Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 03:55:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người Thăng Long  (Đọc 54293 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #80 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:06:22 pm »

Khi thuyền Trần Quốc Tuấn vào bến, đoàn bô lão đã đi gần xong. Ông ra lệnh cho tất cả số quân về hôm nay phải chỉnh bị hàng ngũ. Các chiến thuyền đỗ theo từng quân, mũi quay ra sông sẵn sàng rời bến. Thuỷ thủ không được rời thuyền và ai đứng vào chỗ nấy. Ông ra lệnh cho quân bộ và quân kị xếp thành từng khối vuông vức hai bên đường hoè. Đội nào đem phướn của đội ấy lên đầu hàng quân. Sau đó Trần Quốc Tuấn sai cắm ngọn cờ Tiết chế lên đài cờ.

Lúc ấy, mặt trời lên. Nắng chiếu vào thế trận uy nghi, lập loè ánh binh khí. Quân sĩ đứng im phăng phắc, chỉ thỉnh thoảng có tiếng ngựa chiến nện vó hục hặc. Nhìn một lượt thật chậm, thật kĩ lưỡng, Trần Quốc Tuấn hài lòng. Quân sĩ các lộ khoẻ mạnh. Binh khí sắc bén, quần áo đủ ấm. Có những chiến sĩ như thế này một tướng giỏi có thể đánh thắng một kẻ địch hung hãn, thiện chiến tưởng như vô địch. Trần Quốc Tuấn ra lệnh đánh một hồi chiêng, cho quân sĩ nghỉ tại chỗ. Nguyễn Địa Lô dắt con ngựa tía mật đến cho ông nhưng Trần Quốc Tuấn không lên yên. Ông đưa cây gậy xương cá cho Dã Tượng và đi bộ về cửa Việt Thành, theo sau là Nguyễn Địa Lô và con tía mật.

Với trọng trách quan tướng trấn phủ, Chiêu Văn vương cưỡi con Bão Đêm đem một đoàn tuỳ tùng đi đôn thúc việc tuần phòng. Phía trước Chiêu Văn vương có một kị sĩ giương một lá cờ đỏ đề dòng chữ Khâm sai Trấn phủ. Ngựa Chiêu Văn vương đến bến Đông. Ở cửa bến, bên dưới cái nghi môn vóc tía, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải đã dẫn đầu một đoàn vương hầu trọng chức đứng chờ đón các bô lão. Dàn trống đồng của quân Thánh Dực đã bày sẵn ở cửa đường hoè. Bên cạnh đó một đài cờ đắp cao chờ làm lễ tế. Quan tướng thay cho các lộ đã chỉnh bị đội ngũ ở ba mặt đài cờ. Chiêu Văn vương nhìn thấy Hoàng Mãnh và Trịnh Mác dẫn đầu cánh quân áo chàm, vai đeo nỏ cánh én của lộ Đà Giang. Ông cũng nhìn thấy hầu tước Hoài Văn, năm nay nom đã chững chạc, dẫn đầu đội quân gia đồng rất trẻ, kéo một lá cờ đề sáu chữ: “Phá Cường Địch Báo Hoàng Ân”. Nhìn thấy Chiêu Văn vương sắp phóng ngựa qua, Hoài Văn hầu sẽ rê cương cho con ngựa của mình nhún nhảy để gợi sự chú ý của Chiêu Văn vương. Quả nhiên Chiêu Văn vương chú ý, nhưng ông cũng đoán ra cái ranh mãnh của hầu tước Hoài Văn. Ông tế ngựa đến trước đội quân cất tiếng hỏi:

- Quân của ai đây?

Hoài Văn hớn hở đáp:

- Bẩm của cháu!

Nhưng Chiêu Văn vương nghiêm nghị:

- Trong việc quân việc nước sao tướng quân lại xưng hô chú cháu?

- Bẩm... bẩm đức ông trấn phủ, đây là đội quân gia đồng của phủ Hoài Văn do tôi làm tướng.

Chiêu Văn vương khẽ nheo mắt nhìn chàng thiếu niên mặt đỏ gay, nói năng ấp úng, ông hỏi dồn:

- Vậy thì đội quân của tướng quân có bao nhiêu nghĩa sĩ?

- Bẩm, khoảng sáu trăm.

- Khoảng sáu trăm! Vậy là bao nhiêu? Sáu trăm ba mươi mốt, sáu trăm ba mươi hai hay là năm trăm chín mươi tám, là bao nhiêu nói cho chính xác.

Trần Quốc Toản đứng đực mặt ra. Trần Nhật Duật chau mày:

- Có bao nhiêu giáo?

- ...

- Bao nhiêu nỏ?... Nỏ bảy yến bao nhiêu chiếc?

Trần Quốc Toản không trả lời được. Trần Nhật Duật chau mày:

- Có bao nhiêu ngày lương?

Câu này thì Trần Quốc Toản sung sướng đáp lại ngay:

- Bẩm đức ông trấn phủ, đội quân của tiểu tướng có thừa lương ăn cả năm cũng không hết.

Trần Nhật Duật nhìn đăm đăm chàng thiếu niên hào kiệt. Ông vừa quý vừa buồn cười. Như thế này thì nếu cứ đóng ở Thăng Long đội quân của phủ Hoài Văn sẽ được vỗ béo, nhưng cứ rời kinh đô hành tiến ba ngày là họ đã đói rã họng ra bởi vì cứ thử đoán chơi cũng đủ biết họ chưa hề chuẩn bị một chút lương khô nào, xe tải, ngựa tải, thuyền tải,... cũng chưa sửa soạn chứ đừng nói chi đến hạt muối, con cá khô, đến cỏ khô cho ngựa, đến ít quả trứng, ít thịt khô bò cho lính ốm nữa. Ông bảo Trần Quốc Toản:

- Tiểu tướng quân phải tự hào về đội quân kia! Thật là những người lính có cốt cách. Nhưng tiểu tướng quân phải học phép cầm quân mới được... Đã có cuốn Binh thư yếu lược chưa? Cuốn sách của Quốc công Tiết chế đó mà.

- Dạ... đã có rồi ạ

- Đã có rồi mà sao cầm quân lỏng lẻo thế này. Quân bao nhiêu cũng không nhớ, vũ khí bao nhiêu cũng không hay, lương ăn bao nhiêu ngày cũng không biết.

Trần Quốc Toản đành ấp úng thú nhận rằng cậu đã nhận được cuốn Binh thư yếu lược nhưng bận tíu tít việc mua sắm võ khí, việc tập ngựa, tập cung, việc chiêu mộ hào kiệt, việc đến nói với cha anh nhà cậu này cậu nọ để xin cho cậu ta được nhập ngũ, việc mua thừng mua chão để trói tù binh... nên chưa đọc kĩ cuốn sách đó.

- Phải đọc và nghiền ngẫm cho kĩ. Đọc rồi làm theo chỉ dẫn trong cuốn sách ngay. Việc binh trước tiên là hiểu mình, rồi hiểu địch thì mới mong tranh thắng được. Tiểu tướng quân nên nhớ có tráng chí nhưng phải có thao lược nữa mới được.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #81 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:07:04 pm »

Trần Nhật Duật cười lớn, ông tế ngựa qua cánh quân lộ Thượng Quy Hoá của ông. Ông thấy Triệu Trung đứng bên trái hàng quân đầu tiên ngay bên dưới lá cờ lệnh nhỏ của đội quân cưỡi ngựa. Viên tướng đó hôm nay mặc quân phục Tống, đội chiếc mũ cỏ rộng vành, vai khoác chiếc cung đại. Triệu Trung không đeo kiếm mà cầm một cây trường thương cán hun đen bóng. Ông nghĩ thật quái lạ. Cái dân tộc của Triệu Trung, người trung thì trung với cả cái mũ, đôi giày của vua mặc dù gã vua đó ăn máu hút tuỷ của trăm họ, ngu trung đến mức giết cả bố giết cả vợ con để chiều theo ý thích của gã hôn quân vô đạo; còn phản nghịch thì phản nghịch cũng đến nơi đến chốn, mở cửa quan hiểm trở dẫn đường cho quân xâm lăng tiến vào, chỉ chỗ giấu bài vị hoàng tộc, chỉ ngôi mộ giấu một ông hoàng tử lên năm đã chết rồi, chỉ cho quân giặc một đường tiến quân bí mật, chỉ cho quân giặc một cách đánh sở trường của dân tộc. Cái trung, cái phản của dân tộc này đều ở đỉnh cao.

Trần Nhật Duật không ngừng lại trước đoàn quân của mình nữa, ông trở lại đường hoè. Bấy giờ các bô lão đã lên bộ rồi. Những cụ lai kinh từ mấy hôm trước cũng được gia tướng các hầu phủ, vương phủ đưa ra bến Đông để cùng tiến cung luôn thể. Hôm nay trông cụ nào cũng xúng xính. Họ phần lớn đều là người cao tuổi nhất trong hương mà họ đi thay mặt. Như thế các cụ cũng là những người cao tuổi nhất nước.
Khi Trần Nhật Duật trở lại bến Đông, các bô lão và các quan văn võ trọng chức đang vái nhau tứ tung hai bên cái nghi môn vóc đỏ. Trần Nhật Duật nhìn thấy Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc mặt lạnh tanh vái tả vái hữu vô tri vô tình như cái cần cối nước lộ Lạng Giang. Ông chắc chắn đức ông Chiêu Quốc nhìn thấy ông nhưng không biết tại sao lại cứ giả tảng là không trông thấy.

Ít lâu nay, Chiêu Quốc vương tránh mặt ông, không đến thăm ông. Nếu hai người gặp nhau ở chỗ đông người hoặc vắng người thì thái độ của Chiêu Quốc vương cũng xa vắng, thờ ơ mặc dù có câu nào nói với nhau thì cũng là những lời nói ngọt ngào. Chiêu Văn vương cảm thấy áy náy trong lòng. Hình như việc ông được Quan gia sủng ái thêm lên, đồng thời dù muốn hay không cũng là giảm đi quyền uy của đức ông Chiêu Quốc. Cứ xem trọng trách quan tướng trấn phủ ông đang nắm giữ thì đủ rõ. Đúng ra, trọng trách này phải nằm trong tay Chiêu Quốc vương. Có khi với cách điệu nho nhã nổi tiếng sẵn có, Chiêu Quốc vương còn được Quan gia trao cho quyền quan tướng điển nghi buổi triều hội long trọng hôm nay nữa kia. Trần Nhật Duật hơi buồn. Ông có nhiều anh em nhưng xưa nay ông vẫn gần gũi với đức ông hoàng Năm hơn cả. Đó là người dạy dỗ ông nhiều điều, đã dẫn ông đi từng bước trở thành một ông hoàng quý phái, phong nhã và tài hoa.

Nhưng thực ra, Chiêu Văn vương chưa tìm hiểu đến đáy sâu cùng của mối quan hệ đó. Chiêu Văn vương trưởng thành dần dần từ thiên lương đôn hậu và hồn nhiên. Chiêu Quốc vương cũng trưởng thành dần dần nhưng từ khát vọng riêng tư hết sức kiêu sa và mãnh liệt. Sự khác nhau đó chính là cơn cớ dẫn đến sự rã rời của mối quan hệ tưởng như khăng khít giữa hai người.

Dân Thăng Long đốt pháo mừng làm cho con ngựa của Chiêu Văn vương bồn chồn. Con Bão Đêm không sợ tiếng động, tiếng nổ nhưng tiếng động tiếng nổ kích thích con tuấn mã máu hăng và hiếu động. Nó vươn cái cổ dài như cổ thiên nga hí một tiếng rậm rựt. Trần Nhật Duật vỗ vào cổ ngựa mấy cái. Ông rê cương chạy dọc đường hoè ra lệnh cho một tì tướng thông hiệu:

- Báo lên quan tướng điển nghi là các bô lão đã lên võng hết cả. Thông báo luôn cả cho quan tướng
Nguyên suý trấn điện Bảo Nghĩa hầu như thế nữa.

Viên tì tướng tuân lệnh tế ngựa luôn về cửa hoàng thành. Đám rước các bô lão cũng vừa diễu qua đầu ngựa Chiêu Văn vương. Hôm nay Thượng hoàng muốn tỏ bụng kính lão đã dùng toàn võng che màn đại hồng để rước các cụ già thượng khách của triều đình. Mỗi chiếc võng lại được che một đôi lọng xanh rủ thao đen kết chỉ kim tuyến mặc dù hôm nay trời cuối đông nắng đã nhạt lại là nắng sớm. Trên một chiếc võng cụ Bành nhìn thấy đức ông hoàng Sáu. Cụ cố nhổm để ngồi thẳng vái chào Chiêu Văn vương nhưng ngồi thẳng trên võng làm sao được. Ông cụ cứ đành nằm co như thế, giơ hai tay vái. Chiêu Văn vương cũng vội chập cương ngựa, vái đáp lễ. Sau võng cụ Bành là võng cụ Uẩn, người lái đò già bến Bình Than, một trong những tay kiếm hộ thân xưa của đức ông Phụng Kiền, người là thầy của tất cả gia tướng gia nô hương Vạn Kiếp, người đã từng thết Chiêu Văn thân vương một bữa rượu gỏi cá kì lạ nhớ đời. Cụ Uẩn đi thay mặt cho dân hương Vạn Kiếp.

Sau đoàn võng các bô lão là đoàn ngựa các vương thân, đại thần. Chiêu Văn vương nhìn thấy đức ông Thượng tướng Thái sư và đức ông Tĩnh Quốc. Quốc công Hưng Đạo vương thì lại đứng sang một bên nhường đường cho đoàn người dài dằng dặc kéo đi mãi mới hết. Chiêu Văn vương nhìn thấy Quốc công sai Dã Tượng cắm lá cờ nguyên soái lên đài cờ, ra lệnh cho binh sĩ nghỉ tại chỗ rồi đức ông đi bộ về hoàng thành, sau lưng là các tướng tuỳ thân hộ vệ. Chiêu Văn vương cũng quay về hoàng thành. Ông xuống ngựa, giao ngựa cho thị mã cận vệ rồi vào cung. Bấy giờ các bô lão trong điện Thiên An đang đi lại xem cung, xem điện. Các đức ông giữ trọng trách hai cung Thánh Từ và Quan Triều đã vào hậu cung để phò ngài ngự ra điện.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #82 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:07:57 pm »

Cụ Uẩn ngày xưa đã từng được ra vào cung điện nhiều lần nên dẫn các bạn già đi xem điện. Các cụ bàn về đức Nhân của Quốc công Hưng Đạo vương và cứ cãi nhau mãi về biết rõ và chưa biết rõ đức Nhân ấy. Cuối cùng các cụ rủ nhau đến bờ hồ Dưỡng Ngư xem cá. Vào mọi buổi sáng cữ này, nội giám vẫn rắc bỏng cho cá ăn. Cá quen lệ, chúng lên cả mặt nước đuôi phe phảy, đớp bọt ăn chậm chạp. Một cụ bảo:

- Gớm cái giống cá đâu mà quý thế. Giếc đâu mà giếc dài đến hơn một gang tay.

Cụ Uẩn bảo:

- Ấy, cái giống giếc đuôi đỏ này đem từ lộ Đà Giang về đấy. Giống nó đẻ kìn kìn, mau ăn mau lớn lắm. Ngày xưa, tôi còn ở Hoàng thành, cứ mỗi năm lại đánh cá một lần dâng Quan gia. Lần nào Quan gia cũng chia cho quân tứ sương mỗi đô vài thúng.

Một cụ thích thú:

- Thế thì tốn rượu nhể? Giá quê mình cũng có nhể?

Nhưng rồi một cụ khác lại hoài nghi:

- Nhưng chẳng biết rõ nó có nhiều thịt không? Chứ như cái giống ngão ta bè ngang mà...

Thế là mấy cụ rủ nhau xuống tận bậc lên xuống để xem cá cho rõ hơn. Bầy cá dạn người, thế mà chúng cũng không lặn xuống dưới nước. Chúng còn ve vẩy đuôi bơi sán lại quanh bậc thềm, miệng hớp hớp đám bọt nổi, con nào con nấy béo thừa môi ra. Những cái vây, những cái đuôi đỏ nom thật là đẹp.

Mấy cụ đùn đẩy nhau để xem, thình lình một cụ trượt rêu trơn lạng người hẩy ngay cụ Uẩn ngã đánh tùm một cái xuống hồ. Các cụ xúm lại hè nhau kéo ông cụ ngã dưới nước lên bờ. Thôi thì quần áo, râu tóc ướt lướt thướt hết cả. Chòm râu thưa bết nước tóp lại, cái khăn tam giang tụt xuống cổ lòng thòng một đầu, nước rỏ tong tong...

Đúng lúc ấy, chuông vàng đánh chín hồi báo hiệu nhà vua ra điện.

Chuông vàng đã đánh tới hồi thứ chín. Buồi triều hội này, Quan gia Nhân Tông với quyền uy là đương kim hoàng đế sẽ nói câu quyết định cuối cùng nhưng đứng ra triệu mời và tiếp đãi lại là Thượng hoàng Thánh Tông với cái lẽ là người già mời người cao tuổi để hỏi ý kiến khuyên bảo đàn con cháu.

Cửa hậu cung mở toang ra sau tiếng chuông cuối cùng của hồi thứ chín. Đô Hổ Dực dàn quân từ cửa hậu cung ra tới điện Thiên An. Hai vua xuất cung giữa một đám lọng vàng lộng lẫy. Theo sau hai vua là các thân vương giữ những chức vụ quan trọng nhất trong triều, những thân vương có biển nhập nội, có thẻ bài “hộ giá tuỳ sai”, hàng ngày vào chầu vua bàn việc lớn của nhà nước và binh gia trong hai cung Thánh Từ hoặc cung Quan Triều.

Chiêu Minh đại vương Thượng tướng quân Thái sư Trần Quang Khải, người đang cầm đầu các quan văn võ trong triều với nhiệm vụ tể tướng, đi trước các thân vương. Sau đó đến Quốc công Tiết chế chư quân Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, đến Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang; trấn thủ các lộ phía nam, đến Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, trấn thủ lộ Đà Giang đồng thời là quan tướng chỉ huy một cánh quân mạnh sẵn sàng đánh sâu vào sau lưng địch nếu chúng khởi quân lấn đất ta, đến Nhân Huệ vương Phó Đô tướng quân Trần Khánh Dư chỉ huy toàn bộ quân thuỷ, các đảo, các cửa sông, các bến trại và các xưởng chiến thuyền, đến Điện tiền Nguyên soái phò mã Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng chỉ huy tất cả cấm quân nhưng hiện đang cứ một hai từ chức Điện soái để xin ra chỉ huy quân trên biên ải, đến Tá Thiên vương Trần Đức Việp, tướng trẻ hăng hái lẫm liệt trong các vương hầu...

Trần Nhật Duật vô cùng xúc động trước quang cảnh trên năm trăm cụ già râu tóc trắng phau đang làm lễ chúc thọ vua. Nhân Tông không ngồi trên điện Thiên An. Nhà vua xuống thềm đi thăm hỏi từng cụ và nhìn thấy cụ Uẩn quần áo ướt bèn sai nội giám vào hậu cung lấy quần áo khô mới cho cụ thay. Lát sau họ mang ra cho ông cụ Bình Than một chiếc áo vóc tía mới tinh khôi. Các bô lão vái chúc hai vua. Mỗi cụ tiêu biểu cho đạo đức, nhân tài, vật lực của một hương và tất cả các cụ tượng trưng cho chí khí anh hùng của nhân dân Đại Việt.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư     

Vần thơ đầy tráng chí của lão danh tướng tiền bối Lý Thường Kiệt bỗng vang lên trong tâm hồn Trần Nhật Duật. Đức ông hoàng Sáu đột nhiên thấy tầm vóc của nhân dân trăm họ vô cùng to lớn. Hôm nay, các bô lão cả nước sẽ nói lên tiếng nói của dân hương mình trước nạn xâm lăng rằng: “Đánh hay hàng?”

Trần Nhật Duật hiểu và tin rằng các bô lão sẽ quyết đánh. Lịch sử dân tộc lại một lần chứng minh ý chí toàn dân kiên định giữ nước, gan góc chống giặc. Xưa kia, trước đây hàng ngàn năm, vua tổ Hùng Vương đã từng triệu các bô lão về núi Hy Cương để hỏi ý dân trước nạn xâm lược đe doạ. Các bô lão đã xin đánh. Vua Hùng đã nghe theo và nước Văn Lang đã chiến thắng quân Tần hung dữ. Bây giờ cũng vậy, các bô lão sẽ lên tiếng, tiếng nói lẫm liệt của cả nước: Đánh!

Trần Nhật Duật tin chắc các bô lão sẽ xin đánh nhưng ông vẫn muốn nhìn tận mắt, nghe tận tai tiếng thét đồng thanh và cảnh ấy. Chức quan tướng trấn phủ lại buộc ông phải đôn thúc việc trị an trong kinh thành. Vì vậy khi nhà vua mời các bô lão sang điện Diên Hồng để khoản đãi và hỏi ý thì Trần Nhật Duật phải đi làm công vụ ở bên ngoài kinh thành. Điều đó làm cho đức ông hoàng Sáu nổi giận. Thấy đô Long Dực đang chực hầu ở cửa hoàng thành, Trần Nhật Duật quát to ra lệnh:

- Lên ngựa!
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #83 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:09:05 pm »

Đô Long Dực lên ngay ngựa. Đô này gồm toàn dũng thủ túc vệ Thượng đô, võ nghệ cung kiếm giỏi tuyệt trần, trán được thích ba chữ chàm “Thiên tử binh”. Những binh tướng đô này vốn có mối hận cũ với bọn giặc nhà Nguyên. Năm thằng Sài Thung sang sứ nước ta, nó hống hách qua cửa Đại Hưng không thèm xuống ngựa. Vào đến cửa Dương Minh nó cũng định cưỡi ngựa qua. Khi ấy lính đô Long Dực canh cửa Dương Minh đã ngáng giáo chắn đường thằng sứ thần nhà Nguyên hỗn xược. Thằng này lại còn dùng cả roi ngựa đánh mấy người lính Long Dực chảy cả máu đầu. Nếu không biết sợ phép nước mệnh vua thì hôm ấy họ đã bóp chết tươi cái thằng Sài Thung hung hãn hỗn hào rồi.

Trần Nhật Duật dẫn đầu đô Long Dực phi ngựa qua các phố phường kinh thành về phía quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích. Ông muốn xét động tĩnh trong quán sứ và cũng muốn kiếm chuyện với nó cho hả giận. Đó cũng là một cách đe nẹt thằng Đạt Lỗ Hoa Xích đồng thời trêu cho nó tức giận “chơi”.

Lính Long Dực đoán được ý Trần Nhật Duật, họ giơ cao ngọn giáo sáng loáng, họ rướn mình trên bàn đạp, miệng hô tiếng hô chiến đấu: “Xông lên! Giết! Xông lên! Giết”

Quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích đóng cổng kín mít. Những tên quân canh cũng rút cả vào trong. Đằng sau kẽ ván gỗ cánh cửa quán sứ chắc có những tên đứng trong nhìn ra. Trần Nhật Duật cho ngựa phi quanh quán sứ ba vòng thật nhanh rồi vòng thứ tư cho ngựa đi bước một. Đàn ngựa phi đang hăng, chưa phỉ chí bị ghìm cứ hậm hực hí. Chúng lần lượt cong đuôi ỉa tung toé ra đường. Lính Long Dực cười ồ cả lên. Quán sứ Đạt
Lỗ Hoa Xích đâm ra hôi hám như chuồng thú.

Trần Nhật Duật dẫn quân đi tra soát mấy đồn phong đoàn chính yếu của kinh thành. Những đồn phong đoàn là nơi đóng quân của lính tuyển phong chuyên việc dò giặc, bắt trộm, trị cướp, ngăn chặn các việc làm trái pháp luật của nhà nước. Tra soát xong, Trần Nhật Duật quay trở lại hoàng cung. Ông cho lính xuống ngựa nghỉ và ông vào nội cung bằng cửa Vân Hội. Ông bước lên thềm điện Diên Hồng lúc các bô lão ùa lên nói với Trần Quốc Tuấn:

- Sao Quốc công lại quá khen cái lũ giặc ấy thế?

Trần Quốc Tuấn phò hai vua đưa các bô lão sang điện Diên Hồng.

Bữa nay điện này được trang trí rất khéo. Điện không có những hàng cột thếp vàng lộng lẫy và những bức tường ghép gỗ dạ hương chạm nổi như điện Thiên An. Điện cũng không có những bậc thềm rộng mà người lên hoặc xuống thềm cảm thấy thăm thẳm triền miên. Diên Hồng là một ngôi điện rộng làm từ triều trước, lúc nhà Trần vừa lên ngôi còn nguyên cái hồn hậu của dân dã, cái vũ dũng của những tráng sĩ đi mở nước. Diên Hồng có một vẻ đẹp trầm mặc, hùng vĩ với lớp mái vảy cá chót cong vừa phải và hàng cột chò chỉ trơn, màu đã xuống với thời gian. Nền điện trải toàn chiếu cạp điều sát vào nhau và nhà vua đã sai bày tiệc lên đó để thết đãi các bô lão.

Trong lúc Nhân Tông và Trần Quang Khải mời các cụ vào điện Trần Quốc Tuấn chợt nhớ ra một điều, ông đi ra cửa Việt Thành. Ông thấy Trương Hán Siêu đang túc trực ở đấy. Vị tướng già ra lệnh bằng giọng gấp gáp:

- Cháu cầm lấy cái này về ngay vương phủ họp thư nhi bên ta và bên phủ Chiêu Minh sao cho ta làm năm nghìn bản. Hẹn lúc mặt trời lặn chiều nay phải đem tới bến Đông.

Trần Quốc Tuấn trao cho Trương Hán Siêu một cuộn giấy. Ông mở to mắt, bảo Trương Hán Siêu:

- Bản hịch của ta đó. Đi cho mau.

Khi Trần Quốc Tuấn quay trở về tới điện Diên Hồng thì tiếng hô “Đánh! Đánh!” đang vang ầm hoàng cung. Ông bước lên thềm điện, thấy Nhân Tông đứng giữa, các bô lão đang ngoảnh mặt về nhà vua. Một số cụ ngồi mé xa nhấp nhổm quỳ gối lên và những cụ ngồi tận cùng thì đứng cả dậy để nghe và nhìn cho rõ hơn.

- Đây rồi, Quốc công Tiết chế đây rồi. Quốc công hãy nói cho bô lão rõ về sức ta và sức địch đi!

Trần Quốc Tuấn từ từ bước vào, đường bệ trong bộ áo chiến đại trào và chòm râu lốm đốm bạc rủ dài xuống mảnh đồng thau hộ tâm hình chữ nhật chạm phù hiệu quân Thánh Dực. Một cụ hô lớn:

- Xin Quốc công cho đánh.

Toàn điện Diên Hồng lại rung lên. “Đánh! Đánh!”. Vị tướng già mắt sáng lên, sung sướng trong không khí tin tưởng anh hùng. Ông nói:

- Cần phải biết mình biết địch. Hốt Tất Liệt hiện nay không chỉ là vua của đám dân du mục chỉ biết phi ngựa bắn đốt. Hắn còn là vua của hàng trăm triệu người biết cắm rễ sâu xuống những cánh đồng phì nhiêu nằm trên lưu vực Hoàng Giang và Trường Giang. Hốt Tất Liệt không chỉ âm mưu diệt dân ta, hắn còn muốn chiếm giữ lâu dài, chia thành quận huyện, đặt ách đô hộ ngàn đời lên cổ dân ta. Kẻ địch của chúng ta có quân kị thiện chiến, quân bộ thiện chiến, lương thảo dồi dào, chiến cụ dồi dào...

Có một cụ ngắt lời ông:

- Sao Quốc công lại quá khen cái lũ giặc ấy thế?

Chính vào lúc đó, Trần Nhật Duật trở về. Điện Diên Hồng đang trong lúc không khí căng thẳng. Trần Quốc
Tuấn vẫn điềm tĩnh:

- Xin các cụ nhớ cho kẻ địch của chúng ta đã thiện chiến lại thâm hiểm vô cùng...

Nhưng cụ Uẩn lại ngắt lời ông một cách rất bất ngờ:

- Chúng ta đã chọi giáo với lũ giặc ấy rồi.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #84 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:10:04 pm »

Trần Quốc Tuấn suýt bật cười khi thấy ông già thấp nhỏ trong chiếc áo vóc tía.

- Đúng, chúng thiện chiến mà ta cũng thiện chiến. Nhưng chiến trường diễn ra trên đất ta sao tránh khỏi những tổn thất cho trăm họ...

Thế là các bô lão ùa lên nói với Trần Quốc Tuấn :

- Mất nước là mất hết. Xin Quốc công cho đánh!

Rồi họ hướng về phía vua Nhân Tông hô to:

- Xin Quan gia cho đánh!

- Hương Quắc chúng tôi xin đánh!

- Hương Tức Mạc chúng tôi cũng xin đánh!

- Hương Hoằng chúng tôi xin đánh!

...

Trần Nhật Duật nhìn thấy cụ Bành. Ông cụ già vùng biển tuổi vào loại cao nhưng còn khoẻ lắm. Ông cụ đứng hẳn dậy giơ hai tay nắm chặt ra trước mắt:

- Thưa Quan gia, thưa các đàn anh. Hương Hoằng chúng tôi cũng như cả nước xin quyết đánh và quyết thắng. Thưa các đàn anh, nước Việt chúng ta có bao giờ chịu nhục. Xin là đánh và quyết thắng.

Tất cả các bô lão cùng gào lên:

- Xin đánh! Đánh cho tan bọn kẻ cướp phương Bắc.

Điện Diên Hồng lại rung lên hai tiếng Sát Thát. Các vương hầu và lính cấm vệ đứng canh cũng thét theo ầm ầm.

- Sát Thát! Xin đánh! Sát Thát! Xin Quan gia cho đánh. Thà chết chứ không chịu mất nước!

Trần Nhật Duật và Trần Bình Trọng cũng thét to xin đánh. Hai quan tướng trấn phủ và trấn điện cũng quên khuấy mất nhiệm vụ của mình mà cứ hét lên. Nhân Tông muốn cân nhắc kĩ nên nhà vua mời các bô lão uống một chén rượu. Nhưng các bô lão nhất định không chịu uống. Họ trả lời rằng Quan gia chưa hạ chỉ đánh thì không ai an tâm uống chén rượu ấy. Trần Nhật Duật nhìn thấy Nhân Tông đứng sừng sững, mặt xúc động, đôi mắt hừng hực từ từ khép lại. Thình lình nhà vua trẻ mở to mắt, cất tiếng sang sảng đầy vẻ quả quyết:

- Vậy thì... ta truyền chỉ. Các cụ hãy uống với ta chén rượu nguyền một lòng chống giặc. Ta truyền đánh!
Các bô lão, vương hầu, tướng lĩnh, binh sĩ cùng gầm lên:

- Đánh! Đánh! Đánh!

Trần Nhật Duật thấy mắt mình nhoà đi. Ông nghe có tiếng cụ nào đó khóc rống lên sung sướng. “Quan gia cho đánh rồi! Quan gia cho đánh rồi!”

Trăm họ là gốc của xã tắc! Chân lí ấy rạng rỡ, chốt chặt trong lòng Trần Nhật Duật. Đức ông quan tướng trấn phủ nguyền thầm sẽ giữ gìn ý chí sắt son để khỏi phụ lòng trăm họ. Ông chưa hề nghĩ tới trong mấy trăm con người đứng trong điện Diên Hồng lúc đó, những ai là người anh hùng?

Nhanh quá. Xong xuôi nhanh quá. Trần Quốc Tuấn sai Nguyễn Địa Lô về ngay vương phủ Hưng Đạo hẹn chính ngọ đã phải có bản hịch của ông ở ngoài bến Đông.

Gần trưa, Chiêu Minh đại vương hộ tống nhà vua tiễn Tiết chế ra bến Đông làm lễ xuất sư. Quân Long Dực, Hổ Dực mở đường. Lính hai quân Tả và Hữu Thánh Dực dưới quyền chỉ huy của Trần Bình Trọng hộ vệ hai bên kiệu vua. Sau kiệu là Trần Quốc Tuấn hiên ngang trên lưng con Tía Mật. Sau đó là Chiêu Minh đại vương cùng các quan văn võ và các bô lão kéo dăng dăng trên con đường hoè từ cửa Việt Thành đến bến Đông.

Nắng hanh.

Cờ rực rỡ. Trống đồng bến Đông đánh thì thùng. Nắng lập loè đầu ngọn giáo, nắng lập loè trên mảnh hộ tâm của các tướng. Nắng long lanh trong mắt binh sĩ.

Đến bến Đông, Nhân Tông xuống kiệu. Nhà vua lại trước đầu ngựa của Trần Quốc Tuấn, giữ cương cho vị tướng già xuống yên. Nhân Tông cầm tay đưa Trần Quốc Tuấn lên trên đài cờ. Không khí trang trọng đến tức thở. Chỉ nghe tiếng cờ bay phần phật và tiếng sóng vỗ mạn thuyền ì ùm.

Nhân Tông vái Trần Quốc Tuấn và phán:

- Từ nay việc an nguy của nước nhà, trẫm xin giao cho Quốc công.

Trần Quốc Tuấn nghiêm trang đáp lễ:

- Lão thần thề không để nhục mệnh bệ hạ.

Đối với Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn là bác ruột, đồng thời là bố vợ, là thầy yêu. Tình cảm nhiều bề quyến luyến. Nhân Tông ban kiếm Thượng Phương trao quyền chém trước tâu sau cho Trần Quốc Tuấn và quyền ban tước tới vị hầu cho ông. Nhà vua chăm chú nhìn vị tướng già và thấy quả là một người quắc thước lạ lùng.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #85 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:11:07 pm »

Từ trên đài cờ, Trần Quốc Tuấn lặng nhìn các đội quân hàng ngũ chỉnh tề bên dưới. Này đây quân Thánh Dực túc vệ Thượng đô của Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng. Vừa qua vị Nguyên soái trấn điện này đã tha thiết xin vua cho ra trận. Nhà vua đã chuẩn y. Trần Bình Trọng sẽ dẫn quân Thánh Dực theo ông ra trận tiền lập công. Này đây đội quân cưỡi ngựa của Chiêu Văn vương ăn mặc áo chiến ngắn tay nhuộm chàm nom hùng vĩ và bí mật như rừng núi. Này đây đội quân thiếu niên của Trần Quốc Toản đứng dưới ngọn cờ mang sáu chữ kiêu hãnh “Phá giặc dữ, báo ơn vua”. Này đây đội tượng binh của hương Vạn Kiếp xếp thành khối đen to và hục hặc. Này đây đội quân thuỷ của Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư vác những cây câu liêm ba ngạnh kì dị. Này đây đội quân gia đồng của Chiêu Minh đại vương đứng nghiêm chỉnh sau lá mộc vẽ chòm sao Bắc Đẩu của đức ông hoàng Ba. Này đây đội quân tinh luyện người Thăng Long của Trung Thành vương, con người lịch sự nhất kinh kì. Này đây đội quân của Hưng Ninh vương, đội quân của Hưng Võ vương, của Hưng Nhượng vương...

Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao chí khí của ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mạng nặng nề.

Ông thét lớn:

- Bớ ba quân!

Quân lính dạ ran kinh thành sông nước. Trần Quốc Tuấn thét tiếp:

- Quan gia đã hạ chỉ cho ta lĩnh cờ Tiết chế cùng các ngươi ra quân giết giặc. Kiếm Thượng Phương đây! -
Ông giơ cao kiếm lên khỏi đầu - Ai trái lệnh phản dân hại nước ta sẽ nghiêm trị không tha.

Quân sĩ lại dạ ran. Nhân Tông cầm cây gậy xương cá trong tay Dã Tượng lại gần trao cho Trần Quốc Tuấn:

- Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khoẻ.

Sau đó Trần Quốc Tuấn ra lệnh cho đạo quân bộ lên đường. Khi các cánh quân bắt đầu chuyển, Trần Quốc Tuấn cũng xuống bến thuyền. Ngoài cửa bến, Trần Quốc Tuấn thấy đức ông Chiêu Minh đứng chờ sẵn ở đó. Sau lưng Chiêu Minh đại vương là thư nhi hai phủ. Trần Quang Khải tặng Trần Quốc Tuấn tập thơ Lạc
Đạo gồm những bài ông làm gần đây do chính tay ông chép lại. Ông nói với Hưng Đạo vương:

- Ba quân đã trảy, xin mời Quốc công lên thuyền.

Trần Quốc Tuấn vái từ vua rồi quay sang Trần Quang Khải:

- Hịch đã viết xong. Phiền Thượng tướng quân sai truyền đi các lộ ngay.

Thuyền tướng từ từ kéo buồm. Ngọn cờ tiết chế uy nghi trên mũi thuyền. Nhân Tông để tay vào đuôi thuyền khẽ đẩy. Thuyền tướng rời bến. Mặt sông la liệt buồm và cờ. Dàn trống đồng đánh nhịp xuất quân.
Tiếng trống rạo rực và thôi thúc.

Quân chèo thuyền cất cao giọng:

Dò hò này...

khoan ơi hò khoan

Dò hò... này

Cùng nhau ... ý a

Tiếng hò náo nức lòng người xiết bao. Trần Quốc Tuấn đứng trên mũi thuyền thấy sông bao la chan hoà ánh nắng. Thăng Long từ từ xa dần và trong lòng vị tướng già bỗng đinh ninh lời thề khải hoàn với kinh thành yêu dấu.

Trần Quốc Tuấn trầm ngâm ngắm đêm sông Thiên Đức đầy sao. Đốm lửa cuối thuyền của cụ Uẩn chỉ còn le lói mé xa xa như lửa đóm. Các bô lão sau yến vua ban đã chia tay nhau trở về quê quán. Trần Quốc Tuấn còn nghe văng vẳng trong tai lời một bô lão cao tuổi nhất:

- Bẩm Quan gia! Chúng tôi sẽ kể cho con cháu chúng tôi nghe. Tôi con cả nước sẽ vững lòng chống giặc.

Cụ Uẩn về Bình Than, nửa đường cụ rẽ vào Mai Hiên chào Trần Quốc Tuấn. Mai Hiên là thái ấp ngày xưa của đức ông Phụng Kiền, về sau Quan gia ban cho Hưng Đạo vương làm ấp thang mộc, để cho đức ông Hưng Đạo có nơi tắm gội sạch sẽ gần kinh thành mỗi bận tiến cung chầu vua.

Trần Quốc Tuấn giữ ông cụ Bình Than lại thái ấp và đãi ông cụ một bữa rượu say tuý luý trước lúc lên đường xuôi Bình Than. Ông cụ say đến nỗi không xách được cái thúng khảo sơn trong có nước và một đôi cá giếc đuôi đỏ ra bến thuyền. Đôi cá này là vật vua ban cho tất cả các cụ có mặt trong tiệc Diên Hồng. Khi các cụ bô lão chia tay nhau, gia nô hương Vạn Kiếp trông thấy cụ Uẩn mặc áo vóc tía, đều kinh ngạc sững sờ rồi kêu lên: “Úi chao ôi! Cụ được Quan gia phong tước hầu thượng vị cơ à?”. Cụ Uẩn trả lời không phải, nhưng gia nô hương Vạn Kiếp không tin bởi vì chỉ tước Thượng vị hầu mới được mặc áo tía. Trần Quốc Tuấn cũng suy nghĩ và không hiểu rõ ý Nhân Tông. Có lẽ Quan gia phong tước này cho cụ Uẩn thật chăng? Ban phong cho để thưởng công cụ đã có kế hay ương cá các nơi làm lương ăn cho quân dân no nê đủ sức đánh lâu dài. Hay Quan gia cho ông cụ áo tía chỉ vì trong hoàng cung chỉ dùng có hai màu áo: màu vàng của nhà vua và màu đỏ của thái giám trong cung? Nhưng có thể Quan gia phong tước cho người lính già này thật đấy, mà như thế cũng không có gì là quá với ông cụ.

Trần Quốc Tuấn mỉm cười nhớ tới trí lự của Nhân Tông, học trò và con rể của mình. Trong khi tiệc Diên Hồng đang diễn ra sôi nổi, lính quân Thần Sách được lệnh đem lưới đến hồ Dưỡng Ngư đánh cá. Bộ Hộ cũng được lệnh của hoả tốc biện bằng đủ năm trăm chiếc thúng sơn. Khi Quan gia tiễn bô lão ra cửa Việt Thành, các cụ được vua ban nhiều quà, nào là chày cối giã trầu, nào là hộp quả đào đựng trầu vỏ, nào là quế quý và mỗi cụ được một đôi cá giếc. Nhân Tông ân cần dặn:

- Các cụ về nuôi cho khéo. Có khi đánh giặc cũng lâu. Các cụ nuôi làm sao cho cá đầy đầm đầy ao, dân có cá ăn, quân có cá ăn.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #86 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:12:08 pm »

Trần Quốc Tuấn thấy lòng lâng lâng. Ông đột nhiên nghĩ rằng giờ đây trên mọi nẻo đường, các bô lão đang nâng niu đôi cá giống mang về tới thôn xóm hẻo lánh nhất, truyền cho trăm họ ý chí quyết đánh quyết thắng của triều đình.

Ông nghĩ tới bao người đang âm thầm làm công việc sửa soạn chống giặc. Đỗ Vỹ đã lên đường. Bây giờ anh ấy đang ở một nơi nào đó bên kia biên giới, âm thầm, gan góc làm công việc khó khăn ông đã giao cho. Ông nghĩ tới Trần Bình Trọng, con người luôn luôn nghĩ mình làm tướng cần ở chốn biên thuỳ. Bảo Nghĩa hầu đã xin vua thôi chức Nguyên suý trấn điện để lĩnh quân lên ải bắc. Bây giờ Bảo Nghĩa hầu đang cùng quân hành tiến ở triền sông nào đây?

Bỗng Trần Quốc Tuấn mở to mắt nhìn về phía nguồn sông. Ông thấy những đốm sáng ông đang chờ đợi. Những đốm sáng to dần trở thành những ngọn lửa đuốc cắm trên mũi những con thuyền mang bản hịch của ông truyền đi các lộ. Trần Quốc Tuấn lắng nghe binh sĩ reo hò:

- Bớ làng chạ hai bờ! Triều đình đã xuất quân. Làng trên chạ dưới lắng nghe tôi truyền chỉ vua. Triều đình đã xuất quân phá giặc. Bớ làng chạ hai bờ...

Đoàn thuyền truyền hịch rất đông, kéo dài hàng mấy khúc sông, lốm đốm lửa đuốc như con rồng sáng. Từ thôn làng hai bờ sông Thiên Đức, tiếng lao xao to dần, dân làng cũng bật hồng kéo ra, ngắm cảnh nửa đêm truyền hịch.

Trần Quốc Tuấn nhìn sang phải, sang trái. Đâu đâu cũng thấy hàng nghìn bó đuốc cháy bập bùng. Ông có cảm giác cả nước hôm nay không ngủ. Cả nước cùng thức với ông nghe bản hịch dậy lòng chống giặc.
Ông nghiêng mái đầu lắng nghe. Mé bên kia sông, có tiếng ai sang sảng. Bên ấy bài hịch của ông đang vang lên từng tiếng rành rọt, đanh thép. Ông lẩm bẩm:

- Đạo quân của Hoài Văn hầu và của Trung Thành vương đây.

Ban chiều ông đã thấy hai đạo quân này cắm lều trận trên cái bãi sa bồi bên kia sông. Bây giờ quân sĩ xếp từng đô vuông vức, nổi đuốc lên nghe hịch...

“... Huống chi ta với các ngươi, sinh ra giữa buổi rối ren, lớn lên nhằm thời nguy cấp, mắt thấy sứ giặc đi lại đường sá nghênh ngang, uốn lưỡi cú diều sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó làm nhục tể phụ...”
Trần Quốc Tuấn cười gằn nghĩ tới Sài Thung. Nó chưa phải là kẻ thù hung hãn nhất. Lần này ra quân, phân thắng bại ở chiến trường, chính là lúc ông sẽ diệt tan nguồn gốc bạo lực kiêu hãnh của giặc. Cả nước sẽ cùng xốc tới theo ngọn cờ của ông dìm giặc xuống đáy các dòng sông nước Việt.

Bên kia sông, tiếng hịch càng to hơn:

“... Các ngươi ở dưới trướng ta đã lâu, nắm giữ binh quyền, không có áo thì ta cho mặc, không có cơm thì ta cho ăn, thăng chức, cấp lương, cấp thuyền, cấp ngựa...”

Thốt nhiên hàng loạt hình ảnh thân thiết, vũ dũng, hiên ngang, nhân ái diễu nhanh qua trước mắt ông. Chiêu Minh đại vương với đôi mắt trầm tư sâu sắc. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật dẫn đầu một cánh quân kị sơn chiến gọn ghẽ, sắc sảo nhưng vẫn lịch sự duyên dáng. Hoài Văn hầu với khí thế tuổi trẻ nuốt trâu dẫn đầu sáu trăm gã thiếu niên hào kiệt, tươi vui và nhộn nhạo. Ông nhớ tới Đỗ Vỹ, con người tài hoa, bản lĩnh, tới Dã Tượng, Yết Kiêu, những gia tướng trung trinh, cụ Uẩn, người lái đò già đã từng là tay kiếm hộ vệ của cha ông, tới thư nhi Trương Hán Siêu, tới ông già chép sử Lê Văn Hưu, bậc thầy và tham quân trí lự của Chiêu Minh vương... tới tất cả những con người anh hùng của nước Việt anh hùng...

“... Bởi vì như vậy tức là các ngươi không hề nghĩ tới mối thù chung, điềm nhiên không lo rửa nhục, không nghĩ đến việc dẹp giặc, không siêng năng luyện rèn sĩ tốt. Như thế là trở giáo hàng giặc. Rồi đây khi đánh tan giặc, các ngươi sẽ phải để thẹn muôn đời, còn mặt mũi nào đứng giữa trời đất nữa?
Vì vậy cho nên ta viết hịch này để cho các ngươi biết bụng ta...”

Thốt nhiên có tiếng reo dậy đất. Bãi sông bên kia xôn xao ông cảm thấy có một sự việc trang trọng đang diễn ra bên đó. “Hãy khắc lên da thịt cho hai chữ ấy nhuyễn vào xương máu chúng ta. Giết giặc!”
Sự việc gì thế nhỉ? Đột nhiên Trần Quốc Tuấn ao ước có phép thần để có mặt lúc này tại khắp nơi trên đất nước, hoà tình cảm riêng với hào khí của cả dân tộc Việt. Trần Quốc Tuấn chợt thấy dạ cứ nao lên và ông tự hứa thầm sẽ làm hết sức mình để tạ lại những tấm lòng trung trinh, nhân ái ấy.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #87 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:13:50 pm »

Chương 15

Mùa xuân. Những hạt mưa nhỏ nhẹ, bay la đà đậu cả lên khăn chiến, lên vai áo chẽn của binh lính. Vạn hộ hầu Nạp Tốc Lạt Đinh giơ cao lá cờ lệnh. Từ chỗ đứng, viên tướng Nguyên có thể nhìn thấy các đội quân Hán, Ô Man, Thát Đát... đang chiếm lĩnh các vị trí xuất quân trong trận đánh quyết định sắp tới. Cuộc Nam chinh thế là đã bắt đầu hơn một tháng rồi.

Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy một mũi phụ tiến từ nước Đại Lý cũ vào tây bắc nước Đại Việt. Mũi tiến công này dùng cốt lõi là một nghìn quân kị mã Thát Đát cưỡi những con ngựa Đại Lý thấp nhỏ nhưng bền sức và vó chắc quen thuộc đường rừng, nhưng lực lượng rộng rãi gồm hơn một vạn quân Hán và quân Ô Man đánh bộ ở vùng rừng núi rất giỏi.

Nạp Tốc Lạt Đinh dẫn đội quân kị từ hành doanh của Đại nguyên soái Thoát Hoan về đây. Y đã được dự bàn kế tấn công vào nước Đại Việt với tư cách là một tướng chỉ huy một mũi. Nạp Tốc Lạt Đinh đang say sưa với niềm khát vọng cuồng nhiệt và y tin chắc sẽ được dự phần công lớn. Đại nguyên soái Thoát Hoan thật là một tướng giỏi tuy tuổi trẻ mà vẫn xứng đáng dòng dõi danh tướng. Đại nguyên soái đã vạch ra một kế hoạch tấn công kì diệu bằng bốn mũi:

- Mũi tấn công mé tây bắc nước Việt, Nạp Tốc Lạt Đinh được vinh dự làm tướng. Mũi này nhằm buộc quân Việt phải chia ra thụ địch ở nhiều hướng.

- Mũi tấn công từ mé Chiêm Thành đánh úp vào sau lưng nước Việt. Mũi này do Nguyên soái Toa Đô làm tướng.

- Mũi tấn công bằng cả thuỷ lẫn bộ vào phía đông nước Đại Việt. Mũi này dùng nhiều quân Hán tuyển chọn ở Quảng Đông, Phúc Kiến, dùng cả bọn cướp biển mới quy hàng. Tướng mũi tấn công này là viên tướng Hán là Vạn hộ hầu Lý Bang Hiến.

- Đại nguyên soái Trấn Nam vương Thoát Hoan và Binh chương A Lý Hải Nha chỉ huy đạo quân chính đánh vào phía bắc nước Việt. Thực ra, linh hồn của đạo quân này chính là Phó Nguyên soái A Lý Hải Nha. Mà thực ra gã này cũng chính là bộ não của cả đạo quân Nam chinh nhà Đại Nguyên.

Năm mươi vạn cả lính lẫn phu là một đội quân cực mạnh. So với thời Đại Hãn đội quân này không nhanh bằng nhưng có sức bền tiến hàng năm xa đất gốc và có đủ chiến cụ để vượt qua các luỹ, vượt qua những dòng sông phương nam mùa nào cũng mênh mông, đủ sức và đủ phương tiện để tiến hành đánh các thành trì đắp đất hoặc xây gạch. Một đội quân với trình độ tổ chức cao, có đủ binh phù ấn tín, có phương tiện thông tin bằng ngựa, bằng thuyền, bằng hiệu cờ, hiệu đèn, hiệu khói lửa. Lại thêm có cốt lõi là kị binh Thát Đát và thuỷ binh hải tặc cũ ven biển Quảng Đông, Phúc Kiến.

Nạp Tốc Lạt Đinh đã nửa đời chinh chiến, ăn ngủ trên lưng ngựa nhưng chưa lần nào y thấy say sưa như lần này. Ôi cái nước Việt như trong truyện thần tiên, một năm ba mùa lúa chín, cá đầy sông hồ biển suối, ngọc trai, trầm hương, sừng tê, vàng vớt lên từ suối, ngọc lấy từ bờ khe mà con gái thì đẹp như tiên, dệt những tấm lụa mặc vào người rồi mà vẫn tưởng cởi trần...

Phía trước mặt Nạp Tốc Lạt Đinh là một đạo quân Việt quen thuộc rừng núi do một tướng nghe đâu là một bậc thân vương thao lược của nước Việt chỉ huy: Trần Nhật Duật. Những tên do thám sừng sỏ lão luyện của triều Nguyên đã đánh giá về viên tướng Việt này như sau: Một tướng giỏi, thận trọng nhưng vô cùng gan dạ. Và rất thông minh, quả là rất thông minh. Nạp Tốc Lạt Đinh đã lập mẹo để bắt sống bằng được viên tướng đó. Trần Nhật Duật có tám nghìn quân sơn cước, một lực lượng xấp xỉ với đội quân của y nhưng viên tướng Việt đã phải chia một nửa số quân ấy sang tiếp sức cho mé đông bắc rồi. Quân Việt không mắc mẹo chia quân thụ địch nhiều hướng mà còn tập trung cho chiến trường chính. Nhưng như thế lại có lợi cho Nạp Tốc Lạt Đinh. Y đã sai thám mã giỏi đi dò xét quân Việt. Xem khói nấu cơm, xem bụi bốc ở chỗ đóng quân người Việt, bọn thám mã đoán chắc quân của Trần Nhật Duật không quá bốn nghìn người. Nạp Tốc Lạt Đinh liền cho quân kị chọc sâu vào sau lưng quân Việt để chẹn hậu. Trong khi đó y đánh cầm chừng ở mặt chính. Căn cứ vào tính nết của viên tướng Việt, Nạp Tốc Lạt Đinh phán đoán quân Việt sẽ ngoan cường giữ vững mặt trận và như vậy khi vòng vây khép hậu, Nạp Tốc Lạt Đinh sẽ bắt sống tướng đối phương, làm tròn tướng mệnh cho mũi tấn công tây bắc của y.

Nạp Tốc Lạt Đinh nhớ tới lời giao hẹn của Đại nguyên soái Thoát Hoan: tướng mũi nào làm tròn tướng mệnh cũng được tính công đầu! Nạp Tốc Lạt Đinh đinh ninh y sẽ lập công đầu lần này, tên ghi sách vàng, phong hầu một phiên trấn, trở thành ông vua con ở Vân Nam.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #88 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:14:37 pm »

Những đội quân Hán, Ô Man, Thát Đát dùng mọi thủ đoạn để tỏ ra ít và yếu. Chúng dùng một số quân rất nhỏ tiến ban ngày để mở đường còn quân chủ lực cứ xế chiều mới ra đi. Nạp Tốc Lạt Đinh còn sai người đốt lửa ở các mỏm núi cao để nghi binh làm như quân Nguyên vẫn đóng lại chưa dám tiến. Kì thực thế trận bao vây đã mau chóng hình thành.

Theo mẹo của y, quân Nguyên sẽ mở cuộc tấn công lớn vào mờ sáng ngày mai, dồn quân Việt xuống đáy cái túi đã có quân kị mã thiện chiến chực sẵn đánh lối cất vó. Nạp Tốc Lạt Đinh lên ngựa. Đội hộ vệ của y cũng lên ngựa. Đoàn người ngựa xuống núi đi về phía nam.

Xa xa, phía quân Việt, những làn khói nấu cơm vẫn bốc lên. Nạp Tốc Lạt Đinh cười nhạt. Bọn ấy đâu biết được diệu kế của y, Vạn hộ hầu, danh tướng nhà Đại Nguyên!

Nạp Tốc Lạt Đinh vẫn tính vừa quá cao vừa quá thấp lực lượng của đối phương. Theo tính toán của Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, mặt tây bắc rừng núi rậm rạp hiểm trở, đường lương thảo rất khó vận chuyển, giặc có kéo sang cũng chỉ là mũi nghi binh. Trần Quốc Tuấn đã tập trung binh lực nhằm đánh mòn địch ở mặt trận đông bắc. Ông nhận định: mặt trận này mới là mặt trận chính. Nhưng Trần Quốc Tuấn đã đặt một cánh quân mạnh ở Đà Giang và Tam Đái Giang. Cánh quân này do Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc chỉ huy sẽ tiến qua mặt trận của Trần Nhật Duật chọc thẳng vào sau lưng địch, hình thành thế địch đánh ta vào sâu đất ta, ta lại tiến quân đánh vào sâu đất địch, phá mưu của Thoát Hoan. Phá cái mưu đem cuộc chiến vào đất ta bằng cách đem cuộc chiến vào giữa đất địch. Cánh quân của Trần Ích Tắc có viên phó tướng là Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng nguyên giữ chức trấn thủ lộ Tam Đái Giang. Toàn bộ cánh quân được lệnh ém kín trong rừng. Vì vậy ở lộ Quy Hoá, Trần Nhật Duật chỉ giữ có hai nghìn quân, dùng toàn binh khí nhẹ để tiện di chuyển chiến đấu ở vùng rừng núi. Ông đã được giao tướng mệnh: Đánh kiềm chế nếu giặc tiến quân cả mặt này. Nếu chúng không sang mũi này thì đem dân binh sang quấy rối vùng sau lưng địch ở mạn đông bắc làm bức tường dựa cho cánh quân của Trần Ích Tắc sẽ đánh sâu vào trong đất địch.

Chính lúc này, trên một mỏm núi cao, Trần Nhật Duật cũng đang quan sát thế trận và nghiền ngẫm mẹo phá giặc. Ông cũng đang băn khoăn về cánh quân của Trần Ích Tắc không hiểu vì lí do gì mà chậm trễ chưa tiến quân qua. Trần Nhật Duật còn nhớ hôm xuất sư. Hôm ấy sau khi tiệc Diên Hồng kết thúc, hai vua và triều đình long trọng tiễn các bô lão ra bến Đông để trở về các lộ. Ngay lúc đó, Quốc công làm lễ tế cờ xuất sư. Chiêu Văn vương dẫn quân bản bộ lên đường đi Quy Hoá. Đêm đó ông đóng quân nghỉ trên một vùng bãi sa bồi bên bờ sông Nguyệt Đức. Đằng sau trại đêm của ông là trại đêm của Trung Thành vương và Hoài Văn hầu. Nửa đêm hôm đó, hịch của Quốc công Tiết chế được truyền đi. Trên sông Nguyệt Đức thăm thẳm hùng vĩ, đoàn thuyền truyền hịch từ sông Thiên Đức tiến sang đốt đuốc dăng hàng dọc như một con rồng lửa. Hai ven sông, quân lính và trăm họ trang trọng đứng im lặng nghe loa truyền hịch.
“... ngó thấy sứ nguỵ đi lại đường sá nghênh ngang...”

Hà! Trần Nhật Duật thừa hiểu thế nào là sứ giặc đi lại đường sá nghênh ngang... Nhưng quân thù đâu phải chỉ là mấy tên sứ thần hỗn hào láo xược mặc dù chúng đã làm ông và các tướng triều đình lắm phen căm gan tím ruột. Quân thù thực sự, nguồn gốc bạo lực, kiêu hãnh và hung hãn của chúng là binh là tướng hiếu sát tàn ác, đến lúc này mới nhe nanh giương vuốt xuất đầu lộ diện. Hịch của Quốc công nhắc nhở mọi người ghi nhớ mối thù không đội trời chung và ghi nhớ cả nỗi nhục sâu xa.

Trần Nhật Duật mường tượng vẻ mặt nhân hậu của Quốc công khi nghe tiếp lời hịch:

“...Ra trận cùng nhau sống chết, ở nhà cùng nhau nói cười.”

Đấy! Đấy chính là lẽ keo sơn trong đạo quân phụ tử của nước Việt, chính là sức mạnh tất thắng của đạo quân ấy. Khi hịch truyền xong, binh tướng trong đạo quân của ông và của các trại đêm bên cạnh cùng hăm hở xăm lên bắp tay lên bả vai những chữ: “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc”. Vì nghĩa quên thân là đền ơn nước. Ý nghĩa thật sâu xa.

Mờ sáng hôm sau, Trần Nhật Duật dẫn quân lên đường. Ông gặp Quốc công Tiết chế xuôi thuyền về hành trung doanh Vạn Kiếp. Trần Quốc Tuấn cho thuyền nhỏ đón ông lên chơi trên thuyền tướng. Ông nói:

- Anh trưởng cứ yên tâm, em quyết làm tròn tướng mệnh.

Trần Quốc Tuấn cầm tay ông, trầm ngâm giờ lâu. Quốc công vốn yêu mến và tin tưởng tài đức của Trần Nhật Duật, nhưng lần này là một thử thách cực kì to lớn cho nên cẩn trọng bao nhiêu đi nữa cũng không phải là thừa. Trần Quốc Tuấn dặn ông:

- Chúng ta chỉ có một con đường là quyết thắng. Lẽ ấy gắn bó đến sự tồn vong của đất nước ta. Con đường chiến thắng ấy không phải ít gian nan nguy hiểm. Chúng ta phải vượt qua những cửa quan cực kì khó khăn.

- Anh trưởng thương em mà dặn dò, em xin gìn giữ lời căn dặn của anh trưởng. Cửa quan nào em cũng quyết vượt qua.

- Ta tin là em sẽ làm được nên mới sai em giữ mặt tây bắc. Người ta thường nghĩ mặt trận này không quan trọng nhưng thực ra phải do một tướng có bản lĩnh trấn giữ. Bởi vì nó là một mặt trận riêng biệt, ai trấn mặt này sẽ phải quyết định một mình việc đánh, giữ, tiến, lùi. - Trần Quốc Tuấn ngừng lại một lát, trầm lặng nhìn Trần Nhật Duật trước khi nói tiếp: - Em còn nhớ không, đã có một lần anh em ta bàn chuyện ở Thăng Long về bản lĩnh của một người anh hùng. Điều chúng ta đã bàn hôm ấy chính là điều em sẽ gặp ở mặt trận Quy Hoá. Trong tất cả các cửa quan thì cửa quan khó đánh chiếm nhất chính lại là cửa quan do mình trấn giữ. Ta chỉ thấy có điều ấy cần phải nhắc với em. Thôi ta tạm biệt em. Chúc em đem cờ bách thắng cắm lên vọng lâu các cửa quan.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
selene0802
Moderator
*
Bài viết: 2783


...áo xanh, nón tai bèo, mưa đầu mùa...


« Trả lời #89 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2011, 03:15:27 pm »

Trần Nhật Duật đã từ biệt Quốc công để lên đường. Chiến tranh đã xảy ra ngót một tháng nay. Tết Nguyên Đán đầu tiên xa nhà trong cuộc đời đã gây cho ông nhiều cảm xúc. Binh đao đã xảy ra trên đất nước nhưng ở mặt trận này cũng chỉ có vài cuộc chạm giáo lớn giữa đôi bên. Giặc tiến rất chậm mặc dù quân giặc đông gấp đôi gấp ba. Chúng hành binh đờ đẫn như kẻ mất hồn lạc vía. Nhưng chúng không thể lừa dối được đôi mắt quan sát bình tĩnh của ông được. Chúng đang có một mẹo sâu hiểm độc, điều ấy đến nay đã rõ ràng. Lắm lúc ông muốn sai sứ sang hành doanh của Nạp Tốc Lạt Đinh để bảo cho viên Vạn hộ hầu này biết rằng hắn đừng hòng lừa ông và chính hắn đang bị ông lừa, đang bị ông giam chân ở mặt trận này ngót một tháng nay rồi. Nhưng cuối cùng sau khi suy xét kĩ, ông lại sực nhớ đến cửa quan bản thân cực kì khó chiếm và ông thôi ngay hành động xốc nổi này. Ngót một tháng trời hai bên vờn nhau như bướm vờn hoa. Có lúc giặc làm như sắp tấn công rồi chúng lại thôi. Có lúc ông cũng trương cờ, đốt khói nghi binh làm như sắp tiến hoặc sắp rút rồi cũng thôi. Nạp Tốc Lạt Đinh đã dùng đủ các mẹo nhưng không chọc tức được ông và cũng không doạ được ông. Trần Nhật Duật với cánh quân sơn cước ít hơn vẫn chập chờn trước phòng tuyến của giặc. Hơn thế nữa chỉ bằng vài di chuyển nhỏ những đội quân nhỏ ở hai chót cánh, Trần Nhật Duật đã buộc Nạp Tốc Lạt Đinh phải vội vã chuyển quân ứng phó, để lộ ra nhiều kẽ hở. Đó thật là những thời cơ thuận tiện để tiến như một mũi dùi vào sâu trong phòng tuyến giặc vào sâu trong đất giặc nữa. Giá mà đức ông Chiêu Quốc có mặt kịp như tướng mệnh giao nhỉ? Thế là thế giằng co đành chỉ vẫn là thế giằng co.

Nhưng đến hôm nay, quân thám mã của Trần Nhật Duật đem về hành doanh mấy tin tức đáng lưu tâm. Trước hết đội kị binh của địch không thấy xuất hiện đã hai hôm nay. Chúng ở đâu bây giờ? Quân kị là lực lượng con cưng mà giặc thường dùng để đánh những mũi thọc sâu vào sau lưng đối phương. Không thấy tung tích đội quân Nguyên cưỡi ngựa thì phải đề phòng phía sau lưng chiến tuyến. Tin đáng lưu ý nữa là địch mới tăng thêm một vạn quân Tân Phụ nữa. Quân Tân Phụ là quân Nam Tống đầu hàng Hốt Tất Liệt mới đây. Chúng đều là người quê mé nam núi Ngũ Lĩnh. Chúng giỏi trèo núi và chịu được khí hậu nóng ẩm của đất Việt. Có nhiều đưa biết bơi biết lội dễ dàng chiến đấu hợp với miền đất sông ngòi chằng chịt.

Trần Nhật Duật nhận định là giặc sắp mở cuộc tấn công lớn ở đây để tiếp tay cho cuộc tấn công của tướng giặc Thoát Hoan ở chiến trường đông bắc. Tin tức từ chiến trường đông bắc đưa về rất đáng lo ngại. Thế mạnh nghiêng về phía địch. Quân của chúng đông hơn và đã quen chiến đấu. Tướng địch có nhiều kinh nghiệm chỉ huy những đạo quân đông được trang bị nhiều loại binh khí và chiến cụ nặng. Trong nhiều trận đánh đã xảy ra, quân ta rất anh dũng nhưng cuối cùng vẫn tổn thất nặng hơn và phải lùi. Ở cực bắc, Trần Bình Trọng đem hai quân Thánh Dực cùng với dân binh lộ Lạng Giang chặn địch rất tài cốt để chờ cơ hội khi cánh quân của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc chọc sâu ra sau lưng địch thì sẽ tung quân ra đập tan mũi chính diện này. Nhưng chờ mãi không thấy Trần Ích Tắc tấn công, giặc có thời gian hình thành thế bao vây. Điểm gay cấn nhất là ải Khả Ly. Hai quân Thánh Dực bị hãm trong vòng vây dày tưởng như không thoát nổi một mống. Trần Bình Trọng ráng chờ đến lúc biết không còn hi vọng mũi tấn công của Chiêu Quốc vương nữa mới tổ chức phá vây. Một đêm, vào lúc canh ba, quân ta dưới sự chỉ huy của Bảo Nghĩa hầu mở đường máu: Trận đánh dữ dội nhưng nhờ đêm tối, nhờ ý chí quyết tử, Trần Bình Trọng đem được hai quân Thánh Dực ra khỏi vòng vây với đầy đủ binh khí, cờ hiệu và cả dàn trống đồng nữa.
Hiện nay chiến tuyến đã lùi về tới sông Lục Đầu. Mỗi bên dàn mấy chục vạn quân trên một vùng sông núi hiểm trở chen lẫn những cánh đồng nhỏ và những bãi cỏ hoang. Trần Quốc Tuấn đặt một vọng khói lửa trên đỉnh Côn Sơn để chỉ huy chung cho toàn chiến trường và để báo tin tức về hai vua ở Thăng Long. Vọng khói lửa đặt ngay trên Bàn Cờ Tiên, điểm cao nhất của dãy Côn Sơn. Nhưng Trần Nhật Duật hiểu rằng ở thế đất ấy, quân thuỷ của ta xoay xở dễ dàng nhưng quân cưỡi ngựa của địch sẽ tung hoành như vào chỗ trống. Không lẽ một bậc trí lự như Quốc công Tiết chế lại tiếp nhận chiến đấu ở một thế đất như vậy? Trần Nhật Duật đã băn khoăn suy nghĩ mấy hôm liền. Thế chiến trường Lục Đầu và Quy Hoá cũng tương tự như nhau. Thật đáng tiếc là cánh quân ém ở lộ Tam Đái cứ im lìm không động tĩnh. Đột nhiên Trần Nhật Duật hiểu rằng Trần Quốc Tuấn cũng đang ở một hoàn cảnh tâm lí tương tự như hoàn cảnh tâm lí của ông.
Giặc đông hơn, quen chiến đấu hơn. Tướng giặc đã trải nhiều năm chinh chiến, có kinh nghiệm chỉ huy những đạo quân lớn đánh phối hợp với nhau. Quân tướng bên ta có trí, có dũng nhưng binh lửa mới xảy ra, những sơ xuất do thiếu kinh nghiệm có ở tất cả các cấp. Những sơ xuất ấy đã dẫn đến mấy trận thua vì ngờ nghệch. Tính đến bây giờ, hai bên đều có trận thắng trận thua nhưng quân ta thường thắng những trận mà quân tham chiến của mỗi bên chừng vài ba ngàn, còn những trận lớn một vài vạn quân phần thắng thường về phía địch.

Thế chiến trường như vậy, điều tốt nhất là quân ta phải cậy đến một ông tướng đặc biệt: Ông tướng thời gian! Phải tránh việc dốc túi đánh một nước bạc quyết liệt. Phải nhờ thời gian đem những kinh nghiệm thao lược cần thiết đến cho các tướng. Ai là người dám hạ một mệnh lệnh như thế bây giờ? Người ấy phải là một ông tướng dũng cảm trí lự. Phải hiểu mình, hiểu địch và dũng cảm rút ra những điều cần thiết phải làm để giành lấy thắng lợi cuối cùng.

Trần Nhật Duật đến lúc này mới hiểu thấu đáo cái vinh dự của ông đã được Quốc công tin cậy giao cho quyền làm tướng cầm quân độc lập ở mặt trận riêng biệt. Quốc công đã chọn ông, đã dặn dò ông về cái cửa quan bản thân cực kì khó đánh chiếm ấy.
Logged

...thành phố đang nhớ nhung một dáng hình ai...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM