng thái hậu, đức Nghệ tôn hoàng đế, đức Thuận từ hoàng thái hậu, đức Túc tôn hoàng đế, đức Gia từ hoàng thái hậu, đức Trùng quang hoàng đế, mà nói rằng: Tổ phụ thần chịu nhiều ơn nước, đời làm cận thần, nghĩa phải hết trung ra sức. Từ khi giặc Minh chiếm cướp đất ta, ngược đãi dân ta, phạm vào lăng miếu các tiên đế, diệt hết con cháu họ Trần, thầm nằm gai nếm mật, hơn ba mươi năm, chỉ cốt phục thù, mong được rửa nhục. Năm Ất tỵ (1425)(5) tìm được Trần Mỗ ở đất Lão-qua là cháu ba đời của đức Nghệ tôn, năm nay đã chính đại hiệu đế thờ Tôn Xã. Một khi nghĩa binh mới dấy, bốn phương kéo đến như mây. Cho nên đánh một trận ở Trà-long(6) mà lấy lại đất Nghệ-an Thanh-hóa; đánh trận nữa ở Ninh-kiều(7) mà thu lại nước Đại Việt cõi xưa. Quân giặc các nơi đều đã ra thành hàng phục, duy còn thành Đông-quan chưa thể vội diệt. Thế thực là trời tựa Hoàng Trần, cho nên thành công được chóng; mà thần đẳng mặc giáp cầm gươm may được có chút công lao. Cúi nhờ Liệt thánh hoàng đế rủ lòng giúp đỡ, tiêu diệt quân Minh, để đem lại cái phúc thái bình muôn thuở. Thần kẻ dưới hèn mọn, xiết bao nỗi trông trời ngóng thánh, kính cẩn dâng tâu.


(1) Liệt thánh nhà Trần là những vị đế và hậu tổ tiên của nhà Trần.
(2) Thiện-khánh là niên hiệu của Trần Cảo. Bản chữ Hán in nhầm là Thiên-thành.
(3) Ngày sóc là ngày mồng một đầu tháng âm lịch.
(4) Chức, hiệu và tước của Lê Lợi.
(5) Theo Toàn thư và Cương mục thì đến tháng 11 năm Bính ngọ (1426), Lê Lợi mới lập Trần Cảo lên làm vua. Đại việt thông sử chép việc lập Trần Cảo vào tháng 11 năm Ất tỵ (1425), Lam Sơn thực lục lại chép vào năm Quý mão (1423). Những văn thư trong Quân trung từ mệnh tập chép việc này không thống nhất. Trong bài biểu cầu phong và bài Văn tấu cáo liệt thánh nhà Trần đếu nói tìm được Trần Cảo từ năm Ất tỵ (1425) và năm Bính ngọ (1426) là năm Thiên-khánh thứ 2. Nhưng trong bài Tờ tâu về việc tìm hỏi con cháu nhà Trần (bai 46) và bài Tờ tâu cầu phong (bài 44) lại nói tìm được Trần Cảo vào năm đầu niên hiệu Tuyên-đức, tức là năm 1426. theo Toàn thư và Cương mục có lẽ hợp lý hơn, vì xét lịch sử đấu tranh trong giai đoạn này thì năm 1426 Lê Lợi mới cần lập một người con cháu họ Trần lên làm vua để dễ giao thiệp với nhà Minh.
(6) Trà-long là đất huyện Tương-dương, tỉnh Nghệ-an ngày nay. Năm 1424 nghĩa binh tiến quân vào Nghệ-an và cuối năm ấy hạ được thành Trà-long. Đó là chiến thắng lớn đầu tiên của nghĩa binh.
(7) Ninh-kiều thuộc huyện Chương-mỹ tĩnh Hà-tây. Trận Ninh-kiều ở đây là trận Tốt-động - Chúc-động cuối năm 1426.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2011, 03:38:18 pm »

23. THƯ CHO VƯƠNG THÔNG(1)

(Năm Đinh vị (1427) vua tiến quân đến bờ phía bắc sông Lô(2) đối lũy với thành Đông-quan, Vương Thông và Sơn Thọ sai Nguyễn Nhận lại đưa thư. Vua có thư này gửi lại).

Kính thư gửi trước Tổng binh đại nhân. Tôi nghe nói: “Lấy thành thực đãi người thì người cũng lấy thành thực đáp lại”. Cái đạo chí thành có thể động đến trời đất, cảm được quỷ thân,, huống chi là người? Nay ngài vâng lệnh ra ngoài cửa khổn(3), nhẽ ra phải lấy thành thực đối đãi với người ta, thế mà lại đem lòng dối trá lừa người, tự cho là mưu cao, xem tôi là không biết gì. Việc ginh gian trá, ngoài nói giảng hòa, trong tính kế khác; trước nói hễ dâng biểu thì rút quân ngay, sau lại dựng rào đắp lũy, xây thành đào hào. Việc làm như thế, làm thành thực chăng? Là trá ngụy chăng? Ngày xưa quan đại phu ra ngoài biên cương, việc gì cũng được tự quyết. Huống chi ngài là bậc tướng súy đã đọc thi thư, khi vậng mệnh sang đây lại đã được phép tiện nghi hành sự, thế thì phàm công việc ở ngoai cửa khổn, há lại nhất nhất chờ mệnh lệnh của Triều đình sao? Vả lại binh quí mau chóng, máy then mở đóng, như xe chuyển, như mây bay, tỏng khoảng chốt lát, chợt nóng, chợt lại rét, ngài há lại không biết thế sao mà lại nghe kế bọn tôi gian Mã Kỳ, quân tàn Phương Chính, mà hồ nghi do dự, không dám quả quyết. Trước ngài đã có văn thư thu binh mã ở các vệ sở, lại bảo rằng vì trong thành đất hẹp, hãy trước đem quân nhân ở thành về, còn quân các vệ ở ngoài sẽ theo về sau. Đến nay quân các thành Diễn Nghệ đã lục tục kéo đến, mà lời nói khác lại hình như bắt gió bắt bóng, là chuyện hão huyền. Thế là ngài không những lừa dối một mình tôi, lại còn lừa dối cả hơn sáu bảy nghìn người ở vệ sở các thành. Tôi lấy lòng tôn kính Triều đình, thương hại tính mệnh hơn sáu bảy nghìn con người, nên nghiêm cấm quân sĩ không được phạm chút tơ hào. Thế mà ngài nghe kế của bọn tiểu nhân, định lấy lòng hại tôi để lây hại cho kẻ khác. Kể ra, ngựa Hồ hý gió bắc(4), chim Việt đậu cành nam(5), thường tình người ta, ai khỏi tưởng nhớ quê hương! Nay kế của ngài đã hỏng, hơn sáu bảy nghìn quân các vệ sợ căm hờn oán giận, sâu đến cốt tủy, chẳng ai là không nghiến răng nắm tay, thề không còn trông thấy mặt ngài. Họ đều xin tôi quyết một phen tử chiến. Nghìa nếu quả y lời ước cũ, thì nên rút quân về để trọn điều tử tế ngày trước. Tôi cũng xin dem quân nhân các thành cùng binh mã bắt được trả về đủ số. Nếu không như thế, thì tôi xin đem số quân các thành ngậm oán chứa giận cùng ba mươi vạn quân của tôi để thừa tiếp ở dưới thành. Tùy ngài xử trí thế nào, tôi xiết bao run sợ, đợi chờ mệnh lệnh. Thư nói không hết.


(1) Trước thái độ ngoan cố của Vương Thông, đầu năm 1427, Lê Lợi dời đại bản doanh lên Bồ-đề (Gia-lâm, Hà-nội) và ra lệnh khép chặt vòng vây quanh thành Đông-quan; Trịnh Khả đóng quân giữ cửa Đông, Đinh Lễ giữ cửa Nam, Lê Cực giữ cửa Tây, Lý Triện giữ cửa Bắc. Trước đó, nghĩa quân đồng thời mở cuộc tiến công vào các thành Điêu-diêu, Thị-cầu, Tam-giang, Xương-giang, Khâu-ôn. Vương Thông hoảng sợ, sai thông sự Nguyễn Nhậm mang thư ra cho Lê Lợi, dùng những lời lẽ giả dối để hòa hoãn tình thế, thực hiện âm mưu hoãn binh. Trong thư trả lời này, Nguyễn Trãi đã kiên quyết vạch trần những sự xảo trá của kẻ thù.
(2) Sông Lô ở đây là sông Hồng từ ngã ba Hạc trở xuống. Cần chú ý là trong thời Lý, Trần và thuộc Minh, sông Lô tức là sông Hồng; còn sông Lô hiện nay thì gọi là sông Bình-nguyên (đoạn chảy qua Hà-giang) và sông Tuyên (đoạn chảy vào sông Hồng qua Vĩnh-phúc); nhưng từ thời Lê về sau thì sông Lô chỉ là sông Lô ngày nay chảy qua Hà-giang,, Tuyên-quang, Vĩnh-phúc rồi chảy vào sông Hồng.
(3) Cửa khổn là cửa thành ngoài. Ra ngoài cửa khổn (xuất khổn) nghĩa là đem quân ra ngoài nước để đi đánh dẹp.
(4) và (5) Cổ thi có câu: “Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi” 胡馬嘶北風,越鳥巢南枝 (Ngựa Bắc Hồ thấy gió bắc thời hí, chim Nam Việt thấy cành Nam thời đậu). Thi nhân đã lấy truyện hai con vật ấy tưởng nhớ cố hương để tả mối tình nhớ nhà, nhớ nước.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2011, 03:40:28 pm »

24. THƯ CHO THÁI GIÁM SƠN THỌ(1)

Kính thư gửi trước Thái giám Sơn lão đại nhân. Tôi đối với ngài như đối với cha mẹ, từ trước đến nay không hề có chút niềm bạc bẽo. Ngày trước, tiếp được thư của ngài gửi cho, ước việc hòa giải, có nói: “Sau khi dâng biểu thì rút quân về ngay”. Nay sứ mang biểu đã đi rồi, người tiễn sứ nhân cũng đã trở về, thế mà việc rút quân hay không vẫn chưa thấy quyết định. Trong thư lại nói “sẽ thả hết thổ nhân(3) cho ra thành”, thế mà mấy tháng rồi vẫn chưa thấy một ai được thả về cả. Chẳng hay làm cha mẹ lại như thế ư? Sách Truyện có câu rằng: “Tự cổ giai hữu tử, vô tín bất lập”(3), (từ xưa đến giờ, ai cũng có chết người mà không tín thì không thể đứng vững được). Vì thế đấng vương giả không lừa dối bốn biển, đấng bá gia không lừa dối láng giềng. Nay ngài là cha mẹ lừa dối con ư? Kính xin ngài lấy bụng nhân từ, rủ lòng soi xét. Thư nói không hết.


(1) Thư này và thư số 25 tiếp theo, gửi cho Sơn Thọ nhằm vạch rõ sự dối trá của kẻ thù ở hai điểm: rút quân về nước và thả những người bị giam giữ trong thành. Hai thư này gửi trong khoảng tháng 1 năm Đinh mùi (28-1 đến 25-2-1427).
(2) Thổ nhân ở đây là những người nước ta bị giặc giam giữ.
(3) Câu Khổng Tử trả lời Tử Cống chép trong sách Luận ngữ. Cũng thường ghi là là 自古皆有死,民無信不立 Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2011, 03:41:31 pm »

25. LẠI THƯ CHO SƠN THỌ

Tôi nghe trời có bốn mùa, phải nhờ hành thổ mới vượng; người có bốn đức(1), phải nhờ điều tín để làm. Nếu hành thổ không thịnh, điều tín không có, thì đạo trời tất hỏng, việc người tất hư. Cho nên hoàng cực lấy thổ ở giữa, dân linh lấy tín làm thực, mà sau công việc của trời của người mới thỏa đáng. Tôi tuy ngu chậm, nhưng sở dĩ kính thờ ngài thủy chung như nhất là vì thế. Cớ soa ngài trước đã nói rõ ước định hòa giải bảo rằng “sau khi dâng biểu thì rút quân ngay”, thế mà nay sứ mang biểu đã đi rồi, người tiễn sứ nhân cũng đã trở về, mà việc rút quân hay không vẫn chưa thấy quyết định. Lại nói “sẽ thả hết thổ nhân cho ra thành”, thế mà mấy tháng rồi vẫn chưa thấy một ai được thả về cả. Chẳng hay bụng ngài ra thế nào? Sách Truyện có câu: “Vô tín bất lập”. Đấng vương giả không lừa dối bốn biển, đấng bá giả không lừa dối láng giềng, là cốt giữ điều tín như vậy. Ngài nghe điều ấy ở tai, chứa điều ấy ở bụng, suy điều ấy ra việc làm, thì đi đâu mà không trôi chảy, lại có thể lừa dối dân mà bỏ điều tín được ư? Thư này tới nơi, xin ngài lấy bụng nhân từ, rủ lòng soi xét. Thư nói không hết.


(1) Bốn đức là hiếu, đễ, trung, tín.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2011, 03:43:26 pm »

26. LẠI THƯ CHO VƯƠNG THÔNG(1)

Tôi nghe có người đem chim chắt chó săn vào rừng, bủa lưới chài xuống chằm, mà bảo người ta rằng: tôi không phải là người đi săn, là người đánh cá. Như thế thì dẫu dài mồm ba thước mà nói cũng không thể tự biện giải được. Chẳng bằng thả chim chó, vứt lưới chài, thì người ta tin ngay. Trước đây tôi nhiều lần tiếp thư của ngài nói muốn theo những lời trong chiếu thư của đức Thái tôn(2) khi mới đánh Giao-chỉ về việc cho lập con cháu họ Trần và nói rằng nếu tôi dâng biểu cầu phong thì sẽ rút quân về Kinh, tha tội cho nước An-nam. Lúc đâu ai ai cũng đều vui vẻ tin nhau. Sau mấy tháng ở trong thành cứ dựng thêm rào lũy, sửa sang đồ binh, thì mọi người lại nghi lại sợ. Dẫu tôi là người được đội ơn ngài như trời che đất chở mà cũng còn có phần ân hận, huống là người khác? Ngài nói không phải là người đi săn, là người đánh cá, nhưng ngài chưa thả chim chó, vứt lưới chài, để khiến người ta tin lời. Trước đó người ở Khâu-ôn vì uất ức tìm ra được tờ tâu mà ngày mồng 10 tháng chạp năm thứ 1 niên hiệu Tuyên-đức (1426) ngài sai thổ quan Vũ Nhàn dâng đệ, cùng bức thư mà ngày 16 tháng ấy ngài tục sai thổ quan Từ Thành dâng đệ(3). Tôi xem ý trong hai bản ấy mới biết ân đức của ngài như trời đất đối với muôn vật, phát dục tràn trề, sinh ý ngầm thì mà muôn vật không biết. Thư trước ngài trách tôi “không hay kính thờ trời đất cha mẹ”. Tôi không tự biết mang tội rất nặng, chỉ nhưng lo sợ, nhưng tin rằng ngài tất rủ lòng dung thứ, không trách bị đâu. Tôi lại thấy trong các văn bản ấy có nói “Không vì một góc đất mà làm nhọc thiên hạ”. Lời bàn ấy thật là xác đáng. Ví khiến ai ai cũng cùng lòng như thế thì thiên hạ tất vô sự rồi. Thế mà các quan trấn thủ, các nội quan cùng các quan Tam ty dẳng dai hội nghị, không đồng ý nhau, không biết các vị đại thần ở triều đình lại nhùng nhằng kéo dài bàn định như thế nào nữa? Nếu ngài quả mở lòng thành, như thư trước đã nói khi phụng mệnh sang đây được tiện nghi hành sự và được về trước không phải đợi mệnh, thì ngì nên quyết định chí về, vừa để giải binh tiêu oán, làm phúc cho sinh linh thiên hạ, vừa để đưa đân đời sau, hà tất lại xin vài vạn quan quân để hộ viện. Ngài nên nghĩ lại, chẳng gì bằng thả chim chó vứt lưới chài là hơn. Nếu may mà không nuốt mất lời trước, thì tôi xin mở đường về, phàm sửa chữa cầu đường, cung cấp lương thực, đều xin chuẩn bị sẵn sàng, để đợi quân ở các thành Nghệ-an, Thuận-hóa, Tân-bình và Tiền-vệ, không phạm mảy may. Chỉ xin tuân theo mệnh lệnh của ngài. Sự hiềm nghi của đôi bên đều tiêu tan hết. Có trời, có đất, xin chứng giám cho nếu trái ước này, thần minh tru diệt. Kính xin ngài rủ lòng xét định.


(1) Thư gửi Vương Thông trong khoảng tháng 1 năm Bính mùi để tiếp tục phân tích thái độ giả dối của kẻ thù, lời nói không phù hợp với việc làm.
(2) Tức Minh Thành-tổ (1403-1424). Khi xâm lược nước ta năm 1406-1407, vua Minh có ban bố tờ chiếu thư lấy chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” để che đậy âm mưu xâm lược, lừa dối nhân dân ta. Sau khi chiếm được nước ta, quân Minh đã vứt bỏ chiêu bài giả nhân giả nghĩa đó. Nhưng từ cuối năm 1426, sau những thất bại nặng nề, Vương Thông và nhà Minh lại dùng chiêu bài đó để vớt vát thể diện của triều Minh, đòi lập con cháu nhà Trần lên làm vua như một điều kiện giảng hòa, rút quân.
(3) Cuối năm 1426, Vương Thông lén lút cho người về nước và lợi dụng cả việc người đưa sứ giả của Lê Lợi sang nhà Minh để mang tờ tâu về triều Minh. Nhưng trên đường đi, những người đó đều bị nghĩa quân phát hiện và bắt giữ, nhân đó tìm được mật thư của Vương Thông. Ở đây Nguyễn Trãi chỉ nêu lên hai tờ tâu do Vương Thông sai Vũ Nhàn và Từ Thành mang đi vào ngày 10 và 16 tháng chạp năm Bính ngọ (ngày 7 và 13-1-1427).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2011, 03:45:55 pm »

27. THƯ CHO ĐẢ TRUNG VÀ LƯƠNG NHỮ HỐT(1)

Kính thư gửi các túc hạ Đả công đô chỉ huy, Lương công đại tham chính, trấn thủ thành Tây-Đô.

Tôi cùng các ngài ngày trước đã có lời giao ước với nhau, trên có trời đất quỷ thần tưởng đã chứng giám. Nào ngờ ngày nay lại thành sai trái. Nay xét việc đã làm, đều là vì nước quên mình, không có duyên cớ riêng tây gì cả. Song điều đáng quý ở người quân tử là hiểu thời thông hiếu mà thôi. Vả lại vận trời tuần hoàn, đi rồi lại lại. Từ xưa đến nay, bao giờ cũng thế. Nước An-nam xưa bị Trung-quốc xâm chiếm là từ Tần Hán trở đi. Phương chi trời đã phân cách Nam Bắc, có núi cao sông lớn, bờ cõi rành rành; dẫu mạnh như Tần, giàu như Tùy, nào có thể sính lực được đâu! Vả đem sự thế ngày nay mà bàn, thì như các thành Tân-bình, Thuận-hóa, Nghệ-an, Diễn-châu cùng Tam-giang, Chí-linh Thị-cầu, Xương-giang, Khâu-ôn, Tiền-vệ(2), trong các nơi ấy, những tướng trí dũng, những quan mưu lược, nào phải không có ai, mà thành không phải là không cao, hào không phải là không sâu, lương chứa không phải là không nhiều, quân giữ không phải là không vững, song họ cũng đều đã mở thành cởi giáp, dắt díu vợ con, đến hội với ta, ước định hẹn ngày kéo quân về nước(3). Sao mà các ngài lại cứ nệ giữ thói thường, không thông sự biến, định lấy thành cao vài nhận(4) mà giam hãm những người đi lâu muốn về(5), cho thế là khả dĩ vui sướng qua ngày, mà không đoái đến mấy nghìn tính mệnh. Người nhân giả lại làm thế ư? Nay ta nếu chọn quân sĩ ở Thanh-hóa, Diễn-châu và Tây-đô, chỉ 3, 4 vạn người, kéo đến thừa tiếp ở dưới thành, thì trong khoảng giờ phút, thành sẽ tan tựa tro bay, vỡ như trúc chẻ. Đến lúc bấy giờ, các ngài khối không kịp nữa, muốn bảo toàn tính mệnh vợ con, thật khó lắm thay! Nay cái kế hay hơn cả cho các ngài, chẳng gì sớm bỏ giáp binh, ra ngoài thành cùng quân của Thái đô đốc(6) lục túc kéo về, để trả lại cho ta cảnh thổ nước An-nam, khiến cho hai bên đều tiện, như thế chẳng lại hay ư? Nếu mà không thế thì chẳng làm thế nào được nữa.


(1) Quân Minh trong thành Tây-đô (tức thành Thanh-hóa), đứng đầu là đô chỉ huy Đả Trung và tham chính Lương Nhữ Hốt vẫn ngoan cố chống lại việc giảng hòa rút quân. Lần thứ ba Nguyễn Trãi viết thư dụ hàng và cảnh cáo quân địch.
(2) Những thành quân Minh đóng giữ lúc bấy giờ:
Thành Tân-bình ở Quảng-bình
Thành Thuận-hóa ở Thừa-thiên
Thành Nghệ-an ở Hưng-nguyên, Nghệ-an
Thành Diễn-châu ở Diễn-châu, Nghệ-an
Thành Tam-giang ở Việt-trì, Vĩnh Phú
Thành Chí-linh, ở Chí-linh, Hải-hưng
Thành Thị-cầu ở thị xã Bắc-ninh, Hà-bắc
Thành Xương-giang ở thị xã Bắc-giang, Hà-bắc
Thành Khâu-ôn ở khoảng thị xã Lạng Sơn
Thành Tiền vệ cùng với Tả vệ, Hữu vệ, Trung vệ là những đồn lũy bảo vệ thành Đông-quan. Thành Tiền vệ có lẽ là thành Điêu-diêu (Gia-lâm, Hà-nội).
(3) Thực ra, vào đầu năm 1427, quân Minh trong các thành trên chưa chịu đầu hàng hết.
Tháng 1 năm Đinh mùi (28-1 đến 25-2-1427) thành Tân-bình, Thuận-hóa, Nghệ-an, Diễn-châu, Điêu-diêu lần lượt đầu hàng.
Tháng 2 (26-2 đến 27-3-1427) thành Thị-cầu hàng. Ngày 6 tháng 3 (2-4-1428) thành Tam-giang hàng.
Còn thành Xương-giang, Chí-linh, Khâu-ôn tuy bị vây hãm nhưng quân địch vẫn ngoan cố chống cự. Ở thành Khâu-ôn, một bộ quân quân địch bỏ trốn từ tháng 1, nhưng bộ phận còn lại vẫn cố thủ cho đến khi bị tiêu diệt. Đến tháng 9, quân ta mới hạ được thành Xương-giang, thành Chí-linh cũng như Tây-đô, đến tháng 12 quân địch mới chịu đầu hàng.
Trong thư dụ hàng này, Nguyễn Trãi nói như vậy để uy hiếp tinh thần quna Minh ở thành Tây-đô. Thành này bị quân ta bao vây từ năm 1425 nên mất liên lạc và không nắm được tình hình các thành khác
(4) Người xưa lấy 7 hoặc 8 thước của đời Chu là một nhận.
(5) Chỉ quân Minh trong thành Tây-đô bị vây hãm lâu ngày đang hoang mang muốn đầu hàng để được trở về nước.
(6) Thái đô đốc tức là Thái Phúc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2011, 03:49:39 pm »

28. LẠI THƯ CHO VƯƠNG THÔNG(1)

Thư kính gửi Tổng binh quan đại nhân.

Tôi nghe: Thành thực yêu vật là lòng trời đất; thành thực yêu con là lòng cha mẹ. Nếu yêu vật không thành thực, thì cơ sinh hóa có lúc đình; yêu con không thành thực, thì niềm từ ái có khi thiếu. Vì thế nên trời đất đối với muôn vật, cha mẹ đối với con cái, chẳng qua chỉ một chứ “thành” mà thôi. Hôm trước tôi phụng tiếp thư ngài trách tôi “không biết kính thờ trời đất cha mẹ”. Song đem những việc ngài làm ngài trước, đều không phải là đạo trời đất cha mẹ; trong cách đối xử với người, tự xử với mình, sao lại như thế? Tất phải như Trương Tử(2) lấy lòng trách người mà trách mình, thế mới gọi là hết đạo. Trước ngài nói: Thành Đông-quan chật hẹp, cho quân nhân ở thành về trước và quân ở Thanh-hóa các nơi lục tục kéo về sau”. Nay ngài lại muốn Thái đô đốc qua sông tương hội mà trách tôi là “bất tín”, há chẳng làm lầm ư? Mình làm không phải mà đổ lỗi cho người, bụng dạ người quân tử không ưa làm thế. Cuối thư ngài lại lấy việc họ Hồ bị thân táng quốc vong để ví. Họ Hồ bất đạo thì cố nhiên quân điếu phạt không thẻ trì hoãn. Song không làm cho nước đã diệt được phục hưng, dòng đã tuyệt có thừa kế, mà lại muốn cùng binh độc vũ, khiến những dân vô tội. luôn năm thiệt mạng ở trước gươm đao, những dân kính phục, luôn năm trát gan ở nơi đồng cỏ, có lẽ nào bụng dạ người nhân nhân quân tử lại như thế ư? Người ta bảo: “Lấy Yên đánh Yên, lấy Tần đánh Tần”(3) là thế đấy. Song ngày trước đã qua; từ nay về sau, xin ngài hé mở lòng thực, quyết định chí về, cho ngay quân nhân trong thành về trước, Thái công liên theo cùng về. Ngài nếu chưa đi, Thái công sao dám cất chân đi trước? Còn như phần tôi dọn mở lối về, cùng là sửa chữa cầu đường, dự bị lương cỏ, thì việc đó có khó gì đâu. Tôi nào có ý nguyện gì khác đâu? Thư nói không hết.


(1) Cuối năm 1426, Vương Thông đã thỏa thuận cho quân Minh ở cách thành bị vây về Đông quan rồi cùng rút về nước. Sau đó hắn lại lấy cờ “thành Đông-quan chật hẹp” nên quân Minh ở đây sẽ rút trước rồi quân ở các thành rút sau. Nay hắn lại đòi đưa Thái Phúc là tướng trấn thủ thành Nghệ-an đã đầu hàng nghĩa quân, sang sông gặp hắn với những âm mưu đen tối. Đây là thư trả lời nhằm bác bỏ yêu cầu của Vương Thông.
(2) Trương tử tức là Trương Tái, hiệu là Hoành-cừ, là một bậc đại nho đời Tống.
(3) Hai câu này chữ Hán là “Dĩ Yên phạt Yên, dĩ Tần công Tần” (lấy Yên đánh Yên, lấy Tần đánh Tần), ý nói là Yên và Tần là những nước bạo ngược vô đạo, nay đánh những nước ấy mà lại làm bạo ngược vô đạo thì có khác gì lấy yên đánh Yên, lấy Tần đánh Tần không?
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2011, 03:52:35 pm »

29. LẠI THƯ CHO THÁI GIÁM SƠN THỌ[(1)

Kính thư gửi Thái giám Sơn lão đại nhân. Trộm nghĩ cái ơn ngày trước ngài đối với tôi hơn núi biển, mà tôi báo đáp không được mảy may, cảm đội ơn ấy, sâu lắm. Trước đây kinh viết thư cho ngài, tôi đã tự nói rõ ý. Tôi biết rằng ngày cùng quan tổng binh vốn muốn giảng hòa, để hai nước thoát khỏi cái khổ binh đao. Khốn nỗi vì lời bọn tiểu nhâu họ Phương họ Mã(2), vì thế mà bỗng hỏng việc nước. Cho nên bọn đầu mục trong quân của tôi có kẻ quy oán cho tôi, không nghe tôi răn bảo nữa. Cái việc ngày trước ấy tôi vốn không biết. Tôi nào dám vội quên lời trước mà định hại ngài đâu? Vả lại những điều phải trái ingay cong thực không thể trốn được sự xét đoán sáng suốt của lòng người. Ngạn ngữ có câu: “Như người uống nước, nóng lạnh biết ngay”. Ngày nay hòa nghị thành hay không thành, tín nghĩa mất hay không mất, không phải là lỗi tôi vậy. Ba trăm cỗ ngựa và một nghìn người quân tôi bắt được ngày trước, đều không bị thương tổn một mảy nào. Còn như những người bị giết, là do lâm thời đối địch, xuất ư bất đắc dĩ mà thôi. Nếu ngài lại theo ước cũ, như lời quan Tổng binh đã nói là “Không đợi mệnh mà về ngay”, thì những binh mã bắt được ngày trước, cùng quân nhân các vệ sợ khác, hiện đều còn ở đây, chỉ đợi lệnh ngài là tôi thi hành. Chưa rõ ngài định xử trí thế nào? Nếu không như thế, mà cứ còn mê hoặc ở mưu kế của bọn họ Phương họ Mã, thì tuy ngài có cái ân như cha mẹ, tất không thể yên nuôi con được, đến nỗi tôi không được phụng sự ngài để hết đạo làm con. Xin ngài tha thứ đừng trách là may. Thư nói không hết.


(1) Vương Thông và bộ chỉ huy quân Minh ở Đông-quan đều âm mưu giảng hòa để kéo dài thời gian hòa hoãn, bảo toàn lực lượng chờ quân cứu viện. Tuy nhiên thái độ và mức độ ngoan cố của từng người trong bọn chúng có khác nhau. Phương Chính, Mã Kỳ là những viên tướng tàn bạo, hung hăng, hiếu chiến, Sơn Thọ là một hoạn quan có tuổi, đã có quan hệ thư thừ với Lê Lợi - Nguyễn Trãi từ trước và ra khôn ngoan, dè dặt hơn. Nguyễn Trãi khai thác những khía cạnh đó để phân hóa kẻ thù và đẩy mạnh công tác địch vận.
(2) Họ Phương là chỉ Phương Chính, họ Mã là chỉ Mã Kỳ.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Hai, 2011, 08:26:08 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM