Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:00:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người Thăng Long  (Đọc 54348 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #70 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:26:57 pm »

- Bẩm đây là mẫu thường dùng ở trên biển của bọn cướp Trảo Oa. Nhưng chúng dùng cán dài hơn. Nay nếu ta dùng thì chỉ cần chọn luồng hoặc tre đực chừng trượng rưỡi là vừa.

Trần Quốc Tuấn im lặng không nói thêm nữa. Ông biết nếu chỉ có bấy nhiêu việc thì Trần Khánh Dư đâu có
chịu về mà về kín đáo trong đêm như vậy.

Quả nhiên, Trần Khánh Dư đắn đo một hồi rồi nói:

- Thưa anh, cách đây ba hôm thuỷ đạo Vân Đồn bắt được một chiếc thuyền gian tế.

Thấy Trần Quốc Tuấn vẫn im lặng, Nhân Huệ vương tiếp.

- Chiếc thuyền này chỉ có ba người. Hai người là phu thuyền đã bị bắn chết ngay khi chặn bắt. Người duy nhất còn lại đã nhai nuốt một phong thơ. Khi quan tuyển phong tra hỏi thì y cắn lưỡi tự tử. Thành thử vẫn không ra gốc tích y là người của ai.

- Em nghĩ thế nào?

- Thưa anh, chiếc thuyền này chắc có hẹn với một thuyền to ở ngoài khơi chờ. Thuyền ba người thì đi biển thế nào được.

- Đúng đó. Sao nữa?

- Bẩm, hắn nhất định đi Trung Quốc vì hành trang của cả ba tên đều có nhiều áo ấm.

Trần Quốc Tuấn đăm chiêu:

- Quần áo của chúng thế nào?

- Bẩm, quần áo sang trọng. Vâng đúng là quần áo nhà sang. Riêng đôi hia bằng nỉ đen thì đúng là hia của các tướng tuỳ thân của các đức ông thân vương.

- Những ai biết chuyện này?

- Bẩm, chỉ bên đồn tuyển phong và em biết. Mà họ cũng không nhận ra đôi hia.

- Vậy thì em không được nói cho ai biết về đôi hia ấy nữa nhé.

Trần Quốc Tuấn sai dọn rượu cho Trần Khánh Dư ăn uống rồi trưa hôm ấy Nhân Huệ vương được lệnh về ngay Vân Đồn. Ở Vân Đồn, Trần Khánh Dư sẽ tra soát xem có những ai sẽ tới trong những ngày nối tiếp sau đây.

Năm ngày sau Trần Quốc Tuấn nhận được cáo mật của Trần Khánh Dư:

“Chỉ có mấy gia tướng của các đức ông Chiêu Minh, Chiêu Quốc và vài người nhà của viên thượng thư nhà vong Tống Tăng Uyên Tử.”

Đọc tờ cáo xong, Trần Quốc Tuấn chau mày suy nghĩ giờ lâu rồi cầm bút viết một thủ thư gửi đức ông Chiêu Minh.

Nửa đêm về sáng, Trần Quốc Tuấn vẫn làm việc trong nhà sách với cậu thư nhi Trương Hán Siêu. Theo sự chỉ dẫn của ông, Trương Hán Siêu đang chép một cuốn sách ra những tờ mẫu để thợ khắc chữ lên ván in. Đó là bản in của cuốn Binh thư yếu lược.

- Không được đá thảo. Cháu chép đá thảo thì đẹp đấy nhưng các tướng sĩ ít được học làm sao đọc được. Mà sách không đọc thông thì còn giá trị gì nữa. Đã gọi thợ khắc lên chưa?

- Bẩm hai hiệp thợ mỗi hiệp sáu người.

- Thưởng trước mỗi người một quan tiền. Thưởng chung một vò rượu ngon và một đôi gà béo. Cho họ nghỉ một ngày. Ngày kia bắt đầu khắc ván. Đã có gỗ mít chưa.

- Bẩm các thứ dùng cho việc in đã sửa soạn từ trong năm.

- Tốt lắm. À còn cụ Uẩn đã vào trong này ở chưa?

Cụ Uẩn chính là ông già bến Bình Than đã cho Chiêu Văn vương thưởng thức món gỏi cá nhớ đời. Ông cụ chính lại là một trong những tay kiếm giỏi ngày xưa đi tuỳ thân theo Hiển hoàng. Trong ngày hội võ mùa xuân năm nay Trần Quốc Tuấn mới biết điều đó. Trần Quốc Tuấn đã thưởng cho ông cụ một chiếc nậm rượu và bảo ông cụ hễ nậm vơi thì cứ việc bảo gia tướng hương Vạn Kiếp rót cho đầy. Trần Quốc Tuấn cũng bảo ông cụ vào thái ấp mà ở.

- Thưa Quốc công ông cụ vào được hai hôm lại xin ra. Ông cụ bảo ở trong này nó làm sao ấy, không ngủ được, ăn cũng không được, người cứ bần thần.

Trần Quốc Tuấn cười:

- Ta cũng vậy. Hồi mới về Thăng Long năm ngoái, ta cũng bần thần mấy tháng mãi sau mới quen dần đi đó.

- Thưa Quốc công còn việc mở khoa thi năm nay?

- Đó là việc của đức ông Chiêu Minh! Cháu muốn lên kinh dự thi à?

- Bẩm không. Cháu xét thấy mình chưa đủ sức thi khoa này.


- Thôi được. Triều đình không hẹp với ai cả. Nếu sau này lúc nào xét mình đảm đương việc nước được thì xin dự thi. Còn bây giờ việc ở Mạc phủ của ta cũng nặng lắm đối với cháu đó.

Tất nhiên việc ở Mạc phủ của Trần Quốc Tuấn rất nặng nề. Có khi còn nặng và trọng yếu hơn việc trong một bộ. Nhưng Trần Quốc Tuấn hiểu lòng Trương Hán Siêu muốn có đỗ đạt để thành danh với người đời. Đó là một cách nghĩ chưa đúng, nhưng cậu bé thư nhi này còn trẻ. Cứ để thời gian sẽ làm cho cậu hiểu dần ra rằng kết quả công việc làm là giá trị, còn thi đỗ, làm quan chỉ là thứ phù phiếm, chẳng qua người đời mới hiểu có một mặt trong cách tuyển chọn người tài của triều đình đó thôi. Muốn chỉ khéo cho Trương Hán Siêu biết điều đó, Trần Quốc Tuấn đọc một lá sớ cho Trương Hán Siêu chép. Sớ tâu vua cử một ông lang lộ Thượng Hồng làm quan chữa thuốc cho đội quân đông bắc. Ông lang này có mấy phương thuốc gia truyền cực lạ. Một là cao dán vết thương. Vừa cầm máu chóng lên da non vừa làm vết thương không sưng tấy nên người bị thương rất dễ chịu. Hai là, ông ta nắn khớp tuyệt giỏi. Ba là một phương thuốc chữa đi tả hiệu nghiệm. Tuy thế nhiều quan ngự y ở kinh sư vẫn coi thường ông ta coi ông ta là thứ lang vườn. Bây giờ sớ tâu vua xin cử ông ta làm chức điều hộ quân trung hàm tứ phẩm hẳn làm cho các quan ngự y phải tức lồng lên.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #71 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:27:33 pm »

Trương Hán Siêu chừng đoán được ý của Trần Quốc Tuấn nên thảo xong sớ nhưng cứ cúi đầu im lặng.
Đã hơn một năm trời, Trần Quốc Tuấn mới có dịp đi thăm thú vườn dâu tằm nhằm dịp tiết xuân. Dâu đầu năm đã hái lứa đầu, lại được bảy tám ngày mưa phùn liền nên lá ra xanh um. Đi trong vườn dâu không nhìn quá được một sải tay. Ông nghe thấy những người con gái trong nhà tằm tang của thái ấp đang vừa hái dâu vừa đùa cợt nhau.

- Ôi chào, đã ba tháng rồi có được trông thấy nhau đâu. Biết người ta có giữ được lòng hay là người ta đã có mối khác.

- Không. Tao biết. Trông anh ta không phải là người bạc đâu. Người bạc trông con mắt cứ láo liên lên chứ.

- Thây kệ. Nhờ giời.

- Con nỡm, giời nào trông nom cho hết những cái tủn mủn ấy. Việc của mày thì mày phải lo.

- Lo cũng chẳng được. Việc quan đến, anh ta cứ phải đi biền biệt. Bây giờ nghe đâu đang ở tận cái nước
Lão Qua nào ấy. Hình như để học bắt voi dạy voi chi chi đó.

Té ra cô này ước hẹn với một người lính nào đó trong đội quân voi của ông. Từ mùa thu năm ngoái ông có cho một trăm người sang Lão Qua để mua voi, và học thêm cách nuôi, cách chữa bệnh cho những con thú dềnh dàng to lớn ấy.

Trần Quốc Tuấn rời vườn dâu sang nhà tằm. Nơi này đang đổ kén. Những né tằm bằng bổi giắt những chiếc kén vàng ươm đang được những tang thất phụ gỡ ra nong. Mấy người đàn bà khác đang kéo tơ. Họ bỏ những chiếc kén vào trong những chiếc nồi nước sôi sùng sục. Khói bốc lên. Một mùi tanh bốc lên. Ở trại tằm, mùi tanh này chính là mùi của vụ tằm bội thu.

Trần Quốc Tuấn rời nhà tằm. Những gia nô đi theo ông không hiểu vị tướng già nghĩ gì mà ngày hôm nay cứ lang thang đi từ bến thuyền qua xưởng thuyền, rồi từ tàu ngựa sang chuồng trâu, rồi lại từ vườn dâu tới nhà nuôi tằm. Trái với ngày xưa, ông không ngừng lại tra soát công việc mà vị tướng già cứ lặng nhìn những gia nô đang làm việc và lắng nghe những câu chuyện không đầu không đuôi ở chung quanh.
Mãi tới xế chiều, ông trở về thái ấp rồi cho gọi Trương Hán Siêu và Yết Kiêu vào. Ông trao việc cho Yết
Kiêu trước:

- Ngày mai ngươi bảo quản trang cấp tiền cho ngươi lên kinh mua vải may áo. Ngươi đem theo hai mươi người lính và hai chiếc thuyền đinh. Quần áo chiến ba nghìn bộ. Hẹn hai tháng phải xong. Tiền nếu thiếu thì lấy thêm ở vương phủ Hưng Đạo.

Ông thưởng trước cho Yết Kiêu và hai chục lính lên kinh mười hai quan tiền.

- Phần nhà ngươi hai quan, còn cứ hai người một quan.

Yết Kiêu đi ra rồi, Trần Quốc Tuấn ngồi yên lặng trước khi ngửng nhìn Trương Hán Siêu:

- Bây giờ phải nghĩ cách chuyển dần các xưởng dệt, chuồng trâu, kho đụn vào trong núi Yên Tử đi. Ngày mai người lấy ngựa vào Yên Tử. Ngươi vào chùa chính bạch với sư cụ trụ trì rằng ta muốn nhờ sư cụ chọn cho một khu kín đáo để trữ lương, một khu nữa để đưa đàn bà trẻ con người già vào làm sẵn nhà ở và trại xưởng sẵn sàng. Khi sư cụ chọn chỗ cho rồi, ngươi trở về lo chuyển dần những cái gì không cần dùng ngay vào trong núi trước.

- Bẩm, Quốc công lại lên kinh?

- Đúng. Mai sớm ta khởi hành.

Trương Hán Siêu nhìn vị tướng già, thấy vầng trán của người hằn sâu thêm mấy nếp nhăn.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #72 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:28:23 pm »

Chương 13

Thấm thoắt đã hai năm qua. Hai mùa đông đã về. Mùa đông năm nay nữa với những ngày nắng hanh vàng suộm và những đêm mưa phùn gió bấc cắt thịt cắt da lại cũng là mùa bội thu.

Hai năm qua, những người dân cày các lộ làm lụng cần mẫn trên những cánh đồng màu mỡ, những gia nô các trang trại ven biển lọc nước chạt, phơi muối, đánh cá và làm cá mắm, những người lính luyện tập bắn cung múa giáo trong Giảng Võ đường. Hai năm qua, các ông Học sĩ thuộc các viện và các đường thảo chiếu, chế, cáo, biểu... phê trát cho liêu thuộc môn hạ.

Trong hai năm ấy Trần Nhật Duật hầu như không có một ngày rảnh rang. Nay ông ở Thăng Long, mai ông đã ra một cửa biển để rồi vài ngày sau đó đã có mặt ở lộ Quy Hoá. Chiêu Văn vương lập Mạc phủ trấn thủ lộ Quy Hoá Giang ở chợ Ngọc bên bờ con sông Chảy. Ông thường mặc áo chiến ngắn vạt bằng vải chàm đi tuần thú trong lộ cùng với các tướng người sơn cước. Tướng quân Hà Đặc và em là Hà Chương, tước Quản quân Phụng ngự các động, các sách ở đạo Phù Ninh thường được Chiêu Văn vương chọn làm tướng theo hầu. Cũng chính từ lộ Quy Hoá, nhiều người được Chiêu Văn vương lựa chọn, đã trá hình lên đường, bí mật vượt ải sang nước giặc. Họ là tai mắt của triều đình. Họ được lựa chọn rất kĩ lưỡng và được đối đãi như bậc quốc sĩ anh hùng.

Trong hai năm ấy, Trần Nhật Duật chỉ làm được có một việc riêng: Đó là việc bãi trồng dâu ở cái làng ven biển nên thơ mà ông yêu dấu. Theo lời tâu của ông, Quan gia hạ chỉ ban lệ Tiệt Cước. Lệ này “cắt chân” những phần đất phong của tất cả các vương hầu, phi tần, phu nhân. Thể lệ này, nếu sông nước bồi đắp thêm cho các bãi bồi thì số đất bãi được bồi đắp thêm ấy sẽ thuộc phần đất công của các làng xã. Tuy thế, Trần Nhật Duật vẫn lấy phần đất của mình ở bãi sông Cơ Xá ngay cạnh kinh thành Thăng Long để bù cho bà cung phi triều trước.

Hôm nay một buổi sáng hanh giá, Trần Nhật Duật dẫn một đội quân riêng trở về đến kinh thành. Đội quân của ông được lệnh của phủ Tiết chế đóng lại ở rừng bàng phía bắc Thăng Long. Tuy rừng bàng xa Thăng Long mấy chục dặm đường nhưng người kinh thành vẫn rủ nhau lên để xem đội quân kì lạ của đức ông Chiêu Văn.

Rừng bàng vào những ngày này đang trút lá. Cây đã phô bộ cánh gân guốc còn sót lại những chiếc lá cuối cùng màu tím đỏ.

Hồ Dâm Đàm phủ một làn sương mỏng. Bóng thuyền của những người đánh cá lờ mờ, huyễn hoặc như trong một tích truyện xưa. Gió bấc hun hút. Trời lạnh lắm.

Nhưng từ sáng sớm những người lính của Chiêu Văn vương đã làm náo động cảnh rừng già tiêu sơ. Họ gom lá bàng khô, nhóm lửa đốt sưởi. Khói lam đặc toả ra mù mịt. Lính hoả đầu khoét bếp thổi cơm. Chỗ này một đám vật lợn, chỗ kia một đám làm thịt trâu. Lính các đô đã mang quang thúng đứng chực sẵn để chia thịt. Họ chuyện trò vui vẻ bằng nhiều thứ tiếng sơn cước. Họ mặc nhiều kiểu áo chiến khác nhau may bằng vải nhuộm chàm. Họ đi những đôi dép cỏ gọn nhẹ đan lấy. Có những người đeo vòng vía ở tay, có người đeo ở cổ. Thật là những người lính chất phác và dũng mãnh. Họ dùng những thứ binh khí rất lạ: những lưỡi kiếm mỏng chuôi gỗ, vỏ gỗ, những lưỡi giáo ngắn, những cây dòng sắt hai ngạnh ngược chiều, những chiếc nỏ cánh luồng hun đen bóng, những ống suy đồng bắn những mũi tiêm thuốc độc. Thỉnh thoảng trong lúc đi lại, ống quần chàm bay lên để lộ chót bao dao găm đeo sát bắp chân họ. Nhưng họ cũng là những người lính thật tài hoa. Họ có những bộ lục lạc đồng thau đeo ở cổ tay, khi hai tay họ rung lên, tiếng lục lạc ròn tan, rậm rựt. Có người thổi kèn lau, có người thổi tiêu trúc, có người gõ bộ trống sáu chiếc. Họ chơi những khúc nhạc rất vui, trong khi đó một điệu múa thoáng nhìn tưởng như chậm chạp đã diễn ra trước những cặp mắt say mê của người kinh thành.

Chiêu Văn vương giao quyền chỉ huy đội quân cho viên phó quan rồi dẫn một ngũ lính hộ vệ cưỡi ngựa về kinh thành. Ông về qua phủ đệ Chiêu Văn để thay áo tiến triều. Đến vương phủ, Chiêu Văn vương xuống ngựa. Viên tì tướng coi việc canh giữ cổng phủ mừng rỡ ra lệnh đánh mộc đạc báo cho mọi người trong phủ biết tin mừng vương gia đã trở về. Tiếng mõ nổi ran lên, lính gia đồng, thư nhi và kẻ ăn người làm reo mừng ra cổng lớn đón Chiêu Văn vương. Trần Nhật Duật đi vào rất nhanh. Ông hỏi lớn:

- Quản gia đâu? Sao chính đường lại đóng cửa im ỉm thế kia? Mở ra, mở tất cả cửa ra!

Vừa đi, Trần Nhật Duật vừa ra lệnh. Ông sai sắp gạo rượu bò lợn đem lên rừng bàng khao thưởng đội quân sơn cước đã giữ vững bộ ngũ trên đường về kinh. Ông sai sắp ban chiêng trống để dạy quân sơn cước nhạc quân. Ông sai hái hoa cắm vào các lọ trong chính đường, sai thay các rèm lụa bằng rèm gấm thổ, sai thị nữ sắp áo chầu, sai sửa tiệc cho cả vương phủ ăn mừng chủ đi xa về khang kiện. Thế là cả bấy nhiêu người chuyển vận như đèn cù. Vương phủ Chiêu Văn náo động, vui vẻ.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #73 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:29:02 pm »

Khi vào chính đường, Chiêu Văn vương chợt đứng sững lại. Ông thấy một đám người đứng chực hầu. Đứng trước là Hoàng Mãnh, Trịnh Mác. Điều này cũng không lạ, chắc vì hai viên tướng này theo Chiêu Quốc vương dẫn cánh quân sông Đà về kinh. Nhưng đằng sau hai người là cha con Mơ cùng với ba bô lão tóc bạc phơ.

Họ vái lạy cung kính:

- Kính lạy đức ông, kính chúc đức ông thiên tuế!

Trần Nhật Duật vội đáp lễ và sai gia đồng mang đôn mời các bô lão ngồi.

Thị nữ mời trà, mời trầu. Trần Nhật Duật bắt thị nữ phải giã ba miếng trầu thật nhỏ để riêng mời các bô lão. Ông câu đương họ Trương thưa:

- Kính lạy đức ông, dân bản xã chúng tôi đồng thanh cử ba cụ đây đem đầu đến tạ ơn đức ông đã ban cho miếng no miếng ấm.

Ba cụ đùn đẩy nhau, cuối cùng ông cụ cao tuổi nhất phải đứng ra nói bằng một giọng thành thật chất phác:

- Thưa đức ông, lão là người già nhất làng. Lão được cả làng cử lên kinh xin đức ông cho tên tuổi chức tước để đem về làng thờ.

Trần Nhật Duật giật mình vừa cảm động vừa buồn cười mà không tiện cười. Ông hỏi lại tên tuổi các cụ. Ông cụ già nhất đã tám mươi tư tuổi, người làng quen gọi là cụ đồ Bành mặc dù ông cụ chưa hề dạy học cho một ai cả. Hai cụ kia trên bảy mươi tuổi, đều là những lão nông mang những cái tên hết sức dân dã: cụ Mừng, cụ Cót. Trần Nhật Duật vừa hỏi han các cụ vừa muốn lảng khéo cái chuyện xin tên tuổi để lập bài vị thờ sống đi. Với ông hoàng trẻ, cái chuyện ấy thật hài hước.

Ông bảo Hoàng Mãnh đưa các cụ đi xem phố phường kinh thành. Sau đó, Trần Nhật Duật thay triều phục vào cung. Cổng thành có treo biển “Miễn triều” nhưng Trần Nhật Duật là thân vương có biển “Nhập nội” vua ban nên vẫn vào cung được. Ở cửa nội cung Trần Nhật Duật gặp quan tướng Nguyên suý trấn điện Bảo Nghĩa hầu. Hai anh em vái chào nhau. Bảo Nghĩa hầu cho biết hai vua đang bàn việc với các đức ông Chiêu Minh và Hưng Đạo trong cung Thánh Từ. Trần Nhật Duật còn đang lưỡng lự không biết mình có nên vào cung chầu hầu không thì một viên quan nội giám ra tuyên chỉ Nhân Tông cho gọi ông. Thì ra mỗi ai qua cửa Đại Hưng, các quan trấn điện đã tâu vua biết ngay rồi.

Trần Nhật Duật sụp lạy hai vua làm lễ triều kiến. Trần Nhân Tông ban đôn gấm cho ông ngồi chầu hầu. Thượng hoàng Thánh Tông nói:

- Em Sáu đến vừa hay. Em biết tin giặc xuất quân chưa?

- Thưa anh, giặc gọi loa trên đường từ hành doanh Kinh Hồ về cho tới biên giới nước ta, ra lệnh cho quân dân nước chúng chữa đường chữa cầu để đạo quân viễn chinh đi đánh Chiêm Thành.

Thượng hoàng nhìn em mỉm cười:

- Vậy à?

Trần Nhật Duật cũng mỉm cười.

- Thưa anh nếu chỉ có vậy thì giặc quá ư hèn nhát.

Nhưng rồi cả hai nụ cười cùng tắt trên môi hai anh em. Trần Nhật Duật đưa mắt rất nhanh. Vẻ đăm chiêu thoáng vần trên vầng trán của tất cả những người có mặt. Trần Quang Khải hỏi Trần Nhật Duật về thế giặc. Là một trong mấy đức ông được vua giao mệnh theo dõi từng cái nhấc chân nhấc tay của giặc, Trần Nhật Duật nhận biết được mối hoạ xâm lăng cực kì hiểm nghèo đang đe doạ giang sơn xã tắc. Giặc động binh năm chục vạn người cả lính lẫn phu. Đây là một đạo quân lớn do những tướng độc ác và thông thạo trận mạc chỉ huy. Âm mưu của chúng là chiếm lấy đất Việt chia thành quận huyện, đặt ách đô hộ lâu dài. Âm mưu này có cả cái khát máu của những bộ tộc du mục chỉ biết làm cỏ và phá sạch lẫn cái thâm độc của bọn vua chúa Trung Quốc luôn luôn giương danh “con trời”, sinh ra để đè đầu cưỡi cổ các dân tộc khác.

- Giặc đánh ta chứ không phải để tiếp viện cho đạo quân của chúng ở Chiêm Thành. Nếu đúng như vậy, chỉ vài ngày nữa, chúng sẽ cho sứ giả sang ta mượn đường và vay lương.

Trần Thánh Tông trỏ ngay vào mớ giấy trên long án:

- Còn sẽ gì nữa: Thư Thoát Hoan đã đến Thăng Long từ hôm qua. Chúng ta đang bàn kế đối phó với chúng đây.

Trần Nhật Duật trợn mắt nổi giận:

- Thằng nhãi nhép miệng còn hơi sữa mà đã dám láo xược vậy sao!

Ông tâu vua những tin tức lượm lặt được về quân giặc. Những tin tức này do những do thám gan dạ trá hình làm lái buôn người Đại Lý đã đem về cho ông. Thoát Hoan đã lên đường hơn một tháng nay nhưng quân Thát Đát lần này phải tiến theo kiểu cuốn chiếu vì chúng đem theo nhiều lính đi bộ và các chiến cụ nặng nề dùng để công thành và vượt sông. Ngoài số quân kị là người Thát Đát, phần lớn đạo quân này gồm quân bộ và quân thuỷ đều là người Hán phương Nam. Nguyên chúa đã sai một thân vương xuống Kinh Hồ hành tỉnh phủ dụ bọn quân tướng xuất chinh và đặc cách giao cho Trấn Nam vương Thoát Hoan ngọn giáo vàng truyền quốc.

- Thưa anh, ngọn giáo này đúc bằng vàng nữ trang của các hoàng hậu, phi, tần những nước đã bị quân Thát Đát làm cỏ. Trao giáo cho Thoát Hoan có nghĩa là ra lệnh cho thằng này đập tan nước Việt ta.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #74 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:29:43 pm »

Trần Nhật Duật lần lượt nói những điều hiểu biết của ông về đạo quân xâm lược. Trần Quốc Tuấn cũng nói những tin tức thu được bằng đường biển và đường đông bắc. Tất cả đã minh chứng rằng cuộc chinh chiến ắt phải xảy ra. Trần Nhật Duật tâu:

- Tâu bệ hạ, cái thế không thể tránh khỏi chiến tranh rồi, xin bệ hạ xuống chiếu cần vương.

Trần Quang Khải nói:

- Chúng ta đang bàn việc đó thì em đến. Đây là sớ của Đức ông Tiết chế.

Trần Quang Khải đưa lá sớ của Trần Quốc Tuấn cho Chiêu Văn vương. Trần Nhật Duật đón lá sớ mở rộng ra đọc. Vẻ mặt chăm chú của ông mỗi lúc mỗi hào hứng, mừng rỡ. Trần Quốc Tuấn bằng những lời đanh thép đã vạch trong sớ kế sách phá giặc: Lấy núi sông làm thành luỹ, huy động cả nước làm binh! Trăm họ nước Việt sẽ vun góp ý chí chung thành một toà thành vững chắc không gì phá nổi. Trần Quốc Tuấn tâu vua cho triệu mỗi hương một bô lão tuổi cao đức trọng về kinh để vua dụ hỏi.

Trần Nhật Duật vốn sáng ý. Ông hiểu ngay rằng cuộc triều hội của bô lão cả nước vừa làm bền chặt ý chí quyết thắng của triều đình vừa tuyên dụ ý chí đó trở về trăm họ. Chợt nhớ tới mấy bô lão châu Ái đang ở chơi trong vương phủ Chiêu Văn, Trần Nhật Duật càng thấu hiểu rằng cần phải có sự gắn bó giữa triều đình với trăm họ. Chiến chinh sẽ diễn ra dữ dội trên đất nước, tình nghĩa keo sơn của cả nước sẽ là nền tảng cho mối đại thống họ Đông A và mệnh trời giao cho họ Đông A phải giữ cho vẹn toàn đất nước.
Ông đứng dậy, hướng về phía Trần Quốc Tuấn kính cẩn vái hai vái:

- Họ ta thật đại phúc. Anh trưởng quả là thanh kiếm thần trời ban cho nước Việt để giữ nước.

Sự sôi nổi và thành thật của Trần Nhật Duật làm cho Trần Quốc Tuấn phải đứng dậy lúng túng đáp lễ.
Sau đó, Trần Quang Khải đích thân thảo chiếu thay lời vua Thánh Tông cho triệu mỗi hương một cụ bô lão đức trọng nhất về kinh triều hội để nhà vua hỏi về việc lớn của đất nước.

Đến sẩm tối hôm ấy, Trần Nhật Duật sau khi ăn cơm xong, chợt thấy lòng vẩn vơ bồi hồi như tưởng nhớ tới một thói quen nào đó bị bỏ quên chưa làm. Thoạt tiên ông nghĩ rằng sự có mặt cô gái vùng biển ở Thăng Long đã làm cho lòng ông xốn xang bồn chồn. Nhưng sau khi mình lại hỏi mình, Trần Nhật Duật thấy không phải đấy là nguyên cớ. Với Mơ, lòng ông đã trầm lắng xuống, lòng ông đã vào cõi sâu xa, có tình nhưng có nghĩa, có ước hẹn ba sinh dù cho bảy nổi ba chìm. Ông đã hiểu rằng về sau này dù hai người có gặp gỡ
nhau hoặc chia tay nhau đột ngột đến đâu chăng nữa thì lòng ông vẫn giữ được yên bình.

Thế rồi Trần Nhật Duật nghĩ rằng lòng mình bồn chồn vì cuộc gặp gỡ với Hoàng Mãnh quá ư ngắn ngủi chăng? Nhưng nghĩ kĩ thì cũng không phải vì thế. Người đời thường tô vẽ quá mức sự gắn bó âm dương giữa hai anh em đồng nhũ đồng tuế. Sự gắn bó đó có thật nhưng đâu đến nỗi làm lòng người bồi hồi đến thế! Mà Hoàng Mãnh đi đâu tối nay ông cũng đã biết. Chính ông là người đã bảo Hoàng Mãnh đưa Trịnh Mác đi uống rượu nghe hát trên một con thuyền nào đấy thả lửng lơ trên sông Tô Lịch.

Mùa đông trăng lạnh, uống rượu bên một hoả lò than rừng rực trong khi đó gió bấc bên ngoài mui lá thổi rít lên thì tuyệt thú. Nếu không bận nhiều việc quá thì đêm nay ông cũng mặc áo thường đi chơi với hai gã ấy rồi.

Nếu không phải vì vắng mặt Hoàng Mãnh và Trịnh Mác thì là vì ai? Chiêu Quốc vương! Đúng rồi. Vì thiếu Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc.

Thôi đúng rồi. Tất cả những lần trở về Thăng Long trước đây mỗi khi đi xa, bao giờ Trần Nhật Duật cũng đến thăm Chiêu Quốc vương. Những ngày sau đó là những cuộc du hí diễn ra liên miên với hai người: một cuộc đua ngựa ngoài bãi sông để thử sức một con ngựa non nào đó, một cuộc săn đuổi bằng chó săn, hai phủ Chiêu Quốc và Chiêu Văn có những đàn chó sát thú lạ thường, đi săn với những con chó quý ấy là một thú mê mẩn đến quên ngày quên buổi: hoặc một cuộc cờ để thử lối xuất quân mới; một sớm vãn cảnh chùa ngắm các công nương đi dâng hương, một bữa rượu lầm lì, một trận cầu náo động... Gặp nhau, du hí với nhau... phải chăng đó là điều làm ông bồn chồn như người đến cơn nghiện?

Không phải. Không phải thế. Ông bồn chồn vì ông cảm thấy mình đang như người sốt vỡ da. Những người sốt vỡ da, sau những cơn lâm bệnh ấy hay có những thay đổi về thể chất và về tâm tính ông cảm thấy mình hình như đang có những thay đổi tương tự. Nhưng ông chưa hiểu, chưa mường tượng được mình sẽ thành một người như thế nào. Và đàng sau cảm xúc mơ hồ ấy, phảng phất một nỗi lo âu về những thay đổi sau một cơn sốt vỡ da của một người mẹ với đứa con. Ôi những nỗi lo âu của một bà mẹ có linh cảm kì diệu!

Thực ra, điều ông không tìm ra được chính là vì sự thay đổi của ông biểu hiện sự tách rời dần dà giữa ông với vùng ảnh hưởng của tính cách Chiêu Quốc vương. Nó cũng là sự lớn mạnh về tính cách của ông, sự lớn mạnh nhằm vươn tới một tâm tính riêng biệt trí lự.

Không muốn ngồi suy nghĩ mung lung nữa, Trần Nhật Duật sai gia đồng thắp đèn lồng theo mình ra chơi phố. Ông ra bến Đông, lấy thuyền của quân thuỷ để sang sông đến rìa rừng đa. Nơi ấy có một trại quân bí mật thuộc quyền coi quản của ông. Đó không phải là một trại quân bình thường mà nó là một trong mấy trạm chỉ huy phong đoàn, thứ quân coi giữ việc tuần sát lùng bắt bọn gian tế và gián điệp của giặc phái sang trà trộn để dò la binh dân bên ta.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #75 vào lúc: 02 Tháng Tư, 2011, 08:30:31 pm »

Trần Nhật Duật đến trại lúc canh hai đã sắp hết nhưng ở đây người ta vẫn thức để làm việc công. Viên tì tướng giữ trại ra đón Trần Nhật Duật và đưa ông vào ngôi nhà lá cuối trại.

Trần Nhật Duật bước vào căn phòng nhỏ. Trong phòng có hai người mặt mũi lẫn quần áo đều kì dị đang ngồi lim dim trên chiếc chiếu cói trắng. Họ ngửng nhìn và nhận ra đức ông Chiêu Văn, họ vui mừng giơ hai tay úp mu xuống và cúi lạy Trần Nhật Duật. Đó là hai người Hồi Hột già, lái buôn chè và hương liệu rất thông thạo con đường từ Đại Đô qua Tây Trúc đến tận những nước xa lạ phương Tây.

Trần Nhật Duật đáp lễ, ông ngồi xuống chiếu trước mặt hai người lái buôn Hồi Hột. Ông dùng tiếng Hồi Hột nói chuyện với họ. Quân hầu bưng vào những đĩa bánh và hoa quả. Theo tôn giáo Hồi Hột, họ không uống rượu, không uống trà chỉ uống nước lã. Hai người Hồi Hột này vốn đã đi buôn bán nhiều lần sang nước ta. Những lần ấy Chiêu Văn vương vẫn giúp đỡ họ, che chở cho họ khi họ ở Thăng Long và cả trên đường đi đường về của họ cho nên hai người lái buôn ấy rất nhớ ơn Trần Nhật Duật. Hồi đầu năm nay, họ nhận lời giúp Chiêu Văn vương trong việc dò xét động tĩnh mặt nước Đại Lý xưa. Nơi ấy bây giờ là một tỉnh của Trung Quốc. Nguyên chúa Hốt Tất Liệt giao cho con trai mình là Hốt Kha Xích làm trấn thủ và đặt tên tỉnh là Vân Nam. Vì thế vương hiệu của Hốt Kha Xích là Vân Nam vương.

Một người Hồi Hột nói:

- Ô! Tướng Ô Man đã dựng nêu. Trai tráng Ô Man đã cầm giáo đến họp ở chân nêu. Đó là ý muốn của Thượng Đế.

Họ nói rất nghiêm trang, cách nói kiểu cách hô hoán như cách gọi gió gọi mưa của một pháp sư. Họ kể rằng quân Ô Man đã lên đường xuống phía tây bắc nước ta, một cánh quân bộ không đông lắm nhưng rất thông thạo việc đánh nhau ở trong rừng núi. Trần Nhật Duật hỏi viên tướng cầm đạo quân ấy tên là gì nhưng hai người lái buôn này không biết. Ông lại hỏi cánh quân ấy có bao nhiêu người thì họ trả lời là có mười tướng to chỉ huy một trăm tướng nhỏ, mỗi tướng nhỏ chỉ huy mười tên lính Ô Man. Mỗi người lính lại có một tên phu người Hán tải gạo, tải cỏ khô, cá thịt khô và chiến cụ.

Một người Hồi Hột nói tiếp:

- Ô. Những người phu họ khổ lắm, roi vọt, trăng trói, ăn không đủ no, mặc chiếc áo rách mà đi không biết ngày về. Mà cha mẹ vợ con họ còn khổ hơn.

Trần Nhật Duật nhíu mày suy nghĩ. Thế là mặt này, giặc có một vạn quân Ô Man và một vạn phu. Đám quân Ô Man này có sở trường và sở đoản. Chúng đánh bộ và trèo núi giỏi nhưng không quen khép mình vào quân kỉ. Lúc thắng thế thì chúng đánh tràn đi như nước vỡ bờ, lúc thất thế thì lại xô nhau, giày xéo lên nhau cướp đường mà chạy. Trần Nhật Duật đã từng đi tuần thú ở biên giới tây bắc, ông đã đứng trên đồn cao nhìn sang bên kia biên giới xem lính Ô Man tập trận. Chúng tiến, lui theo hiệu chiêng không gắn bó được đội ngũ nhưng về bắn nỏ thì đó là những tay nỏ giỏi ghê gớm. Chúng lại thiện nghệ món mộc mây ken và kiếm ngắn. Kiếm Ô Man là một loại kiếm rất mỏng, hơi cong, rất nhẹ và sát thương đối phương nhờ ở đường kiếm đi thật nhanh. Nói về chiến đấu ở vùng rừng rậm thì kiếm và mộc mây chính là loại vũ khí thích hợp nhất.

Ngoài ra lúc tiến quân có thể chúng sẽ dùng thêm một vài ngàn quân kị dùng thứ ngựa Đại Lý thấp nhỏ nhưng chân chắc đi đường núi dai sức, không sợ bóng cây ánh đá. Hai người Hồi Hột còn nói thêm là đội quân bộ của giặc chỉ có một số ít ngựa dùng của các tướng nhưng chúng lại có nhiều lừa, một giống lừa thấp nhỏ, chạy chậm nhưng bền sức và chúng chuyên dùng để thồ chiến cụ và lương thực.

Đó là đối thủ tương lai của Trần Nhật Duật ở mạn Quy Hoá. Chúng không phải là lũ giặc tầm thường, nhưng dù sao đây cũng chỉ là mũi tiến công phụ và chẳng những không có một đội kị binh Thát Đát làm lõi cốt mà tướng giỏi cũng không có nốt. Bởi vì nếu có tướng giỏi nổi danh thì những người lái buôn Hồi Hột này phải biết rõ tên của chúng.

Sự so sánh mạnh yếu với đội quân của giặc làm cho Trần Nhật Duật hơi tiếc. Thế là ông không có dịp chọi nhau với bọn kẻ cướp nổi danh và kẻ thù truyền kiếp hung hãn thâm hiểm nhất để xem cái danh tiếng vô địch quân “thiên triều” của chúng là thực hay hư.

Trần Nhật Duật lại sai quân hầu bưng ra hai tảng trầm hương và hai túi sạ tặng cho hai người lái buôn Hồi Hột. Ông từ biệt họ và ra ngoài căn phòng nhỏ. Ông đến một dãy nhà khác của trại quân ở giáp dãy tường hậu. Chỗ này là nơi ở của Triệu Trung, viên hổ tướng nhà vong Tống. Viên tướng này biểu thị một tấm lòng yêu thật tha thiết những người Hán bần hàn và cũng vì vậy Trung căm thù bọn thống trị Trung Quốc, Trung hăm hở lập công trong một đội quân Việt. Trần Nhật Duật bàn việc suốt đêm với Triệu Trung về kế sách hành binh ở miền rừng, về việc thông hiệu trong đêm tối hoặc khi có sương mù, về những đòn tấn công sẽ dùng để đánh vào lòng mê tín dị đoan của bọn quân tướng Ô Man quá ư lạc hậu.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #76 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:02:12 pm »

Chương 14

Từ mười chín tháng chạp, bô lão nhiều hương đã về đến kinh thành theo chỉ tuyên triệu của Thượng hoàng. Hương Hoằng cử cụ Bành thay mặt. Cụ Bành vừa tới kinh thành thì Chiêu Văn vương đã sai gia tướng đón ông cụ về phủ đệ khoản đãi và ở đấy chờ đến ngày đại hội tiến triều. Chiêu Văn vương cũng muốn qua cụ Bành, tìm hiểu lòng người ở cái hương xinh đẹp ven biển thân thiết với ông.

Cụ Bành lần này lên kinh thành mang theo nhiều món lễ vật của dân hương Hoằng biếu Chiêu Văn vương: bóng cá thủ, vây cá, mực Thanh, nước mắm vò đầu thơm sánh, đều là hải sản quý. Dân hương còn cho mang lên một chiếc áo lụa màu tía để xin Chiêu Văn vương đổi cho một chiếc áo khác ông đang mặc. Chiêu Văn vương hiểu rằng sau khi ông không chịu cho tên tuổi, dân hương Hoằng lập mẹo lấy cho được một chiếc áo có hơi hướng của ông để đem về thờ trong đình làng. Nhưng cầm chiếc áo lụa tía lên xem kĩ, Trần Nhật Duật chợt thấy lòng bồi hồi.

Chiếc áo được may rất khéo, đường kim mũi chỉ chẳng những của một cô gái có bàn tay kì diệu mà rõ ràng người may áo đã dùng cả tơ lòng mình vào công việc đó. Ông dùng gang tay đo thử cổ áo, vai áo. Ông chợt mỉm cười kín đáo. Người may áo đã không đo người ông mà sao chiếc áo đúng kích thước đến thế. Đôi mắt Chiêu Văn vương thoáng láng ướt. Hồi đầu tháng chạp này, nhân một buổi lên phường Yên Hoa tra soát những người ngoại quốc an tháp ở đấy, ông đã giục ngựa đi thêm một đoạn đường nữa để đến vãn cảnh chùa làng Nghi Tàm. Ừ, phải rồi, hôm ấy là mùng một tháng chạp, người kinh thành theo đạo Phật đi lễ các chùa, dâng hương, niệm Phật... Bấy giờ đã gần trưa, chùa Nghi Tàm yên lặng soi bóng xuống mặt nước hồ Dâm Đàm phẳng lặng như mặt gương. Trần Nhật Duật để những người tuỳ tùng lại trên đê, ông đi qua sân chùa trên. Mùi hương trầm ngào ngạt, tiếng mõ trầm mạc, tiếng tụng kinh của một lão ni mơ hồ như từ Thiên Trúc đưa về làm cho Trần Nhật Duật cảm thấy như mình đã trút tất cả bụi đời. Chùa trên rất sâu nên ánh sáng yếu. Trần Nhật Duật đứng một lúc mới quen mắt. Ông nhận ra đằng sau lão ni ngồi tụng kinh, có một người con gái chân ngồi xếp thẻ đang thành kính chắp hai tay khấn khứa. Người con gái ấy là Mơ. Không có một sự hò hẹn nào trước cả nhưng hai người không cảm thấy đột ngột chút nào và cũng không hề lạ lùng chút nào ở cuộc gặp gỡ này. Hình như họ yên trí con tạo đã hiểu lòng họ và vạch sẵn đường đời đôi bên đi phải gặp nhau. Mơ khẽ khàng bước ra khỏi chiếu, xỏ chân vào đôi dép cong.
Vườn sau chùa Nghi Tàm nhìn chéo ra khoảng hồ Dâm Đàm rộng mênh mông. Sương bay là là trên mặt nước chỉ hơi gợn sóng. Những con sít, những con sâm cầm vừa ngụp lặn kiếm ăn vừa đuổi nhau, ghẹo nhau.

- Kính lạy đức ông, mai sớm em xuôi thuyền về phủ Thiên Trường. Em chúc đức ông ở lại được an khang.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #77 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:03:01 pm »

Trần Nhật Duật dịu dàng nhìn cô gái, ông muốn dặn dò cô gái rất nhiều, ông muốn bộc bạch lòng ông nữa nhưng không hiểu sao ông chỉ nói rất ít.

- Bọn giặc tràn xuống đến nơi rồi, mọi việc là hẵng tạm xếp lại đã. Mong em hiểu lòng ta.

Mơ chảy nước mắt, những giọt nước mắt vừa xót xa vừa sung sướng. Trần Nhật Duật tháo trong ngực áo ra một chiếc khánh vàng. Đó là chiếc khánh ông đeo từ năm lên một tuổi. Mặt khánh chạm bốn chữ rất tinh tế: “Chiêu Văn đồng tử”. Ông đưa chiếc khánh cho Mơ.

- Cái này của mẹ cho. Em giữ lấy nó cũng như giữ lời nguyền của ta.

Hôm sau, cô gái lên thuyền xuôi hương Hoằng. Bây giờ thấy trong lễ vật bày ra trước mặt có chiếc áo lụa tía may rất khéo, Trần Nhật Duật chợt thấy lòng bồi hồi. Ông nói với cụ Bành:

- Thôi được! Mọi việc sẽ đâu có đó. Bây giờ cụ cứ ở đây. Triều hội chưa đến ngày. Cụ cứ ăn cơm, uống rượu rồi đi thăm phố phường cho biết.

Ông lại sai gia nô đưa cụ Bành đi thăm phố phường Thăng Long. Ông bảo quản gia đưa tiền cho người dẫn đường đưa cụ Bành đi và dặn hễ cụ xem ra thích cái gì thì cứ việc mua luôn biếu cụ. Ông cũng sai mua the màu đại hồng may cho ông cụ một chiếc áo dài tay thụng để làm áo tiến triều. Và, mặc dù cụ Bành chưa phải cậy đến một cây gậy chống, Chiêu Văn vương vẫn sai gia nô đi kén ở phường Tàng Kiếm một cây gậy trúc đùi gà đẹp tuyệt trần. Chiếc gậy có bịt mấy vòng khâu bạc chạm chữ thọ.

Nửa đêm ngày mười chín, có chỉ vua kèm thẻ phù vàng chạm chìm hình hai đầu hổ triệu Chiêu Văn vương vào cung. Vua Nhân Tông trao cho hai anh em Chiêu Minh, Chiêu Văn hai trọng trách. Đức ông Chiêu Minh sẽ là quan tướng điển nghi coi về mọi mặt lễ tiết trong buổi triều hội long trọng sắp tới. Đức ông Chiêu Văn là quan tướng trấn thủ kinh thành trong những ngày trước, đang và sau cuộc triều hội. Quyền trấn thủ kinh thành bao gồm việc sắp xếp đặt nơi ăn chốn ở cho các bô lão bốn phương, việc định chỗ đóng quân cho các vương hầu các lộ về dự triều hội, việc phòng giữ và yên dân, việc phòng cháy và nạn trộm cắp... Nhưng thú vị nhất là công việc trấn áp quán sứ của gã Đạt Lỗ Hoa Xích. Bây giờ không còn là lúc phải dè nể gì thằng này nữa. Nhân Tông muốn nhân dịp này mượn mồm tên Đạt Lỗ Hoa Xích để nhắn với Thoát Hoan câu trả lời của nước Đại Việt: Sẵn sàng giáng như sấm sét bất kì bọn giặc xâm lăng nào! Ý muốn của Nhân Tông có đôi chút xốc nổi nhưng các đức ông Chiêu Minh và Chiêu Văn cũng chiều ý cháu mình.
Thế là ngay sáng hôm hai mươi, Chiêu Văn vương ra lệnh cho Dã Tượng, viên chỉ huy đội tượng binh của phủ Hưng Đạo, đem một đàn voi bốn mươi tư con đến buộc ở bãi cỏ bên cạnh quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích. Những con voi trận gầm gừ cả ngày. Chúng kéo lê xích chân kêu loảng xoảng. Chốc chốc chúng lại ré những tiếng như gọi bạn rừng xa xôi. Tiếng voi ré làm cho đàn ngựa trong tàu của quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích sợ cuống lên. Chúng cắn thừng, giằng thừng, đá vào dóng gỗ chắn cửa chuồng ầm ầm. Những thằng dũng thủ Thát Đát đứng trong hàng rào nứa của quán sứ hầm hầm nhìn ra. Những thằng thơ lại Hán thì chửi đổng bằng thứ tiếng ngọng líu ngọng lô. Thoạt đầu chúng định cho người ra đuổi đội tượng binh đi, nhưng sau Buyan Têmua nhìn thấy những tốp kị binh thương giáp sáng loà đi tuần, Buyan Têmua đâm ra sợ. Gã Đạt Lỗ Hoa Xích đã hiểu rằng việc buộc voi bên cạnh quán sứ không phải là do viên tiểu tướng chỉ huy đội voi mà là do lệnh từ cao hơn thế nhiều đưa xuống, vậy thì có nói cũng chẳng ăn thua gì. Hơn nữa ngay sáng hôm ấy, Buyan Têmua được tin quan tướng trấn thủ kinh thành đã nã bắt tất cả những kẻ vẫn thường ra vào quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích. Gã Đạt Lỗ Hoa Xích mới đầu sửng sốt rằng tại sao cái lũ “An Nam” man mọi này lại dám chống lại “thiên triều”. Hắn tự nói thầm rằng từ xửa từ xưa tất cả các lũ Man, Di, Địch, Phiên chống lại “thiên triều” là chỉ có chết, nước mất nhà tan, chỉ trừ... à, trước hết hãy trừ ra cái bọn rợ Đột Quyết, cái bọn này đã cho “thiên triều” bao phen nghiêng ngửa. Ừ, rồi thì lại phải trừ cái bọn Nữ Chân cũng làm cho “thiên triều” khốn đốn, rồi đến năm cái bọn rợ Phiên, rồi đến cái bọn đã bắt cả hai vua Tống bắt đem về giam trong một cái giếng cạn, thí cho một mớ giẻ rách mà che thân chống lại cái lạnh băng tuyết của rừng cây lá tùng phương bắc, chúng đã làm hai vua Tống quên mất mình là phận trời giao, thân là con trời. “Thiên tử” đâu phải chuyện chơi. “Thiên tử ” là vua của tất cả các vua, là vua của tất cả mọi dân tộc, là cha của cả thiên hạ, kể cả cái lũ đông Địch, bắc Phiên, tây Di, nam Man cũng phải là con đỏ của “thiên tử”. Nó giam vua Tống tức là giam bố chúng nó.

Nhưng mà cứ phải trừ ra, trừ ra... như thế nhiều quá. Cái lũ man di mọi rợ này sao mà đông quá lắm thế. Chúng thời nào cũng làm cho “thiên tử” đau đầu. Lần này không khéo cái bọn “Nam Man” này cũng lại làm cho “thiên tử” đau đầu một lần nữa chăng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #78 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:04:07 pm »

Có một điều chắc chắn rằng Buyan Têmua đau đầu. Gã Đạt Lỗ Hoa Xích vội sai một tên thư lại thảo một bản cáo để gửi về nước. Đề phòng bản cáo lọt vào tay quan tướng nước Việt, Buyan Têmua sai viên quan thông đạt phải học thuộc lòng bản cáo, còn bản cáo thì đốt ngay trước mặt Đạt Lỗ Hoa Xích. Chiều ngày hai mươi, Buyan Têmua cho viên thông đạt cầm thẻ phù sơn đỏ chạm rồng của Nguyên chúa lên đường về nước. Nhưng tên này chưa đi hết địa phận kinh thành Thăng Long thì đã bị bắt ở bên kia bến Đông. Tên này bị lôi đến trước mặt quan tướng trấn thủ và hắn đã trổ tài học thuộc lòng để mong được Chiêu Văn vương tha tội chết. Bản cáo thế là đến tay các tướng giữ các trọng trách của triều đình nước Việt.
Chiêu Văn vương cười nói với Hoàng Mãnh:

- Thật bõ với lúc chúng mình bị nó ngáng giáo chặn lại ở ngã ba phường Cổ Vũ.

Hoàng Mãnh chỉ cười. Anh ta đang có ý định xui Dã Tượng giả vờ đánh sổng voi, xua nó chạy vào sứ quán Đạt Lỗ Hoa Xích để “xem cái ổ nhặng xanh ấy nó vi vo thế nào?” Nhưng ý định ấy không được đem ra dùng. Chiều hôm đó, Hoàng Mãnh được lệnh Chiêu Văn vương đem quân tuần sát các khu trong kinh thành có người ngoại quốc ở để sinh sống hoặc lánh nạn. Hoàng Mãnh sai truyền loa nghiêm cấm các người nước ngoài đang cư ngụ tại Thăng Long không được rời kinh thành nếu không có thủ lệnh kèm theo tín bài của quan tướng trấn thủ Trần Nhật Duật.

Chỉ một ngày mà không khí kinh thành sôi động hẳn lên. Người ta dọn đồ quý về quê. Người ta đưa các cụ già và trẻ nhỏ ra khỏi kinh thành. Người ta mua sắm võ khí. Ngay cả những đám cưới mà đồ lễ dẫn cũng phải có võ khí.

Ba ngày liên tiếp, quang cảnh náo nhiệt diễn ra ở khắp các phủ đệ kinh thành. Các bô lão đại diện cho các hương lên kinh theo chỉ tuyên triệu của hai vua. Những hương gần kinh thành, đường gần nên các bô lão về sớm. Lên đến Thăng Long, các vương hầu trấn thủ các lộ đã cho gia tướng đón các cụ về phủ đệ khoản đãi trọng hậu. Cụ nào cũng đã có bộ cánh mới do dân hương may sắm cho nhưng các vương hầu vẫn kén the lụa thượng hạng may quần chùng áo dài, tay thụng cho các cụ. Và mỗi cụ phải có một chiếc gậy chống vừa đẹp vừa lạ. Thôi thì đủ các loại gậy trúc đùi gà, trúc xương cá, gậy lụi, gậy lõi mun, gậy gụ, gậy song xanh, gậy song vàng...

Ba ngày này, Trần Nhật Duật làm việc không biết mệt mỏi. Người ta thấy quan tướng trấn thủ có mặt ở khắp nơi. Ông đến các đồn binh đôn đốc việc tuần phòng và tra soát kẻ lạ mặt. Thực ra công việc này dù có làm kĩ đến đâu cũng không ai an tâm.

Ngày hai mươi hai, Trần Nhật Duật sai tì tướng vào quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích mời gã ta đến tướng phủ Chiêu Văn ăn tiệc. Đây cũng là cách dò xét tình ý một cách trực tiếp lòng dạ viên Đạt Lỗ Hoa Xích. Khi tiệc tan, Chiêu Văn vương mời Buyan Têmua ra cửa Giang Khẩu xem đua thuyền. Chiêu Văn vương cho các loại thuyền thoi, thuyền chiến nặng có lầu, thuyền nan cỡ nhỏ, cỡ to... đua. Các đô thuỷ của lính tứ sương đã làm cho Buyan Têmua biết thế nào là sở trường sông nước của người phương nam.

Sáng hôm hai mươi ba tháng chạp, đúng lúc các gia đình phường phố đang sửa soạn cúng tiễn ông Táo lên chầu trời, quan tướng điển nghi Chiêu Minh đại vương ra mệnh lệnh khẩn cấp:

- Lính đô Thần Sách được lệnh ra quét dọn điện Hô Trà bên cạnh bến Đông Bộ Đầu. Lính phòng thành được lệnh quét dọn và làm cỏ sạch sẽ con đường trồng hoè dẫn từ bến Đông về tới cửa Đông hoàng thành. Bến thuyền cũng phải sang sửa kĩ lưỡng, nhất là các bậc lên xuống thì phải phẳng phiu dễ đi.

- Các nội giám, cung nữ làm việc trong bếp ngự được lệnh sửa soạn đại tiệc cho một ngàn người dự. Đặc biệt là các món nấu phải thực chín thực nhừ, rượu phải kén thứ cốt chính cống kẻ Mơ.

- Các nội sai cung Thánh Từ được lệnh đem lính đô Hổ Dực đến điện Diên Hồng để trần thiết sao cho cực kì trang nghiêm tráng lệ.

Sẩm tối hôm hai mươi ba, đức ông quan tướng trấn phủ Chiêu Văn vương sai thét loa cho khắp sáu mươi mốt phố phường kinh thành biết tin sáng ngày mai, Thượng hoàng và Quan gia sẽ thiết triều hội trọng thể các bô lão cả nước để hỏi về việc tối quan trọng của nước nhà. Loa cũng truyền lệnh của Trần Nhật Duật cấm ngặt các tôn thất, quan lại và thế dân không được tụ bạ gây nhốn nháo trong phố phường. Ban đêm nếu ai có việc ra phố thì phải mang đèn và phải có tín bài của đội trưởng phòng thành mới được đi từ phường này sang phường kia.

Trần Nhật Duật đã phi ngựa qua cổng quán sứ để chính mắt xem xét động tĩnh trong quán sứ. Tuy nhiên để đề phòng viên Đạt Lỗ Hoa Xích gây nhiễu loạn trong kinh thành, Trần Nhật Duật sai nhiều đô lính cưỡi ngựa tuần hành qua quán sứ của gã Đạt Lỗ Hoa Xích để đe nẹt gã.

Tờ mờ sáng ngày hai mươi bốn, trên sông Cơ Xá xuất hiện nhiều thuyền bè cắm cờ cắm phướn đỏ rực sông. Có thuyền từ mạn xuôi lên. Có thuyền từ cửa sông Thiên Đức thuận dòng lao vun vút về bến Đông.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #79 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:05:30 pm »

Cả một mặt sông bao la đầy buồm gấm. Những con thuyền đủ loại của tất cả các miền xa lạ của đất nước. Đấy là loại thuyền mũi vươn cao cong như cần cổ thiên nga, hai bên mạn cặp những cây luồng to làm phao. Trần Nhật Duật nhìn thấy bóng dáng quen thuộc của các bô lão miền Quy Hoá đứng trên mũi những con thuyền đó. Đây là loại thuyền mình dài như con thuồng luồng trong thần thoại, hai bên thuyền những cặp bơi chèo chìa ra đều tăm tắp quạt nước. Đây là loại thuyền biển vùng Vân Đồn, vỏ tròn trái dưa, bồng bềnh lướt trôi như không chạm nước. Đây là loại thuyền nan có mui lá nhẹ nhàng, đơn sơ của vùng ruộng trũng đồng chiêm phủ Thiên Trường. Đây là loại thuyền đinh vuông vức, bề thế, chắc chắn trước sóng biển, sóng lừng của các phủ Diễn Châu, Hoan Châu. Những con thuyền từ nhiều lộ đưa bô lão và các vương hầu về Thăng Long dự yến vua ban.

Đoàn thuyền hộ tống Trần Quốc Tuấn từ sông Thiên Đức rẽ qua sông Cơ Xá lúc trời bình minh. Trần Quốc Tuấn đứng trên mui thuyền say sưa ngắm cảnh trời nước mênh mang. Cảnh trí và không khí sớm mai trong lành gợi cảm xúc lâng lâng trong tâm hồn vị tướng già.

Hôm nay, Trần Quốc Tuấn về kinh chầu vua. Cụ Uẩn lo lắng về tuổi cao của Trần Quốc Tuấn nên đã nài ông phải khoác thêm chiếc áo bông vỏ may bằng nhiễu kì cầu trước khi rời thang mộc ấp Mai Hiên. Đáng như mọi lần cụ Uẩn sẽ là người giữ lái thuyền tướng nhưng lần này thì không bởi vì cụ đã được dân hương và thái ấp Vạn Kiếp cử làm người thay mặt lên kinh hầu chỉ vua. Trần Quốc Tuấn đã sai gia nô đội Yết Kiêu đem mười chiếc thuyền to có lầu, đưa cụ Uẩn và các bô lão các hương ven hai bờ sông Lục Đầu về Thăng Long. Những chiếc thuyền ấy đang giương buồm thênh thang mé trước mặt vị tướng già và ông có thể nhận ra bóng dáng thấp nhỏ rụt rè của cụ Uẩn.

Chân trời đàng đông bừng sáng lên. Thăng Long vụt hiện ra lộng lẫy với muôn ngàn cờ xí. Trên dòng sông bao la, thuyền các lộ chen nhau như lá tre.

Bình minh trên sông thật khoáng đạt. Cây cỏ hai bờ một màu xanh non và những con cò trắng tinh khôi sợ hãi bay tít trên cao tránh tiếng hò khoan nhặt của thuỷ thủ. Tiếng hò bát ngát trên sông chen tiếng ốc trầm đục của thuỷ thủ lộ Hải Đông gợi không khí hội hè thượng võ.

Trần Quốc Tuấn đăm đăm nhìn Thăng Long yêu dấu. Kinh thành hôm nay bừng tươi lên. Đội trống đồng của cấm quân đang đánh điệu mừng.

Kìa, đỉnh tháp Báo Thiên xa lắc và mé ngoài là cửa Giang Khẩu rộng thêng thang. Kìa, là nóc vọng lâu của cửa Đông, bên trên bay phấp phới lá cờ đại bái chỉ dùng trong những lễ lớn hoặc lúc xuất quân. Còn đây là những nóc nhà cao, thấp lô nhô của phố phường nơi ông đã từng rong chơi những ngày còn trẻ.

Trần Quốc Tuấn chợt thấy yêu Thăng Long biết bao nhiêu. Thăng Long là một kinh thành chứng kiến biết bao vinh quang của dân tộc. Thăng Long lưu giữ quá nửa tâm hồn của ông. Trần Quốc Tuấn nhớ tới những trại trồng hoa với những cô gái quê chất phác, những cô gái có đôi tay kì diệu vun xới nên những đoá hoa lộng lẫy ngát hương. Ông nhớ tới những đêm thả thuyền trên hồ Dâm Đàm, nghe những cô phường làm giấy vừa hát vừa giã dó đêm khuya. Ông nhớ tới những ngày rằm tháng giêng ngào ngạt khói hương cửa Phật. Những cụ bà, những người mẹ đi lễ chùa xin lộc cầu phúc cho con cháu và đó cũng là những ngày ông cưỡi ngựa rong chơi xem cỏ non mới mọc. Ông nhớ cả những phố phường đông đúc, người bán, kẻ mua, nhớ tiếng ồn ào, tiếng gọi, tiếng cãi nhau, nhớ cả những bận rượu say chếnh choáng từ Hoàng Mai lần về vương phủ.

Những ngày trai trẻ ấy qua đi đã lâu nhưng vẫn in đậm trong tâm hồn ông khiến cho ông lưu luyến say mê cái kinh thành mà mỗi bước chân đi người ta lại tìm ra một điều chi mới lạ...

Thuyền dồn cửa bến, sóng dềnh lên làm cho những con thuyền chao nhẹ. Trần Quốc Tuấn nhìn chung quanh. Các thuyền khác đang dẹp lối để nhường thuyền của ông cặp bến trước. Ông quát to:

- Các thuyền quân hãy giạt ra để các bô lão lên bộ trước!

Ông im lặng nhìn các con thuyền chở các bô lão đi qua trước mặt mình.

Có tiếng xôn xao hỏi nhau:

- Ai đấy? Ai đấy?

- Quốc công Hưng Đạo vương chứ ai.

Thế là tiếng chào ran lên:

- Kính lạy đức ông.

- Kính lạy Quốc công.

Trần Quốc Tuấn tủm tỉm cười đáp lễ. Các bô lão vẫn lần lượt đi qua trước mặt ông. Cụ nào cũng mặc áo mới. Ông nhìn thấy cụ Uẩn xúng xính trong tấm áo the hoa chữ thọ nhuộm thâm. Tấm áo này do dân hương Vạn Kiếp cử người sành sỏi về tận làng La Khê kén the tốt may cho cụ Uẩn. Trần Quốc Tuấn gọi to sang thuyền ông cụ:

- Cụ ơi! Nhớ lời uỷ thác của dân hương nhá!

Tất cả các bô lão bên con thuyền ấy cũng ồn lên:

- Quốc công cứ yên trí. Chúng tôi cứ xin Quan gia gọn một chữ “Đánh!”

Thuyền các bô lão lần lượt cặp bến Đông. Trần Quốc Tuấn nhìn thấy quan tướng điển nghi Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải chỉ huy các quan kinh thành ra đón các bô lão. Chiêu Minh đại vương đứng bên dưới cái nghi môn vóc đỏ, chắp tay chào các bô lão. Các quan chia nhau mời các bô lão lên võng. Mỗi cụ ngồi riêng một võng bên trên che hai chiếc lọng xanh. Phường Hoè Nhai đông kín người.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM