Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:15:45 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người Thăng Long  (Đọc 54255 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #30 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:23:44 pm »

Trong số những người gần gụi ông, Chiêu Văn vương xưa nay vẫn thân thiết nhất với Chiêu Quốc vương. Đó cũng là lẽ tự nhiên vì cùng mẹ, tuổi tác cũng không chênh nhau bao nhiêu. Chiêu Quốc vương lại là người thật tài giỏi, kể từ sở học đến tạp kĩ đức ông Chiêu Quốc có một sức hấp dẫn hết sức kì lạ với những người chung quanh. Tuy thế câu nói khinh thị về cái “đám khỉ tu tiên” hôm nay không được Chiêu Văn vương tán thưởng. Đức ông Chiêu Văn chỉ gượng cười. Đức ông định nói với anh rằng Trần Quốc Tảng và Trần Kiện là hàng cháu, tranh chấp làm gì với bọn họ nhưng rồi lại thôi vì sợ mếch lòng Chiêu Quốc vương.

Đầu canh năm, đài đồng hồ nước thỉnh ba hồi khánh. Thế rồi tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên. Cửa hoàng thành mở toang. Quan Trấn điện Phạm Ngũ Lão dẫn quân Thánh Dực ra khỏi hoàng thành bằng hai cửa nách. Các đồ nghi trượng được dàn ra trên bãi rộng trước cửa hoàng thành. Một viên Nội giám Trung quan đứng trên vòm cổng hoa cái loa bầu thét:

- Thánh giá xuất cung.

Nghe hiệu xướng vua ra khỏi cung, vương hầu và các quan cùng lạy rạp xuống đất. Một đám tàn vàng tán tía xúm xít che hai cỗ kiệu nối nhau ra cửa thành. Kiệu đi trước rước đương kim hoàng đế Nhân Tông, kiệu thứ hai rước vua cha Thượng hoàng Thánh Tông. Kế sau hai cái kiệu, người ta thấy Nhân Túc vương Trần Toàn, cái mũi càng sần đỏ hơn bao giờ hết; rồi đến Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đi bộ ra từ hai cửa tả, hữu. Theo sau các đức ông phò giá là toán dũng thủ áo gấm kén chọn trong các vệ thân quân. Viên tướng chỉ huy toán dũng thủ này là Trung phẩm Phụng ngự Điện tiền tướng quân Hoàng Mãnh hiên ngang trong bộ áo chiến bằng vóc đại hồng mới tinh khôi.

Thế rồi chiêng trống và đồ nghi trượng dàn bày lên trước. Những lá cờ thêu mặt trời, mặt trăng, thêu rồng mây, cờ năm màu, may bằng lụa và vải bay phần phật trong gió sớm. Cả một đô Hổ Dực cầm côn sơn đỏ đi đầu vút roi để mở đường. Tất cả vương hầu và các quan văn quan võ nối nhau thành hàng dài đi bộ theo hai cỗ kiệu vàng rước vua.

Bây giờ trời đã rạng. Nhân dân kinh thành đã dậy và bày hương án ở hai bên vệ đường để tỏ lòng tôn kính nhà vua và cũng xem rõ mặt rồng bởi vì dù họ là dân kinh thành nhưng hai vua xuất cung vẫn là dịp hiếm hoi, có khi chỉ một đôi lần trong một năm. Sau đoàn vương hầu đến các phi tần và nữ quan hai cung. Chung quanh những người đàn bà yếm áo lượt là này là nội giám mặc áo tía trơn. Kế sau đoàn nữ quan là đoàn các đạo sĩ cung Cảnh Linh mặc áo chéo vạt bằng lụa huyền nền mờ hoa bóng tay cầm phất trần bằng lông đuôi ngựa trắng. Ông đạo thống đã già lắm, vẻ mặt bí hiểm, tay cầm sợi xích thau treo lủng lẳng một cái lư trầm toả khói mù mịt. Kề sau đoàn đạo sĩ là đoàn các tăng ni chùa Chân Phúc mặc áo cà sa lụa nâu, lụa vàng, tay cầm những chuỗi hạt bồ đề vừa đi vừa đếm hạt và niệm Phật hiệu. Vị tăng thống cầm cây thiền trượng, đầu trượng rủ xuống nhiều dải lụa màu rực rỡ.

Sau đám tăng đạo mới đến các quan văn quan võ từ tòng tứ phẩm trở xuống. Dẫn đầu đoàn các quan là viên Đại An Phủ sứ kinh thành và quan Học sĩ Lê Văn Hưu hiện giữ việc phó quan trong phủ Tể tướng Thái sư của Chiêu Minh vương.

Khi các quan đã đi qua, các gia tướng, thư nhi, gia nô và quân tuỳ thân của các vương hầu mới chụm lại thành cái đuôi dài lê thê của đám rước. Chủ xích mích với nhau một thì tớ gầm ghè với nhau mười. Gia nô của các vương phủ chi Tức Mạc mặc đẹp hơn, ăn nói hoạt bát hơn bọn ở Vạn Kiếp về. Những gia tướng Vạn Kiếp thì vũ dũng hơn, họ cao lớn, hơi cục mịch đôi chút, quần áo kém phần xát xóng và một đôi người có cái dáng giang hồ ngang ngửa. Họ nín nhịn trước những lời châm chọc khá nanh nọc:

- Chắc cái áo này ông anh may phòng nhớn?

- Tại sao chú em cứ ru rú mãi ở rừng Yên Tử? Chú em sợ lên kinh không có ăn à?

Có lời khiêu khích rõ rệt hơn:

- Này mấy chú em, có nhớ trận đòn năm Mão không?

Trận đòn năm Mão cách đây đã trên mười năm. Lần ấy vua Thánh Tông chưa nhường ngôi cho con. Nhân một dịp mừng chiến thắng quân phiến loạn ở vùng núi phía tây, triều đình làm lễ hiến phù dâng tù binh ở nhà Thái Miếu. Buổi tối vua ban tiệc khao thưởng tướng sĩ tòng chinh. Tiệc đến khuya mới tan, các vương hầu về phủ đệ, chẳng biết nguyên cớ làm sao nhiều đám đánh lộn đã xảy ra ở nhiều nơi trong kinh thành. Quân tứ sương phải đánh trống ngũ liên, huy động mấy đô, mấy vệ ra phường phố giữ trật tự. Không bắt được một hung thủ nào, lính tứ sương chỉ thấy nằm ngả ngốn những gia nô, gia tướng tuỳ thân của các đức ông chi Vạn Kiếp. Người kinh thành đoán những kẻ hành hung là những dũng thủ của các đức ông chi Tức Mạc nhưng đoán thì đoán thế thôi chứ nào ai dám hé răng.

Trận đòn năm Mão là một nghi án nhưng chẳng ai nghi cả. Ai cũng hiểu hung thủ là loại người gì cũng như ai cũng hiểu trận gọt gáy năm Ngọ (sau trận năm Mão đúng ba năm) là do ai gây ra vào dịp các đức ông chi Tức Mạc đi vãn cảnh chùa Yên Tử sau khi chùa chính ở núi này trùng tu xong. Trận gọt gáy năm Ngọ cũng không tìm ra hung thủ, chỉ mấy người bị đánh nằm ngổn ngang ở sườn núi bờ khe mà toàn là tướng, lính tuỳ thân của các đức ông chi Tức Mạc. Anh nào cũng bị đòn đau, tóc bị gọt một mảng nơi gáy và bôi vôi vào. Nghe nói gọt gáy bôi vôi là hình phạt thường chỉ dùng với loại đàn bà lẳng lơ quá mức lừa chồng đi ngoại tình, nó đã xót mà mấy tháng sau tóc mọc lại cũng lởm chởm khó coi.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #31 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:24:26 pm »

Trong cái đuôi lê thê của đám rước, người ta nhận ra vóc dáng cao lớn của hai gia tướng thân cận của Trần Quốc Tuấn là Yết Kiêu và Dã Tượng. Phía người của chi Tức Mạc cũng có một dũng thủ to lớn cầm đầu. Anh ta mang một cái biệt hiệu là Đô Trâu, nghe đâu xưa kia đã từng giải chiếu cạp điều xơi liền mười một giải cạn của hội vật hàng năm của vùng hai bờ sông Đà. Con người thô lỗ hung dữ ấy mà lại có cái lưỡi rất sắc. Những câu châm chọc đau nhất của anh ta và thường nhằm vào Yết Kiêu. Điều đó có một nguyên nhân xa xưa mà Đô Trâu không bao giờ thổ lộ. Đó là giải cạn lần cuối của Đô Trâu. Năm ấy theo phong tục vùng sông Đà, hội vật mùa xuân mở ngay sau ngày tết Nguyên đán. Khi ấy Chiêu Quốc vương đang làm trấn thủ lộ Đà Giang. Các bô lão trong vùng mời đức ông làm chúa hội vật. Bộ hạ của đức ông Chiêu Quốc có một đô vật tài nghệ rất cao mà tầm vóc cũng thật dềnh dàng. Hắn ta chính là Đô Trâu, cái biệt hiệu thực xứng đáng với vóc người nhưng thực ra không đúng với tính nết của y. Con trâu vốn là bạn nhà nông, đã hay làm lại chỉ ăn cỏ, hiền dịu và có nghĩa còn Đô Trâu tính độc ác, vô học và nham hiểm. Hắn lại được Chiêu Quốc vương hết sức nuông chiều nên thả sức lộng hành trong lộ, áp bức dân lành, ăn của đút, chiếm đoạt tài sản của những người thân cô thế cô, dân sự ta oán mà không ai dám nói. Bởi vì Đô Trâu là công cụ của Chiêu Quốc vương dùng để chế ngự hào kiệt trong vùng. Hễ ai không chịu theo Chiêu Quốc vương là Đô Trâu được lệnh dùng độc thủ hạ sát ngay trong các sới vật mở hai mùa xuân thu ở lộ Đà Giang hoặc bằng cách gây sự lúc thời bình. Các huyện quan không dám hé răng, thậm chí trong những lá sớ dâng về triều đình cũng không một dòng đả động đến những cuộc sát hại đê nhục ấy nữa. Hàng năm cứ đến mùa hội vật là Đô Trâu lại giải chiếu cạp điều trước sới, y vào vuốt lên giải nhất nói với các cụ bô lão: “Thưa, các cụ cho con xin cái giải nhất”. Thế rồi y ngồi xếp chân chữ ngũ trên chiếc chiếu cạp điều chờ tan giải lĩnh cạn giải nhất. Lần ấy, Hưng Đạo vương đi tuần thú theo lệnh của triều đình vùng thượng lộ sông Đà. Chiêu Quốc vương mời ông cùng ngồi cầm trịch. Có một thiếu niên to lớn nằng nặc đòi được đấu với Đô Trâu. Sự kiện quái dị ấy làm cho các bô lão kinh ngạc phải xin ý kiến của hai đức ông. Hưng Đạo vương sau khi suy nghĩ thấy cậu bé tuy tuổi chưa phải đã lớn nhưng cốt cách người đã chẳng kém chi Đô Trâu. Ông thấy sự quả quyết của cậu bé thật đáng tin cậy nên đã bằng lòng cho cậu tranh giải nhất với gã đô vật hung ác.

Trận đấu diễn ra rất quyết liệt. Cậu bé có lối vật rất riết róng làm cho Đô Trâu mất cả tự tin và bình tĩnh. Sau mười một nhịp, Đô Trâu bị cậu bé vật ngửa tênh hênh tấm lưng bằng một đòn cao, chính là đòn sở trường của Đô Trâu. Thế mới cay cho hắn. Cậu bé nẫng cái giải nhất năm ấy chính là Yết Kiêu. Sau trận thắng Đô Trâu, Yết Kiêu được đức ông Hưng Đạo vương thu nhận làm gia tướng trong đội quân gia đồng hương Vạn Kiếp.

Bây giờ oan gia lại gặp nhau sau hơn mười năm cách biệt, Đô Trâu gây sự với Yết Kiêu cũng chẳng có gì là lạ. Gia nô hai chi cũng ùa vào khích bác nhau. Con người ta nhẫn nhục cũng có hạn. Đã thấy những cặp mắt vằn đỏ lên và những hơi thở dài rất mạnh. May thay chính vào lúc đó, hình như đấng chí tôn nhớ ra cái nết hết lòng vì chủ chính là cái hay và cũng là cái dở của quân gia nô tôi tớ nên đã sai một tướng trấn điện dẫn thân binh quay trở lại để coi sóc trật tự.

Đám rước lên đến đền Đồng Cổ không xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Ngôi đền này ở bờ tây bắc hồ Dâm Đàm có kiểu cách tuy nhỏ nhưng trang nghiêm. Đền Đồng Cổ làm đã trên hai kỉ. Mỗi kỉ là sáu mươi năm. Xưa kia ông vua khai sáng ra triều Lý đem quân đi tiễu phạt phương nam. Đến châu Ái, Lý Thái Tổ nghỉ quân tại núi Khả Lại. Khả Lại là một chòm núi ba ngọn châu vào nhau như ba vì sao. Dưới chân núi có một ngôi đền cổ xây dựng từ thời nào không rõ. Trên chính điện thờ một cỗ trống đồng rất to. Lý Thái Tổ dâng hương xem trống. Cỗ trống nặng chừng một trăm cân, rộng hai thước một tấc, cao một thước năm tấc. Chính giữa mặt trống là một cái rốn tròn chung quanh có chín vòng hoa văn dường như văn tự khoa đẩu cổ xưa. Đêm hôm ấy, Lý Thái Tổ ngủ lại trong đền. Không hiểu vì ban ngày quá chăm chú về việc quân hay vì một lẽ huyền bí gì mà người ta chưa hiểu thấu, hoặc giả vua biết bụng quân còn tin ở chuyện quỷ thần, mà sáng hôm sau nhà vua kể lại một giấc mộng trải qua trong đêm. Mộng rằng nhà vua thấy một ông tướng nhà trời giáp trụ uy nghi, râu tóc dài rậm. Viên tướng tự xưng là thần trống đã sinh thành từ thuở vua Hùng vương dựng nước Văn Lang. Nay nghe nói nhà vua đi mở nước ở phương nam, thần tướng xin theo để có một tay âm phù linh diệu. Khi tỉnh giấc, Lý Thái Tổ lại dâng hương một lần nữa, khấn to cho các tướng đứng chung quanh nghe thấy rằng lần này ra quân thắng lớn như lời thần giáng, thì khi ban sư, hồi triều nhà vua sẽ cho lập đền thờ ở kinh thành và cho rước trống về đó.

Lần xuất quân ấy, Lý Thái Tổ lập nên công lớn. Nhà vua giữ lời, sai lập ngôi đền ở Thăng Long, rước trống về thờ ở đó. Đến đời Lý Thái Tông, thần lại báo mộng cho nhà vua biết có ba hoàng tử sắp làm loạn. Vì thế sau khi dẹp xong loạn, Lý Thái Tông đặt lệ hàng năm tôn thất và các quan văn võ phải lên đền Đồng Cổ uống máu ăn thề. Lời thề truyền mãi rằng: “Làm tôi phải trung, làm con phải hiếu, ai bất trung bất hiếu quỷ thần tru diệt”.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #32 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:25:19 pm »

Năm nào cũng thề bồi, triều nào cũng có kẻ phản loạn nhất là nhằm những triều vua hoang dâm xa xỉ, rồi nhà Lý vẫn mất ngôi báu về tay họ Trần nhưng chính triều Trần lại đưa lễ thề thành một thệ hội cực kì long trọng. Thần linh chưa hề thấy hiển hiện cho ai trông thấy dung nhan nhưng có lẽ đã phân thân ra thành muôn ngàn mảnh nhỏ chui rúc ẩn náu tận đáy lòng sâu thẳm của mỗi con người làm cho những kẻ có mối khát vọng bất chính, dù chỉ một thoáng mơ hồ, cũng cảm thấy rợn lòng tưởng như sắp bị một sức mạnh huyền bí nào đó ở thế giới bên kia trừng trị.

Thệ hội năm nay do đức ông Hưng Đạo đứng chức quan Điển nghi Kiểm chính. Hưng Đạo vương dẫn đầu các vương hầu đi sau kiệu hai vua. Ông thoáng nghĩ đến cái buổi hương Vạn Kiếp tiếp chiếu chỉ nhà vua triệu ông về kinh hồi đầu năm nay. Người tuyên chiếu là quan Học sĩ Đinh Củng Viên. Chiếu không chỉ rõ lí do vua triệu nhưng quan học sĩ sau khi mọi nghi lễ tiếp chiếu đã xong, trong lúc ngồi uống trà giải khát với ông đã chuyển giao cho ông một thư tay của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Thư này thì rõ ràng minh bạch, Trần Quang Khải nói rằng việc nước đang lúc bộn bề, thậm chí chiến chinh có thể tính tới rồi. Họ Trần phải bồi đắp lập tức mối đại thống để đảm đương việc nước. Muốn làm được việc này thì Hưng Đạo vương, người cầm đầu chi trưởng và Chiêu Minh vương, người cầm đầu chi thứ phải gắn với nhau chặt chẽ. Chiêu Minh vương mời đức ông về kinh ngay. Thư không nói gì về việc bảo đảm an toàn cho các đức ông chi Vạn Kiếp khi họ về kinh, cũng không hề có một lời bảo đảm về cách đối xử của triều đình với chi Vạn Kiếp nhưng lại có một câu viết thêm ở cuối thư: “Khi vương huynh về kinh xin đến thẳng nhà đệ”. Trần Quốc Tuấn đã trầm lặng nghĩ. Về kinh đến thẳng nhà Trần Quang Khải, an toàn của ông có thể là rất mỏng manh nếu như lá thư che giấu một mưu độc, ngược lại sẽ rất vững vàng khi việc bảo vệ cho ông sẽ rất chu đáo ngay từ đầu vì do đích thân Trần Quang Khải tự trông nom việc đó. Trần Quốc Tuấn nghĩ về Trần Quang Khải. Đó là một con người cương nghị, quả đoán, sát phạt, một tính cách anh hùng. Nếu là một người anh em thì thật ruột thịt, nếu là một người bạn thì là một tri kỉ, nếu là một kẻ thù cũng vinh dự cho người đối đầu. Trần Quốc Tuấn về Thăng Long, và đúng như lời dặn trong thư Trần Quang Khải, ông đến ngay phủ đệ Chiêu Minh. Ở đây, ông được tiếp đãi rất thân tình. Chiêu Minh vương và phó quan của ông là Học sĩ Lê Văn Hưu đã bàn bạc với Hưng Đạo vương tại một gian nhà kín đáo tận hậu thất. Việc xuất hiện của đức ông Hưng Đạo công khai trước nhân dân toàn kinh thành được ấn định vào ngày hội thề. Hưng Đạo vương có hỏi đức ông Chiêu Minh: “Còn ý của Thượng hoàng thế nào?” Chiêu Minh vương đã thẳng thắn trả lời: “Thượng hoàng đã cho em toàn quyền”. Câu nói đó có nghĩa là Trần Quang Khải chủ động trong việc giao quyền hay không cho Trần Quốc Tuấn và ông đã trao.

Hôm nay dẫn đầu trăm quan, Trần Quốc Tuấn lại nghĩ về Trần Quang Khải và thấy kính phục con người ấy. Trần Quang Khải đã suy nghĩ thế nào mà trao lại quyền cho ông. Đức ông Chiêu Minh so với ông không chút gì thua sút về tài năng, nếu ông thâm trầm hơn trí lự hơn thì Chiêu Minh vương cứng rắn, quả đoán và nhanh nhạy hơn. Nhưng nếu Chiêu Minh vương cầm quyền thì việc điều động các đức ông chi Vạn Kiếp khó khăn hơn ông. Còn nếu ông cầm quyền thì cả họ Trần dễ nghe theo ông tộc trưởng miễn là Chiêu Minh vương nêu gương trước. Trần Quang Khải đã nói thẳng với ông rằng: “Cái khó là mấy em tôi. Nếu họ trung chính biết theo hai anh em mình thì đó là đại phúc cho họ”. Trần Quốc Tuấn công nhận điều đó và nói thêm: “Chúng ta đã có một sự gắn bó mới khác trước. Chúng ta biết nhưng những người khác chưa biết. Họ sẽ hiểu thế nào khi thấy anh em ta đi bên nhau trong các buổi triều hội và tế lễ? Phải cần bao lâu thì họ mới hiểu đúng ý của chúng ta?” Trần Quang Khải trầm ngâm rồi đáp: “Điều đáng lưu tâm là thái độ của các cháu ở Vạn Kiếp và các em tôi. Các người khác thì anh em ta cứ dùng phép nước mà ràng buộc. Nếu sai đâu cứ việc nắn cho thẳng. Em hi vọng rằng việc của chúng ta làm sẽ được tất cả những ai trung chính tuân theo.”

Trần Quang Khải mới bốn mươi tuổi. Người ta thường có câu: “Con người ta ba mươi tuổi mới kể là đứng, bốn mươi tuổi mới hiểu mọi việc ở đời, còn năm mươi tuổi sẽ biết được mọi diễn biến lắt léo của thế sự”. Trần Quang Khải vẫn giữ được tính cương của một tướng trẻ nhưng ông đã có trí lự của bậc tướng già. Bàn chuyện với Chiêu Minh vương, Trần Quốc Tuấn cảm thấy nếu cầm quân, Chiêu Minh vương cũng không kém gì ông. Nhưng ông phục đức ông hoàng Ba ở đức hi sinh hỉ xả vì việc công và khi đã có ý định rồi thì không có cái gì trong thế gian này có thể làm con người ấy thay đổi ý định...

Hưng Đạo vương trang nghiêm dẫn các quan văn võ vào đền. Ngôi đền tuy rộng rãi nhưng không chứa nổi bấy nhiêu con người. Chỉ các vương hầu áo tía và các nữ quan được vào trong chính điện, còn tất cả nêm chặt ngoài sân ngoài vườn. Lính tứ sương được lệnh Hưng Đạo vương đóng chặt cửa lớn. Bên ngoài đền lính canh đang vất vả để dẹp đám dân kinh thành đang kéo đến mỗi lúc một đông thêm.

Hưng Đạo vương đứng vào chiếu chủ tế trải trước án thờ. Ông xướng to: “Ban bài”. Đó là hiệu lệnh cho tất
cả mọi người đứng vào chỗ của mình chờ làm lễ. Không khí nặng nề trang trọng đến tức thở. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật liếc Chiêu Quốc vương và thấy bộ mặt thường ngày xanh lạnh của anh mình bây giờ hồng au lên. Quả nhiên Chiêu Quốc vương đang xúc động mạnh. Khi viên Thông tán Đông xướng Trần Quốc Nghiễn hô to: “Quỵ”. Thì Trần Ích Tắc như sụm xuống.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #33 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:26:16 pm »

Trước ban thờ thần trống đã bày một cái thống da lươn rất lớn. Những người hầu việc lễ bưng mấy vò rượu đổ đầy cái thống. Các quan chấp sự sai lính dắt vào ba con sinh: một con nghé tơ, một con ngựa trắng còn non. Lính chọc tiết ba con sinh cho huyết chảy vào thống rượu.

Dâng hương. Mùi trầm huyền bí ngào ngạt trong đền. Người ta nghe tiếng quan Điển Nghi dõng dạc đọc to lời thệ thư. Tiếng hô “xin thề” bay cả ra ngoài đền. Dân kinh thành đứng ở ngoài cũng đồng thanh thề góp. Hưng Đạo vương uống chén rượu thề trước hết mọi người. Chiêu Minh vương uống chén rượu thứ hai. Sau đó các vương hầu và các quan đại thần văn võ lần lượt nhận chén rượu từ tay viên quan chấp sự. Họ uống chậm, người thì mặt nhợt ra, người thì đỏ mặt lên.

Thông tán Tây xướng Trần Đức Việp hô to: “Cúc cung bái”. Tất cả cùng lạy xuống, thành kính và lòng tràn
trề niềm tin.

Thế là thệ hội đã xong. Trần Quốc Tuấn sai viên Đại An phủ sứ kinh thành kiểm tên các vương hầu và các quan xem có ai thiếu mặt không. Đến lúc này Chiêu Văn vương mới thấy nhẹ người đi. Trần Nhật Duật tò mò nhìn mọi người. Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng đang dán mắt vào mấy con sinh nằm ngổn ngang trên mặt đất. Hoàng Mãnh làm nhiệm vụ kiểm tên mọi người một cách gay gắt đứng như một viên tướng mới tiến tước. Ông thấy Chiêu Minh vương Trần Quang Khải đứng sừng sững như chưa quen vị thế thụ động chờ lệnh. Đại Tông Chính Nhân Túc vương Trần Toàn vẫn áy náy cao độ, cái mũi càng sần đỏ lên, đôi mắt hết nhìn đức ông Chiêu Minh lại chuyển sang đức ông Hưng Đạo.

Trần Nhật Duật nuốt nước bọt một cách khó khăn. Thế là thệ hội đã xong, hai chi Tức Mạc và Vạn Kiếp đã gần thêm lại. Đến lúc này, Chiêu Văn vương mới hiểu, trong tiềm thức của ông, sự phân biệt giữa hai chi không phải là không có dù nó chỉ là một cỏn con mang sẵn trong huyết quản.

Điện tiền Tướng quân Hoàng Mãnh là một trong mười viên quan được chọn để chăm nom cho việc rượu tối mùng bốn tháng tư diễn ra đúng thông lệ.

Tiệc rượu này đặt ra từ thời Trung Vũ vương Trần Thủ Độ còn sống, Hiển hoàng Trần Liễu còn sống, Tiên hoàng đế Trần Cảnh còn sống, Thiên Cực công chúa Trần Thị Dung còn sống, Thiên Cực công chúa chính là vợ của ông vua cuối cùng của nhà Lý - Lý Huệ Tông, và bà đã lấy người chồng sau là Trần Thủ Độ. Tên cá của bà là Ngừ, cái thứ cá lẳn mình, xanh biếc. Có nghĩa là lúc đó còn sống những người có hai nửa cuộc đời, ở một nửa trước họ hãy còn hàn vi, sống bằng nghề chài cá và buôn bán hải sản bằng thuyền biển, họ chưa bị lễ giáo của vị thế chức tước nhà sang ràng buộc; sang nửa đời sau, họ trở thành những người đứng đầu triều đình, nhất cử nhất động đều bị trăm quan, trăm họ nhìn vào, một lời họ nói ra cũng làm hàng trăm người có vị thế cao trong xã hội tìm hiểu suy nghĩ đắn đo xem có những ẩn ý gì. Phú quý cực phẩm nhưng thế là nửa đời sau của họ bị hàng trăm mối ràng buộc. Lúc đó ngôi báu nhà Trần đã vững vàng, trăm họ no đủ, việc nước ung dung cho nên người ta nảy ra ý muốn bày đặt thú chơi. Đã có những người không biết nén dục vọng đâm ra phạm lỗi. Năm Bính Thân, nước lên to ngoài sông Cơ Xá. Nước lũ tràn vào hồ Dâm Đàm, nước tràn cả vào nội cung. Hiển hoàng Trần Liễu lúc đó coi quản công việc cung Thánh Từ, một buổi đi thuyền vào cung chầu vua cha. Thuyền bơi qua cung Lệ Thiên. Cung này dùng để giam giữ các phi tần cũ của triều Lý. Trần Liễu nhìn thấy một bà cung phi còn xinh đẹp liền tạt ngay thuyền vào. Thế là việc lăng nhăng chẳng ra làm sao xảy ra làm cho hoàng tộc cũng đâm ngượng với trăm quan trăm họ. Hiển hoàng là anh ruột vua Trần Thái Tông, người tôn quý đến tội gì cũng còn tha huống nữa một tật trai gái cỏn con. Vì thế Trần Liễu chỉ bị sửa một chữ trong tước vị từ Hiển hoàng xuống còn Hiển vương. Cung Lệ Thiên thì bị đổi tên thành cung Thưởng Xuân để ghi nhớ một việc thông thường của đạo trời đất về mùa sinh nở của muôn loài.

Như cái bong bóng rượu cứ bị ép mãi thế tất phải phì ra. Thái sư Trần Thủ Độ phải tìm kiếm nhiều phương thuốc cứu chữa. Một trong các phương thuốc ấy là bày tiệc rượu đeo mặt nạ mo nang. Về tiệc rượu này, triều đình cho phép các vương hầu đều được dự không phân biệt thế thứ chi ngành, không phân biệt văn võ chức tước. Quần áo ai muốn dùng màu gì thì dùng trừ màu vàng tôn quý dành riêng xưa nay cho vua. Để không còn ai nhận ra ai, tất cả mọi người đều phải đeo một cái mặt nạ vẽ trên một cái mo nang. Các công chúa, quận chúa, tiểu thư, công nương có chồng rồi hoặc đã có đính hôn cũng được phép dự tiệc. Tiệc có một ông cầm trịch. Thường thường người ta chọn người hiền nhất, hiền đến mức ngu vào chức đó. Cho đến bây giờ, các vương hầu còn cười cợt nhắc đến ông cầm trịch đêm tiệc đầu tiên mở năm Tân Hợi (1251). Đó là quan Trạng nguyên Ngự sử Trần Chu Phổ. Bậc túc nho này đang muốn đem lề thói lễ nghĩa đạo Nho vào trong sinh hoạt của triều đình, ông ta vốn là người chăm chắm bắt chước các bậc tiên sư, tiên thánh của đạo Nho cho nên ông ta đi không dám đi nhanh, ăn không dám ăn nhiều, miếng thịt thái có vuông mới dám đụng đũa, thấy vàng thấy con gái đẹp thì ông ta nhắm mắt lại... thành thử triều đình vừa bực mình vừa nghịch ngợm chọn luôn ông ta làm việc cầm trịch. Người ta giao cho Trần Chu Phổ một cái dùi đục để gõ ra lệnh trong tiệc rượu. Người ta biến luôn chức cầm trịch thành một chú Tễu giống như một chú Tễu ngô nghê ỡm ờ trong trò múa rối nước thường diễn ngày xuân ở phủ Long Hưng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #34 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:27:05 pm »

Tiệc rượu mặt nạ mo nang thường diễn ra thâu đêm. Người ta chỉ ăn uống đến đầu giờ Tuất còn từ giờ Hợi trở đi thì hết chỗ nói: hát hổng, cợt ghẹo, châm chọc, lả lơi, ngả ngốn. Nhưng tiệc rượu mặt nạ mo nang cũng không chỉ để nô đùa phỉ chí, người ta còn hát những điệu dân ca tình tứ nhất, duyên dáng nhất, đưa người ta từ cung đình về với làng quê đẹp hiền hoà bình dị, người ta còn ngâm những bài thơ tài tử nhất có những thần cú làm vào những lúc nửa tỉnh nửa say, người ta còn múa những điệu vũ đẹp nhất của dân tộc Việt và các dân tộc láng giềng. Cũng chính nhờ những lời ca, vần thơ, điệu vũ mà người dự tiệc đoán ra sau cái mặt nạ quỷ sứ kia là người nào: Một vị múa điệu Hời, múa giỏi lắm, vậy thì chỉ có Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang mới có thân thủ điêu luyện như thế được. Một bà giọng tuy già dặn nhưng hát một làn điệu dân ca vùng biển lời rất đanh đá chua ngoa và lẳng lơ mà lại như tiếc như thương gió muối trăng sông bềnh bồng sóng nước, thế là cả tiệc nhận ngay ra bà chúa Ngừ tức công chúa Thiên Cực Trần Thị Dung. Một ông ngồi lọt thỏm giữa một đám các bà bị họ đẩy ra ngâm thơ, ông ta ngâm một bài thơ thiên nhiên bằng một giọng ề à như sư ông đọc kệ. Cả tiệc bụm miệng lại không ai dám cười vì nhà thơ ề à như sư này chính là Trần Thái Tông, đạo hiệu Phổ Minh thiền sư. Một ông khác lúc bị đẩy ra thì nổi cáu không chịu ra mà lại cáu kiểu hách dịch, thôi đúng là Thái sư Trần Thủ Độ, người đặt lệ cho tiệc rượu mo nang rồi lại quên lệ ngay tại tiệc.

Trong bữa tiệc đầu tiên, khi không khí đã ra chiều lơi lả người ta hát nhiều khúc huê tình và người ta đẩy bậc túc nho - chú Tễu - Trần Chu Phổ ra bắt phải hát một bài. Trần Chu Phổ phải cầm dùi đục ra giữa tiệc. Vốn là người chăm chắm luân lí lễ nghĩa, một câu hát cũng không hề có ý định học, Trần Chu Phổ đành giang tay ra, ê a: “Ngự sử hát thế thôi! Ngự sử hát thế thôi!”

Ông sử gia Lê Văn Hưu chộp ngay chi tiết ấy chép luôn vào chính sử. Thái sư Trần Thủ Độ nghĩ đến thể chế vội cấm Lê Văn Hưu chép thêm những tình tiết khác. Thế nhưng nhờ có những biện pháp triều đình chọn bấy giờ như tiệc rượu mo nang, cái chất ngang tàng của những người phóng khoáng ngang dọc sông hồ mới tràn trề trong hoàng cung vàng lụa và người ta mới còn giữ được cái thèm thuồng biển cả non cao, thèm thuồng cái thú một gươm một ngựa ra đi chỉ một nụ cười tạ từ những người ở lại.

Buổi chiều Hoàng Mãnh được lệnh đem cái dùi đục để trong cái hộp gỗ sơn son thếp vàng đến cho Nhân Túc vương Trần Toàn là ông cầm trịch năm nay. Hoàng Mãnh yên trí rằng Trần Toàn sẽ đờ người ra khi nhìn thấy cái dùi đục. Ông ta giữ một chức vụ xưa nay lấy sự long trọng làm lẽ tồn tại. Thế mà bây giờ lại bắt ông ta cầm cái dùi đục thì còn ra thể thống nào nữa! Thế nhưng, thật không ngờ, Trần Toàn lại hết sức khoái chí khi biết mình sẽ là người cầm trịch giương ra cái dùi đục hiệu lệnh đêm nay. Ông ta mừng muốn rú lên:

- Thế mới là vận đỏ như son! Thế mới là ơn vua tri ngộ! Thế mới thật là trên dưới hiểu lòng nhau. Thế cơ chứ lại!

Trần Toàn sướng quá. Trưa hôm nay, trên đường rước hai vua từ đền Đồng Cổ về nội cung, Trần Quang Khải đã đến gần ông và kính cẩn nói với ông:

- Thưa chú, thệ hội được thế này thật là nhờ tay chú.

Trần Toàn lúc ấy sướng không nói được ra tiếng, cái mũi đỏ bóng lên. Ông ta cảm thấy rõ ràng quyền uy của mình to lên, giá trị con người của Đại Tông Chính nâng lên. Lời khen của Thái sư Thượng tướng Chiêu Minh vương chắc chắn sẽ dẫn đến cho ông tước lộc mới. Bây giờ thì sự ấy diễn ra nhỡn tiền ở cái dùi đục kia! Mối đại thống họ Đông A đã đem ra thề bồi trước thánh thần sáng hôm nay, đêm nay họ Đông A lại hội họp vui chơi một bữa thoả thuê, bãi hết mọi ranh giới, rũ hết mọi hận thù giận hờn trong một bữa tiệc mà cái tiệc rượu dạ đài ấy lại cũng chính tay ông giương ra cái dùi đục của đức ông cầm trịch.

Hà, thế thì quyền uy của chi trưởng, quyền uy của chi thứ từ đây cũng phải cậy đến tay ta, ta, Đại Tông Chính họ Đông A.

Té ra Nhân Túc vương Trần Toàn không chỉ là người xuề xoà ham ăn thích uống. Ông ta cũng là bậc trí lự biết giấu tâm tư sau một bộ mặt chè rượu, tự mãn, tầm thường.

- Này đây, vừa là thưởng vừa là để mừng tướng quân tiến tước.

Trần Toàn cầm luôn một gói trên án đưa cho Hoàng Mãnh. Đó là một cái mật gấu người ta vừa biếu Trần Toàn hôm qua. Đối với Nhân Túc vương, cái mật gấu chẳng hữu ích bao lăm nhưng với Hoàng Mãnh, dũng thủ vô địch kinh thành thì nó lại vô giá. Anh ta chẳng có tháng nào là không trẹo khớp, bong gân, sưng tay, toác chân.

- Xin đa tạ đức ông.

Trần Toàn cười hề hề. Ông giơ lên trước mặt Hoàng Mãnh một cái mặt nạ mo nang.

- Tướng quân ngắm xem. Có phải là Bụt cũng không nín cười được phải không?

Trên cái mặt nạ mo nang vẽ một cái mặt Phỗng chột bằng những nét vôi trắng rất tài hoa, rất nghịch ngợm. Hoàng Mãnh phì cười. Anh hỏi Trần Toàn:

- Bẩm đức ông sao mặt nạ lại chỉ được vẽ trên mo nang?

- Lệ mà! Đó là lệ mà! Lệnh bà Thiên Cực công chúa đã đặt ra cái lệ này từ ngày xưa. Đã là lệ thì nó phải thế chứ sao.

Hoàng Mãnh cáo từ xin lui.

- Bẩm đức ông, đây là tín bài để vào dự tiệc của đức ông. Xin đức ông nhận cho để tiểu tướng còn đi làm
nốt việc vua.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #35 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:27:53 pm »

Hoàng Mãnh đưa cho Trần Toàn một cái tín bài bằng gỗ son méo như một cái vỏ trai.

Rời phủ Tông Chính, Hoàng Mãnh lên ngựa đến phủ Chiêu Quốc. Anh gặp ở đấy một cuộc tụ hội của những vì sao: Chiêu Quốc vương, tác giả của tập thơ Củng cực lạc ngâm mà lời lời đẹp như gấm thêu, ca ngợi lòng sùng kính ngưỡng mộ của bề dưới hướng đầu lên đấng cửu trùng; đức ông Văn Nghĩa thượng vị hầu Trần Tú Hoãn, đức ông Văn Nghĩa là con của vua Thái Tông (?) nhưng vì mẹ chỉ là một cung nữ tầm thường nên con không được phong vương. Văn Nghĩa hầu chỉ là hàng cháu của Chiêu Quốc vương nhưng hai người thân thiết gắn bó với nhau một cách quái lạ lắm, nhất là về mặt văn thơ. Nếu thơ Chiêu Quốc là âm thanh dịu ngọt thì thơ Văn Nghĩa là tiếng vang của âm thanh ấy. Rồi Chương Hiến hầu áo tía Trần Kiện nổi tiếng cả nước về học thức uyên bác, văn chương đanh thép, đọc lên âm hưởng như cồng. Rồi mạc khách của Trần Kiện là Lê Trắc tên tự là Cảnh Cao. Ông này hồi nhỏ nổi tiếng là một thần đồng đã từng được vua Trần Thái Tông đem vào nuôi ở trong cung cho ăn học theo những bậc túc nho kén chọn từ Quốc Học viện. Người Thăng Long truyền tụng đến là lắm giai thoại về Lê Trắc nhưng giai thoại nào cũng không bì được chuyện dòng dõi nhà ông ta do chính miệng ông ta hễ có dịp là kể ra: “Lê Trắc này tên chữ là Cảnh Cao, người ngoại quốc thường gọi là An Nam Lê Trắc. Tài Trắc thì tuy mọn nhưng mắt đã liếc qua bách gia chư tử ấy là vì Trắc vốn dòng dõi Nguyễn Phu tiên sinh, quan Thứ sử Giao Châu thời cái nước An Nam này còn “được” thuộc về nhà Đông Tấn bên Tàu. Trắc thường nghĩ lập thân tối hạ thị văn chương cho nên chỉ làm thơ chơi vài bài vào cái lúc cơm no rượu ngà ngà. Còn thì Trắc chỉ mong được đi đây đi đó, nay làm một vần tức cảnh xứ trúc, mai lại thay một vần khác về đất thông. Thơ văn hào mại phải dành cho phong hoa tuyết nguyệt nói làm chi đến chuyện đời. Cái nhà ông Đỗ Phủ thì thật gàn, thơ châu ngọc đâu có nên dành cho quân nghèo đói lính tráng, có phải không chư hiền hữu?”

Đó là lời của một kẻ tự nhận là cao đạo!

Ngay cách Lê Trắc chọn chủ cũng cao đạo! Chủ của Lê Trắc chính là Chương Hiến hầu Trần Kiện, nhân vật mà cả nước có nói đến dòng dõi ông ta cũng chỉ dám rỉ tai nhau. Trần Kiện là con Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang. Ông này như ta đã biết, bề ngoài là con Trần Thái Tông nhưng thực ra là con của An Sinh vương Trần Liễu. Thế là, về dòng giống, Trần Kiện hệt như con nòng nọc đối với con cóc và con cá trê vậy. Ấy thế mà đức ông Trần Kiện còn là chồng của công chúa Quỳnh Huy, cô gái yêu của Thái sư Chiêu Minh vương nữa. Làm mạc khách của Trần Kiện có nghĩa là người của cả chi trưởng lẫn chi thứ họ Trần, kể cả máu chính hiệu lẫn máu pha.

Rồi đến Tô Nghĩa Đông, con người lục thao tam lược đã từng tung hoành ngang dọc trong chiếu rượu bàn trà, tinh thông nho, y, lí, số, tướng pháp, phong thuỷ để mồ để mả, thơ mã thượng cũng hay, thơ thiên nhiên thì được phái thơ sơn thuỷ nhà Tống bên Tàu coi là khuôn vàng thước ngọc.

Lúc Hoàng Mãnh được đưa vào chính đường phủ Chiêu Quốc, Tô Nghĩa Đông đang xem số tử vi cho Trần Ích Tắc. Ông ta tán:

- Bẩm đức ông, lá số này kì cách. Xuất nhập Tướng mà các hung tinh đắc địa cả, chúng hội với Lưỡng
Tướng càng phù trợ đắc lực thêm. Bẩm hung tinh đắc địa số phát như lôi, có nghĩa là như sấm nổi ạ. Bẩm đức ông, như thế là anh hùng cái thế danh trấn biên cương ạ. Ngay lá số của Tống triều Thái Tổ cũng chỉ đến vậy mà thôi.

Trần Ích Tắc là người cũng ham cũng tin tử vi, nhâm độn và cũng học các môn này nhiều năm. Ông không lạ gì điều Tô Nghĩa Đông vừa nói nhưng nghe lời khen thì bao giờ chẳng thích, nhất là người khen thuộc loại tiếng tăm cả hai nước ta, Tàu như Tô Nghĩa Đông mà câu khen lại thốt lên trong quầng sáng lấp lánh của một vì sao nhan sắc nghiêng nước đổ thành, tài hoa diệu ảo: công chúa An Tư.

An Tư là em ruột Văn Nghĩa hầu Trần Tú Hoãn. Đó là một cô gái vừa mười sáu tuổi, vẫn còn cái ngây thơ của con trẻ nhưng đôi mắt đã lúng liếng dõi tìm vui thú và hạnh phúc. Thượng hoàng Thánh Tông yêu thương Vũ Đạo hầu nên đã nhận An Tư làm con nuôi từ năm quận thượng chúa mới lên năm tuổi. Công chúa An Tư trở thành cô gái được cưng chiều nhất hoàng cung. Kinh kì nức tiếng ngón đàn bầu của nàng công chúa út. Người ta kể là ngón đàn ấy đã từng làm cho mặt sắt của sứ Tàu Sài Thung phải ngây ra chỉ bằng một bản dạ khúc Canh Lậu Trường. Kinh kì còn nức tiếng nước pháo song tiên của kì thủ An Tư, nước pháo đã từng buộc kì hầu hai nước là Tăng Uyên Tử phải chật vật mới giữ được hoà...

Trần Ích Tắc nghi ngờ bảo Tô Nghĩa Đông:

- Tiên sinh nói chơi đấy chứ? Xưa nay nhân định thắng thiên là lẽ thường. Phải trau dồi phúc cho đầy nhờ ở đức. Có phải tiên sinh muốn khuyên ta thế không?

Trần Ích Tắc nhìn sang Hoàng Mãnh:

- Chào quan Điện tiền! Chà, thế là từ nay tướng quân lại là người xét biển Nhập nội của ta mỗi bận ta tiến cung đấy nhé.

- Bẩm đức ông, tiểu tướng phải tuân theo phép nước luật vua đó thôi.

Trần Ích Tắc hỏi Hoàng Mãnh:

- Lại thẻ tín bài hả?

Chiêu Quốc vương cười nhận thẻ tín bài. Hoàng Mãnh tiện thể cũng đưa thẻ cho Trần Kiện và Trần Tú Hoãn. Hoàng Mãnh cũng đưa cả thẻ của vương phi Chiêu Quốc và các bà phu nhân của hai hầu tước Chương Hiến, Văn Nghĩa. Tô Nghĩa Đông và Lê Trắc tò mò nhìn Hoàng Mãnh.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #36 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:28:39 pm »

Cặp mắt của họ soi mói, khinh thị và chen cả ánh lửa thoáng loé lên của khát vọng. Tô Nghĩa Đông hỏi:

- Có phải tướng quân sắp đi ở rể nhà Mai Sơn hầu?

- Đúng đó! Nhưng thưa quan nhân chưa đúng tất cả. Chúng tôi đã làm lễ vấn danh. Đến mùng chín, sau lễ Vu Lan Bồn tắm Phật một ngày thì tôi ngược châu Mai nhưng không phải là đi ở rể.

Lê Trắc mỉm cười:

- Vậy là tướng quân lên núi tìm các bậc cao sĩ ở ẩn?

Biết Lê Trắc nói xỏ trên núi chỉ có khỉ ở chứ làm gì có cao sĩ, Hoàng Mãnh cũng mỉm cười, mắt quỷ lại sáng lên:

- Thưa không ạ! Bậc đại ẩn thường ở thành thị. Quan gia sai tôi lên châu Mai để giúp họ luyện một đội quân sơn cước. Vả chăng - Hoàng Mãnh liếc xéo Lê Trắc - cao sĩ xưa nay còn hiếm hơn lá mùa thu. Ta có tìm thì cũng chỉ thấy nhan nhản bọn đạo nho và lũ thư si la liếm tìm chủ mà thôi.

Thư si là những kẻ mê mẩn sách chỉ tầm chương trích cú, tách biệt với cuộc đời, còn đạo nho là lũ nhà nho ăn cắp văn! Hoàng Mãnh vốn là người xông xáo quen đốp chát và còn trẻ nên rất hiếu thắng. Câu ví kín đáo của anh về Lê Trắc và Tô Nghĩa Đông với bọn đạo nho và thư si làm cho hai gã căm ra mặt. Nhưng căm thì căm chứ với dũng thủ vô địch kinh thành thì cũng chẳng dám nổi hung, hai gã đang tím ruột tìm câu đối đáp thì công chúa An Tư xen vào:

- Này ông Điện tiền, còn thẻ của tôi đâu?

Hoàng Mãnh lại mỉm cười kính cẩn:

- Bẩm lệnh bà, phủ Tông Chính lập danh sách không có tên lệnh bà. Tiểu tướng chỉ theo lệnh trên đưa thẻ đến tận tay những người có tên.

An Tư mắt cháy lên nhưng không có cớ để vặc Hoàng Mãnh. Cô gái đang tuổi bước vào đời, thèm khát những nơi đông đúc hội hè chen vai thích cánh, nhất là tiệc rượu này đã được người ta nhắc nhở đến hàng mấy tháng nay. An Tư còn được nghe kể lại bà chúa Ngừ đã chẳng thèm đếm xỉa đến miệng tiếng thế gian, cứ mỗi mùa hội xuân, lệnh bà thường nại cớ lễ Phật dâng hương để đi lộ Bắc Giang xem các hội làng: hội vật, hội thả chim, hội bơi chải, hội hát xướng... Còn lần bà mặc giả gái quê cùng mấy người tuỳ tùng dự hội làng Xuân Dương rước nõ nường vẫn là giai thoại đầu trò về người đàn bà đã từng làm hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông rồi sau làm vợ của Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ. Hàng năm cứ mùa xuân đến, Xuân Dương mở hội. Các cụ trong dân làm một cái nõ bằng lõi dứa dại để nguyên cả xơ úa xồm xoàm và một cái nường bằng mo nang cài cỏ rối lờm xờm. Người ta để nõ, nường lên kiệu chõng tám rồi cả làng rước linh đình qua xóm này, thôn khác. Trong khi đó gái làng kéo từng đám đi xô bè đám trai tứ chiếng về xem hội kì cho những người đó ngã xuống ao. Sau đó thì những cô gái Xuân Dương lại vớt trai tứ chiếng lên đưa về nhà ném một mớ quần áo khô cho thay, đãi cơm rượu tử tế, trải chiếu buông mùng cho ngủ tốt. Thiên Cực công chúa đã dự cả những hội dân dã như thế đó. Và cũng vì thế bà đặt lệ mặt nạ nhất thiết phải vẽ lên mo nang.

An Tư thích thú nghĩ đến một câu nói của người đàn bà tài đảm, nghịch ngợm và đanh đá ấy. Câu ấy thế này:

- Xét cho cùng, thế gian này còn mãi muôn đời cũng là nhờ có mấy cái đó, mà hễ có là phải có đủ đôi.
Nghe đâu ngay chính Trung Vũ đại vương cũng phải chẹp miệng rồi im. An Tư thường nghĩ Trung Vũ đại vương sợ vợ nhưng thật ra không phải thế. Khi Trần Thị Dung còn là con gái mà nhà họ Trần chỉ là hào trưởng một phương thì kinh thành có loạn, thái tử Sảm nhà Lý tránh loạn về vùng biển, nương náu ở nhà họ Trần. Họ Trần lập mưu buôn vua, đem cô gái xinh đẹp nhất họ gả cho thái tử Sảm. Trần Thị Dung và Trần Thủ Độ lúc đó đã thầm yêu trộm thương nhau rồi cho nên việc Trần Thị Dung bị các cụ cha chú tộc họ ép gả cho Thái tử Sảm là một sự kiện to lớn gây trong lòng người đàn bà xinh đẹp tài năng ấy một vết thương mãi mãi không lành. Thái tử Sảm lên ngôi vua thành Lý Huệ Tông, ông vua cuối cùng triều Lý. Đất nước lúc bấy giờ tao loạn, giặc giã nổi lên tứ tung mà tôn thất nhà Lý chỉ mải ăn chơi dâm dật xa xỉ. Trần Thị Dung trở thành bà hoàng hậu, quốc mẫu của cả nước. Chính bà là một tay quan trọng trong việc chuyển ngôi vua từ họ Lý sang tay họ Trần. Đến khi họ Trần lấy xong ngai vàng rồi, Lý Huệ Tông bị an trí rồi tự tử ở chùa Chân Phúc thì Trần Thị Dung bị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa và về làm vợ Trần Thủ Độ. Việc giáng chức này thực sự là một giải thoát cho người đàn bà ấy. Hiểu hết mọi ngóc ngách sâu kín nhất của kỉ cương, lễ giáo, người đàn bà ấy cười cợt tất cả mọi thứ kể từ danh vọng, tài năng, cương thường, đạo lí thậm chí đến cả tình nghĩa nữa và bà chỉ coi trọng có một nết, đó là sự thành thật với chính mình...

Bà chúa Ngừ mà còn dự cả hội nõ nường thì ta, công chúa An Tư sẽ bằng mọi cách lọt được vào cái tiệc rượu mặt nạ kì quái này. Mắt An Tư tối sầm lại và nàng công chúa trẻ trung mới chỉ hiểu cuộc đời là một trò chơi, là vui thú đã nhìn Hoàng Mãnh chằm chằm mà hỏi:

- Không có tín bài thì ta cũng dự, nhà anh có tin lời ta không?

Hoàng Mãnh chỉ mỉm cười, một nụ cười làm cho đối phương ngang ngửa và tức bực:

- Bẩm lệnh bà, tiểu tướng sẽ là người chỉ huy việc xét tín bài ở cửa cung.

Hoàng Mãnh kính cẩn vái chào mọi người và xin lui.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #37 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:29:25 pm »

Chiêu Văn vương lên ngựa. Đoàn lính tuỳ thân do Triệu Trung chỉ huy cũng lên ngựa. Đoàn người ngựa đi nước kiệu nhỏ giữa các phố phường đã lên đèn sau một ngày hội náo động. Đoàn người ngựa nhằm hướng vương phủ Hưng Đạo mà đi. Trần Nhật Duật đến rủ Trần Quốc Tuấn cùng đi dự tiệc.

Hưng Đạo vương đón Trần Nhật Duật ở chính đường vương phủ nhưng ông nói:

- Bây giờ mới đầu canh một, còn sớm quá, anh em ta vào trong này uống chút trà thơm đã.

Trần Quốc Tuấn đưa em qua hậu đường đến một khu vườn rậm rạp um tùm. Trong vườn này, Hưng Đạo vương đã cho xây cất gác Ngoạn Hoa. Tên này do con trai thứ ba của ông là Trần Quốc Tảng đặt mà thực ra ông không thích một cái tên cầu kì lịch sự đến thế. Ông chỉ muốn một chỗ ngồi tĩnh mịch, cô đơn một chút, có vài cây hoa thơm của đồng quê đất Việt như lan tiêu, móng rồng, ngâu, sói... Gác này xinh nhỏ, trang trí bằng vài bức tranh cổ vẽ lối thuỷ mặc và một bức trướng lụa mỡ gà. Trên một cái kỉ gỗ trắc có bày một chậu tùng cỗi, thế cành rất xương kính. Trần Nhật Duật ngắm bức trướng và nhẩm đọc. Té ra là bài Trà ca của Lư Đồng chép theo kiểu chữ thảo. Trần Quốc Tuấn tủm tỉm cười:

- Chữ của ông Thám hoa Đặng Ma La đấy. Ta thích chữ của ông ta. Cách viết không bay bướm cầu kì, kiểu cách, nó đường bệ mà vẫn bình dị. Em xem, bài thơ có nhiều chữ trà mà không chữ nào ông ta viết giống chữ nào. Nghe nói Đặng Ma La chép bài thơ này vào một lúc rượu ngà ngà say. Về sau ông ta đã thử chép lại vài lần khác nhưng không lần nào đạt được vẻ đẹp của bức trướng này.

Trần Nhật Duật cũng thích bức trướng này lắm nhưng ông đang ở tuổi sôi động của con người, ông chưa hợp với những gì trầm lắng và sâu đọng. Ông thích những cuộc phi ngựa cuồng loạn, thích leo lên những đỉnh núi chon von, thích đi thuyền trên biển buổi gió cả để ngắm trăng, thích gió ngàn thổi như bão, thích những trận đánh phết dậy lên tiếng hò tiếng hét dữ dội.... Không hợp với ông nhưng những gì trầm lắng và sâu đọng thường buộc ông phải chiêm ngưỡng. Tỉ như lần ông đi chơi Yên Tử rẽ vào thăm Hưng Đạo vương ở Vạn Kiếp. Hưng Đạo vương đã dẫn ông đi xem những cái cọn nước để lấy nước tưới ruộng mà Trần Quốc Tuấn đã cho làm và dạy dân cùng làm ở hết cả vùng ruộng trong thái ấp và trong hương. Đó cũng chính là mối quan hệ giữa Hưng Đạo vương và Trần Nhật Duật. Hai người cách xa nhau cả thế hệ, khác nhau về những biến cố trong cuộc đời. Chiêu Văn vương thường nghĩ đến Trần Quốc Tuấn với một thái độ kính trọng và một chút xa xôi. Về những chiếc cọn nước, ông rất thích, rất muốn làm nhưng ông không kiếm ra thời giờ để thực hiện chúng trong thái ấp của ông. Thực ra thì giờ thì ông không thiếu nhưng những thú vui và những công việc thích hợp với ông đã choán hết mất rồi. Chiêu Văn vương rất kính trọng Trần Quốc Tuấn, ông cho rằng đó là một con người mà cảnh gia biến đã hun đúc nên một bản lĩnh tuyệt vời. Trần Nhật Duật đã được nghe kể lại năm Hiển hoàng Trần Liễu nổi quân chống lại Trần Thủ Độ khi bị ép nhường vợ cho em là Trần Cảnh thì Trần Quốc Tuấn còn để chỏm. Một người nhũ mẫu đã bế Trần Quốc Tuấn về trốn ở quê mình. Mối đe doạ bị bắt, bị hành hạ đã tạo cho Trần Quốc Tuấn một đức tính cứng cỏi, bướng bỉnh, ít nói. Về sau hai anh em hoà nhau nhưng Trần Liễu không nguôi căm hận. Trần Liễu đã dụng công kén thầy văn thầy võ thật giỏi để dạy con trai, những mong mượn tay con trả mối nhục cho mình. Trần Quốc Tuấn dần dần lớn lên, nổi tiếng là một bậc nam tử văn võ toàn tài. Được nuôi dạy trong không khí thù hận nhưng mỗi bước trưởng thành lại nảy nở ở Trần Quốc Tuấn những đòi hỏi mới ở thế hệ trẻ. Ông thuộc thế hệ họ Trần đã thôi mang tên một loài cá, thế hệ đầu của họ Trần nắm đại quyền. Ông mơ ước được xông ra đời, góp sức với đời chứ không thích ru rú ở ẩn trong một xó trang trại với nỗi dày vò của một mối thù từ đời trước. Ông mơ ước đem tài năng mình ra làm việc nước, muốn đảm đương những chức vụ khó, muốn đem hoài bão của mình thi thố cho sự yên vui của trăm họ. Tuy thế mối hận xưa vẫn tác động trong lòng người trai trẻ ấy. Lúc còn trẻ, Trần Quốc Tuấn đã mấy lần va vấp với người của chi thứ.
Sự biến to lớn nhất chính là cuộc hôn nhân của ông.

Vào một ngày đi dâng hương, vãn cảnh chùa Phật Tích năm xưa, Trần Quốc Tuấn có dịp gần gụi công chúa Thiên Thành. Như một lằn sét, cuộc hạnh ngộ đó dẫn đến mối tình thầm kín giữa đôi trai tài gái đẹp ấy. Nhưng khốn thay vua Thái Tông lại muốn gả công chúa Thiên Thành cho Trung Thành vương. Hôn lễ đã định rồi. Cô dâu đã bị rước đến vương phủ Trung Thành. Trần Quốc Tuấn hận lắm, đã tìm cách vào vương phủ Trung Thành để gặp người yêu dấu mà than vãn. Mẹ nuôi của Trần Quốc Tuấn là công chúa Thuỵ Bà biết nhưng giả vờ hoảng sợ đã nửa đêm đến đập cửa cung tâu với vua Thái Tông và xin vua Thái Tông ra tay cứu Trần Quốc Tuấn, kẻo người nhà Trung Thành vương mà bắt quả tang thì họ cứ phép nước giết luôn.

Đã liên can đến việc bôi một vết xấu vào cuộc đời của anh, Trần Thái Tông không muốn mang thêm tiếng xấu khác về việc của cháu. Nhà vua vội vã dẫn lính ngự lâm đến vương phủ Trung Thành. Bấy giờ đã khuya lắm nhưng yến tiệc vẫn diễn ra linh đình trong vương phủ. Thấy vua đến, cha con Trung Thành vương vội ra đón. Nhưng nhà vua không nói không rằng, cứ dẫn lính ngự lâm xộc thẳng vào khu nhà hậu, tìm đến buồng cô dâu và thấy Trần Quốc Tuấn ngồi trong đó. Trần Thái Tông vội hộ tống Trần Quốc Tuấn ra khỏi vương phủ Trung Thành. Vua cũng đem luôn công chúa Thiên Thành về cung. Sự phán xử của nhà vua ngày hôm sau làm cho hoàng tộc và triều thần phải sửng sốt, Trần Quốc Tuấn chẳng những vô can mà còn được lấy công chúa Thiên Thành làm vợ. Để bù cho chuyện vợ hụt của Trung Thành vương, vua đền cho ông ta hai nghìn khoảnh ruộng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #38 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:30:12 pm »

Chính cuộc hôn nhân này làm cho Trần Quốc Tuấn càng trưởng thành, càng băn khoăn. Trong cuộc tình địch xưa, Trần Thái Tông chỉ là người tình cờ thành tòng phạm còn trong cuộc tình địch này, Trần Quốc Tuấn là nạn nhân nhưng cũng là chính phạm rõ ràng. Sự so sánh đó làm cho Trần Quốc Tuấn phải nghĩ rằng oán cừu nên cởi không nên buộc.

Trần Nhật Duật lúc này lại không nghĩ về cuộc tình duyên trên khía cạnh đó. Trần Nhật Duật kính phục cách xử sự quyết liệt của Trần Quốc Tuấn. Giá như Trần Nhật Duật biết quyết liệt như Trần Quốc Tuấn, cứ thẳng thắn xử sự như lòng mình muốn thì chắc chắn cô gái làng biển kia đã về với ông, đem theo hạnh phúc và sự bình lặng đến với ông.

Ngược lại Trần Quốc Tuấn cũng rất mến Trần Nhật Duật. Nếu như có người vô tư nhất trong cả hai chi trưởng, chi thứ của họ Trần thì người ấy phải là Trần Nhật Duật. Cái đó thật đáng quý. Trần Quốc Tuấn nhìn nhận ở sự vô tư của Trần Nhật Duật một nết hay mà ông đã thiếu khi còn trẻ. Ngoài ra hai người còn yêu quý nhau về tài năng nữa. Mỗi bận lên kinh, Trần Quốc Tuấn thường đến phủ đệ Chiêu Văn thăm em. Khi chén rượu, khi cuộc cờ, khi săn bắn, khi bình văn, Trần Quốc Tuấn thầm mong truyền cho Trần Nhật Duật mọi sở đắc sở trường của ông. Năm trước Trần Nhật Duật có dịp đi với Trần Quốc Tuấn tuần thú lộ Lạng Giang, Trần Quốc Tuấn khéo léo giả như hỏi các bô lão địa phương về việc mùa màng, về đời sống của trăm họ trong vùng, cốt để cho em nghe những cái mà theo ông Trần Nhật Duật hiểu biết còn nông cạn và hời hợt. Trần Quốc Tuấn còn dắt cả Trần Nhật Duật đi thăm đồng, tự ông còn lội cả xuống ruộng vạch gié lúa tìm sâu, sục tay xuống bùn làm cỏ để cho Trần Nhật Duật xem. Ông còn đố Trần Nhật Duật phân biệt các giống lúa, nói về từng cái hay cái dở của chúng. Rồi ông bảo em: “Làm tướng phải biết thật rộng, cầm quyền nước càng phải biết rộng nữa. Biết đến mức nào thật không chừng. Có thế trăm họ mới được nhờ. Có thế mới thật là tay anh hùng đem lại miếng cơm manh áo cho dân nước.” Trần Nhật Duật ngu gì mà không nhận ra tấm lòng của Trần Quốc Tuấn với việc công và với chính ông nữa.

Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật ngắm mấy bức tranh rồi ngắm chậu tùng. Trần Quốc Tuấn sai gia nô pha trà mời Trần Nhật Duật. Ông cười bảo em:

- Hôm nay ta đến thăm Triệu Trung.

Sáng hôm nay ông và viên gia tướng Nguyễn Địa Lô mặc thường phục lên cửa ô Yên Hoa thăm Triệu Trung. Căn nhà khách Triệu Trung tiếp đón ông trang trí rất sơ sài. Vách hậu có bày ban thờ Văn Thiên Tường, viên tể tướng Tống trào đã tuẫn tiết khi nhà Tống mất. Bên mảng tường mé tả còn treo một bức trướng có chép bài Chính khí ca của con người trung nghĩa đó. Trần Quốc Tuấn vốn có lòng nhớ tiếc Văn Thiên Tường và rất thích mấy vần thơ nghĩa liệt của Văn:

Người ta tự cổ ai không chết.

Lưu lại lòng son trong sử xanh.

Nước Việt đang ở lúc mà tôi con cũng đành phải tính đếm đến lúc cần thì biết chết sao cho ra con người trung nghĩa nên câu thơ đó tác động rất mạnh đến Trần Quốc Tuấn. Ông đã hỏi Triệu Trung về phép đánh những thành trì có phòng thủ kĩ với hệ thống hầm hào, bẫy đá, luỹ dày thả chông. Ông muốn Triệu Trung đến Giảng Võ đường nói cho các tướng cùng tường. Sau đó ông hỏi ý Triệu Trung rằng ông muốn thu nhận Triệu Trung làm môn khách trong mạc phủ của ông. Triệu Trung rất cảm động vì được coi trọng nhưng từ chối với lí do đã được Trần Nhật Duật thu nhận trước rồi. Triệu Trung cho gọi các con ra lạy chào Trần Quốc Tuấn và sau đó xin ông một bài châm chép quạt. Trần Quốc Tuấn ngẫm nghĩ rồi chép hai câu thơ của Văn Thiên Tường vào lá quạt cho Triệu Trung...

- Hôm nay ta đến thăm Triệu Trung. Viên hổ tướng này đã về làm môn khách của em. Tinh mắt và trọng
hiền đó em.

Lời khen đó của Trần Quốc Tuấn làm cho Trần Nhật Duật sung sướng.

- Thưa anh, Triệu Trung về làm giáo luyện thay cho Hoàng Mãnh mới tiến triều.

- Ta biết. Hoàng Mãnh hợp với em hơn nhưng Triệu Trung là một tướng thao lược, đã từng phải đánh những trận lớn quân đông. Nếu chiến tranh xảy ra quân Thát Đát kéo sang, chúng sẽ có cả quân có kĩ thuật đánh thành của người Hán, lại có cả quân kị tiến lui cực nhanh, lúc đó kinh nghiệm của Triệu Trung rất đáng quý. Em có con mắt xét người rất tinh. Ta không lấy làm lạ khi Triệu Trung đã thành người của phủ Chiêu Văn.

Rồi ông trầm ngâm giờ lâu trước khi tiếp:

- Từ bao đời nay, phương Bắc luôn luôn là mối đe doạ xâm lăng với nước Việt ta. Bọn vua chúa cầm quyền đã nếm bao trận thua đau rồi mà chúng vẫn giữ nguyên mộng xâm lược. Chả là đất nước ta sản vật nhiều như chất núi, trâu, lợn, gạo, cá cho đến ngọc trai, sừng tê, trầm hương, chí đến cỏ hoa làm thuốc quý... cái gì cũng sẵn. Kẻ tham thì giữa chợ chỉ nhìn thấy vàng chứ có thấy ai đâu. Hễ là người Việt không được một giây khắc quên điều đó. Chúng ta là người cầm quyền chính coi sóc sự an nguy của tôi con nước Việt, sự tồn nguy của nước nhà, lại càng phải đinh ninh khắc cốt ghi xương rằng bọn vua chúa “thiên triều” lúc nào cũng thèm rỏ rãi cái nước Việt bốn mùa cây cối xanh um, một năm ba mùa lúa chín này. Ai hễ chỉ quên lơi một chút là đã có tội với đất nước chứ không kể đến những kẻ ngu dại tin theo chúng nữa. Thế đó.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #39 vào lúc: 31 Tháng Ba, 2011, 09:31:15 pm »

Trần Nhật Duật im lặng nghe lời dạy bảo đó. Thốt nhiên ông chợt nhớ đến gã Đạt Lỗ Hoa Xích đã là người thân thiết và tặng ngựa quý cho Chiêu Quốc vương. Một ý nghĩ chợt đến chưa thành hình hẳn đã bị ông đuổi bay ra khỏi tâm trí: “Nếu như anh ông, Chiêu Quốc vương phạm phải...”

Trần Quốc Tuấn không hay kéo dài những giây khắc quá nặng nề, ông chợt đổi nét mặt, cười hỏi Chiêu Văn vương:

- Đêm nay em đeo mặt nạ gì?

Chiêu Văn vương giở cái mặt nạ sẽ mang theo ra cho Trần Quốc Tuấn xem. Trên cái mo nang ấy vẽ một cái mặt trai trẻ rất đẹp. Trần Quốc Tuấn bật cười:

- Thế này thì người ta biết ngay chủ nhân của nó là ai.

Trần Nhật Duật ngẩn mặt ra. Trần Quốc Tuấn nhìn chằm chằm vào em nói tiếp:

- Em đeo mặt nạ để giấu mặt mà lại vẽ mặt chính mình lên nó. Phải làm thế này này.

Trần Quốc Tuấn cầm ngọn bút trên án và bằng mấy nét chính xác vẽ lên mặt nạ mấy nếp nhăn trên trán và hai vết má hóp.

- Phải như thế! - Trần Quốc Tuấn nhìn đăm đăm Trần Nhật Duật và hỏi nhỏ: - Em có điều chi mà mấy hôm nay vẻ mặt thảng thốt lắm?

Chiêu Văn vương gượng cười. Trần Quốc Tuấn cầm lấy tay em:

- Chắc vẫn cái chuyện năm nọ!

Trần Nhật Duật mặt đanh lại, cúi đầu xuống. Trần Quốc Tuấn muốn khuyên em một lời nhưng ông biết nói gì bây giờ. Khuyên em làm như mình hồi trẻ thì ngày nay tuổi tác ông phản đối cách đó, còn khuyên em cam chịu thì điều đó ngược hẳn với bản tính của ông. Trần Quốc Tuấn chép miệng than:

- Chả trách người đời vừa muốn lánh vào cửa thiền cho thoát nợ lại vừa báng bổ nguyền rủa mệnh trời.

Trần Nhật Duật ngửng mặt lên, một vẻ quả quyết đầy phẫn nộ thoáng loé lên trong đôi mắt rất đẹp của ông hoàng trẻ.

- Tất cả sẽ êm đẹp hết. Bây giờ anh em ta đi thôi. Cây gì thế này anh trưởng? Lá tùng nhưng cành cội không hẳn là tùng.

- Nó là loại tùng rừng Yên Tử. Không hiếm ở vùng núi phía đông nhưng thế nhân chỉ quen chuộng những cái gì từ phương xa tới.

Sau một lát lưỡng lự, Trần Quốc Tuấn tiếp:

- Chậu tùng này là quà tặng của Trung Thành vương.

Trần Nhật Duật vội ngửng nhìn Trần Quốc Tuấn. Chỉ thấy trên gương mặt lão tướng quắc thước ấy một vẻ bình dị lặng lẽ trong sáng như đồng quê lúc hoàng hôn thu.

Trước khi lên ngựa, Trần Quốc Tuấn chợt níu cương ngựa của Chiêu Văn vương. Vị tướng già nheo mắt lại trước khi nói:

- Người đời thường hay luận về anh hùng nhưng đã mấy ai nghĩ đến tới chỗ tinh tuý của đức tính ấy. “Tự tri giả anh, tự thắng giả hùng”. Ta đã quá nửa đời người mới biết lưu ý đến lẽ đó. Hiểu được mình là Đẹp, thắng được mình là Hùng. Châm ngôn cổ đơn giản mà thâm thuý thật.

Châm ngôn ấy, Trần Nhật Duật đã được nghe giảng từ nhỏ, nhưng quả thật phải đến đêm nay, thốt ra từ cửa miệng một người chìm nổi như Trần Quốc Tuấn, ý nghĩa của nó mới đột nhiên lấp lánh. Trần Nhật Duật không biết rằng Trần Quốc Tuấn khi nói ra câu châm ngôn này là vị tướng già đang nghĩ tới Trần Quang Khải với tất cả niềm ưu ái và biết ơn, biết ơn vì ông, biết ơn vì trăm họ và đất nước.

Thăng Long đã vào đêm. Các lâu đài soi bóng xuống những mặt nước hồ đen lạnh. Tiếng mõ vào canh từ
các điếm phường binh gọi đáp lại nhau. Xa xa, mấy ánh đèn lồng, ánh đuốc chon von trên vòm cổng cung thành. Có ai đang ru con đâu đó dưới một mái nhà kín đáo:

Ạ ời! Ngủ đi con...

Một đời được mấy anh hùng?

Một nước được mấy đức ông trị vì?

Ạ ơi! Hãy ngủ đi con.

Sinh thành gặp buổi loạn li.

Vàng thau thử lửa sá chi bại thành.

Một là kim sách đề danh.

Hai là bia miệng, sử xanh lưu truyền.

Ạ ơi! Ạ ời!

Tiếng ru êm dịu, ấm áp thấm vào lòng người, thấm vào cả những ngóc ngách sâu nhất cùng nhất của lòng người.

An Tư bỏ cơm chiều. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời nàng công chúa út này ước muốn mà không toại nguyện. An Tư ước muốn được dự đêm tiệc mặt nạ nhưng công chúa đã lần lượt bị những người thân nhất từ chối không nhường thẻ cho. Trần Tú Hoãn bảo em gái:

- Em đến chỗ ấy sao tiện.

Trần Ích Tắc thì chỉ cười:

- Đấy là nơi dành cho những người đã trải việc đời.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM