Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:14:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhà lao cây dừa  (Đọc 64633 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #40 vào lúc: 30 Tháng Ba, 2011, 07:02:05 pm »

Song, cũng cần phải coi chừng! Chính một trong những kẻ hay làm ra bộ thương xót mùi mẫn, hay xoa bóp thuốc thang đó biết đâu lại là kẻ thù. Cảm động với nó, tin nó, dần dần thổ lộ hết mọi nguồn cơn với nó, vậy là lộ. Lộ một người còn đỡ, lộ cả chi bộ, cả đường dây thì tổn thất không biết bao nhiêu mà kể.

Vậy mà trong lao tù, ngay cả lòng tốt cũng bị lợi dụng, chính tôi đã có lần phát hiện ra một thằng như thế! Cái gì nó cũng làm quá đi thành ra giả. Một người tù bị phù thũng quá nặng, nước vàng nước đỏ rỉ ra các lỗ chân lông, cổ chân bành ra như chân voi, ấn nhẹ vô một cái, cả tiếng sau không đầy trở lại. Người này được thằng kia giúp cho mấy viên thuốc vàng vàng bọc trong giấy kiến. Vậy là quá tốt. Nhưng một đồng chí quân y sĩ tên là Tuyển người Rạch Giá phát hiện ra đây là thứ thuốc rất quý của Mỹ, chỉ có bọn cố vấn và bọn chỉ huy mới có dùng, còn tại trạm xá chỉ toàn một thứ thuốc rẻ tiền, uống vô phù thêm. Cha này làm sao có? Tôi báo cáo với đồng chí bí thư đảng ủy. Đồng chí này cho người khéo léo kiểm tra. Nó chối vòng vo. Dọa giết. Nó bèn nói thật, vậy là nó tới số. Sáng hôm sau mang xác nó trình thằng tổng giám thị, trình công khai:

- Tên này tính giết hai anh em nên chúng tôi giết nó để tránh cho ông giám thị một sự khiển trách của cấp trên vì tình hình mất an ninh của phòng giam.

Thằng giám thị tái mặt, cố chống chế:

- Mấy người nói thế nào vậy chớ! Cùng là sĩ quan, cùng là tù binh các người với nhau làm chi có chuyện bất nhân vậy.

- Vậy mà có. Một trăm hai mươi người tù cùng xác nhận, ông có thể hoàn toàn tin được.

Không biết làm sao, tên này thét lính mang tên phản bội đi chôn. Chôn cùng với nghiã địa tù binh. Tức là, tại nghĩa địa ấy, không phải chỉ có toàn những con người chính trực mà còn cả những kẻ bán rẻ linh hồn cho quỷ sa tăng. Sau này đào hài cốt, thế hệ mai sau làm sao biết được ai ngay, ai phản bội? Nhưng thôi! Dù sao cũng đã chết...

Theo chỗ tôi biết thì cho tới cuối "sáu bảy", đầu "sáu tám", tại nghĩa trang nhà tù, một khoảng đất rộng nằm giữa khu 5 và khu 7 đã có chưa 2.000 tử sĩ rồi. Hồi đầu năm, chúng nó dùng xe ủi ủi bằng đi một lần, cái lần ấy không rõ đã xóa đi bao nhiêu hài cốt và từ "sáu tám" trở về sau, nghĩa trang còn nhận bao nhiêu xác người nữa? Ít nhất cũng tới 4.000 người. Tôi và những tù binh còn sống sót có thể đoán chắc con số đó. Bốn ngàn tử sĩ trên bốn mươi ngàn tù binh lúc đông nhất, vậy là một phần mười! Đồng chí có hình dung con số ấy nói lên điều gì không? Thiệt là thảm hoạOotssstovenxim hay Austovit của bọn quốc xã Đức chắc cũng chỉ tàn sát đến con số đó, mà bọn Đức còn biết tàn sát gọn nhẹ bằng lò thiêu, bằng khí đốt chứ không tàn sát nhỏ giọt, man rợ như ở đây.

Ông Hai nói một hơi với giọng xúc đông rồi dừng lại. Nắng đã về chiều. Tôi tính kêu ông tạm nghỉ vì không muốn con người già cả này sống quá lâu trong thứ cảm xúc u ám đó, nhưng ông đã nhẹ cười, cái cười thật xa vắng:

- Ác độc cỡ vậy nhưng chớ đổ hết lên đầu lính quân cảnh. Quân cảnh có thằng tốt thằng xấu, cũng như giám thị không phải là quỷ độc hết. Tôi muốn đồng chí nắm câu chuyện một cách khách quan. Vậy thôi. Trong cái trung đội quân cảnh canh giữ khu B2 sĩ quan, tôi có để ý thấy một người trung tuổi, khoảng chừng ba mươi hay hơn ba mươi gì đó, người này ít nói, đi lại nhẹ nhàng và hay hướng cặp mắt buồn buồn lộ vẻ thông cảm về phía chúng tôi. Chính người này đã không ít lần lén mang nước, mang thuốc đỏ cho chúng tôi lau rửa vết loét bị sâu cho các bạn tù. Nhưng mà cho lén thôi, thường để ở lùm cỏ chân rào hay làm lộ vô tình để rớt xuống rãnh nước khô. Nếu lộ, anh ta sẽ bị quy tội tiếp tay cho kẻ thù, và như vậy dứt khoát sẽ bị trừng trị.

Một lần, cực quá chịu không nổi, một tù binh đã chui trong thùng rác để hy vọng khi bạn tù khiêng ra ngoài rào đổ đi sẽ có cơ trốn thoát. Chui trong thùng rác thế nào ư? Tức là toàn bộ người ngập trong rác rưởi, chỉ hơi để hở mặt mà thở, cái phần hở này được hai bạn tù lấy rác rưởi lá lẩu phủ lên che đi.  Phương cách trốn trại này không mới, ở khu A1, đã có lần tù ra thoát bằng chui vô thùng than xỉ đem đi đổ. Chúng rút kinh nghiệm, thùng than nào cũng chọc lưỡi lê vô nát bấy rồi mới cho đem đi. Kiểu ra thùng than không được nữa thì bằng kiểu thùng rác. Rác rưởi để lâu bốc mùi không thể chịu nổi nên bọn lính thường bịt mũi tránh xa. Nhưng lần này gặp phải hai người khiêng yếu quá nên dáng đi lắc lư. Thằng trung sĩ giám thị giỡ súng chặn lại.

- Ê mày! Rác rưởi gì mà coi nặng mòi nặng dữ vậy? Để xuống coi!

Hai người tù tái mặt. Thằng ác ôn này dám xọc bậy lưỡi lên vô lắm. Chưa biết xử lý sao thì người lính có đôi mắt rầu rầu đó đã bước tới, giọng anh ta đanh lại.

- Thôi đi, trung sĩ! Kìm kẹp người ta như vậy chưa đủ sao mà có cái thùng rác cũng dò xét. Kỳ quá!

- Đây không phải phận sự của anh - Tên giám thị nhếch mép - Phận sự của mấy anh là ôm súng canh giữ còn không xong, muốn nói gì?

Hắn rút súng xăm xăm bước tới chỗ hai người.

Bất ngờ, anh lính quân cảnh chĩa thẳng khẩu AR15 vô ngực hắn và nói:

- Đứng lại! Mày tiến lên một bước tao bắn. Đ.mẹ! Có giỏi ra chiến trận mà khoác lác, giỏi gì đi hù dọa mấy người tù ốm yếu tay không.

Tên giám thị sựng lại. Theo lẽ là giám thị dù đeo lon trung sĩ thôi nhưng quyền hành cao lắm, tương đương đại đội trưởng quân cảnh hoặc có phần hơn vì ăn ngành dọc lên chỉ huy trưởng và cố vấn Mỹ, thậm chí có thể ăn lương của CIA; tên này có thể bắn bỏ hoặc tống giam bất cứ người lính nào cản trở công việc, nhưng lúc đó có lẽ do thái độ người lính quá dữ tợn, lại thêm mấy người lính khác gầm ghè xáp đến nữa hắn tháo lui, vừa tháo vừa làu bàu... Tất nhiên mấy bữa sau, người quân cảnh có ánh mắt u buồn này bị đổi đi đâu mất mà tôi chưa kịp biết tên tuổi. Thực chất, hai lực lượng quân cảnh và giám thị thường xung khắc với nhau. Giám thị thì phách lối, hưởng bổng lộc cao và hay ton hót cấp tên, còn quân cảnh thức đêm thức hôm, đụng việc là phải càn rừng lội bưng rất cực mà bổng lộc không có gì.

Lại có người lính khác, trong một lần dẫn tù đi lấy củi đã chợt nhận ra đồng chí Ba Năm, người Sông Bé là cậu ruột của mình nhưng không dám lên tiếng. Ông cậu cũng nhận ra cháu nhưng do mặc cảm đối kháng hoặc không muốn gây lụy cho đứa cháu đi lạc đường nên mần thinh. Thái độ mần khinh đó làm người cháu tủi hổ, càng tủi hổ hơn khi có một lần thương cậu quá, người cháu lén đưa cho cậu một ổ bánh mì nhưng cậu không nhận còn làm mặt lạnh quay đi. Cuối cùng, sau những đêm trằn trọc, chắc thế, người cháu kiếm cớ đánh tháo cho cậu và mười người nữa chạy vô rừng, bản thân ở lại cho một phát đạn vô đầu...

Lần khác có một đảng viên do quá nghi ngờ anh em trong phòng giam của mình, lại cũng không chịu nổi sự lẻ loi cô đơn về đoàn thể  nên đang đêm chui bảy lớp rào sang nhà giam bên cạnh tìm đồng hương có quen biết cũ để lập chi bộ. Đang chui bị phát hiện, nghĩ phen này chắc chết, ấy vậy mà người lính đã phát hiện đó lại giả đò vạch quần đái ngay trên đỉnh đầu, nói nhỏ:

- Ông nội liều quá trời! Muốn chui sang bên thì phải chờ khuya khuya chút chớ, giờ này người ta còn thức cả. Trở lại lẹ đi không ăn đạn bây giờ.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #41 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 06:36:49 pm »

Có thể kể được nhiều chuyện kiểu như vậy lắm. Nhưng cái đầu bây giờ ụ ị đi nhiều rồi, muốn nhớ mà không nổi. Ồ! Có nghĩa là tôi đã đề cập với đồng chí sang vấn đề vượt ngục hỉ? Tôi biết đồng chí từ nãy giờ làm bộ chăm chú cũng chỉ để chờ nghe chuyện vượt ngục này - Ông cười ranh mãnh một cách bất ngờ - vậy tôi xin chiều đồng chí hỉ?

- Vâng! - Tôi thú nhận ngay - Chắc bác ra bằng đường khoét hầm?

- Không! Tôi ra bằng cách chui rào.

Chợt thấy vẻ mặt tôi có chiều thất vọng của tôi, ông lắc đầu cười:

- Biết mà, năm trước có mấy chú báo chí, truyền hình ở thành phố đến đây cũng chỉ nhăm nhăm hỏi chuyện khoét hầm và người khoét hầm, phải thôi! Nói đến tù Phú Quốc là nói đến sự tích đường hầm. Sự tích này còn ly kỳ gian khổ bằng mấy chuyện đào đường hầm ở Côn Đảo mà một cuốn sách nào đó ra đã lâu có nói đến.

- Không... Thưa bác! Là tôi cũng chỉ muốn... - Tôi chống chế vì e phật lòng ông già.

- Thôi tôi biết rồi! Mà cũng có nghĩ ngợi gì đâu. Vượt kiểu gì thì vượt, miễn là ra thoát được. Có thể nói tù binh Phú Quốc có ba cách ra phổ biến, cách thứ nhất là chui rào kiểu đặc công, cách thứ hai là đánh lính đoạt súng khi đi làm tạp dịch bên ngoài, và cách cuối cùng cũng là cách gian nan nhất là đào hầm, chưa nói đến hàng chục cách vượt lẻ tẻ khác như đoạn trên tôi vừa kể sơ. À, coi nào! Đúng rồi! Về khoét hầm, đồng chí có thể tìm một người tên là Lê Xuân Các, nhà giam hạ sĩ quan. Anh này là thần đào hầm đó. Sau này ra ngoài chiến đấu, gặp gỡ nhau luôn nhưng tôi đâu có để ý hỏi quê quán ở đâu. Nghe nói là người Nghệ An hay Thanh Hóa gì đó, thử hỏi Ba Toản coi.

- Dạ hỏi rồi! Anh Ba Toản cũng không biết. Lại có người bảo Lê Xuân Các hình như đưa vợ con vào Sông Bé làm ăn rồi. Nhưng không sao! Không tìm được người này thì có người khác, chú Hai! Bây giờ chú Hai kể kỹ cho nghe chuyến ra lối đặc công của chú.

- Chà! - Ông Hai Hội lắng đi một luc rồi mới nói, mắt nhìn vuốt xa ra ngoài nắng như nhìn ngược trở lại một miền ký ức - Chuyện lâu rồi! Hơn hai chục năm trường rồi mà khi nhớ tới, lại nghe rần rần trong mình như chuyện mới xảy ra ngày hôm qua.

Đồng chí nên hiểu, dù sống trong tù cực nhục như con vật vậy nhưng không phải ai cũng nung nấu ý chí vượt ra đâu. Ít lắm! Vài chục người trên một trăm người, thậm chí chỉ vài nhóm, vài người. Nhóm này trông chừng nhóm kia ra có ngọt không rồi mới quyết định tới nhóm mình. Có khi quyết định rồi mà vào giờ phút cuối cùng lại thay đổi thái độ. Vả lại theo lối chui rào này đỏi hỏi gọn nhẹ, hoàn toàn bí mật như đánh đồn nên một lúc cũng không ra được nhiều.

Chi bộ tôi có Tư Phước và Bảy Minh như trên tôi đã nói. Tư Phước là đại úy đặc công vốn ở cùng trung đoàn, Bảy Minh ở mặt trận khác nhưng đã có lần gặp ở hội nghị tổng kết đánh đèo Măng Giang năm 1966 - Tóm lại lập tổ, lập chi bộ phải biết kỹ về nhau, quyết định vượt ngục lại càng cần độ tin cậy cao hơn. Chỉ cần một người chờn vờn dao động chứ chưa nói sợ hãi cung khai là cả nhóm chết theo rồi.

Chúng tôi quyết định rủ thêm hai người nữa cho đủ bộ năm để xứng một công ra. Người thứ nhất là một đại úy già đang bị chúng nó trù úm không biết đem đi thủ tiêu lúc nào. Chúng tôi muốn ông tránh trước được tai họa đó. Vậy mà ông trả lời: "Các cậu quyết định vậy mình hoan nghênh, nhưng ra được một vài mống nhằm nhè gì, ngày hôm sau chúng có cơ hành hạ chung cả phòng. Đấy là chưa kể các cậu không ra nổi, nằm chịu chết trong hàng rào. Nghĩ cho kĩ đi!". Còn nghĩ gì nữa. Tôi rủ quân y sĩ Tuyền, Huỳnh Thành Tuyền, cậu anyf cũng tốt, tỏ ra chững chạc trong mọi tình huống, ấy, chính cái cậu đã phát hiện ra thằng gián điệp mang thuốc phù nề loại quý vào trong tù đó. Hơn nữa, trong những ngày lang thang rừng núi tìm về cách mạng, nếu ra được thì sự có mặt của một y sĩ là rất cần. Nhưng cậu này cũng dội luôn: "Mấy anh coi: đèn đóm, chó, ngỗng, mìn trái dày đặc thế kia, ra không nổi đâu".

Vậy là chỉ còn có ba. Cả ba đều là dân đặc công trinh sát, cũng như trong tù thời gian này phần đông là lính trinh sát đặc công. - Ba mống hội ý đi hội ý lại, mà đâu có dễ ngồi lại với nhau bàn bạc, ngày hay đêm (ban đêm trong phòng cũng để đèn sáng trưng) chúng đều kiểm soát gắt gao, chỉ cần một dấu hiệu lạ, ngồi tụm năm tụm ba là xộc vào liền, mới quyết định được ngày ra là ngày 5, tức là ngày sinh của tôi (mồng 5 tháng 5).

Trước hết chúng tôi bỏ mười đêm thay nhau không ngủ, nằm áp tai xuống đất lắng nghe bước chân đi lại, tiếng xe lăn bánh ở ngoài xa để nắm thật chắc quy luật hoạt động của chúng. Ban ngày thì giả đò mang tú lơ khơ ra sát chân rào chơi, vừa chơi vừa dõi mắt quan sát ra khắp xung quanh. Cuối cùng có thể kết luận được cái khoảng chập choạng tối là giờ chúng lơ là canh gác nhất. "Nhất chạng vạng - Nhì rạng đông". Hồi ở ngoài thường đánh đồn vào hai khoảng thời gian này thì ở đây cũng vậy.

Còn hai ngày nữa, ba chúng tôi đồng loạt khai bệnh đau bỏ cơm. Lúc này tình hình dân sinh dân chủ do ta đấu tranh không khoan nhượng nên đã được cải thiện chút ít. Không ăn cơm, chúng cấp sữa, loại sữa đã để quá hạn trong kho quân tiếp vụ hàng mấy năm, mở ra toàn một chất lỏng đỏ quạch. Mỗi ngày ba người được nửa lon, hai ngày một lon. Ba người một lon cũng tạm đủ để làm lương khô lúc đi đường. Đường đi bao xa, lâu hay mau, phải vượt qua những trở ngại khủng khiếp nào, chúng tôi chưa biết nhưng chắc chắn rằng ở ngoài có lực lượng cách mạng. Bên trại giam Ba Toản còn có đầu đạn rớt vô để nhận biết, trại giam bên này lại dựa vô mấy tay quân cảnh đào ngũ cũng bị chúng bắt đi bửa củi chung. Họ cho biết ở ngoài có cách mạng. "Vậy, cứ nhằm hướng pháo nổ mà đi!" - Tôi nhủ thầm.

Trước khi đi một ngày, tôi chính thức báo cáo với đồng chí Hồng bí thư đảng ủy là công việc chuẩn bị đã xong xuôi. Đồng chí bí thư dặn:

- Ra được người nào có lợi cho cách mạng người đó, các anh cứ yên tâm ra đi, việc ở lại nếu có gì đã có chúng tôi. Còn một hộp thuốc hồi dương tôi giấu được, mấy anh đem đi đường mà dùng, cần lắm đó.

Bịn rịn, tôi mời anh cùng ra. Anh lắc đầu, cười buồn:

- Muốn lắm! Chỉ cần ra khỏi hàng rào gai, ngắm trời ngắm đất cho đã một lần dù chết cũng cam. Nhưng tôi yếu quá rồi, không khéo lại làm phiền, làm lỡ việc mấy anh. Vả lại trong này còn có nhiều việc, tôi chưa thể vắng mặt được.

Tôi khóc và nắm chặt bàn tay trở xương của anh. Những năm tháng lao tù, những cán bộ Đảng như anh thầm lặng nhận tất cả nặng nhọc về mình, nhường thuận lợi, nhường cả khát vọng tự do cho đồng đội. Rất tiếc tôi lại không nhớ được tên họ thật của đồng chí này.

Ngoài lon sữa, chúng tôi còn được anh em lén đưa cho một lon nữa và hơn một ký cơm cháy không biết anh em phơi khô để dành từ bao giờ.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #42 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2011, 07:15:06 pm »

Buổi tối đi thì buổi trưa có người báo cho chúng tôi biết trong phòng có kẻ đang theo dõi, hãy cẩn thận. Tôi biết thằng đó. Mấy bữa nay thấy chúng tôi thường đi ra đi bô quan sát hiện trường, nó đã để ý nhưng không bằng chứng gì nên không ra mặt. Anh Bảy Minh là người tuy ở tù nhưng còn có sức vóc do sáng nào cũng tập thể dục đến vã mồ hôi nhận trách nhiệm dằn mặt nó. Đến giờ ăn cơm, thừa khi nhộn nhạo, anh siết chặt cổ tay hắn, nói:

- Thằng khốn nạn! Mày đang theo dõi cái gì? Mày có muốn đi theo cái số kiếp trâu chó của thằng bạn mày mấy tháng trước không thì nói! Tao tạm tha, từ nay tao còn thấy cặp mắt của mày láo liêng nữa là cho rớt ra ngoài đó nghe không?

Thằng này tái mặt. Nó còn lạ gì tính khí Bảy Minh, người ta đã từng dùng tay móc đui mắt kẻ chiêu hồi dạo nọ. Nó lỉnh đi nằm bẹp một xó và từ giờ đó không dám ngóc mặt lên nhìn ai nữa. Chắc đồng chí hỏi tại sao không trừ luôn nó đi để tránh hậu họa cho người sau? Khó đó. Một là nó chưa hội đủ bằng chứng, hai là gây án mạng lúc này rất bất lợi, địch sẽ phong tỏa không lọt ra được.

Chúng tôi không đi đúng ngày 5 mà chuyển sang ngày 6 để đón mưa. Đêm ấy mưa thật. Mưa rả rích không nặng hạt nhưng cũng đủ để nhòa đất nhòa trời rất lợi cho việc bò rào.

Hành trang đi đường của chúng tôi ngoài cơm khô, lon sữa ra, còn có thêm một chiếc võng tự khâu bằng bao bố đựng cá xin được của nhà bếp để phòng khi phải cáng nhau và con dao găm khá bén làm bằng cán ca USA để chống trả cá sấu nếu đúng xung quanh đây đầy cá sấu như bọn lính hù dọa.

Phòng giam ban đêm đóng cửa. Cửa cũng bằng thiếc, đóng sơ sài không có khóa chốt, có thể khéo léo nâng cậy lách mình qua được, nhưng chúng tôi khộng chọn lối ra ấy để tránh con mắt đã quen hau háu nhìn vào vách cửa của bọn gác. Chúng tôi ra bằng kẽ hở của chân tường. Kẽ hở này hẹp, chỉ rộng hơn một gang tay, người bình thường khó qua được nhưng thân xác tù tong teo chẳng khác chi con nhái, hẹp vậy chứ hẹp nữa vẫn có thể dán mình trườn qua không tiếng động, miễn là cái sọ dừa đừng kênh kênh quá!

Cẩn thận lôi cái ca đựng đầy sình đã chuẩn bị sẵn ra khỏi hốc phản, chúng tôi thay nhau trét kín vô người làm một động tác hóa trang đặc công thông thường rồi bắt đầu khởi sự.

Sắp ra hết tường, tôi quay nhìn lại phòng giam lần chót để thấy những đồng đội thân thương của mình vẫn đang nằm úp thìa, gầy guộc, rách rưới trong giấc ngủ nặng nhọc, để đón nhận ánh mắt duy nhất của đồng chí bia thư đảng ủy nhìn theo khích lệ rồi trườn tiếp qua sân. Chúng tôi không hề hay rằng đây là lần cuối cùng còn được nhìn người cán bộ Đảng chững chạc, trầm lặng và hết lòng vì anh em ấy. Khoảng sân này rộng chừng hai chục thước, trắng lốp không một ngọn cỏ, nếu trời trăng thì chịu nhưng may mắn là trời đang mưa, ánh sáng lòa nhòa, bọn gác cũng đang bận chụp áo chụp mũ tránh nước mưa tạt tứ bề nên - bằng những động tác đã được luyện tập kỹ lại dưới gầm phản mấy ngày vừa rồi, chúng tôi vượt qua không mấy khó khăn.

Bây giờ mới là công việc chính, vượt qua hàng hai, ba chục lớp rào đầy mìn trái, chó, ngỗng bao bọc phân khu và khu. Hết hàng rào của khu, còn phải lọt qua bảy lớp hàng rào toàn bộ nha tù nữa. Liệu có xong được trong đêm không hay là sáng ra còn nằm ló đuôi giữa đống bùng nhùng kẽm gai để lính nó nhặt về đóng đinh vô sọ.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #43 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2011, 07:13:14 pm »

Đã đánh đặc công trên chục trận nhưng chưa có cứ điểm nào lại có hệ thống rào như thế, nếu là mục tiêu tác chiên, chúng tôi phải bỏ ra bốn đến năm đêm mới chui qua hết. Chỉ có cái khác là trước đây bò vô, bây giờ bò ra. Bò ra có cái dễ và có cái khó của nó. Tức là người lính vượt ngục phải thực hiện một mục tiêu ngược.

Mìn trái đối với chúng tôi không ngại. Rà phá quen tay lắm rồi, dây nhợ kiểu nào cũng phát hiện ra. Nhưng còn chó, ngỗng thì thật là nan giải. Theo lẽ, muốn khắc phục ba cái con vật mắc dịch này phải vô hiệu hóa được chúng bằng cách "miễn dịch". Tức là ngày ngày phải xé quần xé áo của mình ra từng miếng nhỏ quẳng cho chúng nhai hít hoặc ráng tạo điều kiện gần gũi, kè kè da thịt vô mõm chúng để dần dần tạo cái thế quen hơi bén mùi cho khi ra. (Sau này tụi chỉ huy hình như biết thóp, chúng đột ngột đổi chó như đổi quân cảnh để chống lại khả năng "miễn dịch" của ta). Đằng này bọn tôi vội quá, không kịp huấn luyện chúng vì để chậm hơn, theo một nguồn tin của anh em quân cảnh giác ngộ cho hay, chúng sẽ lôi phân nửa số tù sang khu biệt giam khác. Trường hợp Ba Toản còn căng hơn: Nếu chỉ ra chậm một ngày thôi là cả cái tổ "cứng đầu" ấy sẽ bị gọi đi thủ tiêu.

Cái có thể yên tâm là cả tháng nay áo xống của ba thằng đã làm bộ vô tình quẳng đạo lên hàng rào phơi trước mũi chúng cả ngày lẫn đêm rồi.

Đúng như dự đoán, sau khi gỡ được mấy trái mìn, kể cả thứ mìn râu nằm sâu trong đất chỉ ngóc cái râu bằng que tăm lên trên mà khẽ ấn xuống chút xíu, nó sẽ nhảy dựng lên nổ ngang mặt, có thể cho đi tong cả một con bò khổng lồ; chúng tôi bò tới lằn ranh súc vật. Tôi bò đầu, Tư Phước bò sau, Bảy Minh bò sau nữa. Khi nào mệt, căng thẳng quá sẽ dùng chân bấm báo hiệu hãy chuyển chỗ thay cho nhau. Có lẽ do mưa rét nên đêm ấy chó, ngỗng cũng co cụm lại, lia rách mắt cũng chỉ thấy những vật thể đen sì không ngọ nguậy. Ổn rồi! Tôi nhoai người lên trước... Bỗng tôi lạnh toát khắp người. Có một cái gì đó nhờn nhờn ram ráp đang chạm vô be sườn tôi, chả lẽ chúng lại mới sinh cái trò thả rắn? Tôi nằm cứng người và nhịn thở. Cái nhờn nhờn chuyển lên lưng... lên vai... rồi lên cổ. Nhột không chịu nổi. Cùng lúc, một mùi hơi ẩm xì xộc vào mũi... Ôi chao! Một cái đầu chó bự bằng cái đầu sư tử đang há hốc miệng nóng giẫy vô mặt tôi. Mày cắn, tao sẽ căn lại rồi muốn sao thì sao! Tôi nghĩ thế và ráng im thở thêm chút nữa. Thời gian trôi qua lâu bằng cả cuộc đời. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là thời gian ngưng đọng đặc quẹo như mấy cha nhà văn hay nói. Thật hên! Có lẽ con béc giê giống Anh đã nhận ra một hơi hướng quen thuộc hoặc nghĩ rằng tôi là một xác thịt đã thối rữa nên sau khi liếm quấy lên mặt tôi một cái, nó khìn khịt bỏ đi. Dáng đi của nó đủng đỉnh giá lạnh như thần chết...

Cứ thế, gần sáng, chúng tôi đã ra hết lớp rào cuối cùng, sau khi đã gỡ thêm được non chục trái nữa. Trên đường ra chỉ có một sự cố nhỏ. Tự nhiên cả nhà tù mất điện vào lúc hai giờ. Có lẽ điện chập mạch do mưa hoặc nhà đèn hư aptomat? Vậy là chúng bắn. Khắp nơi đều bắn. Đạn xì xé nát màn đêm. Vừa bắn chúng vừa la hú: "Ê! Thằng nào kia?... Đứng dậy đi, tao nhìn thấy rồi. Ê! Thằng nào kia nữa? Thảy tạc đạn cho chết mấy thằng tù đang bò lóp ngóp kia, anh em!". Chà! Cái trò con nít đụng hoài rồi, kệ cha nó, việc mình bò cứ bò. Đèn tắt, chúng huy động các loại xe ra mặt lộ giữa rồ máy rọi đèn pha sáng quắc và trực thăng cất cánh thả hỏa châu rơi nhòe nhoẹt trên đầu nữa. Vui như ngày hội hoa đăng. Cứ lẩn mẩn nghĩ giờ này ngoài ba đứa tôi ra, liệu còn có tốp vượt ngục nào khác cũng đang nép mình nằm dưới ánh sáng đủ màu này không?

Tình trạng hỗn loạn đó kéo dài được nửa giờ đồng hồ thì đèn đóm lại bật sáng. Chúng tôi tiếp tục bò, đoạn nào lom khom, hoặc ngồi xổm, đi được thì đi. Để ra được đến ngoài, chúng tôi phải vận động không ngừng nghỉ mất gần 8 tiếng. Tám tiếng ấy chúng tôi đã trườn qu đội hình 2 khu và 4 phân khu tức là trườn chéo qua khoảng tám mươi cái nhà giam anh em mình. Bỗng dưng, đồng chí ạ, cứ ước ao đây không chỉ là một số mà là đầy đủ một trung đoàn, nhất định sẽ phá phăng cái nhà lao khổng lồ này ngay trong đêm nay.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #44 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2011, 05:58:34 pm »

Khi mình nằm sấp ở ngoại vi hàng rào nhìn lom lom vô trong bỗng thấy lòng dạ nhói lên. Thế là thoát! Thoát có ba thằng, liệu ngày mai chúng nó có hành hạ trả thù anh em còn ở lại không? Tự dưng ân hận cớ sao không rủ thật nhiều người cùng ra! Ra được kia mà. Thôi, đời tù ngục nó là như vậy, xin tạm biệt tất cả anh em. Theo lệ thường, sớm mai chắc anh em sẽ lấy đá ném sang khu bên cạnh có kèm theo mấy chữ thông báo khu bên này đã vượt ngục thắng lợi một tổ... Xin cảm ơn anh em đã nhịn cơm, nhịn sữa, thuốc, nhường cho chúng tôi. Cảm ơn...

Ngày hôm đó chúng tôi ém tại một lùm cây rậm rạp có sình lầy ở dưới, cách nhà tù chừng hai cây số. Hai cây số là đủ để chứng không dám mò ra đi lùng sục vì sợ trái gài của du kích, và chúng tôi cũng không thể đi xa hơn vì trời sáng mất rồi.

Một ngày ngồi thu lu thần kinh căng thẳng, gạo sữa mỗi người chỉ dám nhấm nháp một chút nhưng thấy thấm thía vô cùng cái nghĩa của tự do.

Sẩm tối, chúng tôi nhằm hướng Bắc đi tới. Tại sao lại hướng Bắc? Cả hòn đảo này, chỉ có hướng Bắc là lắm núi nhiều rừng, mà ở đâu có nhiều núi rừng là ở đó có căn cứ cách mạng. Tôi suy đoán áng chừng vậy và cương quyết cắt đi.

Đi được một lúc thì đụng một cửa biển. Nếu không nhầm thì đây là cửa Cầu Sấu như tụi lính kháo. Men theo bờ lại sợ vướng đồn, cả bọn quyết định đi tắt qua cửa biển bằng cách bẻ củi khô ghép thành bè. Chà! Bè mới trôi được một đoạn thì đã nghe tiếng sấu đập đuôi ùm ùm khắp xung quanh. Kệ nó, miễn là không rớt khỏi bè và bè không bị chúng phá tan. Mà dù có tan cũng không sao. Mỗi người đã có một con dao găm inoc sẵn sàng ăn thua với chúng, xá gì. Chết ư! Cũng được thôi, kinh khủng thật nhưng còn ngàn vạn lần hơn chết tức tưởi trong tù. Sự vũng tin pha một chút bất cần này đã khiến chúng tôi tạo được sự tỉnh táo cần thiết để tiếp tục vục tay xuống khoát nước thay mái chèo. Tiếng sấu quẫy thưa vắng dần. Kỳ thực đó là tiếng sóng vỗ vào hốc đá chứ không phải là tiếng sấu đập đuôi, bởi lâu nay nghe bọn lính hù dọa mà chúng tôi tưởng tượng ra sự rùng rợn như vậy.

Đi được chừng hai cây số thì ai nấy đã thấm mệt, nhất là khát, chịu không nổi, Tư Phước bụm tay uống mấy vốc nước mặn. Lạ chưa? Không rõ bụng dạ trong tù ăn uống tồi tệ thế nào mà mới chạm nước biển một chút là ông ỉa chảy liền. Chảy dữ dội, chỉ thoáng chốc toàn thân đã rũ ra như tàu lá héo. Tôi vội khui hộp thuốc hồi dương của đồng chí cán bộ Đảng đưa cho nhét vô miệng Tư Phước! Mấy phút sau cơn đi chảy cầm được.

Thêm một tiếng nữa thì đụng bờ. Chèo qua ghềnh đá vô sâu trong rừng thấy có lán trại, cọc cành đã mục, mừng lắm. Vậy dứt khoát có người của ta. Bọn lính không có lối ở lán trại kiểu này. Phấn khởi xóa dấu chân hăm hở đi tiếp. Vẫn men theo bờ đi về hướng Bắc. Đi lò dò từng đoạn để lắng nghe động tĩnh. Cái sợ nhất lúc này là đâm đầu vô lính. Sáng ra vội tạt vô rừng. Gặp mạch nước trong, cả ba chúi đầu chúi cổ làm một bụng no tròn. Thỏa thuê rồi trèo lên chạc cây ngắm biển, ngắm mặt trời lên mà ngây ngất cả người. Mang tiếng là tù đảo nhưng ra đảo đã lâu rồi, có bao giờ được nhìn cảnh biển cảnh trời hùng vĩ dường này!

Rừng rậm kính bưng. Yên bụng lăn ra ngủ. Một thức hai ngủ. Chưa bao giờ có một giấc ngủ giữa rừng ngon lành đến thế. Trưa tỉnh dậy, bụng đói cồn cào. Lại lấy cơm khô nhấm nháp vài miếng rồi uống nước cho cơm trương lên. Một cân cơm ấy, mỗi người chỉ cần táp mấy miếng là sạch trơn nhưng đâu dám. Phía trước còn bao nhiêu ngày lặn lội nữa, ai mà hay. Thấy cây cám, mừng quá, nhảy lên trèo hái đầu một chiếc quần lót để làm lương khô dự trữ. Riêng hộp sữa dở, chỉ dám cho Tư Phước mút hai mút rồi đóng lại. Nhìn cái miệng cậu ấy chóp chép còn thèm mà thương quá!

Nắng dịu, cặp rừng đi. Cả ba gần như trần truồng, thân hình chỗ đỏ chỗ đen dòm như ba gã người rừng trong phim truyện của Pháp hồi đi học có được xem.

Gần tối, phát hiện thấy một chiếc thuyền cây từ ngoài khơi đang đi vô. Tưởng là thuyền đánh cá của dân, tính khoát tay gọi vô xin đồ ăn và hỏi thăm, quá giang nhưng thoáng thấy màu áo lính lại thụt vô. Đây là con tàu tuần tiễu biết đâu đang đi đón lõng mấy thằng tù vượt? Đi tiếp. Trong ráng chiều chợt phát hiện ra ba chút sứa đang bị sóng triều dềnh lên dềnh xuống ven bờ cát. Đến gần nhìn kỹ. Một màu đỏ mọt màu tím và một màu trắng to bằng bàn tay. Mới cầm vô cái thân mềm mềm ấm ấm của nó, nước miếng đã muốn nhểu ra. Thèm quá! Vội bứt lá rừng, loại lá sức cạnh cắt nhỏ từng chú ra thành những miếng hình quân cờ béo ngậy, sau đó anh em lấy nhúm muối đã xin được trong bếp tù ra bóp bóp, nắn nắn, và ăn, ăn lấy ăn để... Chưa hết một miếng, cả ba đã nhổ phì phì. Nhổ hết mà lưỡi vẫn ngứa cong lên. Bảy Minh hụp miệng xuống biển súc sùng sục, vẫn ngứa. Tư Phước thò tay vô miệng muốn móc họng ra... Đến là khổ! Sau mới biết: loại sứa xinh xẻo bằng bàn tay là sứa lửa, ăn vô có khi chết. Vậy mà không hiểu sao chugns tôi chỉ bị ngứa lưỡi thôi.

Trời còn chạng vạng, tranh thủ đi tới nữa. Gặp con suối nhỏ. Mò bì bõm hồi lâu không bắt được con cá nào. Tôi chộp được mấy con tôm bằng ngón tay út chia đều ra. Con tôm còn đang nhảy nhảy, bẻ qua râu càng rồi nhét tọt vào miệng, đệm thêm hạt muối, nhai bã ra rồi mới nuốt. Chao! Ngọt như sâm, thịt tôm chảy tới đâu, thân thể giãn ra tới đó.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #45 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2011, 07:20:07 pm »

Lại thay nhau đi trước đi sau. Đến lượt Bảy Minh dẫn đầu. Tội nghiệp, một mắt sáng, một mắt vảy cá không nhìn thấy gì nhưng cái dáng vẫn đi phăng phăng. Trời sụp tối, chợt nghe tiếng con nít khóc ở đâu đây. Cả ba lặng người, không đi nổi nữa, chân tay nhủn ra. Bao nhiêu năm chinh chiến, lại mấy năm tù đày toàn máu me, chết chóc. Tiếng con nít khóc đêm nay kéo ngược đầu óc chúng tôi về những mơ ước bình dị nhỏ nhoi đến trào nước mắt. Trái tim người lính chiến trận tù đày tưởng chừng đã chai lì mốc mác vậy mà một góc sâu xa nào đó vẫn còn nhiều yếu mềm đến thế.

Tư Phước được đào tạo chính quy, vốn là tay có đầu óc tham mưu khá nhạy nên phán đoán đây không phải là ấp chiến lược mà là tiếng con nít khóc trong đồn. Hỏi tại sao! Anh trả lời: "Chả có ấp chiến lược nào chúng lại khờ khạo lôi ra tận mép biển để Việt cộng dễ đột nhập như thế này".

Nghe phải, chúng tôi xắn vô rừng chừng một cây số rồi lại nhằm hướng Bắc mà đi. Bỗng rầm một cái thấy Bảy Minh ngã sấp ngửa trong đám dây nhợ lằng nhằng. Chạy lại mới gỡ ra được, bấm nhay lui lại một đoạn mới thấy hú hồn hú vía. Mắt vảy cá nhìn không rõ, anh chàng đã dẫn tổ nhào vô chúng hàng rào đồn địch (sau này biết là đồn Hàm Ninh). Lại lùi thêm mấy trăm mét nữa. Xung quanh rừng lá kín bưng, hết thấy đường bèn bảo nhau mắc võng ngủ đại rồi tính. Mệt rã rời, đói nữa nhưng không ai ngủ được. Nằm nghe muỗi vo ve và tiếng radio văng vẳng mà biết rằng trời chưa đến nỗi thật khuya và kẻ thù đang ở sát gần nhưng mệt quá, thây kệ. Gần sáng thiếp đi được một lúc, lúc choàng mắt tỉnh dậy thấy lô cốt địch xù xì đập ngay vào mắt. Không còn kịp định hướng nữa, ai nấy quáng quàng cuốn một cục võng rồi tông qua con suối sau lưng rộng chừng mười lăm mét (sau này mới rõ đó là suối Hàm Ninh). Hết suối, chạm một cục rừng nữa. Ló ra bìa rừng nhác thấy một trảng cỏ tranh xanh tốt và ở giữa có một con lộ đất đỏ khá rộng chạy qua. Lúc ấy ai đâu biết đó chính là con lộ chạy ngang đảo nối Hàm Ninh với Dương Đông dài 14 cây số. Đang phân vân chợt phát hiện một đám tám cô con gái mặc quần áo đủ màu đạp xe phấp phới đi về phía đông đường, chắc là đi chợ thị trấn, vì dáng xe đạp hối hả lắm, lại thêm túi tắm, quang sọt buộc lỉnh kỉnh đầy ghi đông. Đang trong tình huống lưỡng nan nguy hiểm mà cả ba người cứ đứng ngẩn ra. Lâu lắm rồi mới lại được nhìn thấy bóng dáng đàn bà con gái rõ như thế này. Và tưởng không bao giờ còn được nhìn thấy nữa! Năm đó tất cả còn trẻ, tôi chưa đến bốn mươi tuổi, còn hai người kia mới độ tuổi ngoài ba mươi. Những cái bóng dáng thanh bình ấy thật trái ngược với những tháng ngày u ám vô vọng của chúng tôi vừa trải qua. Bảy Minh là một con người vui tính và hay mơ mộng nói thì thầm:

- Trời ơi! Chỉ cần một lần được nhìn thấy những hình ảnh kia là có chết cũng nhắm được mắt.

Nhưng cả con mắt vảy cá đó và những con mắt của chúng tôi đều phải mở ra để chạy ù qua lộ. Mới qua khỏi được chục mét, hai cái bóng trắng đàn ông ở đâu đột ngột ngóc lên trước mặt khiến cả ba vội nằm bẹp xuống. Thấy hay không thấy? Chúng tôi đưa mắt hỏi nhau nhưng không ai trả lời được cả. Cuối cùng vẫn Tư Phước nhận định: "Nếu thấy dứt khoát họ sẽ đi nhanh hơn hoặc bỏ chạy. Nếu họ vẫn đi bình thường thì tức là chưa thấy gì hết!". Tôi trèo lên cây dõi theo, hai cái bóng trăng trắng vẫn chuyển động bình thường về phía rừng chứ không phải về phía bốt. Chắc họ đi bẻ củi về chụm, vậy thôi.

Khoảng giờ Ngọ, đảo mắt khắp nơi thấy vắng tanh, đồng không mông quạnh, chúng tôi mò ra tận mặt lộ. Một tấm bảng gỗ cắm bên lề đường có ghi: "Hỡi anh em bĩnh sĩ! Đi càn quét chớ phá hoa màu của nhân dân". Chữ của ta, của anh em cách mạng rồi. Mừng quá phán đoán thêm: Mặt bảng có chữ dứt khoát là hướng địch, lưng bảng phải là phía ta. Chúng tôi nhằm hướng lưng bảng gỗ cắt đường đi tiếp. Được một đoạn, thụt giò xuống công sự mới đào, đất còn đỏ tươi, càng chắc trong bụng. Chỉ có công sự của ta mới đào kiểu có nắp thế này. Công sự của địch thường đào lỗ tròn, nông hơn chỉ dùng để tránh đạn chứ khỏi cần phải sụt lút đầu người để tránh được cả bom lẫn pháo như ta. Nhưng cũng chính trong cái công sự xâm xấp nước ấy, anh chàng Tư Phước lại giẫm phải một con rùa đang nằm thoi thóp. Vốn dân tộc Tầy nhưng Tư Phước lại duy tâm, tỏ ra lo lắng: "Gặp rắn thì đi, gặp quy thì đừng! Sao bây giờ?". Bảy Minh quạu: "Rắn, quy gì cũng đi ráo, miễn là đừng gặp địch".

Đi tiếp một đoạn nữa thấy hai bóng người một già một trẻ đi qua. Ông già cầm hai trái tạc đạn M26, người trẻ đeo cây súng K44. Chút xíu nữa tôi đứng thẳng người dậy vì cây K44 đó. Loại súng cổ lỗ sĩ địch làm gì có, chỉ tồn tại trong hàng ngũ của ta. Nhưng câu nói: "Con vừa được phong thiếu úy, chú Năm" của người trẻ tuổi khiến tôi sựng lại. Trong cách mạng chỉ gọi trung đội bậc phó, trung đội bậc trưởng chớ ai kêu úy úy tá tá? Không ổn rồi! Coi chừng bọn biệt kích giả dạng. Giả dạng nên mới mang súng đàng mình. Chúng tôi khe khẽ lộn trở lại trảng tranh nằm chờ. Chừng mặt trời sắp lặn, tám cô gái đi chợ về, tiếng nói cười râm ran cả khoảng không gian tĩnh mịch. Tư Phước bàn phải bắt được một cô để khai thác. Vốn là sĩ quan quân báo kiêm đặc, Tư Phước rất thành thạo trong việc bắt "một cái lưỡi" như thế này nhưng hiềm một nỗi cả tám cô điều đi dính với nhau, không thể tóm riêng một cô được. Cả ba tên tù vượt ngục nhìn họ qua dần mà tiếc rẻ! Đúng lúc đó Bảy Minh phát hiện ra bóng hai cô nữa đang lặc lè đạp bằng đằng sau cả đám một quãng xa. Đây thuộc tốp khác và chắc là một tốp can đảm vì trời chiều mấy ai dám đạp xe lẻ loi trên con lộ giáp ranh ta địch thế này.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #46 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 07:09:12 pm »

Chúng tôi ra tay... Chớp mắt, hai cô đã ngồi gọn trong lùm cây rậm, bạc mắt nhìn chúng tôi, toàn thân run như thằn lằn đứt đuôi, một trong hai cô nước mắt nước mũi giàn giụa. Chắc hai cô nghĩ rằng mình đang rơi vô tay ma quỷ chớ không phải người. Tôi không xưng mình là tù vượt ngục, lấy giọng thật ôn tồn hỏi:

- Xin hai cô đừng sợ. Chúng tôi là những người dân đi làm ăn từ phương xa tới, đến đây bị lạc đường, lại hết lương ăn, muốn hỏi đâu là vùng tự do, đâu là vùng bất hợp pháp để còn biết lối mà đi tiếp, không lại rầy rà chuyện tên bay đạn lạc của hai bên.

Cô lớn tuổi hơn nhìn chúng tôi nghi ngờ. Mà nghi ngờ là phải. Vì có cái thứ dân làm ăn nào mà lại toàn thân ghẻ lở, da bọc xương như chúng tôi - Nhưng cô vẫn run rẩy chỉ tay về phía trước:

- Vùng giải phóng của mấy ông Việt cộng ở đây kêu là vùng bất hợp pháp. Vùng mấy ông quốc gia kêu là vùng tự do. Vùng này nè!

Chúng tôi cảm ơn, xin lỗi một chập, lấy xe ra trả rồi bấm nhau đi ngược lại phía "vùng tự do" như cô gái nói. Nếu hai cô này đi luôn thì có nghĩa là thông tin đó đúng. Còn ngược lại, hai cô rắn độc này có thể bươn bả kêu lính ra bắt lắm chớ. Chờ hoài chờ mãi... Quả nhiên một lát sau hai cô đi trở lại với hai người đàn ông, nhưng hai người này không phải là lính mà lại chính là ông già và anh con trai đeo K44 hồi trưa. Chúng tôi nín thở. Một cô gái giơ tay chỉ. Ông già đi về phía chỗ chúng tôi đang núp, tay lăm lăm lựu đạn. Chúng tôi vẫn im lặng. Tới gần, ông già đưa tay lên miễng khẽ gọi:

- Cách mạng đây!... Cách mạng đây! Anh em tù binh vượt ngục hãy ra đi, hãy ra đi!

Tiếng gọi da diết dữ lắm. Tôi nói nhỏ: "Cứ ra, nhưng cảnh giác áp sáp từng người, nếu cần ta thẳng tay!". Và thứ tự từng người rời khỏi bụi rậm.

Ông già nắm chặt tay chúng tôi và mời thuốc Báttô. Tôi thì không cầm, mặc dù thèm lắm! Ông già cười thật hiền:

- Mấy chú nghi Báttô của lính hả? Không có sao, thuốc gì thì thuốc miễn là có cái hút là được. Nói giỡn chơi, thuốc đây của chú em này phục kích lính đêm qua lấy được.

Ông già tay vỗ vai người trai trẻ. Anh này cười rất tươi. Hai cô gái cũng cười. Tới lúc ấy chúng tôi mới vội ngồi thụp xuống, vì chợt nhớ ra trên thân thể cóc cáy của mình hầu như không có miếng vải nào cho ra vải để che thân. Hai cô gái kín đáo quay đi, nước mắt rơm rớm. Chà! Điếu thuốc Báttô nặng vậy mà tôi chỉ lõm má rít bốn hơi là hết. Thở khói ra thấy đất trời đảo điên, tan loãng. Lúc đó tôi muốn nhái lại câu của Bảy Minh: "Lúc này chết được rồi!".

Đêm hôm đó sau ba ngày lặn lội, chúng tôi thả mình trên nệm lá ngủ một giấc ngon lành. Ba ngày... nếu biết đường, chúng tôi chỉ phải đi ba tiếng. Cũng còn may, sau này đám Ba Toản, đám Hai Hồng phải lang thang hết mười ngày, mười lăm ngày mới đụng căn cứ.

Sáng hôm sau ông Năm Tiên (chính là ông già cầm tạc đạn) cán bộ xã Hàm Ninh cùng anh con trai đưa chúng tôi về căn cứ. Tò mò hỏi cớ làm sao anh lại kêu được phong thiếu úy? Anh cười, vẫn nét cười thiệt là tươi: "Kêu cho vui. Vì trung đội trưởng phiên ra cũng bằng thiếu úy - Vậy thôi".

Chưa kể đến căn cứ, chúng tôi gặp đồng chí chính trị viên huyện đội dẫn một tiểu đội đi nghiên cứu chiến trường. Đó là anh Năm Sĩ. Gặp chúng tôi anh mừng lắm. Vỗ vai một người khỏe mạnh, nước da trắng xanh cùng đi, anh nói:

- Đây là đồng chí Thủy, cũng là cán bộ đặc công vượt tù ra tháng trước. Giờ thêm ba ông đặc công nữa, ngon rồi! Huyện sẽ thành lập một phân đội đặc công được rồi.

Đó là lý do dẫn đến những năm tháng sau này tôi được phân công làm đội trưởng, Tư Phước là chính trị viên đội đặc công đầu tiên của đảo. Có giai đoạn hoán vị ngược lại. Vậy thôi, đồng chí ạ! Chuyện tù đày xưa cũ quá rồi, tôi kể như thế cũng là nhiều. Sang năm. Nếu rảnh, mời đồng chí lại đây ta nói chuyện khác, chuyện làm ăn, chăn nuôi, trồng trọt cho đỡ nặng cái đầu. Khi đó chắc cái công trình Hồ Gươm của tôi xong rồi. Ta sẽ ra giữa hồ, ngồi ở chính tháp Rùa của tôi nhậu lai rai. Hỉ?...

Tôi cười và gật đầu lấy lệ cho ông vui lòng. Khốn khổ! Cái nghiệp chữ nghĩa văn chương có phải lúc nào muốn đi là được đi đâu. Có những mảnh đất đặt chân đến một lần, có những con người ta gặp một lần rồi không bao giờ có dịp gặp trở lại nữa.

Tôi hỏi ông về Ba Trân. Ông trả lời cũng giống như nhiều người rằng có nghe nói nhưng chưa lần nào trực tiếp được gặp. Ông hỏi lại tôi sao cứ Ba Trân... Ba Trân hoài vậy? Tôi nói đang đi tìm một người đứng đầu Đảng trong tù vì vô lý khi cả một cái nhà tù bốn chục ngàn người ấy lại không một đường dây lãnh đạo. Ông ậm ờ và nói tôi cứ thủ đi tìm xem chứ theo chỗ ông ta là người trong cuộc thì ba cái chuyện này khó lắm.

Tôi lại định hỏi ông về Quang, người chồng của bạn vợ tôi nhưng không cất nên lời. Câu chuyện bốn giờ đồng hồ ngược về dĩ vãng đã khiến ông mệt mỏi lắm rồi, có hỏi thêm chắc ông cũng không nhớ được gì? Ngay như anh Hồng, có người bảo đó là một phó tư lệnh quân khu, một cán bộ đảng chững chạc như thế còn chưa biết đúng hay không, huống chi là một trung úy Quang nào đó. Vâng! Nhất định trước sau tôi cũng sẽ hỏi bằng ra, cũng như câu chuyện nhà lao Cây Dừa này có biết bao nhiêu câu hỏi đòi được trả lời!

Tôi thầm hứa với người đàn bà tội nghiệp ấy như vậy.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #47 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2011, 06:18:39 pm »

9.

Đáng lẽ trong chương này tôi sẽ chuyển sang một khu giam khác, một cách thức vượt khác nhưng không hiểu sao tôi chưa thể dứt bỏ được hình ảnh anh Ba Toản, với khu giam hạ sĩ quan của anh. Bốn mươi hai lượt người ra là bốn mươi hai lối ra khác nhau, lượt ngày không thể thay thế được lượt kia, nó chỉ có tác dụng khơi sâu và bổ trợ mà thôi. Hy vọng rằng lối ra của nhóm anh Ba Toản và lối ra của ông Cáp Đình Hội tuy tưởng chừng giống nhau, song nó lại tồn tại hoàn toàn độc lập. Vì vậy, giống như trong cuộc sống xô bồ tôi đâu có dám đi tắt được chuyện đời.

Đúng như ông Hai Hội nói, nếu nhóm của Ba Toản chỉ ra chậm một ngày thôi thì bữa sau, chính Ba Toản sẽ được kêu đi thủ tiêu. Nguyên do là một mâu thuẫn nội bộ đã để lọt vào tai địch.

Thoạt đầu Ba Toản chỉ quyết định rủ có ba người, hay nói cách khác là chỉ thu nhận có ba người: Anh Hoạch, trung đội trưởng pháo và anh Tiến, người cùng quê với Hoạch. Ba người cho một cuộc vượt tù là gọn, là đã hiểu nhau, tin nhau qua bao thử thách trong tù, mặc dù đoán biết anh là lính đặc công có hạng, không ít người đã lần mò tìm đến anh xin được cùng ra. Thật là trớ trêu và thú vị. Trong trận mạc, người lính đặc công được yêu tin nhất, kẻ thù run sợ nhất và chiến đấu cũng gian nan khổ ải nhất, nay trong tù ngục, anh chiến sĩ đặc công vẫn đứng đầu sóng ngọn gió gánh tiếp cái chức phận tinh nhuệ nhọc nhằn của mình trước vận mạng và sự sống của đồng đội. Tức là anh, dù muốn hay không cũng phải là người đứng tên. Đứng tên đồng nghĩa với cái chết nếu kẻ thù phát hiện ra. Phải chăng chính vì thế mà người muốn ra thì đông nhưng người dám đăng cai mạng sống của mình lại dường như không có ai.

- Trong tù nó khó thế đấy anh ạ!

Anh Thu, người cùng ra với anh Ba Toản nói trong hơi thuốc lào phả ra thơm nồng gian nhà ngói, người mà mấy tháng sau tôi mới tìm gặp được ở một xã xa đường quốc lộ thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Chính Thu đã kể cho tôi nghe phần chuyện này vì sau khi gặp ông Hai Hội xong, quay trở lại Khu Tượng tìm gặp Ba Toản thì tôi lại được chị Ba trả lời anh đã lên rẫy mấy ngày rồi.

-... Muốn làm được một cái gì đó dũng cảm, một cái gì đó vì mọi người là phải giấu giấu, giếm giếm như làm điều phi pháp - Anh Thu nói tiếp.

Bằng vào những lời kể đứt đoạn, chắp nối của Thu, con người tàn tật đã về hưu, tôi hiểu rằng đợt ra ấy không phải chỉ có ba mà là sáu người. Mà kỳ lạ! Những tù binh dũng cảm ấy, hôm nay may mắn còn sống sót cho tôi có dịp được gặp thì hầu như tất cả đều chung nhau một số phận khá hẩm hiu là về hưu.

Ba người: Toản, Hoạch, Toán, khi sắp ra lại thêm Minh, quê Lái Thiêu, Dũng, Ninh Bình và Thu. Riêng ông Xạ, tổ trưởng tổ tù mười người do giám thị chỉ định cũng có ý nghĩa sáp nhập nhưng cung cách lại ngần ngừ. Ông Xạ đã ba lần tìm đường ra nhưng đều không lọt, bị đánh lên đánh xuống nên đâm sợ, kiểu chim ngại cành cong.

Chính sự ngần ngừ của ông đã bị một số người cầu an khai thác. Sau Mậu Thân số cầu an này càng nhiều. Họ chán chường mất tin ở cách mạng, họ đổ lỗi cho Đảng đem con bỏ chợ, đổ lỗi cho lãnh đạo thiếu chiến lược tinh tường để lính tráng bị dìm trong biển máu. Họ than thở oán trách và họ nói với ông khuyên bảo Ba Toản và mấy người kia thế nào chứ hành động phiêu lưu như vậy chỉ thêm làm khổ nhau. Ý họ muốn nói, ra đã không được mà hôm sau bọn giám thị có cớ để cúp cơm, cúp nước, phơi nắng, phơi cát cả phòng, tội lắm! Có người hèn nhát hơn còn nói: "Nếu Ba Toản muốn ra thì để mặc một cậu ấy ra. Đừng coi mình là đặc công đặc quét mà muốn làm gì thì làm. Hàng trung đoàn đặc công ngoài kia còn bị đánh tan, loe nghoe mấy đứa ra để làm gì?". Người trong nhóm Ba Toản nghe được cự lại, tiếng bấc tiếng chì đâm ra xúc phạm nhau, truy chụp đủ thứ lập trường tư tưởng nọ kia. Thậm chí Thu đã có bận siết cổ một bạn tù vào sát chân tường mắng là đồ phản bội, đồ hèn nhát, cần phải cho một bài học nhớ đời. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của một đồng chí cấp ủy bí mật thì chắc chắn án mạng đã xảy ra. Nhưng sự điều hành của cấp ủy không đủ để ngăn chặn câu chuyện vượt ngục lan tới tai bọn giám thị. Chúng họp bàn, chúng tính gài bẫy để chụp một mẻ lưới thật gọn, qua đó tìm ra kẻ cầm đầu xách động và cấp ủy bí mật.

Nhưng chúng đã chậm chân. Một lính quân cảnh đào ngũ bị bắt lại, do bị đánh đập tàn bạo quá, bữa sau dựa vào việc phải đi dọn hố xí cả tháng đã bí mật báo cho ta. Và ngay đêm đó tổ sáu người kịp thời hành động. Trước giờ xuất phát, Ba Toản chính thức ra lại quyết tâm của tổ bốn người ông Xạ một lần nữa: "Nếu ông quyết thì đi theo luôn, còn không thì phải dứt khoát". Ông Xạ lắc đầu: "Đi đi! Mình ba lần rồi! Đã bị bẻ ngang ngón chân thành chân giao chỉ ba lần rồi! Mệt rồi! Lần này bị nữa thì chúng chặt đầu".
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #48 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:22:17 pm »

Khác với kíp ông Hai Hội phải bôi đen người để nhòa vào màu đen cây cỏ, ở khu giam nhiều cát trắng nên Ba Toản cho anh em ngụy trang bằng nọ nồi pha đất sét để tạo thành màu trắng nhờ nhờ. Và cũng khác với cách thức phơi sương cho hết mùi của ông Hai, Ba Toản giúi cho anh em mỗi người một củ tỏi xin được của nhà bếp, đập nát xát vào người để làm phương thuốc tránh chó.

Có lẽ tôi xin dừng lại ở đây một chút nói về nghệ thuật ngụy trang của lính đặc công mà cho mãi đến tận bây giờ, các thế lực thù nghịch vẫn không tài nào hiểu nổi và vẫn trở trở thành một huyền thoại trong tâm tưởng những người hâm mộ. Qua đó mới thấy hết được giá trị và công sức của một hành vi vượt tù.

Thực ra nó rất bình dị. Bình dị như đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta.

Đặc công là gì? Nó không phải cái gì khác ngoài sự gan lì và kiên nhẫn. Gan lì để một người tiêu diệt được mười người, một trăm người. Kiên nhẫn để vượt được mọi chướng ngại, chui sâu vào gan ruột kẻ thù.

Một trong những bí quyết để tạo nên cái hợp chất lì lợm và kiên trì đó là nghệ thuật ngụy trang. Đặc công là đánh giặc trong đêm, là trần truồng tác chiến, là hy sinh thâm lặng, hy sinh đen đúa không quần không áo. Dựa vào ánh sáng trời, vào địa hình đất cát, đường băng, ánh đèn mà pha mình cho thân hình mình nhòa vào cây cỏ, chìm vào đất đai quê mẹ, lẫn vào bóng đêm thân thương. Ngụy trang thông thường bằng phần than của pin đèn nhào với lá khoai lang. Bọc nhọ này sẽ được hụm vào tay thoa vằn vện lên trên khắp thân thể, làm sao cho giống y sì một vạt cỏ, một be đất mỏng, làm sao cho đồng đội đứng ngay cạnh anh cũng không nhận ra anh. Và cái vạt cỏ, be đất hiền lành đó sẽ lặng lẽ trườn dịch từng phân, trườn dịch như không trườn gì cả qua hết lớp rào này đến hết lớp rào khác vào trung tâm kẻ thù. Thế là đặc công. Ban đêm ngụy trang xong, bạn bè chỉ nhận ra anh qua cái khẩu hình cười - Đó là nơi duy nhất còn để trắng bởi chăng khi bò có ai dại gì mà ngoác miệng ra cười mà phải bôi đen luôn cả răng lợi - Cái khẩu hình ấy mở ra rộng hẹp, méo tròn là biết thằng ấy là X hay là Y...

Trở lại cái đêm ấy.

Do được chuẩn bị kỹ, cộng hưởng thêm vào cái quyết tâm sinh tử: "Đi hay là chết" nên chuyến ra 6 người cũng khá trót lọt.

Bạn đọc có thể nhớ lại chuyến ra của cánh ông Hai Hội để tạm hình dung chuyến ra của cánh Ba Toản này. Chỉ khác có một điều: Cánh Ba Toản sắp vượt hết hệ thống rào thì bỗng đèn pha các cỡ bật sáng rực trời và súng các loại nổ vang lên ngay sát phía sau. Nổ lâu lắm! Trong tiếng nổ xen lẫn tiếng hò hét, tiếng động cơ xe rú máy, tiếng chó tru man dại và dường như có cả tiếng la hoảng thất thanh ở đâu đó. Cả tổ lặng người đi. Giây phút đầu tiên, tất cả đều nghĩ số phận mình đến đây là chấm dứt. Thế là lộ!  Đạn đang đuổi theo, quân cảnh đang xô đến... Chỉ lát nữa thôi, cả 6 người sẽ tan tành thân thể và sớm mai, khi mặt trời lên, bọn ác ôn sẽ nhặt họ lên như nhặt những miếng giẻ rách đẫm máu. Có người nấc lên đau xé, có người té đái trong quần, lại có người lầm rầm niệm Phật hay cầu Chúa gì không biết nữa, chỉ thấy ánh mắt ngước về cõi xa xăm mơ hồ... Riêng Ba Toản vẫn tỉnh táo. Anh phán đoán: Nếu lộ thì đạn sẽ xối ngay giữa đội hình và chó sẽ xồ đến trước hàng loạt các tiếng động chứ không phải cái chết đến mơn man vòng ngoài hoài thế này. Trong giây lát, anh đã định kêu tất cả cứ bươn lên. Bươn lên dù có trúng mìn, dù có ăn đạn chết gục xuống hàng rào còn hơn chết thê thảm trước miệng cười khoái trá của chúng nó và trước những anh mắt nhìn ai oán của đồng đội. Nhưng cũng chính lúc đó một tiếng reo bật lên sằng sặ: "Đ.mẹ! Năm thằng, lại năm thằng này. Bắn bỏ cho rồi. "Đã khiến anh tĩnh trí lại. Sao lại năm? Tổ anh 6 kia mà. Hay là... một suy nghĩ lóe lên chạy lạnh xương sống! Hay là... Năm người hồi tối của ông Xạ? Nhìn ngoái lại đắng sau: Những bóng đen đội mũ sắt đang đứng lố nhố xung quanh môt cụm rào ở xa xa... Thôi đúng rồi! Cánh ông Xạ thật rồi! Tội nghiệp Cúi đầu giây phút làm một động tác gần như mặc niệm, anh cắn môi dẫn đầu đoàn người tiếp tục bò ra... Ba lớp rào còn lại trước mặt đối với anh thật là thơi thoáng nhưng lòng anh lại trĩu nặng.Hình ảnh và con người ông Xạ bám níu lấy đầu óc anh, giữ chặt.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #49 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2011, 05:12:06 pm »

Ông Xạ... con người đầy bản lĩnh và đầy yêu thương cùng bị giam với anh từ những ngày ở Hố Nai, Biên Hòa chỉ do một phút đắn đo vị kỷ mà rồi không rõ số phận sẽ ra sao?
Lần thứ nhất, chưa thật tin ở anh, ông cùng với hai người nữa lẳng lặng ra một mình. Thiếu kiên trì nghiên cứu và thiếu cả kỹ thuật đặc công, họ bị bắt lại. Phải bò ngửa  trên cát nóng hàng trăm vòng quanh sân cho đến ngất xỉu, đó là hình phạt đầu tiên ông phải trả.
Lần thứ hai, chưa kịp hành động, ông đã bị tố giác. Lần này chúng bắt ông đi khiêng gỗ suốt một tuần liền với hai bàn chân đã bị bẻ ngoẹo ngón cái "cho hết chạy" như chúng nói. Cây gỗ bốn người khiêng, chúng bắt ông vác một mình. Đi nhanh thì không sao, kiệt sức đi chậm là chúng đánh thẳng hèo vào đầu gối cho quỵ xuống luôn. Một tuần trôi qua, ông không chết nhưng người không còn ra hình thù gì cả, cái lưng còng gập xuống, bước chân đi run rẩy thỉnh thoảng lại vấp ngã chúi xuống một cái. Chúng muốn ông chết nhưng nhờ sức chịu đựng kỳ lạ của thân thể một thời đi biển sóng to gió lớn, ông lại không chết. Được! Không chết càng hay. Chúng muốn biến ông thành thằng què, thằng gù để làm nhân chứng sống răn đe người khác. Nhưng chúng không ngờ rằng cái thân hình nửa sống nửa chết ấy nửa tháng sau lại tìm cách trốn nữa. Trốn một mình. Trốn như một sự mộng du ma đưa lối quỷ dẫn đường.
Lần này ông không bị lộ, chúng cũng không ngờ phát giác được ông nhưng sức tàn lực kiệt, ông nằm ngất đến sáng ngay giữa vòng rào. Đáng lẽ đời ông thế là hết, nhưng sự giận dữ của chúng đã chuyển thành kinh ngạc, từ kinh ngạc chuyển tiếp thành tò mò. Từ tên giám thị giết người không ghê tay đến tên chỉ huy đại đội quân cảnh đều muốn theo dõi xem cái vật thể dị dạng kia sẽ còn hành động đến thế nào nữa. Do vậy, thay vì nhanh chóng thủ tiêu, tên giám thị chỉ bắt ông đứng úp mặt vào tường, đưa miệng ra cái khuôn tròn của vì sắt rồi dùng thước kẻ bằng đồng hình vuông khẻ gãy đủ ba cái răng cửa. "Trốn một lần... Lấy đi một cái này! Trốn hai lần... Tao lấy đi hai cái này! Trốn ba lần...". Cứ vậy, sau mỗi tiếng "này", hắn lại kê đầu thước vào một chiếc răng và dùng lòng bàn tay kia vỗ cái bộp vào chuôi thước. Cắc! Tiếng thước gõ vào răng khô gọn và chiếc răng rơi xuống cũng khô gọn không kém. Mỗi lần chỉ rơi đúng một chiếc, đầu thước không bao giờ gõ lẹ sang chiếc thứ hai. Người tù khu giam ở đây đều gọi hắn là "Hung thần thước kẻ". Tên hung thần khẻ răng có cả một cái bao cát đựng đầy nhóc răng tù này không ngờ rằng con người già cả, mồm miệng nhòe máu và dãi dớt kia lại vẫn quyết định vượt ngục lần thứ tư.

Và lần này cũng không lọt. Sau đó Ba Toản được biết tiếng súng nổ ồn ã kia là tiếng súng nhằm vào nhóm của ông. Thì ra vào giây phút chót, ông đã trở thành ích kỷ. Kẻ thù không làm ý chí ông rệu rã, nhưng kẻ thù đã biến ông từ một con người giàu vị tha yêu thương thành một con người chỉ biết lo cho mạng sống của mình. Khi Ba Toản rủ ông ra, ông không ra vì e ngại cái sự ra lại thất bại. Nhưng ông đã thủ thế cả rồi. Người ta nói ông muốn cứ... để nhóm Ba Toản ra trước nếu suôn sẻ ông sẽ bí mật nối đuôi đằng sau. Còn nếu không thoát, ông sẽ hoàn toàn vô can. Thế là ở giữa, đằng nào ông cũng có lợi. Chỉ có điều cái khôn ngoan đó đã không gặp thời. Do ra nối đuôi cập rập mà có người trong nhóm của ông đã để y sì cả quần áo, bò rào. Lá rào dọc ngang chằng chịt, cời trần truồng chui còn khó nữa là vướng víu áo quần. Thế là lộ... Số phận ông Xạ và cái nhóm đó sau này thế nào? Chết hay sống? Có ai nản lòng nhảy sang khu chiêu hồi không, Ba Toản không được biết. Anh chỉ buồn lòng ngậm ngùi làm mẫu mực và khí phách. Nếu đừng để mất lòng tin, nếu đừng vì bản thân mình, nếu biết dựa vào bạn bè chiến hữu thì đêm ấy ông và cả nhóm đâu có nằm gọn trong quầng sáng đạn lửa của kẻ thù!

... Ra khỏi khu vực giáp ranh nhà tù, nhóm vượt ngục Ba Toản không biết đường hướng ra sao, bèn bảo nhau tuốt lên một ngọn núi gần đó tránh né cái đã (sau này mới biết là núi An Thới). Leo đến đỉnh, tất cả đều kiệt sức. Trời tối như bưng, gai mây cứa ngang cứa dọc, còn chút gì gọi là vải vương lại trên cơ thể đều rách bung ra hết. Tính nằm nghỉ đại nhưng nghe tiếng máy đèn rù rù chạy ngay dưới chân, biết rằng chưa ra khỏi khu vực nhà tù, lại bảo nhau tìm đường đi tiếp. Trời càng tối, đường xuống núi càng mờ mịt. Mò mẫm hoài thì sáng trời mất nên tất cả ôm chặt lấy đầu, cuộn tròn người lại làm động tác tuột dốc... Tuột đến đất bằng, nhìn nhau nát bét nhận không ra. Nặm giạng chân giạng tay thở hồng hộc một chập rồi băng qua lộ. Gần sáng thì chạm bưng Ba Gà. Sự tích ở đây truyền lại rằng, cái bưng này nước rất độc, ai đi qua phải cúng ba con gà mới mong tai qua nạn khỏi. Tất nhiên người tù lấy gà đâu mà cúng. Họ dìu dựa nhau lội nước vượt bưng. Chao ôi! Những chỗ xước sát, toát lở vừa đông máu gặp nước chưa phèn xót đến trào nước mắt. Vừa lên đến bờ, toàn thân còn rét run thì chợt có tiếng giày lính và tiếng chó sủa rộ lên. Khắp bốn xung quanh. Những người tù nhìn nhau mắt bạc phếch! Cái chết đã cầm chắc trong tay...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM