Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:59:04 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người Lính - Những suy ngẫm của một người lính Đức  (Đọc 66498 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #60 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:28:42 pm »

Nhiệm vụ chiếm đóng là một thời gian nghỉ ngơi dễ chịu. Candé và vùng phụ cận nơi tôi có trách nhiệm rất yên ổn. Chúng tôi không gặp sự đối kháng hay phá hoại nào, mặc dù chúng tôi được báo rằng những hoạt động này xảy ra khắp nơi và chúng tôi phải canh gác cẩn mật. Có thể chúng tôi ở xa các trung tâm. Ông thị trưởng và tôi giữ được hoà khí với nhau trong khi làm việc. Ông chỉ đến với tôi khi cần sự giúp đỡ. Nếu ai đó muốn đi Blois để bán nông sản, ông mới đến để xin giấy phép đi đường cho nông dân và tôi ký ngay. Thường thì tôi chỉ làm việc qua ông thị trưởng, những người khác chỉ đến gặp tôi nếu có vấn đề gì lớn hơn.
Tôi nghĩ phép đầu tiên vào Giáng Sinh năm đó (tôi luôn luôn về nhà vào dịp tết). Tôi đi xe lửa dài 900km từ Blois đến Leipzig. Các chuyến xe lửa và các nhà ga đầy nhóc những hành khách đi lại, binh lính chiếm một phần lớn trong số hành khách. Mọi người đều vui vẻ và có tinh thần vì là mùa lễ. Tôi đón đêm trước Giáng Sinh đổi quà với gia đình. Fritz cũng về nhà từ Jena, và chúng tôi vui thể kể chuyện cho nhau nghe. Cậu ta có vẽ không thích kỷ luật quân đội và các hình phạt của quân đội. Tôi đến với Lilo và gia đình cô ấy vào ngày Giáng Sinh. Lilo và tôi bên nhau bất cứ lúc nào có thời gian, và tôi trở lại Candé với sự say đắm đối với cô.

Mặc dù các pháo đội đóng ở các làng khác nhau, nhưng chúng tôi phối hợp với nhau rất chặt chẽ. Mỗi tháng 1 lần, Thiếu Tá Raake mời tất cả các sĩ quan dưới quyền ăn tối với nhau. Chúng tôi thỉnh thoảng cũng săn bắn hoặc đi câu dọc theo sông Loire, dùng súng săn mà chúng tôi tịch thu được từ dân địa phương. Tôi làm quen với một số các sĩ quan các pháo đội khác trong những dịp này.

Cứ vài cuối tuần 1 lần, 2-3 đứa lại đón xe lửa đi Paris, chúng tôi xin phép Raake và kêu tài xế chở chúng tôi ra ga xe lửa. Xe lửa đi từ Blois đến Paris mất khoảng 1 giờ, và xe lửa miễn phí cho lính Đức chúng tôi. Chúng tôi đi vào sáng thứ 7 và trở về vào tối chủ nhật.

Blois và Orléans là những thành phố khá hay. Chúng là những nơi lịch sử, với nhiều pháo đài thời trung cổ chưa bị hư hại bởi chiến tranh. Những nơi này rất tự hào với những nhà hàng sang trọng và ngon, và trường kỵ binh nỗi tiếng nước Pháp Saumur cũng ở khá gần Candé.

Đầu tháng 3, tôi nhận được 16 ngày phép. Lilo và tôi viết thư với nhau, thỉnh thoàng bằng tiếng Pháp cho vui. Chúng tôi hẹn nhau gặp nhau ở núi Alps bên Áo để trượt tuyết. Chúng tôi dậy trể, ăn điểm tâm, rồi đến các sườn trượt. Buổi tối, chúng tôi ăn tối ở những nhà hàng sang trọng rồi đi coi phim. Sau đó nắm tay nhau đi bộ về khách sạn, thỉnh thoảng lại hát hoặc nói cười trong ánh trăng bao phủ các một vùng núi tuyệt mỹ. Chúng tôi cảm thấy đó là thời gian thần tiên để sống bên nhau.

Chúng tôi về Leipzig và tôi thăm gia đình Lilo. Tôi đi chơi với Liebelt và Ebert trong thời gian ở nhà. Chúng tôi thấy những sự kiện đã xảy ra đúng như lời Her Hoffer tiên đoán, mặc dù lời tiên đóan của ông ta chỉ là một ngụ ý.

Sau khi tôi trở lại Candé 1 thời gian ngắn, sư đoàn được lệnh di chuyển - không phải về phía eo biển nước Anh, mà đến Đông Phổ (East Prussia). Tôi không hiểu chúng tôi có hủy bỏ kế hoạch tấn công nước Anh hay không. Nếu như vậy, thì lạ thật, vì nước Anh tuyên chiến với Đức và tình trạng chiến tranh vẫn còn đó.
Với lý do nào đi nữa, chúng tôi được lệnh đến Đông Phổ, đi xa dần eo biển Anh. Là chỉ huy một pháo đội, tôi chỉ tập trung với pháo đội của tôi và những trách nhiệm trước mắt để di chuyển và đóng quân ở vị trí mới. Cuộc di chuyển dài 1200km, và mất hơn 100 đoàn tàu để di chuyển 1 sư đoàn với 18.000 quân và 2500 con ngựa và toàn bộ pháo binh và các trang thiết bị.

Pháp là một nơi sung sướng, với những cảnh đẹp vùng thôn quê, thức ăn ngon, dân chúng thân thiện, và chúng tôi không muốn đi. Nhưng Đông Phổ cũng rất đẹp. Đó là một nơi nông nghiệp, nhiều đồi, với đất cát rất tốt cho việc trồng khoai tây và lúa mạch. Vùng này có rất nhiều hồ, những bãi cát đẹp, và những khu rừng đầy bạch sồi. Nơi đây có nhiều giống ngựa tốt, những nông trại giàu có và nông dân thân thiện.
Chúng tôi xuống tàu ở Osterode và đi đến Marwalde, một ngôi làng gần đó, khoảng 270km từ biên giới Nga (lúc trước là biên giới Ba Lan). Đến nơi, chúng tôi ở ngoài đồng và tập luyện các thao tác, như bảo vệ ngựa, đóng lều trại, ngụy trang súng, đặt súng... Đây chỉ là những tập luyện thời bình, với nhiều thao tác và di chuyển trên các cánh đồng. Là một trung uý pháo đội trưởng, tôi có 2 thiếu uý và khoảng 180 binh sĩ. Chúng tôi luôn thao luyện với mấy khẩu pháo. Sau buổi tập, binh lính lại dẫn ngựa xuống sông và tắm cho chúng, hoặc cột ngựa ở bờ sông rồi nhào xuống tắm. Mọi người có một thời gian "vô tư" thoải mái ở đây.

Chúng tôi dự lễ Phục Sinh với dân địa phương, ban nhạc của trung đoàn tổ chức văn nghệ. Chúng tôi chơi đá bóng và đô vật với nhau. Trong làng có một sân khiêu vũ, các buổi khiêu vũ được tổ chức vào đêm thứ 7, và binh lính hẹn hò với các thiếu nữ địa phương.

Trong vài tháng ở Marwalde, chúng tôi hay đến nhà và chuyện trò với những người dân địa phương. Cho đến nay thì họ chưa bị ảnh hưởng gì, vì, giống như bên Pháp, họ là nông dân và họ có đầy đủ thức ăn. Họ không bị bực mình vì chế độ tiêu chuẩn, vì họ có thịt thà và trứng, mặc dù có sự kiểm soát. Họ phải xin phép để mổ heo hay bò, nhưng họ không khai tất cả súc vật họ nuôi. Nên lương thực không bao giờ là vấn đề ở dây như ở các thành phố, nơi mà bạn không thể nào có được một buổi tiệc nếu như không dư vài cái tem phiếu.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #61 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:29:30 pm »

Và ở đây lại càng không lo lắng gì về chiến tranh. Mọi việc chúng tôi được nghe từ báo chí là chiến thắng. Khi có những sự kiện không mang đến chiến thắng, như cuộc tấn công bằng không quân vào nước Anh, báo chí không nói đến trận chiến này. Nên cuộc sống của chúng tôi thoải mái cho đến lúc này.

Đầu tháng 6 năm 1941, chúng tôi nhận lệnh di chuyển đến Proskten, một làng khác ở Đông Phổ chỉ cách biên giới Nga vài cây số. Prostken không lớn như Marwalde, và điều kiện sống cũng không bằng vì không đủ nhà cho binh lính nên họ phải sống trong lều. Chúng tôi cũng phải rời những người bạn mới ở làng kia, và chúng tôi không khoái di chuyển chút nào. Tuy nhiên, chúng tôi phải chấp nhận nó - không chỉ vì chúng tôi phải đi, mà còn vì chúng tôi biết rằng binh linh sẽ trể nãi nếu ở một chỗ quá lâu. Bất cứ đơn vị quân đội nào cũng sẽ mất sức mạnh của nó khi binh sĩ cảm thấy quá thoải mái quá lâu.

Khi đến làng mới, chúng tôi khảo sát địa hình để luyện tập như mọi khi, và chúng tôi bắt đầu huấn luyện như thường lệ. Một ngày, Thiếu Tá Raake ra lệnh Schumann, Witnauer và tôi - các pháo đội trưởng của ông - đến văn phòng. Ông ta mở một tấm bản đồ lớn và treo lên tường.

"Quý vị, phải nghiên cứu kỷ tấm bản đồ này. Chúng ta phải tìm những vị trí pháo tốt nhất trong trường hợp tấn công Nga."

"Chúng tôi sửng sốt nhìn ông, á khẩu. Chúng tôi có hiệp ước hoà bình với nước Nga, và chúng tôi đang chiến tranh với Anh. Làm sao có thể thêm vào như thế này được.

"Tại sao chúng ta lại tấn công Nga?" Tôi hỏi.

"Đây chỉ là một cuộc tập trận," Raake trả lời. "Một tình huống xấu nhất."

Chúng tôi cùng nghiên cứu bản đồi với Raake, xác định các vị trí súng cho các pháo đội. Sau đó chúng tôi ra ngoài và đi đến các vị trí được phân chia. Nó có thể chỉ là một cuộc tập trận, nhưng không ai trong chúng tôi tin vào điều đó. Chúng tôi không được lệnh di chuyển súng vào vị trí, chỉ đến để quen với khu vực xung quanh và sẵn sàng đưa súng vào. Đây là biên giới cũ giữa Đông Phổ và Ba Lan, nhưng bây giờ Đức và Nga đã chia Ba Lan và nó trở thành biên giới Đông Phổ và Nga. Người Nga tạo khu vực biên giới thành chỗ không người bên phía họ bằng cách di chuyển mọi thứ để có một tầm nhìn không bị giới hạn. Rồi họ dựng giây thép gai và các tháp canh. Bên phía chúng tôi thì không thay đổi gì; các cánh đồng lúa mạch và khoai tây, những rừng birch và fir (là cây gì nhỉ?) ra đến tận sát biên giới.

Schumann, Witnauer, và tôi được lệnh đến văn phòng Raake một lần nữa. Lần này Raake nhìn chúng tôi có vẻ nghiêm trọng và căng thẳng.

"Các anh ra lệnh cho lính mặc đồ dân sự đem 300 viên đạn cho mỗi súng bằng xe bò của nông dân vào các vị trí súng," ông nói. "Lính của các anh phải nhìn giống nông dân làm việc, và đạn phải được ngụy trang sau khi bỏ xuống.

Chúng tôi không ai nhìn ai. Rõ ràng là chúng tôi sẽ tấn công Nga cho dù chúng tôi có hiệp ước hoà bình.

"Bao giờ chúng ta tấn công, thưa thiếu tá?" Schumann hỏi.

"Đây chỉ là một cuộc tập luyện, Schumann. Một tình huống khó xảy ra. Nhưng chúng ta phải làm như thật."

"Jawohl, thưa thiếu tá." Schumann nói. Raake rõ ràng là không được phép nói cho chúng tôi biết sự thật và
cũng cảm thấy khó xử trong vị thế của ông ta.

Tôi trở về và gọi Schnabel vào.

"Anh chọn 12 người và giao việc cho họ," tôi nói. "Nói lính mượn áo quần làm việc của dân . Họ cũng cần mượn xe bò nữa. Đem 300 viên đạn ra các vị trí súng cho cuộc diễn tập. Họ phải làm cho lính Nga tưởng rằng nông dân Đức làm việc bình thường. Tất nhiên, đạn phải được ngụy trang cẩn thận."

"Jawohl, thưa trung uý."

Chúng tôi đã ở Prosken được 3 tuần rồi, và những lính coi ngựa là gốc nông dân nên biết công việc đồng án. Mượn đồ của dân cũng dễ. Chỉ cần hỏi mượn áo quần và xe bò. Nhiệm vụ này làm cho họ thích thú vì nó khác với những việc hàng ngày. Đám người ăn mặc một cách tức cười này đẩy xe ra đồng, giả vờ làm việc, bỏ đạn xuống chỗ chỉ định, và lấy cây che lại.

Ngày hôm sau, 21 tháng 6 năm 1941, các pháo đội trưởng cuối cùng được thông báo những gì sắp xảy ra.
"Trước khi trời sáng vào ngày mai, chúng ta sẽ tấn công Liên Bang Xô Viết." Raake nói một cách đơn giản.
"Tôi bị cấm không cho các anh biết cho đến bây giờ."

"Tại sao lại đánh Nga?" Wittnauer hỏi.

Raake nhún vai. "Chúng ta là lính, chỉ làm theo lệnh."

Tôi không giải thích cho mình được lý do để đánh Nga. Chúng tôi có chiến tranh với Anh; có hiệp ước thân thiện với Nga, và chưa có những tin tức chống Nga gì từ guồng máy tuyên truyền của chính phủ. Tuy nhiên, bộ máy tuyên truyền ngay lập tức bắt đầu, ngay trong cả lệnh chính thức trong quân đội mà chúng tôi vừa nhận được: "Chế độ C.S ở Nga đã đàn áp tàn bạo những nguời dân Baltic, các dân tộc thiểu số, và ngay cả dân tộc Nga; Cho nên, chúng ta phải lật đổ chính quyền tàn ác này và Đảng Cộng Sản". Lời biện hộ này đơn giản là họ là Cộng Sản và chúng tôi phải đánh họ. Chính quyên Đức lúc này dùng chữ "Cộng Sản" để bào chữa bất cứ điều gì muốn làm với nước Nga, như Liên Xô và các nước phương Tây sau này dùng chữ "Nazi" hay "Phát Xít" để biện hộ cho bất cứ điều gì họ làm với nước Đức.

Tôi không biết nhiều về Liên Bang Xô Viết: tôi biết đó là một nước lạc hậu, tôi biết nhà nước Cộng Sản hành hạ những người chủ đất, tôi biết về cuộc chiến giữa Bạch Vệ và Hồng Quân trong cuộc cách mạng Nga, tôi biết về sự bắt buộc tập thể hoá và nạn đói lớn trong dân Nga, và tôi biết về việc thanh trừng trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp trong quân đội Soviet. Tô không nghĩ Hồng Quân là một quân đội mạnh, không những vì sự thanh trừng trong hàng ngũ sĩ quan, mà vì họ có các sĩ quan chính trị trong mỗi đơn vị, người có thể gạt bỏ quyền hành của chỉ huy trưởng - và tôi không thể thấy được làm sao có thể làm như vậy được. (mỉa mai thay, chuyện tương tự xảy ra trong quân Đức năm 1944, sau khi cuộc ám sát Hitler không thành, ngoại trừ sĩ quan chính trị không thể gạt bỏ quyền hành của đơn vị trưởng.) Tôi cũng biết rằng xe lửa chạy qua lại giữa Nga và Đức hàng ngày chở vật dụng được trao đổi giữa hai nước trong sự đồng ý trao đổi của hiệp ước làm bạn của nhau. Mọi thứ dường như một giấc mơ - nhưng đó là sự thật.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #62 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:30:15 pm »

Mặc dù tôi khó chấp nhận việc tấn công vào một nước chúng tôi ký hiệp ước thân thiện, tôi kết luận rằng có những điều tôi không được biết, tôi cũng có thái độ xa cách đối với chủ nghĩa Cộng Sản và thâm tâm cũng nghĩ rằng dân tộc Nga sẽ sống tốt hơn nếu chúng tôi lật đổ chính quyền Cộng Sản của họ. Có thể tôi đã hành theo duy lý, hoặc có thể chỉ là sự bồng bột của tuổi trẻ. tôi không bao giờ hoặc bất cứ ai nghĩ rằng chúng tôi sẽ không đẩy lùi quân đội Nga. Sự tự tin của chúng tôi là tuyệt đối.

Pháo vẫn để trong làng cách đó vài km. Khi bóng đêm đổ xuống, chúng tôi di chuyển pháo ra khỏi làng và đưa chúng vào vị trí. Tiếng động của súng di chuyển và bộ binh vào vị trí chắc chắn nghe được từ các vọng gác của Nga. Các tháp canh của họ cách các ổ súng chưa đến 4 km, và bộ binh di chuyển đến gần hơn. Tất nhiên, có lẽ họ đang ngủ. Đây là một công việc rất chán, chỉ ngồi trên tháp canh hết ngày này sang ngày khác. Không có đường xá quan trọng, không đường xe lửa, không có gì quan trọng đặc biệt gần bên, và họ đã gác hai năm trời và chẳng có gì xảy ra.

Chúng tôi đặt dây điện thoại giữa súng và các vị trí quan sát và hoàn tất việc chuẩn bị chiến đấu.

Tôi đi tuần đêm quanh pháo đội, chắc chắn mọi việc đều chuẩn bị và mọi người đều ở vị trí. Giờ này chắc những việc tượng cũng xảy ra hàng trăm cây số dọc theo biên giới. Các khu rừng dọc mặt trận đông nghẹt lính Đức đang nghỉ ngơi, ngủ, hoặc chờ đợi cuộc tấn công.

Ánh trăng soi sáng những khu rừng ở Đông Phổ, ánh trăng xuyên qua những tàng lá. Cũng ánh trăng này đã theo dõi biết bao cuộc chiến tranh qua các thời đại; ánh trăng đã soi đường khi quân Ba Tư hành quân đến Hy Lạp, khi Napoleon tấn công vào Nga, khi quân của Kaiser đánh nhau ở Pháp. Cách vài cây số, ngôi làng mục tiêu đầu tiên của chúng tôi ngủ say trong ánh trăng dịu dàng. Cảnh vậy như một bức tranh tuyệt đẹp, nhưng tôi biết rằng mọi vật sẽ thay đổi rất nhanh. Chiến tranh sẽ lấp kín ngày mai với những tiếng nổ, khói bụi, đổ nát, xác người, và bông băng đẫm máu. Những người lính đang ngủ say sẽ không còn ngủ được với cảm giác thanh bình.

Mùi lá thông thơm ngát trong khi tôi thơ thẩn đi từng vị trí của pháo đội. Tiếng cú kêu từ đâu đó trong đêm từng hồi thê lương. Tôi nghĩ ngợi nhiều hơn về từng người lính nhiều hơn lúc nào hết. Người thì nhút nhát, người thì ồn ào; người thì buồn rầu, người vui vẽ, có người cầu tiến, người thì thụ động, người này phóng khoáng, người kia keo kiệt. Những suy nghĩ khác nhau của họ nằm phía sau những cái nón sắt trong khi chờ đại trận đánh. Lòng ái quốc và nỗi sợ chết chắc chắn không thiếu trong tư tưởng của họ. Một người lính ngồi thiền và lẩm bẩm cầu nguyện. Có người lo lắng về những điềm gỡ, có người thì suy nghĩ về gia đình và người thân.

Binh lính mạnh khỏe và biết công việc của họ. Họ đã được thường xuyên huấn luyện, và họ biết họ có thể làm việc một cách tốt nhất. Lòng tự tin mạnh mẽ, như người thợ bạc câm một miếng đá và sẽ biến nó thành một viên ngọc. Họ ngồi từng nhóm với nhau, cười đùa về mọi chuyện, ngoại trừ những gì sẽ sắp xảy ra. Tôi tin tưởng ở họ, sự thông minh, dũng cảm, và kỹ năng của họ sẽ đúc kết thành một sự liên kết và khi điều đó xảy ra thì không thể chặn đứng họ. Thiếu Úy Steinbach cũng quanh quẩn bên binh sĩ, vui đùa khích lệ họ.

Tôi ra vị trí quan sát, nơi Jaschke và vài binh sĩ tiền sát đang ở đó. Jaschke hình như hơi cau có, nên tôi bắt chước Steibach cười đùa họ. Người lính mang máy truyền tin, hạ sĩ Seldte, và người lính điện thoại, binh nhất Hugenberg trông có vẻ bình tỉnh hơn Jaschke.

Vào giờ định sẵn lúc sáng sớm ngày 22 tháng 6 năm 1941, pháo đội của tôi nổ súng vào ngôi làng nhỏ Sasnia, vài cây số từ pháo đội. Tôi không ở tuyến trước với bộ binh nhưng ở trên một ngọn đồi khoảng nửa cây số gần đó, nơi tôi có thể nhìn rõ và theo dõi việc tác xạ. Tôi có thể nhìn thất đạn nổ rõ ràng từ nơi này, từng cụm khói đen-vàng tung lên. Mùi khét khó chịu từ thuốc súng mau chóng tràn ngập bầu không khí khi pháo binh tiếp tục bắn, và tiếng tạch tạch và ánh chớp rộ lên khắp nơi khi bộ binh nổ súng và tấn công.

Khi bộ binh xung phong, bóng đêm của buổi sáng sớm ngập trong tiếng la, tiếng súng trường, từng loạt ngắn của súng máy, và tiếng nổ chát chúa của lựu đạn. Tiếng súng trường nghe như một chiếc xe với bánh xe bằng kim loại lăn nhanh trên mặt đường bằng đá. Bộ binh vượt qua hàng rào kẻm gai mà quân Nga dựng lên cả hai phía của khu đất không người và ào đến các tháp canh và các công sự của Nga ngay phía sau đoạn đường chết. Mặc dù chúng tôi gặp một số chống cự, quân Nga đã hoàn toàn bất ngờ và hoảng hốt. Bộ binh gặp sự chống trả mạnh mẽ nhưng rất ngắn ngủi vì quân Nga bị bất ngờ. Họ bắt làm tù binh những ai đầu hàng, và giết những ai chống cự. Một số quân Nga cố rút lui và bị dồn vào ở cây cầu. Máy bay ném bom Stuka tiêu diệt họ. Họ nằm ngổn ngang, trong quân phục nàu nâu đất, những cái chết trong chiến đấu tôi đã gặp trong cuộc tấn công Pháp. Mặc dù tôi không còn kinh hoàng, nhưng vẫn không quen được với cảnh tượng này.

Chúng tôi chiếm Sasnia và Grạewo ngày đầu tiên, và bắt đầu cuộc hành quân dài đến Moscow. Chúng tôi là một bộ phận của Phương Diện Quân Trung Tâm, Tập Đoàn Quân 9, Sư Đoàn BB 87. Các sư đoàn xe tăng và bộ binh cơ giới. Phương Diện Quân Bắc - em tôi, Fritz theo hướng đó - tiến về Leningrad, và Phương Diện Quân Nam theo hướng Stalingrad.

Chúng tôi đi theo xe tăng và bộ binh cơ giới, vì chúng tôi không thể theo kịp họ. Vì chiều dài của mặt trận Nga, pháo binh - ngựa kéo là bộ phận của thành phần tấn công chứ không phải là lực lượng dự bị như ở Pháp. Chúng tôi không đủ lực lượng cơ giới để bao hết mặt trận dài 2500km, cho nên pháo binh - ngựa kéo phải được dùng; tuy nhiên các đơn vị cơ giới tiến quá nhanh. Cũng là một blitzkrieg, nhưng không như Ba Lan hay Pháp, mà toàn bộ mặt trận tiến nhanh. Ở Nga, lực lượng cơ giới như những mũi tên phóng ra xa trước chúng tôi.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #63 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:30:52 pm »

Sau trận đầu tiên ở Sasnia, tôi ở gần với tiểu đoàn trưởng bộ binh mà tôi yểm trợ, Thiếu Tá Kreuger, để chúng tôi có thể thấy và hợp tác làm việc với nhau tại chỗ. Từ ngày đó trở đi, bất cứ khi nào chúng tôi vào trận, tôi ở bên cạnh ông ta. Sau Sasnia và Grạewo, chúng tôi chiếm Osơiec, Bialystok, Grodno, và Lida trong tuần đầu, tiến chừng hơn 200km. Khi chúng tôi tiến qua Bialystok, trước đây thuộc Ba Lan, dân Ba Lan từ trong các nhà thờ ra chào đón chúng tôi; họ vui mừng vì người Nga không cho họ đi lễ nhà thờ và họ cảm thấy được giải phóng.

Vì tăng và các đơn vị cơ giới vượt xa phía trước, pháo binh ngựa kéo và bộ binh không cơ giới, sư đoàn 87 bộ binh tự động trở thành lực lượng dự bị. Khi các đơn vị phía trước gặp một phòng tuyến và dừng lại, chúng tôi lại có cơ hội theo kịp và giúp họ tấn công tiêu diệt phòng tuyến. (quân Nga thườngdừng lại chống cự khi nào họ ở các khu vực cao hơn hay gặp một con sông). Khi không gặp phản ứng, chúng tôi lại tụt ra phía sau. Không quân Nga hầu như bị tiêu diệt vào ngày đầu tiên, nên chúng tôi có thể hành quân suốt ngày mà không bị quấy nhiễu.

Lính trinh sát - thường là lính mô tô, mặc dù chúng tôi có kỵ binh (ngựa) - được tung ra phía trước và trinh sát. Nếu họ bị bắn, tiểu đoàn đi đầu lập tức tản ra. Các đơn vị đi sau cũng tản ra khỏi con đường cái. Khi chúng tôi biết được sức mạnh của lực lượng chống cự, chúng tôi bắt đầu chuẩn bị tấn công. Chúng tôi biết được sức lực của quân chống cự bằng loại vũ khí bắn vào chúng tôi. Người bắn đầu tiên thường là súng trường, thỉnh thoảng súng máy, nhưng tiếp theo đó - cối, tăng, pháo - và chúng tôi biết họ mạnh hay yếu. Và chúng tôi quyết định theo những thông tin đó.

Thật lạ, lính trinh sát ít khi bị giết, thậm chí ít khi bị trúng đạn. Những người lính Nga bắn họ thường không phải ở đó để chiến đấu, mà chỉ tạm thời dừng chân chúng tôi rồi quay về báo cho chỉ huy của họ những gì họ thấy. Những người lính Nga này chắc là hoảng sợ và sẵn sàng rút lui, vì họ biết rằng vị trí của họ sẽ bị lộ khi bắn, và chúng tôi sẽ bắn lại. Họ dễ bị trúng đạn hơn là lính trinh sát của chúng tôi. Vì họ phải bắn và rút lui thật nhanh, nên họ không nhắm chính xác.

Khi chúng tôi gặp một tuyến phòng thủ, chúng tôi không những tản ra mà còn bắt đầu đào hầm phòng thủ. Sau đó chúng tôi thăm dò coi thử tuyến phòng thủ đó dài bao xa và mạnh cỡ nào. Chúng tôi xem bản đồ coi thử có sông và cầu cống trong khu vực không, hoặc địa hình có những chướng ngại vật hay thuận lợi nào. Quân đoàn cũng lấy các báo cáo của những sư đoàn bên cạnh, một bức tranh lớn hình thành. Nếu đây là một tuyến phòng thủ dài và chúng tôi phải chọc thủng, tiểu đoàn tiên phong được tăng cường và một cuộc tấn công được chuẩn bị. Chúng tôi tấn công vào sớm ngày hôm sau. Tuyến phòng thủ thường được lập bởi vài thuyến giao thông hào. Khi lực lượng tấn công chiếm được chiến hào đầu tiên, lính Nga còn sống sót đứng lên và đưa tay lên cao. Đợt kế tiếp của quân tấn công sẽ tập trung họ lại và đưa về tuyến sau. Điều này được tiếp tục cho đến khi các tuyến phòng thủ bị chiếm.

Khi bóng đêm đổ xuống, trận đánh tiếp tục hay tạm dừng tuỳ thuộc vào có ánh trăng để tiếp tục hay không, cũng như căn cứ vào địa hình, thời tiết và tin tình báo từ các cuộc do thám. Thỉnh thoảng, chúng tôi thận trọng mở cuộc tấn công đêm, nếu bộ binh quen với địa hình khi chiến đấu ngày hôm đó và nếu pháo binh biết được các vị trí và có thể bắn trúng vào ban đêm. Tuy nhiên, các trận đánh thường chấm dứt khi đêm đến. Trong bóng đêm, bộ binh sẽ mở các cuộc do thám để biết các vị trí mới nhất của địch và cố gắng bắt tù binh để chúng tôi biết đơn vị nào đang chiến đấu đối mặt chúng tôi. Lính do thám tiến lên cho đến khi bị bắn, rồi họ bọc cánh cố gắng thọc sườn vị trí bắn họ. Nếu may mắn, và nếu họ không trúng đạn, họ có thể làm bất ngờ lính địch và bắt làm tù binh. Tù binh được đem lêm sư đoàn, có thông dịch viên hỏi cung và cố gắng tìm ra thông tin về đơn vị đang phòng trú, trang bị của họ, và họ đã chiến đấu được bao lâu.

Lúc đầu chúng tôi tiến khoảng 30-40km một ngày. Tôi ngồi trên yên ngựa suốt ngày, từ mờ sáng cho đến chiều tối trong thời gian này. Nếu không có chống cự, chúng tôi có 3 hoặc 4 người đi xe đạp hay mô tô di phía trước cho đên khi gặp làng hay nông trường làm mục tiêu hành quân trong ngày để chuẩn bị cho chúng tôi đến. Bộ binh ở trong ngôi làng phía trước pháo binh để cuộc tấn công ngày mai chuẩn bị đúng thời gian.

Chúng tôi lập những vị trí canh gác quanh làng để không ai có thể thâm nhập vào.

Thỉnh thoảng, thay vì dừng đêm, chúng tôi chỉ dừng nghĩ ngơi 1 giờ vào lúc tối, rồi tiếp tục hành quân suốt đêm, vì nó sẽ tiếp tục đẩy lùi quân địch và không cho phép địch dừng lại để tổ chức phòng thủ. Sau một lúc, binh lính mệt nhoài, nhưng họ cũng tỉnh táo nhanh chóng nếu đụng trận. Hành quân đêm không xảy ra nhiều, nhưng khi cần, mọi người đều cố gắng, vì chúng tôi biết rằng nó giảm được thương vong về lâu dài.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #64 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:32:15 pm »

Khi chúng tôi còn ở trong vùng Ba Lan bị Nga chiếm đóng, một sự kiện xảy ra chứng minh với tôi những gì hệ thống tuyên truyền của đảng Quốc Xã đã làm cho dân Đức. Một buổi tối, trong khi đang làm việc, tôi bỗng nghe tiếng la hét. Tôi nghe giọng của Thượng Sĩ Nhất Schnabel và bước ra xem. Tôi thấy anh ta trong một trường học với một người Ba Lan trung niên. Anh ta không những la mắng người đàn ông, anh còn tát vào mặt ông ta.

"Schnabel!" Tôi hét lên.

"Jawohl, trung uý," anh ta lập tức đứng nghiêm.

"Anh nghĩ anh đang làm cái gì vậy?" Tôi hỏi.

"Nhưng hắn ta là Do Thái, thưa trung úy," Schnabel quả quyết.

"Tôi không cần biết ông ta là ai, chừng nào anh còn làm việc dưới quyền tôi, anh không được ngược đãi bất cứ ai," Tôi ra lệnh.

Hành động của anh ta rõ ràng là kết quả của sự tuyên truyền chống Do Thái liên miên của chính phủ Nazi. Sự việc làm tôi phải ra lệnh cho binh lính là tôi sẽ không chấp nhận những thái độ đó, và nó đã không xảy ra lại trong đơn vị của tôi.

Những ngôi làng bốc cháy, những xác chết của lính Nga, xác ngựa, xe tăng cháy, những trang bị bỏ trống là những biển chỉ đường cho cuộc hành quân. Bộ binh phải đi bộ, nhưng chúng tôi cưỡi ngựa hay ngôi trên các xe ngựa chổ hàng. Thỉnh thoảng, khi có sự chống cự phía trươc, quân đội đưa xe tải về chớ bộ binh lên phía trước cho nhanh.

Tuyến cung cấp hậu cần đi theo chúng tôi cung cấp đạn dược, rơm hay lúa mạch cho ngựa, lương thực cho người, và xăng nhớt cho các đơn vị cơ giới. Nếu chúng tôi vượt qua giới hạn của tuyến tiếp vận, chúng tôi phải kiếm những vật xung quanh, nhưng hầu hết, dòng tiếp vận luôn luôn theo kịp. Trung sĩ Boldt bổ sung cho khẩu phần của chúng tôi bằng cách lục lọi xung quanh chỗ đóng quân và đem về gà, heo, hay bất cứ thứ gì anh ta tìm được. Anh ta luôn luôn cho chúng tôi ăn no.

Thỉnh thoảng, chúng tôi dừng lại nghỉ một ngày, vì người ngựa mệt mỏi và không thể đi tiếp được nữa. Trong khi chúng tôi dừng, lực lượng xe tăng và cơ giới vẫn tiếp tục đẩy sức ép về phía địch. Chúng tôi nghỉ lần đầu tiên trong 1 làng Nga vào cuối tháng 6 sau 15 ngày hành quân cực nhọc. Thời tiết rất nóng, và chúng tôi thấy rất thoải mái ngồi ngâm nước, chân cởi giày, và chỉ nghỉ ngơi. Chúng tôi đặt súng trong vị
trí chiến đấu, nhưng quân Nga đã chạy xa và không có gì nguy hiểm cho chúng tôi.

Trong ngày nghỉ, binh lính có cơ hội tắm giặt và viết thư. Chúng tôi được ăn ngon hơn vì có nhiều thì giờ chuẩn bị thức ăn, và nhất là khi Boldt có thể tìm được chú heo hay vài chú gà xổng chuồng. Trong một ngày nghỉ, lính tráng tìm được mấy chiếc thuyền dọc bờ sông và tổ chức cuộc đánh thuyền. Chiếc thuyền hẹp có 2 mái chèo hai đầu. Một người chèo và một người đứng, cùng với 1 thuyền khác, họ "đánh nhau" với 1 cặp thuyền phe bên kia, đội này phải tìm cách làm cho đội kia ngã xuống sông. Những người khác đứng coi và cổ vũ. Những hoạt động như vậy làm cho binh lính thoải mái và lên tinh thần. Họ luôn luôn tìm mọi cách vui chơi và nghỉ ngơi.

Trong một ngày nghỉ khác, chúng tôi tổ chức buổi nhận huân chương. Tôi được nhận huân chương Chữ Thập Sắt Hạng Nhất trong ngày này, vì giúp chọc thủng tuyến phòng thủ địch trong tuần lễ đầu tiên của cuộc tấn công. Thiếu Tá Kreuger tiến cử tôi vì ông cảm thấy tôi sẵn sàng mạo hiểm ra đến tuyến trước để điều chỉnh pháo binh giúp lính ông ta ít thương vong hơn.

Chúng tôi bắt tù binh từ ngày đâu tiên của cuộc tấn công. Bộ binh dẫn về hàng ngàn người, hàng chục ngàn người, thậm chí cả trăm ngàn người. Càng đi sâu vào nội địa Nga, dòng tù binh Nga đi nguơc chiều càng nhiều. Tôi tự hỏi chúng tôi có chuẩn bị lo cho con số nhiều như vậy không, và con số càng cao thì tôi càng chắc là không. Hệ thống tiếp vận làm tốt chỉ để giữ cung cấp cho quân Đức, và chúng tôi không thể nào lo hết cho tù binh. Họ tỏ vẻ thờ ơ và không biểu lộ tình cảm. Quân phục đơn giản của họ tạo nên
cảm giác là một đám đông đần độn.

Họ không được chăm sóc đúng đắn, thật sự là vậy, nhiều người họ bị chết đói. Họ được phát lương thực từ các nông trại và thịt từ ngựa bị chết trong chiến trận, nhưng không đủ để cung cấp cho họ. Đây là tình huống tệ hại, nhưng không phải là sự bỏ bê - mà chỉ không cách nào cho họ ăn uống vì con số khổng lồ trong khi phải lo cho chính binh lính chúng tôi.

Chúng tôi đã được nghe về các tiếng xấu của các chính uỷ. Những chính uỷ Cộng Sản trong quân Nga được coi là đặc biệt nguy hiểm vì họ kích động và xúi giục người khác, nên chúng tôi tách họ ra những tù binh khác và giao cho sư đoàn. (Chúng tôi không biết là sư đoàn giao cho đảng Quốc Xả, và bị xử tử.)
Chúng tôi không có ý kiến gì về việc này, vì các pháo đội pháo binh hiếm khi bắt được tù binh.

Một buổi tối vào giữa tháng 7, pháo đội được bố trí nghỉ đêm ở cùng một làng với BTL sư đoàn. Họ đến đây vì đây có nhà đẹp, và tôi ở đây vì có nhiều chỗ tốt cho ngựa. Thiếu Tướng von Studnitz được thông báo là có pháo đội cùng đóng trong làng, nên ông cho người đến mời ăn tối với ông.

Ông vào khoảng giữa 50 và tướng hơi mập. Ông là một người lính chuyên nghiệp một cách hoàn hảo với hiểu biết sâu rộng về nghệ thuật chiến tranh và là người làm việc rất hiệu quả. Ông là người thông minh, có suy nghĩ về chính trị và triết lý, và là người luôn thèm thuồng sách. Ông rất được tôn trọng và kính nể bởi những người dưới quyền và xung quanh.

"Trung Uý Knappe, Pháo Đội Trưởng Pháo Đội 1, Trung Đoàn 187 PB, xin trình diện Thiếu Tướng." Tôi trình diện ông ta.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #65 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 10:33:16 pm »

"Chào anh, Knappe," ông cười tươi và bắt tay tôi. "Ngồi xuống", ông bước đến bàn ra ra hiệu cho người phục vụ rót rượu. "Mọi thứ ra sao với anh hả?"

"Đều tốt, thưa thiếu tướng."

"Tinh thần mọi người ra sao?"

"Tốt lắm, họ là những người lính giỏi, và thái độ của họ không thể tốt hơn được"

"Bọn ngựa thì sao, có đủ sức không?"

"Chúng cũng tốt. Nếu chúng được nghỉ ngơi đều và được chăm sóc, chúng sẽ khoẻ."

"Anh có nhận đủ lương thực cho binh lính và ngựa không?"

"Thưa thiếu tướng, chúng tôi nhận được đầy đủ."

Ông đang kiểm tra các hoạt động tiếp vận. Chúng tôi là lực lượng của ông, và ông phải dùng chúng tôi để đạt được kế hoạch. Tôi trung thực cung cấp cho ông về tình trạng của chúng tôi. Đến lúc đó, tôi bị
thương vong ít, và ông rất vui về điều đó.

Ông có vẻ trầm ngâm một lúc. "Anh thấy chiến dịch tiến hành như thế nào?"

"Rất tốt ạ," tôi nói với sự nhiệt tình. "Mọi thứ hình như theo kế hoạch."

Ông không nói gì, suy nghĩ của ông dường như đâu đó khá xa. "Tôi đã ở Nga trong cuộc chiến trước," cuối cùng ông lên tiếng. "Tôi đã trải qua mùa đông ở Nga. Nó rất khủng khiếp, không giống bất cứ ở đâu. Nó sẽ đến, và nó sẽ đến sớm. Chúng ta chỉ mới ỏ trong 1 phần nhỏ của nước Nga. Chúng tôi còn cả một khoảng trống mênh mông phía trước, và nếu chúng ta không chiếm được Moscow trước khi thời tiết trở lạnh, tôi lo sợ điều đó sẽ xảy ra."

Rõ ràng ông ta không lạc quan. Tôi sửng sốt, vì mọi việc đều thuận lợi cho đến nay, nhưng tôi biết ông là người thông minh, kinh nghiệm và có năng lực, và tôi bắt đầu bớt lạc quan từ đó. Nếu có ai đó nghe lén câu chuyện của chúng tôi và báo cho đảng Quốc Xã, nó có thể làm cho sự nghiệp của tướng von Studnitz chấm dứt. Nhận xét của ông có thể bị dịch thành kẻ chiến bại, và Đảng Quốc xã đối xử với những người này một cách nghiêm trọng.

Trong thời gian này, hầu hết thời giờ của chúng tôi là hành quân, rất ít khi gặp sự chống trả. Tiếp tục hành quân, chúng tôi đi trên con đường đất đầy những vết lún khá sâu, qua những hố đầy đá và đầy bụi. Chân chúng tôi chìm trong đất và cát, rồi tung bụi vào không khí và chúng bay lên và bám chặt vào người. Ngựa ho trong bụi làm bốc thêm mùi hăng hắc. Cát lún làm cho ngựa mệt như đi trên bùn lầy. Mọi người im lặng bước, người đầy bụi, môi và cổ họng khô rang. Đièu kiện như thế này làm cho người ngựa kiệt quệ nếu không thận trọng.

Trong vài ngôi làng, Những đồ trang trí hội tháng 5 vẫn còn treo và chúng tôi lúc đầu tưởng là dân làng chào đón chúng tôi. Chúng tôi nghe đồn là dân Nga chào đón quân Đức như những người giải phóng, nhất là vì chính quyền Cộng Sản cấm họ không được đi lễ nhà thờ. Chúng tôi đi qua xác xe tăng của Đức và Nga cũng như xác máy bay bị bắn rơi.

Trên đường đi băng qua nước Nga, chúng tôi bắt đầu thấy được sự mênh mông của đất nước này. Trong những khu rừng, mặt đất cọt kẹt dội lên như lò xo theo tường bước chân. Lá cây trên mặt đất khô và giòn, nhưng phía dưới là những lớp lá rụng từ nhiều năm trước và tạo thành những đống mùn màu nâu với đầy côn trùng. Nơi khác, những bụi cây chết gãy giòn dưới chân chúng tôi. Những khu rừng đầy mùi mốc với lá cũ, và cây cối đầy tiếng chim ồn ào. Cây sống có mùi tươi và ẩm ướt, và mùi cây chết khô và nồng.
Ngoài đồng trống, ánh nắng mặt trời hun nóng mặt đất, cùng với nút, đai nịt, dây xích, và những vật kim loại. Bướm vàng, bọ hung màu xanh-đen, và kiến nâu khá nhiều. Rắn cỏ len lỏi qua những bụi cỏ, rất khó thây. Châu chấu rất nhiều và coi những người lính như những cái cây và thường đậu vào họ để "đi ké". Từng đàn muỗi nhỏ li ti và ruồi tấn công chúng tôi..

Chúng tôi tiếp tục đi, những ngọn đồi nhỏ xuất hiện từ chân trời phía trước rồi từ từ chìm xuống chân trời phía sau chúng tôi. Cứ như là cùng một ngọn đồi cứ tiếp tục xuất hiện phía trước, từng cây số một. Chúng tôi đi ngang qua những cánh đồng không một bóng cây và tầm mắt phóng xa tít, cánh đồng trống trải mọc đầy một loại cỏ cao. Rồi chúng tôi gặp những đồng lúa bất tận thỉnh thoảng che giấu lính Nga trong đó. Hoặc những cánh đồng hoa hướng dương dài hết cây số này đến cây số khác. Trong một chỗ khác, chúng tôi gặp những khu rừng rộng lớn như rừng nhiệt đới với cây cối chen chúc nhau mọc lên. Chúng tôi khó khăn vượt qua đầm lầy vùng Byelorussia rộng bằng hai tỉnh ở Đức. Những con sông đều chảy hướng bắc - nam, nên chúng tôi phải vượt qua chúng và chúng tạo thành những vị trí phòng thủ thiên nhiên cho quân Nga đang rút lui.

Sau bữa ăn với Thiếu Tướng von Studnitz, chúng tôi đến Minsk, thủ đô và là thành phố lớn nhất của Byelorussia. Quảng trường trung tâm của thành phố có bức tượng của Lenin cao khoảng 10 mét. Nó đã bị kéo xuống và đầu Lenin đã bị lấy mất. Chúng tôi không biết lính Đức hay dân Nga đã làm điều này sau khi quân Nga rút đi. Minsk bỏ trống như một thành phố ma. Dấu hiệu duy nhất của sự sống là giao thông của quân Đức. Chúng tôi không dừng lại ở đây.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #66 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 11:38:22 am »

Phần 3 : Chương 16

Từ Minsk trở đi, chúng tôi đi theo con đường bưu điện chạy từ Warsaw đến Moscow, đi qua Grodno, Minsk, Smolensk, và Vyazma. Đây chính là con đường Napoleon đã tiến đến Moscow. Con đường gây cho tôi một cảm giác sợ sệt, có thể vì nó quá cũ và vì sự kiện quân của Napoleon đã bước trên một con đường tráng đá mà bây giờ chúng tôi đang bước trên nó. Đây là một quốc lộ 2 làn xe ngược nhau được đắp cao lên với vệ đường khá cao. Đường được lát đá, không phải là đường tốt cho ngựa, vì nó gập gềnh và đá có thể làm sưng chân ngựa.

Tổng cộng, chúng tôi đi theo con đường này khoảng 700 km, từ Minsk đến Moscow. Cũ hơn hai trăm năm, con đường này chỉ đủ cho 2 xe vượt nhau. Xe không thể chạy hơn 45km một giờ vì đá. Vì chúng tôi là pháo ngựa kéo nên không có vấn đề gì, ngay cả tăng và xe tải cũng không gặp trở ngại nếu chúng chạy chậm. Chúng tôi không thể rời khỏi mặt đường vì 2 vệ đường rất cao so với mặt đất. Tất cả các con đường khác đều là đường đất và chúng sẽ lầy lội khi có mưa. Cầu cống hầu hết đã bị phá hủy, nên chúng tôi phải lội qua suối và sông. Đó là lý do chúng tôi cần 6 con ngựa để kéo xe.

Ở sông Berezina, chúng tôi đến một chỗ rất chật hẹp. Cây cầu bắt qua sông đã bị phá hủy, và chúng tôi phải đợi cho công binh làm cầu phao. Điều này làm tôi lo lắng, vì tôi biết chổ đầu cầu là chổ duy nhất có mặt đường cứng trong vùng và trở thành mục tiêu lý tưởng cho pháo binh bắn phá đường giao thông - địch chỉ cần pháo chỗ này thường xuyên là có cơ hội bắn trung một đơn vị nào đó đang bị kẹt cầu. Và bây giờ cả sư đoàn 18000 người đang ở trong cổ chai! Nếu chúng tôi bị pháo, bộ binh có thể rời khỏi con đường và ẩn nấp, nhưng với ngựa móc vào xe, pháo binh không thể làm gì được, chỉ có thể đứng đó chịu trận.
Và khi chúng tôi đợi, nó đã xảy ra. Tiếng rít kinh sợ của đạn pháo xoáy vào tai tước khi nổ tung lên gần đó với tiếng nổ dữ dội của đạn pháo hạng nặng. Một cơn lốc lửa quét sát mặt đất, mang theo mùi khét nghẹt của thuốc súng. Trước khi chúng tôi hoàn hồn lại, không khí lập tức tràng ngập tiếng kêu la, sau những tiếng nổ rung chuyển mặt đất và tung lên những đám khói đen và cơn mưa đất đá. Đây là trận pháo nặng nề nhất chúng tôi hứng chịu. Đoàn xe của chúng tôi đang đậu dọc trên đường dẫn đến cầu, và chúng tôi chỉ có thể ở đó. Lính giữ ngựa phải đứng kiềm ngựa, các pháo thủ thì nằm dọc theo các vệ đường.

Có thể là pháo bắn từ các xe lửa cách đó khoảng 30 -40 km. Chúng tôi không biết họ biết chúng tôi đang ở đó hay chỉ bắn là loạt đạn bắn may rủi. May thay, trận pháo chấm dứt nhanh chóng, chắc họ không biết chúng tôi ở đó. Chúng tôi có 3 người chết và 21 người bị thương. Tuy bị thiệt hại, nhưng cũng còn may, vì nó có thể tệ hại hơn.

Làng mạc ở Nga lớn nhỏ khác nhau. Ngôi làng nhỏ có chứng 30 "căn lều" (nguyên văn: huts) và ngôi làng lớn có đến vài trăm mái nhà. Thường thì ngôi làng nằm dọc theo hai bên đường. Đây là những căn nhà gỗ rất hoang sơ, với mái cỏ hay rạ. Bên trong, giấy báo được dùng để dán tường.. BÀn ghế thì hết sức thô sơ, được chủ nhà tự làm, các căn nhà luôn luôn có nhũng lọ đất và chậu gỗ. Một thùng gỗ thay thế cho tủ. Người ta dùng đèn dầu hay nến để thắp sáng nếu có, mà chỉ những khu khá mới có, những khu nghèo hơn, người ta phải sống trong bóng tối từ khi mặt trời lặn cho đến sáng hôm sau - và trong mùa đông, bóng tối chiếm 17 giờ một ngày! Một hàng rào được dùng bằng những cọc gỗ hay bất cứ thứ gì. Một nông dân bình thường sống được hơn súc vật của anh ta một chút. Chúng tôi cứ như gặp phải một cuộc sống hoang sơ của xã hội loài người cách đây hàng thế kỷ.

Thường thì những căn nhà này là nơi ở của những người lao động làm ở các nông trường được thành lập sau cuộc cách mạnh của CS năm 1918. Một căn nhà có một cái lò lớn bằng gạch hay đá - chắc làm luôn lò sưởi - đặt giữa căn phòng duy nhất. Phần trên rất dày, và đá hay gạch được ấm lên bởi hút nhiệt vào ban ngày. Cái lò lớn đủ để một gia đình 6 người ngủ trên đó trong mùa đông. Nó có chỗ cho nấu ăn, nhưng chủ yếu, nó được dùng làm lò sưởi và để ngủ.

Hầu hết nông dân Nga sống trong những căn nhà xây trước cuộc cách mạng; vì có nơi cũng có dấu hiệu của sự sung túc, thường thì có 1-2 nhà lớn trong những làng này. Tuy nhiên, hầu hết vẫn còn là những ngôi nhà 1 phòng hoang sơ. Phía sau ngôi nhà là nhà xí và chỗ đựng nông cụ. Mỗi nhà có vài cửa sổ nhỏ. Bên cạnh lò sưởi, họ cũng dùng tuyết để giữ ấm bằng cách xúc tuyết đổ cao xung quanh nhà như một lớp cách nhiệt, đến ngang cửa sổ hay cao hơn. Súc vật được nuôi ở một nơi gần làng, có khi đi đến đó mất 1 giờ. Chỉ có gia cầm duy nhất được nuôi trong làng là gà.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #67 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 11:39:26 am »

Không may, nhiều ngôi nhà ở trong các làng chúng tôi ở lại có rận, và chúng tôi bị lây. Và chúng ở trên người chúng tôi cho đến khi chúng tôi được tẩy gội, và trong tình hình di chuyển nhanh như chúng tôi thì không có thời gian tắm rửa - tẩy gội. Chỉ khi nào dừng lại thì một cơ sở tẩy rửa được dựng lên. Thật là một sự hành hạ khi bị rận ở trong người hàng tháng. Chúng tôi gãi liên tục, tay chân, bụng, lưng, và lúc nào cũng ngứa nách. Ban đêm thì càng tệ hơn nữa, và lính tráng cứ phải cựa quậy liên tục trong chăn.

Trên đường sau khi qua khỏi Minsk, đường xe lửa chạy dọc theo đường quốc lộ, và chúng tôi luôn luôn có xe lửa mang tiếp tế đến; tuy nhiên, khi quân Nga rút lui, họ cố gắng phá huỷ đường xe lửa, và sửa đường sắt là công việc liên tục. Vì vậy, xe lửa luôn luôn khoảng 25 km phía sau, cho dù đường sắt được sửa rất nhanh.

Khoảng giữa Minkssk và Smolensk, chúng tôi gặp sự chống cự, và người chỉ huy trung đoàn bộ binh gọi một cuộc họp gồm các tiểu đoàn, đại đội và chỉ huy các pháo đội trong một khu rừng và lập kế hoạch tấn công. Đây không phải là việc khôn ngoan, vì tất cả các sĩ quan quan trọng đều tập trung ở một khu vực nhỏ. Ông ta không nên làm như vậy, nhất là trong rừng, nhưng vì sự chống cự khá bất ngờ và đã lâu chúng tôi không bị pháo. Khoảng 15 người chúng tôi đang lên kế hoạch, tiếng rít của đạn pháo làm chúng tôi nằm xuống, chúi đầu xuống đất. Tiếp đó là những tiếng nổ dữ dội. Một loạt đạn pháo nổ trên đầu chúng tôi, cách mặt đất chừng 10 mét khi trúng các ngọn cây, và cơn mưa mảnh ào xuống chúng tôi như một làn súng máy bắn từ trên trời. Tôi không bị gì, nhưng người nằm bên cạnh tôi giật nẩy người lên và tôi biết anh ta bị trúng đạn.

"Cứu thương!" Tôi là lên, và nhào đến bên anh ta, nhưng anh ta đã chết. Anh ta bị 2 vết thương trên đầu và sau lưng. Mồ hôi tôi vã ra như tắm và một cơn lạnh chạy dọc trên sống lưng tôi.

Chúng tôi nhanh chóng tản ra, vì chúng tôi không biết địch có tiền sát viên trong khu rừng và biết vị trí chúng tôi hay không, hay chỉ là một loạt đạn vu vơ. Chúng tôi có 2 chết và 5-6 người bị thương. Y tá chạy đến và đem những người chết và bị thương đi. Vì không bị bắn thêm, chúng tôi biết đó là loạt đoạn hú họa như đã bị ở cầu trước đó.

Nguời trung úy bị chết bên cạnh tôi là một sĩ quan trừ bị. Chúng tôi đang thảo luận với kế hoạch với nhau, chỉ một giây phút sau, một nguời chết và một người vô sự. Chúng tôi cùng nhào xuống đất cách nhau chỉ một khoảng, một người nằm lại và một người có thể đứng lên bước đi. Số mạng của tôi giữ tôi sống được bao lâu nữa? Tôi biết có thể lần sau, tôi là người không may mắn khi ở không đúng chỗ.

Tôi phải tin vào số mạng về chuyện này và nghĩ rằng nếu nó đến với tôi thì tôi chẳng làm gì được để tránh né. Tôi không đợi nó đến qua những việc như đứng thẳng và làm một mục tiêu lớn - Tôi cố gắng làm mình nhỏ được chừng nào tốt chừng đó - nhưng tôi biết rằng không sớm thì muộn tôi sẽ chết hay bị thương. Tỉ lện tôi trở về mà không bị thương rất nhỏ, và tôi phải chấp nhận cái chết hay tàn phế như là định mệnh. Chỉ khi nào tôi bắt tôi phải chấp nhận nó, tôi mới có thể để nó ra khỏi suy nghĩ và tiếp tục nhiệm vụ; Tôi sẽ không làm việc được nếu không chấp nhận nó.

Ở Orsha, giữa Minsk và Smolensk, quân Nga lập một phòng tuyến và chúng tôi phải chọc thủng để đến được Smolensk. Tuyến phòng thủ luôn có vài tuyến giao hào, tuyến chiến đấu và hầm hố tiếp nhau, và khi tấn công, chúng tôi phải chiếm được tất cả. Cách đánh tiêu tuẩn của tất cả các trận đánh, cho đến lúc ấy, là khi quân bộ binh tấn công chiếm được tuyến phòng thủ đầu tiên, lính địch nếu chưa bị chết hay bị thương nặng đứng lên tại chỗ và đưa hai tay lên trời, đợt thứ hai từ phía sau lên sẽ bắt họ làm tù binh và đưa về phía sau.

Trong khi tiến lên trong một khu rừng khá rộng gần Orsha, chúng tôi dàn hàng ngang. Tôi đi cùng với đại đội mũi nhọn, gần trung tâm hàng quân. Quân Nga ở tuyến đầu tiên đứng dươi giao thông hào, chỉ nhô đầu lên nên rất khó trông thấy. Chúng tôi bị bắn bằng súng trường, chúng tôi bắn trả và tiếp tục tiến. Tiếng súng mạnh dần. Một lúc sau, xung quanh tôi đủ mọi tiếng súng: tiếng lộp bộp của súng trường, bùm của cối, và từng tràng của súng máy.

Chúng tôi chiếm được tuyến thứ nhất và tấn công tuyến thứ 2 thì bỗng dưng bị bắn từ phía sau cũng như phía trước. Lính Đức ở tuyến đầu bị bắn chết vào lưng. Lính Nga ở tuyến đầu, sau khi bị chiếm, thay vì đứng lên đầu hàng thì họ cầm súng và bắn chúng tôi từ phía sau, và nhiều người trong chúng tôi bị chết vì kiểu bắn này. Tất nhiên, đất nước của họ đang bị xâm lươc bởi quân Đức và họ đang tuyệt vọng. Tuy nhiên, ở địa vị của chúng tôi, và không có lính Đức hay lính Nga nào phá hủy lòng danh dự của người lính - bắn vào phía sau - bởi vì niềm hy vọng sống sót hiếm hoi trong lúc chiến đấu đã bị tướt đi. Nếu niềm hy vọng bị mất, cái chết sẽ là chắc chắn - và không ai muốn chết! Trong tình huống chiến đấu, người lính luôn bị một áp lực rất tàn bạo, và khi anh ta thấy bạn bè của mình bất ngờ ngã xuống vì bị bắn từ phía sau, nó vượt quá sức chịu đựng. Những người lính trong chiến trận trở thành anh em, và tình anh em này rất quan trọng với họ nên họ sẵn sàng hy sinh cho nhau. Đó không phải chỉ là tình bạn, và nó cao hơn bất cứ lá cờ nào hay đất nước nào.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #68 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 11:40:12 am »

Lính chúng tôi nổi điên lên, và từ điểm đó, khi tấn công, họ không bắt tù binh và không để ai sống sót trong các hầm hố họ chiếm được. Tôi không ngăn cản họ, và không sĩ quan nào ngăn cản họ, vì chúng tôi cũng sẽ bị bắn vào lưng. Binh lính trong cơn thịnh nộ. Trước đây, nếu người lính Nga nào bỏ vũ khí và đứng lên với hai tay đưa cao, họ được dồn lại và đưa về tuyến sau. Nếu không bị chết, họ sẽ bị bắt làm tù binh, nhưng bây giờ, người Nga đã đánh mất lý lẽ đó. Kết quả là , tất cả đều bị giết mà không có sự tha thứ hay hối hận.

Mọi thứ hỗn loạn trong tôi đêm hôm đó, vì tôi chưa bao giờ trải qua những kinh hoàng của chiến trận. Đêm thật yên tỉnh sau những hành động man rợ nhất của loài người, với khói xám-xanh bay lên từ các bếp núc. Bụi và khói làm mờ đi cảnh vật xung quanh. Và người lính bộ binh ngồi uống cà phê hay trà và hút thuốc gần các bếp lửa. Người khác ăn tối từ lương khô, người sửa giày, người viết thư cho vợ, bạn gái, hay gia đình họ - Đêm này, tôi không thể suy nghĩ hay cảm giác bất cứ điều gì ngoài sự khủng khiếp và kiệt sức. Chắc họ đã quen với những ghê rợn của chiến tranh hơn tôi.

Có thể họ cảm thấy muốn trả thù. Chúng tôi chôn đồng đọi đã chết bên những chiến hào và hầm hố nơi những người sống sót viết thư, cạo râu, ăn uống... Những người lính trẻ này chỉ vui mừng là được sống thêm một ngày; sự thật, mỗi đêm họ lại ngạc nhiên khi thấy mình sống thêm 1 ngày. Tôi cố tìm hiểu để biết thêm về họ, và tôi viết rằng khi một người bạn bị chết, một phần trong cuộc sống của họ cũng chết theo, và trong những âm thanh cuồng loạn của trận đánh ngày hôm sau, họ vẫn nghe được tiếng của các đồng đội đã chết trong một vài giây phút lạ lẫm.

Tôi đi đến lều chỉ huy của Kreuger và lên kế hoạch tấn công ngày mai như mọi khi.

"Chào anh," Ông nói khi tôi bước vào. Ông ngẩn đầu lên từ tấm bản đồ và chỉ chiếc ghế. Ông nhìn tôi một lúc. "Anh không thích những gì anh nhìn thấy ngày hôm nay," cuối cùng ông lên tiếng. Nó không phải là câu hỏi.

"Không, nhưng tôi hiểu."

Ông lại nhìn tôi một hồi lâu, như thể ráng tìm ở tôi một phản ứng hay một cử chỉ. "Tốt, rất quan trọng. Anh hay tôi đều không làm được gì hơn trong trường hợp này. Người Nga đã chiếm lấy sự kiểm soát từ trong tay chúng ta."

"Jawohn, Herr Major," tôi đồng tình.

Thời tiết khô và rất nóng. Ngày dài và đêm ngắn trong suốt mùa hè. Tháng 6, 7, 8 cho chúng tôi thời tiết tốt nhưng rất nóng, và chúng tôi cứ hành quân mãi trong vùng đất cứ kéo dài ra, vùng đất mà không ai trong chúng tôi có thể mường tượng được. Và nó càng nóng về cuối hè, cái nóng và côn trùng cũng không biến đi vào ban đêm. Ngày càng nhận thức về sự rộng lớn của nước Nga, ngày càng đem đến sự xuống tinh thần trong chúng tôi. Một sự nghi ngờ rất nhỏ bắt đầu len lỏi chúng tôi. Làm sao vùng đất rộng mênh mông này lại có thể chiếm được bằng lính đi bộ?

Thỉnh thoảng cũng có dân chúng còn sống trong các làng mạc chúng tôi đi qua, họ không có thời gian để chạy trốn. Toàn là phụ nữ, trẻ em, người già, vì những người khác đều bị đăng lính. Chỉ khi nào chúng tôi tiến thật nhanh mới thấy được họ. Hoặc là họ chưa kịp chạy, hoặc không muốn đi. Dân chúng không bao giờ bị ngược đãi bởi lính chiến đấu, và họ cũng không tỏ thái độ ghét bỏ chúng tôi. Họ tỏ ra trung lập, và có người còn chào chúng tôi. Tất nhiên, những ai theo Cộng Sản đã rời theo quân Nga khi họ rút, và những người ở lại thường là những người bị Cộng Sản áp bức. Chỉ một lần tôi chứng kiến về thái độ thù nghịch của người dân Nga với chúng tôi khi vài người lính cười khi họ nhìn 2 đứa trẻ đang gãi vì bị rận.
Người mẹ trở nên giận dữ.

"Đó là những con rận Đức. Các người mang chúng đến đây."

Chúng tôi hiểu tiếng Nga đủ để biết bà nói gì. Nó không đúng, vì chúng tôi cũng bị từ những ngôi nhà Nga, nhưng tôi xin lỗi cho những người lính kia.

Thỉnh thoảng trong các trận đánh, người Nga pháo vào các làng mạc của chính họ nếu chúng tôi ở đó. Khi nó xảy ra, thường dân Nga cũng chung xuồng với chúng tôi, và trong trường hợp như vậy, quốc gia không còn là vấn đề - sống còn là trên hết. Chúng tôi cố gắng tự bảo vệ mình và những người khác nếu có thể. Họ cũng hợp tác với chúng tôi dập tắt lửa vào ban đêm và đóng kín các cửa sổ. Sau vài lần, nó trở thành như một sự hợp đồng làm việc, tôi nhớ có một lần tôi nằm xuống đất tránh pháo gần một ngôi nhà, tôi bỗng thấy một bà cụ Nga nằm gần tôi, khi thấy tôi nhìn bà, bà cười trấn an với tôi. Bà làm tôi cảm giác không gì hơn là bà đang trấn an con của bà.

Smolensk gần như bị phá hủy khi chúng tôi đến đó. Ga xe lửa bị xóa sạch vì nó được phòng thủ rất kỹ càng. Hàng trăm nghìn quân Nga bị bắt làm tù binh ở đây. Mặc dù chúng tôi không ở trong thành phố, nhưng chúng tôi ở trong khu vực Smolensk khoảng 1 tuần, nghỉ ngơi, sửa chữa và thay thế các trang thiết bị, thay móng ngựa, và lấy lại sức.

Hạ sĩ Knecht và những người giúp việc của anh ta làm việc không ngừng sửa chữa các vật dụng và thay móng ngựa. Quốc lộ đá gây nhiều khó khăn cho thiết bị và chân ngựa. Knecht và nhân viên làm việc có ngày 16 tiếng. Công việc của họ không dễ dàng chút nào.

Tôi viết thư cho Lilo gần như hàng ngày ở Smolensk và cố gắng bù lại những ngày tôi không viết được trong thời gian hành quân. Tôi không kể cho cô ấy nghe về những chết chóc và giết nhau, hay về sự nóng nực hay bụi đường. Tôi chỉ kể cho cô ấy nghe về những cảnh đẹp của đất nước mà chúng tôi đang đi qua và những con người hay ho mà tôi đã gặp. Lilo tượng trưng cho sự đẹp đẽ, văn minh, và những gì tốt đẹp trong cuộc sống đối với tôi. Tôi không muốn cho cô biết được những chuyện dã man, mất hết tính người của chiến tranh. Tôi đã nhìn thấy qua nhiều trên đường đi, qua những quốc gia khác nhau, con người bị buộc phải sống như thú vật. Viết thư co Lilo cũng giúp tôi giữ được thăng bằng trong tinh thần: nhiều việc tốt đẹp vẫn được tìm thấy ngay cả trong những trường hợp khủng khiếp nhất.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #69 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 11:40:52 am »

Chúng tôi mở đợt tấn công mới vào đầu tháng 9. Từ Smolensk trở đi, sự chống trả của quân Nga mạnh dần khi chúng tôi tiến đến Moscow gần hơn. Khoảng giữa Smolensk và Vyazma, tăng và bộ binh bao vây một số lớn quân Nga, mặc dầu lúc đầu chúng tôi không biết. Quân bộ binh mà chúng tôi yểm trợ đụng trận, nên pháo đội của tôi vào vị trí chiến đấu để yểm trợ họ. Tôi ở phía trước với Thiếu Tá Kreuger. Khi đêm xuống, chúng tôi dừng lại nghỉ đêm và định tấn công vào sáng sớm ngày hôm sau. Đây là một tình huống bình thường, tình huống mà chúng tôi đã được học ở trường quân sự và đã xử dụng quá nhiều lần. Chúng tôi hành quân, lính thám báo bị bắn, tiểu đoàn mũi nhọn dàn quân và cố gắng tìm hiểu thực lực của địch. Tôi lên trước với bộ binh, và goi về pháo đội cho Thiếu Úy Steinbach, để đưa súng vào vị trí và tác xạ và sớm hôm sau.

Khoảng 1 giờ sau nửa đêm, Mọi người đều ngủ ngoại trừ các trạm gác. Thiếu Tá Kreuger và tôi vẫn còn làm việc để chuẩn bị cho cuộc tấn công ngày mai và chúng tôi giật mình nghe tiếng súng nổ phía sau chúng tôi, hướng đại bác đang đặt. Chúng tôi nhìn nhau một cách lo ngại. Có nghĩa là trận đánh xảy ra phía sau chúng tôi chứ không phải phía trước, nơi mà chúng tôi nghĩ là địch đang đóng quân - phía sau khoảng chỗ chúng tôi đặt súng. Điện thoại reng. Đó là Steinbach, sĩ quan pháo đội.

"Thưa trung úy, chúng ta bị tấn công từ phía Nam," anh ta nói với giọng hoảng hốt. "Nhưng hướng tấn công chính của địch về phía sau, nơi chúng ta để ngựa, trang bị và đạn đượt."

"Địch xử dụng vũ khí gì?" Tôi hỏi.

"Chỉ súng trường, không có súng máy hay cối."

"Được rồi, tiếp tục liên lạc với tôi, nhất là khi có tình huống gì xảy ra."

"Jawohl, thưa Trung Úy."

Quân Nga đang bị bao vây, mà chúng tôi không biết, quyết định phá vòng vây dưới bóng đêm. Họ tấn công pháo đội của tôi, vì nó nằm ngay trên đường đi của họ, và binh lính của tôi chống trả bảo vệ cho người ngựa, và họ chỉ có súng trường. Họ không thấy lính Nga để bắn, nhưng họ có thể nghe tiếng - và họ có thể ngửi thấy! Lính Nga có mùi thuốc lá Makhorka, một loại thuốc lá có mùi rất nặng. Chúng được làm từ các cọng thuốc lá thay vì lá thuốc (chỉ có sĩ quan Nga mới được phát thuốc làm bằng lá). Cai mùi khó chịu này bám vào quân phục dày cộm của họ và có thể ngửi thấy từ khoảng cách khá xa.

Tôi báo lại với Kreuger về báo cáo từ Steinbach, ông ta báo lên trung đoàn, và từ đó lên sư đoàn. Kreuger ra lệnh cho đại đội dự bị tấn công ngược lại phía sau. Họ chặn được quân Nga, nhưng trận đánh kéo dài cho đến sáng và thiệt hại nặng cho cả hai bên. Pháo đội của tôi mất vài người, bộ binh mất hơn 100, và quân Nga thiệt hại nhiều hơn. Họ bị mất tổ chức và lộn xộn, và đầu hàng khi bình minh đến vì họ không có vũ khí nặng và không thể trụ được vào ban ngày.

Chúng tôi kiểm tra thiệt hại, chôn những người chết, và bắt tù binh. Hàng trăm xác quân Nga nằm khắp nơi. Chắc họ phải có hơn một tiểu đoàn; có thể là một bộ tư lệnh quân đoàn nào đó hay đại loại là vậy. Đêm hôm sau, chúng tôi tổ chức phòng thủ đêm có tổ chức hơn và nó lại xảy ra, và chúng tôi phải ở lại thêm 2 ngày nữa để bổ xung. Khi đó, sự chống cự mạnh mẽ của địch ngày hôm trước đã giảm xuóng còn những trận đánh lẻ tẻ, và khi chúng tôi tiến lên thêm, địch đã rút xa.

Vì sư đoàn đã bị tổn thất nhiều nên cần được nghỉ ngơi và bổ sung, chúng tôi dừng lại 3 ngày. Thư từ theo kịp đến chúng tôi, và tôi nhận được thư của ba mẹ và tin là em tôi, Fritz, đã bị thương trong Phuong Diện Quân Bắc trong tháng 9, khoảng nửa đường đi Leningrad. Một viên đạn đã trúng cổ và nằm lại trong cột sống. Em tôi bị liệt từ cổ trở xuống, và bác sĩ không thể lấy viên đạn ra vì khả năng tử vong quá cao. Em nằm ở bệnh viện Leizig, ba mẹ tôi và chị Inge đến bên em hàng ngày.

Cuối tháng 9, trời bắt đầu mưa, và bùn lầy bắt đầu trở thành trở ngại đối với chúng tôi. Gió tạt mưa vào mặt và làm ướt đẩm quần áo khi hành quân. Tuyết rơi vào đầu tháng 10, nhưng nó không đủ lạnh để đường xá đông lại và làm mọi thứ trở thành lầy lội. Từng vón bùn dính vào giày và mỗi bước đi tạo thành những tiếng ùng ục. Với ngựa càng tệ hơn. Chúng tôi cũng không chuẩn bị cho tuyết, vì chúng tôi không nhận
được áo quần cho mùa đông.

Chúng tôi đến được Vyazma khoảng giữa tháng 10. Ở đây gần với Borodino, nơi xảy ra trận đánh lớn cuối cùng của Napoleon trước khi ông ta đến được Moscow. Lực lượng xe tăng của chúng tôi bị chận đứng vì quân Nga phòng thủ rất mạnh, và chúng tôi đuổi kịp họ và đánh nhau với quân Nga trên cùng những ngọn đồi mà Napoleon đã chiến đấu. Khác nhau ở chổ là sau Borodino, Napoleon không còn gặp kháng cự cho đến khi ông đến Moscow. Chúng tôi không có được sự may mắn đó.

Kreuger gọi các đại đội trưởng và tôi đến lều của ông ta sau khi chúng tôi đến Vyazma không lâu. Đây là chuyện hiếm khi xảy ra, nên chúng tôi biết là rất quan trọng. Khi 4 chúng tôi đều ngồi xuống, ông nói với chúng tôi:

"Quý vị, từ bây giờ trở đi, sư đoàn chúng ta sẽ ra tuyến đầu. Các sư đoàn panzer được lệnh rút ra cho các chiến dịch khác." (Sau này, chúng tôi được biết là họ được dùng để mở một cuộc tấn cong vòng quanh Moscow hòng cô lập Moscow từ các nguồn tiếp tế từ các nơi trên nước Nga. Xe tăng của Tướng Hoth đi về hướng North, qua Kalinin, và Tướng Guderian về hướng Nam, hướng Tula.) Ông dừng lại, và chúng tôi lo lắng nhìn nhau. "Bắt đầu từ đây cho đến khi chiếm được Moscow, chỉ có bộ binh và pháo binh. Cho đến nay, các đơn vị xe tăng đã lấy tất cả mọi vinh quan của chiến dịch này. Hãy để cho họ thấy rằng bộ binh và pháo binh có thể làm được mà không cần có họ."
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM