Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:36:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy  (Đọc 89310 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 08:18:48 am »

Quân Pháp đón đồn Nhạn Tháp ngay trên bờ sông giáp với Đa Hòa và đồn Vân La bên kia Sông Hồng gây khó khăn cho các hoạt động của nghĩa quân hai bờ tả hữu sông Hồng nên Đổng Quân vụ giao cho hai ông bà điều tra để nhổ bỏ hai đồn này.


Lối vào đình Trúc Đình, huyện Ân Thi, Hưng Yên đại bản doanh
của Lãnh Chủ, Lãnh Điếc

Giặc Pháp sai một tên mật thám đóng vai Tây buôn thường qua lại giữa các đồn Đào Viên (nay thuộc xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu), Bình Phú nay thuộc xã Yên Phú, huyện Yên Mỹ, Nhạn Tháp nay thuộc xã Bình Minh, Khoái Châu và đồn Vân La ở bên kia sông thuộc huyện Thường Tín để giao nhiệm vụ thu thập tin tức cho bọn điệp viên, mật thám về các hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy và những làng xã ủng hộ nghĩa quân rồi đem quan đi càn quét. Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế thấy rằng phải giết tên chỉ huy mật vụ liền giao cho vợ chồng ông Quyền Túc thực hiện bản an. Vợ chồng Quyền Túc nhận lệnh đã bí mật điều tra thấy tên này hám gái liền quyết đình dùng “mĩ nhân kế” để giết hắn. Theo kế của Quyền Túc, bà Biên chở đò ngang qua sông, cổ tình cợt nhả với tên Pháp đó. Mấy ngày đầu tên này còn dè dặt, nhưng rồi sắc dẹp, nụ cười, ánh mắt của cô gái đã chinh phục được trái tim mê gái của hắn. Từ đó hẳn chỉ chờ đò của bà mới qua sông và để được tự do tán tỉnh bà, hắn không cho lính đi hộ vệ.

Thấy thời cơ hành động đã đến, ông Quyền Túc phối hợp với nghĩa quân xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín do ông Lãnh Be (tật thật là Nguyễn Văn Ve), chỉ huy bí mật bao vây quanh đồn Văn La. Bà Quyền Túc giấu con dao thái chuối đã được mài sắc dưới thuyền. Chiều đó tên mật thám Pháp xuống thuyền thấy bà mặc đẹp hơn mọi ngày, giơ tay vẫy hắn xuống thuyền. Thuyền ra khỏi bờ một quãng xa, bà Quyền Túc cố tình làm cho thuyền lắc mạnh, tên Pháp hốt hoảng, hai tay giữ chặt lấy mạn thuyền. Lập tức bà Biên chộp dao chém tới tấp vào tên Pháp rồi cắt đầu chở tiếp thuyền sang Mễ Sở.

Trong khi đó nghĩa quân xông vào đánh đồn Vân La. Quân Pháp mất tướng như rắt mất đầu chống cự một cách yếu ớt rồi bỏ chạy. Dân Văn La, Tự Nhiên, Đa Hoà thấy đồn binh đã bị tấn công liền chèo đò sang xông vào đồn cướp lương thực vải vóc cùng nhiều vật dụng khác rồi nổi lửa đốt đồn. Bà Biên xách đầu tên Pháp lêm cắm vào cọc bêu ở phố chợ Mễ Sở để cảnh cáo bọn xâm lược và bọn tay sai.

Trận đánh táo bạo này khiến quân Pháp khiếp sợ, hai ngày sau mới dám vượt sông sang lấy đầu tên mật thám và càn vào làng Đa Hoà và các làng xung quanh khủng bố nhân dân. Gia đình các nghĩa quân bị tàn phá, vợ con và cả họ hàng phải dắt díu nhau đi trốn(1).

Sau trận này vợ chồng Quyền Túc còn đánh một số trận nữa, trận nào cũng lập được chiến công. Đổng Quế phong chức Lãnh binh cho cả hai vợ chồng Quyền Túc. Ông còn tặng đôi câu đối:

“Hạ phu thê lương đồng thị lâu dịch châu nghĩa quân liên:
Nộ đảo sơn hà tam xích kiếm
Công thành phu phụ nhất gia binh”


Dịch:

Câu đối mừng vợ chồng cùng là nghĩa quân Bãi Sậy:
“Núi sông rạp đổ gươm ba thước,
Vợ chồng xông pha lính một nhà”
(2)


(1) Theo lời kể của cụ Nguyễn Văn Long, ông Nguyễn Tiến Xã, cháu và chắt cụ Quyền Túc, đồng chí Hoằng thường vụ đảng ủy xã Bình Minh, đồng chí Đức nguyên trung tá quân đội nhân dân, người thôn Đa Hoà, ông Nguyễn Liên Phương, người thôn Phú Thị, cụ Nguyễn Văn Kiều, Nguyễn Văn Sâm, con cụ Khoá Cát thôn Bằng Nha và nhiều cố lão ở thôn Đa Hoà kể với tác giả tháng 5/1999.
(2) Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, trang 534.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 08:22:26 am »

Diệt xong đồn Vân La, bắt hết bọn chỉ điểm ngầm trong vùng nghĩa quân kiểm soát, Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế giao cho vợ chồng Lãnh binh Nguyễn Túc điều tra các hoạt động của đồn Nhạn Tháp để nhổ đồn này đánh thông đường giao thông hai bờ Tả và Hữu ngan Sông Hồng ở Mễ Sở - Vân La.

Xã Nhạn Tháp giáp ranh với xã Đa Hoà và đều ở ngoài đê Sông Hồng. Đồn tuy nhỏ, ít quân nhưng nằm ở bến đò trên bờ Tả ngạn Sông Hồng kiểm soát một đoạn dài đường 199 đầu mối giao thông của nghĩa quân ở căn cứ Bãi Sậy với nghĩa quân ở các huyện Thường Tín, Thanh Trì, Phú Xuyên… tỉnh Hà Đông. Đồn có 25 tên lính Nam do một tên cai người Pháp chỉ huy. Đồn binh này chẳng những gây khó khăn cho nghĩa quân mà còn cướp bóc, hà hiếp nhân dân và khách qua sông.

Nhận lệnh, Lãnh binh Nguyễn Thị Biên cho quân điều tra vẽ bàn đồ nhà lính, kho lương, bà còn cải trang làm người cắt cỏ vào sát hàng rào địch để kiểm tra. Sau khi nắm chắc vị trí địch, bà chọn ngày chủ nhật có nhiều lính đi chơi, cho 30 nghĩa quân giả làm khách qua sông. Khi ngang qua cửa đồn, bà rút đoản đao giết lính gác rồi chỉ huy nghĩa quân xông vào giết lính, cướp 11 khẩu súng rồi rút lui an toàn(1).

Trong các huyện ở tỉnh Hưng Yên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Đinh Gia Quế đề xướng và lãnh đạo thì sau phủ Khoái Châu(2) là phủ Ân Thi. Ân Thi là phủ lớn, diện tích tự nhiên tới 123km2, tương ứng với phủ Khoái Châu. Dân số khi nổ ra cuộc khởi nghĩa năm 1883 khoản 50.000 người(3).

Ngay khi Đinh Gia Quế phát động cuộc khởi nghĩa thì ở vùng phía nam (vùng dưới) có các thủ lĩnh Nguyễn Hữu Đức ở Mễ Xá, Lãnh binh Nguyễn Đình Tiêm ở Mão Cầu; ở vùng giữa có Lãnh Chủ, Lãnh Điếc ở Xuân Trúc, ở vùng phía bắc (vùng trên) là đất của ba tổng Huệ Lai, Phù Vệ, Đỗ Xá là căn cứ địa của Đề đốc Phạm Văn Ban và hàng chục ông bà lãnh binh, đốc binh cải quản. Nghĩa quân hoạt động mạnh gây khiếp đảm cho quân Pháp và quân Nam triều.

Nhiều trận đánh lớn gây thiệt hại nặng nề cho quân Pháp và quân Nam triều diễn ra ở phủ Ân Thi. Trong quyển sách này chúng tôi chỉ giới thiệu một số hoạt động của nghĩa quân Ân Thi.

Trận đánh phủ đường Ân Thi và đồn Cao Từa, diễn ra vào đầu năm 1884. Đổng quân vụ Đinh Gia Quế giao nhiệm vụ cho Hành tả tướng quân Nguyễn Đình Tiêm điều tra các hoạt động của quân Pháp và tên tri phủ Ân Thi thân Pháp chống lại nghĩa quân ở phủ đường Ân Thi và đồn Cao Từa để tiêu diệt chúng.


Đình Xuân Quan nay thuộc xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
nơi nghĩa quân tập trung quân huấn quân sự và xuất kích đánh quân Pháp

Dịp may hiếm có là tri phủ Ân Thi sắp làm lễ thượng thọ cho mẹ, bọn lý dịch đua nhau đem gà, gạo, bạc trắng đến mừng. Lãnh Tiêm đợi đến giữa trưa trong phủ vắng vẻ mới đem đôi gà trống thiến vào mừng. Vì vào giữa trưa quan phủ còn nghỉ ngơi chưa lên công đường. Ông nằn nì với lính gác cho mình vào trước sảnh đường để chờ đợi. Nhờ đó Lãnh Tiêm quan sát rõ nơi ở, phòng làm việc của hắn cũng như sự bố ở trong phủ. Khi đều tra đồn Cao Từa, ông đóng vai người đi bắt rắn đến các gò, đống, bờ ruộng quanh đồn nên qua sát biết được vị trí bên ngoài. Ông cử Lê Công Trứ - người được phân công đánh đồn Cao Từa đem theo 3 nghĩa quân giả làm người đi đường ngang qua đồn. Khi đó đồn Cao Từa đang cần nhiều phu để đào đắp hào, đắp luỹ. Quả nhiên Lê Công Trứ và 3 nghĩa quân bị bọn lính “bắt phu ngang”.

Lọt được vào trong đồn, các nghĩa quân chia nhau đi quan sát các vị trí phòng nhà của tên chỉ huy, nhà lính, kho vũ khí, kho lương. Khi nắm vững tình hình, Lê Công Tứ và 3 nghĩa quân trà trộn và đám phu ra ngoài.


(1) Sự kiện này chúng tôi khai thác ở các thôn Đa Hoà, Phú Thị, Nhạn Tháp, Mễ Sở, các cụ truyền lại không nhớ năm tháng, chỉ biết dưới thời Đổng Quế lãnh đạo (1883-1885). Tài liệu của Pháp cũng nói đến đồn Nhạn Tháp nhưng không viết ở đó có trận đánh nào. Sau trận đánh đó, dân trong vùng kéo tới đốt đồn, nghĩa quân hoạt động mạnh nên quân Pháp không dám đóng đồn. Mãi đến năm 1905, khi Chu Mạnh Trinh về làm án sát Hưng Yên mới xây đồn bằng gạch, lợp lá mía. Đồn này bị lũ cuốn trôi trước năm 1945, nay phù sa bồi thành bãi trồng ngô.
(2) Phủ Khoái Châu kiêm nhiệm các huyện Đông Yên, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Cừ. Trong bài viết này chỉ tính riêng phần đất huyện Đông Yên, tương ứng với huyện Khoái Châu ngày nay.
(3) Thống kê của Trịnh Như Tấu trong sách Hưng Yên địa chí xuất bản năm 1934 thì phủ Ân Thi rộng 132,30km2, dân số 54.618 người; phủ Khoái Châu diện tích 130,30 km2, dân số 95.515 người.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 08:28:07 am »

Điều tra bố phòng của phủ đường Ân Thi và đồn Cao Từa xong, Lãnh Tiêm cho người về Bãi Sậy đón Đổng Quế tới thôn Mao Cầu họp bàn kế hoạch đánh phủ đường Ân Thi và đồn Cao Từa. Tham gia trận đánh lớn này có nghĩa quân do các tướng Nguyễn Hữu Đức, Lãnh Tiêm, Đề đốc Phạm Văn Ban, Lãnh Chủ, Lãnh Điếc, Lê Công Trứ.

Trong trận đánh phủ đường Ân Thi, Đốc Ngư sử dụng cây trường giết được tên chỉ huy Pháp. Ông Đoàn Việt cắm lá cờ “Nam Đạo Cần vương - bình Tây phạt tội” lên nóc phủ đường. Nghĩa quân làm chủ phủ đường đưa sổ sách công văn, chỉ thị ra đốt, phá ngục thả những người yêu nước bị giam giữ, trừng trị bọn quan lại, hào lý ức hiếp dân.

Lãnh binh Lê Công Trứ chỉ huy đánh đồn Cao Từa cũng tiêu diệt hoàn toàn đồn này, giết hết bọn lính Pháp, lính Nam từng gây tội ác với nhân dân.

Sau giặc Pháp đưa quân từ thị xã Hưng Yên, Hải Dương đến giải vây. Trước thế mạnh của giặc vả lại nghĩa quân đã đạt được mục tiêu nên Đổng Quế quyết định rút quân theo đường chùa Một Cột ở Lê Xá, Nhân La sang xã Xuân Trúc giữa cánh đồng Tam Thiên Mão, căn cứ của Lãnh Chủ - Lãnh Điếc.

Sau trận thắng lớn ở phủ đường Ân Thi và đồn Cao Từa, thanh thế của nghĩa quân Lãnh Tiêm ngày càng lừng lẫy. Ông đưa quân đi đánh đâu thắng đấy(4).

Lãnh Chủ, Lãnh Điếc chỉ huy nghĩa quân ở nhiều xã như Cù Tu, Trúc Đình, Trúc Lẻ, Trúc Nội, Xuân Nguyên, Yến Đô, Hoan Ái, Đông Mỹ, Cảnh Lâm, Du Mỹ, Cao Trai. Nghĩa quân đặt sở chỉ huy ở Trúc Đình, đóng quân ở các gò đống giữa bãi sậy, làm lán lợp sậy để ở, đào hầm hố, đắp tường bằng đất để phòng thủ. Đến nay vẫn còn dấu tích các trại quân như gò Đống Cao, Gò Nồi, thuộc xã Thuý Trúc, huyện Ân Thi, gò Đống Tanh nay thuộc xã Thường Kiệt, huyện Yên Mỹ. Gò Đống Cao nay đã khác đi nhiều, vẫn còn ruộng cấy trên một mẫu Bắc Bộ. Gò này khi khởi nghĩa Bãi Sậy thất bại, nhân dân dựng một ngôi chùa gọi là Chùa Nổi để thờ phật và các tướng lĩnh, nghĩa quân, nhân dân hi sinh. Sau sợ lộ, gọi chệch là Chùa Ổi. Chùa này bị phá vào năm 1964, nhưng đến nay gò vẫn còn, không ai dám cuốc phá.

Nghĩa quân hoạt động ở khắp nơi, kiểm soát được đường 39, đường số 5, đường đê Sông Hồng. Chính Miribel từng làm công sứ Hưng Yên đã phải cay đắng thú nhận: “Tất cả những người nông dân ở vùng Bãi Sậy đều đi theo Đinh Gia Quế chống lại quân Pháp”(2).


Đền Keo, xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội,
nơi nghĩa quân Ngô Quang Huy, Đề Dương hoạt động

Nhận xét về cuộc chiến đấu của Đinh Gia Quế, một quan chức Pháp viết trong quyển “La Province de Hưng Yên” viết xong tháng 1/1933 bàng tiếng Pháp, có đoạn như sau: “Từ năm 1883-1885 giặc cướp nổi lên khắp nơi dưới sự chỉ huy Đổng Quế. Lau sậy giúp họ có chỗ ẩn nấp, lính tráng không vào được. Từ ngoài nhìn vào không thấy, họ như đàn hổ nấp trong bụi rậm. Bất thình lỉnh nhẩy ra vồ mồi. Điều đó giải thích tại sao các cuộc cố đánh dẹp, quân giặc thắng và đại nhân Hoàng Cao Khải lại thua”(3).

Không tiêu diệt được nghĩa quân, quân Pháp khủng bố nhân dân vùng xung quanh để li tán nghĩa quân với nhân dân. Chúng đốt cháy nhiều vùng Bãi Sậy rộng lớn, nhưng vẫn không ngăn cản được nghĩa quân. Quân Pháp đóng thêm nhiều đồn bốt mới, tăng cường lính cho các đồn cũ. Ở phía nam tỉnh Hưng Yên, chúng đóng thêm đồn Cái Nênh và đồn Duyên Hà(4), đồn Ứng Lôi(5), đồn Đình Cao, đồn Cát Dương thuộc huyện Phù Cừ. Ở phía bắc chúng đóng thêm các đồn Kim Động, đồn Phó Nham (tổng Phú Khê, huyện Khoái Châu), đồn Bình Phú (tổng Khoá Nhu, huyện Yên Mỹ), đồn Lực Điền (tổng Tứ Dương, Yên Mỹ), đồn Thuỵ Lân (Huyện Yên Mỹ).

So sánh lực lượng thì các đồn binh phía nam kém hơn phía bắc vì đều là lính nam chỉ có một viên quan hoặc đội người Pháp chỉ huy, còn các đồn phái bắc phần lớn là do quân Âu - Phi chiếm đóng(6).


(1) Cụ Nguyễn Văn Sớ cháu nội cụ Lãnh Tiêm kể với tác giả tháng 9/1999 tại Mão Cầu, xã Hồ Tùng Mậu, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
(2) Miribel, Lịch sử cuộc chiếm đóng Hưng Yên, tài liệu đã dẫn.
(3) La Province de Hưng Yên.
(4) Huyện Duyên Hà trước thuộc Hưng Yên đến năm 1890 cắt về tỉnh Thái Bình.
(5) Ứng Lôi nay thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
(6) Hưng Yên địa chí của Trịnh Như Tấu. Nhà in Ngô Tử Hạ, xuất bản năm 1934.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 08:33:03 am »

Đổng Quế và các tướng lĩnh biết rõ các đồn phía nam lực lượng quân địch yếu hơn phía bắc nên ông thường xuyên đưa quân đến tấn công các đồn đó để tiêu diệt sinh lực địch và cướp vũ khí, lương thực và đã thành công nhiều lần.

Trận đánh đồn Ứng Lôi thuộc tổng Cát Dương huyện Phù Cừ trên bờ sông Luộc do tên đội De Laforge chỉ huy, tên này đã ngoan cố thúc lính chống cự đến cùng, nghĩa quân phải rút lui. Sau trận này, tên đội De Laforge được thăng thiếu úy(1).

Các đồn phía bắc như Bình Phú, Ân Thi, Lực Điền cũng đều bị nghĩa quân tân công, nhưng nghĩa quân không gây được thiệt hại cho địch(2).

Quân Pháp tấn công vào làng Mão Cầu, tổng Yên Cảnh, huyện Ân Thi là quê hương và cũng là căn cứ của Lãnh binh Nguyễn Đình Tiêm. Nghĩa quân chiến đấu quyết liệt, tiêu diệt nhiều sinh lực địch buộc chúng phải rút lui.

Tại huyện Mỹ Hào, tỉnh Hải Dương, quân Pháp đóng đồn Bần Yên Nhân có 50 lính khố xanh, do một tên quản người Pháp chỉ huy. Đồn này bảo vệ huyện đường và khống chế cả một vùng rộng lớn thuộc các tỉnh Hải Dương - Bắc Ninh - Hưng Yên, đường số 5(3).


Bàn thờ Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế
(1-11-1825 đến 21-1-1885), tại gia tộc, thôn Thọ Bình,
xã Tân Dân, huyện Khoái Châu, Hưng Yên

Trận đánh đồn Bình Phú quân Pháp có 12 lính do một tên cai người Pháp cai quản. Ta có nội công, một chỉ huy nghĩa quân tên là Bé Con đóng giả con gái, một số nghĩa quân giả làm phu đào hào, một số giả làm người đánh giậm ở xung quanh. Một số lính được đội tuyên truyền - trinh sát trinh sát đã ra mua hàng ở chợ rồi gây sự đánh nhau, lính ở trong đồn kéo ra. Nghĩa quân xô tới bắt trói ở giữa chợ. Những người đánh giậm, đi chợ xông vào đốt đồn, tên cai người Pháp chết cháy. Nghĩa quân thu súng giải thích cho tù binh rồi tha về quê làm ăn(4).

Trận trên đường 39. Quâ ta mặc áo của lính khố xanh, khố đỏ đánh nhau với quân do Hoàng Cao Khải chỉ huy. Quân ta phục kích đợi quân giặc đến gần mới nổ súng, giặc Pháp thua to bỏ chạy tán loạn. Hoàng Cao Khải bỏ cả voi chạy trốn vào một làng được tên lý dịch cõng đưa xuống thuyền vượt sông Hồng đưa về Hà Nội(5).

Trận Đồn Sài, nghĩa quân mỗi người nấp trong một bó sậy, do một nghĩa quân khỏe mạnh gánh vào khỏi cổng đồn, nghĩa quân xông ra diệt lính cướp đồn(6).

Sau khi đánh phá nhiều đồn địch ở phía nam, nghĩa quân tiến đánh các đồn phía bắc của tỉnh và đánh cả đồn Bần là một đồn lớn ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hải Dương. Trận này nghĩa quân mặc quần áo lính khố xanh, giả đưa giấy cho lính gác rồi đâm chết hắn, ập vào đồn giết 30-40 lính, thu được 20 súng bắn nhanh.

Ngoài các trận tập kích vào đồn, nghĩa quân còn tổ chức nhiều trận mai phục, phục kích có trận nghĩa quân còn đánh độn thổ. Cho đến nay những người cao tuổi ở huyện Khoái Châu còn nhớ một số trận như:

- Lãnh Điển chỉ huy trận phục kích ở Cống Kênh, nghĩa quân nấp dưới cống, bọn giặc trong đó có cả tên chỉ huy Pháp đi qua, nghĩa quân xông lên giết chết cả bọn cướp súng rồi rút lui an toàn(7).

Trong 6 tháng đầu năm 1885, nghĩa quân Bãi Sậy chiến đấu rất quyết liệt, phối hợp nhịp nhàng với nghĩa quân Nam Định do Tạ Hiện chỉ huy đã gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp. Saboron (Chabrol) viết: “Hồi tháng 6 năm 1885 cuộc khởi nghĩa dân chúng đồng bằng là đều khắp mọi nơi”(8).

Phong trào kháng chiến chống Pháp còn được phản ánh qua tờ trình của thân sĩ Bắc Kỳ gửi Tổng đốc Vân Nam - Quý Châu trong tháng 6/1885 nhằm xin viện trợ quân khí: “Hiện nay dân cư các tỉnh chúng tôi như Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, Nam Định, Hưng Yên đều hưởng ứng không chịu cung ứng binh lương phục dịch cho chúng, dân cư các phủ, huyện và ty thuộc cho chúng đều đã bỏ về”(9).


(1) A de Miribel: tài liệu đã dẫn.
(2) Trịnh Như Tấu: Hưng Yên địa chí, Sđd.
(3) Trịnh Như Tấu: Hưng Yên địa chí, Nhà in Ngô Tử Hạ, 1934.
(4) Hưng Yên địa chí của Trịnh Như Tấu - Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Minh Thành, số 122, 123 tháng 5, 6/1969.
(5) Về trận đánh này hiện nay ở Kim Động còn lưu truyền Hoàng Cao Khải thua chạy bán sống bán chết may được một cô gái tên là Bông cứu thoát. Để đền ơn, Hoàng Cao Khải đã lấy Bông làm vợ lẽ thứ tư.
(6) Chưa rõ Đồn Sài là đồn nào, hay là đồn Sài Quất ở Khoái Châu vì khi đó dân theo đạo ở đây đã chống cự kịch liệt với nghĩa quân Đổng Quế.
(7) Theo các cụ Thám, Hoán, Tứ ở xã Đông Kinh kể với nhóm sinh viên khao sử đi khai thác tư liệu năm 1967.
(8) Charbol: Les opérations du Tonkin, Trần Văn Giàu dẫn trong cuốn Chống xâm lăng, tập III, NXB Xây dựng, Hà Nội, 1957, tr.157.
(9) Trung Pháp chiến tranh, tư liệu, tập VII, Tân Hoa xã, xuất bản ở Bắc Kinh, 1955, bản dịch của Chu Thiên, bản đánh máy, Thư viện Quốc gia.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 09:07:09 pm »

CHƯƠNG III

TRẬN VẠN PHÚC - CUỘC KHỞI NGHĨA
BÃI SẬY TRƯỚC NGUY CƠ BỊ TAN RÃ

Cuối tháng 6 năm 1885, Hoàng Cao Khải đem quân càn quét căn cứ Bãi Sậy, Đinh Gia Quế chỉ huy nghĩa quân đánh bại trận càn quét này. Hoàng Cao Khải vội vàng rút quân qua sông Hồng chạy tháo thân sang huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông. Thừa thắng, Đổng Quế giao cho Chánh Tính giữ Bãi Sậy còn mình cùng Lãnh binh Nguyễn Đình Mai (Lãnh Sậy) vượt sông Hồng đuổi theo Hoàng Cao Khai. Các ông đuổi hắn đến tận làng Thanh Trì, huyện Thanh Trì(1). Nghĩa quân sắp bắt được hắn thì hắn được một người đàn bà đem giấu trong đống cở ở chuồng bò. Không bắt được tên đại Việt gian, nghĩa quân đuổi theo giết chết gần hết số lính của hắn rồi rút quân về. Song Đổng Quế chủ quan không biết rằng khi ông dẫn quân đuổi theo Hoàng Cao Khải thì bọn chỉ huy quân Pháp ở huyện Thường Tín điều động lính cơ ở hai huyện Thường Tín và Thanh Trì mai phục ở bến đồ Vạn Phúc để tiêu diệt khi ông dẫn quân trở về. Đổng Quế và Lãnh Sậy dẫn đội quân mệt mỏi sau chặng đường hành quân dài về tới. Bỗng súng nổ ran, nhiều chiến sĩ ngã xuống khi súng còn khoác trên vai, những chiến sĩ còn lại bắn trả một cách yếu ớt rồi tan vỡ. Đổng Quế đi ở phía sau được một số nghĩa quân hộ tống nên chạy thoát. Ông bị quân Pháp truy kích phải chạy lên tận bến đò Hồ, nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng nửa tháng sau ông trở về Bãi Sậy, cùng một bé trai 4, 5 tuổi đóng vai hai ông cháu để trở về(2). Năm đó Đổng Quế đã 60 tuổi, bị ốm nặng, không chỉ huy được, giao binh quyền cho chánh Đề đốc Nguyễn Đình Tính rồi tới dưỡng bệnh ở ấp Dương Trạch cũng nằm trong căn cứ Bãi Sậy. Ông mất khoảng cối tháng 12/1885, con cháu và nghĩa quân chờ đến đêm mới an táng. Con cháu cúng giỗ vào ngày 21 tháng 11 năm Ất Dậu. Khoảng năm 1915-1920 con cháu mới đưa về an táng ở trong xã nhưng không cắm bia. Khoảng năm 1975, mới xây mộ, lập bia(3).

Lãnh binh Nguyễn Đình Mai chạy thoát khỏi bến đò Vạn Phúc. Sau trận đánh tan cánh quân do Đổng Quế và Lãnh Sậy chỉ huy ở bến đò Vạn Phúc, Quân Pháp và quân Nam triều do Hoàng Cao Khải chỉ huy bao vây, uy hiếp căn cứ Bãi Sậy. Lãnh Sậy không trở về được. Ông cải trang làm nhà sư để đi tìm Đổng Quế và số nghĩa quân bị thất bại. Một hôm, ông giả làm hành khất, mặc quần áo rách, đội nón mê, vai khoác bị, tây cầm gậy trở về Hoàng Vân gặp bà Thuận và nghĩa quân ở đó. Nhưng đi khỏi Quán Cà đang trên đường về làng, ông phát hiện thấy bọn lính đang vây làng, nên phải quay trở lại. Ông cải trang làm nhà sư về chùa Lộ thì bị mật thám nhận diện chỉ điểm cho quân Pháp bắt. Chúng tra tấn ông để buộc ông khai nơi trú ẩn của Đổng Quế và các tước lĩnh khác. Song Lãnh Sậy kiên cường bất khuất không khai báo một lời nào. Giặc Pháp đưa ông ra gốc gạo trước cửa đền Lộ chặt đầu ướp muối đưa về Hưng Yên bêu, còn xác vứt xuống sông Hồng, đã được nhân dân làng Lộ vốn rất có cảm tình với ông vớt lên chôn chất, lập miếu thờ ở gốc gạo nơi quân Pháp hành hình ông(4). Con cháu cúng giỗ ông vào ngày 17/7 âm lịch là ngày ông bị chúng giết hại.

Sau khi Đinh Gia quế và Lãnh Sậy hi sinh, quân Pháp và quân Nam Triều do Hoàng Cao Khải chỉ huy ráo riết đánh phá căn cứ Bãi Sậy hòng tiêu diệt hoàn toàn cuộc khởi nghĩa Chúng không ngờ sau khi thất bại ở bến đò Vạn Phúc, nghĩa quân Bãi Sậy do chánh Lãnh binh Nguyễn Đinh Tính và các tướng như Lãnh Điển, Đốc Cợp, Đề Ban, Lãnh Tiên, Đốc Thàng, Đề Tập, Lãnh Khuy, bà Đốc Huệ chỉ huy vẫn kiên cường chiến đấu, đánh bật các đợt tấn công do tên thiếu tướng Négrier, Hoàng Cao Khải chỉ huy, nhưng chỉ giữ được căn cứ chính Bãi Sậy.


Lăng mộ Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế

Không đánh bại được lực lượng vũ trang, quân Pháp khủng bố nhân dân. Làng Đa Hoà, quê hương của vợ chồng ông Lãnh Túc, Lãnh binh Nguyễn Thị Biên bị quân Pháp phá. Dân làng giúp bà Bùi Thị Lệnh (vợ hai ông Quyền Túc) đưa hai con trai tên là Vốn và Giá đi trốn(5).

 A De miribel nguyên công sứ Hưng Yên cũng viết: “Thủy tai làm cho dân gian bị khốc hại, hết đường sinh kế. Muốn sang các tỉnh lân bang tìm việc làm, nhưng đương thời kì loạn lạc, khó kiếm ăn. Trong khi cùng quẫn, họ được người giúp đỡ thì theo ngay. Họ họp đảng với một người kỳ hào ở xã Thọ Bình tên là Đổng Quế. Đổng Quế lẫy danh nghĩa là kháng chiến chống ngoại xâm và những người theo ông ta lập thành nhiều toán đi kiểm soát và cướp bóc các xã lân cận. Khi quan quân đến, Đổng Quế cùng các đảng viên lại trốn vào Bãi Sậy là nơi Pháp không biết lối vào”.

Các viên đồn không am hiểu đường lối và các xã thì sợ thù hằn không ai dám chỉ dẫn, nên quân giặc càng ngày càng đông mà binh Pháp không sao dẹp được.

Binh gia bèn cho một toán hùng binh từ Hải Dương lên đánh quân nghịch, có quan đại tá Donnier đốc xuất. Cuộc chiến sự ấy cũng vô hiệu. Dân sự càng thêm khổ sở nên nhiều trộm cướp nổi lên.

Sau quan binh Pháp giao cho Hoàng Cao Khải thời ấy Án sát Hưng Yên cầm quân đi đánh Đổng Quế.

Quan Hoàng Cao Khải đem theo gia nhân và có lính Tây hộ vệ vào Bãi Sậy dẹp giặc. Sậy mọc cao hơn 3 thước tây, quan lại phải lần đường cứ quanh quẩn trên các hầm của Đổng Quế. Xung quanh lửa cháy mà cũng không trông thấy quân nghịch, quan quân phải vừa đánh vừa lui về Khoái Châu
(6).


(1) Nay là làng Thanh Trì gần cảng Phà Đen, Hà Nội. Chúng tôi hỏi các cố lão được trả lời là có nghe các cụ nói Hoàng Cao Khải thua trận chạy vào làng, được một người đàn bà cứu thoát, còn ngôi miếu thờ Đổng Quế từ khi Đổng Quế chết đã bị phá từ lâu, đến nay không ai nhớ rõ.
(2) Cách đây vài năm, cháu 4 đời cảu con nuôi Đổng Quế đã tìm được quê quán.
(3) Tư liệu trên là do anh Nguyễn Văn Ứng cháu 5 đời cụ Đinh Gia Quế cung cấp theo gia phả với tác giả.
(4) Các ông Nguyễn Đình Dực, cháu bốn đơi, Nguyễn Đình Đối, cháu 5 đời cụ Nguyễn Đình Mai ở thôn Hồng Vân, xã Hồng tiến và thôn Thọ Bình, xã Tân Dân, huyện Khoái Châu cung cấp.
Trong bản “Dạnh sách nghĩa quân Bãi Sậy bị chặt đầu” của Phủ thống sứ Bắc Kỳ hiện lưu ở trung tâm lưu trữ quốc gia I, Hà Nội cũng ghi: “Sậy, Lãnh binh sinh ở Thọ Bình, tổng Bình Dân bị chặt đầu ở Hà Nội” là phù hợp với “Quốc triều chính biên toát yếu” và gia phả họ Nguyễn Xuân.
(5) Cụ Long cháu 3 đời, ông Bốn, cháu bốn đời cụ Túc cung cấp và các ông Hoằng, thường vụ Đảng ủy xã Bình Minh, ông Đức trung tá QĐND Việt Nam, người thôn Đa Hoà nay ở tổ viết sử xã Bình Minh kể cho tác giả năm 2002.
(6) La Provine de Hưng Yên, viết xong tháng 1/1933 bằng tiếng Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 09:09:17 pm »

Giai đoạn thứ hai

NGUYỄN THIỆN THUẬT VỀ NƯỚC
LÃNH ĐẠO CUỘC KHỞI NGHĨA BÃI SẬY
(7/1885-10/1890)

CHƯƠNG I

DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG QUY MÔ CUỘC KHỞI NGHĨA
(8/1885-12/1885)

Ngày 19/7/1883, Tự Đức băng hà khi cuộc tranh chấp giữa hai phe chủ chiến và chủ hòa trở lên quyết liệt, song phe chủ chiến vẫn yếu thế vì quân Pháp đánh chiếm được hầu hết các vị trí quan trong ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, ổn định được bộ máy cai trị ở lục tỉnh Nam Kỳ và bỉnh Bình Thuận. Triều đình Huế bị tòa khâm sứ Pháp kiểm soát rất nghiêm ngặt. Trong các đại thần không ít kẻ công khai hoặc ngấm ngầm theo Pháp.

Tranh chấp gay gắt, cao độ và quyết liệt nhất là ngôi vua. Tự Đức mất ngày 19/7 (14 tháng 6 năm Tự Đức thứ 36) vì Tự Đức không có con nên lấy con của Thoại Thái vương là Ưng Chân và hai con của Kiền Thái vương là Ưng Đường và Ưng Đăng làm con nuôi để sau này có người kế vị. Tự Đức chết hôm trước thì hôm sau các đại thần tôn Ưng Chân lên ngôi vua, hiệu là Dục Đức. Nhưng hôm sau các phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế bỏ với ba tội: muốn sửa di chiếu; có đại tang mà mặc quần áo màu; hư hỏng, ăn chơi. Ưng Chân bị tống giam trong ngục, bị chết đói ngày 24/10/1844. Ngày 30/7/1833, các đại thần đưa Hồng Dật lên nối ngôi niên hiệu là Hiệp Hoà. Hiệp Hòa nhu nhược lại là người chủ trì kí Hiệp ước Harmand (ngày 25/8/1883) với Pháp sau khi Pháp chiếm Thuận An. Hiệp Hoà muốn dựa vào Pháp, giao cho Trần Tiễn Thành giết Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Tờ chiếu đó lọt vào tay Tôn Thất Thuyết. Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường ép Hồng Dật uống thuốc độc chết vào ngày 19/11/1883, Trần Tiễn Thành cũng bị ám hại. Các đại thần đưa Ưng Đăng, con nuôi Tự Đức lên ngôi vua ngày 2/12/1883, đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Kiến Phúc lại kí hiệp ước ngày 6/6/1884 với Pháp. Ngày 31/7/1884, Kiến Phúc chết một cách đáng ngờ.

Từ đó trong dân gian lưu truyền đôi câu đối:

“Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết
Tứ nguyệt tam vương triệu bất thường”


Nghĩa là:
“Một sông hai nước lời khôn nói
Bốn tháng ba vua điềm chẳng lành”


Phe chủ chiến đưa Ưng Lịch là người có tư tưởng bài Pháp lên ngôi vua vào ngày 2/8/1884 đặt niên hiệu là Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi tuy mới 13 tuổi nhưng là người quyết đoán, nhiều việc vua tự quyền quyết định không qua ý kiến của tòa khâm sứ Pháp. Vua Hàm Nghi làm vua được một năm thì phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu chủ trương đánh úp đồn Mang Cá, Tòa khâm sứ Pháp và khu nhượng địa của Pháp. Trận đánh không thành, Tôn Thất Thuyết rước vau Hàm Nghi ra Quảng Trị.

Đến Quảng Trị đoàn ngự đạo chia làm hai, một đoàn theo thái hậu Từ Dũ về Huế, mọt đoàn theo nhà vua lên Tân Sở. Sau ba ngày ở Tân Sở, nhà vua ngỏ ý với Tôn Thất Thuyết đưa người về Huế nhưng Tôn Thất Thuyết tỏ ý quyết chiến đánh Pháp. Hai ngày sau Tôn Thất Thuyết đệ vua tờ chiếu kể tội giặc Pháp, kêu gọi nhân dân nổi dậy chống Pháp. Nhà vua đọc lại 2 lần rồi mới phê chuẩn và nói thêm:

- Bây giờ trẫm mới hiểu vì sao khanh không muốn trẫm về Huế khi còn giặc Pháp chiếm đóng.

Tôn Thất Thuyết hỏi:

- Vậy nếu công cuộc kháng chiến đòi hỏi phải đi vào sống trong rừng sâu, núi thẳm, Ngài có đi không?

Vua Hàm Nghi trả lời với giọng kiên quyết:

- Đi đâu cũng được, sống thế nào cũng được miễn là đuổi hết giặc Pháp ra khỏi đất nước.

Vua Hàm Nghi ký chiếu, sau này gọi là chiếu Cần vương ngày 13/7/1885 lập tức được ban bố khắp các tỉnh Trung và Bắc kỳ, đã được đông đảo các sĩ phu và nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở khắp các tỉnh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 09:13:25 pm »


Cây đề Xuân Nhân, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào
tỉnh Hưng Yên - Vọng Gác đồn tiền tiêu của nghĩa quân Bãi Sậy
ở căn cứ Xuân Nhân

Sau khi ban hành chiếu Cần vương, Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi rời Tân Sở, ngược Mai Lĩnh qua Lào, rồi về Sơn Phòng, Quảng Trị là nơi Tôn Thất Thuyết đã chuẩn bị từ trước. Cuộc hành quân vô cùng gian khổ lại bị quân Pháp, quan lại tay sai cho thực dân Pháp truy kích, chặn đánh nhiều lần, vì vậy khi đến nơi chỉ còn 200 người với một cái kiệu, 6 cái võng và một con ngựa, 3 con voi và 50 gánh hành lí.

Tuy vậy, vua Hàm Nghi vẫn giữ vững ý chí bước vào cuộc chiến đấu đầy gian khổ và hy sinh.

Cuối tháng 7/1885, Nguyễn Thiện Thuật đang ở Long Châu (Trung Quốc)(1) được Đề Vinh sang báo tin vua Hàm Nghi đã ra Sơn Phòng, Quảng Trị hạ chiếu Cần vương, ông lập tức về nước. Đề Vinh đưa ông vượt qua biên giới Việt - Trung, khi đó thiếu tướng Négrier đánh thành Lạng Sơn bị trọng thương, quân Pháp rút cả về tỉnh lỵ nên ông Thuật về nước được dễ dàng. Đề Vinh đưa Nguyễn Thiện Thuật đến căn cứ Tiên Động(2)

gặp Nguyễn Quang Bích mới được vua sai sứ ra Hưng Hóa phong làm Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, Thuần trung tướng quân, Lễ bộ thượng thư đại diện nhà vua chủ trương phong trào chống Pháp ở Bắc Kỳ, cho phép quan văn từ tham tán, quan võ từ đề đốc trở xuống được tuy tài bổ dụng.

Nguyễn Quang Bích rất xúc động gặp lại người bạn thân thiết đã cùng ông chiến đấu ngay từ từ khi quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai. Ông trịnh trọng trao cho Nguyễn Thiện Thuật bản “chiếu Cần vương” của vua Hàm Nghi. Nguyễn Thiện Thuật kính cẩn đó nhận rồi quay mặt về hướng Nam - nơi nhà vua đang lãnh đạo cuộc kháng chiến lạy ba lạy.

Nguyễn Thiện Thuật đọc một mạch hết tờ “chiếu Cần vương” rồi nói với Lễ bộ thượng thư Nguyễn Quang Bích:

- Xưa vua Tự Đức chủ hòa với giặc, tôi kháng lệnh, nhưng nay Đức vua Hàm Nghi tuy tuổi còn trẻ nhưng đã tỏ rõ khí phác anh hùng, dời kinh đi lên Sơn Phòng lãnh đạo nhân dân kháng chiến, tôi nguyện làm người lính tiên phong chiến đấu đến cùng…

Nguyễn Quang Bích báo cho Nguyễn Thiện Thuật biết tin sau trận bị quân Pháp phục kích ở bến đó Vạn Phúc. Lực lượng nghĩa quân do Lãnh Sậy chỉ huy đã tổn thất nặng nề. Đổng Quế bị ốm không chỉ huy chiến đâu được. Căn cứ Bãi Sậy bị quân Pháp uy hiếp nghiêm trọng, nên phái Nguyễn Thiện Thuật về trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, đồng thời cũng giao cho ông thống nhất các lực lượng kháng chiến ở châu thổ sông Hồng và vùng ven biển Bắc Kỳ dưới ngọn cờ Cần vương.


Bắc Kỳ hiệp thống quân vụ
đại thần Nguyễn Thiện Thuật

Nguyễn Thiện Thuật đã nhận sự ủy thác đó. Ngay sau đó theo lời tấu của Nguyễn Quang Bích, vua Hàm Nghi đã phong cho Nguyễn Thiện Thuật chức “Bắc Kỳ Hiệp thống Quân vụ đại thần”.


(1) Long Châu thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc cách Lạng Sơn 50 km.
(2) Tân Động là một vùng núi non hiểm trở, giáp với 3 huyện Cẩm Khê, Hạ Hoà, Yên Lập. Có ngòi Giành thông qua sông Hồng. Theo ngòi Giành có thể sang Thanh Ba xuôi Cẩm Khê, ngược Hạ Hoà; có đường bộ qua Yên Lập sang Nghĩa Lộ.
Từ trước đến nay các sách của Pháp cũng như sách của ta đều viết ông Thuật về căn cứ Quế Sơn ở Cẩm Khê gặp Nguyễn Quang Bích. Nhưng từ cuối năm 1884 đến tháng 11/1886 Nguyễn Quang Bích vẫn ở căn cứ Tiên Động. Đến tháng 10/1887 ông mới chuyển về Quế Sơn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2011, 09:20:03 pm »

Trung tuần tháng 8/1885, Đề Vinh đưa Nguyễn Thiện Thuật về căn cứ của Hai Kế ở vùng giáp ranh Bắc Ninh - Hưng Yên, Hải Dương. Ông đã nhận được thông tin chính xác về các hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy nên đã biết rõ sau trận bị quân Pháp phục kích ở bến đò Vạn Phúc (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Lãnh Sậy bị giặc bắt, chặt đầu ở gốc gạo chùa Lộ, nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Đinh Gia Quế phải chạy lên vùng bến đò Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, hơn một tháng sau mới trở về. Ông bị ốm nặng, phải nằm dưỡng bệnh ở ấp Dương Trạch cũng ở căn cứ Bãi Sậy và giao quyền tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang cho Chánh đề đốc Nguyễn Đình Tính(1). Chánh Tính là một tướng tài giỏi, có uy tín, song cố gắng lắm ông cũng chỉ bảo vệ được các mục tiêu chính trong căn cứ. Nếu không kịp thời ổ sung lực lượng thì khó bảo tồn được trước lực lượng đông đảo vũ khí hiện đại của quân Pháp và quân triều đình do Hoàng Cao Khải chỉ huy.


Đình Mậu Duyệt nay thuộc xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Giang, tỉnh
Hải Dương - nơi Nguyễn Thiện Kế sử dụng làm căn cứ từ những năm 1886-1892

Trước tình hình cấp bách đó, Nguyễn Thiện Thuật đã mời cử nhân Ngô Quang Huy, người xã An Lạc, tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh(2), năm 1883-1884 đã cùng ông chống Pháp ở Chí Linh, Đông Triều; cử nhân Nguyễn Hữu Đức người xã Mễ Xá, tổng Nhân Vũ, huyện Ân Thi, thông gia với ông(3) tham gia cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy từ đầu, được phong là Tán tương quân vụ để bàn việc phục hồi cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và thống nhất các lực lượng khởi nghĩa ở châu thổ sông Hồng. Ba vị cử nhân cũng là ba vị tướng đã duy trì lực lượng quân sự hiện có ở căn cứ Bãi Sậy và ở các làng xã thuộc các huyện Kim Động, Ân Thi, Tiên Lữ, Phù Cừ của Hưng Yên, miền tây Mỹ Hào của Hải Dương(4) sau đó phát triển lực lượng sang các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương.

Nguyễn Thiện Thuật nhất trí với ý kiến của hai ông và giao cho Nguyễn Hữu Đức về Bãi Sậy gặp Đổng Quế, Chánh Tính và một số tướng lĩnh ở các phủ của huyện giao cho Ngô Quang Huy liên lạc với các tướng của “Tam tỉnh nghĩa quân” và phát động phong trào kháng chiến nam Bắc Ninh; giao cho Nguyễn Thiện Kế liên lạc với Cử Bình, Lãnh Tư ở huyện An Lão phủ Kiến An, giao cho Nguyễn Thiện Dương đi gặp Ba Báo, con trai của Đề đốc Tạ Hiện đang hoat động ở lưu vực sông Thái Bình, sông Kinh Thày; phái Đốc binh Đặng Văn Hách người theo ông từ năm 1883, khi ông sang Long Châu thì Đốc Hách ở lại duy trì phong trào chống Pháp ở huyện Mỹ Hào đem thư của ông đến núi Bảo Đài ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh giao thư của ông cho Lưu Kỳ. Trong thư ông dặn Lưu Kỳ giữ vững các căn cứ ở vùng Đông Bắc và bổ sung lực lượng cho đường dây mua và vận chuyển vũ khí từ miền nam Trung Quốc về cung cấp cho nghĩa quân; phái Đề Vinh - người đã cùng Đốc Tít đánh bọn Tiên Viên, Tạ Văn Phụng giáo dân Thiên chúa giáo cướp phá các tỉnh ven biển và châu thổ sông hồng cùng đánh thành Hải Dương ngày 12/11/1883, đánh trận cầu Quan Âm (Lạng Sơn) ngày 26/10/1884, chặn đánh quân Pháp ở thành Lạng Sơn ngày 23/3/1885 đến căn cứ Trại Sơn ở Thuỷ Đường báo tin cho Đốc Tít.


(1) Các tài liệu như “La province du Tonkin: Hưng Yên” - Quốc triều chính biên toát yếu, quyển VI, Quốc sử quán triều Nguyễn đều viết Đổng Quế ốm và chết vào năm 1885, không ghi ngày tháng. Minh Thành viết trong “Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy” cũng như vậy.
Chúng tôi nghiên cứu các tư liệu, đọc gia phả dòng họ Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Gia Quế dưỡng bệnh ở Dương Trạch mất ngày 21/11 âm lịch (tức cuối tháng 12/1885) tháng 7, Nguyễn Thiện Thuật về nước tháng 9 tế cờ ở Bình Dân chắc chắn 2 người bạn chiến đấu có gặp nhau.
(2) Nay An Lạc thuộc xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
(3) Nguyễn Hữu Đức có con trai là Nguyễn Hữu Hạnh lấy con gái Nguyễn Thiện Thuật là Nguyễn Thị Trúc.
(4) Miền Tây Mỹ Hào nay là huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 07:45:50 am »

Ngay sau khi các tướng đi thực hiện nhiệm vụ thì Vương Văn Duệ đi hộ tống Nguyễn Thện Thuật trở về xã Xuân Dục, tổng Bạch Sam, huyện Mỹ Hào(1), tỉnh Hải Dương là quê hương ông để phát động cuộc khởi nghĩa trong toàn huyện.

Vương Văn Duệ là người Nghệ An đỗ khóa sinh, giỏi thơ văn, kinh sử nhưng rất giỏi võ là bộ tướng của Nguyễn Xuân Ôn. Khi thủ lĩnh họ Nguyễn bị thực dân Pháp bắt, ông bị quân Pháp và triều đình Huế truy nã, chạy ra Bắc làm con nuôi cụ Tán. Tới Xuân Dục ông lấy vợ tên là Nhàn, ông đã theo Tán Thuật chinh chiến ở Bắc Ninh, Hưng Hóa, Phủ Lạng Thương, Lạng Sơn. Tháng 3/1885, Nguyễn Thiện Thuật tạm lánh sang Long Châu (Trung Quốc), ông trở về Xuân Dục làm nghề thợ mộc, không ai biết rằng ông từng là một dũng tướng từng gây nỗi khủng khiếp cho quân Pháp và quân Nam triều mà chỉ gọi ông là Đĩ Nhàn hay Phó Nhàn. Khi Nguyễn Thiện Thuật từ Long Châu trở về nước đã phong cho ông là lãnh binh. Tuy được phong chức lãnh binh nhưng ông làm việc văn thư, chuyên soạn thảo thư từ giao dịch, viết lời kêu gọi, thơ văn cho thủ lĩnh. Ông cũng thay mặt cụ Tán tiếp kiến các tướng khi các tướng đề đạt kiến nghị của họ lên cụ Tán hay truyền đạt mệnh lệnh cụ Tán đến các tướng.

Nguyễn Thiện Thuật đã phái Lãnh Duệ đến các xã trong huyện Mỹ Hào và Ân Thi của Hưng Yên, Thuận Thành của Bắc Ninh giúp các tướng tổ chức quân đội, xây dựng công sự bố phòng và huấn luyện quân sự cho các nghĩa quân.

Phạm Văn Thụ là người làng Bạch Sam, tổng Bạch Sam, thượng thư Bộ Hộ kiêm thượng thư Bộ Binh triều Khải Định viết về Nguyễn Thiện Thuật và các tướng lĩnh của ông trong đó có đoạn viết về Lãnh Duệ; “Ông Nguyễn Khắc Nham phó nhậm huyện Mỹ Hào, tuổi trẻ, chí kiêu. Bẩm tỉnh xin truy thu hết thuế thượng niên, bắt đầu về đình Xuân Đào tra sách dân tình khủng khiếp. Các tướng nghĩa quân là Đốc Duệ, Đề Vang, Lãnh Ngạnh trú ở thôn ta, ban đêm nổi lên thiêu sát. Huyện bẩm xin đại đồn về đóng ở chọ Dị Sử, đợi đốc thuế xong, huyện thân dẫn quân đi càn. Hôm sau ba tướng nghĩa quân giả làm khán thủ đem phu lên huyện giữa ban ngày, dùng đoản đao xông vào giết huyện Nham, rồi mỗi tướng dật một cái cuộc chạy lẫn vào phu. Quân đồn được tin kinh hoàng ra đến nơi thì các tướng đã chạy xa rồi. Hôm sau nghĩa quan dán yết thị ở các nơi hạch tội viên tri huyện, hư trương thanh thế, đại quân đóng ở Chợ Bạc(2), ước nhật giao tranh. Quan quân càn nã thậm ư tao nhiễu”(3).

Theo tài liệu của thực dân Pháp thì hoạt động của Lãnh Duệ tức Lãnh Nhàn còn rộng lớn hơn nữa. Dulleman viết trong cuốn “Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến chống cướp bóc” như sau: “Lãnh Nhàn hoạt động ở Tứ Kỳ, Thanh Hà, Yên Lãng”.

Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, Nguyễn Hữu Đức đã về làng Dương Trạch gặp Đổng quân vụ Đinh Gia Quế và Chánh lãnh binh Nguyễn Đình Tính. Nguyễn Hữu Đức báo cáo với hai ông, Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật được vua Hàm Nghi phong chức “Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ Đại thần” biao cho trọng trách phát động phong trào Cần vương ở các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ đã trở về, nay mai sẽ đến Bãi Sậy bàn việc với các thủ lính. Đinh Gia Quế lúc này đã 60 tuổi, sức yếu, bệnh tình ngày càng trầm trọng gắng gượng lắm mới căn dặn được các tướng hãy nghiêm chỉnh thực hiện mệnh lệnh của Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật.

Sau đó Chánh Tính và Cử Đức đã tới truyền đạt Di chúc của Đổng quân vụ cho một số tướng lĩnh như lãnh binh Dương Văn Điển, xã Phù Sa, lãnh binh Nguyễn Túc, lãnh binh Nguyễn Thị Biên xã Đa Hoà, lãnh binh Bùi Quang Cơ, xã Tiểu Quan (huyện Đông Yên); Tuần Vân, Lãnh binh xã Xuân Quan (Văn Giang); lãnh binh Nguyễn Văn Sung xã Dịch Trì, lãnh binh Phạm Văn Điệp xã Phạm Xá, lãnh binh Lưu Ngọc Tháu xã Liêu Trung (Yên Mỹ), lãnh binh Phạm Văn Ban xã Bối Khê (Ân Thi). Các ông cùng với các xã Tam Nông, Xuân Điềm, Hậu Xá (Tiên Lữ)(4) gặp các lãnh binh Nguyễn Văn Sở, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Tồn, Nguyễn Văn Đầm cùng các hiệp quản, suất đội truyền đạt nội dung chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi và việc thủ lĩnh Nguyễn Thiện Thuật về thay thế Đổng Quế bị ốm nặng. Hai ông yêu cầu các thủ lính nghĩa quân ở Tam Nông, Xuân Điểm, Hậu Xá mở rộng địa bàn hoạt động ra toàn huyện Tiên Lữ chờ thủ lĩnh Nguyễn Thiện Thuật về phát động cuộc chiến đấu mới.

Rời Tiên Lữ, hai vị phái viên của Nguyễn Thiện Thuật và Đinh Gia Quế tới làng Trà Bồng (Làng Chè, tổng Ba Đông, huyện Phù Cừ) gặp Phó Hữu Dực, Nguyễn Công Khuyến - một dũng tướng ở miền nam Hưng Yên đã nhiền lần tấn công đồn Ứng Lôi (Phù Cừ), phối hợp với các lực lượng nghĩa quân khác tấn công các đồn Thuỵ Lôi (Tiên Lữ), phủ thành Ân Thi, cắm lá cờ đỏ lên nóc phủ đường, các trận Bói, vệ ở Ninh Giang, Hải Dương.

Chánh Tính cùng Cử Đức từ Phù Cừ vượt sông Luộc sang làng Phan Bổng, huyện Hưng Nhân gặp Nguyễn Sung là con trai thứ hai của Chánh quản Nguyễn Thành Thà(5) đang chỉ huy căn cứ Đống Lau ở ngay làng Phan Bồng quê ông ngăn chặn con đường huyết mạch từ tỉnh Hưng Yên sang phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định. Căn cứ Đống Lau còn bảo vệ căn cứ Bãi Sậy từ xa. Tại đây hai phái viên gặp Chánh quản Nguyễn Thành Thà đã già yếu, khi ông nhận được tin Nguyễn Thiện Thuật được vua Hàm Nghi phong là Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần, chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào Cần vương ở đồng bằng sông Hồng và trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thì rất tin tưởng liền cho con trai thứ ba là Nguyễn Giới, con trai thứ tư là Nguyễn Mịch sang chiến đấu ở căn cứ Bãi Sậy.


(1) Huyện Mỹ Hà khi đó bao gồm huyện Mỹ Hào, các xã phía bắc huyện Yên Mỹ, phía bắc huyện Ân Thi, phía nam huyện Gia Lâm.
(2) Chợ Bạch còn gọi là phố Bạc tức phố Bạch Sam, xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào ngày nay.
(3) Học Phi: một vị thượng thư triều đình Huế nói về nghĩa quân Bãi Sậy. Tạp chí Phố hiến số 5/1998.
(4) Nay là đơn vị thôn thuộc xã Tam Nông, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
(5) Nguyễn Thành Thà cho con trai lớn là Nguyễn Khả Lương, con trai thứ hai là Nguyễn Sung sang chiến đấu ở căn cứ Bãi Sậy từ tháng 4 năm 1883, nay lại cho con thứ ba, thứ tư là Nguyễn Giới và Nguyễn Mịch và cháu nội là Nguyễn Nhưng sang chiến đấu ở Bãi Sậy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 07:49:49 am »

Từ căn cứ Đồng Lau, hai ông đã tới làng Hương Thôn, tên Nôm là làng Tè(1) gặp Đề Dần, trước khi tham gia chống Pháp đã được triều đình phong chức Tây đạo Đô đốc, vì có công đánh giặc Tàu Ô. Đề Dần cùng cháu gọi bằng cậu là Đốc Chính là những người đầu tiên đến căn cứ Bãi Sậy. Hai cậu cháu ông đã nhiều lần trực tiếp chỉ huy nghĩa quân tấn công các đồn Cái Nênh ở huyện Duyên Hà, đồn Ứng Lôi trên bờ sông Luộc ở Phù Cừ. Hai câu cháu còn xây dựng nhiều cơ sở tình báo, thông tin, liên lạc ở hai bờ tả, hữu ngạn ông Luộc, đảm bảo an toàn cho nghĩa quân qua lại sông Luộc.

Đề Dần đã từng phối hợp chiến đấu với Nguyễn Thiện Thuật từ cuối năm 1883, 1884, nên rất hoanh nghênh việc ông trở về lãnh đạo phong trào Cần vương ở châu thổ sông Hồng. Ông hứa sẽ phát triển lực lượng quân sự ở hai bên tả, hữu ngạn sông Luộc để đón thời cơ mới.

Nhận nhiệm vụ của thủ lĩnh, Ngô Quang Huy đến gặp ngay các chiến hữu trong “Tam tỉnh nghĩa quân”(2) do ông và Nguyễn Cao, Hoàng Văn Hoè, Nguyễn Thiện Thuật tổ chức. Người đầu tiên ông gặp là Đội Văn tức Vương Văng Vang ở thôn Thuận An, xã Chạm Lộ, tổng Tam Á, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh(3). Đội Văn cùng với Tuần Xô ở làng Gia Đông, tổng Tam Á là hai người có mặt đầu tiên trong đội ngũ Tam tỉnh nghĩa quân. Khi mới thành lập nghĩa quân chưa có súng, Đội Văn đã cùng với một số trai tráng lội xuống sông ngụy trang bằng bèo tây, đến trạm gác Cống Vực, nhảy lên tấn công bọn lính cướp súng. Đội Văn cùng một số nghĩa quân gánh rơm đi nghênh ngang trên đường gặp lính đi tuần liền rút đòn càn, đoản đao đâm chết chúng rồi cướp súng(4). Ông còn chỉ huy nghĩa quân tấn công kho vũ khí thực dân Pháp ở bến đò Hồ cướp được trên 100 khẩu súng bắn nhanh trang bị cho nghĩa quân. Đội Văn giữ mũi chủ công khi Tam tỉnh nghĩa quân đánh trận ở làng Ngọc Trĩ, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh giành thắng lợi vang dội.

Khi Tam tỉnh nghĩa quân tan rã, Tuần Xô hy sinh, Đội Văn vẫn duy trì hơn 200 quân tập kích các đồn binh Pháp ở Gia Bình, Siêu Loại, Thuận Thành.

Sau khi Ngô Quang Huy báo tin vua Hàm Nghi cử Nguyễn Thiện Thuật về lãnh đạo phong trào Cần vương ở đồng bằng Sông Hồng trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Độ Văn hăng hái nhận lời gia nhập cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.


(1) Nay là xã Phúc Khánh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
(2) Nghĩa quân ba tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên.
(3) Về nhận vật Đội Văn, nhiều sử sách, truyền thuyết có sự nhầm lẫn đáng tiếc giữa ba nhân vật: Đội Văn, Tuần Văn, Tuần Xô.
- Đội Văn còn có tên là Vương Văn Vang, Tuần Vang, Đề Vang, Đề đốc Vương Văn Vang, Đề đốc họ Vương. Quê ở thôn Thuận An, xã Chạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Tuần Văn còn gọi là Tuần Vân, họ Đàm, quê ở thôn Xuân Quan, xã Xuân Quan huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh.
- Tuần Xô quê ở thôn Gia Đông, tổng Tam Á, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Riêng về Đội Văn chũng tôi xin dẫn chứng về một số nhầm lẫn của một số tác giả như sau:
- Con cháu và dòng họ Đội Văn ở thôn Thuận An xã Chạm Lộ cũng không biết Đội Văn là ai, cho rằng Độ Văn quê ở tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang cùng quê với Ngô Quang Huy. Thái Lạc nay thuộc xã Trưng Trắc, Văn Lâm, Hưng Yên.
- Nhiều tài liệu của thực dân Pháp không biết Đội Văn họ gì, quê ở làng xã nào chỉ biết Đội Văn quê ở Bắc Ninh.
- Sách “Khởi nghĩa Yên Thế của Nguyễn Xuân Cần, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Bắc Giang, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam”… trong phần tiểu dẫn: “Cuộc khởi nghĩa Gia Bình - Tuần Xô, Đề Vang lãnh đạo” viết xã Gia Đông tổng Tam Á, huyện Gia Bình là quê hương Tuần Xô, xã Chạm Lộ, tổng Tam Á, huyện Gia Bình là quê hương Đề Vang.
Trong tiểu dẫn “Đội Văn và cuộc khởi nghĩa Yên Thế” tác giả viết “Đội Văn quê ở tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh cùng quê với Đốc học Ngô Quang Huy”.
- Sách “Lịch sử xã Chạm Lộ” cũng không hề nhắc đến Đội Văn mà viết “Đề Vang tên thật là Vương Văn Vang người thôn Thuận An xã Chạm Lộ. Ông còn được gọi là Đề Vang, Đề đốc họ Vương”.
- Sách Lịch sử Hà Bắc do Hội đồng Lịch sử Hà Bắc, xuất bản năm 1988 cho rằng Đội Văn và Vương Văn Vang là hai nhân vật, cho nên đã viết:
- Khởi nghĩa Đội Văn:
Các tác giả không viết rõ quê hương Đội Văn ở đâu, chỉ viết Độ Văn vốn là một thủ lĩnh có tài trong cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Ngày 16/3/1889, ông trá hàng. Ngày 17/9/1889, Đội Văn trở lại hàng ngũ kháng chiến, lên Yên Thế phối hợp với Đề Nắm, Đề Thám đánh Pháp. Đội Văn bị thương và ốm phải ra hàng thực dân Pháp. Ngày 7/11/1889, Đội Văn bị xử chém tại ô vườn hoa Pônbe (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ, Hà Nội) trang 184 và 186.
- Cuộc khởi nghĩa Tuần Xô - Đề Vang
Đại lược Năm 1886, Tuần Xô khởi nghĩa, Đề Vang là một trợ thủ đắc lực. Khi Tuần Xô hy sinh ở Hà Mãn (Thuận Thành) thì Đề Vang lên thay. Trong hai năm 1886-1887, Đề Vang chỉ huy tấn công phố Bạc (Hưng Yên), đồn Đoan Bắc, Bưởi Xuyên, Gia Bình. Ngày 31/8/1888, ông hoạt động ở Thuận Thành. Năm 1889, Đề Vang chỉ huy đột kích vào phủ Thuận Thành. Nhưng năm sua hoạt động ở Gia Quất (Gia Lâm), Đại Bái (Gia Bình, Bích Câu (Thuần Thành). Năm 1894 đem toàn bộ lực lượng lên Yên Thế, sau lại trở về Gia Bình. Một thời gian sau ông quy hàng trở về làngThuận An sinh sống.
Năm 1897, Đề Vang lại cùng Lãnh Cổ lên Yên Thế, khi đó Đề Thám hòa với Pháp, ông trở vè quê hương hoạt động. Tháng 3 năm 1899 Đề Vang sa vào tay giặc. Cuộc khởi nghĩa thất bại hoàn toàn.
(4) Cụ Vương Văn Hà nguyên bí thư đảng ủy xã Chạm Lộ và các cụ cao niên ở thôn Thuận An kể.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM