Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:36:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sống Mãi Với Thủ Đô - Nguyễn Huy Tưởng  (Đọc 50338 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #70 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 03:09:48 pm »

Thấy anh có vẻ lạnh nhạt, Quyên khó chịu và nghĩ: “Những anh cấp dưới bao giờ cũng khinh khỉnh hơn cấp chỉ huy”. Quyên càng có cảm tình với Hồng Lưu, người sao mà đầm ấm. Xe giật mạnh, má Hồng Lưu sát vào mái tóc thơm của người thiếu nữ. Hồng Lưu hỏi:

- Cô ở đâu?

Quyên lễ phép:

- Thưa anh ở Hàng Bút.

- Con gái Hàng Bạc thì hay ăn quà. Con gái Hàng Đào thì làm cỗ giỏi, con gái Hàng Bút chắc là phải học giỏi lắm.

Oanh và Quyên cùng cười. Quyên thẹn thò, ấp úng một câu không rõ. Hồng Lưu nói:

- Tôi có đọc một tờ báo nói ngày xưa học trò đi thi, đến đấy mua giấy bút sách vở, có những cô Hàng Bút đối đáp thơ phú với học trò, nhiều ông hay chữ mà cũng phải chịu. Cô biết chứ?

- Không ạ.

Quyên lấy làm lạ sao lúc này Hồng Lưu vẫn còn vui vẻ, bình tĩnh được như thế, lại biết cả những chuyện ngày xưa mà ở ngay trong phố từ thuở nhỏ Quyên chẳng biết gì, cậu mợ cũng không biết.

- Cậu mợ làm gì?

- Cậu em làm viên chức, mợ em bán giấy.

- Tôi nói có đúng không.

Chiếc xe rẽ vào phố Huế làm ngả nghiêng mấy người đều chưa quen ngồi xe. Hồng Lưu luôn tiện sát lại Quyên và bần thần người một cách khoái trá, anh muốn giữ cái đùi êm nóng và tròn trặn của cô gái trinh lâu lâu bên đùi anh, sợ cái khoái cảm ấy mất đi như đứa trẻ đang vờn con bướm hồi hộp lo nó biết có người rình và bay đi chỗ khác.

Quyên khẽ dịch về phía Oanh, hỏi Hồng Lưu một cách kính phục:

- Thưa anh, trước anh cũng học ở Hà Nội?

Hồng Lưu gật đầu, không ra nhận, cũng không ra không. Sợ Oanh nói rõ cái tung tích của mình mà anh muốn giấu cô học sinh Hà Nội, anh cười và ngả người vào chỗ tựa, làm cho cái áo tơi dạ lính rời khỏi vai anh. Nguyên anh là một đội khố đỏ. Năm 1940, Pháp bị Nhật đánh thua ở Lạng Sơn, Hồng Lưu đào ngũ chạy về Bắc Sơn, được quân khởi nghĩa ở đấy cho ăn uống và thả về. Cảm phục anh em cách mạng, Hồng Lưu tình nguyện ở lại và từ đấy tham gia chiến đấu ở vùng Bắc Sơn, Đình Cả, Vũ Nhai. Tính anh hay tò mò. Từ khi anh về thành phố, anh hay thu góp những chuyện vặt về Hà Nội để tỏ ra mình là người thông thạo thủ đô.

Quyên bỗng vịn lên vai Oanh, kêu:

- Chị ơi, trường Đồng Khánh của chúng ta đây này.

Oanh nói:

- Đừng gọi tên cái thằng vua ấy nữa. Bây giờ là Quân uỷ hội rồi!

- Không hiểu sao, em nhớ trường cũ quá, chị ạ.

Oanh nắn cái vành khăn vấn quá chật và làm cho chị nhức đầu, nghiêng cái khăn vuông cho hơi lệch qua một bên, chị nhìn ra hồ, lâu lâu nói:

- Chị cũng nhớ. Nhớ nhất là hai con bạn ở Trung Bộ, hai năm nay chưa gặp. Chị viết thư cho chúng nó hẹn ra chơi. Chúng nó viết thư bảo trung tuần tháng này thì ra, hẹn không gặp nhau ở ga, cũng không ở nhà, mà ở Bờ Hồ, đứa nào cũng sẽ mặc áo dài xanh, quần trắng, khoác tay đi dạo chung quanh hồ, giữa mùa khô ráo cho bõ nhớ, rồi lại đi thăm trường. Đứa nào đã có chồng thì khao những đứa kia, mà nếu chưa cả thì góp tiền khao nhau.

- Thế thì chị không phải khao rồi.

- Ừ, đáng lẽ hôm nay chúng nó ra đây. Chúng nó trông thấy chị thế này sẽ cười nôn ruột.

Xe đã tới hồ, mặt nước êm ả, bốc đó đây những đám sương vắng teo như những vệt khói trên cánh đồng không. Quyên nói:

- Biết đâu chốc nữa lại không gặp. Hồ đẹp thế kia, em thích cho các chị gặp nhau cơ.

- Gặp gì ngày hôm nay nữa !

Nguyễn Gia Định không quay ngang quay ngửa, mặt vẫn lầm lầm. Anh sắp thoát khỏi phải nghe câu chuyện dông dài giữa Hồng Lưu và cô nữ sinh gặp ở giữa đường, rồi lại câu chuyện vớ vẩn của Oanh. Lắm lúc, anh muốn bịt tai đi để tâm trí được tập trung vào những việc anh đang phải lo giải quyết khi trở về. Trong cái bực tức của anh, có lẫn cả cái ghen của một người cảm thấy mình ít có duyên với phụ nữ.
Xe đỗ trước dinh Bắc Bộ. Hồng Lưu mở cửa, nhảy xuống hè một cách rất nhẹ nhàng, rồi quay lại, cúi xuống bắt tay Oanh. Anh nắm chặt tay Quyên run run. Anh lùi mấy bước, giơ tay lên bên cái mũ ca-lô, có đính ngôi sao vàng thêu kim tuyến, vành tròn ngoài cũng thêu kim tuyến, lóng lánh trên nền dạ đỏ thắm, chào hai người phụ nữ một lần cuối cùng, miệng tươi cười nói:

- Thắng lợi!

Rồi anh quay đi, liếc nhìn mấy cây sấu trước hàng rào, giày đinh rít trên cái hè rộng lát gạch nhỏ có những lằn chìm như khía. Nguyễn Gia Định lúc cúc đi sau anh. Họ bước qua cái cổng sắt bên trái. Một Vệ quốc quân đứng gác bồng súng chào. Quyên nghĩ anh ta thật sung sướng được bảo vệ dinh Cụ. Trên gác cao, các cửa kính sơn xanh vẫn còn lồng rèm đăng ten. Lá cờ nước đỏ như tiết, mịn như nhung, phấp phới trên vòm ngói đá đen. Chắc Cụ vẫn đang làm việc trên ấy. Quyên chưa bao giờ được vào đây, và thèm được như Hồng Lưu gần Cụ luôn luôn. Trong sân, anh em bộ đội đang tấp nập. Đối diện với dinh, vườn hoa con cóc vẫn phun nước một cách thanh bình. Nhưng trước cửa khách sạn Mê-tờ-rô-pôn, xe nhà binh Pháp, tua tủa súng ống và những cần vô tuyến điện, đỗ một hàng dài đến tận phố Tràng Tiền. Nhiều xe khác chạy tới, tiếng động cơ rú, tiếng phanh rít. Cái cửa tròn vào khách sạn xoay tít như cò quay. Quyên thấy lo ngại cho Cụ Chủ tịch. Quyên nao nao thương Hồng Lưu. Nếu đánh nhau, thì anh sẽ chống giữ ở đây thế nào?
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #71 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 03:10:44 pm »

Quyên hỏi Oanh:

- Anh ấy chắc là cao cấp chị nhỉ?

Oanh đang ghi mấy chữ viết tắt trên cuốn sổ nhỏ xíu. Chị vừa gập sổ vừa nói:

- Cao cấp gì. Quyên này, em sẽ đóng vai thư kí cho một nhà trí thức mới ở Pháp về, một bác sĩ rất giỏi, rất có tiếng, nhưng cũng khó hiểu lắm. Bề ngoài là thư kí, nhưng bề trong là theo dõi, có gì thì báo cho chị biết.

Một chiếc cam nhông chở đầy lính Pháp và phu phen từ vườn hoa Chí Linh rầm rầm phóng lại, sạt vào cái thành xe của Quyên như định ẩy ngã. Quyên kêu rú lên, giữa lúc xe mình cũng chuyển bánh. Mặt Oanh tái đi. Chị khẽ tát yêu vào má Quyên và nói:

- Không sợ. Không sợ. Việc gì phải sợ chúng nó?

*

* *

Khi đi qua những con đường lớn và thẳng, trước kia còn mang những tên người Pháp, phần nhiều chỉ gợi lên cho kẻ bị trị những kỉ niệm tủi nhục, những con đường đẹp với những biệt thự theo kiến trúc phương tây, nhiều kiểu khác nhau, sạch sẽ và yên tĩnh, với những hàng cây lớn rủ bóng xanh mát xuống đường, người Hà Nội thường có cảm giác như mình vào một nơi xa lạ. Sau ngày khởi nghĩa, mặc dầu những con đường ấy đã được mang tên những anh hùng, những danh nhân của dân tộc, những chiến công lịch sử, những phong trào cách mạng, và người Việt Nam đã đến ở nhiều rồi, mà đôi khi ta vẫn còn có cái cảm giác ngỡ ngàng. Nhưng vượt khỏi Hồ Gươm mới thật như trở về với những phố của mình. Những phố cũ kĩ còn giữ nguyên tên những phường, những giai thoại, những kỉ niệm thuở trước của kinh thành, nó nhắc nhở, khêu gợi, nó âm vang trên mỗi bước chân đi. Những ngôi nhà hẹp lòng, lồi ra, lõm vào, chen chúc nhau, ít có một khoảng vười con ngăn cách. Những mái ngói lâu đời đã ngả màu đen và mốc trắng như những mái chùa, mái đình trải qua nhiều mưa nắng, những mái ngói của những căn gác thấp, ọp ẹp, khấp khểnh, bỡ ngỡ và tui tủi giữa những nóc nhà mới cao vút lên một cách hãnh tiến. Những dãy hàng cánh cửa lùa san sát kề bên những ngôi hàng lồng kính, cái còn phảng phất thời những cô hàng xén dịu dàng, nền nếp, ý nhị của kinh kì, cái đã phô trương hình thức cầu kì, diêm dúa, hào nhoáng của cái xã hội bon chen, gian giảo, lố lăng thời nô lệ Pháp. Những hiệu ăn nổi tiếng của thủ đô sành sỏi, bên cạnh những đình chùa miếu mạo mà những câu đối cổ kính đã bị lu mờ giữa những biển hàng xanh đỏ trắng vàng, chi chít những chữ nho, chữ quốc ngữ, những nhãn hiệu tranh nhau quảng cáo. Tất cả một khu lộn xộn, lúc nhúc, ồn ào nhiều màu sắc, trước kia, dưới những triều vua sống cách biệt nhau, đêm đêm gài kín cổng, nơm nớp lo cướp bóc, giặc giã, hoả hoạn, nay quây quần lấy nhau, thông với nhau bằng những con đường quanh co, eo hẹp. Thiếu bóng cây, thiếu khoảng rộng, thiếu không khí, xoắn xuýt Hà Nội xưa và nay, trơ trụi gạch ngói với người. Và nấp trong những phố tíu tít ấy người ta sản xuất và buôn bán, cung cấp và thu nhập, toả cái truyền thống lịch thiệp, tinh xảo của Hà Nội đi khắp nơi, gây nên cái sức quyến rũ của thủ đô hoa lệ.

Nhưng buổi sáng hôm nay, Quốc Vinh cảm thấy mình không phải trở về với phố phường quen thuộc mà chính là đang trở ra mặt trận đầy sát khí, mà những phố bên ngoài không có. Về đến gần nhà, anh bỗng cảm thấy có cái gì rợn rợn. Anh mở to đôi mắt lồ lộ. Anh kêu khẽ, kinh ngạc: “Quái, các cậu nhà mình?” Anh lái xe cũng dừng tay lái. Trên bãi rộng, trước ga tàu điên, mấy người đi qua cũng đứng lại, ngẩn ra xem, có người quay mặt đi như sợ hãi. Đầu phố Hàng Đào, phía Cầu Gỗ, sừng sững, đỏ tươi, hai chữ CẢM TỬ kẻ từ bao giờ, chiếm cả bề dài bề rộng của bức tường vôi nham nhở của một dãy quán bán sách đã dọn đi. Hai chữ cảm tử như đôi mắt nhỏ máu lừ lừ nhìn Quốc Vinh. Dưới là một hàng chữ đen: “Chúng tôi, những thanh niên Hà Nội nguyện hi sinh đến giọt máu cuối cùng. Thề sống chết với thủ đô!”. Phố Hàng Gai, một biểu ngữ nữa kẻ bằng chữ đỏ: “Mỗi phố là một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài!”. Một tự vệ đứng sau đống bao cát đầu phố Hàng Đào, chĩa cái nòng súng mút ra khỏi miệng ụ. Phố xá đều im lặng, một thứ im lặng nặng trĩu, và có một vẻ riêng đau xót, thù hằn. Những bàn tay vô hình nào viết nên những dòng chữ dữ tợn, đanh thép kia, như trong linh tính đã cảm thấy một cái gì ghê gớm sắp xảy ra. Những phố Hàng Gai, Hàng Đào, Cầu Gỗ như. sát lại, những phố đằng sau như bôn tới, âm ỉ, quyết liệt, sẵn sàng. Mấy dòng cộc lốc, lạnh lùng, lẫn cả màu sống chết, lặng.lẽ nhìn ra Hồ Gươm, vừa kêu gọi và cũng vừa trả lời. Buổi sáng có chút ánh nắng gợi lại chút ít những ngày yên ấm. Cố gắng mỏng manh của cuộc sống bình thường, nhưng tuyệt vọng như cái hôn vớt vát trên đôi môi nhợt nhạt.

Quốc Vinh thấy gáy anh lạnh buốt, da sởn lên, gây gây như khi ta trông thấy máu me. Anh lo lắng: “Chẳng nhẽ có người biết cái hội nghị của ta ư?” Nhưng anh tự hào với cái khu phố đã tự đứng lên như một bức thành. Anh lặng đi trong giây lát, tai văng vẳng lời nhẹ nhàng của đồng chí Bí thư: “Đã đánh được chưa?” Xe anh chạy vào trong phố, và tì tay vào cái máy vô tuyến điện, anh có cảm tưởng như chẳng bao giờ còn ra khỏi nơi này.

Chú thích:

(1) Ca vũ việt Nam.

(2) Đốc học Pháp.

(3) Trung học.

Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #72 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 03:11:42 pm »

Chương 18

Cũng buổi sáng hôm ấy, khi trời còn đang ở trong cái màng mênh mông, ẩm ướt và lạnh lùng chưa phá vỡ, ánh sáng của những ngọn đèn điện cô đơn còn vãi trên đường, trên hè yên tĩnh và còn vương trên những cánh cửa đóng kín. Trần Văn đứng gác sau cái ụ bao cát sông Hồng, tần ngần nhìn theo một tốp người mà anh biết là bộ đội, lặng lẽ rời phố kéo đi. Những cái bóng nhấp nhô không quay lại. Tiếng giày bước đều, tiếng võ khí chạm vào người mà cái tĩnh mịch rì rầm và ran ran của chung quanh khuấy động thêm lên. Họ đã đi xa rồi mà những tiếng ấy vẫn vọng lại, khẽ dần, khẽ dần và lâu lắm còn lích kích bên tai Trần Văn. Cái thành phố đã vắng và rỗng lắm rồi, lại vắng và rỗng thêm, mềm nhẽo hẳn đi, như thân thể một con người không có xương sống. Một nỗi buồn làm rã rời người xâm chiếm lòng anh. Bộ đội đi đâu? Anh tự hỏi và đứng ngây người nhìn ra phía Hàng Gai mà gió lạnh đánh vật vờ mấy mẩu thuốc lá còn cháy vứt trên đường.
Anh mới vừa cùng với Loan và mấy học sinh viết xong mấy cái khẩu hiệu ở ngoài đầu phố Hàng Đào. Làm xong công việc ấy anh thấy yên tâm. Nhưng chân tay anh buồn bã. Anh vốn là người cần cù, nhưng làm việc phải có giờ giấc, và không chịu được thức khuya. Tuy vậy anh cũng gác thay cho một sinh viên kêu đau bụng xin về nhà nằm nghỉ. Anh đứng gác, ngáp luôn miệng. Trăm mối lo đổ đến khi một mối lo trước mắt chợt tới. Anh cố gạt đi để khỏi rối tâm trí nhưng không sao được. Đầu gối anh đã mỏi, cứ phải co lên, duỗi xuống luôn cho đỡ chồn. Tay anh cóng lạnh và khẩu mút, khẩu súng trường duy nhất của trung đội anh, tì cái báng ướt đẫm sương lên vai anh lạnh cóng. Gió rét dồn hết cả vào cái ụ. Mũi anh như tê dại, người như không còn sức nóng. Anh vẫn đưa mắt nhìn ra các ngả đường để quan sát. Một mẩu Hồ Gướm trước mặt, những hàng liễu mơ hồ rủ xuống bờ nước đen đặc. Mấy ngọn đèn trên cổng vào cầu Thê Húc sáng le lói. Bên dãy Thị chính từng ô dài ánh sáng đỏ, xanh, vàng nhấp nháy dưới rặng cây lẩn trong đêm tối. Khí lạnh của hồ thấm vào người anh. Lòng anh dạt dào một thứ hoài cổ thường hay đến với anh. Mi mắt ướt vì sương chớp chớp theo dòng tư tưởng của anh. Anh bâng khuâng như sống trong quá khứ, thuở Lê Thái Tổ thắng trận đi chơi hồ, trao lại cho còn rùa thiêng thanh kiếm đuổi giặc nay không dùng nữa, thuở những tao nhân mặc khách đến đây để ngâm thơ vịnh nguyệt, xướng hoạ với nhau, hào hứng giữa cảnh trời xanh nước biếc của cái hồ xinh đẹp nằm giữa kinh kì. Anh thấy rực rực trong người cái vinh quang của một dân tộc hiền hậu mà tự cường, cần cù và tế nhị, ghét tất cả cái gì là bạo lực, ưa thích văn chương và lễ độ. Một dân tộc mà lòng yêu hoà bình cũng lớn như lòng yêu các dân tộc khác, nhưng luôn luôn bị chà đạp, bị khinh miệt, bị chia rẽ, bị tàn phá và khi bắt đầu được thấy loé cái ánh sáng của tương lai thì kẻ ngoài lại đến để tiếp tục dập vùi. Anh uất ức với cuộc đời khắc nghiệt đang trải qua. Hà Nội khổ! Cái mảnh đất lâu đời này đã chịu đựng biết bao nhiêu tủi nhục trong mấy năm nay. Nó chưa ngẩng được đầu lên khi bọn Pháp đầu hàng Hít-le thì đã bị ngã dúi xuống đế giày quân Nhật. Nó còn chưa hết bàng hoàng với đêm Nhật đảo chính thì đã sa vào một chính phủ bù nhìn nhố nhăng hò hét. Cách mạng Việt Minh mới ra đời trong lụt lội, trong đói khổ và trong kiệt quệ. Hà Nội chưa hồi sinh đã lại chứng kiến đạo quân Tàu phù của Tiêu Văn, Lư Hán, nhiễu nhương, bòn vét, giết người và ỉa bậy, với cả một đám người hải ngoại lai căng theo gót chúng về xâu xé Tổ quốc. Bóng ma thanh thiên bạch nhật vừa mờ đi, thì đạo quân thiết giáp kéo cờ tam tài đã bị vùi xuống từ hơn một năm, lại xuất hiện trên các đường Hà Nội! Cho đến bao giờ? Sự thay phiên của những đạo quân ngoại quốc ấy, lướt đi như những giấc mơ đầy quái vật, trước những phố phường ngao ngán. Chẳng có gì chống đỡ, ngoài sự chịu đựng chờ thời và lòng khinh bỉ hoài nghi. Trí anh ngược lên những ngày xa xôi, hơn nữa, kể từ khi Hoàng Diệu không chống nổi Pháp, treo cổ lên cây, để tử tiết với thành Hà Nội chìm trong đêm nô lệ, biến thành một thành phố thực dân, phức tạp, mất cả uy nghi cũ; những lâu đài di tích bị triệt hạ để nhường chỗ cho ngục tù, cho nhà thờ, cho máy chém; cuộc sống của con người quằn quại trong ô nhục, bừng lên với những cuộc bạo động không thành, đen xịt trong những ngày thê thảm hàng vạn bộ xương bọc da lang thang như những cô hồn trên đầu đường góc phố, hàng vạn hàng vạn xác người chồng chất lên những thùng phân, xe rác, giữa lúc trong các dinh thự Pháp những tiệc hoa xa xỉ đang tưng bừng, và trên nền trời sục rục bóng những lưỡi kiếm của quân đội Nhật vung lên…

Sương sớm đã xoá mờ cái hồ, phố Hàng Đào quang dần ra, phơi trần những nếp nhà liền nhau, nhỏ hẹp, chênh vênh một vài căn gác như những hộp chồng lên, chỉ vừa cho một cánh cửa sổ. Những ngôi nhà chỉ hào nhoáng khi mở cửa và khi ánh điện chiếu vào cửa kính, quầy hàng tơ lụa, len dạ, do những bàn tay khôn khéo trang hoàng, như những cung hoa lệ, nhưng khi đóng lại thì trông sao mà tẻ ngắt. Con hươu sao, con tê giác, con lạc đà, con vịt che ô, những nhãn hiệu kì khôi, quen thuộc mà những người chủ không cất dọn để ra đi trong một cuộc tản cư mà họ cho là chẳng phải kéo dài, ngơ ngác nhớ những ngày sầm uất, chán chường như một gánh xiếc sắp lên đường. Những mái hiên nhô ra, thụt vào, bày ra một cảnh tượng chắp vá. Những ngôi đền nhỏ, bưng lên trên một nóc nhà thấp, như một người già mà con cháu bỏ mặc, nay bừng tỉnh nhìn qua bức mành cảnh phố vắng tanh. Tất cả những cái cũ kĩ, lủng củng ấy, bị đè bẹp xuống, xo ro trong một cơn chờ đợi đầy đe doạ, rõ ràng không phải sinh ra để chiến đấu. Thế nhưng nó cứ phải đứng lên, và người cứ phải bảo vệ nó. Chiến tranh đang đến, vô lí như một định mệnh.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #73 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 03:12:27 pm »

Trần Văn nhìn cái ụ bao cát, do những bàn tay không biết đánh nhau là gì chồng chất lên, mảnh như đồ mã. Mấy cái hố đào bên kia vỉa hè mà ban đêm anh tưởng là sâu lắm, nay thấy nó nông choèn. Anh rùng mình nghĩ đến những trận đánh. Anh sẽ nấp ở đấy mà ném lựu đạn vào quân Pháp tiến vào. Anh nghĩ đến bài giảng của Văn Việt. Khi xe tăng giặc đến thì mình phải nhảy ra mà ném chai ét-xăng cờ-rếp, rồi quăng lựu đạn. Dũng cảm hơn, phải lao vào xe, cầm một khúc gỗ đút vào xích xe cho nó bật ra khỏi bánh. Anh vốn chậm chạp, anh không hiểu con người phải nhanh đến như thế nào mới làm được ngần ấy việc trong nháy mắt. Anh lè lưỡi sợ hãi một mình, tưởng như cả cái khối sắt kia sẽ đè lên anh và nghiền nát. Nhưng anh nghĩ, vấn đề là phải thắng trong keo quyết định này. Sao những người thiện chiến là bộ đội lại ra đi? Họ có trở về không? Anh tự nhủ: Dù sao thì mình cũng chỉ biết được cho mình. Anh đã ở lại. Anh đã chia tay với mẹ. Anh đã bỏ cái nhà ấm cúng, cuộc đời dạy học mà anh tha thiết, công việc nghiên cứu sử anh đã làm trong mấy năm nay. Cuộc sống lặng lẽ qua rồi. Anh đã viết cái lời thề sống chết. Quan hay không quen, sống hay chết, anh vẫn cứ phải đi vào cuộc chiến đấu. Vui sướng biết bao nếu trong trận cuối cùng này anh được là người cuối cùng hi sinh cho tự do dân tộc.

Tự nhiên anh thấy yêu hơn bao giờ hết cái phố lâu đời. Anh nhớ lại những ngày vui, trong những buổi sáng lành lạnh như thế này, mùa ao ước của những quần áo đẹp, nơi đây đông như một chợ phiên. Người ở các phố dưới kéo lên, để mua bán, để ngắm hàng, ngắm người. Nam nữ trong phố chăm lo bộ cánh, kéo đi lượn Bờ Hồ. Kẻ đi người lại, tranh nhau đua đòi lịch sự. Không phải Trần Văn ưa gì sự nhộn nhịp, phù hoa ấy. Có những ngày anh đã thấy ngấy với cái Hà Nội vùi đầu trong cuộc sống ăn chơi. Nhưng lúc này, cũng như nhiều người nhu nhược, trước những thay đổi sắp xảy ra thì trở nên bảo thủ, anh lưu luyến tất cả những cái gì đã qua không trở lại. Anh cảm thấy mình đã khắt khe với người, với việc. Có những phút con người lắng xuống, tự thấy mình có những khinh ghét vu vơ, và lúc ấy con người trở nên độ lượng, tha thứ cho những cái chẳng hay ho gì cho lắm. Anh hối hận, sao anh còn có thể giận Trinh. Hôm qua, trong lúc anh chuẩn bị bố trí cái tổ tác chiến mới của anh, thì ô tô của Trinh và Bao phóng qua và lúc ấy anh cau mày, bực mình vì cái nhởn nhơ của họ. Anh lẩm bẩm một mình: “Hãy mong cho Trinh sung sướng”. Anh thấy người lâng lâng, lòng không chút hờn oán đối với một người đàn bà yếu đuối.

Trời sáng rõ, anh vui sướng đã làm xong cái nhiệm vụ gác đêm, ở dưới đường, thay cho bạn. Nó vẫn nặng nề và nguy hiểm hơn những cuộc gác ban ngày trên gác cao. Anh xem đồng hồ và thở phào một tiếng. Một đêm lại đã qua. Vẫn chưa xảy ra chuyện gì cả. Anh mua một tờ Cứu quốc của một chú bé vừa chạy vừa rao trong buổi sáng vắng lạnh. Ngoài những bài tường thuật vụ thảm sát ở ngõ Yên Ninh, vụ Pháp chiếm đóng sở Tài chính, một cái đầu đề chữ lớn làm cho tim anh đập mạnh: “Lại một tối hậu thư của quân đội Pháp”. Mắt anh lướt nhanh đến cái tin sau cùng: “Quân Pháp muốn dúng tay vào việc trị an Hà Nội”. Tay anh run bắn lên, anh vừa đọc vừa nhăn trán:

“Hồi 9 giờ 15 tối ngày 19, Liên kiểm trung ương Pháp báo cho Liên kiểm trung ương Việt Nam biết rằng trong ngày 18-12, công an Việt Nam ở Hà Nội đã không làm tròn nhiệm vụ. Vậy nếu tình thế kéo dài, bắt đầu ngày 20-12 quân Pháp sẽ đảm nhiệm trị an ở thành phố Hà Nội”.

Anh nín thở đọc câu cuối cùng cộc lốc:

“Ta đã trả lời: Đấy là quyền tối cao của nước Việt Nam tự do”.Tiếp đến những lời Tổng bộ Việt Minh kêu gọi nhân dân sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ, những bức thông điệp thiết tha của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Lê-ông Bờ-lum, gửi Ủy viên cộng hoà Pháp quốc, đề nghị phái đoàn Quốc hội Pháp sang, đề nghị ngay những phương pháp cương quyết và cấp tốc để chấm dứt tình hình căng thẳng hiện thời… Chiến tranh đến nơi rồi. Tờ báo như rời khỏi tay anh. Anh định đi tìm các bạn thì một chiếc xe ô tô ở phía hồ, đường vua Lê đi lên. Anh trông thấy Quốc Vinh ngồi trong xe, đăm đăm nhìn cái khẩu hiệu do bọn anh vừa kẻ. Sao Quốc Vinh lại đi ô tô? Sáng sớm ở đâu về? Chắc chắn là ở cuộc họp bất thường và đi xe về gấp để lo chuẩn bị. Trông ngực anh đập đến như vỡ. Gió ở ngã tư đầu phố đánh thốc vào, bốc bụi đường và những đám cát vung vãi. Phố mịt mù, gió lành lạnh, rợn như một trận lạc mạo phong. Trần Văn nhắm nghiền mắt lại. Những giọt sương đọng trên mũ sắt rơi xuống bàn tay buốt cứng của anh.

Anh vác súng ra khỏi ụ, một tay vẫn cầm tờ báo. Thấy Quốc Vinh cười với anh một cách hồn nhiên, anh đỡ lo, và cũng đỡ cái dè dặt mà anh thường có khi gần một cán bộ. Xe dừng lại, Quốc Vinh nhảy xuống, một tay đưa lên miệng, một tay nắm lấy Trần Văn. Giữa những tiếng nổ của động cơ, Quốc Vinh hỏi:

- Anh gác đấy à? Anh em khoẻ cả chứ? Đâu cả rồi?

Trần Văn lúng túng. Sau cái lệnh tập trung, anh em tự vệ hăng hái đến trụ sở được một đêm, rồi hôm sau ai lại trở về nhà nấy. Tuỳ, anh sinh viên luật thì kêu thiếu thuổng, bỏ về nhà ngủ. Một anh khác thì kêu đau bụng. Bác phở trọc thì đêm phải về bán ù lấy vài bát phở kiếm ít tiền. Sờn thì xin phép về trông gỗ cho chú, kì thực thì đi ngủ với con nhà thổ Tuyết, tằng tịu với nhau trong khi đào hố, rồi đánh nhau với Thừa là chồng nó mới ở quê ra… Người nào cũng có lý do để về, chỉ còn mấy học sinh và Tu trên gác. Quốc Vinh như đoán được cái lúng túng của Trần Văn:

- Phải cương quyết anh ạ.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #74 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 03:13:58 pm »

Trần Văn hỏi:

- Tôi vừa xem báo, thấy tình hình có vẻ gay go lắm. Nó hẹn ngày 20 giữ lấy trị an. Ta có nhận không? Nếu không nhận thì có thể chiến tranh không?

Vừa nói, anh vừa đưa tờ báo cho Quốc Vinh. Hai người nhằm nghiền mắt lại vì bụi cát táp vào mặt. Quốc Vinh xoay lưng Trần Văn lại cho thuận chiều gió. Anh nói nhỏ:

- Từ nay đến ngày mai, tình hình sẽ gay gắt lắm. Âm mưu xâm lược của nó đã rõ. Chúng ta phải hết sức đề phòng, nhất là tối hôm nay là hết hạn cái tối hậu thư của nó.

- Nó có thể đánh ta không?

- Có thể, cho nên chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo để không bị đánh bất ngờ.

Quốc Vinh ho vài tiếng và nói:

- Anh triệu tập ngay anh em lại. Võ khí sẵn sàng. Không một phút rời trụ sở. Tối nay có thể quyết liệt đấy.

Xe của Quốc Vinh đi rồi, Trần Văn còn đứng ngẩn người ra giữa đường. Chuyến xe điện tới gần mà anh không biết. Cát vẫn bay mù mịt. Trong đám bụi, hai người trong Ban trật tự giải ngót gần chục tên lưu manh lôi thôi lốc thốc đi qua. Đoạn hậu là Nhật Tân, vẻ bận rộn, tay ẩy một thằng đang ngoái cổ lại. Con Lu lu cao lớn chạy lạch đạch, cuồng chân hí hửng. Chúng nó bị bắt quả tang vào trong các nhà tản cư ăn cắp. Một thằng, vẻ cà lơ, tay bị trói giật lại đằng sau, vừa đi vừa van lạy:

- Các anh tha cho em. Lần này là lần đầu. Chúng em biết tội rồi. Chúng em cũng biết nghĩ.

Một anh trật tự nói:

- Anh biết nghĩ nên mới vào nhà đồng bào lục lọi. Lệnh của Chính phủ đã nghiêm cấm, không biết à?

- Nếu em biết thì em đã không làm.

Nhật Tân thét:

- Không biết xấu. Đi! Phải xử tử chúng mày, quân khốn nạn!

- Anh tha em ra. Em xin liều với thằng Tây. Em cũng thề sống chết với thủ đô.

Nhật Tân bợp tai thằng vừa nói, và không nhìn ngang nhìn ngửa, anh rút khẩu súng lục giơ lên cao, đe doạ:

- Đi không tao bắn chết bây giờ. Vớ vẩn.

Trần Văn nhìn trong đám lưu manh không có Long đen. Anh thở dài, mừng thầm cho hắn và ân hận như đã để lỡ một dịp cứu vớt một con người khốn nạn. Anh định bước vào trong nhà, thì ông già Tư đã mở cửa, đứng chào anh một cách trịnh trọng và giả dối. Đấy là một ông già râu bạc gần hết, tóc hất ngược, mình bận một cái áo ba-đờ-xuy nâu sẫm, có cái vẻ sạch sẽ, cẩn thận của những người nhà được tín nhiệm trong các gia đình giàu có. Ông ta nói:

- Xin ngài cho tôi được trình. Các ngài cũng vì việc công việc nước nên mới đến đây. Tôi đã để cho các ngài đóng trên gác hai. Nhưng các ngài dỡ tung cả đồ thờ ra, làm thế thì tôi khó xử quá.

Trần Văn cười trong bụng. Ổ tác chiến của anh đóng ở trên gác hai là một gian nhà thờ nhỏ, lủng củng những ngai, những bài vị, những kiếm, những cờ. Ông già Tư giao hẹn không được động đến các đồ thờ, sợ uế tạp. Nhưng không có chỗ ngủ, anh chờ khuya đến, ông ta không lên rình mò nữa, mới dọn các đồ thờ đi cho xuống gầm, và nằm ngủ trên giường thờ, sáng ra lại bày như cũ. Đêm đầu đã không xảy ra chuyện gì. Sáng nay, chắc là ông ta bắt được. Anh nói:

- Tình hình này cụ cũng lượng cho.

- Không ạ, bẩm nhà chúng tôi sạch ạ, ngăn nắp ạ, đến cái sân cũng phải sạch, đồ nào thức ấy không bao giờ suy suyển. Bây giờ các ngài làm thế thì chúng tôi thực là không dám ạ. Bẩm các ngài thì đi, chứ chúng tôi thì cứ phải ở đây. Các cụ chúng tôi ra thì kì kèo, là kì kèo chúng tôi. Xin trình với ngài chúng tôi ngại nhất là để các cụ tôi phải kì kèo.

- Sắp đánh nhau rồi đấy cụ ạ.

- Thưa ngài, đánh nhau thì lại khác ạ. Nhưng còn thời bình thì các ngài giữ gìn cho.

- Cụ ơi, không phải nhà của cụ mà sao cụ giữ ghê thế?

- Thưa ngài của các cụ tôi cũng như của tôi đấy ạ. Các ngài làm thế thì tôi không biết nói thế nào. Xin các ngài…

Trần Văn muốn tát vào mặt cái lão già khó chịu, luôn luôn làm khó dễ anh em. Hai vợ chồng người Ấn Độ bán vải ở cách vài nhà, thập thò nhìn ra ngoài đường và nghe ngóng câu chuyện của hai người. Trần Văn càng bực mình, nghĩ: “Không sợ người ngoại quốc người ta cười cho”. Anh định đi bừa vào trong nhà, mặc kệ ông ta. Một tiếng gọi, anh quay ra thấy Văn Việt đi xe đạp ở ngoài phố vào, miệng phì phào điếu thuốc lá thơm, râu quai nón cạo nhẵn. Vẫn cái bờ-lu-dông tím, vẫn cái bao súng lục bóng đeo bên hông, vẫn đôi giày da đen có ghệt nhỏ túm lấy cái quần dạ màu nâu sẫm, vẫn cái vẻ hiên ngang nho nhã của người thanh niên uỷ viên quân sự. Trần Văn chạy lại, nói thì thầm, nhưng lễ phép:

- Có thể tối nay nó đánh mình phải không anh?

Ghếch xe đạp bên hè, một chân đá cái pê-đan quay tít, điếu thuốc lá cặp giữa hai ngón tay một cách lơ lửng, Văn Việt cười:

- Ai bảo anh thế?

- Tôi vừa gặp anh Quốc Vinh, mới đi họp về thì phải.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #75 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 03:16:50 pm »

Văn Việt nhún vai, một tay tì trên càng khẽ rung rung cái chuông. Mặt anh nhạt dần, có một vẻ gì chua chát:

- Họ họp từ nửa đêm kia, cả bà Oanh nữa! Anh ấy nói thế?

- Vâng. Nhưng chắc anh cũng biết rồi.

- Tôi biết? Họp đâu mà biết!

Văn Việt bắt tay Trần Văn, cười khẩy, rỉ tai Trần Văn:

- Người đoàn thể nói thì mình phải tin thôi. Được, họ cứ họp, mình cứ canh, cứ gác, cứ bố trí, cứ huấn luyện cho thật cừ. Họ họp suốt đêm thì mình cũng thức suốt đêm. Bảo đánh là đánh. Nhưng riêng tôi, tôi cũng có cái phán đoán của tôi. Nếu nó đánh mình, thì nó phải đánh buổi sáng sớm, vì nó có cả một ngày hoạt động. Lại có lợi là bất ngờ, làm cho ta hoang mang, lại bảo vệ được kiều dân nó. Và nhất là nó có điều kiện giữ được nước điện mà không có thì nó chết. Nếu đánh tối thì không phải là nó đâu. Phải hiểu khác.

Văn Việt cười khanh khách, nắm chặt tay Trần Văn:

- Ta cứ tin vào các ông ấy thôi. Nhưng phải chuẩn bị gấp đấy. Giờ H rồi. Khổ cho những ai không ở trong đoàn thể!

Người uỷ viên đạp phóng lên phía Hàng Bạc. Trần Văn càng hoang mang. Nhưng anh vẫn cảm thấy có môt cái gì không phải như mọi ngày nữa. Anh tin Quốc Vinh hơn, lòng buồn buồn cho Văn Việt lúc này còn xoi mói. Anh phớt lão già Tư, vào nhà xách xe đi tìm anh em, bực bội vì họ đã quá thờ ơ với thời cuộc. Chiến tranh thế là đến nơi rồi và sắp lôi cuốn anh vào một cuộc chém giết ghê gớm. Mắt anh hầu như không thấy gì cả. Ngày thường anh đi xe đạp rất cẩn thận, nhưng lúc này anh phóng xe như bay. Anh cũng chẳng tính toán xem nên đến ai trước, ai sao cho lợi đường và lợi thời giờ. Anh chỉ nghe có tiếng nói trong lòng: “Đẻ ơi! Có lẽ đẻ sẽ không bao giờ gặp con nữa!”

*

* *

Trung đội của Trần Văn họp ngay ở phòng ăn của cái nhà buôn tơ lụa lớn này. Trên bàn để năm sáu cái chai không, những miếng cờ-rếp, những quả lựu đạn của xưởng Phan Đình Phùng. Một đội viên Vệ quốc quân từ cái lỗ tường đục dưới cầu thang làm giả cẩm thạch chui ra, tay xách một thùng ét-xăng. Anh đội mũ sắt Nhật, trang bị gọn ghẽ, như đã trong thời chiến. Anh không nói, và bước tới bàn ăn, đặt cái thùng bên chân bàn. Trần Văn thét:

- Không ai hút thuốc lá nữa!

Mấy anh sinh viên dập vội điếu thuốc lá đang hút. Trần Văn nhìn trung đội của anh, gồm phần lớn là học sinh, sinh viên, và anh em lao động: Tu, anh phu khuân vác, Sờn, anh thợ xẻ, Mộng Xuân, anh kép cải lương, ông hàng phở, anh phu xe… Cái vẻ ngơ ngác của họ làm cho anh cảm động. Tất cả, như những con chim sẻ kiếm ăn rải rác, giật mình vì một tiếng động, ùa bay theo một hướng. Vai đeo khẩu súng duy nhất của trung đội, anh nói:

- Bắt đầu từ lúc này, chúng ta đã sống trong tình trạng chiến tranh rồi. Chúng ta phải sống tập trung không được về nhà nữa. Đồng chí bộ đội đây sẽ đi với chúng ta, cùng với chúng ta chung một nhiệm vụ là hi sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ thủ đô. Chúng ta là người Hà Nội, chúng ta phải làm gương cho toàn quốc. Hà Nội là đất chiến thắng, Hà Nội có Đống Đa. Hà Nội là đất nghĩa khí. Hà Nội có cụ Hoàng Diệu. Hà Nội là đất cách mạng. Hà Nội có vườn hoa Ba Đình. Đến lượt chúng ta bây giờ, chúng ta phải giải phóng thủ đô, như Trần Quang Khải cách đây bảy trăm năm cướp lại Thăng Long, ngâm bài thơ cướp giáo; như Lê Lợi giải vây cho Đông Đô; như Quang Trung diệt tan quân Tôn Sĩ Nghị trong ngày tết chiến thắng đẹp nhất trong lịch sử chúng ta. Nhận cái thùng ét-xăng này, chúng ta phải hứa là tất cả những xe tăng, xe thiết giáp nào vào trong khu của chúng ta trong đêm nay, phải đốt cho bằng hết. Khi nào có lệnh, thì các bạn có nhiệm vụ tác chiến mở thùng ra, chuẩn bị cho những chai ét-xăng cờ-rếp tiêu diệt chiến xa. Các bạn khác thì xông ra đào hố, ngả cột điện…

Chân tay anh run bắn lên. Sau khi anh đã chuẩn bị được những câu hùng hồn, đến đây anh rối trí, không biết nói gì thêm. Các bạn anh cũng đứng dậy chờ đợi. Mặt anh lạnh lạnh. Họ trông anh như một người lạ chẳng biết anh em bao giờ. Hồi lâu, anh nói:

- Từ giờ phút này, nên nhớ là sai một tí là chúng ta có thể mất đầu. Bây giờ chúng ta chia những quả lựu đạn mới được phát thêm và những chai này.

Cái phòng ăn trở nên tấp nập. Chung quanh bàn, mấy người tranh nhau lấy những quả lựu đạn tốt nhất như đi chợ chọn hàng. Góc này, hai anh học sinh chia nhau mấy viên đạn súng lục. Chỗ kia, một anh giở súng lục ra lau. Người xem lại con dao găm, người tuốt kiếm. Những người phụ trách phá hoại thì kiểm điểm dao, cuốc, dây thừng để kéo đổ cột đèn. Mấy anh trong tổ cứu thương phân công sẵn người khiêng cáng.
Không khí chuẩn bị náo nhiệt, vô tư nhiều hơn là lo sợ. Một học sinh nói:

- Ở đâu được đánh Tây cũng sướng. Nhưng không đâu có được cái vinh dự như chúng mình, chống giữ thủ đô oanh liệt.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #76 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 03:19:50 pm »

Sờn ngắm nghĩa một quả lựu đạn:

- Toàn lựu đạn ta làm, mất tay như bỡn.

Anh học sinh nói:

- Hay nhất lại là ở chỗ ấy. Có bao giờ lại chính tay chúng ta đúc lựu đạn để đánh lại chúng nó không? Ồ, nghĩ buồn cho mấy thằng tản cư. Chúng nó sẽ rất xấu hổ khi thấy thủ đô được giải phóng mà không có chúng nó ở đây.

Trần Văn đứng nhìn anh em, thấy cuộc đời của mình thật kì lạ. Hôm qua còn là một giáo học, hôm nay đã thành một người chiến đấu sắp xông ra trận. Anh vừa nói như giảng một bài sử, chỉ khác là trước đây trong lớp học trò nghe như câu chuyện xa xôi, mà lúc này thì họ đang sắp làm cái việc mà ông cha ngày trước đã làm. Chính anh cũng sẽ lao vào trong cuộc, có ít nhiều chịu đựng và liều lĩnh như theo một định mệnh kéo đi, nhưng cũng có cái vui của người đã dứt khoát chọn một con đường, dù là nguy hiểm.
Anh đang ngồi bên bàn, lau khẩu súng thì Tu đến bên mời anh ra môt chỗ. Cái lưng gù gù của bác phu khuân vác già như càng gù thêm. Tu đã tình nguyện vào đội cảm tử đánh xe tăng, và sắp về Hàng Bạc, theo sự bố trí của Văn Việt, Tu nói:

- Cháu không được ở với ông nữa. Cháu muốn nhờ ông một việc. Nhờ ông biên cho một lá thư về quê cho mẹ cháu, dặn dò nuôi lấy ba đứa con, cứ nhớ lấy ngày hôm nay mà làm giỗ cháu.

Trần Văn dựa khẩu súng vào bàn, đứng dậy nhìn Tu. Tay anh đặt lên cái vai rộng của người phu khuân vác, và lòng anh se lại. Lúc nãy khi anh nói, Tu hình như chẳng hiểu gì cà. (Một hôm, thấy anh em nói về Hoàng Diệu, Tu thủ thỉ hỏi anh ông ấy là ai). Ngày thường chẳng ai bảo họ là người Hà Nội, và họ cũng gần như chẳng biết Hà Nội là gì. Cái gì đã làm cho họ ở lại với thủ đô? Nghĩ đến vợ con Tu, chỉ vẻn vẹn có vài trăm bạc để tản cư, anh thấy lòng bất nhẫn. Anh nói:

- Vâng tôi sẽ viết. Nhưng sao lại dặn thế?

Tu cười lặng lẽ, mặt phồng lên làm thành những cái múi dăn deo, cái lưng gù mang nặng cả một cuộc đời vất vả, cúi xuống một cách chịu đựng:

- Dạ. Ông cứ viết cho như thế ạ. Cháu cũng được yên trí mà mẹ con nó cũng được yên trí.

- Nhưng nhỡ mình sống thì thế nào?

- Thế thì còn gì bằng nữa ạ.

Chú Lai ở ngoài cửa chạy vào. Lai đã được trung đội nhận làm liên lạc. Nó hí hửng như được quà. Nó vẫn đen đủi, tóc còn rối bù, nhưng đã sạch sẽ hơn hôm mới đến. Lai kêu:

- Ông Văn ơi! Ông có được ra Thị chính tuyên thệ không?

- Tuyên thệ?

Trần Văn vừa nói vừa nhìn Tu. Người phu cười với chú Lai và kéo nó đến bên mình. Anh nói:

- Em ở đây với ông Văn nhé, (quay nói với Trần Văn). Có chú Lai cũng vui thêm. Tôi cũng đỡ nhớ cháu lớn, cũng bằng cỡ này.

Mọi người đã quây lấy Tu sắp sửa từ biệt anh em và có lẽ không còn trở lại. Tu đã thề không phá được xe tăng thì không về. Bên ngoài, tiếng một đứa bán báo rao: “Tin cuối cùng ơ! Người Việt Nam không thể không đề phòng ơ!” Tiếng ai hát bài Suối mơ như trong một buổi sáng yên vui. Trần Văn rút bút máy ra. Tu căn dặn như thể nhờ người làm đơn:

- Ông cứ bảo mẹ con nó nhớ ngày hôm nay cho cháu.

Một tốp anh chị em chợ Đồng Xuân tiến vào, tiếng guốc vang lên. Đi trước là Nhân. Khắn nhung đen, quần lĩnh, áo vải đồng lầm, cô con gái Ngọc Hà, khuôn mặt bàu bàu và nước da mịn, như đem vào trong cái phòng rối rít cả một sức trẻ đang lên và cả cái rộng thoáng của những vườn rau, vườn hoa ngoại thành. Mọi người reo to hoang nghênh các đại biểu chợ Đồng Xuân, những người đã từng vào tận trong thành đấu tranh với Pháp. Nhân nói:

- Chúng em đem gạo ủng hộ các anh.

Trần Văn quay ra làm cho Nhân cúi xuống, thẹn thò. Anh muốn mọi người không ai hiểu lầm quan hệ giữa Nhân và anh. Rất đứng đắn, anh nói:

- Các chị thật là sốt sắng.

- Có gì đâu anh. Đây là trích tiền lãi nửa tháng của chúng em.

- Cảm ơn các chị, cảm ơn cô. Tôi tiếc rằng hôm qua không tới mừng cô được. Cụ vẫn khoẻ chứ, cô Nhân? Tôi gửi lời thăm hỏi cụ nhé.

- Vâng, cảm ơn anh. Đẻ em vẫn khoẻ. Tết này không biết đã yên chưa, anh nhỉ? Bao giờ anh lại lên chơi Ngọc Hà?

Tu cuối xuống, bốc một dúm gạo và để cho những hạt trắng tinh từ từ trôi trên lòng bàn tay:

- Ở nhà tôi chả bao giờ có những thứ này.

Nhân nói:

- Ủng hộ các anh phải ủng hộ cái tốt chứ ạ.

Trần Văn đã đến bàn, bắt đầu viết thư. Trí anh đi từ những anh hùng lịch sử mà anh ngưỡng phục đến hàng vạn, hàng triệu những người đã ngã xuống và còn ngã nhiều, những người bình thường, tối tăm, như Tu, như Lai, nối tiếp nhau hết đời này đến đời khác, chịu đựng biết bao nhiêu cảnh sinh li tử biệt trong cuộc trường chinh không mỏi, không ngừng. Trong cuộc, họ là những người làm nhưng phần nhiều không biết, và cũng ít ai biết đến những việc họ đã làm, những đau khổ họ đã qua.

- Em đi, anh nhé. Anh có cần gì thì báo, em sẽ đem vào. Dù có đánh nhau, chúng em vẫn vào tiếp tế cho các anh.

Anh không nghe thấy tiếng Nhân nói với anh. Anh nhìn Tu, và lại cúi xuống tờ giấy, chia sẻ giữa hai ý kiến, nên viết theo lời dặn ghê gớm của Tu, hay chỉ nên viết một lá thư thăm hỏi bình thường. Khi viết xong, anh hối hận là đã không được niềm nở lắm đối với cô em gái bạn.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #77 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 09:34:55 pm »

Chương 19

Một tay dắt xe đạp, một tay đẩy cửa, Nhật Tân bước vào cái gian nhà ngoài trông như cái phòng dọn để cho thuê. Con Lu lu đã quen cái nhà này, nhảy trên sàn đá hoa. Người bếp già chạy ra. Con chó mừng cuống quýt, đứng thẳng người lên, quắp lấy hai bên sườn người bếp. Nhật Tân hỏi:

- Cậu Tân đâu?

Người bếp còn uống rượu, mặt có những mảng đỏ phơn phớt, mắt lờ đờ nhìn Nhật Tân, nói:

- Thưa cậu, chắc là ở trên gác.

- Sao lại chắc?

- Con không dám lên.

- Ông bà tản cư rồi chứ?

- Thưa cậu, bà và hai cô con về quê. Ông mới ra, nhưng vẫn ở trên Hàng Bông. Mấy hôm nay cậu không
lại chơi?

- Anh tưởng tôi rỗi lắm hẳn. Cậu đã vào tự vệ chưa?

- Thưa, cậu ở Hàng Bài đây nó thế nào ấy, không được như trên phố.

Nhật Tân lắc đầu thay cho thở dài. Anh bĩu môi, búng tay kêu như tiếng gõ mõ nhỏ, và treo hai bậc lên
gác. Nhật Tân với Tân là đôi bạn chí thiết từ nhỏ. Bố Nhật Tân hồi còn sống là một nhà văn chuyên viết truyện kiếm hiệp và rất thân với bố Tân là một nhà thầu lớn. Nhật Tân và Tân học cùng trường, cùng lớp suốt từ bé. Đến năm thứ ba thành chung thì Nhật Tân bỏ trường, vì bố không nuôi nữa. Ông ta có chủ trương là chỉ nuôi con, trai cũng như gái, đến hết mười bảy, quá cái tuổi ấy thì con cái phải tự lập lấy. Ông cho làm như thế thì chúng mới thành một con người tháo vát. Thấy bạn bỏ trường, Tân cũng bỏ. Nhà giàu, Tân thường giúp đỡ Nhật Tân, nhất là khi bố Nhật Tân chết, bà Ký – mẹ Nhật Tân thường được gọi như thế, vì ông có làm ký rượu mấy năm – phải nuôi tám đứa con, kể cả Nhật Tân mà hồi chồng còn sống bà vẫn giấm giúi cho tiền. Sau ngày Nhật đảo chính, Nhật Tân vào Việt Minh, Tân không đồng ý nhưng vẫn giúp. Hồi Nhật Tân xung phong cùng đoàn học sinh Hà Nội đi Nam tiến, Tân bảo Nhật Tân là ngốc, tuy vậy vẫn sắm sửa, từ quần áo đến thuốc men để cho Nhật Tân lên đường. Bốn tháng sau Nhật Tân về, ốm một trận. Tân vừa chửi bạn vừa săn sóc chữa chạy. Tân có cảm tình với đảng Quốc dân. Một hôm Nhật Tân đến bắn nhau với tụi trong đảng ấy. Chúng đông hơn, đuổi anh và sắp bắt được, Nhật Tân chạy trốn và nhà Tân. Tân bảo Nhật Tân: tao ghét Việt Minh, nhưng không thù bạn, và không giao Nhật Tân cho bọn kia. Sau vụ Ôn Như Hầu Tân chản đảng Quốc dân và chỉ nghĩ đến ăn chơi.

Vào cái xa-lông riêng, Nhật Tân thấy cả một sự bừa bãi. Trên bàn, một chai sâm-banh cổ vàng chưa dùng hết nửa, nút văng xuống thảm. Bốn cái cốc pha lê, một cái đầy, một cái đổ xuống bàn, rượu làm ướt sũng cái khăn bàn đăng ten, và tràn vào cái hộp Cờ-ra-ven A mới lấy ra dăm điếu. Lê, táo thì phần lớn là cắn dở, gọt dở, vỏ vứt trên các đĩa kẹo, bích quy. Bình hoa cúc vàng nằm đè lên một con dao và cái mở nút chai. Trên đi-văng kê sát cửa trông ra Hàng Bài, đồng hồ Oméga đeo tay, cây đàn vi-ô- lông vứt trên bộ quần gạch, áo màu xanh chai Tân hay mặc. Thoang thoảng mùi nước hoa và phấn. Trên một ghế bành, một tờ giấy nát bị người ta ngồi lên. Nhật Tân nhặt lên xem thì là tờ giấy kí tên phản đối quân đội Pháp chiếm đóng sở Tài chính. Đã vài chục người kí. Anh lắc đầu, lấy bàn tay là lại tờ giấy:

- Thằng này hỗn quá!

Nhật Tân rót một cốc sâm-banh uống một hơi hết, đặt phịch xuống bà, lẩm bẩm:

- Thằng bé làm cái gì mà vỡ nợ thế này.

Anh giơ ngón tay trỏ lên trán, gật gù:

- Có gái. Được. Thế này mới bảnh.

Anh rót rượu, nốc một cốc nữa, phanh ra-gờ-lăng ra, rút khẩu súng lục, tung nó trên bàn tay mấy cái, vỗ vào lưng con Lu lu, chỉ cho nó nằm một chỗ, rồi huýt sáo bước vào phòng Tân. Cửa không đóng, anh mở toang. Trên giường ngủ, lù lù một đống chăn trắng. Anh tiến sát lại, thét:

- Mort aux Việt Minh! (1)

Anh giơ súng và tung chăn ra. Tân nằm ôm chặt một người con gái trần như nhộng, trắng lốp. Tiếng kêu
của người phụ nữ giọng đầm. Họ giằng lấy mảnh chăn trùm vội lên che thân thể. Tân ngồi nhỏm dậy, tóc chải mượt, chỉ hơi xộc xệ. Tân nhận ra bạn. Lúc này Nhật Tân đã quay mặt đi, ôm bụng cười. Tân nói:

- Mày làm cái gì lạ thế. Bước đi cho người ta ngủ.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #78 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 09:36:02 pm »

Nhật Tân quay lại:

- Ra tao bảo. Không tao bắn chết.

Anh giơ súng chỉa vào Tân. Người con gái hé đôi mắt nâu nhìn ra, thấy Nhật Tân quay lại thì rú lên, kéo chăn trùm kín đầu. Nhanh như cắt, Tân lấy khẩu súng lục trên đầu giường chĩa vào mặt Nhật Tân, thét:

- Hạ súng xuống không mày chết!

Nhật Tân chĩa súng vào trong túi ra-gờ-lăng:

- Tao muốn nói chuyện với mày.

Tân quăng súng xuống sàn:

- Ra ngoài chơi. Tao ra ngay. Le charogne (2).

Một lúc, Tân sang xa-lông, chân đi bít tất xỏ vào đôi dép Nhật, mặt mụ mị vì rượu và ngái ngủ. Tân là một
thanh niên tầm thước, lẻo khoẻo, để tóc mai dài, bộ ria nhỏ như một nét bút chì kẻ nhỏ. Anh giơ tay nắm chân trước con Lu lu, như bắt tay, ép nó vào người, dẫn nó đến ghế, ra hiệu cho nó ngồi lên. Anh thọc tay vào túi áo dài mặc trong buồng, rút khẩu súng lục mà lúc nãy đã quăng xuống sàn, đưa cho Nhật Tân. Anh ngáp dài. Không nhìn bạn, Tân nói:

- Cho mày để đi đánh nhau.

Tân ngồi xuống ghế bành đối điện, chân nọ gác lên chân kia, tay quờ sang sau tím cái đây lưng và thắt lại. Nhật Tân gần như nằm trên ghế, giày đạp lên cái bàn tròn thấp, ngửa mặt lên trần, nói:

- Phải đợi đến súng lục của mày à? Thuốc lá đâu?

Tân cúi xuống gầm bàn, lấy ra một hộp Cờ-ra-ven A còn mới, liệng cho Nhật Tân, nói:

- Lần sau tao cấm, nghe chưa?

Nhật Tân hút thuốc lá và quăng cái hộp thuốc lá cho Tân, chìa cái giấy lúc nãy ra:

- Sao mày không kí?

- Kí thêm một tên để làm gì?

- Mày không kí thì đưa cho người khác kí, sao lại ngồi nát cả ra?

- Nát còn hơn đưa cho Pháp. Nó cười cho cái trò trẻ con!

- Tao nản cho mày lắm.

- Lại tuyên truyền hả?

- Chứ sao! – Nhật Tân vừa nói vừa nhỏm dậy.

Tân cười, nhe hàm răng trông như sún, đen ngòm khói thuốc lá, đánh diêm hút thuốc, nghiêng người qua tay vịn của ghế bành, vuốt ve con chó nằm ở ghế bên:

- Lu lu! Lu lu! Mày cũng ở lại với thằng Nhật Tân chứ?

- Và mày nữa, mày cũng phải ở lại.

- Phải? Mày không biết tao không muốn bị ai bảo “phải” bao giờ à?

Nhật Tân chồm dậy, giơ ngón tay trỏ gí sát vào mặt bạn:

- Đúng. Cũng như tất cả mọi người bây giờ bảo mày phải ở lại, đúng thế, phải, phải và phải.

*

* *

- Không, không, và không.

Bàn tay ẻo lả đeo nhẫn vàng to và nặng nề, khẽ đập vào ngực, Tân nói:

- Tao là một người tự do, nghĩa là tao chỉ nghe có một người, ấy là tao. Chỉ có một người quyết định được cho tao, ấy là tao. Tao làm khi nào tao muốn. Cái nhà này là của ông cụ tao, nhưng sau khi ông cụ cho tao, sang tên hẳn hoi rồi, tao cấm ông cụ không được đến, ông cụ cũng phải chịu cơ mà. Tao là thế.

- Ông cụ mày vừa làm một việc phi thường là hạ cái biển hàng tiếng Việt, treo lại cái biển hàng tiếng Pháp: Phạm Quang Kính, entrepreneur (3) lên, tao không nể mày thì tao đã bắt. Mày giỏi thế sao không cấm ông cụ mày?

- Tao không muốn xâm phạm đến quyền tự do của ai cả. Còn mày bắt thì cứ việc bắt, đó là quyền tự do của mày. Nói tóm lại con người là phải hoàn toàn tự do. Ăn uống, may mặc, chơi gái – Tân nháy mắt một cách cà lơ – là việc riêng của từng người, không ai có quyền gí mũi vào. Thế gọi là sống.

- Mày bận phải không?

- Xong rồi. Trong những ngày Hà Nội buồn như chết thế này, không ngờ còn sót lại một con mèo đẹp và văm thế. Đầm lai, đùi vệ nữ, không hiểu sao thằng Pháp nó không lấy làm P.P.O (4) mà ta thì cũng chẳng thằng nào có mắt. Thôi được, để cho nó đi. Mày ngồi đây một tí, tao sang ngay.

Tân đứng dậy, lấy cái áo măng tô màu xanh vắt trên lò sưởi, vứt điếu thuốc mới cháy một đầu mẩu, đi vào. Một lúc trở ra. Có tiếng gót giày phụ nữ nện nhẹ trên cầu thang. Tân lại hút thuốc, dang hai tay đặt trên thành lò sưởi, và hỏi bạn:

- Đánh đấm thế nào mày? Chán ngấy lên rồi!
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #79 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2011, 09:36:53 pm »

Nhật Tân quặp con Lu lu giữa hai cái đùi dài lều nghều của anh, áp cái tai vểnh của nó bên má:

- Có thể đêm nay nó đánh mình.

- Trời ơi, trời ơi, trời ơi! Mày doạ một thằng trẻ con đấy à, Nhật Tân?

- Tao không doạ mà đây là sự thật, một sự thật tàn nhẫn. Mày suy nghĩ đi. Mày bắn giỏi, mày nên ở lại.

- Mày nên nhớ họ Phạm nhà tao mấy đời chỉ có một con trai. Tao là con cầu tự.

- Nhưng mày hoàn toàn tự do kia mà.

- Ông ục cho mày một cái bây giờ. Thằng này ăn nói được.

Nhật Tân bước lại, đứng bên Tân. Hai người cùng hút thuốc. Anh nói một cách trang nghiêm:

- Tao vì mày, Tân ạ, vì không muốn để cho mày mang tiếng là một thằng hèn nên tao mới đến đây bảo
mày một lần cuối cùng. Mày chửi Hiệp định sơ bộ, mày cho là Cụ Hồ đầu hàng, rước Pháp về một lần nữa. Thế thì bây giờ mày đánh đi. Nếu không thì là tao chửi mày chứ không phải mày chửi tao nữa. Tản cư mày không đi, đánh nhau mày không dám, mày ở đây với Pháp à?

Tân ném điếu thuốc lá trên mặt bàn một cách hững hờ nhìn Nhật Tân khiêu khích:

- Tao đi với Việt Minh thì có lợi gì?

- Tao nói chuyện cứu nước không nói chuyện Việt Minh. Tao sốt ruột với mày lắm, Tân ạ.

- Mày tưởng tao không sốt ruột vì mày sao? Tao đang muốn nói chuyện Việt Minh kia. Đấy là quyền tự do
của tao.

- Thì mày nói đi. Đánh nhau đến nơi rồi mà mày còn muốn cà khịa với tao nữa sao?

Tân bước tới bàn, rót hai cốc rượu đầy, đưa cho Nhật Tân một, mình cầm một:

- Mày uống đi, uống cạn đi rồi chia tay nhau. Tao rất thương mày, thương hơn tao nữa. Tao không biết mày đúng hay tao sai, hay ngược lại. Nhưng có lẽ mày đúng, vì mày là zéro (5). Còn tao không phải là zéro thì đi với Việt Minh để làm gì? Tao muốn nói cái tụi Việt Minh chính cống, tụi Việt Minh cộng sản, chứ không nói cái hạng Việt Minh léng téng, loại Việt Minh như mày? Uống đi.

Họ cùng cạn cốc. Tân vứt cái cốc xuống sàn, vỡ tan tành:

- Tao đi với Việt Minh rồi thì cũng thế này thôi. Nghĩa là đánh xong Pháp, thì đến lượt chúng tao bị họ làm cỏ, của cải, họ đem chia. Đấy rồi mày xem, có đúng không. Buồn lắm, Nhật Tân ạ. Có lẽ mày không bao giờ thương tao cả.

- Tao không muốn nghe mày một tí nào cả. Còn có Cụ Hồ.

- À, tại sao chúng mày nói Staline mà không dám gọi Hồ Chí Minh không thôi? Tao vẫn tự hỏi tại sao?

Nhưng đấy còn là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là lối sống kia. Lối sống ấy thì hợp gì với tao? Có thể ông ấy là một anh hùng, một ông hiền, một ông thánh nữa. Nhưng tao nghĩ như Muýt-ta-pha Kê-man cũng ăn chơi, cũng nhảy đầm, cũng rượu chè, cũng trai gái, nghĩa là cũng như tao, có lẽ tao thú hơn. Cái lối sống khắc khổ, nhạt nhẽo và gò bó, ăn không cần ngon, mặc không cần đẹp, hùng hục làm việc, mày nghĩ xem, còn có cái thú gì? Tàn đời thôi. Không, đối với tao, sống phải là một cuộc sống rộng rãi, phong phú, sang trọng, hoàn toàn tự do, không phải là một cuộc sống đạo đức lạnh lẽo, nghèo nàn. Mày là một thằng học trò ngoan, một con người tốt. Nhưng tao thì khác. Muốn tao học giỏi thì khuyến khích bằng cách gì? Không thể bằng tiền, bằng của được. Mà phải bằng cách là bố tao nói với ông chú họ tao làm ở Mê-tờ-rô-pôn, mỗi chủ nhật cho tao vào xem đầm tắm một lần. Chỉ có cái đó mới làm cho tao học. Bây giờ tao có được cái sung sướng ấy không? Của phải chi cho mọi người. Sống không được theo ý mình. Có đúng thế không? Mày bảo tao theo Việt Minh thì có lợi ích gì cho tao? Tao chỉ thấy thiệt.

- Con người có phải chỉ có ăn, ở, ngủ, ỉa đâu, Tân ơi. Con vật cũng thế thôi.

- Cái phần đẹp nhất của con người lại là ở chỗ con vật. Hết con vật thì không còn con người. Nhưng không cãi nữa. Nên trọng tự do của nhau thôi. Mày đến chơi, tốt, ăn uống với tao, tốt, muốn có gái chơi, được, tiền tha hồ. Nhưng đừng tuyên truyền. Nhật Tân ơi. Tao có được nhẹ nhõm như mày đâu. Mày đã đứng hẳn về một phía, còn tao…

Tân nhún vai thở phì một tiếng, và như chẳng biết làm gì, lại vớ lấy hộp thuốc lá, rút ra một điếu, nhưng không hút, lặng lẽ đưa cho bạn. Nhật Tân nhìn Tân, con mắt nhỏ chứa cả giận và tuyệt vọng:

- Mày thích cái lối sống của mày. Tao thích cái lối sống đời sống mới. Mày muốn sống thế nào? Như

Nguyễn Hải Thần nhà mày bói toán hút thuốc phiện ư? Như Nguyễn Tường Tam thụt két của Chính phủ ư? Như Trịnh Thục Oanh đưa gái cho Sa-ten ư? Cái thời đại nhơ nhuốc ấy đã qua rồi. Hà Nội bây giờ đã giản dị lắm. Người ta không phải đánh giá nhau bằng một bộ cánh. Phụ nữ không phải bán thân để được mặc sang. Nhưng hãy để chuyện ấy đấy. Bây giờ tao hỏi mày. Thế thì mày đứng đâu? Phía Pháp à? Tao rùng mình cho mày đấy.

- Tao muốn à? Mày bảo tao muốn à? Không, không, không.

Tân đến đứng bên Nhật Tân, nói một cách rất kịch:

- Tao ghét Pháp cũng nặng như tao sợ Việt Minh. Cho nên tao không có chỗ đứng. Có lẽ chỗ đứng tao là ở nghĩa địa. Còn sống ngày nào thì chơi, hoàn toàn tự do, hoàn toàn tận hưởng những cái gì mà cuộc đời có thể cho tao.

- Tao buồn cho mày. Cái Tổ quốc này, cái Thủ đô này, mày bỏ cho nó mất một lần nữa ư? Cũng là cái chết, sao mày không chết trên đài danh dự, có hơn không, Tân? Tất cả Hà Nội đã thề sống chết với Thủ đô, kể cả những người giàu có bằng vạn mày nữa. Tất cả mọi người đều đoàn kết lại để chặn tay thằng Pháp. Sao mày còn có thì giờ mà nghĩ lảm nhảm như một thằng điên! Tân, Tổ quốc kêu gọi mày đấy.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM