NHỮNG NGÀY KHÔNG BAO GIỜ XA (6)
(tiếp theo)Qua khỏi chợ là đầu làng tôi - Đình Công Thượng - một bên là chùa làng với với cây cối xum xuê, hàng dâm bụt với sắc hoa đỏ rực bên hàng rào ô rô. Tuổi thơ của tôi bao giờ cũng coi đình chùa là nơi tôn nghiêm mang vẻ thần bí, mặc dù ở đây cây trái mùa nào thức ấy rất là hấp dẫn. Đầu làng là 1 cây bàng cổ thụ tỏa bóng mát rượi, gốc bàng là 1 quán nước của 1 bà trong họ, tuy bà nhiều tuổi hơn cha tôi nhưng tôi gọi bà bằng cô. Mấy chục năm sau khi tôi nằm tại đoàn 869 thì tình cờ nằm cùng đoàn có R. là con trai bà bị thương ở B2 ra. Đứng ở đầu làng có thể nhìn sang mãi tận bên Lủ, Đại Từ…những gò cây ăn quả của làng tôi chạy ven sông Tô với ổi, bứa, bưởi, mít…bốn mùa xanh mướt. Sau này vào những năm 60 người ta cải tạo sông Tô Lịch lần thứ nhất những gò cây ăn quả ven sông đã bị lấy mất để mở rộng và nắn lại sông.
Con đường gạch vào làng tôi như bao con đường làng của mọi làng quê Bắc bộ được xây bằng gạch nghiêng đỏ au dẫn vào ngõ nhà ông bà tôi. Khi tôi đã nhận biết được xung quanh, mỗi lần về làng bao giờ cha tôi cũng dẫn vào ngôi nhà cũ mặc dù ngôi nhà này đã thuộc về 1 người trong họ. Ngôi nhà này sau khi ông nội tôi mất năm 1938, cảnh nhà sa sút, bà nội tôi đã bán lại căn nhà này và một số nhà ở trên phố. Bây giờ mỗi khi có dịp xem lại những tấm ảnh chụp về ngôi làng cổ Cự Đà (Thanh Oai) với những ngôi nhà cổ mang phong cách đầu thế kỷ XX tôi lại mường tượng ngôi nhà cũ của ông nội tôi. Nó hoàn toàn khác với những ngôi nhà gian kiểu truyền thống trong làng, có thể do công việc của ông nội tôi có liên quan đến xây dựng nên cụ đã chọn kiểu nhà theo phong cách thời ấy. Ngôi nhà nằm trong một khu vườn trồng cây ăn quả. Bậc thềm dẫn lên nhà chính lan can được đắp nổi những hoa lá. Hiên nhà rất rộng với bờ tường hoa và hàng cột đỡ mái hiên cũng được đắp nổi những đường gờ chạy dọc, bên trên được trang trí lá đề, thiên tuế, hoa dây…Gian giữa bên trong là gian thờ, hai bên là nơi tiếp khác, phòng ngủ lùi bên trong. Giữ các khoảng không gian trong nhà là các hàng cột xây bằng gạch được đắp nổi các hoa văn trang trí. Xung quanh là các cửa sổ kiểu tây trong kính ngoài chớp. Nền nhà được lát bằng gạch men hoa. Có lẽ ngôi nhà này có nhiều kỷ niệm với cha tôi nên hồi ấy mỗi khi ông về làng là đều vào thăm người chị họ đang ở đây để tìm lại một thời quá vãng của ông. Tôi cũng đã được xem tấm ảnh cưới của cha mẹ tôi tại chính ngôi nhà này: Cha tôi mặc áo the khăn xếp đứng cùng mẹ tôi mặc áo dài trắng, cài hoa trắng trên đầu cùng quan viên hai họ đứng dưới hiên nhà.
Con đường về quê tôi còn có một con đường nữa mà tôi thường theo mấy người anh họ. Lên tầu điện ở Cửa Nam qua Nguyễn Thái Học, Hàng Bột, Ô Chợ Dừa và chúng tôi xuống bến Gò Đống Đa vào nhà bác tôi ở chân gò và mấy người anh nữa đang đợi ở đấy. Chúng tôi lại lên tầu xuống bến Ngã Tư Sở và đi bộ về quê. Theo bờ sông Tô ở Cầu Mới qua đất làng Khương Trung nằm bên con đê, hai bên bờ là những ruộng lúa xanh rờn. Phía trước mặt là cây đa Khương Hạ rợp bóng mát cả 1 quãng đường. Mấy anh em chúng tôi bao giờ cùng dừng chân nghỉ uống nước dưới gốc đa này nhâm nhi bát chè tươi được bà bát nước múc ra bằng 1 cái gáo dừa nhỏ từ 1 cái chum sành nhỏ được ủ nóng. Nước chè xanh sóng sánh với vị ngọt chát nơi đầu lưỡi xua đi cái nóng của ngày hè. Những năm ấy con sông Tô chưa đen kịt như bây giờ, có nhiều bè kéo vó trên sông, những bè rau muống mơn mởn…Con đê vắng vẻ rặt một thứ cỏ may qua cánh đồng lúa, ruộng mầu dẫn về làng tôi qua những vườn ổi, vườn nhãn…
Tất cả những ký ức về làng quê êm đềm ấy đã in đậm vào tâm trí đưa trẻ như tôi đã hoàn toàn lùi xa vào quá khứ. Năm 1972 một phần làng tôi đã bị san bằng vì B52 của Mỹ trong những ngày tháng Chạp vì làng quá gần sân bay Bạch Mai, 1 trọng điểm đánh phá của Mỹ. Đất làng bị lấy làm các công trình, nhà xưởng, bệnh viện... Cơn sốt đất những năm 90 kéo dài cho tới tận bây giờ làm mất đi hẳn một ngôi làng cổ bên bờ sông Tô. Những ngôi nhà nằm trong những khuôn viên rợp bóng cây xanh không còn nữa, đất vườn bị xẻ nát thành những ô nhỏ manh mún mua bán trao tay và từ đấy mọc lên những kiểu nhà ống đủ hình dáng quái dị. Những con người với bàn tay khéo léo của thợ kim hoàn đã vắng dần đi thay thế bằng một lớp người dặt dẹo, vô công rồi nghề, tụ bạ tại các quán bia, trà đá, bi-a để giải khuây, rồi là túm năm tụm ba cờ bạc, đỏ đen. Người tứ xứ ở đâu về làng tôi sao mà đông thế, đủ nghề nghiệp sang có, hèn có làm cho bộ mặt làng quê hoàn toàn mất đi nhất là khi từ làng xã lên phường lên phố với bao hệ lụy.
Bóng dáng làng tôi khi xưa và hiện trạng ngày nay đã làm cho tôi vô cùng nuối tiếc và cảm thấy bất lực đến khôn cùng.
(còn nữa)