Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 01:34:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người Thăng Long  (Đọc 54263 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #60 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:16:55 pm »

Thành Cát Tư Hãn ra lệnh chọn một trăm lính Thát Đát đi theo hầu hoàng tử Khôresmơ. Một trăm người tình nguyện được chọn và họ đã theo nhau thúc ngựa nhảy xuống biển. Nhưng câu nói nổi tiếng của Đại Hãn không phải là câu khen ngợi đối thủ mà là một lời lo âu về con cháu của mình. Sau khi đã tiễn một trăm người đi theo hoàng tử Khôresmơ, Đại Hãn đã nói với các tướng tòng chinh như thế này:

- Con cháu ta sẽ mặc gấm vóc, trị vì các xứ giàu sang. Ta rất lo chúng sẽ không nhớ gì đến ta, đến chúng ta, những người đã cả đời chinh chiến để mở nước, đã phải sống hết sức gian lao và đau khổ.

Cũng vì lời nói đó mà Hốt Tất Liệt bắt các con lần lượt phải hành hương về đất tổ mỗi khi đến tuổi trưởng thành. Khí thiêng đất tổ sẽ tôi rèn họ thành những dũng sĩ Thát Đát chúa tể thảo nguyên xưa, những dũng sĩ của Đại Hãn anh hùng. Bây giờ thì một dũng sĩ Thát Đát đang phi ngựa về kia, Thoát Hoan, đứa con trai của ta, thông minh, anh hùng và đẹp như thần tướng đang phi ngựa về kia.

Không phải Hốt Tất Liệt lo sợ vô căn cứ. Ngay như y, bố mẹ đều Thát Đát cả, y lại sinh ra trong một cuộc viễn chinh, lớn lên theo anh đánh đông đánh tây, rồi tự mình lập ra một triều đại thật giàu sang trên đất nước Trung Quốc mênh mông này. Có phải chính cái giàu sang này đã làm cho Hốt Tất Liệt nhớ đến câu nói nổi tiếng của ông nội chăng? Hay là vì cái xa hoa của cấm cung Trung Quốc làm cho y sa đoạ rồi và làm cho y lo lắng đến đàn con? Có thể cả hai nhưng chắc chắn rằng quyền uy trên đất nước mênh mông này làm cho y khát khao một quyền uy trên một đất nước mênh mông hơn nữa. Quyền uy làm cho con người thành lang sói, ăn không đã thèm, lúc nào cũng như một con thú đói. Bây giờ thì y đã già rồi, mộng chinh chiến chiếm đoạt làm cỏ những nước láng giềng đã khó tự thực hiện thì y sai các con y làm. Một đứa con của y đang về kia.

Thoát Hoan là hoàng tử thứ chín của Hốt Tất Liệt. Đó là một chàng trai có vẻ đẹp mà nhiều tiểu tiết trái ngược nhau. Gã có một tấm thân cường tráng của giống người du mục quanh năm cưỡi ngựa trên thảo nguyên, nhưng bộ mặt của gã lại là một bộ mặt thanh tú pha máu nòi Nam Tống, tóc đen, mắt đen. Dáng gã ngồi ngựa lịch sự nhưng ánh mắt lại là mắt của giống chim đại bàng ăn thịt sống của vùng hoang mạc xa xôi.

Thoát Hoan đã đến cửa thành. Giàn kèn vòi tu tu thổi một điệu mừng trầm trầm buồn buồn.

Giữ tục thượng võ của dũng sĩ du mục thảo nguyên, Hốt Tất Liệt không ngồi trên ngai vàng đón con vào chầu mà Thoát Hoan cũng để nguyên quần áo phủ bụi đường đến gặp vua cha. Hốt Tất Liệt xuống cổng thành. Thoát Hoan đi rất nhanh qua cửa lớn vòng thành thứ nhất vào khu điện các, nơi làm việc của các quan văn võ trong triều. Thoát Hoan đi rất nhanh qua cổng vòng thành thứ hai sang khu đại điện. Đây là nơi hoàng đế nhà Nguyên thiết triều. Hốt Tất Liệt đứng trên thềm son chờ con. Bên trái y là Tả thừa tướng A Mê, một khối óc trí lự, một tín đồ theo đạo Hồi, bên phải là Hữu thừa tướng A Lý Hải Nha, công thần khai quốc, người đã chỉ huy cuộc công chiến diệt nước Nam Tống, cuộc công chiến đã đem lại cho Hốt Tất Liệt ngôi vua trên cả một đất nước Trung Quốc mênh mông. Thoát Hoan định lạy bố, nhưng Hốt Tất Liệt đã
ngăn lại.

- Thưa cha, con đã trở về!

Hốt Tất Liệt ngắm đứa con yêu. Thoát Hoan mặc một chiếc áo lông chuột tuyết màu xám tro. Những vệt tuyết tan còn chảy đẫm hai vai áo. Một chiếc mũ lông cáo rất dày có chỏm nhọn bằng vàng. Ngang sườn Thoát Hoan cài một thanh kiếm Ba Tư lưỡi cong rất quý. Bụi đường và tuyết phủ trắng lông mày, lông mi gã hoàng tử trẻ. Hài lòng về con nhưng Hốt Tất Liệt vẫn làm ra vẻ nghiêm khắc:

- Con ta đi đường có vất vả lắm chăng?

- Thưa cha, nỗi vất vả đường trường ấy sánh sao được với sự gian lao của cha những lần đánh đông đánh
tây.

Hốt Tất Liệt cười lớn. Hốt Tất Liệt sai nội giám đưa hoàng tử Thoát Hoan đi thay quần áo mới. Chiều tối hoàng cung mở tiệc mừng hoàng tử đi hành hương về mạnh khoẻ. Những cung tần mĩ nữ kén từ hàng chục nước xa lạ múa chầu, họ tấu những khúc nhạc của các nước chư hầu xa xôi, họ hát những bản nỉ non ai oán trong khi các tướng ăn uống như hùm cuốn. Gần nửa đêm tiệc mới mãn. Thoát Hoan lạy vua cha xin về phủ lập ngoài hoàng thành nhưng Hốt Tất Liệt giữ lại. Hoàng đế nhà Đại Nguyên nói:

- Đêm nay cha con ta sẽ ngủ chung.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #61 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:17:37 pm »

Hốt Tất Liệt dẫn con từ khu Đại điện vào nội cung nhưng cũng không dừng lại ở khu này. Hai cha con lại qua một vòng thành nữa vào đến khu chính giữa. Đây là một khu đất rộng không có một công trình xây dựng nào. Nó chỉ là một bãi cỏ rộng mênh mông. Giống cỏ này lấy từ bãi cỏ thiêng bên bờ sông Ônôn đem về trồng ở đây. Hốt Tất Liệt luôn luôn tự nhắc mình để khỏi quên đất tổ Ônôn. Nơi ấy, lần đầu tiên các bộ tộc du mục thảo nguyên họp đại hội Kurintai bầu Đại Hãn, chúa tể của các bộ tộc Thát Đát và của cả muôn loài.

Hốt Tất Liệt sai các khiếp tiết dựng một lều trận ở giữa bãi. Cái lều bằng nỉ đen lợp trên một bộ khung bằng gỗ. Trong lều, Hốt Tất Liệt sai trải hai tấm da gấu tuyết và thắp một đĩa đèn thô sơ bằng mỡ cừu. Hốt Tất Liệt bảo con:

- Ngày mai con sẽ được trao quyền đại tướng đi đánh phương nam. Đêm nay cha con ngủ trên thảm cỏ thiêng. Mong rằng cỏ thiêng nhắn nhủ con ghi nhớ dòng giống anh hùng của chúng ta.

Tất cả các tướng tuỳ tùng đều phải ra ngoài vòng thành.

Hốt Tất Liệt và Thoát Hoan vào lều trận. Trong lều lợp lụa đỏ. Trên những cọc lều treo những vật tuỳ thân của một nhà quý tộc Thát Đát: Một bộ yên cương nạm vàng, hàm thiếc và bàn đạp cũng bằng vàng, một cây thương chín đốt có ngù làm bằng lông đuôi ngựa nhuộm đỏ, một cây cung cánh dài của bộ binh, một cây cung cánh ngắn dùng khi cưỡi ngựa, cả hai cánh cung đều sơn son rất đẹp, một ống tên làm bằng gỗ bọc gấm thêu con đại bàng đang bay, một cái roi ngựa tết bằng gân cừu, một thanh kiếm Xa Mắc Căng, nơi rèn khí giới nổi tiếng thế giới, một cái que bằng trúc Thiên Sơn cán làm bằng sừng dê núi. Cái que này dùng để gợt mồ hôi ngựa lúc tắm cho chúng. Nó được cài vào hia và là vật không thể thiếu được của một dũng sĩ Thát Đát.

Trong lều còn có một cái vò sành đựng sữa ngựa và hai cái bát gỗ mộc. Hốt Tất Liệt rót sữa ra hai cái bát.

- Cha ông ta chỉ uống thứ này thay nước, thế mà các vị đã lập nên biết bao vương quốc.

Đêm ấy hai cha con Hốt Tất Liệt nằm trên thảm da gấu nhưng cả hai đều không ngủ. Hoàng đế nhà Đại Nguyên nói cho con nghe kế hoạch đánh chiếm nước Đại Việt.

- Chúa tôi nước này không chịu thần phục chúng ta. Chúng ta là thiên triều. Chúng ta muốn mở cương giới xuống biển phương nam. Nước Đại Việt lại án ngữ con đường nam chinh của chúng ta mà hai mươi nhăm năm trước quân ta đã bị họ đánh cho thua to cho nên không thể không trừng trị. Đánh vào Đại Việt phải tiến quân mấy mặt. Ta đã sai Toa Đô đem quân vào Chiêm Thành rồi. Khi con xuất quân, hai mặt thuỷ bộ cùng tiến, Toa Đô sẽ từ mé nam đánh úp vào lưng nước Đại Việt.

Hốt Tất Liệt bình tĩnh dặn dò con. Thoát Hoan sẽ có một cánh quân tinh nhuệ gồm người man mặc áo đen,
man áo trắng tiến từ nước Đại Lý cũ vào mé tây bắc nước Đại Việt. Quân chủ lực sẽ chọn những tu man Thát Đát thiện chiến nhất cưỡi toàn ngựa Đại Lý. Ngựa thảo nguyên không chịu nổi khí hậu nóng nước Việt. Quân thuỷ sẽ chọn người Hán vùng Lưỡng Quảng. Quân bộ có các chiến cụ đánh thành cũng là quân Hán. Lương thảo biện ở vùng mé nam sông Đại Giang.

- Đại Việt thạo sông nước, lại có một đội voi trận rất ghê gớm. Nhưng quân thiên triều là vô địch. Con sẽ có những tướng lỗi lạc và thâm trầm nhất.

Hốt Tất Liệt kể tên A Lý Hải Nha. Tên này đã chỉ huy cuộc đánh diệt nhà Nam Tống. Hắn đánh bộ giỏi, đánh ngựa cũng giỏi, biết dùng lửa, dùng nước làm vũ khí, biết chiêu hàng, biết làm cỏ... Nói tóm lại, hắn là danh tướng bậc nhất của Nguyên triều. Ngoài ra còn Lý Hằng, người đã đánh bại tể tướng nhà Nam Tống ở mỏm Nhai Sơn. Gã là một tên tướng Hán rất thông thạo dân tình mé nam. Còn Ô Mã Nhi, dũng tướng vô địch người Hồi Hột. Còn Lý Quán, gã gian thần nhà Tống đầu hàng, thằng này rất giỏi việc đánh thành...
Rút lại Thoát Hoan sẽ có một đội quân đông và thiện chiến đủ ngựa, đủ thuyền, một kế sách đánh chắc thắng rất hiểm ác. Và nếu thắng, ngôi vua nước Việt sẽ về tay Thoát Hoan, và cả ngôi Đại Hãn nữa. Khác với nhiều nước, ngôi vua thường về con trưởng, người Nguyên có tục các con lớn đi mở nước ở nơi xa rồi làm vua nơi ấy, ngôi vua đất gốc hay truyền cho con út.

Mờ sáng Hốt Tất Liệt nhắc lại cho con nghe sự tích ra đời của người Thát Đát. Sự tích cũ kể rằng ngày xưa trên thảo nguyên mênh mang chân núi Thiên Sơn có một con sói thần lông xám. Nó chính là tổ của người Thát Đát. Một nạn lụt lớn xảy ra. Muôn loài đều bị cuốn trôi đi, chỉ còn một đôi trai gái Thát Đát sót lại giữa một hẻm núi bốn bề vách dựng đứng thấu trời. Họ sinh con đẻ cái. Họ phát rừng trồng lương thực và chăn nuôi gia súc. Đây là một thung lũng rất phì nhiêu, nhưng lạ thay giông tố luôn luôn giáng xuống, mỗi lần có giông tố thì sấm sét nổ ra dữ dội, sét đánh vào các chỏm núi, sét đánh sạt cả những chỏm núi. Tuy thế, dân trong thung lũng đông dần lên. Đến lúc cái lũng không chứa nổi số dân nữa. Họ tìm đường thoát khỏi vách núi nhưng không sao trèo qua được. Nếu chịu bó tay thì sẽ bị chết đói hết. Mãi sau có người tìm ra tại sao sấm sét cứ đánh vào vách núi mãi: Đó là vì nó chứa sắt. Bộ lạc chia ra làm ba đội. Một đội gồm những chàng trai khoẻ mạnh nhất, họ đi đẵn tất cả cây cối trong lũng đem về làm củi. Một đội khác gồm những cô gái Mông Cổ đảm đang khéo tay, họ làm thịt tất cả gia súc lấy da khâu thành nhưng túi hơi làm bễ thổi lửa nung vách núi. Việc đốt lửa giao cho đội thứ ba gồm toàn người già yếu trông lửa nung vách núi. Họ nung mười ngày chín đêm, vách núi đỏ rừng rực rồi chảy thành một dòng suối sắt đỏ xuống đồng bằng. Những người Thát Đát theo dòng suối thép cũng tràn đi. Họ trở thành những dũng sĩ vô địch, đi mở nước, mở rất nhiều nước. Họ là những người sinh ra để cai trị muôn dân tộc khác.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #62 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:20:47 pm »

Hốt Tất Liệt nằm ngửa trên tấm da gấu, kể cho con nghe sự tích Sói thần lông xám và núi sắt bằng giọng kiêu hãnh, bồi hồi.

- Ông nội ta khi lên ngôi Đại Hãn đã ban ra một bộ luật Yassa để cho thiên hạ tuân theo. Đại Hãn đã sai mười bảy vạn tù binh lấy đá xếp điều luật thứ nhất lên trên đỉnh Thiên Sơn.

Thoát Hoan biết điều luật ấy và đã nhìn thấy nó trên đỉnh núi rất cao. Nó được xếp bằng những tảng đá thành một hàng chữ khổng lồ, mỗi chữ có chiều dài bằng ba mươi tầm tên. Cách Thiên Sơn vài trăm dặm, nếu tốt trời người ta có thể đọc dễ dàng điều luật đó:

“Nếu trên trời chỉ có một Thượng đế vô hình thì dưới đất cũng chỉ có một vị chúa tể hữu hình: Đó là ta,
Thành Cát Tư Hãn!”

Nằm trên cỏ thiêng, nghe kể sự tích oai hùng, không dễ mấy ai được diễm phúc như hoàng tử Thoát Hoan.
Sáng hôm sau hoàng đế nhà Đại Nguyên Hốt Tất Liệt phong tước vương cho con trai. Chính hoàng đế chọn mĩ tự cho tước vương của Thoát Hoan: Trấn Nam vương. Chỉ riêng điều đó đã chứa đựng ý tứ sâu xa. Chiếc lều trận ngủ đêm trước cũng được ban cho Trấn Nam vương theo tục “cấp vốn” của Thát Đát. Hốt
Tất Liệt bảo con trai:

- Ngôi báu cũng phải tự mình đi kiếm lấy, vương quốc cũng phải do mình chiếm lấy. Có thế hai phía mới xứng với nhau. Thiên tử mà mất ngôi còn nhục hơn con chó ghẻ bị bầy đuổi đi. Ngày xưa cố nội ta lúc còn là tù trưởng phiên trấn mà trong tiệc đại hạ, người giả say rượu chếnh choáng cứ nắm râu thiên tử nhà Tống mà giật lia giật lịa. Thế mà vua nhà Tống sợ, cứ phải chịu thôi. Con sẽ xuống phía nam núi Ngũ Lĩnh sắp sửa binh lương. Con sẽ dùng ngọn thương này mở đường đến ngôi vua của mình.

Lễ mừng thân vương Thoát Hoan diễn ra tưng bừng ở kinh thành Đại Đô. Nhưng sự việc đáng lưu ý trong ngày hôm đó lại là mệnh lệnh lập hành tỉnh Kinh Hồ và cử A Lý Hải Nha coi việc của Hành tỉnh này. Đây chính là Mạc phủ của Trấn Nam vương Thoát Hoan và là bộ não điều khiển việc sửa soạn binh lương, quân tướng, xe ngựa, thuyền bè cho cuộc tiến quân đánh Đại Việt sắp tới.

Chọn A Lý Hải Nha làm người phò tá cho con trai, Hốt Tất Liệt tin rằng đúng. A Lý Hải Nha là một tướng gốc Hồi Hột đã từng chinh chiến nửa đời người, một lão tướng rất mưu lược, trầm tĩnh, sâu sắc và tàn ác. Công lao tiễu phạt Nam Tống và mở nước Đại Nguyên đã đưa A Lý Hải Nha lên địa vị cực phẩm của triều đình. Ngay từ những năm trước đây, lúc Thoát Hoan chưa đến tuổi được đội mũ, Hốt Tất Liệt đã chọn A Lý Hải Nha làm quan tư giảng để coi sóc việc dạy dỗ cho Thoát Hoan thành một người đủ tài mở nước. Để tỏ
bụng tin yêu, Hốt Tất Liệt cho phép A Lý Hải Nha nhận lễ vương sư của Thoát Hoan.

Hốt Tất Liệt bảo A Lý Hải Nha:

- Ở vùng Kinh Hồ muốn lương thảo có lương thảo, muốn ngựa có ngựa tốt nước Đại Lý, muốn thuyền có thuyền Lưỡng Quảng. Các ngươi sẽ có những binh tướng Lĩnh Nam trèo núi không thua gì người Giao Chỉ. Các ngươi cũng sẽ có những binh tướng thạo nghề sông biển như người phương nam. Nhà ngươi đã là công thần khai quốc của ta. Tên ngươi đã được khắc lên sách vàng. Bây giờ nhà ngươi mang ấn vàng thao gấm đi phò tá con ta. Hãy cố sức đem uy danh của thiên triều đến mở mắt cho bọn man di phương nam. Nhà ngươi phải kính cẩn vâng nhớ ý trẫm!

Hốt Tất Liệt sai treo đèn lồng ở vườn hoa mẫu đơn để tiễn hai tướng lên đường nam chinh cho trọng thể.
Trưa hôm sau nữa, theo lời tâu của quan giám toà Khâm Thiên giờ Ngọ là giờ tốt, Thoát Hoan và A Lý Hải Nha rời Đại Đô lên đường xuống Lĩnh Nam. Hốt Tất Liệt cho một nghìn thân quân Thát Đát đi theo làm đội hộ vệ đặc biệt của con trai. Nghìn quân này do tên tướng tước Vạn Hộ hầu Lưu Thế Anh chỉ huy. Hốt Tất Liệt cũng thăng cho Lưu Thế Anh từ tước hầu Vạn Hộ đeo thẻ phù chạm hình con hổ có hai hạt minh châu lên tước thẻ phù có ba hạt châu.

Một kẻ đã được nuôi dạy để đi mở nước làm vua, một kẻ mang trong huyết quản dòng máu kẻ cướp của bọn thảo tặc, một kẻ mang trong giấc mơ tiếng ru man rợ của chó sói, một kẻ mang trong tim cái định kiến thiên triều con trời tối ư ngu xuẩn, đã lên đường đi đánh cướp nước Đại Việt như thế đó.

Trong lúc giàn kèn vòi của hoàng thành Đại Đô thổi tu tu để tiễn Trấn Nam vương Thoát Hoan thì cấm quân cung thủ Đại Đô bắn tên sơn đỏ tứ tung ra tám hướng để báo với thần sông thần núi các nơi biết mà phù trợ cho con trai của hoàng đế thiên triều. Kinh thành ăn mừng trước một chiến thắng lẫy lừng. Duy một nghìn gia đình của những người lính trong đội quân của Lưu Thế Anh là không vui.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #63 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:21:31 pm »

Chương 11

Thoát Hoan rời Đại Đô được hai ngày thì ở nước Đại Việt cuộc triều hội các vương hầu họ Đông A diễn ra tưng bừng trên bãi Bình Than, cái bãi cát mênh mông được gọi là hòn châu có sáu rồng chầu. Sáng tinh mơ hôm ấy, các vương hầu từ chỗ đóng quân ở các bến thuyền có quy định trước, đáp thuyền nhẹ về Bình Than. Chung quanh bãi, những đội quân thuỷ tuần sát bằng những chiếc chải sơn then trường mình như đàn cá trong thần thoại. Ở mũi thuyền, những người cầm trống gõ nhịp cho trạo nhi từng tiếng tong tong. Những lá cờ đại, những lá phướn các màu cắm la liệt, một khu nhà rạp rất lớn cất trên một khu đất cao nhất bãi. Trước khu nhà, một lá cờ to bằng bốn chiếc chiếu màu đỏ trên đính chữ Trần bằng nhung đen. Chữ này do chính tay Trần Nhật Duật viết trên giấy rồi thư nhi theo hình cắt chữ trên nhung. Nét chữ của Trần Nhật Duật nom thật xương kính, trộn cũng không lẫn. Giáp binh túc vệ Thượng đô đeo kiếm tuần sát quanh khu nhà rạp, còn quân gia đồng hương Vạn Kiếp dưới quyền chỉ huy của hai gia tướng Yết Kiêu và Dã Tượng đứng thị lập ở ngoài rìa. Người ta còn thấy những người lính gia đồng ở thái ấp cũ An Sinh cũng có mặt dưới sự chỉ huy của Nguyễn Địa Lô.

Lúc chuông chùa Phả Lại thỉnh hồi chiêu, Chiêu Minh vương và Hưng Đạo vương phò hai vua xuống thuyền ở bến Vạn Kiếp. Con thuyền Long Phụng nhổ sào chậm mất một khắc vì một chiếc thuyền đinh lướt qua bến theo lõng nước chảy xiết gần bờ. Thượng hoàng sửng sốt vì sự táo tợn của chủ thuyền. Người chú mục nhìn những người ngồi trên đầu thuyền đinh và kinh ngạc nhận ra vẻ mặt của một người thân. Người phán nhỏ với đức ông Chiêu Minh:

- Kìa! Đúng là cái thằng hỗn láo ấy nó ngồi kia!

Đức ông Hưng Đạo lại nghe tiếng và cũng nhận ra cái người cầm lái cái thuyền hỗn hào dám chẹn trước mặt thuyền Long Phụng của vua. Trần Quốc Tuấn nói ngay:

- Nhân Huệ vương rồi. - Và Hưng Đạo vương tâu vua: - Tâu bệ hạ, xin cho triệu ngay Nhân Huệ vương đến
Bình Than. Việc chống giặc chắc chắn phải cậy tới quân thuỷ mà người thạo thuỷ chiến không ai hơn nổi Nhân Huệ vương.

Thượng hoàng rất đẹp lòng nói:

- Để Quan gia xuống chỉ triệu cho thuận phép nước.

Trần Nhân Tông vâng lời cha bèn sai ngay các quan cận thần đem thuyền nhẹ đuổi theo chiếc thuyền đinh.

Khi đoàn thuyền vua đến Bình Than, vị vương chủ hội là Chiêu Văn vương đã dàn quân hổ bôn đứng nghênh đón từ bến thuyền.

Tiếng tung hô vạn tuế vang dội cả một vùng sông nước mênh mang. Trống đồng đánh điệu mừng. Quân Long Dực, Hổ Dực giơ khiên đao múa bài đại hạ. Các vương hầu hôm nay không mang võ khí nhưng đều mặc áo chiến nên họ không lạy mà chỉ vái hai vua theo lệ quân ngũ.

Thánh Tông bước vào nhà rạp. Trần Nhật Duật đã khéo bài trí bên trong nhà rạp như bạch hổ đường của tướng võ. Trên vách tường hậu bằng tre đực ken dày treo những lá mộc của các tướng thao lược nhất của triều Trần. Đây là chiếc mộc bằng gỗ bọc da trâu sơn xanh tròn to như cái nong, trên vẽ bảy vì sao theo nhóm tinh tú. Đó là tướng huy của đức ông Chiêu Minh. Đây là chiếc mộc khác sơn màu cỏ áy trên vẽ mặt trời mặt trăng hai màu chu sa và nguyệt bạch. Đó là tướng huy của đức ông Tĩnh Quốc. Đức ông Tĩnh Quốc vốn là người giỏi binh pháp của phái Âm Dương. Người ta còn nhận trên những lá mộc khác tướng huy của các đức ông Hưng Đạo, Chiêu Quốc, Tá Thiên... trong đó lá mộc của đức ông Chiêu Văn vẽ tướng huy chòm sao Thiên Đồng.

Nền nhà rạp trải sàm sạp một thứ chiếu cói thô vẽ hoa đỏ. Những chiếc kỉ nhỏ bày thành hai hàng liền nhau trên để sẵn giấy mực nghiên bút. Đầu nhà rạp, xoay lưng vào vách treo mộc là hai chiếc kỉ chạm rồng sơn son. Trên kỉ bày sẵn hai chiếc ống bằng gỗ. Hai chiếc ống này đựng thẻ phù và tín bài. Khi hai đức vua đã cho phép các tướng ngồi thì quan tướng vương tá là Trần Nhật Duật đem phù và bài cắm vào ống.
Tất cả đã ngồi yên. Quan tướng giữ việc điển nghi là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng tâu vua rằng kẻ lạ mặt trên thuyền đinh đã bị bắt giải về Bình Than rồi. Nhân Tông sai dẫn người đó vào. Người ấy chính là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Một Nhân Huệ vương gân guốc, ánh mắt bướng bỉnh giễu cợt trong một bộ quần áo ngắn may bằng vải thô nhuộm chàm. Trần Khánh Dư lại còn khoác một cái nón mê, màu lá nón đã mốc. Các vương hầu muốn cười mà không dám, vì ai nấy đã từng biết tính nóng nảy và hay gây gổ của Nhân Huệ vương ngay từ khi ông còn giữ chức Phiêu kị đại tướng quân ở kinh thành.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #64 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:22:15 pm »

Nhân Huệ vương đường hoàng đến trước mặt hai vua bỏ nón xuống rồi mới làm lễ triều bái. Sau đó ông ngoảnh sang hai bên vái chào các vương hầu. Thượng hoàng cười bảo Trần Khánh Dư:

- Ta không ngờ một trang nam tử lẫm liệt mà bây giờ đến nỗi này!

Trần Khánh Dư kiêu hãnh:

- Thưa vua anh, áo em cộc nhưng thân này vẫn cứng cáp hữu dụng như xưa.

Thượng hoàng phán bảo Trần Khánh Dư rằng bây giờ là lúc đem cái thân hữu dụng ấy ra mà giúp nước. Thượng hoàng cho phép Trần Khánh Dư ngồi cuối hàng vương trên hàng hầu.

Cuộc triều hội vừa mới bắt đầu đã sôi sục ngay. Không ai là không muốn bộc bạch lòng mình khi Thượng hoàng hỏi về thế nước. Thượng hoàng hỏi ba câu:

Một là chúa Trung Quốc nhà Đại Nguyên muốn gì? Quân Nguyên đã vào Chiêm Thành, triều Nguyên dụ ta cấp lương và cho mượn đường bộ để đem quân vào Chiêm Thành.

Hai là ta nên đối phó thế nào?

Ba là phải làm gì ngay bây giờ?

Cả ba câu hỏi này thực ra hai vua đã bàn bạc kĩ với các đức ông Tĩnh Quốc, Chiêu Minh và Hưng Đạo.
Về câu hỏi thứ nhất, có người phân vân rằng nếu giặc muốn đánh ta thì chúng sẽ tiến quân vào bờ cõi chứ còn mượn đường làm gì cho thêm phiền phức thế. Thế là cuộc triều hội sôi sùng sục lên ngay. Thượng hoàng cho phép các vương hầu lần lượt nói. Ai nấy đều cho rằng giặc dù muốn đánh ta nhưng cũng phải có cớ. Nhưng mượn đường mà là cớ thì không ai giảng giải cho rõ được.

Đến lượt đức ông Hưng Đạo. Trần Quốc Tuấn nói:

- Giặc có mưu hiểm ác đánh ta. Hiện nay Hốt Tất Liệt gồm cả tính chất hung hãn thiện chiến của người
Thát Đát du mục lẫn cả cái thâm hiểm sâu xa có mưu toan của các vua chúa Hán. Hắn không còn như ông nội hắn xưa kia, mỗi khi đánh chiếm một nước nào là cướp hết của cải, giết hết người dân mà hắn sẽ chia quận huyện để cai trị, lột da lột thịt trăm họ đời này qua đời khác. Lòng tham của Hốt Tất Liệt không đáy, nhưng hiện nay, ngoảnh về phía bắc, Hốt Tất Liệt vướng đất của dòng trưởng Lều Vàng. Ngoảnh về phía tây và tây nam, Hốt Tất Liệt cũng vướng đất của ngành thứ hai và ngành thứ ba, mặt đông là biển rồi. Chỉ còn phía nam. Chỉ còn các nước ở vùng biển phương nam giàu có này mới thực sự làm cho Hốt Tất Liệt thèm thuồng. Nhưng ngặt vì trước đây, sau khi bị thua ta một trận to thời Nguyên Phong, Hốt Tất Liệt đã phải cam đoan với ta là không đem quân sang xâm phạm bờ cõi nước ta và để ta giữ nguyên triều nghi, phong tục riêng. Giặc muốn xuống phương nam nhưng nước ta như cái then đóng cửa đường đi của chúng. Vậy theo ý thần, giặc muốn có cớ ta cưỡng lệnh, để chúng chính danh tiến quân vào bờ cõi nước ta. Vả chăng muốn tiến quân không thể khinh thường mà cứ đánh bừa đi được. Những người thân tín mà ta cho sang nước chúng báo tin về rằng việc sắm sửa quân mã lương thuyền của chúng chưa đủ dùng cho một cuộc viễn chinh với một nước như nước ta đã từng đánh chúng đại bại. Như ý thần tính toán, giặc sẽ xuất quân khoảng một hai năm tới.

Thật rõ ràng và chính xác. Mọi người đều bằng lòng. Ngay Chiêu Quốc vương đến lượt tâu vua, cũng phải nhận rằng ý kiến của đức ông Hưng Đạo thật sâu sắc.

Ấy thế mà đến câu hỏi thứ hai của Thượng hoàng vẫn cứ có hai cách kiến giải khác nhau:

- Mưu mẹo của giặc hiểm độc như vậy, lọ là phải bàn gì nữa. Cứ việc phát quân phòng thủ biên giới. Nếu chúng trưng lương, đóng thuyền thì tiến đánh đốt thuyền đốt lương cho mất hậu hoạ. Ý kiến này của các đức ông Tá Thiên, Chiêu Quốc...

- Mềm dẻo giữ mối bang giao. Giặc phải sắm sửa binh lương, tướng tá. Ta cũng phải sắm sửa binh lương tướng tá. Thảng hoặc nước chúng có nội loạn mà cuộc binh đao không phải xảy ra thì đó là phúc lớn cho trăm họ và xã tắc nước Đại Việt. Kiến giải này của các đức ông Chiêu Minh, Chiêu Văn, Nhân Huệ...
Kiến giải này làm đẹp lòng yên dạ hai vua. Nhân Tông cho ngừng cuộc triều hội ban ngự tửu cho các vương hầu. Nhân lúc này, vị vua trẻ đến gần Nhân Huệ vương. Nhân Tông cởi chiếc áo bào vàng ra, bên trong nhà vua mặc chiếc áo gấm tía hoa bạc thêu cầm kiếm. Nhân Tông ban chiếc áo tía cho Nhân Huệ vương. Vua phán bảo Trần Khánh Dư.

- Dân ta có câu “đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh kẻ chạy lại”, chú Nhân Huệ nên nhớ câu đó.

Đến lúc này thì Nhân Huệ vương rơm rớm nước mắt. Chắc rằng từ nãy đã có người thuật lại lúc Trần Khánh Dư lướt thuyền qua bến Vạn Kiếp thì đã có chuyện gì xảy ra trên thuyền vua nên Nhân Huệ vương sau khi tạ ơn vua đã vái đức ông Hưng Đạo hai vái.

Thượng hoàng sai bày bánh trái và hoa quả để các vương hầu ăn cho thêm phấn chấn. Không khí trong nhà rạp thân thiết hẳn lên. Nghĩa chúa tôi lui bước nhường chỗ cho tình máu mủ thiết tha. Đức ông Chiêu Minh bưng một bát rượu lớn đến mời đức ông Hưng Đạo:

- Anh là bậc tôn trưởng, xin mời uống trước cho cả họ mừng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #65 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:23:09 pm »

Trần Quốc Tuấn đỡ lấy bát rượu từ tay Trần Quang Khải. Hai người nhìn nhau đăm đăm. Hai hôm vừa qua, các đức ông Chiêu Minh và Hưng Đạo đã gặp nhau tay đôi. Những gì họ nói với nhau trong cuộc gặp gỡ đó không được kể lại, có lẽ các nhà chép sử rồi cũng chịu không tìm ra được chuyện thực. Nhưng chỉ biết đêm trước đây, hai đức ông rủ nhau đi thuyền ngắm cảnh sông. Họ đi chơi hay bàn việc nước, việc họ hàng? Hay họ luận bàn về anh hùng hoặc tình người? Không một ai đoán biết được. Bằng vào nét mặt bình lặng của hai người, ai nấy cho rằng hai đức ông không còn sự xung đột về lí trí và tình cảm nữa.

Riêng Trần Nhật Duật nhận xét thì vẻ bâng khuâng đã mất trên vầng trán của đức ông Hưng Đạo và thay vào đấy là mấy nếp nhăn hằn sâu thêm, dấu hiệu của những đêm suy tính căng thẳng.

Trần Quốc Tuấn nâng bát rượu lên, ngập ngừng một lát, xúc động bồi hồi. Đôi mắt vị tướng già bỗng nhoà
mờ. Trần Quốc Tuấn nói, giọng lạc hẳn đi:

- Tôi con nước Việt kì vọng ở họ Đông A. Gánh nặng non sông xã tắc nặng trĩu trên vai chúng ta. Tôi mời các chú các bác uống bát rượu nguyền cả họ hoà vui đại thống. Nào, cả các cháu các con cũng uống với chúng ta đi.

Đột nhiên một sự im lặng trang trọng làm mọi người nghẹn ngào, xúc động. Những bát rượu uống không ồn ào có sức thề nguyền thôi thúc lắm!

Uống xong bát rượu, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư trợn mắt quật cái bát vỡ tan trên mặt đất. Nhân Huệ vương nói như quát:

- Xin thề một lòng một dạ tận trung báo quốc. Xin thề thà chết không làm tổn hại đến mối đại thống họ Đông A.

Thế là tiếng thề cùng cất lên. Các vương hầu quật bát thề độc, đòi quỷ thần chứng giám lòng mình.
Thượng hoàng nghiêm khắc nói:

- Vậy thì bây giờ các khanh cho nghe cao kiến phá giặc.

Các vương hầu bàn tiếp kế giữ kế đánh. Đột nhiên có tiếng xôn xao bên ngoài. Đức ông quan tướng điển nghi Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng phụng mệnh vua ra xem có chuyện gì đã xảy ra bên ngoài nhà rạp.

Hưng Nhượng vương ra bến thuyền thấy lính túc vệ đang cố đuổi mấy chiếc thuyền nhỏ đậu ở bến. Đứng trên thuyền, ngoài đám gia đồng chân sào, còn có vài thiếu niên mặc áo vóc tía xúng xính.

Một thiến niên đã nhảy được lên bờ, hai tay đẩy chiếc giáo túc vệ ngáng đường mình.

- Dẹp ra! Tội vạ đâu đã có ta chịu! Ta đã bảo ngươi dẹp ra ngay!

Hưng Nhượng vương lại gần đám xô xát. Viên tiểu tướng giữ bến thuyền thấy Hưng Nhượng vương thì mừng quá reo to:

- Nào! Đức ông quan tướng điển nghi đã ra. Xem hầu gia còn nạt mắng anh em chúng tôi nữa không nào?

- Ta đã bảo các ngươi cứ dẹp ra mà! Nào ta có nộ nạt gì ai đâu.

Hưng Nhượng vương nhận ra người vừa nói là Hoài Văn thượng vị hầu áo tía Trần Quốc Toản. Hoài Văn hầu là cháu nội của Hoài Đức vương Trần Bà Liệt. So về thế thứ, Quốc Toản còn là anh họ của Hưng Nhượng vương. Viên tiểu tướng túc vệ thưa với Hưng Nhượng vương:

- Bẩm đức ông, tiểu hầu gia nhất định đòi vào, không cho bề dưới chúng tôi làm tròn phép nước.

Hoài Văn hầu lừ mắt:

- Phép nước mà ngươi không giữ tròn thì chính ta cũng trị ngươi đến nơi đến chốn.

Hưng Nhượng vương cười gạt đi:

- Được rồi! - Ông nói với viên tiểu tướng:- Ta cho phép ngươi thu giáo lại. - Ông ngoảnh sang Hoài Văn hầu: - Thưa hầu huynh, vậy thì thế nào là làm tròn phép nước?

Hoài Văn hầu cũng hay đến vương phủ Hưng Đạo chơi nên giữa hai người cũng có mối giao tình thân mật, nhưng hôm nay Hoài Văn hầu đang cơn bực tức và Hưng Nhượng vương đang làm việc quân nên Hoài Văn không dám suồng sã:

- Thưa đức ông, viên tướng này làm việc quân khá lắm.

Trần Quốc Toản ngoảnh ngay sang viên tiểu tướng:

- Đây ta thưởng cho ngươi. - Trần Quốc Toản đưa ngay cho viên tiểu tướng cái quạt nhài vàng trong tay
rồi lại quay sang Hưng Nhượng vương - Nhưng tôi cũng hiểu phép nước. Các vương hầu được Quan gia triệu về đại hội, tôi chẳng ra gì cũng là hầu tước thượng vị áo tía. Hầu tước thường còn được dự huống là tôi, sao lại ngăn đường tôi? Mà anh Hoài Nhân kia (Trần Quốc Toản chỉ vào một chú bé áo tía trạc mười ba tuổi) lại tập tước vương cơ mà.

Hưng Nhượng vương ôn tồn nhưng nghiêm nghị:

- Vậy hai thế huynh có mang bài chỉ Quan gia triệu không?

Hưng Nhượng vương thấy mặt hai người ngẩn ra. Đại hội này chỉ triệu các vương hầu từ mười bảy tuổi trở
lên.

- Không có bài chỉ hả? Vậy thì hai anh vui lòng ra khỏi đất cấm để cho quân tướng bề dưới làm tròn việc quân.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #66 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:23:51 pm »

Trần Quốc Toản xoay ra nài nỉ Trần Quốc Tảng. Thiếu niên hầu tước kể lể rằng khi biết tin có đại hội thì chậm quá rồi, hai vua đã ngự giá sang đông cho nên cậu không tiến triều để xin vua cho bài chỉ vào dự đại hội được. Từ Thăng Long về đây hai cậu đã thay ngựa ba lần. Đến bến Đại Than, hai cậu phải đổi một chiếc lược vàng mới có được chiếc thuyền câu bé teo kia để đáp sang Bình Than. Bây giờ thì chết sống hai cậu cũng phải được bệ kiến Quan gia để thỉnh mệnh. Trần Quốc Toản tán:

- Cho chúng tôi vào nhé!

- Không được.

- Cứ cho chúng tôi vào, tội vạ đâu chúng tôi chịu mà.


Trần Quốc Tảng chỉ cái biển cấm:

- Các anh mà vượt qua cái biển này thì cả tôi cũng rơi đầu.

Hoài Văn hầu tức đỏ mặt nhưng cũng biết phép đành đứng thộn mặt ra. Hưng Nhượng vương ngoảnh ra hỏi một thiếu niên áo đỏ còn ngồi trên chiếc thuyền câu:

- Còn anh tên là gì, tước gì để tôi thỉnh mệnh Quan gia luôn thể cho.

Thiếu niên ngồi trên thuyền đẹp trai vô cùng. Anh ta có đôi mắt đen láng và cái miệng cười thì rất nghịch ngợm. Hai con mắt đen láng ấy thoáng loé lên hóm hỉnh. Anh ta đáp:

- Tôi là Phi Liêm hầu.

Trần Quốc Tảng gật đầu, quay về nhà rạp. Bỗng thấy Hưng Nhượng vương chân bước ngập ngừng. Hưng Nhượng vương ngần ngừ muốn quay lại rồi lại thôi. Phi Liêm! Mĩ tự này hơi lạ lùng. Phi Liêm là tên một vì sao trên trời, theo khoa chiêm tinh, coi về sự bay bướm và óng ả của các mớ tóc. Phi Liêm! Kể ra thì vẻ đẹp của thiếu niên ngồi thuyền cũng xứng với mĩ tự đó.

Nhưng các thiếu niên không được vua cho vào dự đại hội. Nhà vua sai Trần Quốc Tảng mang ra ban cho mỗi người một trái cam và dụ họ trở về bến Đại Than đợi mệnh.

Trần Quốc Toản uất người lên. Những người lính túc vệ đứng canh vừa thương vừa buồn cười mà không dám cười sợ ông hầu tước trẻ con này nổi giận đổ quạu. Cậu bé hầu tước trợn mắt muốn nạt muốn quát nhưng ở đây thì cậu nạt, cậu quát ai cho được. Quả cam trong tay Trần Quốc Toản bị bóp nát ra còn trơ bã và hai giọt nước mắt từ từ lăn trên má cậu.

Trong lúc Trần Quốc Toản nhìn quanh tìm Phi Liêm hầu để gọi anh ta vào diện kiến đức ông Chiêu Văn nhưng không thấy anh ta đâu cả. Nhìn mãi ra xa, Trần Quốc Tảng nhìn thấy chiếc thuyền chở Phi Liêm hầu đang sắp sửa vào bãi Đại Than, chỗ cái bến dành cho những thuyền quá giang.

Không một ai biết Phi Liêm hầu là ai, trừ một người theo hầu mặc áo chiến quân túc vệ hoàng thành. Đức ông Chiêu Văn khi biết lập tức truy tìm tông tích anh ta. Mãi sau này, theo lệnh của Trần Nhật Duật, quan Đại Doãn kinh sư tra soát mãi mới tìm ra tung tích Phi Liêm hầu: Đó là công chúa An Tư mặc giả trai, nàng cũng là người mang mặt nạ “thương phu trích lệ” vào dự tiệc rượu mặt nạ mo nang mấy hôm trước. Thái hậu phải bênh che mãi, cô công chúa út mới khỏi bị trị tội.

Sau hai ngày bàn sôi nổi về kế đánh giữ, chiều hôm nay hai vua và tất cả các vương hầu về thái ấp Vạn Kiếp. Ở đây, từ trước vẫn thiết lập nhà thờ tổ mặc dù ở kinh sư vẫn làm nhà thái miếu trong hoàng thành. Nhà thờ ở đây là nhà thờ tổ do chi trưởng đèn hương phụng thờ. Thánh Tông sai quan điển nghi sửa lễ để hai vua và các vương hầu tế cáo tổ tông. Đúng giờ Ngọ quan điển nghi dâng hương. Tông trưởng Trần Quốc Tuấn mở cửa hậu cung, mở tấm màn lụa đỏ phủ bài vị, thần chủ nội ngoại tông tộc họ Đông A.

hân Tông làm chủ tế, dẫn nội ngoại tôn tử tế tổ một tuần. Mục đích tế lễ này để cáo ngoại với tổ tông về mối đại thống họ Đông A ngày một thêm bền chặt. Lễ tế càng thêm long trọng lúc cha con Thánh Tông, Nhân Tông và hai đức ông Chiêu Minh và Hưng Đạo múa khiên thờ.

Khiên của Thánh Tông vẽ rồng mây long vân khánh hội. Khiên của Nhân Tông vẽ con thuồng luồng uống nước. Khiên của đức ông Chiêu Minh vẽ chòm sao Bắc Đẩu. Khiên của đức ông Hưng Đạo vẽ thanh long vờn bạch hổ. Quân sĩ dàn mấy hàng bên ngoài, khí giới sáng loà. Trong nhà thờ, các vương hầu chia hai ban đứng nghiêm chỉnh. Chính giữa nhà thờ, chầu vào cửa giữa nội cung trải những chiếc chiếu dệt bằng cói thô. Hai vua và hai đức ông khoác khiên, cầm kiếm tuốt trần múa một bài khiên kiếm. Dàn trống đồng của quân Thánh Dực nổi một điệu quân trầm hùng.

Trần Nhật Duật đứng đầu vương hầu ban tả. Một cảm xúc mãnh liệt làm đức ông hoàng Sáu thấy nóng ran cả người. Họ Đông A quả là một dòng họ thượng võ. Cáo với tổ tông rằng con cháu không buông lơi vũ khí, con cháu không quên tráng chí của tổ tông truyền lại chính là ý thành kính của hai vua.

Trần Nhật Duật nhớ lại hai ngày sôi nổi vừa qua. Biết bao ý sâu lời hàm súc đã được tâu bày. Ý chí quyết thắng, ý chí quyết giữ từng tấc đất của giang sơn đã biểu lộ rõ rệt. Bây giờ đây, đứng chầu hai vua múa khiên thờ, Trần Nhật Duật chợt hiểu rằng nhờ khí thiêng sông núi mà mối đại thống họ Đông A mới xoá được những oán cừu truyền kiếp. Này kia, trên hai tấm da hổ trải hàng dưới, các đức ông Chiêu Minh và Hưng Đạo đang song song xoay khiên. Những cây kiếm sáng múa chậm chậm từng đường kiếm bí truyền của phái võ Tức Mạc. Vẻ mặt nghiêm khắc của Trần Quốc Tuấn, vẻ mặt cương cường của Trần Quang Khải bây giờ trở nên thân thiết với Chiêu Văn vương.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #67 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:24:34 pm »

Chiều hôm ấy, thái ấp Vạn Kiếp mở tiệc lớn. Nửa đêm tiệc tan, hai vua và quân tuỳ giá lên thuyền về kinh ngay trong đêm. Các vương hầu cũng chia nhiều đường thuỷ bộ khác nhau rời Vạn Kiếp. Họ được lệnh về Thăng Long bằng mọi cách sao cho kín đáo.

Nửa tháng sau, triều đình cử lại một số chức trọng yếu:

- Đức ông Chiêu Minh tiến phong đại vương và giữ chức Thái sư đầu triều.

- Đức ông Hưng Đạo tiến chức Tiết chế coi quản chư quân thuỷ, bộ, tượng, mã.

- Đức ông Chiêu Quốc thôi giữ chức trấn thủ lộ Tam Đái, chuyển trấn thủ lộ Đà Giang. Nhưng thực ra triều đình giao cho Chiêu Quốc vương luyện một đội quân tinh nhuệ để khi có chinh chiến xảy ra, giặc lấn ta mặt này thì Chiêu Quốc vương sẽ tiến quân đánh vòng ngay sang đất địch. Thế xung sát sẽ diễn ra và cuộc tiến quân của địch sẽ bị đập một truỳ nặng.

- Đức ông Nhân Huệ được phục tước vương, được tiến chức Phó đô tướng quân coi quản quân thuỷ, các bến thuyền, xưởng đóng thuyền chiến, xưởng bện thừng, xưởng dệt vải buồm. Nhân Huệ vương sẽ đóng ở
Vân Đồn và chịu trách nhiệm kiểm tra thuyền buôn biển của lái buôn ngoại quốc.

- Đức ông Hoài Thượng hầu Trần Văn Lộng tiến chức trấn thủ lộ Tam Đái.

- Đức ông Chiêu Văn thôi giữ chức trấn thủ lộ Đà Giang. Trần Nhật Duật được tiến chức trấn thủ lộ Quy Hoá. Lộ này là một khu vực quan trọng nhằm án ngữ con đường tây bắc mà giặc có thể tiến quân sang. Đồng thời Chiêu Văn vương cũng được tiến chức Phó đô tướng quân coi quản phần việc phòng kẻ gian tế và việc phân phó do thám của ta sang dò tìm tin tức về giặc. Chính Trần Quốc Tuấn đã tâu vua trao chức này cho Chiêu Văn vương vì đức ông Chiêu Văn là một người trí lự và rất thông minh, quen biết rộng rãi nhiều người ngoại quốc. Ông cũng nói được nhiều thứ tiếng nước ngoài.

Bên cạnh những việc thuyên chuyển chức tước, triều đình còn ban ra trăm họ nhiều lệ mới:

- Bãi một nửa thuế ruộng, thuế bãi dâu.

- Bãi hẳn thuế hoá vật của các phường lò rèn và đồ da.

- Tuyển người giỏi sông nước vào các đoàn đội trạo nhi và cử Tá Thiên vương Trần Đức Việp ra ven biển lập thêm sáu sở đóng thuyền.

- Thu đồ đồng và đồ sắt thừa trong dân.

...

Tất nhiên những việc ấy trước sau cũng lọt đến tai mắt của gã Đạt Lỗ Hoa Xích Buyan Têmua. Buyan Têmua đã mấy lần tiến triều diện kiến với vua ta để lục vấn nhưng lần nào vua ta cũng từ chối khéo. Nhà vua mở tiệc lớn đãi Buyan Têmua và tặng ngọc châu biển Đông cho gã. Nhà vua còn tặng Buyan Têmua cả những tảng trầm hương to đến mức ngay những bậc phú gia địch quốc của Trung Quốc cũng chưa bao giờ trông thấy.

Cô gái Phi Liêm hầu không giả trai nữa. Cô lại trở về với cuộc sống quen thuộc với cô. Cô đàn cho các tì nữ nghe, rồi để cho họ trang điểm, để cho họ đeo vàng ngọc lên tai, lên cổ, để cho họ dâng hầu chén trà thơm.

Rồi cô lại dẫn họ đi xem vườn hồng sau nội cung. Và tất cả ô, a như trên đời chỉ có cuộc sống nhiều kì thú như thế này thôi.

Tết năm ấy, vua Nhân Tông trao ấn nguyên soái cho Trần Quốc Tuấn. Thế là Trần Quốc Tuấn phải tạm biệt thái ấp Vạn Kiếp trù phú có những chiếc cọn nước dẫn thuỷ nhập điền, có vườn cúc ẩn sĩ, có dãy nhà sách bằng trúc vàng lợp lá thông nhã thú, có căn phòng riêng sáng mát và yên ắng để về Thăng Long làm việc trong hoàng cung.

Còn Trần Nhật Duật thì nay đây mai đó, lúc ở lộ Quy Hoá, lúc ở cửa Vân Đồn. Đức ông Hưng Đạo trở thành người nắm giữ tất cả mối rường trong quân đội, còn đức ông Chiêu Văn thì trở thành con người có hành tung kì bí nhất kinh thành Thăng Long và nhất cả nước nữa.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #68 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:25:15 pm »

Chương 12

Đã lâu lắm Trần Quốc Tuấn mới trở lại thái ấp Vạn Kiếp thân thương, nơi ông sống bao nhiêu năm tháng nhàn nhã, xa cuộc đời bon chen, xa quyền thế, vui với những cuốn sách quý, vui với vườn tược cúc ẩn hương và nghiền ngẫm như một nhà hiền triết về chữ trung chữ hiếu.

Đã lâu lắm ông mới lại ăn một cái tết ở nhà. Ngày ba mươi ông còn trên đường, ngày mồng một ông dừng lại một làng bên đường cái quan. Thế là các bô lão trong làng đem cờ lọng tế thần ra xúm xít rước Quốc công Tiết chế về ngôi đình làng. Đó là một làng nửa nông nửa chài. Sự trù phú, nết văn hiến của làng khiến Quốc công cao hứng ở lại qua ngày mồng hai. Mãi tới chiều mồng ba ông mới lên đường về Vạn Kiếp sau khi đã cầm trống trịch hội vật trong hai ngày hội làng.

Mồng bốn, Vạn Kiếp mở hội võ mùa xuân. Từ hội võ trở về, ông đã gặp một người do con trai út của ông tiến cử. Đó là Đỗ Vỹ. Ông đã trao cho Đỗ Vỹ một trọng trách. Đỗ Vỹ sẽ phải bí mật đi ra nước ngoài để dò tìm những tin tức về địch. Điều quan trọng là Đỗ Vỹ phải bằng con mắt trí tuệ nhận xét về các tướng địch,
về cách bày, cách chuyển lương để phán đoán cho ra hướng tiến quân của triều Nguyên.

Ông đã gặp Đỗ Vỹ trong căn nhà dành cho con trai ông ngủ đêm ở đầu dãy nhà sách. Theo con mắt ông, Đỗ Vỹ quả có đủ trí lự và tầm mắt để tìm được những tin tức quý. Và đó thật là một con người tài hoa. Cái tài hoa ấy nếu gặp thời chắc chắn sẽ có chỗ đắc dụng. Bây giờ trước mắt ông, trên vách tường kia, còn treo bốn bức tranh do con người tài hoa ấy vẽ. Bức thứ nhất, Đỗ Vỹ vẽ mùa xuân ở cửa Đầu Quỷ. Bức thứ hai là cảnh đêm trăng hè ở cửa Vân Đồn. Bức thứ ba vẽ cảnh heo hút thu tàn ở rặng núi Yên Tử, còn bức cuối cùng vẽ một cảnh quen thuộc với Trần Quốc Tuấn. Đó là cảnh rừng bàng mùa đông ở phía bắc kinh thành Thăng Long. Bốn bức tranh vẽ thật có hồn. Ông đã từng đi qua các nơi đó. Ông cũng đã từng thưởng thức cảnh đẹp của những nơi đó vào đủ các mùa. Nhưng Trần Quốc Tuấn phải nhận rằng con người nghệ sĩ kia đã tinh lọc những cái gì tâm đắc nhất để đưa lên trang giấy nứa thô ráp và làm cho cảnh đó trở thành bất tử.

Sáng hôm rằm tháng giêng, một chiếc thuyền chiến nhẹ cặp bến Vạn Kiếp đưa đức ông Nhân Huệ tới. Nhân Huệ vương đã quen cuộc sống dân dã nên mặc dù đã được phục tước và trao một chức cao nhưng ông vẫn mặc một bộ áo chiến bằng vải chàm bạc màu. Cho nên gia nô hương Vạn Kiếp không biết đã ngăn đức ông tại cửa rào chông của thái ấp và bắt Nhân Huệ vương xưng danh hiệu.

- Ngươi vào trình với Quốc công có ta là Dư xin vào ra mắt.

Câu nói nửa kính cẩn nửa suồng sã làm cho người gia nô đoán ngay ra. Anh ta vội mở rộng cửa mời Trần Khánh Dư vào chính đường. Sau đó một gia tướng vội đi thông báo có khách với Trần Quốc Tuấn. Chỉ một lát sau đã nghe tiếng Trần Quốc Tuấn oang oang:

- Ông Phó đô tướng quân phải không?

- Lạy anh. Em từ Vân Đồn tới theo lệnh đòi của phủ Tiết Chế.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #69 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:25:58 pm »

Trần Khánh Dư vái chào Trần Quốc Tuấn. Nom dáng của Nhân Huệ vương thật ngang tàng, cao ngạo. Cuộc đời chìm nổi chịu nỗi bất công đã làm cho Nhân Huệ vương luôn luôn có một cái nghiêng nhìn ngạo nghễ.

- Ngồi xuống đây. - Trần Quốc Tuấn mời Trần Khánh Dư ngồi. Gia đồng bưng trà tới.

- Trời rét ngăn ngắt mà em từ biển vào ban đêm chắc không ngủ được?

- Thưa anh, đêm qua em ngủ lại ở mé bến dưới. Mãi sáng hôm nay em mới về đây.

Nói xong Trần Khánh Dư trình Trần Quốc Tuấn những tờ cáo mật của các tướng thuỷ đạo về tình hình binh thuyền của ta và của quân Nguyên. Những bản cáo này là công lao của hàng trăm thám tử lành nghề đi thu thập tin tức. Họ đã phải trá hình làm người đánh cá, làm người lái buôn, làm người ngoại quốc và trải trăm nghìn nỗi đắng cay mới mang được về. Nhưng sau khi liếc qua, Trần Quốc Tuấn nhận ra tầm nhìn của những thám tử này không đủ rộng cho nên họ không rút ra được những điều chính yếu.

Để những tờ cáo sang một bên ông từ tốn hỏi Trần Khánh Dư:

- Nói đi. Thuỷ đạo cần cái gì bây giờ?

Trần Khánh Dư biết tính Trần Quốc Tuấn làm việc gì cũng nhanh gọn, Nhân Huệ vương trình Trần Quốc Tuấn về đạo quân dưới quyền ông:

- Quân thuỷ dư thuyền chiến nhưng thiếu nhiều thuyền vận tải. Nhất là những thuyền vận tải loại vừa. Những thuyền này dùng ở ven biển và trong các sông ngòi rất tiện. Thưa anh, xin cho lệnh gấp để đức ông

Tá Thiên đóng sớm.

Trần Quốc Tuấn trầm ngâm:

- Có thể thay bằng thuyền nan được không? Dùng thuyền nan có lợi là dễ làm, tre bương không tốn kém lắm mà sau này khi tan giặc ta sẽ phải dùng tới nhiều gỗ. Nguồn lợi về gỗ không thể hao phí được.
Trần Khánh Dư thấy ngay Trần Quốc Tuấn tính toán đúng.

- Thưa anh, chỗ em có nhiều người biết đan thuyền nan.

- Vậy thì em hãy lập lấy hai xưởng đan thuyền. Ừ, để ta xem nào... Một xưởng nên lập ở cửa An Hưng, còn một xưởng lập ở cửa sông Mã. Ai coi thuỷ đạo cửa sông Mã?

- Thưa anh, đức ông Văn Túc.

- À, con trai của Thái sư. Thằng cháu này biết nhiều nghề khéo lắm. Giao cho y lập xưởng sông Mã.

- Thưa anh, quân thuỷ thiếu nhiều câu liêm. Giáo và kiếm thì đủ, chỉ thiếu câu liêm. Ngoài Vân Đồn không có thợ rèn. Xin cho ít người giỏi nghề rèn để lập lò ngay ngoài đảo.

- Được, em có nhớ viên gia tướng theo hầu ta ở Bình Than không nhỉ?

- Bẩm, Yết Kiêu?

- Không phải, người kia cơ, Dã Tượng cơ. Ta sẽ giao cho Dã Tượng ra ngoài đảo để dạy nghề rèn. Ta cho em mượn Dã Tượng một năm.

Và Trần Quốc Tuấn kể qua về Dã Tượng cho Nhân Huệ vương. Dã Tượng vốn là người của trang Bát Đụn phủ Long Hưng. Trang này là điền trang do An Sinh vương Trần Liễu sau khi đã được triều đình tha tội đã bỏ của ra chiêu tập dân lưu tán về mở điền trang ở Bát Đụn. Lúc đó đất này còn là vùng lầy ven biển trải qua mấy chục năm khai phá, lấy nước sông Hoá dẫn thuỷ nhập điền đến nay đã thành ruộng tốt. Trần Quốc Tuấn đã cho lập ở đây một loạt đồn dân binh, lấy gia đồng thôn Bát Đụn và dân các hương chung quanh đóng để canh giữ hai cửa sông Hoá và sông Sinh. Ngoài số dân binh, Trần Quốc Tuấn còn đặt ở đây một xưởng thuyền chuyên đóng thuyền kiểu Chiêm Thành, loại thuyền lườn thon, mũi nhọn vượt thác rất tốt, và một lò rèn. Người chỉ huy lò rèn ở đây và coi việc xưởng thuyền chính là Dã Tượng. Dã Tượng rất giỏi nghề dạy voi. Anh ta cũng rất giỏi nghề rèn. Dã Tượng chính là cái tên mà bạn bè quý anh ta tặng cho anh ta. Nó có thể giảng ra là voi rừng hoặc người thợ rèn. Vì Dã chính là rèn.

Trần Khánh Dư được Dã Tượng mừng lắm vì viên Phó đô tướng biết Trần Quốc Tuấn thấy việc rèn câu liêm là quan trọng nên mới cho Dã Tượng đi. Trần Khánh Dư đưa trình Trần Quốc Tuấn xem mẫu câu liêm định làm.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM