macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #70 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 08:45:07 pm » |
|
ÔNG THÂY THUỐC GIA TRUYỀN Ngày xưa, vùng núi Sam, ngay cả ban ngày ít ai dám đi một mình trên đường vắng. Lối đi trong xóm hai bên gai góc rậm trì, đi đêm phải cầm đuốc, cầm cây để xua đuổi rắn. Những năm “nước lớn” những ngôi nhà gần bãi phải kê sàn lên tận mái nhà. Trăn, rắn chạy lụt bò lên những gò đất, chui vào những ngôi nhà bập bềnh ven bãi. Lắm khi rắn bò lên tận chỗ người nằm, thu mình dưới chiếu. Có con chắc vì mệt quá chưa bò kịp lên sàn,, cuộc mình quay chân cuột suốt đêm. Sáng ra chủ nhà lấy gậy dài chọc đuổi mới đi. Đêm đêm rắn hổ ngựa ào ào rượt chuột trên mái nhà. Ban ngày nhiều con rắn lục, màu da xanh biếc, quấn đuôi trên cành cây, miệng huýt sáo những tràng dài. Nhiều hôm có những con trăn dài ba thước đeo lủng lẳng trên cành tre. Người ta xô nhau ra vây bắt. Rất vui. * * * Hầu như năm nào trong làng cũng có vài người bị rắn cắn. Nhưng không mấy người chết vì nọc độc của những con rắn quanh quẩn trong làng. Chỉ có một lần, ông Tu Ất bị rắn chàm oạp cắn lúc đang làm rọ ở nơi xa. Nửa đêm chở ông về đến làng, bà chị đứng lên vồ đá kêu to, nghe lạnh cả xương sống: - “Làng xóm! Làng xớm ơi! Ai biết thuốc đến cứu giùm em tôi, nó bị rắn cắn”. Dân xóm chạy đến chật nhà, người bị rắn cắn nằm cứng đơ trên chiếc võng tre, miệng sôi bọt. Ông thầy thuốc rắn đã có mặt từ lúc nào, tay cầm chiếc đèn con xem xét vết thương, coi vẻ mặt nạn nhân, ông lắc đầu: - “Muộn quá rồi! Bị cắn từ xế chiều, nọc độc đã ngấm vào máu, vào tận tim. Hết cứu!” Cả nhà nạn nhân òa lên khóc. Ông thầy thuốc rắn lạng lẽ ngồi nhìn bóng núi loáng thoáng trong ánh trăng khuya, vẻ mặt lạnh lùng. Đó là lần đầu tiên người ta thấy ông chịu bó tay, chịu thua rắn độc. * * * Ông Bảy Lễ đại tài! Rắn nào cắm cũng phải thua ông. Dân làng đối với ông như người thân quyến. Họ nói về ông như nói đến danh y, họ coi ông là ân nhân của cái làng nhiều rắn này… mặc dù có người chưa được ông chữa trị lần nào. Họ nói về ông với giọng nói chừng như hiểu rõ tận tường tài năng và đức độ của ông. Này nhá! Người lớ, con nít xóm này ai bị rắn cắn, gãy tay, gãy chân không có ông Bảy Lễ thì chắc là chầu trời hoặc suốt đời què quặt. Trời đất cũng ngộ, đã sinh ra cái làng lắm rán độc, lại sinh tiếp con người có tài trị nọc rắn. Theo người ta - mà có tài như ông - thì đã làm giàu mấy kiếp rồi. Đàng này cả vợ chồng con cái, bảy tám con người vẫn sống hẩm hiu tỏng mái nhà lá đơn sơ, không cửa nẻo. Đó ai thấy Bảy Lễ mặc áo bao giờ? Quần lúc nào cũng ống cao ống thấp. Cái lưng trần đen trũi, da sần lên, cứng như tấm da thuộc mới phơi khô. Đến đám tiệc, ông khoác hờ cái áo trên lưng một lúc, rồi vui vẻ “xin lỗi bà con” cho ông cởi áo. Đã quen trần trụi với nắng mưa, ông không thể và cũng không cần mặc áo. Mỗi lần trong làng có người bị rắn cắn, người ta chạy tìm ông Bảy Lê. Dù đang giông mưa, bão tố hay đêm khuya tăm tối, nghe báo tin, ông lật đật đi ngay. Người sống hơn đống vàng. Vàng mất đi còn tìm vàng khác lại được. Còn người mà nhắm mắt là rũ sạch một đời người. Mỗi lần cứ sống mạng người ông thường nói thế. Phong thái ông rất ung dung, nhưng không bệ vệ. Đến chỗ người bị rắn cắn, ông thầy thuốc rắn tự bưng đèn xem kỹ dấu răng. Biết chắc loại rằn gì rồi, ông lặng lẽ ra vườn cây, tìm hái một nhúm nhỏ gì đó, bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Biểu thân nhân lấy đũa bếp cậy răng người bị nạn, ông đổ nước vào miệng người đang ngắc ngoải. Tức khắc đờm hạ, cổ kêu on ót. Xác cỏ còn lại ông đắp vào chỗ rắn cắn, nói rất thản nhiên: - Sống rồi! Nấu nồi cháo đậu xanh cho ăn, sáng mai sẽ khỏe. Gia đình nạn nhân quá đỗi vui mừng, nhưng đáp lại cái ơn cứu mạng đối với ông thầy thuốc rắn hết sức giản đơn. Một xị rượu, con khô cá bồi và trái xoài còn xanh, bày vẽ món gì khác ông không bằng lòng và xin khước từ. Lễ đèn ơn chỉ có thế, ông ngồi nhấm nháp qua loa vài ly rượu, đợi cho nạn nhân thiệt tỉnh ông mới đủng đỉnh về nhà. * * * Còn một loại thân chủ khá đông của ông Bảy Lễ là đám choai choai trong xóm. Đá banh, trèo cây, chạy nhảy, cậu nào trặc chân, gãy tay thì cha mẹ dẫn ngay đến ông Bảy Lễ. Trặc chân không đi được, ông nắn bóp một hồi, đắp cho miếng ngải núi, vài giờ sau đi đứng như thường. Nếu gãy xương, ông xếp lại cho xương liền khớp, dùng nẹp tre giữ chặt nơi xương gãy, thuốc thì bó phía bên lành. Vậy mà hết bịnh mới tài. Có người nói đó là cách đau Nam chữa Bắc. Nhưng ông Bảy Lễ bảo rằng: - Bó bên lành thuốc mới chạy qua bên tay gãy. Quả thiệt, ông đã chữa khỏi không biết bao nhiêu cậu bé gãy tay, lọt chân, không cậu nào phải chịu tật nghuyền. Chữa trị cho bất cứ ai, ông không lấy tiền thuốc, tiền công. Thuốc của ông là thuốc núi, trong núi thuốc vô ngần. Còn công chẳng có là bao. Có điều cậu nào muốn ông chữa trị phải hứa không được trèo cây, không chơi những trò nguy hiểm. * * * Một hôm, ông Bảy Lễ đi thăm người bạn đang nằm “nhà thương”. Xế chiều một chiếc “xe lôi” từ mạn Mỹ Đức hối hả chở lên phòng cấp cứu một cuậ bé trạc 14 tuổi, mặt tái ngắt, chân trái sưng vù. Cậu bé nhăn nhó kêu đau và rên rỉ từng lúc. Viên bác sĩ phụ trách quyết định cắt bỏ cái chân đau. Chấn thương nặng quá, gãy xương bắp chuối và dập xương đùi nhiều mảnh. Mới chừng ấy tuổi đã chịu tật nguyền đi đứng một chân, tội nghiệp! Cha mẹ cậu bé đau đớn kêu van bác sĩ cố gắng cứu con mình. Đội mắt người bác sĩ đượm chiều thương xót, nhưng cũng chỉ lắc đầu. Hết cách! Bảy Lễ dứng đó từ lâu, ông thấy hết, nghe hết, bấy giờ ông mới từ tốn thưa: - Xin bác sĩ tha lỗi, đáng lẽ tôi không nên chen vào chuyên môn của bác sĩ. Nhưng vì thương cháu bé, không muốn cháu chịu tật nguyền khi còn thơ ấu. Tôi có thể làm cái chân cháu lành lặn, mà khỏi phải bỏ một đoạn nào. Nếu bác sĩ cho phép. Bác sĩ không ngạc nhiên, nhưng dò xét: - Chắc ông biết thuốc gia truyền? Xin ông cho biết quý danh? Ông Bảy Lễ chưa kịp đáp, những người đứng quanh đã nhao nhao lên mỗi người một câu, hăm hở: - Ông Bảy Lễ đó mà. Bó gãy xương giỏi lắm. - Giỏi cả thuốc rắn nữa kia. - Bác sĩ cho ông tiếp tay đi. - À, vậy ra là ông Bảy Lễ. Viên bác sĩ có vẻ thú vị, gật đầu: - Tôi nghe danh tiếng đã lâu. hôm nay mới gặp. Tôi sẵn sàng để ông cứu em nhỏ. Ông cần tôi giúp những gì? Để em nhỏ ở đây hay đem về chỗ nhà ông? - Phải bắt tay ngay - ông Bảy Lễ vui mừng ra mặt - Xin ông cho một liều thuốc tê, xương đập nhiều mảnh, làm lâu sợ cháu chịu không nổi. Và ngay bây giờ bà con làm ơn về nhà biểu vợ tôi đưa giùm thuốc bó gãy xương. Đêm ấy em bé ngủ yên, và nửa tháng sau ra viện. Bác sĩ phụ trách bịnh viện mời Bảy Lễ ra làm việc nhà thương, lương rất hậu. Nhưng ông Bảy Lễ một mực chối từ: - Tôi sống bằng nghề ruộng rẫy, đá cát. Thuốc rắn, thuốc gãy xương ông bà tôi truyền lại để cứu giúp bà con, không phải nghề sinh sống. Hơn nữa đâu phải hàng ngày có người bị rắn cắn, gãy chân tay. Ngồi không ăn lương nhà nước, không làm lụng chân tay buồn lắm, tôi không chịu nổi đâu. Biết chuyện ấy, có người ở chợ chê ông dại, cơm người ta dâng tới miệng chẳng chịu ăn. Nhưng dân làng ai nấy đều khen ông Bảy Lễ trọng nghĩa khinh tiền, quí mạng người chứ không màng danh vọng. (Theo Mai Văn Tạo)[/rightơ]
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #71 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 08:46:01 pm » |
|
NGƯỜI KHUẤT MẶT Ở U MINH (hay chuyện NGƯỜI NGAY THẲNG) Ngày xưa, rừng U Minh hoang dã rậm rạp lắm, rất nhiều thú dữ, đường đi, lối lại hầu như không có, lại thêm nước độc. Dân chúng kẻ trước người sau đến đây lập nghiệp đều ở ven bìa rừng, lấy củi, hầm than, làm ruộng rẫy, lấy mật ong, săn thú… nhưng không ai dóm ở sâu vào rừng vì ngoài đường khó đi, bà con còn sợ nhứng điều linh thiêng huyền bí khác ở vùng đất này. Thỉnh thoảng bà con ở ngoài bìa rừng thấy dưới sông rạch từ trong rừng chảy ra có những bó rơm bó rạ, vỏ trái cây ăn rồi, khúc cây có dấu dao, dấu cưa… trôi theo dòng nước. Ban đêm khi trời thanh vắng nghe văng vẳng tiếng chó sủa, tiếng gà gáy, tiếng giã gạo… Mọi người đều cho là trong rừng sâu chắc có người ở. Một số người gan dạ cũng đã một vài lần vào sâu trong rừng để dò xét. Họ có thấy nhà cửa, chó gà… trong sân nhưng tuyệt nhiên không thấy một bóng người. Họ từ ngạc nhiên đến thầm sợ, không dám ở lại lâu trong rừng. Về nhà người nào cũng nhuốm bịnh: người cảm sốt, người đau lưng… Từ đó không ai động đến vùng đất cấm của “những người khuất mặt”. Cũng trong năm đó, có một cậu bé thiếu niên mất tích. Mấy năm trôi qua chuyện này đã chìm trong quên lãng. Bỗng nhiên câu ta xuất hiện trở về, bây giờ là một thanh niên cao lớn. Cậu ta kể lại rằng: “Mấy nắm trước, trong mải mê theo con cá sấu thì gặp một ông già, ông ta bày cho tôi nhiều cách săn bắt cá sấu, kỳ đà… mới lạ rồi dẫn tôi đi sâu vào rừng. Tại đây, tới gặp một xóm làng xa lạ, có độ mấy chục nóc nhà. Ông già khuyên tôi ở lại và gả con gái cho. Tôi thấy ở đây có cái gì hay hay, cuộc sống trong làng hòa thuận vui vẻ, nhất là tất cả mọi người từ nhỏ tới lớn đều không biết nói láo (nói dối). Vậy là tôi bằng lòng ở lại và lấy vợ ở đó. Vợ chồng tôi sống rất hạnh phúc, hòa thuận trong sự đùm bọc của xóm làng. Sau đó vợ tôi sanh hạ một bé trai. Một hôm, khi con trai tôi biết đi, biết nói, tôi bịnh không đi làm đồng được nên ở nhà trông con để vợ tôi đi làm thay. Thằng bé khóc đòi mẹ, để dỗ cho đứa bé nín ngủ đi lát nữa má đi chợ về có bánh cho. Vợ tôi ở ruộng về không có bánh, thàng bé khóc làm dữ. Thế chuyện tôi nói dối thằng bé cả xóm đều hay biết. Mọi người lên án tôi và đuổi tôi ra khỏi xóm, không được gần vợ con, tôi đánh phải trở về đây”. Nghe kể, có người không tin, cho rằng cậu bị ma bắt đem giấu, nay trở về nói chuyện nhảm nhí. Nhưng vài tháng sau lúc nửa đêm, khi mọi người đang yên giấc bỗng ai nấy choàng dậy hoảng sợ vì tiếng rẽ nước ồ ồ của mấy chục chiếc xuồng từ trong rừng đổ ra. Trên xuồng chở đầy người, kể cả đàn bà, con nít, gà vịt… Những người này cho biết là xưa nay họ sống giữa rừng sâu, hôm nay phải tản cư đi và không muốn sống chung, sống gần bọn người nói láo từ đâu mới đến. Bọn nói láo ấy vừa mới chém một người ngay thẳng, người ngay thẳng này ra đầu hàng, bọn chúng hứa là không giết, vậy mà rốt cuộc lại giết đi. Số người tản cư ấy cho biết là nọ sẽ đi xa lắm, đến một đỉnh núi cao, trên trời. Mấy chiếc xuồng của họ từ từ bay bổng rồi mất dạng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #72 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 08:46:57 pm » |
|
CẶP SÓNG THẦN Ở VÀM THAM MẠNG Chuyện xảy ra vào cuối thế kỷ 17, ở một làng trên bờ sông Đồng Nai. Thuở ấy, có một người con gái đẹp tên là Lê Mai và một chàng trai tên là Nguyễn Khanh đều làm nghề hạ bạc: kẻ câu dầm, người đổi cá. Khanh là một chàng trai khẻo mạnh và siêng năng. Mai là cô gái xinh đẹp, nhu mì. Hai người yêu nhau chân thật. Họ lấy nhau rồi dựng một túp lền ven sông để ở và ngày ngày vợ chồng kẻ bắt cá, người đem ra chợ bán. Cuộc sống gia đình êm ấm của vợ chồng Mai - Khanh làm cho trai làng ghen tỵ, nhứt và vẻ thùy mị của Mai khiến cho đám cai cơ, lính lệ của quan trấn đem lòng mơ ước. Lúc đó, ở Lục tỉnh Nam Kỳ, thình lình rối ren. Phó tướng Huỳnh Tấn giết chủ tướng là Dương Ngạn Địch rồi tự xưng là Phấn dõng hổ oai tướng quân thống lĩnh ba quân kéo lên chiếm cứ một vùng sát biên giới Chân Lạp mưu toan chống lại chúa Nguyễn. Nhưng năm sau Huỳnh Tấn bị Mai Vạn Long, nguyên là Phó tướng dinh Trấn Biên, lập mưu đánh bại. Sau cơn binh lửa đó, quan lưu thủ dinh Trấn Biên nhận được thơ nặc danh tố cáo Nguyễn Khanh có chân trong đảng Huỳnh Tấn chống lại phủ chúa. Thế là Khanh bị bắt giam vào ngục để tra xét. Nơi ngục thất, có một người lính lệ, sau khi nghe tình cảnh của Khanh, đem lòng cảm mến. Hàng ngày anh ta xén bớt phần cơm của mình lén đem vào ngục cho Khanh. Sau những lần bị khảo tra, Khanh được người lính tốt bụng ấy săn sóc tận tình. Thời gian ròng rã đã ba năm mặc dù không tìm được chứng cứ gì, nhưng quan trấn vẫn không tha kẻ bị vu oan. Nằm trong ngục tối, Khanh thương nhớ vợ đang còn son trẻ phải chịu cảnh cô đơn, không biết đến bao giờ. Nghĩ rằng mình sẽ chết vì mòn mỏi ở chốn lao tù, Khanh bèn tâm sự cùng người lính lệ và nhờ người ấy chăm sóc vợ của mình khi mình qua đời. Thế rồi, một hôm trong lúc tuyệt vọng, Khanh năn nỉ người lính lệ hãy cưới Mai làm vợ. Khanh đề nghị như vậy vì chàng nghĩ rằng có như thế mới đảm bảo được cuộc đời hạnh phúc của người vợ yêu quí của mình sau này. Người lính lệ không ngăn được xúc động bèn nhận lời. Khanh viết một lá thư giao cho người lính lệ đem về cho vợ. Trong thư, Khanh viết rõ ý định của mình, khuyên vợ nên chắp nối duyên lành với ân nhân của mình. Người lính lệ cầm thư tìm đến gặp Mai. Đọc hết bức thư Mai cam thấy bối rối, cơ hồ như bị sét đánh ngang đầu. Nàng khóc òa và sụp lạy người lính lệ: - “Tôi xin thạy chồng tôi đáp lại ơn sâu của ân nhân, nhưng chuyện vầy duyên cùng người thà tôi chịu bất tín cùng chồng chớ không thể nào làm được. Kiếp sau, tôi nguyện làm trâu ngựa để đền ơn người đã giúp đỡ chồng tôi…”. Lại xong, nàng vụt đứng dậy chạy xuống bến sông, lao người xuống dòng nước chảy xiết trầm mình. Sự việc xảy ra bất ngờ làm người lính lệ phản ứng không kịp đành ngẩn ngơ ra về. Về đến dinh trấn người lính lệ hối hận, tự trách mình đã không suy xét để đến nỗi xảy ra chuyện thương tâm nên cố tình không đến gặp Khanh nữa. Nhưng từ đó chàng tìm cách minh oan cho Khanh. Quả thiệt, năm sau, quan trấn minh xét biết Khanh bị hàm oan nên truyền lịnh tha cho chàng. Về đến nhà nghe tin vợ đã chết, chàng buồn rậu ra bến sông Cù lao Đôi, ngay vàm Tham Mạng nhảy xuống sông để được chết cùng người vợ thủy chung. Nói về người lính lệ, khi được tin Khanh tự tử thì đau buồn và trở nên loạn trí. Anh bỏ dinh trấn lang than trên bờ sông Cù lao Đôi hết ngày này san ngày khác. Càng ngày thân thể anh càng gầy mòn tiều tụy, rồi chết. Người ta chôn xác anh trên bờ sông thuộc làng Lơn Sơn. Con sông Đồng Nai chảy từ Chợ Biên Hòa xuống Gành, qua Tân Vạn, đến địa phận làng Long Sơn thì phình rộng ra trước mũi Cù lao Đôi. Từ đây dòng nước chảy thẳng vào vàm. Tắt và rẽ một ngả vào Bến Gỗ và Tham Mạng. Theo lời ngoa truyền, tại Vàm Tham Mạng này, nơi hai vợ chồng Mai và Khanh trầm mình, sau đó thường nổi lên cặp sóng thần và qua cặp sóng ấy có hình đôi ngỗng trắng xòe cánh dài, lội phớt trên mặt nước. Người ta cho đó là oan hồn của đôi vợ chồng bị chết oan hiện về để trừng phạt những kẻ bạc ác đi lại trên khúc sống này. Trên bờ khúc sông này, giữa vàm Cây Qui và cầu Đồng Tròn, chỗ mộ của người lính lệ, ân nhân của Khanh, dân làng lập một ngôi miếu nhỏ, ngày nay vẫn còn hương khói.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tư, 2011, 05:19:16 pm gửi bởi macbupda »
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #73 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2011, 08:48:21 pm » |
|
SỰ TÍCH AO BÀ OM Trước đây, ở vùng Trà Vinh, hàng năm cứ đến mùa khô, nước ngọt rất khan hiếm. Ruộng rẫy khô cằn, cây cỏ héo khô. Đời sống nhân dân rất cơ cực. Một ông hoàng trấn nhậm ở đây, qui tụ dân chúng để đào ao giữ nước ngọt. Cùng lúc đó nhân dân trong vùng có một vụ tranh chấp để lâu không giải quyết được: đàn ông hay đàn bà ai phải đi cưới ai, người đi cưới dĩ nhiên phải gánh chịu hết mọi tổn phí và lễ lạt. Nhơn dịp này, ông hoàng truyền lịnh: chia ra hai bên nam nữ, bên nào đào ao lớn, sâu và xong trước gì sẽ thắng cuộc, bên thua sẽ phải đi cưới. Do đó cuộc so tài diễn ra rất hào hứng. Hôm đó, khi trời vừa tắt nắng, mỗi bên đến chọn địa điểm và khởi công. Bên nữ đò ao vuông ở phía đông do bà Om chỉ huy đào, còn bên nam đào ao tròn ở phía Tây. Hai bên tận lực đào bới chẳng ngơi tay. Bên nữ lắm mưu mẹo, họ vừa đào vừa ca múa để làm cho bên đàn ông bỏ việc chạy sang rình xem. Đến nửa đêm bà Om ọ người chặt một cây tre thật dài, trên đợt tre treo một ngọn đèn rồi cho cặm ở một gò đất cao ở phía đông để đánh lừa đàn ông, vì theo giao hẹn là đào đến sao mai mọc là nghỉ. Bên đàn ông thấy ngọn đèn trên cao tưởng là sao mai mọc, tức là trời sắp sáng, bèn rủ nhau về nghỉ. Trong lúc đó bên đàn bà tiếp tục đào cho tới sáng. Thế là bên nữ thắng cuộc. Bên nam phải thực hiện lời cam kết. Từ đó, đàn ông phải đi cưới… phụ nữ về làm vợ và nhờ có ao nước ngọt mà đời sống dân chúng đỡ cơ cực phần nào. Để nhớ ơn người đàn bà mưu trí, đã góp phần giành được thắng lợi này, người ta lấy tên bà Om đặt tên ao. KHẢO DỊ 1: Ngày xưa, vua Thủy Chân Lạp sai hoàng tử Pa-tu-ma-vông cùng em gái đến vùng Trà Vinh trấn nhậm. Hoàng tử đóng tại Pơ-ra-sát (Prasat) tức Sóc Trăng ngày nay, cách ao Bà Om chừng 2 cây số. Còn công chúa thì cất dinh tại chùa Ấng bây giờ. Vì không tìm được người vừa ý để cưới làm vợ, nên hoàng tử định kết hôn với em gái của mình. Hoàng tử bèn gặp công chúa bày tỏ ý định của mình, nhưng bị công chúa cự tuyệt. Công chúa liền sai quân đào hào đắp lũy quanh dinh để ngăn không cho người anh của mình đến nữa. Công chúa cũng cho người đào một cái ao lớn hình vuông để có nước ngọt dùng trong dinh, và giao cho bốn cung nữ thân tín canh gác bốn phía, do bà Om chỉ huy việc canh gác này, nên dân chúng trong vùng gọi là ao bà Om. KHẢO DỊ 2: Lúc trấn nhậm vùng Trà Vinh, hoàng tử Pa-tu-ma-vông rất độc đoán. Ông bắt dân chúng phải dâng gái đẹp, ai bất tuân là sẽ trừng trị rất nặng. Ông có đặt ra một luật mới là con gái phải đi cưới con trai. Luật này làm cho dân chúng phẫn nộ. Có một tiểu thơ trong vùng đến phân trần với hoàng tử rằng: - “Phụ nữ không bằng đàn ông, thua kém đàn ông nhiều mặt, nếu buộc phụ nữ phải đi cưới họ thì coi sao được. Đàn ông đi cưới phụ nữ mới hợp lý, xin ngài xét lại”. Hoàng tử không bằng lòng. Ông cho gọi đàn ông và đàn bà lại giao cho mỗi bên đào một cái ao, bên đào xong trước sẽ thắng cuộc, được bên thua đi cưới. Sau đó, mọi việc diễn ra như truyện trên, đàn ông thua cuộc phải đi cưới phụ nữ làm vợ. KHẢO DỊ 3: Truyện này chỉ nói về tục đàn ông phải đi cưới vợ, không liên quan đến địa danh “ao Bà Om”.Truyện kể rằng: Ngày xưa ở phía nam núi Két, thuộc miền Thất Sơn - An Giang có hai khe suối cạn, hai bên trai gái trong vùng thách nhau đi đào nước nhiều hơn thì thắng, bên thua phải đứng ra cưới người thắng cuộc. Tảng sáng hôm ấy, hai bên nàm nữ hăng hái vét lòng suối. Một lát nắng lên nóng nực, các cô gái mở nút áo cho mát, vô tình để ngực hở ra. Các chàng trai vừa làm vừa liếc mắt nhìn trộm các cô, nên kết quả chẳng vét được bao nhiêu, chịu thua cuộc và phải đi cưới (1). KHẢO DỊ 4: Có người cho rằng trước đây quanh bờ ao này có mọc nhiều rau “ngò om” (một thứ rau thơm dùng để nấu canh chua), có người gọi là rau “mà om”, nên lúc đầu gọi là ao Mà Om, rồi dần dần đọc trai ra là Bà Om. Cũng có người cho rằng chữ Bà Om là danh từ Pơ-ra-Âng (Prah Âng) tức là chùa Prah Âng đọc trại ra thành Bà Om. (1) Theo Huỳnh Ngọc Trảng - Truyện kể Khơ-me Nam Bộ, Nxb Văn Hóa Hà Nội, 1983
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tư, 2011, 05:14:08 pm gửi bởi macbupda »
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #74 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:22:15 am » |
|
NGƯỜI ĐÀN ÔNG GHEN Ông Mười hưởng ứng phong trào Đông Du và tích cực vận động về mặt tài chính để nuôi dưỡng phong trào. Ông bỏ công, bỏ của, giao hết việc nhà cho vợ con. Ông đi hết vùng này sang vùng khác bí mật gây quỹ xuất dương. Nhiều khi quyên không đủ tiền mà chuyến đưa du học sinh đi lại ấp, ông bán lúa thiên, ruộng mẫu của mình rẻ mắc gì cũng không tiếc. Khi công cuộc đổ bể, ông bị bắt và bị đày đi Côn Đảo. Suốt mấy năm trời ngoài hải đảo, không biết vì lý do gì mà ông Mười không có thơ từ về nhà. Bà Mười tuổi còn trẻ, người cũng dễ coi, lòng còn xuân phơi phới. Gia sản của ông Mười để lại cho bà kể ra cũng đứng vào hạng giàu có nên bà ăn mặc đài các phong lưu. Bà lại xuất thân là con nhà trâm anh thế phiệt nên chỉ quen ở không mà chơi chẳng mấy khi chân rời đôi dép, không làm việc gì đụng đến móng tay. Con người ta có dư ăn, dư mặc mới nghĩ để chuyện nọ việc kia, chớ sớm đập lúa, tối giã gạo, ngã lưng xuống chiếu là ngủ như chết, đầu óc có rảnh ràng gì mà tính điều kia điều nọ. Vả lại mấy năm rồi ông bận rội bôn ba, việc chăn gối với bà cũng họa hoằn. Rồi ông bị bắt đày Côn Đảo xa xôi, trách nào sống trong cảnh dị vọng bà chẳng khao khát. Ác nghiệt hơn nữa, đàn con bà còn nhỏ, nhà lại không có người lớn, chỉ có một người đàn ông xấp xỉ tuổi bà, ở làm mướn trong nhà. Nếu không phân biệt chủ tớ, thì bà với chằng ở làm bạn rất xứng đôi. Thỉnh thoáng có mấy tay lái lúa đến lầm thưởng người ở là chồng bà. Những lúc vui buồn, cũng như đau ốm, con thì khờ dại, bà chỉ trông cậy vào người đàn ông trung thành, tận tụy ấy. Trai gái đồng chạn gần nhau như lửa với rơm, lâu ngày ắt phải bén… cuộc giao tình lén lút giữa hai người xảy ra không biết từ lúc nào là kết quả là một đứa trẻ ra đời. Thời gian cũng qua mau, ông Mười được ân xá trở về đất liền sum họp với gia đình. Dù không thư từ liên lạc với gia đình, nhưng ông vẫn biết được tin tức ở nhà. Tin ông Mười sắp về làm bà nửa mừng nửa sợ. Nếu không có chuyện vụng trộm kia thì nay tái hợp gia đình vui mừng biết mấy. Là vợ, bà biết tính tình của ông Mười. Ông thương người lắm. Nhưng khi người ấy có lỗi thì khó lòng mà ông tha thứ. Đã vậy tánh ông lại nóng nảy, gặp cơn thịnh nộ ông cũng dám giết người cho hả tức chứ không phải làm hùm hổ rồi bỏ qua. Bà Mười sợ chỗ đó hơn hết. Hoàn cảnh xui khiến bà lỗi đạo với chồng, chớ phải đâu bà là hạng lăng loàn trắc nết. Suy tính mãi bà mới thấy một kế: giúp người ở một số vốn đi làm ăn xa, còn đứa trẻ đem cho người khác nuôi để tránh cuộc trả thù đẫm máu và có thể mất thêm một mạng người nữa là chồng và khi bị tòa xử vụ án sát nhân. Còn bà thì tùy chồng thương phán xử thế nào bà cũng chịu. Mọi việc vừa thu xếp xong thì ông Mười về đến. Sau bao năm xa cách, nay thấy lại cảnh có người xưa, ông mừng lắm, ông Mười gọi bà, bảo: - Ngày mai bà đi chợ mua đồ nấu, làm thịt con heo nuôi trong chuồng để tôi đi lễ trước tạ ơn đất nước ông bà, sau là đãi đằng bà con lối xóm, dầu sao thấy tôi về ai cũng mừng. Bà Mười ríu rít làm theo. Thấy ông không hỏi việc nhà mà bà hằng lo sợ, thái độ bình thản của ông làm bà sợ hơn. Bà lo sợ chỉ có mấy hôm mà già đi thấy rõ. Ông Mười nhờ người mời bà con, bạn bè đến cùng vui với ông một bữa. Ông gọi bà Mười lại bảo riêng: - Công việc gì ở nhà tôi biết hết. Nhưng mình đừng lo sợ gì cả. Tôi sẵn sàng tha thứ hết, chỉ yêu cầu mình hai điều: Một là cho mời thằng Sáu (tên người ở) về đây để tôi nói chuyện. Hai là đòi lại thằng nhỏ mà bà đã cho người ta. Bà Mười sợ toát mồ hôi hột, lật đật sụp xuống lạy liên hồi. Ông Mười kéo bà đứng dậy không cho lạy, rồi biểu: - Tôi đã biểu thì cứ nghe. Cãi tôi sanh lớn chuyện. Bà Mười biết tánh chồng, nên nghe là hơn. Bà như một cái xác không hồn. Ông Mười lấy cây mác vót ra hòn đá mài bén như gươm. Bà Mười nhìn lưỡi mác nghĩ đến tấn kịch khủng khiếp sắp xảy ra. Mấy đứa con ông Mười lặng khe không dám thở mạnh. Thằng bé được ẵm về trước, ông Mười bồng nó không tỏ vẻ gì vui mừng hay oán ghét. Anh Sáu khép nép tới sau, mặt xanh như tàu lá. Ông Mười vui vẻ hỏi thăm, dường như mừng hơn là giận. Thái độ kỳ lạ ấy mới giết chết con người trong cuộc, chẳng đoán được những gì sẽ xảy đến cho mình và đến lúc nào. Nhứt là bà Mười lo sợ đến phát điên lên được. Ông Mười vẫn bình thản làm mọi công việc cần thiết cho bữa tiệc được chu đáo. Sau khi làm lễ ông bà xong, khách đến đầy nhà, ông luôn miệng vui vẻ chào đón mọi người. Mỗi chuyện ông đều hỏi bà Mười như chẳng có chuyện gì đang và sẽ xảy ra. Bà Mười nói tùy ông, thì ông cãi lại: - Tùy tôi sao được, phải đồng vợ đồng chồng chớ! Cúng xong, tự ông đặt giữa nhà một cái bàn, trên đó ông để một cái nhạo rượu, một cái ly và … cây mác vót bén như gươm. Ông còn để hai cái ghế ở hai đầu bàn. Không ai hiểu ông sẽ làm gì. Xong đâu đấy, ông Mười thưa với khách: - Thưa bà con cô bác, hôm nay tôi còn sống về đây là phước lớn, tưởng đây đã bỏ xác vì mấy trận đòn ác độc ngoài Côn Đảo. Vì vậy tôi đặt bữa tiệc hôm nay, trước cúng ông bà sau đãi bà con cô bác. Nhưng trước khi đãi khách, tôi phải đền ơn nghĩa những người mà tôi đã chịu ơn, xin bà con cô bác chờ tôi một chút. Khách khứa lặng im, bà Mười chết đứng, ai nây đều hồi hộp lo sợ, nhưng cũng nóng lòng muốn xem coi sự việc sẽ ra sao.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #75 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:23:01 am » |
|
Ông Mười gọi lớn bà Mười:
- Má thằng Hai đâu, ra tôi nói chuyện.
Bà Mười riu ríu bước ra như kẻ mất hồn, mọi người đều thương hại. Bỗng mấy đứa nhỏ con ông khóc rống lên. Ông chụp lấy cây mác vót hét lên như sấm:
- Khóc cái gì? Tại sao bây khóc? Nín hết, không thôi tao giết.
Đến phiên khách hoảng hồn, mấy người bà con dẫn mấy đứa nhỏ đi chỗ khác. Chẳng ai dám nói lời nào với ông Mười, vì họ đã hiểu tánh ý của ông. Có mấy người khỏe mạnh chực hờ nếu thấy “tới việc” là nhảy vào can ngăn.
Ông Mười chỉ ghế bên mặt, nói với bà Mười:
- Mình ngồi đây.
Bà Mười không còn biết gì nữa, rón rén ngồi xuống như cái máy. Ông Mười vẫn bình tĩnh nói:
- Tôi đã nói với bà chẳng có cái gì hết, vậy bà sợ cái gì? Cười lên cho vui chút đi.
Bà Mười ráng cười như mếu.
Ông Mười lại gọi anh Sáu:
- Thằng Sáu đâu, lên ngồi ghế bên này cho anh Mười nói một chút chuyện.
Anh Sáu cũng như bà Mười ríu rít lên ngồi, mặt xanh không còn chút máu. Ông Mười cầm nhạo rót rượu để trước mặt hai người rồi ông nói:
- Trong những năm tôi vì việc nước phải bỏ phế việc nhà, nhờ mình với thắng Sáu giúp tôi hết lòng nên mồ mả ông bà tôi không hoang, vùa hương, bát nước cha mẹ tôi không lạnh, nhà cửa tôi đàng hoàng, ruộng vườn tôi không mất, con tôi khôn lớn, tôi về đến nhà trông thấy rất l ấy làm bằng lòng. Vậy mình với thằng Sáu uóng cho tôi ly rượu này để tôi lạy mỗi người hai lạy đền ơn.
Nói xong ông Mười sụp xuống, bà Mười và anh Sáu hoảng kinh nhảy xuống ghế. Ông Mười vội rút cây mác vót:
- Bộ mấy người không để tôi đền ơn hả? Có ngồi cho tôi lạy không?
- Dạ không dám - Bà Mười và anh sáu cùng nói.
- Dám hay không dám cứ ngồi đó!
Ai nấy đều lấy làm kỳ lạ, lại nghĩ chắc ông Mười bày kế đền ơn rồi xử tội vì ơn thì đền, còn tội thì xử.
Ông Mười lạy mỗi người hai lạy rồi đứng dậy nói:
- Mình và thắng Sáu uống cạn ly rượu tôi mới vui.
Đợi cho hai người đặt ly xuống bà rồi ông nói tiếp:
- Còn chuyện này nữa.
Phút quyết liệt đã đến, mọi người tim như ngừng đập. Nhứt là bà Mười muốn xỉu trên ghế. Ông Mười ngó bà Mười và anh Sáu cười tự nhiên, nói:
- Trong lúc tôi vắng nhà, minh với thằng Sáu tự tình với nhau và sanh một đứa con trai…
Ai nấy hồi hộp chờ ông Mười nói hết, nhưng không, ông Mười gọi người nhà ẵm thằng bé ra cho ông. Bà Mười và anh Sáu không dám ngó, cúi gằm mặt xuống đất. Ông Mười bồng thằng bé trên tay, nói:
- Thằng nhỏ này ngoan, dễ thương lắm. Chắc mình và thắng Sáu nghe tôi nhắc chuyện cũ sợ lắm? Không, chẳng có gì phải sợ. Lỗi không phải tại mình, không phải tại thằng Sáu. Cảnh nhà hiu quạnh, gặp cảnh thắng Sáu chưa vợ lại ở gần bên nhau, lúc tối lửa tắt đèn, là tự nhiên dễ sanh tâm làm bậy. Tôi có mặt ở nhà chắc không có như vậy, vì tôi tin mình là người vợ tốt, thằng Sáu cũng là người hiền. tôi dám hy sinh cho việc nước, lẽ nào tôi không xét đến việc tầm thường như vậy sao? Tôi coi mọi việc như không có, rồi mình tôi vẫn quý báu, rồi thắng Sáu tôi vẫn tin cậy, sẽ giúp đỡ nó lập gia đình. Còn thằng bé tôi nuôi nó như con tôi, vì nó có là do tôi. Những việc đã qua bỏ về quá khứ. Từ đây mình và thắng Sáu không được làm lại chuyện cũ nữa.
Ông Mười quơ cây mác làm cho bà Mười và anh Sáu nín thở, nói tiếp:
- Tôi mà hay được, cây mác vót này sẽ lấy đầu cả hai.
Nói xong ông Mười hỏi bà Mười:
- Mình có hứa là không diễn lại tấn tuồng ấy chứ?
- Mình thương mình bỏ qua, trâu chó gì mà dại dột như vậy.
- Còn thắng Sáu? - Ông day qua phía Sáu.
- Hú nồn! Một lần dại thì thôi! Tôi thề tôi coi anh như cha đẻ tôi một lần nữa.
- Mình nghe lời tôi là được. Thôi mình với thằng Sáu xuống lo phụ giúp bữa tiệc cho vui.
Ai nầy thở ồ một cái nhẹ nhõm.
Từ đó, cảnh gia đình ông Mười êm ấm, ai cũng khen. Khi vui miệng ông Mười nói với bạn bè:
- Tôi cũng ghen lắm chớ! Nhưng ghen làm làm cho đúng, chúng nó mới sợ, không dám tái phạm nữa, vậy mới là ghen.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #76 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:25:09 am » |
|
BỨC THƠ KỲ LẠ Chợ Quán là lỵ sở của phủ Tân Bình, ngày xưa có trại giam và có giam một người đàn ông. Một sáng nọ, vợ của người đàn ông đó đem cơn đếm cho chồng. Lính gác lục soát trong giỏ cơm thấy có một cái gói lạ liền đem trình quan phủ. Quan mởi ra xem, ông nghi là mật hiệu gì đây, có thể là ám hiệu vượt ngục, nhưng cũng chưa chắc. Trong lúc đang phân vân, ông chợt nghĩ đến cô hầu trẻ đẹp của mình vốn rất thông minh, nhanh trí và hay chữ. Ông gọi cô hầu lên và giao cái gói lạ để cô xem có ý nghĩa thế nào. Chẳng lẽ chồng đang bị giam, lại bắt người vợ khảo tra nữa, ông nói: Qua (1) giao cái này cho em, chuyện cũng lạ, mà thiệt qua cũng không hiểu, em xem coi là cái gì? Chẳng lẽ bắt người đàn bà đó đem gia để tra hỏi. Chồng nó mượn tiền của người ta, mượn có giấy tờ, nói là để buôn bán rồi cờ bạc thua hết không trả được. Cô hầu lặng lẽ nhận lấy cái gói và bước ra. Trước khi về làm vợ lẽ cho quan phủ, nàng đã phải lòng một anh học trò nghèo, nhưng cha mẹ nàng tham tiền, nên duyên phận nàng phải lỡ làng. Lúc nào nàng cũng buồn rầu tơ tưởng đến người yêu cũ. Cô mở cái gói ra, không lẽ đây là gói thuốc nam; nó có mấy cái lông vịt, vài cọng cỏ, một lá trầu, một đồng tiền kẽm, đáng chú ý nhứt là mất sợi tóc dài đen mười. Đang vuột mấy sợi tóc, phân vân suy nghĩ, bất giác cô nghĩ tới hai câu ca dao mà cô thường ngâm nga khi phải giã từ người yêu để đi làm cô hầu: Tóc mai sợi ngắn sợi dài Lấy nhau chẳng được thương hoài không nguôi Chắc là người chồng ở tù, người vợ ở nhà thương nhớ nên gởi cho chồng mấy sợ tóc! Bỗng lúc đó phía sau trại lính vẳng lại câu hát ru con: Ở đây Chợ Quán thêm sầu, Cơm ăn chẳng đặng ăn trầu giải khuây. Bây giờ thì cô hiểu ra rồi: Người vợ thương nhớ lo lắng cho chồng muốn viết thư thăm hỏi và nói lên nỗi thương nhớ của mình, nhưng không biết chữ nên phải gửi đến mấy câu ca dao qua hình ảnh những món vật này: Lá trầu, sợi tóc. Còn cái lông vịt thì: Linh đình vịt lội giang hà Nói cho tốt lớp bạc đà trao tay. Với ý nói là người vợ đã lo tiền hối lộ cho quan mà sao chưa thấy chồng về. Còn cọng cỏ chắc là ý này: Nhiều sương cỏ mới bạc đầu Thương anh chịu cảnh thảm sầu từ đây. Và đồng tiền kẽm thì: Tiền tài như phấn thổ Nhơn nghĩa tợ thiên kimNghĩ đến đó, nàng thấy thương người đàn bà dốt chữ nhưng lại biết văn chương phong phú. Cô lật đật qua trình quan phủ, thoạt đầu quan phủ không chịu cách ghải nghĩa đó, nhưng cô hầu ráp các câu lại có vần điệu ăn vào nhau như một bài thơ: Ở đây Chợ Quán thêm rầu Cơm ăn chẳng đặng ăn trầu giải khuây. Tóc mai sợ ngắn sợi dài Lấy nhau chẳng được thương hoài không nguôi. Tiền tài như phấn thổ Nhơn nghĩa tựa thiên kim Trầm hương khó kiếm anh tìm chẳng ra Linh đình vịt lội giang hà Nói cho tốt lớp bạc đà trao tay Nhiều sương cỏ mới bạc đầu Thương anh chịu cảnh thảm sầu từ đây Thì quan phủ thấy có lý, liền cho gọi người vợ đến để hỏi thì cho phép được vào thăm người chồng và người cũng được thả sau khi ký giấy hứa trả tiền cho chủ nợ. (1) Qua: tiếng tự xưng hô của người lớn tuổi với người ít tuổi hơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #77 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:26:17 am » |
|
NHÂN THAM TÀI NHI TỬ ĐIỂU THAM THỰC NHI VONG Ngày xưa, có hai anh em nhà kia có cha mẹ đều chết cả. Họ ở chung với một nhà. Người anh tính nết tham lam, còn người em đang ít tuổi có phần khờ dại. Rồi người anh lấy vợ. Cũng như chồng, người đàn bà ấy vừa tham lam vừa độc ác, không muốn cho em ở chung với mình. Hai vợ chồng quyết định chia gia tài, lấy cớ rằng để ai lo phận nấy. Khi chia của, họ chiếm hết gia tư, điền sản quý giá của cha mẹ để lại, chỉ để cho em một gian nhà nhỏ với mấy thửa ruộng xấu. Nhưng người em không chút tỵ nạnh, vui vẻ nhận lấy phần của mình. Anh cày bừa chăm chỉ. Không có lúa giống, anh tìm đến nhà anh ruột mình nài nỉ xin vay. Hai vợ chồng người anh bằng lòng cho vay, nhưng chị dâu trước khi giao lúa cho em, đã đem luộc lên tất cả. Người em vô tình cứ thế đem gieo và rồi tất cả những hát lúa ấy đều không nảy mầm, trừ có mỗi một hạt vì sót trong mủng không luộc đến. Thấy lúa không mọc, người em buồn quá, nhưng không biết làm thế nào, anh đành đem cây mạ độc nhất ra cấy ở ruộng. Anh chăm chút tưới bón và chắt chiu cho lúa. Không ngờ cây lúa ấy ngày một to lớn vùn vut. Nó vượt lên quá đầu người, gốc của nó tỏa ra không biết bao nhiêu là nhánh. Dần dần nó to như một cây đại thụ, bông nở chi chít che kín cả ruộng. Người em sung sướng không nói sao cho hết, hằng ngày vun tưới không rời cây lúa. Đến ngày lúa chín, anh ra ở luôn ngoài ruộng canh giữ. Tự nhiên một hôm, có con chim đại bàng ở đâu sà xuống bên cạnh cây lúa của anh, mổ lấy mổ để. Tiếc công sức vun trồng, anh cầm gậy xông đến toan đánh nhau với chim. Chim bỗng nói: - Đừng đánh ta, ta ăn ta sẽ trả ơn cho! Anh dừng tay hỏi: - Trả ơn như thế nào? - Tối nay ta sẽ đưa người đến một nơi có nhiều vàng bạc, lấy về mà xài. Quả nhiên, đêm ấy chim đại bàng đến báo anh ôm vào chân, rồi vỗ cánh bay mãi ra tận một hòn đảo nhỏ ở ngoài biển Đông. Từ trên cao, anh đã thấy vàng ngọc sáng rực cả một vùng. Nhưng hòn đảo này ở gần chỗ mặt trời đi qua, nên mỗi lần mặt trời mọc, ánh nắng thiêu đốt dữ dội, không có một giống vật nào có thể chịu nổi. Vì thế chim đại bàng vừa đặt anh xuống đã giục anh lượm vội ít vàng, ngọc giắt vào người rồi nhờ chim đưa về. Từđó anh tậu ruộng, làm nhà, sắm đồ ăn, thức mặc, mướn kẻ hầu người hạ, trở nên giàu có sung sướng. Hai vợ chồng người anh thấy em tự nhiên có nhiều của thì lấy làm lạ lắm, bèn đến nhà chơi bời thăm cho biết. Nghe kể rõ đầu đuôi, người anh cũng muốn được may mắn như em. Hắn hỏi mượn bụi lúa khổng lồ của em để mong gặp con chim đại bàng. Người em không đợi anh năn nỉ, vui vẻ ưng thuận. Quả nhiên, chim cũng lại đến ăn lúa. Người anh cầm gậy xông ra, chim cũng hứa với hắn như hứa với em hắn trước, và sau đó đưa hắn đi lấy vàng. Được rơi xuống giữa một quả núi đầy vàng ngọc, hắn hoa cả mắt. Không biết nên lấy thứ gì, hắn loay hoay tìm lục mãi trong tối, quên mất cả lời chim dặn. Trời gần sáng mà chim vẫn chưa thấy người về. Thời gian rất gấp rút nhưng hắn vẫn còn bận chọn lựa, không nghe lời chim gọi. Mãi đến khi cơn nóng bắt đầu làm rát cả lưng, hắn mới trở lại tìm chim thì chim đã bay về từ lúc nào rồi. Không thấy người anh về, người em rất lo lắng. Anh tìm chim đại bàng, cố nhờ chim mang hộ xác anh mình về. Chim đại bàng lên đến hải đảo, đã thấy xác người anh bị thiêu chín như quay. Con vật ngửi thấy mùi thịt chưa bao giờ thơm và ngon như thế này, bèn sà xuống rỉa lấy rỉa để. Ngon miệng chim mải mê ăn quên mất cả về. Khi mặt trời nhô lên, chim muốn cất cánh không không kịp nữa. Bộ lông bén lửa và rất mau và một chốc toàn thân đều bốc cháy. Do truyện này mà người ta có câu: “Nhân tham tài nhi tử, điểu tham thực nhi vong”.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #78 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:27:47 am » |
|
KÉN RỂ Ngày xưa, có vợ chồng nhà nọ đã lớn tuổi, có một đứa con gái rất đẹp. Ông bà khó tính, nhứt định sẽ gả con cho chàng trai nào không bao giờ chửi thề. Một chàng trai nghe chuyện đến xin làm rể. Ông bà bằng lòng và thử tài cậu, chỉ buộc có một điều kiện là bất cứ trong trường hợp nào cậu cũng không được chửi thề. Ông nói: - Chúng tôi là người thiệt thà nên nỏi trước cho chú em biết, kẻo sau này chú em cho chúng tôi là nói không thiệt. Chàng trai dạ dạ vâng lời. Hôm sau, chàng đếnn hà ông bà. Ăn cơm xong ông bà ra lịnh: - Chú em dắt trâu ra cày ruộng. Phải cày đến chừng nào hòn đá trên bờ nó rên la ra tiếng thì nghỉ. Chàng tra dắt trâu ra cày. Hì hục từ sáng sớm đến trưa, hòn đá vẫn trơ trơ. Đôi trâu mệt quá bước không nổi nữa, chàng trai cũng đã kiệt sức. Tức quá, dằn không được, chàng trai văng tục chửi thề. - Mấy hòn đá ôn dịch kia! Chừng nào mày mới há họng cho ta về. Chàng yên trí rằng ở giữa đồng trống ông già không nghe được. Nhưng không dè ông ta núp sau đống đá, ló đầu lên đuổi chàng trai về nhà. Ngày khác, một cậu trai nữa đến cầu hôn. Ông già cũng đưa ra điều kiện ấy. Cậu trai này khôn ranh hơn, cậu đem cơm theo để dành ăn dần và cắm đầu cày từ sáng đến quá trưa. Tội nghiệp hai con trâu này mệt gần quỵ xuống, vừa đói vừa khát mà không được nghỉ. Cậu trai giả vờ nói với hòn đá: - Đá ơi! Đá hãy kêu lên một tiếng kẻo đôi trâu chết mất. Chúng nó không ăn uống gì mà phải kéo cày không được nghỉ. Ta có cơm ăn đầy đủ nên không sợ gì hết. Đá không kêu lên thì trâu của tía ta sẽ chết. Ông già nấup sau đống đá, sợ trâu chết mới vội thốt lên tihành tiếng tỏ ý lo lắng. Cậu trai dắt trâu về nhà. Cơm chiều xong, ông già bảo cậu về nghỉ, ngày mai sẽ đến. Cậu vâng lời, đi ra khởi cửa một lát, cậu lén quay lại, núp dưới sàn nhà rình nghe. Ông già bảo với vợ: - Thằng đó không chửi thề bậy. Được lắm. Nhưng mặt nó xấu xí quá, tôi không muốn gả con cho nó. Tôi muốn chọc cho nó giận để từ chối việc hôn nhân này. Bà vợ nói: - Dễ quá mà. Ngày mai ông chun một cái bao, lấy một cái khác để đựng gạo rồi bảo nó gánh hai cái bao lên núi. Đường xa trời nắng, đi một mình thế nào nó cũng một rồi tức giận chử thề. Ông già khen hay. Cậu con trai nằm im dưới sàn nghe lén mỉm cười. Sáng hôm sau cậu đến nhà ông già, lãnh hai cái bao nặng gánh lên núi. Bà già nói: - Ông đốn củi ở trên núi. Chú em gánh gạo lên núi cho ổng ăn. Tới chân núi, cậu trai gánh lên tuột xuống hai ba lần, cậu ngồi nghỉ nói: - Trời ơi! Chắc ông già đói lắm, nhưng hai bao gạo nặng quá làm sao tôi gánh lên núi cho nổi? Nếu ông không thương mà chửi mắng cũng đành chịu vậy Cậu trai để hai bao nặng xuống đất, gom cỏ và lá khô chất xung quanh bao rồi châm lửa đốt. Ông già ở trong bao không sao thoát ra được, bị cháy phỏng đau đớn mà không dám lên tiếng. Cậu trai làm bộ từ xa chạy tới la lên: - Trời ơi! Ai chơi ác đốt bao gạo của tôi như vậy? Làm sao tôi lấy gạo ra được, lửa cháy dữ quá. Một lát cái bao bị cháy tung, cậu mới lôi ông giẩ, làm bộ ngạc nhiên la lên: - Trời đất ơi! Tại sao ông nằm trong này mà không la lên? Nếu tôi cứu không kịp thì bà phải ở góa rồi. Ông già biết cậu trai chơi xở mình, nhưng phải làm thinh không đáp, khấp khểnh lê bước về nhà. Ông bảo ngày mai câu trai đến. Cậu ta cũng lén rình như đêm trước. Ông già nói với vợ: - Thằng này khôn quỷ lắm, phải tống cổ nó đi mới được. Bà vợ lập mưu: - Ngày mai ông bắt nó làm chó, ông làm chủ, cùng nhau đi bắt rùa. Nó phải bò bốn chân, nếu nó chạy không kịp ông và bắt không được rùa thì đuổi nó ra khỏi nhà. Ông già khen vợ. Cậu trai lại mỉm cười.Biết chuyện anh đi mua bốn con rùa đem buộc trước từng con ở các lùm cây, đợi ông già định đi săn. Sáng lại, ông già biểu: - Chúng ta đi bắt rùa nấu cháo, nhưng nhà không có chó, chú mày giả làm chó đi theo ta, được không? Cậu trai sốt sắng đáp: - Dạ được lắm, cháu xin vâng lời. Ông già gói cơm đem theo, cùng cậu rể tương lai đi săn rùa. Cậu trai làm chó chạy trước đưa cho ông già săn. Săn đến trưa, ông gia ngồi nghỉ, mở cơm ra sửa soạn ăn. Cậu trai cứ làm chó sủa bầy trâu, cắn vào bắp vế trâu, lùa bầy trâu vào ruộng lúa. Ông lão sợ trâu giẫm nát lúa, bỏ cơm đuổi theo. Thừa dịp ông đi khuất, cậu lén quay lại ăn hết gói cơm. Ông già hụt ăn, ôm bụng đói xách mấy con rùa về nhà. Tối đến, ông lại bàn kế với vợ. Cậu trai vẫn núp dưới sàn nghe lén. Bà vợ biểu chồng: - Ngày mai ông làm chó, để thằng quỉ kia làm chủ, rồi ông chơi nó một vố nên thân. Cậu con trai nghe vậy, khoái chí về chuẩn bị trước. Qua ngày hôm sau, cả hai lên đường đi bắt rùa. Ông già làm chó, chạy bốn chân phía trước. Cậu con trai đá đánh liên tiếp vì đi theo cậu không kịp. Hơn nữa, ông không bắt được một con rùa nào, nên bị câu ta chửi mắng là đồ chó vô tích sự. Ông mệt quá nhưng không dám dừng chân, mắc cỡ gần chết mà không dám nói. Đi tới trưa không có rùa, cậu mắng con chó thậm tệ. Cậu ngồi nghỉ, ăn cơm rồi quăng xương cho chó, “con chó” không còn răng, ăn không được. Cậu vừa ăn vừa mắng: - Con chó thiệt dở tệ. Chỏ có bắt rùa mà không tóm được con nào, chạy thì chậm như rùa lẹt đẹt ở phía sau. Thiệt là đồ ăn hại. Chỉ có biết ăn dộng cho no bụng rồi ngủ thôi. Về nhà, cậu méc với bà già: - Thưa bà, con chó này vô ích quá, bắt không được con rùa nào hết. Ông già tức tối vô cùng. Ông bảo chàng trai về nhà, sáng mai lại. Đêm ấy lão bàn mưu tính kể với vợ: - Thằng ôn dịch này xấu như quỷ. Con gái mình đẹp như tiên. Tôi nhất định không gả cho nó. Nhưng tôi hết phương làm cho nó giận để nó chửi thề. Mưu gì nó cũng không mắc. Bây giờ phải làm sao? Bà vợ nói: - Mai này, ông ăn cơm rồi chui vô một cái giỏ, tôi nói rằng ông đi chợ rồi và biểu nó gánh giỏ đem ra chợ gấp cho ông. Đường xa đi mệt chắc nó chửi thề. Ông nhẩy ra từ chối luôn vụ cưới xin. Ông già khoái chí bật cười dài. Cậu con trai núp dưới sàn nhà nghe ráo, nói thầm: - “Mình bị quở trách nhiều quá mà ông ta không chịu gả con, đây là lần chót ta phải cho ông già một vố thiệt nặng mới mong có kết quả”. Sáng lại, cậu con trai đến nhà ông già lãnh nhiệm vụ gánh hai cái giỏ (một đựng ông già bịt kín, và một đựng khối đá cũng bịt kín). Cậu không nói lời nào, lẳng lặng đi ra chợ. Dọc đường cậu dừng lại lấy dây cột miệng giỏ thiệt chặt, đem để sát bờ lạch rồi làm bộ nói: - Khốn khổ cho thân tôi. Trời sắp tối rồi mà tôi chưa tới chợ. Chắc ông già mong lắm. Nhưng mệt quá phải ngồi nghỉ mệt chút mới đi tiếp nổi. Cậu đi tránh xa ra, lấy một khúc cây thiệt to đập phình phịch xuống đất giả tiếng chân voi đi qua cầu. Cậu ta nhái tiếng tên nài la lên: - Ai để cái giỏ ngay đầu cậu vậy? Lấy đi mau, voi đạp nát bây giờ. Cậu tiếp tục lấy khúc cây dộng lên đầu cầu tùm tùm như voi đang đi đến gần lắm rồi. Ông già tưởng voi thiệt, hoảng hồn nhảy lung tôi lôi cái giỏ rớt xuống sông. Ông nghĩ phen này sẽ chết đuối. Cậu trai để cho lão uống nước một hòi mới làm bộ la lên: - Trời ơi!Ai để voi địa phươngạ rớt cái giỏ của tôi xuống rạch như vậy. Muối ướt hết rồi, ông già sẽ chửi tôi cho mà xem. Cậu nhảy xuống vớt giỏ lên, giả vờ ngạc nhiên: - Ồ! Mới rớt xuống rạch một chút mà đã có cá vô giỏ rồi. Phen này ta bắt cá làm khô cho mẹ vợ ăn chơi. Mởi giỏ ra ông già gần chết. Cậu kêu trời kêu đất, vừa cười thầm vừa cứu cho lão tỉnh dậy rồi đưa lão về nhà. Từ đó về sau, ông già “kệch” không dám thử tài chàng trai và đành phải gả con gái.
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
macbupda
Moderator

Bài viết: 11970
Lính của PTL
|
 |
« Trả lời #79 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2011, 06:29:00 am » |
|
DÌ PHẢI THẰNG CHẾT TRÔI TÔI PHẢI ĐÔI SẤU SÀNH Ngày xưa, có một chàng trai trẻ, nghèo kiết xác, chưa vợ. Nhà anh ta ở cạnh nhà một phú ông có cô con gai đến tuổi lây chồng. Anh ta cũng võ vẽ năm ba chữ, có ý ngắm nghé con gái phú ông, nhưng ngặt vì nhà anh với nhà phú ông như trời với vực, đời nào phú ông chịu gả. “Lấy được cô ả mới gỡ được nạn nghèo, mà muốn lấy được cô ả phi dụng mẹo bất thành”. Một hôm, anh thấy có người bán hai con sấu bằng sành, một thứ đồ cổ không đáng giá mấy. Anh bỗng nghĩ ra một kế: Mua sấu sành về chôn dưới đất, ít lâu thì mói lên. Vài bữa sau anh sang nhà phú ông mượn cái cân. Phú ông thấy anh vô cớ mượn cân, hỏi: - Mượn làm gì? Anh ta đáp: - Cháu mượn về cân ít đồ vật. Buổi chiều anh mang cân sang trả, phú ông thấy cân có dính đất, trong bụng lấy làm ngờ vực. Sự ngờ vực của phú ông tăng lên khi thấy sau đó một vài ngày anh lại lọt tọt sang mượn cân nữa. Lần này khi anh trả cân, phú ông thấy cái cân của mình không những dính đất mà còn dính cả những thử gỉ như gỉ đồng. Lần thứ ba cũng lại thế. Phú ông từ đó để ý rình anh hàng xóm của mình, thì thấy anh ta đêm đêm vác cuốc thuổng ra đi. Sáng sớm tinh mơ lại mò về. - Chắc là hắn đào được của. Nghĩ thế, một hôm phú ông giả mượn cớ sang nhà anh dò xem thế nào. Một điều làm cho phú ông lấy làm lạ là xưa nay chưa bao giờ thấy anh chơ đồ cổ, thế mà nay trên bàn thờ nhà anh có bầy hai con sấu sành còn dính đất chưa chùi sạch. Thấy phú ông hỏi, anh ta giả bộ ấp úng cho biết là mua ở chợ. Phú ông về bảo vợ: - Thằng này hẳn là đào được kho vàng hũ bạc chi đây. Hắn ranh khôn lắm, nhưng đố hắn giấu được mắt ta. Từ đó, phú ông có tình cảm với anh. Từ cảm tình đến thân tình. Thấy anh cũng có vẻ nho nhã, phú ông có ý muốn gả con gái cho anh, rồi nhờ mai mối đánh tiếng. Anh chàng thuận ý, nhưng cho mối biết là nhà mình nghèo quá không biết gì dẫn cưới được. Phú ông cười, cho là anh giấu của, bèn cam đoan xin chịu tất cả phí tổn tiền cưới xin. Thế là bỗng chốc anh nghiễm nhiên là chồng của con gái phú ông. Hôm về nhà chồng, cô gái thấy chồng chỉ khư khư giữ độc nhất một cái rương gỗ rất nặng, trong bụng đoán chắc là của ở đấy rồi nên không nói gì hết. Nhưng ngày một ngày hai, vợ thấy chồng không có vẻ gì giầu có thì sinh ra ngờ vực. Nhân một hôm chồng đi vắng, nàng lấy trộm chìa khóa mở rương ra xem thì chỉ thấy một rương toàn đá cuội, chẳng có đồng sứt nào hết. Biết là bị lừa, người vợ chỉ còn ngồi khóc. Nhưng sau đó nàng biểu chồng: - Kể ra anh cũng cao mưu thiệt. Bây giờ anh phải làm thế nào để lấy được một cô gái thật giàu, giàu hơn tôi. Được như vậy tôi sẽ ăn ở với anh trọn đời, bằng không thì nhất định không cho nằm cùng đường đâu. Nghe nói, anh ta gật đầu rồi bỏ nhà ra đi. Anh chàng đến một tỉnh khác làm đầy tớ một nhà phú thương. Phú thương là một tay giàu có nứt đố đổ vách. Cả một dinh cơ, vườn tược đồ sộ ở bên bờ sông. Phú thương có ba cô con gái chưa chồng, cô nào cũng xinh đẹp. Anh chàng đến ở và làm việc cật lực. Không bao lâu anh được chủ tin cậy. Một hôm nào khoảng chập tối, có một cái thây ma trôi qua bến nhà phú thương. Anh bỗng nghĩ ra một kế: vớt trộm cái thây ma lên bờ giấu ở một chỗ kín trong vườn. Đoạn anh đi tìm một người quen, bảo y xưng là chú ruột mình đến thăm cháu. Người ấy đến, anh lên nhà trên xin phép cho chú mình ở lại chơi ít ngày. Phú thương nể anh nên tiếp đãi chú anh tử tế, sai dọn cơm rượu ra mời. Đến nửa đêm, anh cho ông chú giả của mình lẻ ra về, rồi lấy áo quần mặc vào cái xác chết, bồng để lên giường. Thế rồi anh tri hô lên. Anh nói với chủ: - Không biết chú tôi ăn uống những gì mà bây giờ chú tôi chết cứng không dậy được nữa. Nghe nói, phú thương kinh hoàng, lại thấy anh định làm to chuyện thì không còn hồn vía nào nữa. nếu hắn làm to chuyến thì chuyến này tư gia, điền sản của mình sẽ đội nón ra đi mà thôi. Bọn quan lại chỉ béo bụng nhờ những chuyện này. Nghĩ vậy, phú thương đấu dịu, đưa anh vào buồng thương lượng. Hắn bảo anh muốn gì được nấy miễn là anh giấu gọn việc này cho là được. Dịp đã đến, anh chàng nói toạc ý muốn thầm kín của mình là chỉ muốn lấy trong ba cô gái làm vợ. Phú thương thấy mặt mũi anh ta cũng không đến nỗi ấu xí, lại thấy anh làm việc đắc lực nên vui lòng đem cô gái lớn gả cho anh. Thế là anh chàng được vợ mới. Người vợ này có của riêng bộn bề, hơn đứt người vợ cũ lấy được ít lâu, hai vợ chồng đưa nhau về thăm nhà. Khi hai người đàn bà gặp nhau, họ kể chuyện cho nhau biết. Nghe con gái của phú thương nói hết ngọn ngành, cô con gái của phú ông lắc đầu nói rằng: - Vậy là Dì phải thằng chết trôi, còn tôi phải đôi sấu sành!
|
|
|
|
|
Logged
|
Tự hào thay, mác búp đa Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng. Thô sơ, gian khổ đã từng Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
|
|
|
|