Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:08:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhà lao cây dừa  (Đọc 64644 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #20 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2011, 08:57:48 pm »

Khi tôi vào thì nhà lao đã phân chia rạch ròi thành khu tù binh miền Bắc và khu tù binh miền Nam. Trước đây chúng nhốt hết thảy, thậm chí không thèm phân biệt cả sĩ quan lẫn chiến sĩ. Sau này do những đợt đấu tranh và những lần trốn trại làm kinh ngạc cả Sài Gòn và Lầu Năm Góc bên kia Thái Bình Dương, chúng thít chặt quy chế hơn. Chúng tuyên bố công khai tù binh Bắc Việt là tù binh của quân đội chủ lực chính quy, quân đội xã hội chủ nghĩa, cần được đối xử đàng hoàng, còn tù binh Nam Việt chỉ là quân phiến loạn, không cần để mắt tới. Thực chất thì ngược lại, các trại tù miền Bắc, nhất là trại sĩ quan đối xử tàn tệ hơn ai hết. Xin mách cho anh một tù binh sĩ quan cũng đang sống ở đây. Ông Hai Hội biết nhiều chuyện và vượt ngục ra trước tôi. Chúng tách ra như vậy để dễ chia rẽ cũng giống như thằng Pháp ngày trước chia Việt Nam ra ba miền để trị. Chúng sợ ảnh hưởng qua lại, hà hơi tiếp sức cho nhau. Chúng sợ sự bổ sung ý chí và sức mạnh tổng hợp một khi quân chủ lực và quân địa phương gom tụ lại mà chúng đâu hay rằng khái niệm chủ lực hay địa phương trên chiến trường miền Nam thời kỳ ấy đâu có rạch ròi ngăn cắt. Chỗ nào cũng là chủ lực và nơi nào cũng có thể là địa phương, tuân thủ mềm mại đường lối chiến tranh nhân dân của ta.

Nghe nói có lần chúng tàn sát cả trăm mạng người!... - Tôi hỏi trong lúc Ba Toản dừng lại đôi chút để thắp lại ngọn đèn vừa tắt.

- Bốn lần. Lịch sử nhà lao Phú Quốc trải qua bốn lần thảm kịch. Mỗi lần đúng là tới cả trăm người.

Lần thứ nhất vào năm 1965, khi Mỹ bắt đầu đổ quân vào và số tù binh của ta bắt đầu lên đông. Tôi nghe nói lại lần đó chúng bắt anh em mình tập hợp thành một hàng dài để chào cơ tam tài và hô đả đảo Đảng Cộng sản. Anh em mình không ai hô, thế là chúng túa vào dùng dùi cui báng súng đánh tới tấp. Giao chiến một mất một còn ngoài chiến trường quen rồi, dòng máu lính chiến nổi lên, anh em đánh trả lại. Và chúng xả súng... Khi khói súng tan, đám tù vơi đi gần một nửa, cả tuần sau máu nơi ấy vẫn còn phả mùi tanh nồng vào tận phòng giam. Tính ra lần ấy anh em ta hy sinh 78 người.

Lần thứ hai, hình như năm 1967, mùa mưa thì phải. Do chúng đối xử quá tàn tệ, trong một nhà giam đã có hai chục người mắc bệnh kiết lỵ chết không được cấp cứu. Anh em tuyệt thực. Một vài nhà giam khác cũng tuyệt thực theo. Tổng số thời gian tuyệt thực kéo dài tới 11 ngày. Đúng lúc đó phái đoàn Chữ thập đỏ quốc tế sắp đến kiểm tra, cuống quá, chúng nài nỉ anh em thay đổi thái độ. Anh em không nghe, đòi phải đáp ứng mọi yêu sách đúng với công ước Giơnevơ, thì anh em mới chịu ăn. Đời nào chúng chịu! Chúng dùng vũ lực xưa anh em ra rừng để giấu. Xưa nay giấu ém tù binh có vấn đề, tù binh ốm yếu bệnh tật ra rừng để che mắt công luận quốc tế là thủ đoạn quen thuộc của bọn cai tù Phú Quốc. Anh em không chịu đi. Chúng đánh đập dã man. Uất quá, không chờ có lãnh đạo, không cần lệnh chỉ huy, anh em nhào lên cướp vũ khí của chúng đánh lại chúng. Quân cảnh bỏ chạy để mặc cho 4 họng đại liên ở bốn chòi cu tha hồ suối đạn vào tận trong các nhà giam... Lần đó, tính ra có đến hơn một trăm người được khiêng ra nghĩa địa, khiêng suốt đêm không hết, tất nhiên là tù khiêng nhau. Mấy cái nhà giam đó của tuần sau vẫn vắng lặng như bãi tha ma. Bọn lính cũng không dám lai vãng tới. Hình như chúng sợ cái hơi hướng tử khí oan hồn bám dính vào chúng hay sao ấy. Có thằng giám thị vừa lò dò đến, một người tù bật lên tiếng ho, thế là hắn co giò phóng chạy.

Lần thứ ba...

- Thôi! - Tôi ngăn Ba Toản lại vì không muốn anh phải sống lại thêm một cái ký ức khủng khiếp nữa - Thế là đủ rồi, anh Ba!

- Ừ! - Nét mặt anh Ba Toản sạm lại trông già hẳn đi - Mỗi lần nhớ tới những chuyện ấy là trong đầu cứ giật phừng phực như sắp vỡ ra. Sau hai lần mất mát lớn như vậy, anh em đã biết đấu tranh khôn khéo hơn. Tất nhiên trong đó có sự chỉ đạo kịp thời của từng nhóm, từng tổ, từng phòng, từng chi bộ và từng đảng ủy. Khác với các cấp ủy ở ngoài, trong tù mỗi nghị quyết đều phải trả một giá rất đắt mới được hình thành. Những nghị quyết kiểm nghiệm qua máu.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #21 vào lúc: 07 Tháng Ba, 2011, 07:10:16 pm »

Anh Ba Toản nói đến đây, tôi chợt nhớ đến anh Sáu Hồng và câu chuyện Đảng của anh. Sáu Hồng là một trong rất ít người có thâm niên mười năm trong tù và trải qua hầu hết tất cả các khu. Anh lại là một bí thư chi bộ nhà tù. Theo anh, tổ chức đảng trong tù hoàn toàn mang một đặc thù riêng, các chi bộ, các đảng ủy được tự thành lập mà không có một đường dây chung thống nhất trong tổng thể nhà lao. Làm sao có cấp ủy đảng cao nhất, có người chịu trách nhiệm Đảng lớn nhất được khi từng khu bị chia cắt, từng phân khu thậm chí từng phòng cũng bị chia cắt nghiêm ngặt. Kẻ thù có thể bắn bỏ ngon lành nếu anh lảng vảng ở hàng rào chứ đừng nói anh có ý định chui rào sang ô khác: 480 phòng giam là 480 cái ô vuông hoàn toàn biệt lập. Cho nên một ô hay một phòng chỉ có thể hình thành riêng được một tổ chức đảng. Ít thì là chi bộ, nhiều thì lập đảng ủy. Hy hữu có liên đảng ủy nối liền hai ô hoặc nối liền một phân khu bốn ô.

Do đặc điểm có kể gian trà trộn nên việc lập chi bộ hoàn toàn du kích. Thường người ta dựa vào đã quen biết nhau từ trước, đã từng ở cùng đơn vị hay cùng quê để xác lập lòng tin. Tin rồi, biết nhau là đảng viên rồi mới rỉ tai nhau lập một tổ đảng, đủ đảng số 3 thì nâng cấp thành chi bộ. Dù cùng trong một phòng giam cùng ăn, cùng ở nhưng đảng viên chi bộ nào chỉ được biết đảng viên của chi bộ đó, còn ngoài ra coi như không hay không thấy gì hết. Mỗi chi bộ cử ra một người để nhóm họp bầu ra một đảng ủy, một bí thư. Gọi là họp cho oai chứ thực ra là ngồi túm lại một góc giả vờ đánh cờ hay đi ra ngoài hàng rào giả vờ đi đáo để hội ý chớp nhoáng. Như vậy, chỉ có các bí thư chi bộ mới biết ai là bí thư đảng ủy. Người bí thư đảng ủy thường là người không lộ diện trong các cuộc đấu tranh trong bất cứ sự kiện nổi cộm nào. Kẻ thù chỉ cần phát hiện ra một chút manh mối người đứng đầu đảng là tiêu diệt ngay. Chính vì thế mà nhiều khi chi bộ, đảng ủy không chỉ đạo kịp thời đã để xảy ra những tổn thất không sửa chữa được.

Do hiện tượng xáo trộn tù nên các chi bộ, đảng ủy cũng bị xáo trộn theo. Có khi ở nhà giam này anh là bí thư nhưng nhà giam khác anh lại là đảng viên thường hoặc ngược lại. Thậm chí đến nơi mới anh bỗng dưng mất đảng vì chưa tìm được chi bộ của mình.

Những năm sống giữa cộng đồng toàn người cách mạng, sống giữa đồng đội mà Đảng phải rút vào hoạt động bí mật.

Trong ngục tù, con người bỗng trở nên thanh sạch, vô tư hơn. Con người đánh mất khái niệm chức vụ và quyền lực. Có ai muốn làm lãnh tụ đảng đâu khi nếu bị tố giác sẽ lập tức bị bỏ vào bao bố đựng toàn than nóng hay quẳng vào chảo rang khô, lúc mở nắp, khói đen phụt lên như khói tàu, có ai muốn làm trưởng phòng, trưởng trại đâu khi mở đầu cuộc đàn áp, kẻ thù sẽ nện vào người đại diện đầu tiên. Không ai cả.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #22 vào lúc: 08 Tháng Ba, 2011, 05:55:37 pm »

Nhưng lại có những đảng ủy đối lập, những đảng ủy không còn tính Đảng. Đảng ủy anh chủ trương tuyệt thực ư? Thế là dại. Vào tù mà còn bày trò nhịn đói là dại. Cứ ăn đi, ăn khỏe vào đặng lấy sức mà sau này trở về hoạt động. Đảng ủy các anh chủ trương tranh thủ mượn sách học ngoại ngữ ư? Tốt thôi, nhưng sáng sáng chiều chiều phải ngửa tay mượn sách, trả sách cho chúng nó thì có khác gì ăn xin! Lại còn cái kiểu đan lát, may vá thuê để đổi lấy mấy cục thuốc rê, mấy hạt muối nữa. Mất tư thế lắm! Sao lại mất tư thế? Đảng ủy này quất lại. Định bần cùng hóa nhau à? Định tiếp tay cho kẻ thù làm khổ nhau thêm à? Thế là cãi nhau, là bất đồng quan điểm. Là chia năm sẻ bảy, rơi trúng vào ý đồ làm tan rã ta của kẻ thù.

Lại một số đảng viên vào tù sa sút không bằng quần chúng, nêu gương xấu cho quần chúng, số này không chi bộ nào chấp nhận cho sinh hoạt. Không sao! Họ cười khẩy và tự thành lập chi bộ, lập đảng ủy riêng, chỉ có điều: Nghị quyết của những cấp ủy đảng này thường lựa theo ý kẻ thù, phục vụ cho ý đồ kẻ thù, sẵn sàng đi tạp dịch phu phen rào gai, đào công sự phòng ngự cho kẻ thù, ra chỉ thị không đấu tranh, không vượt ngục gì hết để bảo toàn lực lượng... Thì ra, cuộc sống ngoài đời bao dạng thức thì trong tù cũng bấy nhiêu hình hài. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng cùng song song tồn tại.

Lại có cả tâm lý địa phương cục bộ này sinh giữa những đảng viên tù. Tù binh người Bắc muốn thành lập riêng đảng bộ người Bắc, tù binh người Nam lại muốn khu vực bộ đội phía Nam phải có đảng ủy của mình. Miền Trung cũng vậy. Chưa hết! Lực lượng chủ lực và lực lượng địa phương cũng muốn có hệ thống cấp ủy được hình thành theo từng đặc điểm, phân cấp võ trang ấy. Có một hiện thực không thể không thừa nhận trên phương diện khác quan lịch sử. Tỉ lệ phần trăm chiêu hồi ở tù miền Nam nhiều hơn miền Trung và tỉ lệ chiêu hồi miền Trung lại đông hơn hơn tù binh miền Bắc. Cái tỉ lệ đau lòng này nhiều khi là ngẫu nhiên, là vô nghĩa là chưa hẳn nói lên điều gì về bản chất. Song có một tỷ lệ khác tồn tại song hành có thể lý giải được tính chất tỉ lệ trên ít nhiều chăng: tù binh miền Bắc không có một người nào được thân nhân vào thăm nuôi, tù người Trung còn có chút ít, nhưng tù binh phía Nam lại được thăm nuôi rất nhiều và tù binh miền Nam lại có rất nhiều "tù binh lậu" do những cuộc càn của địch bắt được những đàn ông thường dân rồi dồn vào, gán cho con số tù đông thêm. Tỉ lệ này tác động vào tỉ lệ kia ít hay nhiều, cũng là điều dễ hiểu. Cuộc đời vốn dĩ bao giờ cũng là cuộc đời nó không phải ở đâu, lúc nào cũng phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.

Tất cả những điều trên là dòng chảy ngầm xôn xao của đời sống chính trị tù nhân. Dòng chảy ngầm này không phải không có lúc, có nơi hút thành dòng xoáy nước nhận chìm vài ba nhân cách, vài ba phong trào xuống tầng chiến bại, nhưng Đảng vẫn là Đảng, các cấp ủy đảng là cái cốt lõi để giữ vững được khí tiết và siết chặt đội ngũ chiến sĩ cách mạng. Trước sự đàn áp đẫm máu của kẻ thù và trước thảm kịch của những đồng đội đã ngã xuống, tình trạng phân biệt cục bộ này cũng dần dần bị xóa đi như một tất yếu để sống còn.

- Xã hội có bao nhiêu thành phần thì trong tù cũng có bấy nhiêu màu sắc anh ạ! - Anh Ba Toản nói tiếp, cắt đứt dòng liên tưởng của tôi: - Cùng là lính cả nhưng nông dân có, công nhân có, sinh viên trí thức có, có cả nhà báo, bác sĩ, nhà quay phim, nhạc sĩ văn công nữa. Này, có một anh nhạc sĩ Phan Miên hay Trường Miên gì đó bị đánh đập dữ lắm nhưng vẫn sáng tác được hợp sướng, giao hưởng đàng hoàng. Anh thử tìm xem. Chắc ông này mới biết nhiều chuyện. Rồi có một anh hùng quân đội tên là Hòa, to béo trắng trẻo như Tây bây giờ không biết ở đâu? Tất nhiên trong tù không ai biết, chỉ đến khi ra ngoài rồi, tôi mới được gặp và mới được nghe.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #23 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 06:15:08 pm »

Anh muốn hỏi tôi về chi tiết cuộc sống tù ngục, các ngón tra tấn dã man của chúng nó và các hình thức đấu tranh của ta ư? Chuyện này dài lắm, để người khác kể đầy đủ hơn. Vì tôi ở trong ấy không lâu. Không lâu nhưng cũng đủ nếm trải để nói rằng: Không có sức tưởng tượng nào có thể hình dung ra những cái khủng khiếp của địa ngục trần gian đó. Tôi chỉ muốn nói với anh một điều hết sức thiết yếu. Khí tiết người tù cộng sản phụ thuộc vào sự chịu đựng, tính cách ngoan cường trước bạo lực mới chỉ là một phần, mặc dù là phần lớn, nhưng cái chuyện anh có dám vượt lên tất cả để thoát tù trở về tiếp tục chiến đấu không mới là toàn bộ giá trị và phẩm tiết. Tôi muốn nói đến vấn đề chính, vấn đề có tính truyền thống của tù binh Phú Quốc. Nếu không có vấn đề này thì nhà lao Phú Quốc cũng chẳng có gì để đáng nhắc nhở tới và chắc anh cũng chả lặn lội đến tận đây. Đúng không?

Tôi nói riêng và mọi anh em tù khác nói chung, bị bắt một cái là lập tức nghĩ ngay đến chuyện vượt ngục. Hồi ở Biên Hòa trong trại hỗn hợp Việt Mỹ, tôi đã nghĩ đến trốn nhưng sức yếu quá, sợ công việc không thành. Ra đến đảo đây buổi chiều ảm đạm nhìn cảnh vật mờ mịt trong mưa và tiếng ếch ương kêu thê lương ngoài rào, lòng buồn tê tái mà nghĩ rằng cuộc đời đến đây là chấm dứt, không còn hy vọng nữa. Đông thời cũng ý nghĩ đó đã quất mạnh vào trí não tôi cái ý chí sống tù. Cứ vượt, dù có chết thì cũng là con ma tự do khoáng đạt, còn hơn chết dần chết mòn trong cuộc sống địa ngục đày đọa quá sức tưởng tượng này. Như vậy, trong suy nghĩ về tự do có lồng cả ý đồ tự sát cho rảnh nợ đời. Thế rồi u uất mãi, nhìn mãi vào hàng rào gai trùng điệp, tôi nảy sinh hy vọng có thể thoát được mà không cần phải chết chóc gì hết. Vốn là lính đặc công, việc chui mười lớp rào hay một trăm lớp rào không có gì đáng nói. Nhưng ra với ai? Nếu chỉ một mình tôi thì tôi ra lúc nào cũng xong, nhưng ra rồi, nếu may mắn gặp được cách mạng thì ai chứng minh cho mình, hay lại để cuộc đời chìm xuống hố nghi ngờ tủi nhục hơn của đồng đội? Tôi lần nữa. Tôi thực tâm chưa nghĩ đến chuyện thoát ra. Tâm lý này rất lạ, có trong cuộc mới hiểu được. Đó là tâm lý ngại xê dịch. Trong tù cực nhục thật, sinh mạng mỏng manh thật nhưng còn có anh có em, có bạn bè đông đủ, tức là có cảm mình dù sao cũng còn đang được tồn tại giữa đám đông. Ra ngoài lẻ loi, chết sống thế nào không hay, nghĩ cũng rùng mình. Vả lại, điều này mới thật quan trọng: Ngoài vòng rao kia là cái gì? Núi rừng hoang mạc không có sự sống, đầy rẫy cạm bẫy rùng rợn như chúng nói hay ngoài đó cũng có người, có dân, có một chút gì đó gọi là cách mạng? Chao ôi! Nếu đúng là có người của ta thì còn phải nghĩ ngợi gì nữa. Bung thôi! Bằng giá nào cũng bung. Ngược lại, đây chỉ là một hoang đảo trơ trụi nằm giữa đại dương, không phương không hướng thì chi bằng chết tại đây còn hơn chết trong rừng rậm cho kỳ đà rỉa thịt. Hồi đó Phú Quốc đối với chúng tôi hoàn toàn xa lạ. Nhắm lại tưởng tượng cũng không hình dung ra nó ở phía nào của đất nước. Chúng tôi cãi nhau. Tranh luận đỏ mặt về địa lý, về dân cư nhưng không ai đưa ra được kết luận xác đáng. Những anh em miền Nam tập kết ra Bắc (số tập kết chúng tôi cũng gọi là bộ đội xã hội chủ nghĩa luôn) có lý hơn một chút khi họ láng máng biết về đảo nhưng có lực lượng ta hay không thì người võ đoán nhất trong số họ cũng chịu. Thậm chí có đêm nghe tiếng cối 81 ly nổ ở đâu đây, có người mong mỏi quá đã thốt lên: "Cối của Liên Xô đó. Hồng quân Liên Xô sắp đánh tới rồi!".

Cho đến một ngày mọi mù mờ được sáng tỏ bất ngờ. Đây là một sự kiện lịch sử, một sự kiện có tác dụng quyết định đến tâm lý và dũng khí chiến đấu của tù binh. Đó là sự xuất hiện của cái đầu đạn mồ côi. Giữa trưa nắng chúng tôi chợt nghe thấy mấy loạt súng nổ rộ lên. Rồi những tiếng tạc đạn, tiếng M79 nổ kế tiếp. Trời! Chúng lại tàn sát anh em mình rồi! Chưa kịp bảo nhau thì tiếng súng đã xáp đến gần, ngay ngoài hàng rào. Tiếng súng quen thuộc quá! Chúng tôi ngơ ngác. Chả lẽ lại có AK nổ ở đây? Chúng nó làm gì có AK? Tiếng AK đanh và ấm không thể trộn lẫn với tiếng lách chách của AR15 được. Phải là lính đã từng xông pha trận mạc mới thấy hết được cái tiếng nổ AK nó ấm áp gần gũi như thế nào anh ạ! Rồi có tiếng đạn văng vào mái tôn chát chúa.

Bỗng một người kêu to:

"Đúng đầu đạn mình đây rồi, các đồng chí ơi! Nó mất đà xuyên qua kẽ mái rớt vào đùi tôi!"

Tất cả xúm lại và lặng người đi... Trên bàn tay phù nề vàng bủng của người tù này đang nằm gọn một đầu đạn AK thon nhỏ, bóng láng còn ấm nóng thật. Thế là rõ. Ở ngoài có đồng chí của mình. Các đồng chí ấy đánh địch sát hàng rào để báo hiệu cho ta.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #24 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2011, 06:07:19 pm »

Sau buổi trưa đó trong nhà giam rục rịch chuyển động một cao trào vượt trại. Đầu đạn bé con có tác dụng củng cố lòng tin hơn bất cứ một lời tuyên bố sáo rỗng nào. Nếu tôi nhớ không lầm thì người đầu tiên một mình làm riêng một cuộc vượt tù thời kỳ sau Mậu Thân là Tín, chàng trai Hà Nội bất cứ hoàn cảnh nào cũng điệu đàng đỏm dáng. Nói thêm: Tổng số các cuộc vượt ngục từ hội nghị Giơnevơ trở lại đây hầu như dồn tập trung vào những năm sau Mậu Thân. Đột đông nhất là bốn mươi người, đợt ít nhất là một người. Cậu Tín nằm trong số độc đắc ấy. Và có lẽ không một ai có lối vượt ngục khôn ngoan và tài tử như cậu ta. Tín năm đó chừng hai mươi tuổi, lính trinh sát miền Đông Nam Bộ. Trong tù, Tín là liên lạc viên giữa trưởng trại và giám thị nên ăn mặc, người ngợm có chiều sạch sẽ hơn. Mặt mày Tín lúc nào cũng tươi tỉnh, nói năng lại lưu loát nên được thằng giám thị cũng nể. Không hiểu đưa đẩy sao với tụi quân cảnh, mà cậu ấy xoay xở được một bộ đồ lính còn lành lặn. Thực ra bộ đồ tù và bộ đồ lính cũng na ná nhau nếu không khác về màu sắc, về cái ống quần dài ngắn. Kỹ hơn, cậu ta kiếm than lửa bỏ vào ca i nốc làm bàn ủi. Thành thử bộ quần áo ấy lúc nào cũng thẳng thành cứng nếp. Trong anh em đã có tiếng xì xầm cho rằng Tín biến chất, muốn chơi trội, kiểu này là đã sẵn sàng bán linh hồn cho quỷ để kiếm cơm thừa canh cặn. Không biết có nghe được không, song Tín cứ phớt lờ, lại còn đi lại vênh vang. Đã có người định nửa đêm móc mắt Tín để trừ đi một hiểm họa sau này (bọn chiêu hồi, chỉ điểm thường bị anh em móc mắt, tức là lấy đi cái thứ nhìn lừa thầy phản bạn), nhưng anh Mười Hồng, người Bình Định, phó chính ủy trung đoàn nguyên là giáo viên triết trường đại học Hà Nội, hiện đang là bí thứ đảng ủy nhà giam đã kín đáo ngăn lại.

Thế rồi vào một buổi sáng có chiếc xe chở cá thối của nhà thầu lăn vào sân, đỗ xịch ngay trước cửa bếp...

Ba Toản kể đến đó chợt có tiếng gọi to ở dưới cổng:

- Có việc đó, anh Ba? Nhậu hả?

- Tư Lửa đấy! Người cùng tù với tôi - Ba Toản nói và kêu.

- Lên đây! Muốn nhậu thì có nhậu. Làm gì mà cho nhắn từ chiều bây giờ mới sang?

- Đi rừng bẻ củi, gặp bạn bè nhậu chơi dăm xị, đang chếnh choáng thấy mẹ.

Tư Lửa xuất hiện. Đó là một người đàn ông trên 50 tuổi ốm, đen nhưng có nét mặt linh hoạt và cái cười cởi mở. Nghe giọng nói biết anh người vùng này. Thấy tôi, không xã giao dài dòng, anh nói luôn, giọng thật to:

- Tôi thì ở khu 7, ông này ở khu 5. Nhưng khu "bẩy" hay "năm" thì cũng tương đối thôi. Tỉ dụ mấy cha sĩ quan lúc ở khu 2, lúc lại tót ở khu 9, đổi thay, thay đổi, thay đổi nhằm nhè gì, ông! Thôi, tóm lại là vầy heng! Tôi biết ông nhà báo định hỏi gì rồi, năm trước cũng có một ông đến đây, tôi cũng đã kể cho nghe, nghe chơi thôi nghen! Chuyện cũ bỏ qua, lúc này lo mần ăn và kiếm... rượu nhậu.

- Tôi bị đánh độc hơn ông Ba này. Tới giờ mỗi khi trở trời là cái đầu nhức không chịu nổi. nhiều phen phải ủi đầu vô tường đụi đụi cho đỡ. Chắc ông muốn biết tại sao nó đánh hoài chớ gì? Không có sao hết. Đấu tranh nó đánh, không đấu nó cũng đánh. Đang đêm đi nhậu về, buồn tay ghé vào nhà giam đánh chơi vài cái cho hả. Sáng ra thua bạc cháy túi, ức quá không biết làm sao, lại đổ vào đầu tù. Cũng có lần như thế, anh em ta hè nhau giật súng, bắt vài đứa làm con tin. Thằng trung tá Phước xuống dàn hòa, hứa hẹn nọ kia coi bộ ngon lành lắm nhưng khi ta thả, hắn đánh đòn thù liền. Tuy vậy, kể từ đó chúng lệnh cho tụi quân cảnh nếu có vào nhà giam là tuyệt đối không được mang theo súng. Nó sợ ta giật nữa. Tức cười! Ở ngoài, nó đánh thua ta hoài, vào tù chúng có vẻ như muốn đánh trả đũa.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #25 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2011, 05:30:50 pm »

Chắc ông Ba Toản có kể tên mấy thằng ác ôn. Kể làm gì. Thằng nào cũng ác ôn hết trơn. Mỗi thằng ác ôn một kiểu. Dường như chúng nó dồn toàn bộ những thằng ác ôn nhất miền Nam vô cả đây. Thằng Hiểu, thằng Phước, thằng Hải, thằng giám thị Long, thằng thượng sĩ Tỳ người Quảng Bình, thằng Cương thần sầu... Nhiều lắm, khu nào cũng có, trại nào cũng có. Nhưng tức nhất là bọn chiêu hồi đóng vai trật tự viên. Nó đánh tù còn hơn lính đánh. Trước đây cơm mỗi bữa còn được hai lưng chén, nước được một ca một ngày, nếu có đánh tù thì chỉ thằng giám thị mới có quyền. Nay đánh tuốt. Quân cảnh đánh, chiêu hồi cũng đánh luôn. Đánh để lấy công, để được nhàn thân, nhiều khi chỉ để được thêm một cục thuốc rê khốn nạn. Chính sách "dùng tù trị tù" của thằng cha đại tá Đắc phải nói là độc địa. Chính thằng cha chúa ngục này đã nện đế giày bốt-đơ-sô vào giữa mặt tôi và nói: "Đánh cho mi chết thì thôi, có sống trở về thì Cộng Sản cũng hết xài". "Hết xài" nó ám chỉ hai nghĩa: có ra mà thể xác èo uột cũng coi như bỏ, ví như không èo uột thì Cộng sản cũng mất tin, xài làm gì. Rất tức, thằng này đã nắm bắt không sai cách đối xử với tù binh khi trở về của ta. Không "hết xài" nhưng xài có mức độ, vừa xài vừa cảnh giác. Đau thế đó! Thôi, chuyện này bỏ qua. Đụng tới lại nhức đầu nữa bây giờ.

Anh Tư Lửa sẽ còn nói nữa, nói to, nói thật sôi sục đúng như cái tên "Lửa" của anh, nếu lúc ấy chị Ba không bưng nồi cháo gà lên. Ở đảo, ăn cháo cá, lẩu cá là chuyện thường, nhưng cháo gà lại trở thành quý giá. Nơi đây, để có hạt gạo, hạt thóc nuôi con gà con heo đâu có phải chuyện dễ dàng như trong đất liền.

Chúng tôi húp cháo xì xụp và từ đó hai người bạn tù chỉ toàn nói về cuộc sống đời thường hiện tại. Họ nói về giá cả thu mua tiêu, về đánh bắt bây giờ khó, về người này, người khác trong xã, trong huyện... Lạ thay! Kể về những năm tháng tủi cực chết chóc năm xưa, con mắt họ lại sáng lên nhưng nói về phi lý trong cuộc sống thái hóa hôm nay nét mặt họ lại trầm xuống, day dứt.

Có lẽ sợ tôi thất vọng vì câu chuyện lái sang hướng khác, anh Ba Toản quay qua tôi, cười:

- Nói nốt chuyện cậu Tín hồi nãy nghen!

Như mọi bận, sáng ấy chiêucs xe chở cá đi vào sân. Lợi dụng lúc giám thị và nhà bếp loay hoay chọn cá xấu, cá tốt, cậu ta cứ sổng lưng đi ra lối cửa đã hẹp hết cự mã, như một lính quân cảnh cô độc, chán chường. Đi được nửa đường, đụng một thầy quân cảnh đi ngược chiều, cậu ta bình tĩnh kéo sụp nón xuống. Bất ngờ thằng kia hỏi: "Có quẹt không?". Khổ, mới vào Nam, bị bắt lại ở với toàn tù người Bắc, cậu ấy có biết "quẹt" là gì. Thằng này sinh nghi bèn hất cái nón trên đầu cậu ta đi. Không còn cách nào khác, Tín đấm một cái thẳng tay vào giữa mặt nó rồi bỏ chạy. Vậy mà chạy thoát mới kỳ chứ! Khi bọn chúng quay lại lục soát, thấy trên cọc rào còn vướng lại mảnh giấy: "xin cảm ơn ngài thượng sĩ nhiều". Đó là mảnh giấy của Tín gài lại nhằm chơi khăm thằng thượng sĩ giám thị ác ôn. Mấy bữa sau thằng này bị đổi vô đất liền, chắc là đẩy ra trận. Sau này nghe tin Tín cũng hy sinh trong chiến đấu ở một mặt trận nào đó!

Tôi không hỏi gì thêm. Câu chuyện về Tín đã mở đầu một trang lịch sử hào hùng và đau thương trong quá trình vượt ngục của tù binh nhà lao Cây Dừa mà tôi sẽ cố gắng phản ảnh chân thực trở lại từ trang này trở đi.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #26 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2011, 05:54:22 pm »

Đáng lẽ sáng hôm sau, tôi sẽ nghe được trọn vẹn câu chuyện vượt ngục theo sở trường đặc công của anh Ba Toản nhưng lại nghe tin anh Năm Trì, bí thư tỉnh ủy ra thăm đảo nên tôi vội lộn trở lại Dương Đông ngay. Tôi đang cần gặp anh để hỏi một số điều. Bởi lẽ cái vượt ngục trong tù sẽ trở lên rất khập khiễng nếu không nói đến cái môi trường xung quanh mà những tù binh can trường thoát ra được.

Tất nhiên khi tạm chia tay, tôi vẫn níu thêm một câu hỏi:

- Theo các anh, trong toàn bộ nhà lao có một đường dây Đảng chỉ đạo chung không? Và liệu có một người đứng đầu?

Anh Ba Toản trả lời ngay:

- Chắc không có.

Anh Tư Lửa cũng khẳng định:

- Không thể có được. Có được một đảng ủy, một liên chi bộ và người đứng đầu liên chi bộ ấy đã là may mắn lắm rồi. Ông cứ hình dung mỗi nhà giam là một cô đảo, nhà giam này không thể biết được nhà giam kia. Thế mới hay bộ đội mình ngon lành thật! - Anh gục gặc vẻ đắc ý - Không có sự lãnh đạo chung, không có chỉ thị cụ thể nhưng các chi bộ vẫn tự thành lập và tự tồn tại theo quán tính tinh thần Đảng sẵn có trong huyết quản. Nó giống như hòn đảo này, nhiều phen mất liên lạc với trên nhưng hành động theo trên vẫn luôn luôn trúng.

- Này! - Ba Toản nói giọng cân nhác - Trong tù tôi có nghe đến một cái tên: Ba Trân, ông này là sư trưởng, là cấp cao nhất trong tù, nhưng lại đóng giả thượng sĩ quân y sĩ, biết đâu ông ấy lại chả là người lãnh đạo cao nhất?

- Tôi cũng nghe lính nó kháo nhưng hỏi ai đã từng gặp Ba Trân chưa thì ai cũng lắc đầu - Tư Lửa nói thêm - Còn ông này thì có thật: ông Ba Sinh tức Nguyễn Chí Sinh, thượng ta Tư lệnh phân khu Đông Nam Bộ. Người thì nói ông này đã suy thoái, người lại kêu rất can trường, là chỗ dựa tin cậy của anh em tù! Có khi ổng là lãnh tụ Đảng nhà tù cũng nên.

Tôi thực sự hoang mang, mặc dù toàn thân bỗng nóng hực lên trước luồng thông tin quý báu này. Song tôi lại nhớ đến việc riêng:

- Hai anh có nghe nói một người tù có tên là Quang hay Quyền hay Quảng, người Thái Bình, to con đẹp trai, tiểu đoàn trưởng hay trung đoàn trưởng trinh sát gì đó?

Im lặng. Họ cau mày nhìn nhau và im lặng. Thế là rõ. Tìm một cái tên trong bốn mươi ngàn cái tên dưới hỏa ngục đâu có đơn giản gì.

Toi không dám mở đài nữa. Bởi tôi biết bản tin sáng thế nào cũng điểm đến tình hình vùng Vịnh. Vùng Vịnh đang có nguy cơ làm xiêu đảo cả thế giới này. Rõ rồi!
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #27 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2011, 06:17:21 pm »

8.

Dáng người nho nhã, giọng nói mềm mại, đồng chí bí thư tỉnh ủy định tranh thủ tiếp tôi khoảng một giờ, song chẳng ngờ câu chuyện xưa cũ tưởng rằng đã chìm hẳn trong quên lãng lại lôi cuốn con người đang bận bịu trăm công ngàn việc ấy cùng tôi đi hết một buổi sáng.

- Anh là bí thư đầu tiên của đảo kể từ sau Hiệp định Giơnevơ? - Tôi hỏi.

- Dạ! - Anh trả lời rất khiêm nhường và chính cái khiêm nhường hồn hậu này đã khiến anh lớn lên rất nhiều trước mắt tôi - Nhưng tôi biết anh không muốn hỏi sâu về chuyện đó phải không? Tức là anh không có tham vọng dựng lên toàn bộ lịch sử chiến tranh Phú Quốc mà cái anh đang quan tâm là nhà lao Cây Dừa và Phú Quốc chỉ là một, cái này lồng chặt vào cái kia không thể tách rời (anh cười và tôi cũng cười). Anh muốn biết về thời kỳ mất liên lạc gian nan nhất của đảo trước Mậu Thân, tức là trước lúc anh em tù vượt trại ra ồ ạt phải không? Chà... Dài dòng lắm đây. Phú Quốc đâu có phải chỉ mất liên lạc một lần mà có thể nói là thường xuyên. Mất cả thời đánh Pháp lẫn cả thời đánh Mỹ. Anh nói đứa con Phú Quốc ra ở riêng luôn luôn xa hơi mẹ là trúng đó.

Muốn rõ về phong trào trước Mậu Thân, tôi buộc phải lướt qua từ đầu, từ cái ngày anh em nòng cốt của mình tập kết ra Bắc. Khi đó tôi và mấy đồng chí ở lại được tỉnh ủy chỉ thị định thành lập huyện ủy bí mật. Tên tuổi đổi hết. Tôi là Lâm Minh Mẫn đổi thành Lâm Kiên Trì, anh Giang Lạc Đắc gọi là Bảy Kiên, anh Ba Du kêu tên Trung, anh Sáu Hợi đổi ra Thành và Năm Nhất.

Anh coi: Kiên - Trì - Trung - Thành - Nhất... Có lẽ những cái tên đó nó phản ánh cái tư tưởng một mất một còn, đánh giặc đến cùng của cấp ủy, nó cũng phản ảnh một thời kỳ hết sức cam go ác liệt của phong trào cách mạng sau 1954. Ác liệt, đen tối lắm. Đây có thể nói là thời kỳ đen tối nhất của lịch sử đấu tranh huyện đảo. Làng xóm vắng tanh. Kẻ thù qua lại ngỗ ngược. Bọn ác ôn nổi lên như rươi mặc sức giết chóc dân lành. Bà con đóng cửa im ỉm để giấu đi cái hoang mang tận đáy lòng. Lác đác đã có kẻ chiêu hồi, kẻ phản bội. Anh em chúng tôi tưởng không còn đất sống. Cùng lúc phong trào tạm lắng xuống đó, nhà lao Cây Dừa lại trở nên sôi động với số tù binh ngày càng nhiều. Thú thiệt, thời kỳ này do quậy quã để vực dậy phong trào đang có chiều tan rã nên chúng tôi không còn lòng dạ đâu tưởng nhớ đến nhà tù. Vậy đó! Có những năm tháng nhà tù và huyện đảo là hai vật thể tồn tại độc lập, ở kề nhau, sống trong lòng nhau mà không biết có nhau. Cho đến một lần, vào khoảng giữa năm "năm sáu" gì đó, anh Bảy Phước bí thư xã Hàm Ninh chạy đến báo có một người tên là Mai Thanh, tỉnh ủy viên, Bí thư thị xã Rạch Giá vừa vượt ngục ra chúng tôi mới chợt tỉnh mà nhận ra rằng, dù gian nan tới đâu, dù tình thế xấu như thế nào, sự tồn vong của đảo và của nhà lao là không thể tách rời, là có quan hệ tương hỗ rất mật thiết với nhau. Lịch sử Phú Quốc mãi về sau đã minh chứng nhận thức đó là xác đáng.

Khi anh Mai Thanh ra cũng là lúc đảo bị mất liên lạc, huyện ủy đang tìm mọi cách nối lại đường dây. Phú Quốc năm cha ba mẹ lắm anh ơi! Thời đầu chống Pháp thuộc tỉnh Hà Tiên; khi Hà Tiên nhập vào Long Châu Hà thi Phú Quốc thuộc Long Châu Hà. Đến đình chiến, 1954 thì lập lại hai tỉnh Rạch Giá, Hà Tiên, thì Phú Quốc thuộc Rạch Giá, rồi Hà Tiên nhập luôn vào Rạch Giá. Đến khi tách Hà Tiên ra thành lập tỉnh Châu Hà thì Phú Quốc thuộc Châu Hà. Sau ngày toàn thắng, thành lập tỉnh Kiên Giang thì Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang cho đến ngày nay. Hòn đảo đứng chơ vơ, tùy theo dạng hình của cuộc chiến tranh mà nay của tỉnh này mai của tỉnh khác, nhưng Phú Quốc vẫn là Phú Quốc, cô đơn, tự cường, thương đâu và bất khuất, dù hoàn cảnh nào vẫn một lòng một dạ trung trinh. Tôi nói điều này là nhảy sang lĩnh vực văn chương báo chí mấy anh rồi đó, nhưng thực sự nó là như vậy.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #28 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2011, 06:26:08 pm »

Trở lại câu chuyện mất liên lạc. Tôi nhớ chừng năm "năm sáu" là năm đảo mất liên lạc lần đầu tiên. Tất nhiên trước đó cũng mất liên lạc vài tuần nhưng tình hình chưa đến nỗi căng và chị Năm Lý, Tỉnh ủy viên Rạch Giá được phân công theo sát Phú Quốc còn đi lại hợp pháp được, nên đứt lại nối được ngay. Nay cơ sở bị đánh dứt néo, chuyện đi lại dù bằng hình thức công khai hay bí mật đều khó khăn gắt đế, sơ sở một chút là bị nhận mặt, là bị thộp cổ liền. Điện đài chưa bao giờ có. Trong khi đó biết bao nhiêu vấn đề nóng bỏng phải cần sự chỉ đạo của tỉnh như chuyện chúng nó làm tàng quá vậy, mình kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh võ trang diệt ác có được không? Chuyện anh em tù đã lác đác  ra dần sẽ đối xử và sử dụng ra sao cho hợp lẽ? Sự mất liên lạc thường xuyên này cũng biểu hiện tính chủ quan coi nhẹ kẻ thù và tư tưởng nóng sốt không lo trường kỳ kháng chiến của ta.

Thời gian này ngoài anh Mai Thanh còn có cả anh Năm Khỏe, em trai đồng chí Phạm Hùng cũng vượt ra nữa. Tức cười: ảnh ra, mình tổ chức đưa về đất liền, rồi tiếp tục đi trên một đoạn đường bộ, bị giặc chặn bắt lại nữa. Lại vào tù và mấy tháng sau lại vượt. Không hiểu đến nay anh còn không? Ở đâu?

Ngồi một chỗ ngóng chờ hoài vậy sao? Vậy là chúng tôi tổ chức nối lại đường dây liên lạc về tỉnh. Chuyển đầu anh Bảy Khuê, huyện ủy viên đi. Ghe buồm đáp vào Thứ Sáu Biển thuộc huyện An Biên, đến một gia đình cơ sở. Huyện ủy An Biên nhắn lại với Bảy Khuê là tỉnh đã có cho người ra Phú Quốc liên hệ rồi. Bảy Khuê tưởng thiệt, vội trở về Phú Quốc mà không móc nối được giáp mặt với huyện ủy An Biên.

Bảy Khuê về đến. Chúng tôi mới ngã ngửa ra là chẳng có ai ra cả. Độ mười ngày sau, tôi nhất định tổ chức đi vào đất liền, mà lần này tôi trực tiếp ngồi ghe đi. Sau một đêm trải qua đủ thứ nguy hiểm nhọc nhằn, ghe tôi lại đáp vào Thứ Sáu Biển, đến gia đình cơ sở cũ. Lần này các đồng chí ở xã không đến gặp, mà chỉ nhắn là có tin địch sắp bố, đám thằng Phòng, thằng Dữ đã động quân. Tôi xuống mé rừng mắm ven biển để tìm chỗ "chém vè" nếu có giặc bố thật. Nhưng tới chiều, không nghe động tĩnh gì, tôi trở lại gia đình cơ sở. Bác chủ gia đình bảo tôi nên chạy ghe ra Củ Tron tránh đỡ, êm rồi bác sẽ móc về.

Ghe tôi ra Củ Tron, thì hôm sau đụng đám thằng Lâm Quang Phòng đưa quân ra bố ở vùng đảo này. May thay chúng đổ quân lên một bãi gần đó, đằng này tụi tôi vọt lên núi tránh khỏi.

Tình hình khắp nơi đen tối, cơ sở bể bạt, có những nơi không tin cách mạng kiếm chuyện thoái thoát, tiếp xúc với mình như vậy. Sáng hôm sau, thấy có chờ cũng vậy thôi, tốt nhất là trở về, biết đâu gặp người của tỉnh ra. Ấy, đang nguy nan, trong đầu lại cứ hay nảy sinh những ý nghĩ may rủi như thế. Rút cuộc, lặn lội trở về đến nơi, đảo vẫn vắng tanh!

Sau lần này, đoàn chúng tôi nghỉ chừng một tháng. Chờ tối trời lại tổ chức đi nữa. Chúng tôi mời anh Mai Thanh đến bàn việc về liên hệ với đất liền. Anh là Bí thư thị xã Rạch Giá, dĩ nhiên anh có nhiều cơ sở, anh sẽ là người móc nối lại đường liên lạc với tỉnh. Nhưng phương án đi là: Trước nhứt về móc nối với huyện ủy An Biên, sau đó không được mới mò ra thị xã.

Ghe chúng tôi lại lần thứ ba đáp vào cơ sở Thứ Sáu Biển. Cũng vẫn móc không được với huyện ủy An Biên. Chúng tôi thực hiện theo phương án hai. Tôi tính toán, canh chừng cho đúng giờ ghe mình lên đến vàm kinh Xáng Cụt vô Rạch Sỏi là vừa canh năm, lúc các ghe câu, lưới về ta sẽ trà trộn đưa người vào chợ.

Tôi đậu ghe ngoài vàm, nhờ một ghe lưới cho anh Mai Thanh quá giang vào chợ Rạch Sỏi. Trước đó chúng tôi có trao đổi mật giao ám hiệu và hẹn điểm gặp nhau...

Nắng lên, tôi cho ghe vào bờ. Đến đầu doi Rạch Sỏi, phải lên trình trạm kiểm soát của địch. Tôi đóng vai người bạn trong ghe, nhưng trao đổi với chủ ghe để tôi lên trình, có gì ứng phó dễ hơn, mọi sự cũng trót lọt. Ghe chúng tôi đến đậu tại bến nhà ông Ba Thức, khoảng giữa Rạch Sỏi đến Cầu Quay. Xế chiều có chiếc xuồng bán bánh đến rao bán vu vơ và nhận số ghe, rồi nói lên ám hiệu của Mai Thanh. Chúng tôi nhận thơ anh báo là mai có người đến rước tôi đưa về tỉnh, còn anh cũng về tỉnh nhưng đi con đường khác.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #29 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2011, 06:16:15 pm »

Đêm hôm đó tôi ngủ trong một cái nhà ở gần Lò Heo, người liên lạc hẹn giờ, đến đón đưa bằng đường xe đò. Ác một cái là tôi thì sốt ruột, đến sớm nửa giờ, còn người liên lạc lại đến muộn nửa giờ. Trong một tiếng đồng hồ chờ đợi, tôi đảo ra quán rồi lại đảo xuống cầu, đảo đi đảo lại làm cho bọn tai mắt của địch theo dõi khít nút. Thấy tình hình không êm, tôi định đảo một vòng chót rồi vọt, nhưng may thay người liên lạc lại đến. Tôi ra bến cùng người liên lạc đi về Vị Thanh. Rồi từ Vị Thanh đi tiếp đến Nàng Mau và gặp anh Năm Mai rồi anh Ba Hương bí tư (anh Ba Hương bây giờ là thượng tướng Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đang bệnh nằm ở thành phố Hồ Chí Minh), thế là gặp Tỉnh ủy, nối được liên lạc  sau ba tháng cho vơ côi cút. Lúc trở về, tôi không đi đường cũ. Hồi ấy có máy bay dân dụng từ Rạch Sỏi đi Phú Quốc, tôi đã định dùng căn cước giả, kiếm bộ đồ ngon nhảy phi cơ về cho lẹ, cho ở đảo khỏi ngóng, nhưng rồi mấy anh không cho. Cuối cùng tôi trở lại nhà ông Ba Thức, móc được ghe đi lấy gỗ trở về Phú Quốc.

Từ ngày đó mọi hoạt động của đảo đi vô thế bình tĩnh, bài bản hơn. Đứa con ra ở riêng dù có thể lực cường tráng thế nào nhưng vẫn luôn luôn cần sự bảo ban, tiếp sức của cha mẹ, phải không nhà văn?

Anh cười. Một cái cười rất tươi và khoáng đạt. Nhìn cái cười của anh bữa nay có thể hình dung ra người thanh niên gánh trọng trách bí thư huyện đảo, đi sóng về gió của một thời đen tối ngày xưa. Anh vốn dân Phú Quốc và anh đang kể về một đoạn đời gắn bó với Phú Quốc như đoạn đời đẹp nhất của mình. Những con người như anh là hạt giống đỏ gieo giữa lòng dân đảo, trời càng giông gió, hạt giống càng được dân che chở cho nảy mầm kết trái. Những người dân đảo ấy đã ít nhất trên một lần đã dạy cho Ngô Đình Diệm và sau này kẻ đảo chính hắn là Nguyễn Khánh biết thế là nào phong độ Phú Quốc khi chúng đáp máy bay xuống thị sát vùng đất chiến lược này. Chuyện đó đã được đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh cũng như câu chuyện về người anh hùng Nguyễn Trung Trực và người con gái liệt sĩ tiên liệt năm "bốn mươi" - Cô giáo Đào Thị Lư đã hóa thạch trong ký ức thế hệ mai sau, ta chưa cần nói đến kỹ càng. Cái đáng nói bây giờ là chuyến đi bắt liên lạc lần thứ hai của anh Lâm Kiên Trì. Chuyến đi này quan hệ mật thiết đến số phận những người tù Cây Dừa một khi đã trốn được ra. Một chuyến đi lịch sử.

- Cuối năm 1957 tôi đã trở về tỉnh. Anh Chín Kỳ thay tôi - Anh Năm nói tiếp - Gặp anh Chín Kỳ chưa? Con người hiểu biết thoáng rộng, đang làm ở ban lịch sử Đảng. Anh Chín sẽ cung cấp cho anh khá nhiều thông tin đó.

Như tôi đã nói, sau khi có sự chỉ đạo từ đất liền, Phú Quốc nói riêng, Kiên Giang nói chung bắt đầu khởi sắc. Chưa có lệnh đồng khởi nhưng đã sớm biết tự đứng lên võ trang đánh những trận nhỏ lẻ vô ngay giường ngủ của kẻ thù, gây một tác dụng rõ rệt cho phong trào chung. Những bộ phận võ trang được khôn khéo thành lập. Ở Việt Nam có bao nhiêu tôn giáo thì Phú Quốc cũng đủ bấy nhiêu, không thiếu ví như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hòa Hảo, Cao Đài... Nên những tay súng cách mạng núp dưới những chiêu bài giáo phái này khá ngọt, kẻ thù dù có đoán ra, nhưng chúng không thể làm gì được. Sách lược của chúng cũng đang rất cần tranh thủ các giáo phái cho mục đích diệt cộng của mình. Như vậy, tự nhiên ta có ba tổ võ trang do anh Hai Hiền và Ba Du chỉ huy, vừa để bảo vệ huyện ủy vừa bung ra các địa bàn kết hợp với địa phương diệt ác, tuyên truyền võ trang.

Tại sao tôi hay nói tới diệt ác? Có lẽ ở Phú Quốc, kẻ ác và người ngay luôn ở thế tương quan. Kẻ ác rất ác, đã có thời bà con trong toàn miền thường truyền miệng cái câu: "Ác ôn Phú Quốc" nó giống như người ta nói đến "giống chó Phú Quốc". Nhưng người thiện lại rất thiện, đánh giặc hết mình, đánh giặc đến người cuối cùng, đánh giặc có dòng họ. Nếu nói lịch sử chiến tranh, Phú Quốc là lịch sử chiến đấu đau thương và oanh liệt của những dòng họ, câu ấy quả không ngoa. Dòng họ anh Ba Nghĩa, dòng họ anh Hai Phi đã minh chứng rõ điều này. Cũng như có thể nói, lịch sử đấu tranh của Phú Quốc là lịch sử diệt ác kết hợp với binh vận, địch vận và đấu tranh chính trị. Nếu chỉ lo mặt trận chính trị không thôi thì phong trào không thể lên được. Trong quá trình diệt ác đó không thể không kể đến vai trò của anh em mình vượt tù ra. Lòng căm thù sẵn có, bản lĩnh tác chiến tinh thông, lại lạ mặt, lạ người nên thực hiện hành động diệt ác rất thuận lợi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM