Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:22:15 pm » |
|
Đến bấy giờ, mọi việc đều giống như một buổi thao diễn đối với chúng tôi, ngoại trừ chúng tôi đi theo dấu của chiến tranh, đi qua những bãi chiến trường đã xảy ra vài ngày trước và thấy những gì còn lại của một trận chiến. Chúng tôi đã quen với bụi và mùi của thuốc súng và mùi xăng nhớt trong thao diễn, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi ngữi thấy sự chết chóc. Súc vậy chết khặp nơi, chúng là những nạn nhân của đạn, cối, pháo, bom. xác chúng này trương phình lên giữa đồng với chân chổng lên trời. Tôi được biết mùi thối rữa, bụi, thuốc súng, khói, xăng là mùi của chiến tranh. Đây là lần đầu tiên tôi hít phải mùi chiến tranh, và mùi này sẽ trở thành rất quen thuộc trong năm năm đến.
Lần đầu tiên nhìn thấy lính chết làm tôi bị kinh hoàn. Chúng tôi được huấn luyện đem đến cái chết nhanh và hiệu quả nhất, và tôi biết rằng người ta chết trong chiến tranh. Nhưng "biết" trong kiến thức hoàn toàn khác với thấy và trải qua nó. Chúng tôi có các sĩ quan trong trung đoàn bị chết ở Ba Lan, đương nhiên, chúng tôi cảm giác được tổn thất. Nhưng từ "bị giết" vẫn là một từ mang ý nghĩa "thụ động" nếu so sánh với ý nghĩa của nó khi thấy trước mặt mình là một cái xác máu me, không toàn thây, thối tha mà trước đây là một cơ thể sống khoẻ mạnh. Bây giờ là một xác ghê tởm, bất động nằm trên mặt đất.
Những người lính chết đầu tiên tôi thấy là lính Pháp - Marốc. Họ bị giết trong một nghĩa trang, và họ nằm ngổn ngang, tay chân họ trong những vị trí kỳ quái, mắt và miệng mở. Sự kiện mà tôi không thể nào quên được. Đây là những gì mà chúng tôi mang đến cho người khác và họ mang đến cho chúng tôi. Một điều khủng khiếp khi biết rằng đây là những gì mà chúng tôi sẽ thấy, sẽ làm hàng ngày cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Từ giây phút đó, cái chết luôn lảng vảng quanh chúng tôi bất cứ nơi nào chúng tôi đi. Tuy nhiên, chúng tôi đã được huấn luyện cho chiến tranh, và chúng tôi phải học cách chấp nhận kề cận với cái chết.
Chúng tôi hành quân từ Englancourt đến Guise, nơi đã bị tàn phá hoàn toàn. Xác xe tăng cháy nằm khắp nơi trên đường phố, và con đường ra khỏi thị trấn dốc và hẹp và bị tắc nghẽn vì đủ loại xe của Pháp bỏ lại. Chúng tôi vượt sông Oise ở Proix, sông đào Somme ở Morcourt, và đóng quân trong một nông trại lớn ở Omissy. Rồi tiếp tục đến Moislains, và từ đó đi Hénencourt.
Những cuộc tập dượt không chuẩn bị cho chúng tôi về những người tị nạn và những ngôi nhà bỏ trống. Nên chúng tôi không đi vào những thành phố lớn với ngựa và pháo, mà ở nông thôn. Các nông trại bỏ trống và chúng tôi thường gặp những người chạy nạn. Họ rời bỏ nhà cửa vì họ thấy chiến tranh đến gần họ. Vì họ không biết phải làm gì, họ hoảng hốt và bỏ chạy. Thật buồn khi nhìn họ: đàn bà, trẻ em, và những ông già trên xe đạp và xe bò chất đầy những gì họ có thể chở đi được, và họ không biết đi đâu. Người ta làm nghẽn đường bằng đủ loại xe cộ chất đầy các vật dụng. Đúng ra, chiến thuật tấn công blitzkrieg như một cơn lốc vượt qua rất nhanh, cách tốt nhất là cứ ở nhà và chờ cho mặt trận vượt qua. Chúng tôi luôn nói họ về nhà, chiến trận đã qua và không phải sợ hãi nữa, nhưng họ hình như cứ mê muội và không nhận thức được. tôi cảm thấy hối hận là chúng tôi đã phải làm như vậy đến với họ. Họ phải trả một giá khủng khiếp vì nước Pháp tuyên chiến với chúng tôi.
Chúng tôi kinh ngạc về tốc độ tiến quân của chúng tôi ở Luxembourg, Bỉ, Hà Lan và miền Bắc nước Pháp. Ngày 25 tháng 5, chúng tôi đến gần sông Somme, nơi quân Pháp đã xây một phòng tuyến mới để chận chúng tôi lại. Toàn bộ xe tăng của chúng tôi đã tiến về bờ biển eo biển nước Anh khu vực Dunkirk với cuộc hành quân blitzkrieg, nhưng quân đội Đức vẫn chưa vượt qua sông Somme. Bây giờ đang tập trung một lực lượng lớn để tấn công phòng tuyến Pháp để tiến về Paris.
Đến sông Somme, Raake, Wimmer, Wagner, Witnauer, và tôi lên phía trước, cùng với bộ các sĩ quan chỉ huy bộ binh, để quan sát toàn bộ khu vực. Khu vực của chúng tôi được chỉ định trên bản đồ bởi các sĩ quan hành quân sư đoàn, nhưng các vị trí riêng biệt cho các đại đội bộ binh và các pháo đội không được phân bố cho đến khi các chỉ huy quan sát địa hình. Trung đoàn trưởng bộ binh, Đại Tá Haushofer, chỉ định từng vị trí cho mỗi tiểu đoàn, và mỗi pháo đội yểm trợ từng tiểu đoàn. Các chỉ huy pháo đội tìm nơi tốt nhất để đặt các vị trí quan sát và các vị trí tốt nhất để đặt súng trong khu vực của họ. Sau khi chọn các vị trí cho toàn bộ các đơn vị, chúng tôi gởi các hạ sĩ quan về để họ đưa súng vào vị trí.
Chúng tôi có vị trí khá tốt bên bờ sông cao phía bắc con sông. Tiện lợi hơn, có một con đường chạy dọc theo bờ sông. Phía bên kia, bờ sông thoai thoải, và chúng tôi có thể nhìn xa khoảng 4 - 5km. Quân Pháp chỉ bố trí vài tiền đồn trong khu vực chúng tôi thấy được, ẩn mình trong các vườn cây hay nhứng con rạch nhỏ chảy ra sông Somme. Ngôi làng Proyart được bố trí đầy giao thông hào. Tuyến phòng thủ chính của họ sâu khoảng 4 - 5km trên những ngọn đồi gần làng Villers Bretonneux. Địa hình cao hơn của chúng tôi và phòng tuyến của họ cách xa sông khoảng 5 km làm chúng tôi có thể tấn công dễ dàng hơn. Chúng tôi biết chúng tôi sẽ không gặp sự chống đỡ cho đến khi chúng tôi tiến đến tuyến phòng thủ gần làng Villers-Bretonneux.
Sông Somme rộng khoảng 100 mét ở chỗ chúng tôi. Binh lính đào giao thông hào rồi đào hầm. Chúng tôi không biết chúng tôi sẽ ở đây bao lâu, nhưng biết chắc sẽ là một trận đánh lớn và chúng tôi sẽ tiến lên, nên đoán sẽ ở đây khoảng vài ngày.Điều kiện sống ở đây còn hoang sơ hơn ở vùng núi Eifel, nhưng binh lính làm cho họ cố gắng thích nghi hoàn cảnh mới. Chúng tôi đặt bộ chỉ huy tiểu đoàn trong một ngôi nhà bỏ trống phía sau một mô đất. Tôi có thể ngủ trong nhà thay vì trong hầm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:22:48 pm » |
|
Ở đây, chúng tôi bắn phát súng đầu tiên của cuộc chiến và tham dự cuộc giao chiến trực diện đầu tiên. Buổi chiều hôm sau, quân Pháp tấn công bằng một trận pháo. Tiếng nổ của đạn pháo lúc đầu nhói óc, nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy tôi làm quen với chúng khá nhanh. Cuộc đấu pháo của 2 bên dường như dài vô tận. Mặt đất như bùng nổ, mùi thuốc súng, đất đá văng cao, và những hoạt động cuống cuồng. các pháo thủ xung lên vì kích thích và cả vì sợ, dộng từng trái đạn về phía quân Pháp. Khi trận đánh ngưng, chúng tôi như choáng váng - vì mệt, vì kích động, và từ sự im lặng bất ngờ bao trùm ngay tiếp theo sau của những tiếng ầm vang của trận đánh. Chúng tôi cảm thấy đầu óc nhẹ hẫng.
Chúng tôi kiểm tra thương vong của các pháo đội và thấy mọi người đều hưng phấn cao độ. Tuy nhiên, chúng tôi có thương vong, Đại Uý Wagner, pháo đội trưởng pháo đội 3, bị thương nặng vì mảnh. Cứu thương băng bó ông rồi đưa về tuyến sau. Sau đó, khi tình hình vết thương cho phép di chuyển, ông ta sẽ được đưa về các bệnh viện ở Đức. Sĩ quan pháo đội của Wagner, Trung Úy Karl Schumann, thay thế ông làm pháo đội trưởng.
Chúng tôi kinh ngạc về tốc độ tiến quân của chúng tôi ở Luxembourg, Bỉ, Hà Lan và miền Bắc nước Pháp. Ngày 25 tháng 5, chúng tôi đến gần sông Somme, nơi quân Pháp đã xây một phòng tuyến mới để chận chúng tôi lại. Toàn bộ xe tăng của chúng tôi đã tiến về bờ biển eo biển nước Anh khu vực Dunkirk với cuộc hành quân blitzkrieg, nhưng quân đội Đức vẫn chưa vượt qua sông Somme. Bây giờ đang tập trung một lực lượng lớn để tấn công phòng tuyến Pháp để tiến về Paris.
Đến sông Somme, Raake, Wimmer, Wagner, Witnauer, và tôi lên phía trước, cùng với bộ các sĩ quan chỉ huy bộ binh, để quan sát toàn bộ khu vực. Khu vực của chúng tôi được chỉ định trên bản đồ bởi các sĩ quan hành quân sư đoàn, nhưng các vị trí riêng biệt cho các đại đội bộ binh và các pháo đội không được phân bố cho đến khi các chỉ huy quan sát địa hình. Trung đoàn trưởng bộ binh, Đại Tá Haushofer, chỉ định từng vị trí cho mỗi tiểu đoàn, và mỗi pháo đội yểm trợ từng tiểu đoàn. Các chỉ huy pháo đội tìm nơi tốt nhất để đặt các vị trí quan sát và các vị trí tốt nhất để đặt súng trong khu vực của họ. Sau khi chọn các vị trí cho toàn bộ các đơn vị, chúng tôi gởi các hạ sĩ quan về để họ đưa súng vào vị trí.
Chúng tôi có vị trí khá tốt bên bờ sông cao phía bắc con sông. Tiện lợi hơn, có một con đường chạy dọc theo bờ sông. Phía bên kia, bờ sông thoai thoải, và chúng tôi có thể nhìn xa khoảng 4 - 5km. Quân Pháp chỉ bố trí vài tiền đồn trong khu vực chúng tôi thấy được, ẩn mình trong các vườn cây hay nhứng con rạch nhỏ chảy ra sông Somme. Ngôi làng Proyart được bố trí đầy giao thông hào. Tuyến phòng thủ chính của họ sâu khoảng 4 - 5km trên những ngọn đồi gần làng Villers Bretonneux. Địa hình cao hơn của chúng tôi và phòng tuyến của họ cách xa sông khoảng 5 km làm chúng tôi có thể tấn công dễ dàng hơn. Chúng tôi biết chúng tôi sẽ không gặp sự chống đỡ cho đến khi chúng tôi tiến đến tuyến phòng thủ gần làng Villers-Bretonneux.
Sông Somme rộng khoảng 100 mét ở chỗ chúng tôi. Binh lính đào giao thông hào rồi đào hầm. Chúng tôi không biết chúng tôi sẽ ở đây bao lâu, nhưng biết chắc sẽ là một trận đánh lớn và chúng tôi sẽ tiến lên, nên đoán sẽ ở đây khoảng vài ngày.Điều kiện sống ở đây còn hoang sơ hơn ở vùng núi Eifel, nhưng binh lính làm cho họ cố gắng thích nghi hoàn cảnh mới. Chúng tôi đặt bộ chỉ huy tiểu đoàn trong một ngôi nhà bỏ trống phía sau một mô đất. Tôi có thể ngủ trong nhà thay vì trong hầm.
Ở đây, chúng tôi bắn phát súng đầu tiên của cuộc chiến và tham dự cuộc giao chiến trực diện đầu tiên. Buổi chiều hôm sau, quân Pháp tấn công bằng một trận pháo. Tiếng nổ của đạn pháo lúc đầu nhói óc, nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy tôi làm quen với chúng khá nhanh. Cuộc đấu pháo của 2 bên dường như dài vô tận. Mặt đất như bùng nổ, mùi thuốc súng, đất đá văng cao, và những hoạt động cuống cuồng. các pháo thủ xung lên vì kích thích và cả vì sợ, dộng từng trái đạn về phía quân Pháp. Khi trận đánh ngưng, chúng tôi như choáng váng - vì mệt, vì kích động, và từ sự im lặng bất ngờ bao trùm ngay tiếp theo sau của những tiếng ầm vang của trận đánh. Chúng tôi cảm thấy đầu óc nhẹ hẫng.
Chúng tôi kiểm tra thương vong của các pháo đội và thấy mọi người đều hưng phấn cao độ. Tuy nhiên, chúng tôi có thương vong, Đại Uý Wagner, pháo đội trưởng pháo đội 3, bị thương nặng vì mảnh. Cứu thương băng bó ông rồi đưa về tuyến sau. Sau đó, khi tình hình vết thương cho phép di chuyển, ông ta sẽ được đưa về các bệnh viện ở Đức. Sĩ quan pháo đội của Wagner, Trung Úy Karl Schumann, thay thế ông làm pháo đội trưởng.
Chúng tôi kinh ngạc về tốc độ tiến quân của chúng tôi ở Luxembourg, Bỉ, Hà Lan và miền Bắc nước Pháp. Ngày 25 tháng 5, chúng tôi đến gần sông Somme, nơi quân Pháp đã xây một phòng tuyến mới để chận chúng tôi lại. Toàn bộ xe tăng của chúng tôi đã tiến về bờ biển eo biển nước Anh khu vực Dunkirk với cuộc hành quân blitzkrieg, nhưng quân đội Đức vẫn chưa vượt qua sông Somme. Bây giờ đang tập trung một lực lượng lớn để tấn công phòng tuyến Pháp để tiến về Paris.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:23:26 pm » |
|
Đến sông Somme, Raake, Wimmer, Wagner, Witnauer, và tôi lên phía trước, cùng với bộ các sĩ quan chỉ huy bộ binh, để quan sát toàn bộ khu vực. Khu vực của chúng tôi được chỉ định trên bản đồ bởi các sĩ quan hành quân sư đoàn, nhưng các vị trí riêng biệt cho các đại đội bộ binh và các pháo đội không được phân bố cho đến khi các chỉ huy quan sát địa hình. Trung đoàn trưởng bộ binh, Đại Tá Haushofer, chỉ định từng vị trí cho mỗi tiểu đoàn, và mỗi pháo đội yểm trợ từng tiểu đoàn. Các chỉ huy pháo đội tìm nơi tốt nhất để đặt các vị trí quan sát và các vị trí tốt nhất để đặt súng trong khu vực của họ. Sau khi chọn các vị trí cho toàn bộ các đơn vị, chúng tôi gởi các hạ sĩ quan về để họ đưa súng vào vị trí.
Chúng tôi có vị trí khá tốt bên bờ sông cao phía bắc con sông. Tiện lợi hơn, có một con đường chạy dọc theo bờ sông. Phía bên kia, bờ sông thoai thoải, và chúng tôi có thể nhìn xa khoảng 4 - 5km. Quân Pháp chỉ bố trí vài tiền đồn trong khu vực chúng tôi thấy được, ẩn mình trong các vườn cây hay nhứng con rạch nhỏ chảy ra sông Somme. Ngôi làng Proyart được bố trí đầy giao thông hào. Tuyến phòng thủ chính của họ sâu khoảng 4 - 5km trên những ngọn đồi gần làng Villers Bretonneux. Địa hình cao hơn của chúng tôi và phòng tuyến của họ cách xa sông khoảng 5 km làm chúng tôi có thể tấn công dễ dàng hơn. Chúng tôi biết chúng tôi sẽ không gặp sự chống đỡ cho đến khi chúng tôi tiến đến tuyến phòng thủ gần làng Villers-Bretonneux.
Sông Somme rộng khoảng 100 mét ở chỗ chúng tôi. Binh lính đào giao thông hào rồi đào hầm. Chúng tôi không biết chúng tôi sẽ ở đây bao lâu, nhưng biết chắc sẽ là một trận đánh lớn và chúng tôi sẽ tiến lên, nên đoán sẽ ở đây khoảng vài ngày.Điều kiện sống ở đây còn hoang sơ hơn ở vùng núi Eifel, nhưng binh lính làm cho họ cố gắng thích nghi hoàn cảnh mới. Chúng tôi đặt bộ chỉ huy tiểu đoàn trong một ngôi nhà bỏ trống phía sau một mô đất. Tôi có thể ngủ trong nhà thay vì trong hầm.
Ở đây, chúng tôi bắn phát súng đầu tiên của cuộc chiến và tham dự cuộc giao chiến trực diện đầu tiên. Buổi chiều hôm sau, quân Pháp tấn công bằng một trận pháo. Tiếng nổ của đạn pháo lúc đầu nhói óc, nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy tôi làm quen với chúng khá nhanh. Cuộc đấu pháo của 2 bên dường như dài vô tận. Mặt đất như bùng nổ, mùi thuốc súng, đất đá văng cao, và những hoạt động cuống cuồng. các pháo thủ xung lên vì kích thích và cả vì sợ, dộng từng trái đạn về phía quân Pháp. Khi trận đánh ngưng, chúng tôi như choáng váng - vì mệt, vì kích động, và từ sự im lặng bất ngờ bao trùm ngay tiếp theo sau của những tiếng ầm vang của trận đánh. Chúng tôi cảm thấy đầu óc nhẹ hẫng.
Chúng tôi kiểm tra thương vong của các pháo đội và thấy mọi người đều hưng phấn cao độ. Tuy nhiên, chúng tôi có thương vong, Đại Uý Wagner, pháo đội trưởng pháo đội 3, bị thương nặng vì mảnh. Cứu thương băng bó ông rồi đưa về tuyến sau. Sau đó, khi tình hình vết thương cho phép di chuyển, ông ta sẽ được đưa về các bệnh viện ở Đức. Sĩ quan pháo đội của Wagner, Trung Úy Karl Schumann, thay thế ông làm pháo đội trưởng.
Sau khi Wagner bị thương, tôi bắt đầu coi cái chết một cách nghiêm trọng hơn. Rõ ràng là có thể là tôi, hay bất cứ ai, và mọi người đều có thể là người kế tiếp. Thật khó chịu khi thật sự nhận thấy mình không phải là bất tử.
Tối hôm ấy mưa rất lớn, và binh lính bỏ hố các nhân dựng lều trú mưa. Tôi cảm thấy may mắn khi khô ráo ngồi trong nhà và nghe tiếng mưa rơi trên mái mà không phải đội mưa. Pháo binh cơ giới của chúng tôi tiếp tục quấy nhiễu quân Pháp suốt đêm. Tình hình sáng hôm sau khá yên tỉnh ngoại trừ chúng tôi bắn pháo thăm dò về phía con đường và các vị trí quan trọng phía sau phòng tuyến địch - và pháo thăm dò của địch cũng làm như chúng tôi.
Ngày 28 tháng 5, quân Pháp tấn công chúng tôi lần nữa, lần này không chỉ pháo binh, mà còn máy bay cường kích và tiêm kích, và xe bọc thép. Pháo đến trước, và chúng tôi lập tức phản pháo. Tiếng súng bắn và tiếng động của chiến tranh lại nỗi lên, và sự kích thích lại đổ đến. Bỗng nhiên chúng tôi để ý đến các tiếng nổ xung quanh chúng tôi, làm đất đá bắn cao lên không, và mạnh hơn đạn pháo, và chúng tôi nhận ra vài chiếc máy bay Pháp đang ném bom vào vị trí chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục tác xạ, máy bay ném bom rồi khoảng 1 tá hay hơn máy bay tiêm kích tiếp tục bắn phá. Tiếng động cơ may bay làm thêm tiếng ầm vang và rối loạn của trận đánh. Sau đó, khoảng 20 xe bọc thép cố gắng tấn công chúng tôi, nhưng họ không đọ lại pháo binh nên nhanh chóng quay lui về phía Proyart. Chúng tôi đã bắn 361 viên đạn để chặn đứng cuộc tấn công. Chúng tôi tiếp tục bị pháo suốt đêm hôm hôm ấy, và chúng tôi trả lời bằng 3 loạt mỗi giờ. Chúng tôi đã quen với tiếng đạn pháo và cảm thấy không bình thường nếu không nghe chúng. Định nghĩa của từ "bình thường" thay đổi một cách nhanh chóng chỉ trong vài ngày.
Tôi nhận thấy chiến đấu vừa phấn khởi vừa sợ. Phấn khởi vì trong những tiếng bom đạn và các hoạt động làm chúng tôi sống trong trạng thái cao độ của sự kích thích. Sợ vì bất cứ lúc nào một tiếng nổ cũng có thể đưa chúng tôi vào thiên thu. Không ai biết một phút sau anh ta còn sống hay không.
Vì xe tăng của Pháp cũng như của chúng tôi đều đã đến eo biển Anh, nên các trận đánh chỉ có pháo binh, thỉnh thoảng có thêm không quân và xe bọc thép, và các toán tuần thám được tung ra khoảng trống giữa con sông và dãy đồi. Mục đích của các toán tuần thám là dò xét tình hình, bắt tù binh, và dọn sạch khu vực để quân Pháp không thấy chúng tôi xây cầu phao qua sông và cố phá việc xây cầu. Các cuộc tuần thám thay đổi quân số từ 5 người cho đến một đại đội 180 người, tuỳ vào mục đích của cuộc tuần thám. Từ tù binh, chúng tôi biết rằng đối đầu chúng tôi là Sư Đoàn Thuộc Địa Số 4 với các trung đoàn lính Senegalese và Sư Đoàn Bắc Phi Số 7 với Trung Đoàn 10 Ma Rốc và Trung Đoàn 3 Algerian.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:24:11 pm » |
|
Công việc của tôi là giữ liên lạc với các pháo đội, tiếp vận cho tiểu đoàn, chuẩn bị lệnh cho các pháo đội di chuyển nếu bộ binh chọc thủng phòng tuyến. Nếu bộ binh chọc thủng, pháo binh phải di chuyển theo để bộ binh không tiến ra khỏi tầm để chúng tôi có thể yểm trợ. Chúng tôi không di chuyển cả 3 pháo đội cùng một lúc, vì pháo binh phải luôn có sẵn bất cứ lúc nào để yểm trợ nếu địch tấn công vào bộ binh. Các pháo đội sẽ di chuyển từng đơn vị một, và BCH Tiểu Đoàn sẽ đi với pháo đội đầu để họ có thể tìm vị trí đặt súng ở nơi kế tiếp.
Trong thời gian này, chúng tôi đấu pháo với pháo binh Pháp. Chúng tôi bắn phá những mục tiêu quan trọng để quấy phá địch, không cho họ nghỉ ngơi, bắn vào đường xá, cầu cống và hệ thống thông tin liên lạc. Thỉnh thoảng, chúng tôi bắn khoảng 100 đến 150 quả đạn dọc theo một đoạn giao thông hào dài khỏang 2 cây số, hoặc chúng tôi bắn vào tuyến sau của địch để quấy phá. Hoặc bắn hú họa vào bất cứ chỗ nào, đôi khi cũng làm địch bị thiệt hại.
Chúng tôi ở sông Somme 9 ngày trước khi mở cuộc tấn công vào vị trí phòng thủ Pháp. Khi chiến dịch vào Dunkirk chấm dứt với cuộc di tản của quân Anh và lực lượng tăng của chúng tôi rảnh rang cho các hoạt động sắp tới, chúng tôi chuẩn bị cuộc tấn công để chọc thủng phòng tuyến Pháp để tiến về phía Nam đến Paris.
Đêm 4 tháng 6 khá căng thẳng. Mọi người không ai ngủ được. Thiếu Tá Raake đến bàn trực nơi tôi làm việc và ngồi xuống. Ông mồi một điếu thuốc và hút một cách chậm chạp, rít vào thật sâu và từ từ nhả khói.
"Làm việc khuya hả Knappe", ông lên tiếng.
"Tôi phải làm xong mấy cái giấy tờ này."
"Bọn Pháp đào hầm như lũ chuột chùi," ông nói những gì đang suy nghĩ. "Và rõ ràng bọn chúng có hàng khối đạn pháo. Cuộc tấn công sẽ không dễ dàng. Tôi linh cảm bọn chúng biết được cuộc tấn công ngày mai cũng chúng ta."
"Chúng ta yểm trợ bộ binh hết mình," Tôi nói. "Chúng ta biết chính xác địch ở đâu, và chúng ta sẽ tập trung tác xạ vào những nơi đó." Tôi tin rằng cuộc tấn công sẽ thành công.
"Proyart được bảo vệ bằng những ngọn đồi chắn trước mặt. Quân Pháp sẽ bắn xuống quân ta từ những điểm cao đó, và lính Ma Rốc và Senegale là những người lính thiện chiến. Chúng ta sẽ sai lầm rất lớn nếu đánh giá thấp họ." Ông đứng lên và gạt tàn. "Chúc ngủ ngon Knappe, đêm nay sẽ rất ngắn và ngày mai sẽ rất dài." Nói xong, ông bước ra. Tôi hơi lo âu khi thấy ông ta lo sợ. Bình thường ông rất cứng rắn.
Làng Proyart là mục tiêu của bộ binh trong ngày đầu tiên. Chúng tôi khai hoả vào phòng tuyến Pháp lúc 5 giờ sáng. Chúng tôi biết chắc khoảng cách và có thể điều chỉnh bằng mắt thường để bắn bất cứ các mục tiêu nào. Chúng tôi biết đường xá phía sau tuyến địch, và chúng tôi biết những giao lộ và những chỗ quan trọng.
Khi bộ binh bắt đầu tấn công, chúng tôi chuyển làn đến các vị trí pháo binh và cối của địch. Chúng tôii biết các vị trí này từ các vị trí quan sát và từ máy bay trinh sát. Thiếu Tá Raake chỉ định từng mục tiêu cho các pháo đội và cơ số đạn bắn vào mỗi mục tiêu. Luftwaffe (không quân) cũng ném bom vào các vị trí quân Pháp. Bộ binh chiếm được các ngọn đồi trước Proyart, nhưng họ bị dừng lại vì sự bắn phá của pháo binh hạng nặng nên không thể chiếm Proyart. Khi không thể với đến mục tiêu của ngày đầu tiên, họ đào hầm trú ẩn; đương nhiên họ sẽ tấn công lại, nhưng đã mệt mỏi và quyết định tấn công vào sáng hôm sau. Chúng tôi phải biết các vị trí phòng thủ để khỏi bắn lầm. Chúng tôi tiếp tục giao chiến ác liệt suốt ngày hôm đó và suốt đêm.
Đến tối, tôi đang làm bản báo cáo các hoạt động trong ngày cho Raake, Đại Úy Wimmer bỗng nhiên bước vào văn phòng. Khuông mặt ông cho tôi thấy có việc gì đó không ổn.
"Chuyện gì vậy, thưa Đại Úy?"
"Rehberg, anh ta chết rồi. Tôi nghĩ phải cho anh biết tin này, vì anh ta lạ bạn của anh."
Tôi nghe những lời đó, nhưng ý nghĩa của chúng không thấm vào ngay. "Ý ông là sao?" Tôi hỏi ngớ ngẩn.
"Đồi 84, phía tây Proyart," Ông nói thêm, như điền vào một bản báo cáo. "một tay súng bắn tỉa đã bắn anh ta. Bọn Senegal thích nấp trên cây và bắn tỉa. Anh ta bị trúng đạn."
Những lời nói bắt đầu thấm. Tôi có cảm giác trống không lẫn bàng hoàng. Một sự thù hận tê tái dâng lên trong tôi. Wimmer vẫn đứng trong tư thế đau khổ, nhìn tôi với vẻ mặt đau đớn.
"Sau hơn hai mươi năm, tôi đã quên cảm giác như bây giờ." Ông nói. Rồi bất ngờ biến mất khỏi căn phòng nhanh chóng như khi bước vào.
Tôi làm xong bản báo cáo, mặc dù đầu óc của tôi không tập trung được nữa. Rồi bước ra ngoài trong bóng đêm, cố gắng làm dịu đi nỗi rối loạn trong tôi. Ánh chớp của đạn pháo, và tiển nổ tiếp theo ánh lửa khi các pháo đổi bắn trong đêm, hình như nhấn mạnh cái chết của Rehberg. Người ta bị giết trong chiến tranh, tôi tự nói. Nó sẽ xảy ra và tôi sẽ mất bạn bè trong chiến trận.
Tôi muốn nói chuyện với Raake về điều này. Có thể ông ta kinh nghiệm hơn và có thể giúp tôi thích ứng.
Tôi vào nhà và bước vào văn phòng ông ta.
"Chuyện gì vậy Knappe?" Ông hỏi khi nhìn tôi.
"Thiếu Úy Rehberg đã chết rồi." Tôi buông giọng.
Ông nhìn thẳng vào tôi trong vài giây. "Tôi nghĩ là anh nên uống một chút gì đó." Ông vớ lấy cái tủ. Ông rót cho tôi một ly cognac và tôi uống một ngụm. Ngụm rượu mạnh thật hiệu nghiệm cho đầu óc tôi. Raake đốt thuốc lá và hút một hơi dài.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:24:48 pm » |
|
"Cái giá của chiến tranh rất cao," ông vừa nói vừa đúng dậy và bước đến cửa sổ, nhìn ra ngoài bóng đêm. "Nước Đức không thể lấy lại vị trí của nó trong lòng Châu Âu nếu không có chiến tranh, vì kẻ thù phía Tây chúng ta sẽ không cho phép điều đó. Chúng ta không thể chiến đấu mà không có thương vong." Ông quay lại và nhìn tôi. "Cuộc sống của Thiếu Úy Rehberg là một trong những cái giá mà chúng ta phải trả để tái lập cho nước Đức vị trí đứng đắn của nó ở Châu Âu."
"Tất nhiên." Tôi đáp. Trong 1 khoảnh khắc, Hình bóng Herr Hoffer lại thoáng qua đầu óc tôi. Ông ta, trong 1 phương diện nào đó, đã đoán trước cái chết của Rehberg.
"Tất cả chúng ta đều sẽ mất bạn bè trước khi cuộc chiến này chấm dứt. Có lẽ cách tốt nhất là đừng làm bạn với ai hết, nhưng điều đó sẽ không xảy ra. Chúng ta cần tất cả bạn bè đẻ có thể đương đầu với những gì ở phía trước. Chúng ta không thể dừng với người Pháp. Chúng ta chỉ phải chịu đựng mất mát như những con người thật sự."
"Ông nói đúng," tôi uống cạn ly rượu. "Cảm ơn Thiếu Tá."
Tôi nhỏ nước mắt cho bạn trong bóng đêm muôn trùng. Cái chết đã lảng vảng quanh đây. Nhưng đây là lần đầu tiên nó chạm đến tôi thật gần. Đại Úy Wagner bị thương nặng, nhưng ông ta còn sống để về nhà. Rehberg thì không bao giờ trở về. Vĩnh viễn. Anh đã biến mất trên mặt đất này. Là một người bạn, cái chết của anh đã mang đến một sự hủy diệt tàn bạo nhất với tôi trong cuộc chiến này. Đây không phải trò chơi, như những cuộc tập trận lúc trước. Chiến tranh có nghĩa là sự sống của những người bạn thân thiết bị hủy hoại trong tích tắc.
Xác của Rehberg được mang về trong đêm đó. Chúng tôi chôn anh vào 7 giờ sáng hôm sau, trong một nghĩa trang từ cuộc chiến trước. Tôi dự buổi tang lễ cùng với Wimmer và 15 người khác trong pháo đội. Xác của anh vẫn còn nguyên vẹn. Mặc dù đã 22 tuổi, anh trông trẻ hơn khi chết - Nếu như anh còn ở nhà, chắc hẳn đang tràn ngập sự sống của một thanh niên trẻ trung, thay vì phải nằm đây, một nạn nhân chiến tranh lạnh ngắt và tái nhợt. Cái chết trở thành 1 phần của tư tưởng tôi từ giây phút ấy. Thấy cái chết của những người lính Ma Rốc là một kinh nghiệm ghê gớm - nhưng đó là cái chết của kẻ thù. Khi các xác nằm trước mặt là ai đó bạn biết và làm việc chung với nhau, ai đó bạn thích và làm thân, ai đó mà cuộc đời chỉ vừa mới bắt đầu...
Đời lính không còn là những ngày vô tư như lúc đóng quân ở Plauen. Chúng tôi phải học cách chấp nhận và cố gắng vượt qua với các nhiệm vụ.Chỉ có 1 điều làm chúng tôi cảm thấy dễ chịu khi chúng tôi chôn Rehberg và vài người lính bộ binh khác trong nghĩa trang của cuộc chiến trước - những ngôi mộ trong nghĩa trang cho thấy cuộc chiến tranh trước tệ hại hơn nhiều. Chúng tôi có thể nhìn thấy hàng trăm người được chôn trong nghĩa trang này trong chiến tranh thế giới, và chúng tôi chỉ có vài người. Chiến thuật mới đem lại thương vong ít hơn. Dù sao, cảm giác này làm tôi thấy nhẹ nhàng đôi chút.
Rehberg được thay thế bởi Thiếu Úy Jaschke, một người nhỏ con và tóc vàng, mắt xanh lơ, và nước da khá đẹp. Và anh ta chứng tỏ là biết học hỏi và cầu tiến.
5:30 sáng hôm sau, chúng tôi mở màn bằng một cuộc tác xạ tập trung 15 phút vào Proyart. Rồi chuyển làn và bộ binh tấn công lại. Sĩ quan tiền sát theo dõi bộ binh và địch để điều chỉnh pháo vào tuyến quân Pháp. Chúng tôi tiếp tục bắn chặn vào tuyến sau, cầu cống, giao lộ, và các vị trí quan trọng. Nhưng quan trọng nhất là yểm trợ bộ binh.
Khi di chuyển qua sông Somme và tìm chỗ đặt súng, chúng tôi phát hiện quân Pháp đã đặt mìn trên đường nên chúng tôi phải tránh chúng. Trước khi pháo vào vị trí, chúng tôi được tin bộ binh đã chiếm Proyart, nên chúng tôi tiếp tục hành quân. Chúng tôi quay về hướng Nam, hướng Paris, và tiếp tục đội hình hành quân. Bộ binh bắt 314 tù binh Ma Rốc ở Proyart.
Trong 9 ngày chúng tôi ở sông Somme, quân Pháp đã đặt mìn các cầu về Paris, và bây giờ họ phá hủy chúng khi rút. Ngày 8 tháng 6, ở sông Avre, địch lợi dụng địa thế địa hình dễ phòng thủ phía bên kia bờ sông và dừng lại chiến đấu. Lần này, toàn trung đoàn pháo binh vào vị trí- tất cả 36 khẩu 105mm và 12 khẩu 150mm - tạo thành một rào lửa trên vị trí quân Pháp ở bờ bên kia. Địch rút lui, chúng tôi vượt sông qua các cầu phao.
Ở Sacy le Grand, chúng tôi tập trung ở sông Oise. Quân Pháp 1 lần nữa quay lại chiến đấu ở các vị trí phòng thủ thiên nhiên bên kia sông và các cầu bị phá hủy. Ở đây, chúng tôi đem vài khẩu pháo đến sát bờ sông và bắn thẳng vào cái ổ súng máy bên kia sông. Bộ binh tung ra các cuộc đột kích, tiếp đó thì đổ bộ qua bên kia sông. 9 giờ tối, công binh làm xong cầu phao, và chúng tôi đưa 1 pháo đội qua sông. Đêm hôm đó, sư đoàn bắt được một tin liên lạc của Tập Đoàn Quân só 4 Pháp ra lệnh cho quân của họ đoạn chiến. Chúng tôi ngừng bắn và để cho họ rút lui để tránh thương vong, quân Pháp để lại vài ổ súng máy và một số quân để chúng tôi nghĩ rằng họ vẫn còn ở đó. Khi chúng tôi đưa toàn bộ pháo binh qua sông, một cầu phao bị sập và chúng tôi phải dừng lại 4 giờ để công binh sửa cầu. Cuối cùng thì chúng tôi vượt hết qua cầu và tiếp tục hành quân về hướng Paris. Quân Pháp cho ngã rất nhiều cây cối cản đường để làm cuộc hành quân chậm lại. Bộ binh mất 12 người ở cuộc tấn công bên sông Oise.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:25:24 pm » |
|
Chúng tôi vào vị trí ở Verneuil và Fleuriné. Đêm 11 tháng 6, quân Pháp tấn công chúng tôi ở Senlis lúc 10 giờ đêm. Cuộc tấn công diễn ra suốt đêm và ngày hôm sau. Tiếng nổ liên lục của trận đánh - những âm thanh trộn với nhau, tiếng nổ của pháo binh và cối, tiếng giòn giã của súng máy, từng tiếng 1 của súng trường trộn lẫn vào nhau tạo thành âm thanh của một cơn giông tố - bây giờ hình như gắn liền với cuộc sống. Ba lần trong trận đánh, chúng tôi phải thay đổi vị trí quan sát vì vị trí bị pháo địch bắn phá dữ dội. Năm giờ chiều ngày 12 tháng 6, chúng tôi đưa các pháo đội về lại khu rừng phía Bắc của Senlis khi bộ binh rút lui và chấn chỉnh đội hình, và quân Pháp lập tức tấn công chúng tôi bằng không quân và pháo binh. 4 giờ chiều ngày 13 tháng 6, bộ binh mở cuộc tấn công thứ 2 vào Senlis. Pháo địch pháo mãnh liệt vào vị trí các pháo đội, vị trí quan sát bị súng máy của lính Senegal bắn từ các cây cao, và máy bay Pháp oanh tạc vào các vị trí phía sau. Chúng tôi rút tiền sát viên về một căn hầm lớn, và suốt đêm, vị trí cũ bị pháo binh Pháp trực xạ. Cuối cùng chúng tôi chiếm được Senlis và tiếp tục tiến về Paris. Đó là trận đánh dữ dội và đẩm máu, với thiệt hại nặng nề của cả 2 bên, nhưng đó là trận đánh lớn cuối cùng trên con đường đến Paris.
Ngày 14 tháng 6, từ 8 giờ đến 3 giờ chiều, chúng tôi hành quân một mạch 45km không nghỉ và vào vị trí gần sông Marne, trong một công viên tuyệt đẹp, khoảng 45km đông bắc từ trung tâm Paris. Chúng tôi có thể nhìn thấy tháp Eiffel từ công viên. Chúng tôi đã hành quân tổng cộng 800 km từ Overath đến Paris. Chúng tôi được nghỉ ngơi vài giờ để tắm rửa, nhu cầu quan trọng nhất của chúng tôi lúc này, vì bụi đất bám đầy sau những ngày chiến đấu.
Tuy nhiên, khoảng 9 tối thì có báo động và chúng tôi được lệnh di chuyển vào vị trí chỉ phía nam của Tremblay, sông đào Ourcq, nằm giữa chúng tôi và sông Marne. Paris đã tuyên bố mở cửa (nghĩa là quân phòng thủ sẽ không chống cự để thành phố không bị hư hại) ngày hôm trước, nhưng đơn vị Pháp trong khu vực sông đào là lính thủy vừa tòng quân để bảo vệ Paris đã không nhận được lệnh và tiếp tục chiến đấu. Cây cầu bắt qua sông đào chưa bị phá hủy, và lính thủy bảo vệ nó với súng máy.
Cây cối khá nhiều trong khu vực này, xen lẫn với những ngôi làng nhỏ. Con sông đào nằm ngay phía nam của một ngôi làng. Con đường chạy xuyên qua làng, hai bên là các cửa hiệu và nhà cửa. Khoảng 30 mét sau một khúc cua là cây cầu. Bộ binh bị ghim lại ở cây cầu vì súng máy của quân Pháp từ bên kia cây cầu bắn qua, con sông đào rộng khoảng 12 mét. Bộ binh cố gắng làm câm khẩu súng máy bằng đạn cối nhưng không thành công, họ yêu cầu pháo binh trợ giúp. Chúng tôi không thể bắn từ tuyến sau bằng sự điểu khiển của tiền sát viên, vì cây cối quá nhiều và khoảng cách quá ngắn. Cách duy nhất là đưa pháo lên tuyến trước và trực xạ vào vị trí súng máy, như chúng tôi đã làm ở sông Oise.
Tôi lên phía trước với bộ binh, và khi họ yêu cầu, tôi gọi một khẩu 105mm từ Pháo Đội 1 lên. Người chỉ huy bộ binh chỉ tôi căn nhà phía bên kia sông đào, ở đó khẩu súng máy đang bắn ra. Chúng tôi đi đến khẩu pháo và nói các pháo thủ chuẩn bị. Tôi phải lắp sẵn đạn vào súng, đẩy nó qua khúc cua (bây giờ chúng tôi đang ở sau một căn nhà), ngắm, và bắn vào ổ đại liên cách khoảng 25 mét. trước khi họ bắn vào chúng tôi. Đây không phải là việc của tôi, nhưng tôi muốn chắc là nó phải có hiệu quả. Bảy người chúng tôi đẩy khẩu súng. Khẩu đội trưởng là một thượng sĩ thay vì 1 trung sĩ như thường lệ, có lẽ vì người thượng sĩ cũng muốn chắc chắn. Họ đặt viên đạn vào buồng đạn, và tôi kiểm tra để biết chắc mọi việc đã sẵn sàng.
"Theo hướng dẫn của tôi, chúng ta sẽ đẩy khẩu pháo vòng qua góc đường, và tôi sẽ ngắm và hô lệnh bắn. Các anh nghe rõ không?" Tôi nhìn xung quanh, cả 6 người gật đầu.
"Lên!" Tôi ra lệnh.
Chúng tôi đẩy khẩu súng vòng qua góc tường nhà ở khúc cua. Ánh chớp của khẩu súng máy từ trong hầm ngầm của ngôi nhà bên kia sông đào khi chúng tôi nhắm và giật giây súng. Quân Pháp bắn chúng tôi trước, khi viên đạn được bắn đi, cả 7 chúng tôi đều nằm dài trên mặt đất. Tôi biết tôi bị trúng ở cổ tay trái, nhưng tôi cố nhìn qua bên kia sông đào xem chúng tôi có tiêu diệt khẩu súng máy không. Chỉ thấy khói bốc lên từ chổ đặt khẩu súng, và bộ binh đã tràn qua cầu.
Tôi bò đến chỗ nấp phía sau góc tường và kiểm tra vết thương. Một viên đạn đi vào phía sau bàn tay và đi ra chỗ cổ tay. Máu rỉ ra chỗ vết thương. Tôi cảm thấy tê; cơn đau sẽ đến sau. Tôi nhanh chóng kiểm tra thân thể. Mặc dù không bị trúng đạn chỗ nào khác, nhưng tôi tìm một lỗ bên thân áo, một qua tay áo, và một qua túi đựng bản đồ. Tôi cầu nguyện cảm ơn trời đất cho vết thương duy nhất này. Xạ thủ súng máy bắn khá hay, nhất là khi họ chỉ là thủy thủ! Và 3 pháo thủ khác cũng bị trúng đạn, may mắn là không ai chết.
Cây cầu đã mở, và sáng hôm sau sư đoàn vào Paris.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:26:09 pm » |
|
Phần 3 : Chương 15
Y tá lập tức băng bó cho những người trúng đạn. Họ xức thuốc vào vết thương của tôi và quấn băng xung quanh bàn tay và cổ tay. Vết thương vẫn tê; cơn đau vẫn chưa đến. Lính bộ binh đưa chúng ta ra xe cứu thương và cho lên 2 hàng ghế sau xe. Viên thượng sĩ bị trúng đạn ở vai, một pháo thủ bị trúng đùi, và một người bị trúng vào người bên phải. Với vết thương của chúng tôi, chúng tôi đã thành công trong việc mở đường cho bộ binh.
Chiếc xe cứu thương chở chúng tôi đến bệnh viện dã chiến vài cây số ở phía sau, bác sĩ xem xét vết thương. Họ băng bó kỹ càng hơn, chích thuốc ngừa tetanus (uốn ván) và cho uống thuốc kháng sinh. Sau đó chúng tôi được đưa lên xe buýt với những nguời lính bị thương khác chở về bệnh viện ở Noyen, từ đó, đưa về Bonn bằng máy bay vào sáng hôm sau. Đi bằng xe buýt thật không dễ chịu chút nào, vì chúng tôi bắt đầu tỉnh táo sau cơn sốc bị thương và cơn đau bắt đầu đến. Mọi người im lặng, chỉ có tiếng rên rỉ từ ai đó. Xe chạy xóc lên xóc xuống làm vết đương càng đau hơn. Cơn đau làm tiêu tan cảm giác chiến thắng. Đến bệnh viện ở Noyen gần nửa đêm, chúng tôi mau chóng được đưa vào giường bệnh. Chúng tôi được cho thuốc giảm đau để có thể ngủ được. Và tôi nằm suy nghĩ về hành động ngu ngốc vì nhận lấy sự nguy hiểm không cần thiết. Tôi có thể mất mạng như chơi. Tôi tự hỏi là tôi hành động điều đó một cách tự nhiên hay hành động để tỏ ra can đảm. Tôi rùng mình khi suy nghĩ về điều đó. Tôi có thể bị giết trong cơn mưa đạn. Nhưng nhiều người khác cũng bị chết trong chiến dịch này, và tôi chỉ là một người nữa mà thôi. Tôi chìm vào giấc ngủ với cảm giác vui sướng là vì mình còn sống, dù cơn đau vẫn đang hành hạ.
Y tá thức chúng tôi dậy sáng sớm hôm sau, cho chúng tôi ăn điểm tâm, rồi đưa ra xe buýt rồi đưa đến máy bay đi Bonn. Bây giờ thì cổ tay tôi nhức nhối và bàn tay bắt đầu sưng. Máy bay không có ghế ngồi, nhưng tổ lái cho chúng tôi nệm để ngồi. Chúng tôi cố gắng tạo ra chỗ ngồi thoải mái trên sàn máy bay. Chúng tôi đều có thể đi lại; những người bị thương nặng phải nằm lại bệnh viện ở Pháp.
Mọi người nói chuyện râm ran với nhau trên suốt chuyến bay, hầu hết về hành động của họ lúc bị thương. Đó đây có những tiếng cười trong câu chuyện. Tôi bắt đầu nhận thấy đầu óc con người cố gắng đương đầu với sự khinh hoàng của chiến tranh như thế nào.
Đến Bonn, y tá lại đưa chúng tôi lên xe buýt và chở đến bệnh viện. Một bác sĩ khám cổ tay tôi, thay băng, và nói tôi là ông ta phải đợi cho đến khi vết sưng xẹp xuống rồi mới để nẹp lên cổ tay. Tôi được biết sư đoàn của tôi diễn hành ở Paris và tôi bị lỡ nó, như tôi đã bỏ lỡ cuộc diễn hành ở Plauen sau chiến dịch Sudetenland. Tôi gọi ba mẹ và cho họ biết tôi đang về nhà và tôi không bị thương nặng lắm.
Tôi ở Bonn gần 3 tuần, chỉ đợi vết sưng xẹp xuống. Ngày 19 tháng 6, trong khi ở Bonn, tôi được tặng huân chương Chữ Thập Sắt hạng nhì và Verwundeten-Abzeichen màu đen (huy hiệu cho binh lính bị thương - màu đen là bị thương 1 lần, bạc: bị thương 3 lần, vàng: bị thương 5 lần). Vì tôi không bị bắt phải nằm một chỗ, tôi nghĩ ngơi, đi ăn bên ngoài, đi xem phim, và dạo phố. Bonn, nơi sinh của Beethoven, lúc ấy còn là một thành phố nhỏ đang ngái ngủ.
Cuối cùng, sau gần 3 tuần, vết sưng hầu như đã tan, và bác sĩ đặt nẹp lên cổ tay. Tôi xin chuyển về bệnh viện Leipzig, quản trị bệnh viện mua vé xe lửa đi Leipzig cho tôi.
Tôi chuyển về bệnh viện Leipzig ngày 9/7/1940. Bác sĩ tháo băng và khám tay tôi. Viên đạn đã phá vài mảnh xương nhỏ ở bàn tay và làm hư hại dây thần kinh cảm giác vài ngón tay. Tuy nhiên, mạch máu chính và dây thần kinh vận động không bị hư hại, tôi thật may mắn. Bác sĩ băng bó lại. Cổ tay phải tự nó lành. Điều mà bác sĩ làm được là chống nhiễm trùng.
Tôi không bị bắt phải ở lại trong bệnh viện, và nhà bố mẹ tội chỉ 20 phút bằng xe điện. Màu xanh quen thuộc của xe điện Leipzig làm tôi cảm thấy như ở nhà. Tôi nhảy lên bậc tam cấp nhà tôi ở tầng hai của chung cư và cảm thấy hạnh phúc khi về nhà. Nục cười rạng rỡ của mẹ tôi khi bà trông thấy tôi làm tôi có cảm giác bị thương cũng đáng giá vì được về nhà.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:26:51 pm » |
|
Tôi nhìn mọi người và mọi thứ trong nhà kỹ hơn. Có lẽ tôi đã cận kề với cái chết nên có cảm giác cận kề gia đình nhiều hơn. Tôi ra nhà hàng và hộp đêm của bố tôi ngay ngày đầu về đến nhà, vì không muốn ngồi nhà đợi ông về. Ông ngạc nhiên và xúc động không kém gì mẹ, hai bố con ngồi xuống nói chuyện với nhau suốt 2 giờ. Chị Inge về nhà trể từ bệnh viện, nơi chị làm y tá. Chị cũng vui mừng khi tôi về nhà và lo lắng cho vết thương của tôi. Tôi cảm thấy rất sung sướng khi về lại với gia đình, trừ Fritz, cậu ta ở Jena. Bố tôi rất tự hào về những gì nước Đức đã đạt được, và ông tự hào là tôi là một phần trong đó.
Tôi tìm Leibelt và Ebert ở Leipzig. Và tôi không phải đợi lâu, vì họ cũng nghe tôi về. Chúng tôi gặp nhau ở hộp đêm. Họ đã ở đó khi tôi đến. Rất vui mừng gặp lại bạn bè và họ đều bình an. Cứ như lúc trước.
"Friedrich ra sao rồi?" Tôi hỏi.
"Bạn không biết à?" Ebert, giọng nhỏ hẳn xuống.
"Biết gì?" Mắt tôi phóng từ Ebert sang Liebelt. Rồi sự im lặng của họ như một cái tát vào mặt tôi. Cả hai cùng thở dài.
"Tôi tưởng bạn biết," Liebelt trả lời.
Cảm giác tuyệt vọng, chán chường tôi đã trải qua khi Rehberg chết lại ào đến với tôi. Friedrich chết vì vết thương ở Ba Lan. tôi nhớ lại lời khuyên của Raake khi Rehberg chết. Tính mạng của Friedrich là một cái giá khác chúng tôi phải trả.
Tôi đến thăm mộ của Friedrich ngày hôm sau. Tôi đứng dưới cơn mưa, trên mặt đấy ướt sủng và đầy bùn đất bên cạnh mộ anh ta, dưới bầu trời xám xịt, chỉ thấy trống vắng. Tội nghiệp Friedrich. Anh đang sống một cuộc sống tràn đầy ước vọng, và chắc chắn mọi sự tốt đẹp sẽ đến với anh. Kỷ niệm về chuyến trượt tuyết sau khi tốt nghiệp trung học tràn đến. Mới chỉ 4 năm về trước. Biết bao chuyện xảy ra từ đó, và tôi cảm thấy già dặn đi nhiều. Tôi thấy tốt nhất là không nhớ về những điều đó nữa, mà cố gắng tập trung vào những điều có thể làm được để quên đi.
Tôi điều trị ở bệnh viện hàng ngày, cuối tuần thì được phép ở nhà. Hàng ngày, tôi đi coi phim hoặc đến những tiệm ăn có nhảy nhót. Khiêu vũ nơi công cộng bị cấm một thời gian vì đang thời chiến và binh lính đang chết ở Pháp. Nhưng bây giờ đã được phép trở lại. Tôi không nhảy, vì tay tôi phải đeo băng, nhưng thích thú nhìn người khác nhảy.
Một buổi, tôi nhìn thấy một sĩ quan hải quân và 2 cô gái trong quán ăn. Cô gái nhìn quyến rũ hơn hình như không phải là đào của anh ta, mặc dù anh ta nhảy với cả hai người. Khi nhạc ngừng chơi, tôi đi đến một quán khác và tìm món gì ăn. Một lúc sau, người sĩ quan hải quân và 2 cô gái cũng đến đó. Vì là 2 quán đẹp nhất ở Leipzig, nên đó không phải là một sự ngẫu nhiên lớn. Họ nhận ra tôi khi bước vào quán, và tôi cười chào lại. Họ ngồi xuống cách tôi vài bàn, và tôi cảm thấy khó mà rời mắt khỏi cô gái dễ thương đó. Tóc cô màu hung rất đẹp, thân hình nhỏ nhắn nhưng có dáng, khuôn mặt dễ thương với gò má cao.
Khi ban nhạc chơi bản nhạc cuối cùng, tôi quyết định mời cô nhảy. Đôi mắt màu xanh dương lấp lánh khi cô cười. "Được chứ," vào đứng lên. Cô ta không hề nhìn đến cánh tau băng bó của tôi.
Tôi nhảy hơi cứng ngắt vì tay phải đeo băng. Chúng tôi vừa nhảy vừa nói chuyện, cô thật thân thiện và tế nhị. Tôi bắt đầu phải lòng cô ta. Tôi nói đến buổi biểu diễn piano vào tuần sau và hỏi cô ta có định đi không. Cô ta hơi làm dáng và không hứa chắc, nhưng tôi cảm thấy tôi có lý do để hy vọng rằng cô sẽ đến. Tuần sau đó, ở buổi hoà nhạc, tôi đến và tìm cô ta trong số mấy trăm người đến xem. Tôi thấy cô bước vào hành lang và đến phía sau cô ta và vổ nhẹ vai cô.
"Chào đằng ấy," Tôi nói khi cô quay lại.
"Ồ", cô mĩm cười tinh nghịch. "Ngạc nhiên quá!" Chúng tôi ngồi với nhau trong buổi hoà nhạc. Và từ đó, chúng tôi gặp nhau hàng ngày cho đến khi tôi trở lại đơn vị. Cô tên Lieselotte, gọi ngắn là Lilo, và cô là nhiếp ảnh gia 19 tuổi, có riêng cho mình một tiệm chụp hình.
Tối nào Lilo và tôi cũng hẹn nhau đi ăn tối, coi hát, nghe nhạc, đi khiêu vũ. Tôi đón cô ở tiệm hình khi đóng cửa, và chúng tôi đi chơi suốt buổi tối. Cô là một cô gái nhẹ nhàng và vui nhộn, lúc nào cũng tươi cười. Cô ta có vẻ như luôn yêu đời. Chúng tôi hẹn hò với nhau được một tháng rồi trở về với nhiệm vụ. Thái độ của mọi người tôi gặp khi dưỡng thương đều tích cực. Sự đầu hàng của nước Pháp là một chiến thắng to lớn cho nước Đức. Chúng tôi có hiệp ước thân thiện với nước Nga, nên nước Anh là nước thù địch duy nhất. Nhưng chúng tôi biết rằng Anh có thể là vấn đề nghiêm trọng đối với chúng tôi. Mặc đù chúng tôi đẩy quân Anh ra khỏi Châu Âu, chúng tôi biết răng chúng tôi không thể tấn công nước Anh mà không thiệt hại nặng. Lúc này, mọi sự để trở lại bình thường ở Đức ngoại trừ tình trạnh chiến tranh vẫn còn hiện hữu giứa Anh và Đức. Tất nhiên, chế độ tem phiếu vẫn còn, nhưng mọi người đề thoải mái hơn, và đó là thời gian mà mọi người có tinh thần quốc gia cao nhất.
Bác sĩ nói tôi là tôi không thể trở về đơn vị nếu không thế nắm tay lại thành quả đấm. Tôi đang thích thú trong kỳ dưỡng thương này ở Leipzig, nhất là có Lilo bên cạnh. Nhưng tôi cũng muốn quay lại đời quân nhân. nên tôi bắt đầu tập cánh tay bất cứ lúc nào có thể, trong rạp phim, trong quán ăn, bất cứ nơi nào. Tháng 9 năm 1940, tôi có thể nắm tay lại và bác sĩ cho tôi xuất viện. Đến lúc này, tôi đã ở quân đội được 4 năm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:27:33 pm » |
|
Tôi rời Leipzig vào sáng ngày 5 tháng 9 năm 1940. Lilo tiễn tôi ra ga xe lửa. Tôi thật sự không muốn xa rời Lilo. Gặp được cô là điểm sáng nhất trong thời gian bị thương, và cô là liều thuốc làm nhẹ bớt cái chết của Friedrich. Cứ mỗi lần nghĩ đến Friedrich tôi lại buồn lòng, và tôi cố gắng nghĩ đến Lilo.
Tôi đã xa đơn vị khoảng 3 tháng, từ tháng 6 đến tháng 9. Tôi đi Plauen, hậu cứ của tiểu đoàn. (Mỗi đơn vị Đức ở nước ngoài đều có một hậu cứ ở Đức). Plauen vẫn như trước. Tôi mới rời nơi này chỉ một năm. Nhưng không hiểu sao tôi có cảm giác rời nó lâu lắm rồi. Có quá nhiều điều xảy ra trong năm đó - núi Eifel, Leitzkau, Overath, Proyart bên sông Somme, và thất cả những thành phố, sông ngòi, nơi quân Pháp quay lại chiến đấu trong cuộc hành quân qua Pháp. Tôi cảm thấy tôi thay đổi hẳn và già đi so với lần trước ở doanh trại. Tôi nhìn ra sân thao diễn nơi chúng tôi tập dượt biết bao lần. Chúng tôi tập trận giả, bàn cãi về chiến thuật, hậu cần, rồi ăn uống, nghỉ ngơi. Một khoảng cách rất xa, rất xa giữa lý thuyết và thực tế - không về sinh lý, vì chiến đấu gần như tập dượt, mà là cái giá phải trả qua lớn lao về mạng người, về nỗi đau. Ước gì tôi có thể xoá hết trí nhớ của tôi khuông mặt của Rehberg trước lúc chôn anh ấy, và những khuông mặt của bạn bè lúc tôi biết được cái chết của Friedrich.
Tôi trình diện với sĩ quan chỉ huy của tiểu đoàn cũ ở Plauen, Thiếu Tá Brundt.
"Anh sẽ về lại tiểu đoàn của anh bên Pháp," ông nói. "Nhưng anh sẽ trình diện với lon trung úy." Ông cười.
"Xin chúc mừng!"
"Cảm ơn thiếu tá." Tôi ngạc nhiên và vui mừng.
Tôi nhận phòng ngủ và đến câu lạc bộ sĩ quan ăn tối. Tôi không biết ai ở đó cả. Ăn tối xong, tôi đi ra Plauen. Tôi đi qua các cửa hiệu, nhìn mội người ngồi ăn uống, cười nói. Tôi chỉ đứng coi họ một cách vui thích. Mới đó mà cứ như lâu lắm. Tôi có cảm giác tôi trở về lại với thời vô tư một năm về trước. Thời gian hình như dừng lại. Chiến tranh hình như chưa giờ xảy ra! Mọi người trông hạnh phúc và không biết gì về những cái giá phải trả ở Pháp. Họ nhìn giống y như trước, còn tôi thì già đi và .... Những Donberg, những Rehberg, những Friedrich. Cái giá của chiến tranh thật cao.
Tôi đi Pháp vào ngày hôm sau và đến Paris ngày 7 tháng 9 năm 1940. Tôi ở đó vài ngày để tham quan thành phố nổi tiếng này. Tôi đi coi kịch, tham quan Panthéon, Notre-Dame, Arc de Triomphe (Khải Hoàn Môn), Champs Elysées, và leo lên tháp Eiffel. Ở Paris, tôi say sưa với những kiến trúc tuyệt vời và sự giàu có về văn hoá của thành phố này.
Tôi đến tiểu đoàn ở Montlhéry-Linas, khoảng 35km về hướng Nam Paris. Raake và Wimmer mời tôi ăn tối đêm đầu tiên. Họ thay nhau kể về cuộc diễn hành ở Champs-Elysées sau khi chiếm Paris. Tổng cộng cuộc hành quân từ Cologne đến Paris, chúng tôi đi bộ khoảng 800km. Tôi trải qua tất cả những giây phút ngoại trừ ăn mừng chiến thắng. Ai đó thay vào vị trí sĩ quan phụ tá tiểu đoàn của tôi trong cuộc diễn hành chiến thắng khi tôi nằm bệnh viện ở Bonn. Tôi nhất quyết tôi sẽ không bị mất dịp diễn hành ở London.
Raake và Wimmer có những tin khác nữa. Wimmer được giải ngũ. Rõ ràng quân đội nghĩ rằng quân Anh sẽ không tấn công và chúng tôi sẽ không cần lực lượng dự bị. Tôi vui cho Wimmer, ông là một sĩ quan chỉ huy giỏi và là một người lính tận tụy, nhưng ông có trái tim của một người dân sự. Và tôi bỗng nhớ ra là Pháo Đội 1 cần phải có người thay thế chức Pháo Đội Trưởng của Wimmer.
"Rôi bao giờ pháo đội trưởng mới sẽ đến?" tôi hỏi.
"Anh ta mới vừa đến." Raake nói, cười. "Anh không những được lên lon, mà còn lên trách nhiệm nữa. Anh sẽ là pháo đội trưởng mới của Pháo Đội 1. Chúc mừng anh."
Tôi rất phấn khởi. Tối hôm đó khi đi ngủ, đầu óc tôi quay cuồng với những tin tức. Nhiều việc xảy ra quá nhanh và tôi chưa nhập vào kịp.
Thiếu Úy Jaschke, người thay thế Rehberg ở sông Somme, vẫn là sĩ quan tiền sát của pháo đội. Sĩ quan pháo đội là Thiếu Úy Steinbach, một nguời to lớn cao 6 foot 6 và cân nặng 250 pounds (cao khoảng 1,98 met và khoảng 113 kg.) Thật tức cười khi nhìn Steinbach và Jaschke đi với nhau, vì sự khác nhau giữa 2 người, 1 foot chiều cao và 100 pounds trọng lượng.
Sau khi Paris thất thủ, nước Pháp bị chia làm 2 phần. Phía Bắc do quân Đức chiếm, và phía Nam do chính phủ Vichy quản lý. Khi tôi đến, tiểu đoàn đã di chuyển đến ngay phía Bắc của đường ranh giới phía Nam sông Loire. Chúng tôi đến vùng Blois, có thể để canh chừng những gì có thể xảy ra ở đường ranh giới. Tiểu đoàn đã được bổ sung đầy đủ sau chiến dịch Pháp và bổ sung người, ngựa, trang bị. Chúng tôi hoàn toàn sẵn sàng cho bất cứ chuyện gì xảy ra, nhất là chúng tôi gần chư chắc chắn là sẽ tấn công nước Anh. Mỗi đơn vị trong sư đoàn được chỉ định một khu vực trách nhiệm trong khu vực chiếm đóng. Trong tiểu đoàn, mỗi pháo đội đóng trong một làng, bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng ở một làng trung tâm. Candé-sur-Beuvron, một ngôi làng nhỏ, như một bức tranh, có khoảng 2500 người, là nơi pháo đội chúng tôi đóng quân. Nó khoảng 18 cây số phướng tây nam Blois, nơi sông Beuvron đổ vào sông Loire.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:28:10 pm » |
|
Tôi không biết thái độ của người Candé ra sao. Khi pháo đội tiến vào làng, chúng tôi nhìn thấy dân làng bắt buộc phải chờ chúng tôi đến. Chúng tôi dừng lại, tôi xuống ngựa và đưa dây cương cho người lính giúp việc. Một người đàn ông lớn tuổi chống gậy bước đến. Ông ta thấp người, dáng nguời bệ vệ, và nước da rám nắng. Ông mặc một bộ comle màu đen.
"Monsieur Leclerc, thị trưởng Candé," ông nói bằng tiếng Pháp.
"Trung Úy Knappe, được chỉ định của quân đội Đức quản lý làng ông". Tôi trả lời bằng tiếng Pháp.
Hình ông ta có cảm giác e dè như tôi, thì ông ta đã che dấu nó rất kỹ. Tôi nói với ông là chúng tôi cần chỗ trú quân, chuồng ngựa, và bộ chỉ huy. Ông ta dàn xếp ngay và nói tôi biết là ông ta đã được thông báo và đã chuẩn bị.
Ông đưa tôi đến một lâu đài gần ngã ba sông Beuvron và Loire. Nó đã được xây dựng khá lâu bởi một nguời quý tộc, và người chủ hiện nay đã trốn ra nước ngoài khi chiến tranh lan đến. Nó có chuồng ngựa và sân tập cho ngựa, chỗ ở cho binh lính và kho đựng các trang bị. Đây là chỗ ở quá tốt cho vị trí đóng quân. Tôi cám ơn ông và mời ông đến ăn tối. Ông nhận lời mời và ra về.
Toà lâu đài có 15 phòng lớn có đầy đủ bàn ghế. Tôi dùng vài phòng cho bộ chỉ huy và phòng làm việc cho Thiếu Úy Jaschke, Thiếu Úy Steinbach, và Thượng Sĩ Nhất Schnabel. Tôi chọn một ngôi nhà nhỏ gần bờ sông làm chỗ ngủ. Nó có phòng ngủ, phòng khách, phòng tắm và bếp. Lammers, như mọi khi, dọn dẹp ngôi nhà rất đẹp cho tôi.
Tôi sai Lammers nhắn tin đến cho Thị Trưởng Leclerc ăn tối lúc 7 giờ. Lammers quay về vớ một tin nhắn là chúng tôi sẽ ăn tối ở nhà Leclerc. Có thể đây là sự cố gắng hợp tác của ông ta. Chúng tôi ăn tối ở ngôi nhà cổ kính của ông ta. Vợ ông phục vụ buổi ăn như là một người làm hơn là ngồi ăn với chúng tôi. Đây là một buổi ăn tối vui vẻ và thích thú. Tôi giải thích cho Leclerc là ông ta nên tiếp tục với chức vụ của ông ta như trước đây, ông sẽ đảm trách nhưng công việc dân sự. Tôi nói ông thông báo đến dân làng giao nộp hết vũ khí của họ ở chỗ chúng tôi sáng ngày mai. Tôi cũng thông báo cho ông biết nếu mọi người cần ra khỏi làng, sẽ phải xin phép và tôi sẽ cấp giấy nếu có lý do chính đáng. Ông đồng ý những điều đó, và ngày hôm sau, một số súng đạn được giao nộp cho chúng tôi.
Người Pháp ở Candé có cuộc sống khá thoải mái, nếu so với dân Đức ở các thành phố. Tôi sống ở Candé tốt hơn ở nhà khi tôi bị thương. Ở Đức, mọi thứ đều phải có khẩu phần - lương thực, áo quân, xăng nhớt, v.v.... Nhưng ở Candé, chúng tôi có thể mua bất cứ món gì mà không phần tem phiếu. Chúng tôi có thể mua thức ăn từ các nông trại. Tôi đến một tiệm may và đặt một bao súng và mua giày cưỡi ngựa rất đẹp - và họ có da để làm chúng. Dân Pháp sống thưa hơn dân Đức và dân Pháp không bị kiểm soát chặt như dân Đức. Ví dụ, ở Đức, một nông trại gà phải giao nộp một số phần trăm nào đó số lượng trứng cho chính phủ, ở Pháp thì hoàn toàn không có điều đó.
Tôi bố trí hầu hết pháo đội trong khu vực lâu đài, vì nó rất thuận lợi. Jaschke, Steinbach, và Schnabel cũng ở và làm việc trong lâu đài.
Chúng tôi trở lại với thời khóa biểu như trước chiến tranh. Phương châm của chúng tôi là luôn giữ lính bận rộn. Bên cạnh đó, chúng tôi phải sẵn sàng cho những tình huống có thể xảy ra. Chúng tôi có kế hoạch hàng ngày từ 5 giờ sáng đến 8 giờ tối. Mặc dù binh lính vẫn là những người cũ (trừ một số thay thế), tôi giữ họ luôn hoạt động và luyện tập. Chúng tôi muốn kỹ năng của họ luôn sắc bén và tập cho họ những chức năng khác để trong trường hợp có nguời bị thương, chứng tôi có người khác làm công việc đó. Binh lính cũng bỏ nhiều thời giờ để lau chùi và giữ các thiết bị hoạt động tốt. Chúng tôi rút kinh nghiệm trong cuộc hành quân vừa rồi là các quân trang, quân dụng luôn hư hỏng dễ dàng trong khi hành quân.
Chúng tôi không cảm thấy chiến tranh kết thúc, vì nước Anh vẫn chưa thua trận. Dù chúng tôi nghĩ cuộc tấn công nước Anh có thể xảy ra, nhưng pháo binh - ngựa kéo không thể là một phần trong chiến dịch. Chúng tôi có thể lên đường sau khi đầu cầu được mở một cách chắc chắn. Chúng tôi biết cuộc tấn công sẽ không dễ dàng. Eo biển nước Anh là vấn đề rất lơn của chúng tôi và chúng tôi biết rõ khả năng tham chiến của quân Anh rất cao, vì họ được trang bị rất tốt và cuộc chiến trước đã cho thất điều đó. Chúng tôi cũng biết nước Anh có lực lượng không quân và hải quân rất ghê gớm. Chúng tôi lại không được biết rằng Luftwaffe đã thua trận, vì hệ thống thông tin bị kiểm soát chặt và không báo cáo về cuộc tấn công này - Sau này, chúng tôi được biết hệ thống báo chí của Đức chỉ đăng những tin thắng trận.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|