Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:07:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quân trung từ mệnh tập  (Đọc 98784 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:12:05 am »

4. THƯ DỤ HÀNG (CÁC TƯỚNG SĨ TRONG)
THÀNH XƯƠNG-GIANG
(1)

Kể ra, thích cho người sống mà ghét việc giết người, là một người tướng có nhân nghĩa; xét biết thời cơ mà biết lượng sức mình là một người tướng có trí thức. Ta kính vâng mệnh trời, lấy đại nghĩa chuyên việc dánh dep. Nghĩ đến (cơ đồ) tổ tông bị nguy đổ, thương nỗi (đời sống) nhân dân phải lầm than; đánh thành lấy đất không giết một người nào. Cho nên đánh đông dẹp tây, không nơi nào không phục.

Thành Xương-giang nhỏ mọn kia dám chống lại mệnh trời, nổi giận đi đánh, nghĩa nên phải thế, sự không được đừng. Nhưng đem núi Thái-sơn đè bẹp quả trứng, sức không chịu được bao lâu, lấy lửa đỏ rực đốt cháy lông gà, thế khó đương được chốc lát. Lấy thuận mà đánh kẻ nghịch, lo gì không phải theo; lấy sức mạnh mà đánh kẻ yếu, lo gì không đánh được. Mà, còn lấy lời nói chăm chăm hiểu dụ, thực vì nhân mạng trong một thành là hệ trong, mà không nỡ làm cho thương tổn. Vả lại, các xứ Tân-bình, Diễn-châu, Nghệ-an, Thuận-hóa, thành không phải là không cao, hào không phải là không sâu, thóc không phải là không nhièu, binh không phải là không giỏi. Thế mà đô đốc họ Thái cùng các quan ba ti đều bỏ thành về hàng, đem quân theo mệnh. Vì rằng họ hiẻu rõ việc thành hay bại đều có mệnh (trời) mà không dám trái. Bọn các người nếu biết trên sét thời trời, dưới suy việc người thì có thể giữ được vị lộc đến vô cùng, khỏi để nhân dân một thành bị chém giết; lũ các ngươi được là người trí thức mà ta cũng không mất tiếng là một vị tướng có nhân nghĩa. Thế mà cứ mê muội không hiểu biết gì, thì đến ngày thành bị hạ, ngọc đá không phân biệt, không phải là ta cho làm bạo ngược bừa bãi mà là tự lũ các người làm ra tội nghiệt đó thôi. Đó thực là lúc còn mất nguy cấp đấy, nên tính cho kỹ, chớ để hối về sau. Thư nói không hết lời.


(1) Thành Xương-giang nay vẫn còn di tích ở làng Thành thuộc thị xã Bắc-giang, tỉnh Hà-bắc. Thời thuộc Minh, thành này phủ trị phủ Lạng-giang và là thành lũy quan trọng nhất trên con đường từ Pha-lũy đến Đông-quan. Tháng 12 năm Bính ngọ (từ 29-12-1426 đến 27-1-1427), quân ta bắt đầu đánh thành Xương-giang. Quân ta vừa vây hãm vừa dụ hàng. Đây là thư dụ hàng thứ nhất gửi thành Xương-giang.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:14:44 am »

5.THƯ DỤ (TƯỚNG SĨ TRONG) THÀNH
XƯƠNG-GIANG
(1)

Ta nghe: (đối với) đạo quân nhân nghĩa, kẻ nào thuận đức thì sống, kẻ nào trái đức thì chết. Vì người cầm quân ấy giữ việc đánh giết, nắm quyền sống chết: khi thì khoan hồng như khí dương, khi thì thần khắc như khí âm, đều tuân theo lẽ phải của trời, không thể theo ý riêng mình được. Nay các ông bằng một nghìn quân(2), một mình giữ thành trơ trọi. Đã đến hơn một năm nay(3), tin thức không thông, mà tự cậy là thành cao hào sâu, có khác gì người mù mà không sợ cái chết, không biết tự liệu sức mình.

Kể ra, thời có khi thịnh khi suy, thế có kẻ mạnh kẻ yếu; cũng là lẽ trời lòng người, thuận hay nghịch, hướng theo hai trái ngược. Nếu chỉ khăng khăng câu nệ và kiến thức hẹp hòi, cam lòng chịu lấy tai vạ, âu cũng đáng thương lắm. Vì thế mà tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho ngọn người không tội một mai bị chết. Cho nên ta không ngại nói đi nói lại, lại sai người đến nơi dụ bảo.

Nếu các ông biết tỉnh ngộ thì không những người cả trong thành ấy nhờ đó được an toàn; cả sự giàu sang của các ông cũng có thể giữ được lâu dài, mà đức hiếu sinh của thượng đế cũng thấm khắp đến với lòng dân. Nếu không thế thì giữa người thuận đức với kẻ trái đức, tất có một kẻ sống một kẻ chết. Đó là lẽ tất nhiên. Ta có thể tự theo ý riêng mình sao được! Các ông nên mau mau mở cửa thành, cởi áo giáp cùng ta hòa giải. Ta nếu trái lời giao ước tất nhiên trời chẳng dung cho, nếu các ông cứ chấp mê, ta tất không tha thứ.

Nay hãy tạm lấy một việc trước mắt, hãy tỏ từng việc cho các ông nghe: các thành Tân-bình, Thuận-hóa, Nghệ-an, Diễn-châu, Tam-đái, Thị-kiều, Tiền-vệ đều may biết thời thế, hiểu quyền biến, chuyển họa làm phúc, để cho người trong các thành ấy có đến hơn 56.000 người đều được an toàn. Duy có một thành Khâu-ôn(4) không hiểu sự biến, bo bo giữ kiến thức nhỏ, để cho người trong một thành ngọc đá đều bị thiêu cháy, há chẳng đáng xót thương! Các ông nên nghĩ, chớ để hối hận về sau.


(1) Quân Minh trong thành Xương-giang do Lý Nhậm, Kim Dận… chỉ huy vẫn cố thủ chờ viện binh. Lê Lợi - Nguyễn Trãi điều thêm quân đến bao vây và tiếp tục du hàng. Đây là thư dụ hàng thứ hai. Nhưng quân địch vẫn ngoan cố chống cự đến cùng. Sau hơn 9 tháng bao vây và tiến công quyết liệt, ngày 8 tháng 9 năm Đinh mùi (ngày 28-9-1427), 10 ngày trước khi viện binh địch đén biên giới, quân ta chiếm được thành Xương-giang.
(2) Quân Minh đóng giữ thành Xương-giang có trên 2.000 quân. Nhưng bị tiêu hao dần, cho dến trước khi thành bị chiếm, số quân địch chỉ còn một nửa, nghĩa là khoảng 1.000 quân.
(3) Hơn một năm ở đây không phải tính mỗi năm 12 tháng mà kể từ năm trước - năm Bính ngọ (1426) - đến năm nay - năm Đinh mùi (1427).
(4) Thời thuộc Minh, huyện Khâu-ôn thuộc phủ Lạng-sơn, nay là vùng bắc huyện Chi-lăng, huyện Cao-lộc và thị xã Lạng-sơn. Thành Khâu-ôn ở khoảng thị xã Lạng Sơn ngày nay, là một thành quan trọng trên con đường từ Pha-lũy đến Đông-quan. Cuối năm Bính ngọ (1426) quân ta đánh thành này. Ngày 13 tháng 1 năm Đinh mùi (9-2-1427), một bộ phận quân địch bố trốn về Quảng-tây, bộ phận còn lại vẫn liều chết cố thủ và cuối cùng bị quân ta tiêu diệt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:18:31 am »

6. THƯ GỬI LIỄU THĂNG(1)

Ta nghe, Mạnh tử có bảo rằng: “Chỉ nó người nhân giả (người có lòng nhân đạo yêu thương mọi người v.v…) là có thể mình là nước lớn mà đi lại tốt với nước nhỏ; người trí giả (người khôn ngoan, tử tế v.v…) là có thể mình là nước nhỏ mà hòa hảo với nước lớn. Nước lớn mà đi lại với nước nhỏ chính là biết vui theo đạo trời (lẽ phải). Nước nhỏ mà hòa hảo với nước lớn chính là biết kiêng nể mệnh trời.

Xưa kia, đức Thái tổ Cao hoàng đế(2) ta lúc mới nổi lên làm vua, thì vua An-nam trước kia đã vào cống trước cả các nước, đặc biệt là được khen thưởng, được phong tước vương. Đời (nọ truyền đời kia), giữ gìn bờ cõi, triều cống đầy đủ. Gẫm xem đức Thái tổ ta, theo đúng đường lối (đạo) lạc thiên cùng với lòng thày úy thiên của các vua Trần chúng tôi trước kia, đã thuận theo (lẽ phải) được hưởng phúc lành, há chẳng hay lắm sao?

Một khi từ lúc Hồ (Quí Ly) gây việc càn bậy, lật đổ bàn thờ cúng tổ tiên (họ Trần) chúng tôi, hắn đối với trên thì nói dối triều đình, đối với dưới thì làm khổ cực dân chúng. (Vì thế) đức Thái tông(3) đem quân trừng phạt, một đánh yên ngay, hạ chiếu tìm con cháu họ Trần để cho nói việc thờ cúng tổ tiên. Lúc đó, biên thần muốn lập công, tâu bậy về triều, bảo rằng con cháu họ Trần đều đã hết cả. Chúng liền xin đặt (đất An-nam) làm quận huyện giống như đời Hán Đường.

Từ đấy đến nay hơn 20 năm(4), binh đao liền liền, tai vạ thảm thương, nhân dân Trung-quốc khổ về việc đánh dẹp. Kể cả những trận lần trước kia cùng là những trận lần gần đây, quân lính lừa ngựa đưa tới mười phần không còn một. Cái mà lấy được không bù nổi cái mất đi, mưu mẹo lo lắng không hàn gắn nổi vết thương nặng. Tất cả là do Hồ (Quí Ly) không biết đi lại kính mến triều đình đến nỗi bị phải sụp đổ. Nhưng mà đối với đường lối thuận theo lẽ phải (lẽ trời) của nước lớn thì tôi sợ cũng có điều thiếu sót.

Nay tôi tủi phận là con cháu còn sót lại của vua Trần, ẩn náu ở đất Lão-qua đã hơn 10 năm nay. Người trong nước tôi khổ về chính sự khắc nghiệt của các quan lại (triều đình); nhớ lại ơn đức cũ của các vua Trần trước kia, mới cùng bàn nhau đánh đuổi bọn quan cai trị, ép tôi về nước. Khoảng tháng 11 năm ngoái(5), các quan quân đóng giữ ở các thành các xứ đều đã lục tục mở cửa, bỏ binh giáp, hòa giải cùng với chúng tôi. Tất cả các quan lại và quân dân trai gái gồm có hơn một vạn người, chúng tôi đều thu nuôi cả, không phạm đến mảy may.

Nay tôi lại nghe thấy, tiều đình lại sai tướng quân đem đại quân đến bờ cõi (nước tôi); không biết rõ đạo quân ấy là quân cứu viện chăng? Hay là quân đến đóng giữ chăng? Hay lại là quân đến làm việc lập lại họ Trần chăng? Các ông ví xét rõ sự tình thời thế, đóng đại quân lại rồi đem việc hào giải của tất cả các quan lại quân dân nói trên kia, làm tờ số tâu rõ công việc về triều đình, tôi cũng liền lập tức cho đúc người vàng, mang tờ biểu, tiến cống thổ sản địa phương. Còn các bầy tôi trong triều may ra biết đem đường lối thẳng thắn (can ngăn Vua) lại làm việc dấy kẻ bị diệt, nối lại dòng kẻ mất gốc mà tránh được việc phi lí dùng binh đến cùng, khoe khoang võ lực như đời Hán, Đường. Sai một vài đặc sứ dụ dỗ bằng lới nói êm ấm để tha tội cho nước An-nam. Làm như thế thì các ông có thể ngồi yên đó mà hưởng thành công. Mà nước lớn sẽ làm trọn được đạo “lạc thiên”; nước nhỏ cũng tỏ được hết lòng thành thực “úy thiên”. Như thế há chẳng tốt đẹp lắm ru!


(1) Đây là thư đứng tên Trần Cảo gửi Liễu Thăng. Theo thư mới tìm thấy thì Liễu Thăng nhận được thư của Lê Lợi khi tiến đến Khâu-ôn (Lạng-sơn). Theo đường hành quân cua Trương Phụ từ Quảng-tây vào nước ta năm 1406 được chép lại trong Việt kiệu thư của Lý văn Phượng thì Pha-lũy đến Khâu-ôn đi mất một ngày. Ngay 18 tháng 9 năm Đinh mùi (ngày 8-10-1427), Liễn Thang qua cửa Pha-lũy đến biên giới nước ta. Vậy Liễu Thăng tiến đến Khâu-ôn ngày 19 tháng 9 (ngày 9-10-1427).
(2) Tức Minh Thái-tổ (1308-1398).
(3) Tức Minh Thành-tổ (1402-1424).
(4) (1406-1427)
(5) Năm Bính ngọ (1426).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:21:01 am »

7. THƯ GỬI LIỄU THĂNG(1)

Thư bảo cho các vị tổng binh của Thiên triều.

Ta nghe: Quân của Vương giả chỉ có dẹp yên mà không có đánh chém. Việc làm nhân nghĩa cốt để yên dân. Trước đây gửi thư, chính là muốn Trung-quốc mở rộng đường vỗ yên, nước nhỏ hết lòng thành kính nể. May ra cái tệ thích khoe khoang, ưa lập công của nhà Hán, nhà Đường từ đây hết đi, mà đạo của vua Thang vua Vũ dấy nước bị diệt, nối dòng đã tuyệt, lại thấy cử hành, không biết thư trước có đến các ông hay không?

Nay nghe thấy đại quân thốt nhiên đến bờ cõi (tôi thật) vừa sợ vừa mừng: đây là quân cứu viện chăng, hay sẽ làm việc dấy nước đã diệt, nối dòng đã tuyệt chăng? Trước đây hơn hai mươi năm, binh đao liền liền, tai họa lắm lắm. Quân lính của Trung-quốc mười phần không còn một phần. Dân vô tội của nước nhỏ tôi gặp nhiều sự chết uổng. Cái lấy được không đủ bù cho cái mất, sự thu hoạch không bõ vào sự mất đi. Nói đến việc ấy, chắc các ông không thích nghe.

Nay, nước tôi tìm được người cháu ba đời của họ Trần ở đất Lão-qua đã hợp lòng mọi người. Ngày tháng 11 năm nay(2), nước tôi đã sai đúc hai pho tượng người bằng vàng, sắp đủ đồ sản vật địa phương để tiến cống, sai người đến kinh tâu bày. May ra cuộc bàn của đại đình lại tuân theo điều chương của Thái tổ (hoàng đế), và sự lý trong tờ chiếu để lại cho Thái tông hoàng đế, thì đó là sự may cho nước Giao-chỉ chúng tôi, và sự may lớn cho cả thiên hạ.

Các ông là tướng lão luyện của Thiên triều vâng mệnh (đem quân) ra cõi ngoài, công việc ngoài (đô) thành, mình tự chuyên là được rồi. Sao không xét rõ thời nghi, tùy tiện sắp việc, lui quân ra ngoài bờ cõi, sai một viên sứ giả mang một lá thư đến, xem hư thực, rồi sau đem công việc nên làm ở trên đây xin mệnh lệnh của tiều đình, may được chuẩn y, thì bọn các ông không phải khó nhọc lòng sức mà hưởng thành công. (Nếu) đình nghị không bằng lòng thì lúc đó tiến quân cũng chưa muộn gì. Nay, các ông không nghĩ đến việc ấy, đem quân cô độc đi sâu vào đất người cầu may nên được công việc. Tôi không cho việc làm ấy của các ông là phải. Và lại, con ong cái bọ còn có cái nọc, huống chi người trong một nước, tôi há lại không có người nào là người có mưu kế dũng lược hay sao? Các ông chớ cho nước tôi là ít người mà coi người. Đến lúc ấy thì lòng thành của nước tôi thờ nước lớn thực có phần thiếu, mà các ông hối lại sẽ không kịp nữa. Kể ra cứu đám đánh nhau, không nên đánh đập, gỡ mối rối loạn chớ nên tay không. Nay các ông quả muốn cứu đám đánh nhau chăng? Muốn gỡ mối rối loạg chăng. Xin chớ có đánh đập, chớ có tay không khiến cho người giận lại càng giận thêm mà rối loạn lại càng rối loạn thêm. Thư này đến nơi, kính mong trả lời cho biết.


(1) Nhận được thư trước, Liễu Thăng không thèm xem và ra lệnh tiếp tục tiến quân. Nguyễn Trái viết thư thứ hai này gửi Liễu Thăng xin rút quân ra ngoài bờ cõi rồi tâu về triều về việc lập con cháu nhà Trần. Theo Hoàng minh thực lục thì khi tiến quân đến Ải-lưu (vùng Lạng-bắc, huyện Chi-lăng, Lạng-sơn), Liễu Thăng nhận được thư của Lê Lợi. Từ Khâu-ôn đến Ải-lưu, theo cuộc hành quân của Trương Phụ, đi khoảng nửa ngày (Lý Văn Phượng, Việt kiệu thư). Ngày 19 tháng 9 năm Đinh mùi, Liễu Thăng đến Khâu-ôn thì ngày hôm sau, ngày 20 tháng 9 (ngày 10-10-1427) - đến Ải-lưu, rồi cũng trong ngày hôm đó, lọt và trận địa mai phục ở Chi-lăng, đây có lẽ là thư Nguyễn Trãi gửi cho Liễu Thăng khi ở Ải-lưu. Mục đích của những bức thư này là kích động thêm tính chủ quan, khinh địch của Liễu Thăng để dục địch vào trận Chi-lăng, phối hợp với hoạt động vừa đánh vừa lui của tướng Trần Lựu từ biên giới đến Chi-lăng.
(1) Ngày 20 tháng 9 năm Đinh mùi, Liễu Thăng bị giết chết ở Chi Lăng. “Tháng 11 năm nay” trong thư này có lẽ là do sao chép sai lạc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 05:18:54 pm »

8. THƯ GỬI LƯƠNG MINH, HOÀNG PHÚC(1)

(Ngày 16 tháng 8)(1)

Thư gửi các ông: quan tổng binh là Bảo định bá tên là Lương Minh, quan thượng thư Hoàng Phúc.

Tôi thường nghe, binh cốt để bảo vệ cho dân, không phải là để làm hại dân, dẹp yên để không phải giết, không phải là để giết nhiều người. Cho nên có câu rằng: “Binh là bắt đắc dĩ mới phải dùng”. Điều mà có thể thôi được hay không thể thôi được, không phải là bản tâm của thánh nhân. Nay các ông đem quân đi sâu vào (cõi đất người) chính là bị hãm vào thế trong miệng cọp, muốn tiến không được, muốn lui không hay. Còn ta thì nhân thế chẻ tre, sau khi chẻ được mấy đốt, cứ lọng lưỡi dào mà chẻ đi, thực không khó gì. Nhưng ta vẫn nghĩ đến nghĩa nước nhỏ thờ nước lớn, có mặt trời soi trên, không dám thiếu lòng (thành kính). Cho nên nhiều lần gửi thư mà các ông vẫn không trả lời. Thế có phải là sự không may của một nước ta chăng? (Hay) thế là sự không may lớn cho cả nhân dân thiên hạ. Sao có thể thôi được mà không thôi hẳn.

Trước đây, các thành Tân-bình, Thuận-hóa, Diễn-châu, Nghệ-an và Tiền, Hậu vệ, Thị-kiều, Xương-giang, Tam-giang đều đã mở cửa thành, cởi cùng ta hòa giải. Phàm hết thảy quan quân, đàn ông, đàn bà, lớn bé cộng mấy vạn người, ta đều thu nuôi tất cả, không xâm phạm một chút nào. Xin các ông lui ngay quân ra ngoài bờ cõi, ta tự dẹp mở lối về, cho các ông được thung dung đem quân về, ta sẽ đem các quan lại đàn ông, đàn bà nói trên kia trao tất cả ở ngoài bờ cõi. Như thế thì các ông có thể ngồi hưởng thành công mà Nam, Bắc từ nay vô sự, há chẳng hay ư? Nếu có thể thôi được mà không thôi, là do các ông không biết dập tắt lửa đi để cho nó tự cháy lên, không phải là tội của ta vậy. Thư nói không hết lời.


(1) Trong đạo quân của Liễu Thăng, Bảo-định bá Lương Minh giữ chức phó tổng binh (sử ta chép là tham tướng), Hoàng Phúc là công bộ thượng thư. Sau trận Chi-lăng (10-10-1427), Liễu Thăng bị giết chết, phó tổng binh Lương Minh lên nắm quyền chỉ huy cùng với thượng thư Hoàng Phúc và Lý Khánh, cố chấn chỉnh lại đội ngũ tiếp tục mở đường tiến quân. Nhưng đến Cần-trạm (Kép, Hà-bắc), quân địch bị phục kích, Lương Minh bị chết tại trận (ngày 15-10-1427). thư này gửi cho Lương Minh, Hoàng Phúc trong khoảng thời gian sau trận Chi-lăng và trước trận Cần-trạm, nghĩa là trong khoảng từ sau ngày 10-10 đến trước ngày 15-10-1427.
(2) Ngày 16 tháng 8 năm Đinh mùi là ngày 6-9-1427. Chưa rõ đây là lời chú thích của ai nhưng không phù hợp với thực tế lịch sử đương thời. Ngày 16 tháng 8 là lúc viện binh nhà Minh chưa đến biên giới, thế mà trong thư lại có đoạn viết: “Xin các ông lui ngay quân ra ngoài bờ cõi, ta tự dẹp mở lối về…”
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 05:21:13 pm »

9. ĐẦU MỤC NƯỚC AN-NAM KÍNH GỬI CÁC VỊ
TỲ TƯỚNG CỦA THIÊN TRIỀU
(1)

Tôi nghe: quân của Vương giả, cốt trên thuận òng trời, dưới hợp lòng người. Nay các ông vâng mệnh đi đánh dẹp, chỉ nên trên xét lòng trời, dưới thuận việc người. Trước đây cái tai họa đắm thuyền(*), thì trời đã răn bảo rõ lắm. phàm quan đi qua một đường nào, việc chạy trốn hại thường thường có đến bao nhiêu người, nhân dân chừa oán lại quá lắm. Các ông bỏ việc ấy không xét đến mà xông pha nguy hiểm, khinh xuất tiến quân. Kinh Dịch có câu nói rằng: “Quân đi phải có kỷ luật, nếu không có kỷ luật thì dẫu phải cùng gặp sự không hay”. Huống chi lòng trời lòng người đã như thế mà các ông còn cố gượng cứ làm, thì tự mua lấy thất bại, há chẳng đáng ư? Vả lại, bọn An Viễn hầu (Liễu Thăng) Bảo định bá (Lương Minh), Lý thượng thư (Lý Khánh) lại nối nhau bị chết, quân không người thống lĩnh, và không theo kỷ luật, chẳng bại vong sao được. Xin các ông nên chóng lui quân, đóng lại ở đất Long-châu, Bằng-tường, tôi lập tức đem ngay các quan lại quân nhân đã bắt được ở các thành đến ngoài cõi, trả lại hết cả. Và đem người vàng đã đúc, sai người đi theo, dâng biểu vào cống để nước nhỏ tôi được hết lễ thờ nước lớn, mà nước lớn được hết đạo vỗ yên người xa. Làm một việc mà được hai điều lợi, hai bên đều tốt cả. Thế không phải là may lớn cho nhân dân cả thiên hạ ư? Các ông nếu còn dùng dằng lâu ngày, chứa lòng nghi ngờ, làm hỏng mưu kế, tôi sợ rằng các ông sẽ chết vùi xương trong bụng cá ở Xương-giang(2), còn có ích gì đâu?

Thư này gửi đến, kính xin trả lời cho biết.

Tuyên-đức, năm, tháng, ngày.


(1) Sau những thất bại nặng nề ở Chi-lăng (ngày 20 tháng 9 năm Đinh mùi, tức ngày 10-10-1427, chủ tướng Liễu Thăng bị giết chết), Cần-trạm (ngày 25 tháng 9 năm Đinh mùi, tức ngày 15-10-1427, phó tổng binh Lương Minh Lương Minh bị giết chết) và Phố Cát (ngày 28 tháng 9 năm Đinh mùi, tức ngày 18-10-1427, binh bộ thượng thư Lý Khánh phải thắt cổ tự tử), đạo quân tiếp viện chủ yếu của nhà Minh còn khoảng 7 vạn quân, do đô đốc Thôi Tụ và thượng thư Hoàng Phúc cầm đầu, cố tiến về thành Xương-giang (Hà-bắc). Nhưng thành Xương-giang đã bị quân ta hạ 10 ngày trước khi quân địch tiến vào biên giới và đã trở thành một pháo đài kiên cố chắn ngang đường tiến quân của địch về Đông-quan. Quân địch phải đóng quân giữa cánh đồng phía trước thành Xương-giang rồi đắp lũy để tự vê. Quân ta chẹn các đường rút lui và tiếp tế lương thực của địch, rồi khép chặt vòng vây. Trước khi mở trận tổng công kích vào ngày 15 tháng 10 năm Đinh mùi (ngày 3 tháng 11-1427), Lê Lợi - Nguyễn Trãi chủ trương vừa vây vừa hãm vừa dụ hàng làm cho quân địch càng suy yếu về lực lượng, khốn quẫn về lương thực và tan rã về tinh thần. Thư này và thư số 10, 11 gửi cho những viên tướng quân Minh đang bị bao vây ở Xương-giang. Ba bức thư này gửi trong khoảng thời gian sau ngày 28-9 và trước ngày 15-10 năm Đinh mùi (sau ngày 18-10 và trước ngày 3-11-1427).
(*) Thư số 15 ở sau cũng có đoạn: “Hiện nay có An viễn hầu là Liễu thăng vâng mệnh (triều đình) đem hơn 10 vạn quân, đi đến Quảng-tây, đã hai lần sắc thư gọi về, Liễu thăng trót đã mang quân ra, chống lại mệnh lệnh mà cứ đi. Quân đi đến Lễ-giang, bị tai họa đắm thuyền, chết đuối đến hơn một vạn người. (Đó là), trời bảo cho biết đã rõ lắm rồi”.
(2) Sông Xương-giang tức sông Thương. Quân địch bị bao vây giữa cánh đồng phía trước thành Xương-giang, ở phía bắc sông Thương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 05:23:38 pm »

10. ĐẦU MỤC NƯỚC AN-NAM THƯ GỬI CÁC VỊ
TỲ TƯỚNG THIÊN TRIỀU
(1)

Trước đây, mấy lần gửi thư, nói về việc thành hay bại của nhà nước và nỗi vui hay buồn của nhân dân. Những việc ấy rất là quan trọng. Người có chí vỗ yên bờ cõi há chẳng xót xa ư! Tôi không biết lá thư trước đây có đến nơi hay không?... Lòng của người nhân nhân quân tử, há lại dửng dưng như thế được sao?

Xưa nay đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm; thánh nhân bất đắc dĩ mới phải dùng đến. Còn việc đánh nhau đến cùng, thánh nhân vẫn có lời răn. Từ khi (Triều Minh) lấy được Giao-chỉ đến giờ, dụng binh liên miên, tai họa chồng chất, mỗi ngày càng quá lắm. Trừ số người, ngựa, nguyên phái đi đánh trước, và nhiều lần tiếp tục đem thêm đã bị chết hại thì không kể, mỗi năm lại đem sang thêm mấy vạn quân và ngựa nữa(2). Số quân mà tổng binh đem đến sau, hiện không còn ai. Nay An viễn hầu Liễu đại nhân thống lĩnh đại quân vào cõi, chúng tôi đã gửi thư(3) đến khẩn khoản nói: nên trên xét thiên thời, dưới xem nhân sự, may ra nước lớn có thể hết đạo vỗ yên, người xa nước nhỏ được hết lòng thờ nước lớn. Nhưng không may các đại nhân cho là lời nói ấy không đáng nghe, đem quân đi sâu vào cõi nước tôi, quân lính giữ bờ cõi của chúng tôi không làm thế nào được, ví như loài chim cùng thì phải mổ lại, loài thú cùng thì phải đánh lại. Trong khi vội vàng còn thì giờ đâu mà nghĩ đến lễ nghĩa chứ? Đó tuy là tội lỗi của tôi, cố nhiên không thể chối cãi được, nhưng cũng vì các ông khu xử, chưa chắc đều là phải cả. Tính việc ngày nay không gì bằng (các ông) lui quân ra ngoài bờ cỗi, tôi lập tức đem ngay các quân nhân đã bắt được ở các thành trả lại hết. Rồi đem thư của nước tôi và bản tâu nói rõ đầu đuôi, tâu lên triều đình. May ra mà lời bàn của triều đình ưng cho, thì các ông có thể không mất tiếng tốt, mà Nam, Bắc từ nay vô sự. Đó không những là sự may cho nước An-nam tôi, cũng là sự may lớn cho cả bàn dân thiên hạ. Các ông đều là người Trung-quốc; về đạo nhân nghĩa và lẽ thành bại, được, hỏng xưa nay, ngày thường đã học tập, tất biết rõ rồi, tôi còn phải nói đi nói lại làm gì nữa.

Thư nói không hết lời

Tuyên-đức, ngày, tháng, năm.


(1) Xem chú thích (1) bài 9. Nhận được thư trước, quân Minh bị vây ở Xương-giang không trả lời. Nguyễn Trãi gửi tiếp bức thư này.
(2) Trong thời gian đô hộ nước ta, nhà Minh đã nhiều lần phái quân sang đàn áp khốc liệt phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Trước đạo viên binh của Liễu Thăng, chỉ tính từ tháng 10-1426 đến tháng 7-1427, nhà minh đã 3 lần điều viện binh sang nước ta với số quân trên 10 vạn do các tướng Vương An Lão, Vương Thông, Cố Hưng Tổ chỉ huy.
(3) Khi đạo viện binh của Liễu Thăng vừa vượt qua cửa ải biên giới, tiến đến Khâu-ôn, Lê Lợi sai người đưa thư cho Liễu Thăng xin lui quân về biên giới để xem xét tình hình rồi tâu về triều xin vua Minh bãi binh rút quân về nước. Xem thư gửi cho Liễu Thăng, bài 7, 6.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 05:26:30 pm »

11. ĐẦU MỤC NƯỚC AN-NAM THƯ GỬI CÁC
VỊ TỲ TƯỚNG CỦA THIÊN TRIỀU
(1)

Tôi nghe, mưu việc từ trước khi có việc xảy ra, thì khi việc đến dễ mưu tính; việc xảy ra rồi mới mưu tính, thì mưu tính sẽ không kịp. Tôi đã gửi thư đến hai ba lượt không ngại phiền để nói nhiều. Mới rồi lại đã gửi đến một văn bản giãi tỏ chân tình, việc gì cũng nói hết ở trong bản ấy rồi. Các ông nên chóng lui quân ra ngoài cõi, không nên như Giả Hồ(2) lưu liên lâu ngày đến nỗi hỏng việc.

Kể ra, Vương giả không lừa dối bốn biển, Bá giả không lừa dối láng giềng, cho nên Văn-hầu không tham đánh ấp Nguyên, Thương quân không bỏ việc thưởng người dời cây gỗ; người mà không có thì thì làm gì được. Ngày nay tôi đã răn bảo quân lính, dẹp mở dường về cho các ông từ Cần-trạm đến Khâu-ôn(3), nếu thấy đại quân qua lại không được xâm phạm mảy may. Các ông, trọng hạn ba ngày, nên thu nhặt mà đi. Quá hạn ấy mà còn chậm lại, thế là các ông thất tín, không phải lỗi ở tôi vậy. Kinh thi có câu nói: “Người khác có lòng, ta lường tính xem”. Chắc rằng các ông sở dĩ ở chậm lại, có ý trông mong vào quân ở thành Đông-quan sang tiếp ứng chăng? Hay là ở quân Vân-nam sang tiếp ứng chăng? Thì, từ Đông-quan đến đây chỉ có một ngày đường, không phải hẹn còn có thể tự đến cứu được, há lại nỡ lòng nào dửng dưng ngồi nhìn không đau lòng hộ ư? Thế thì các ông trông mong về quân thành Đông-quan đã tuyệt vọng rồi.

Còn như Kiềm quốc công ở Vân-nam trước đây cùng với các ông cũng vâng mệnh trên họp quân ở đấy. Nhưng Kiềm đại nhân tuổi cao đức cả, đã sớm biết lẽ phải, thấy việc làm rõ. vừa mới đến bờ cõi, lập tức sai người dò thăm hư thực, nghe tin trước đây thành trì các xứ Tam-giang đều đã hòa giải, bèn lui quân về Lâm-an(4), làm bản tâu về triều. Tôi lại đem những quân nhân của các ông mà tôi đã bắt được đưa đến chỗ Kiềm đại nhân, nói rõ duyên do, bọn An viễn hầu, Bảo định bá, Lý thượng thư bị chét. Kiềm quốc đại nhân đã lui quân về Vân-nam rồi. Thế là bọn các ông trông mong về đạo quân ở Vân-nam lại tuyệt vọng nốt.

Hai mặt trông mong ấy đều đã tuyệt vọng, mà quân nhân mỗi ngày một bị chết, lương thực lại hết thì các ông còn đợi gì mà dùng dằng ở lại không đi chứ? Sao mà xét việc câu nệ, mưu việc không sớm thế? Than ôi, chén nước đã đổ khó mà vét lại được nữa, việc trước đã qua rồi, bỏ việc ngày nay không mưu tính đến, hối sao cho kịp. Thư nói chẳng hết lời.

Tuyên-đức, năm, tháng, ngày


(1) Xem chú thích (1) bài 9. Đây là thư thứ ba Nguyễn Trãi gửi cho tướng Minh bị vây ở Xương-giang. Trong thư, Nguyễn Trãi có đề ra thời hạn trong ba ngày, phải rút quân. Vậy bức thư này gửi vào khoảng cuối ghời gian vây hãm và dụ hàng, trước khi tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch.
(2) Giả Hồ: chưa rõ điển tích.
(3) Cần-trạm nay là vùng Kép, Khâu-ôn là vùng thị xã Lạng-sơn. Đó là hai địa điểm trên đường từ Pha-lũy đến Xương-giang.
(4) Lâm-an thuộc Vân-nam Trung-quốc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 05:29:32 pm »

12. CHÁU BA ĐỜI VUA NHÀ TRẦN NƯỚC AN-NAM TRƯỚC,
LÀ TRẦN CẢO THƯ GỬI QUAN TỔNG BINH VÂN-NAM KIỀM QUỐC CÔNG
CÙNG CÁC VỊ QUYỀN BA TI XÉT
(1)

Tôi thường nghe: đạo người quân tử làm trọn cái tốt đẹp của người khác; lòng người có nhân thường muốn (đạt ý người khác lên người trên). Trước đây tôi gửi thư đến nói về việc quan hệ giữa nhà nước thành hay bại, cùng sinh dân vui hay buồn. Người có lòng muốn yên dân, há chẳng chạnh lòng thương xót ư? Nay đã mấy tháng rồi, không biết thư tôi gửi khi trước có đến đại nhân hay không, mà không từng thấy một chữ nào trả lời cho biết(2). Lòng của người có nhân lại im lặng như thế ư? Kể ra đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm. Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến. Còn việc dùng binh đến cùng, cậy vào vũ lực là điều mà xưa nay vẫn răn dạy. Từ khi quân nhà vua dẹp yên cõi Giao-chỉ đến giờ, binh đao liền liền, tai vạ chồng chất, một ngày một quá lắm. Người Trung-quốc thì bị đòi bắt tần phiền, quân và ngựa đều bị chết. Cái mà lấy được không bù cho cái mà bị mất, cái mà cướp được không chữa được vết tổn thương. Trừ ra, nguyên số quân đi đánh lần tước, và nhiều lần tiếp tục, quân và ngựa chết hại không biết đâu mà tính, thì không kể, năm ngoái, lại điện phát quân và ngựa ở ba tỉnh Vân-nam, Tứ-xuyên, Quí-châu hiện nay mười phần không còn một phần(3). Cứ xem thế, (thì người xưa) bảo đồ binh là thứ hung bạo, đánh nhau là việc nguy hiểm, há chẳng đúng lắm ru? Từ tháng 11 năm ngoái(4) trở về sau, các xứ Tân-bình, Diễn-châu, Nghệ-an đều đã cởi áo giáp ra ngoài thành cùng với chúng tôi bàn việc hòa giải. Các vị tổng binh quan Thành-sơn hầu, Vinh-xương bá, các quan đố đốc họ Phương, họ Mã, họ Thái, Thái giám Sơn Thọ đều trong tháng 4 năm nay, đã mở cửa thành cởi áo giáp(5). Tất cả hết thảy quan viên quân nhân và người trong, cộng mấy vạn người, tôi đều thu nuôi, không xâm phạm mảy may. Chỉ đợi ngày chiếu thư ban xuống thì đem trở về đủ số. Các đại nhân đều là nhân nhân quân tử, há lại khôngbiết rõ nghĩa giao thiệp của với nước láng giềng cùng đạo vui trời, sợ trời. May ra được (đại nhân) đem ý trong thư trước của tôi chuyển tâu về triều đình rồi truyền bảo cho tôi biết ý định của triều đình để cho dân vô tội cõi Giao-chỉ tôi được thoát mình khỏi nước sôi lửa bỏng mà quân đi đánh dẹp của Trung-quốc được về quê hương; thế làm làm một việc mà được hai điều tiện lợi. nếu không thế, chỉ chăm đòi bắt quân lính lại sang lần nữa, các ông đã biết rõ lời răn từ xưa tới nay về viêc cùng binh độc vũ, há chẳng thấy thế mà sờn lòng ư? Kinh xin trả lời cho biết.

Tuyên-đức, năm, tháng, ngày.


(1) Thái phó Kiềm quốc công Mộc Thạnh giữ chức tổng binh chỉ huy đạo quân tiếp viện gồm 5 vạn quân và 1 vạn ngựa, từ Vân-nam sang phối hợp với đạo quan chủ yếu của Liễu Thăng. Để tập trung lực lượng tiêu diệt đạo quân của Liễu Thăng trước, bộ chỉ huy nghĩa quân chủ trương kiềm chế đạo quân Mộc Thạnh ở vùng biên giới. Các tướng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả, Lê Khuyển, Lê Trung được lệnh đem quân lên ải Lê-hoa (vùng Hà-giang, giáp Vân-nam) với nhiệm vụ “chỉ đặt quân phục để chờ, chưa nên đánh vội” (Toàn thư, q. 10, 41b). Đồng thời, Nguyễn Trãi lấy danh nghĩa Trần Cảo, gửi thư cho Mộc thạnh vốn là Tổng binh trấn thủ Vân-nam và các quan chức nhà Minh phụ trách ba ty ở Vân-nam (ba ty là ty đô, ty bố chính, ty án sát). Thư có lẽ gửi vào khoảng tháng 9 năm Đinh mùi khi đạo quân Mộc Thạnh mới tiến đến biên giới gần ải Lê-hoa và trước khi Liễu Thăng thất bại (trong thư này chưa nói đến thất bại của Liễu Thăng).
(2) Theo Toàn thư (q. 10, 45a), tháng 8 năm Đinh mùi (1427), Lê Lợi có sai sứ chuyển sang Quảng-tây, Vân-nam tờ biểu cầu phong đứng tên Trần Cảo để nhờ gửi về triều đình nhà Minh. Mộc Thạnh đã chuyển tờ biểu đó về triều. Lúc đó, có lẽ Nguyễn Trãi đã gửi cho Mộc Thạnh một bức thư. Lần này, Nguyễn Trãi nhắc lại bức thư đó mà đến nay Mộc Thạnh vẫn chưa trả lời.
(3) Năm Bính ngọ (14260 nhà Minh cử thái tử thái bảo Thành-sơn hầu Vương Thông đem 5 vạn quân sang tiếp viện cho thành Đông-quan. Tháng 10 năm đó, Vương Thông huy động 10 vạn quân mở cuộc phản công lớn, nhưng đã bị thất bại thảm hại trong trận Tốt-động - Chúc-động.
(4) Tháng 11 năm Bính ngọ (1426).
(5) Các tướng Minh ở thành Đông-quan: Thành-sơn hầu Vương Thông giữ chức Tổng binh, Vĩnh-xương bá Trần Trí, đô đốc Phương Chính, Mã Kỳ, thái giám Sơn Thọ. Thực ra, đến tháng 4 năm Đinh mùi (1427), quân địch ở Đông-quan chưa chịu đầu hàng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 05:34:13 pm »

13. THƯ CỦA ĐẦU MỤC NƯỚC AN-NAM
KÍNH GỬI TỔNG BINH QUAN, THÁI PHÓ, KIỀM QUỐC CÔNG XÉT
(1)

Tôi nghe, trời đất sinh muôn vật, tất trước phải có sấm sét làm vang động,rồi mới gia ơn mưa móc; thánh nhân trị nhân dân, tất phải đặt ra hình phạt để ngừa phòng rồi mới làm việc giáo hóa. Cho nên, vua Thành-thang đánh nhà Hạ là có ý đẩy nước đã mất lên làm làm vững người hiện còn; vua Vũ Vương (đánh) nhà Thương là có ý đẩy nước đã diệt mà nối dòng đã tuyệt. Lòng của thánh nhân, tức là lòng của trời đất về việc ban mệnh, về việc dánh dẹp, một khi vui mừng, một khi tức giận, toàn là do lòng chí công của trời đất, không có mảy may ý riêng ở đó. Trước đây (Hồ Quí Ly) làm việc không có đức, Thái tôn hoàng đế dấy quân hỏi tội; sau khi dẹp yên rồi, xuống chiếu tìm con cháu họ Trần, để giữ việc thờ cúng; thế thì đối với cái nghĩa làm vững người hiện còn, dấy nước bị diệt, há chẳng cùng một đường lối với vua Thang, vua Võ hay sao? Không may mà các quan coi biên giới tâu man là con cháu ngành vua Trần đều đã chết hết, rồi đem bọn con cháu họ hàng nhà Trần như Trần Nguyên Hy, Trần Sư Trinh, Trần Nguyên Chỉ, vài mươi người đem về kinh sư, đem an trí mỗi người một nơi(2). Thế há chẳng rõ ràng là lừa dối triều đình ư?

Tự khi ấy đến giờ, binh đao liền liền, tai họa chồng chất, hơn hai mươi năm không được yên nghỉ. Cái mà lấy được không bù cho cái mất đi, số người bắt được không bõ với số người chết đi. Huống chi, nếu lấy được đất An-nam, không thể cho dân Trung-quốc đến ở được, bắt được dân An-nam không thể dùng để phục dịch cho Trung-quốc được. Thế thi được hay hỏng, lẽ phải hay tái, há chẳng rõ ràng lắm ư?

Kính nghĩ đại nhân là họ thân của nhà vua được ủy nhiệm cho việc nặng nề như ông Chu, ông Thiện ngày xưa. Trên chín lần yêu dấu trông cậy, dưới muôn dân thấp thỏm ngóng trông. Ra làm tướng võ, vào làm tướng văn, thiên hạ yên hay nguy quan hệ ở mình. Văn sư võ bị không phải người thường tài có thể sánh kịp, nên mới vâng mệnh sang cói Nam lấy đức vỗ về, mà người nào cũng vui lòng. Sau khi đem quân về thì công ơn để lại dân, còn nhớ mãi, chẳng khác gì cây cam đường của Thiện công nhà Chu(*) xưa kia.

Nay lại vâng mệnh sang chầu lần nữa, đóng quân ngoài cói, có thể tưởng thấy sự tiến hay dừng của đại nhân, vững chắc như gò núi. Về sự việc thấy sáng suốt, biết việc được sớm, tất người khác không thể theo kịp. Nay đem thực sự bày tỏ hết để đại nhân rõ:

Ngày tháng 9 năm này(3), An viễn hầu Liễu Thăng thống lĩnh đại quân đến địa phận thành Khâu-ôn. Tôi đã hai ba lần gửi thư nói kỹ về thiên thời, về nhân sự (thời trời, việc người); nói đi nói lại không ngại rờm lời, mà Liễu công cho lời nói của tôi là không đáng tin, bèn mạo hiểm tiến quân vào sâu chuyên việc chém giết, ý định giết hết không để sót người nào(4). Nhưng không biết đạo trời ưa sống, lòng người ghét loạn. Thành hay bại, phúc hay họa, chỉ trong khoảng trở bàn tay thôi.

Ngày 20 tháng 9, (Liễu Thăng) tiến quân đến cửa Chi-lăng, quân lính giữ cửa ải của tôi không làm thế nào được, liền phải chống cự lại. Liễu công bị chết tại trước trận, không biết lẫn lộn vào đâu. Bảo định bá, Thái đô đốc, Lý thượng thư cũng bị chết nối nhau. Còn các quân lính đều bỏ trốn chạy tan. Đó tuy cũng là tội lỗi của tôi, cố nhiên không thể chối cãi được, mà cái họa của Liễu công tất phải tự mình chuốc lấy. Người xưa có câu nói: “Cậy vào đức thì tốt, cậy vào sức thì chết”, tức là thế đấy.

Nay chúng tôi nhờ ơn của đại nhân như trời đất cha mẹ, nên mới thổ lộ tình thực; mong đại nhân thương cho. Đại nhân đem lòng người quân tử nhân đức, tất sẽ làm việc nhân nghĩa, để cho người đời này đều tiến lên cõi thái hòa, há lại chịu lấy đất chỗ An-nam bé như nốt ruồi, mà làm cho thiên hạ nhọc ư? Trước đây Hóa-châu làm loạn(5), đại nhân còn dung thứ vì tấm lòng hướng thiện của họ, bảo sắp đủ lễ vật, mong cho bản thân được đạt tới triều đình. Nhưng lời bàn của triều đình không ưng thuận, và cứ lo việc tiến đánh. Nay vua tôi nước tôi một lòng, quân lính cùng một chí hướng. Về cái nghĩa kính trời thờ nước lớn không dám bỏ thiếu. Trước đây các thành Tân-bình, Thuận-hóa, Diễn-châu, Nghệ-an, Tiền-vệ, Xương-giang, Thị-cầu, Tam-giang, Trấn-di đều mở cửa thành, cởi áo giáp cùng hòa giải với tôi. Hết thảy các quan lạy quân dân cộng mấy vạn người, tôi nhất nhất thu nuôi cả, không xâm phạm đến mảy may nào. Đại nhân quả có lòng thương, tôi xin đem nộp tất cả các quan lại quân nhân nói trên và xin chuyển tâu về triều đình cái việc nói rõ trong lá thư này. May ra lời bàn của triều đình y cho cái ơn của đại nhân như trời đất cha mẹ, mới toàn vẹn được trước sau. Nếu triều nghị không nghe thì chúng tôi dẫu chết cũng không ân hận gì. Nay đem các quân lính của Liễu công mà tôi đã bắt được ấy, đưa trả về doanh(6). Trừ ra việc hỏi rõ thực hư không kể trước hết xin đệ trình bản thảo thư riêng chữ viết (của Liễu công). Kính xin đại nhân có lòng thương tới mà dạy bảo cho thì may lắm.

Tuyên-đức, năm, tháng, ngày


(1) Thư này gửi cho Mộc Thạnh sau khi đạo quân của Liễu thăng đã bị thất bại nặng nề, Liễu Thăng, Lương Minh, Lý Khánh đã bị chết.
Theo Toàn thư (q. 10, 42a), Cương mục (q. 14, 19b-20a) và những tài liệu khác, thì sau khi tiêu diệt xong toàn bộ đạo quân Liễu Thăng, Lê Lợi sai một số tù binh đem sắc, thư, phù, ấn của Liễu Thăng đến Lê-hoa cho Mộc Thạnh xem. Nhân khi quân địch hoảng hốt tháo chạy, quân ta phản công và truy kích ở ngòi Nước-lạnh hay (Lãnh-câu) và Đan-xá giết chết hơn 1 vạn, bắt sống hơn 1 nghìn. Nhưng theo thư số 11 mới tìm thấy, thì Lê Lợi sai tù binh báo cho Mộc Thạnh biết Liễu Thăng, Lương Minh, Lý Khánh đã bị chết và đạo quân Mộc Thạnh tháo chạy về Vân-nam khi quân Minh (bộ phận còn lại của đạo quân Liễu Thăng đang bị bao vây ở Xương-giang. Như vậy thư gửi cho Mộc Thạnh cũng như trận Lãnh-câu, Đan-xá xảy ra sau trận Chi-lăng, Cần-trạm, Phố-cát và trước trận tiêu diệt quân địch ở Xương-giang (nghĩa là trong khoảng từ 10-10 đến 3-11-1427). Điều đó phù hợp với đoạn văn trong Bình Ngô đại cáo :
“Bị quân ta chẹn ở Lê-hoa, quân Vân-nam kinh sợ mà trước đã vỡ mật.
Nghe quân Thăng thua ở Cần-trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau để chạy thoát thân”.
(2) Sau khi đánh bại nhà Hồ (1406-1407), nhà minh một mặt lấy cớ con cháu nhà Trần không còn ai để chiếm lấy nước ta, một mặt lùng bắt những người họ Trần trong đó có Trần Nguyên Hi, Trần Sư Trinh, Trần Nguyên Chí, đem đày về nước.
(*) Thiệu Công Cơ Thích phò tá Chu Văn Vương, Chu Võ Vương. Có lần ông đi ra ngoài, có người dân đến kiện cáo. Ông bèn ngồi dưới gốc cây lê xử kiện. Sau khi ông đi khỏi, nhân dân nhớ tới ơn ông, bèn cùng nhau bảo vệ cây lê không cho ai chặt và làm thơ ca ngợi.
(3) Năm Đinh mùi (1427).
(4) Khi đạo quân Liễu Thăng đến Khâu-ôn, Lê Lợi hai lần gửi thư cho Liễu Thăng xin lui binh về biên giới. Nhưng Liễu Thăng rất chủ quan, khinh địch, nhận được thư không thèm xem, chỉ sai người chuyển về triều rồi tiếp tục tiến quân (Cương mục q. 14, 19b; Hoàng Minh thực lục).
(5) Hóa-châu là vùng Thừa-thiên, trước đây là căn cứ của cuộc khởi nghĩa Trân Quý Khoáng (1409-1414). Lúc đó Mộc Thạnh chỉ huy quân Minh ở nước ta đàn áp cuộc khởi nghĩa này.
(6) Theo Toàn thư (q. 10, 42a), Cương mục (q. 14, 19b), Lê Lọi sai một số tù binh vừa bắt được trong đạo quân Liễu Thăng gồm 1 viên chỉ huy, 3 viên thiên hộ, mang sắc, thư, phù, ấn của Liễu Thăng đưa đến cho Mộc Thạnh xem.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM