Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:22:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy  (Đọc 89306 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 07:59:32 am »

- Rời Chạm Lộ, Ngô Quang Huy đến làng Ngọc Trì, nay thuộc xã Bình Định, huyện Lang Tài. Đây là làng có đông đảo người tham gia “Tam tỉnh nghĩa quân”. Trong đó phải kể đến năm anh em họ Vũ đều là thầy đồ. Đó là Đồ Cả húy Đô, Đồ Hai húy Ngữ, Đồ Ba húy Hải, Đồ Tư húy Loại, Đồ Năm húy Hàng. Năm anh em đồ bỏ bút nghiên cầm vũ khí đánh Pháp. Một số con cháu trong họ cũng tham gia. Họ Phạm cũng có 4 anh em một nhà là Phạm Văn Tá, Phạm Văn Tả, Phạm Văn Võ, Phạm Văn Văn (còn gọi là Chánh Tư) tham gia. Họ Nguyễn cũng có nhiều người tham gia như Chánh tổng nguyễn Văn Che, Nguyễn Văn San, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Khắc Nga và rát nhiều người làng Ngọc Trì tham gia.

Khi Ngô Quang Huy đến làng thì ông đồ Cả và ông Phạm Văn Tá triệu tập những nghĩa quân củ của Tam tỉnh họp tại đình Nghĩa nghe ông Đốc học Ngô Quang Huy bí tin vua Hàm Nghi đã xuất bôn ra tỉnh Quảng Bình phát hịch Cần vương. Nhà vua giao cho Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo phong trào Cần vương ở đồng bằng Bắc Kỳ và trực tiếp chỉ huy căn cứ Bãi Sậy. Ngô Quang Huy kêu gọi mọi người gia nhập cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.

Mọi người đều tung hô vua Hàm Nghi vạn tuế và gia nhập cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy(1).

Vừa trở về Thái Lạc, Ngô Quang Huy triệu tập ngay những nghĩa quân Tam tỉnh và những người có lòng yêu nước hăng hái ở tổng Thái Hà (Văn Giang)(2), tổng Đại Từ(3), tổng Nghĩa Trai(4) (Siêu Loại), tổng Kim Sơn(5) (Gia Lâm) đều thuộc tỉnh Bắc Ninh họp tại đình xã An Lạc. Người đến dự rất đông, ngoài những chiến binh trong “Tam tỉnh nghĩa quân”, nghĩa binh Chí Linh, Đông Triều, Ngô Quan Huy còn thấy xuất hiện những gương mặt mới như Ngô Đình Điền, Bang Trọng ở Nhạc Miếu(6); Hoàng Cả, Hoàng Hai, Đồ Hàn, Cai Thích, Đội Tổ ở An Thái(7), Tuần Dâu, Lãnh Nho ở Tuấn Dị(8); Quản Nam, Xã Tảo, Xã Cuội ở Hồng Cầu(9); Quản Nhân, Trương Trai xã Ngải Dương(10); Chánh Thám, Chánh Giả, Kỹ Liễu ở xã Đình Dù(11); Đào Văn Lê, Chánh Tả ở xã Tăng Bảo, Cai Lâm ở xã Thọ Khang(12); Phó Chung ở xã Yên Tập(13) và rất nhiều người khác Ngô Quang Huy chưa biết tên tuổi, địa chỉ.

Khi Ngô Quang Huy tuyên bố lí do cuộc họp và tuyên đọc “chiếu Cần vương” của vua Hàm Nghi, mọi người đứng nghiêm trang kính cần lắng nghe và tuyên thệ tuyệt đối trung thành với vua Hàm Nghi và tuân thủ mệnh lệnh của Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật. Ngay sau cuộc họp cả một vùng làng xã rộng lớn ở nam Bắc Ninh sôi nổi chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.

Sau khi nhận lệnh của Nguyễn Thiện Thuật, Hai Kế đã về ngay cùa Long Hoa ở chân núi Voi là căn cứ của nghĩa quân An Lão yêu cầu Cử Bình, Lãnh Tự triệu tập các thủ lĩnh nghĩa quân họp nghe tuyên đọc chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi và mệnh lệnh chiến đấu của Nguyễn Thiện Thuật.

Tin tức trên làm nức lòng nghĩa quân An Lão. Nghi Dương (gồm quận Đồ Sơn và vùng phụ cận), mọi người nô nức tới dự, Nguyễn Thiện Kế vui mừng nhận thấy từ tháng 10/1883 nổ ra cuộc khởi nghĩa ở An Lão đến nay hầu như vẫn còn đông đủ các cấp chỉ huy mà ông đã biết như sư cụ Vương Quốc Chính trụ trì chùa Long Hòa, Đội Trịch, thống Ất ở Mỹ Đức, Thống Trực ở Kha Lâm, Tổng Học ở Vân Đẩu, Lãnh Tho ở Trứ Khê, tổng Cọc ở Phù Lưu vẫn có mặt. Đó là những người đã làm nên những chiến công vang dội như cuối tháng 11/1883 tham gia tấn công thành Hải Dương. Trong cuộc tấn công thành Hải Dương, nghĩa quân đã sử dụng một loại hỏa tiễn (Fuése Incendiaire) để bắn vào thành(14). Tỉnh thành Hải Dương bị nghĩa quân bao vây trong nhiều ngày, đường trong tỉnh bị phong tỏa và dựng chướng ngại vật ở nhiều đoạn, khoảng 200 lá cờ của quân công thành mọc lên khắp nơi từ trong thành, trên mặt thành cho đến các đường phố ngoài thành. Ngày 19/11/1883, viện binh Pháp đến giải vây, nghĩa quân mới rút lui an toàn(15).


(1) Tác giả khai thác tại thôn Ngọc Trì, đọc gia phả các dòng họ tháng 8/1999.
(2) Nay thuộc xã Trưng Trắc huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
(3) Nay là xã Đại Từ và xã Đong Mai, huyện Văn Lâm.
(4) Nay thuộc xã Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
(5) Nay thuộc xã Dương Xá và xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
(6), (7), (8) Các xã trên nay là đơn vị thôn thuộc xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm.
(9) Nay thuộc xã Lạc Hồng, huyện Văn Lâm, Hưng Yên.
(10), (11) Hai xã này nay là hai thôn xã Tân Quang, huyện Văn Lâm.
(12) Hai xã này nay là hai thôn xã Tân Quang, huyện Văn Lâm.
(13) Nay thuộc huyện Mỹ Hào, Hưng Yên.
(14) Quân Pháp mô tả loại “hỏa tiễn” (fusée incediaire) đó đại loại như sau: “Hỏa tiễn” được cấu tạo thành một đoạn ống tre đực, một đầu cắm mũi tên bằng sắt, tẩm thuốc cực độc; đầu kia buộc mảnh vải dùng để điều chỉnh hướng bay, thuốc nổ và mồi cháy được đặt trong một ống tre về phía có mũi tên cắm. Trước khi bắn, người ta cuốn mảnh vải điều chỉnh vào xung quanh ống tre và đặt “hỏa tiễn” vào một loại súng phóng và sợi dây vải ở đuôi tung ra để tự điều chỉnh hướng đi của “hỏa tiễn”. Sau khi phát hỏa, lửa bén vào mồi rồi vào thuốc nổ đặt trong ống tre. Thuốc độc ở đầu mũi tên cực manh, bị trúng tên không thuốc gì chữa được.
(Dương Kinh Quốc dẫn trong “Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1945, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, trang 221, 222).
(15) Dương Kinh Quốc “Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1945, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 08:02:31 am »

Ngay sau khi tuyên đọc chiếu Cần vương và mệnh lệnh chiến đấu của Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật, Cử Bình và Lãnh Tư đã quyết định đánh một trận lớn để hưởng ứng chiếu Cần vương và giao cho Đốc Trịch thực hiện. Nghĩa quân đang chọn mục tiêu tấn công thì ngay trong tháng 8/1885, giặc Pháp từ Ninh Hải (nội thành Hải Phòng ngày nay), đưa tàu chiến gắn đại bác tấn công vào huyện An Lão. Cử Bình, Lãnh Tư đã điều quân của Thống Trực chỉ huy nghĩa quân Kha Lâm, Cai Chiến chỉ huy nghĩa quân Đại hoàng phối hợp.

Do lực lượng nghĩa quân ít, trang bị kém, nên Đốc Trịch không dàn thành trận tuyến mà nhử địch vào trận địa bày sẵn ở khu Đầm Rô, Bình Vôi, lau sậy um tùm (nay là đoạn đường 354 từ Quán Rẽ đến Giám Trạch, nay thuộc xã Mỹ Đức, An Thái). Quân Pháp thấy khoảng 20 nghĩa quân bắn vài phát súng rồi chạy vào vùng lau sậy, liền xua quân đuổi theo. Đến chỗ ngoặt, chúng đang ngơ ngác không thấy một bóng nghĩa quân nào, bỗng pháo lệnh nổ vang trời, hàng trăm nghĩa quân mai phục trong các đám lau sậy và trát kín bùn nằm hai bên vệ đường nhất tề vung dậy vung mã tấu, đoản đao xông vào chém giết.

Trận này nghĩa quân giết trên 30 tên giặc, chưa kể những tên bị thương. Bọn sống sót quăng vũ khí bỏ mặc những tên chết và bị thương chạy về nơi tàu neo đậu(1).

Ngay sau khi nhận được thư của Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Tít làm lễ tế cờ ở chùa Kim Liên. Lá cờ màu đỏ mang dòng chữ: “Ninh Sơn động chủ, xướng nghĩa bình Tây”. Ông còn duyệt binh, biểu dương lực lượng hư trương thanh thế để động viên tướng sĩ và nhân dân. Cư dân ở 86 làng xã thuôc hai huyện Kim Môn và Thuỷ Đường đã nô nức cho con em gia nhập nghĩa quân, ròa làng, đắp lũy, công khai chống Pháp, cung ứng quân lương.

Sau lễ tế cờ, khí thế của nghĩa quân lên cao, Đốc Tít đã xuất quân tấn công quân Pháp nhiều trận trong đó có một số trận như:

- Ngày 22/8/1885, nghĩa quân chống quân Pháp càn vào Tam Lưu, bắn chết và làm bị thương hàng chục tên Pháp, trong đó có tên quản Pháp bị giết chết(1).

- Ngày 31/8/1885, trước khi Đốc Tít và một số tướng lĩnh về Văn chỉ Bình Dân dự lễ Tế cờ, ông đã chỉ huy quân tấn công đồn binh Pháp ở Hiệp Sơn(3).

Lưu Kỳ nhận được thư của Nguyễn Thiện Thuật lập tức triệu các tướng Hoàng Tài Ngạn, Hoàng Thái Nhân, Đề Kỳ, Đề Quý báo tin vua Hàm Nghi đã xuất bôn ra sơn phòng Quảng Trị, hạ chiếu Cần vương. Nhà vua cũng cử Tán tương Nguyễn Thện Thuật chỉ đạo phong trào Cần vương ở các tỉnh đồng bằng và vùng đông bắc Bắc Kỳ trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Lưu Kỳ cũng quyết định đưa toàn bộ lực lượng gia nhâp cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.

Sau cuộc họp tướng lĩnh, ông tăng cường lực lượng cho các đồn binh ở Đông Triều, An Châu, Mai Sơn, Đá Bạc, Lầm, Biển Động. Ông biết rõ vũ khí hiện đại không thể thiếu trong cuộc chiến đấu quy mô lớn sắp tới nên đã bổ sung lực lượng tinh nhuệ cho đội vận chuyển vũ khí từ Quảng Đông, Quảng Tây về. Đề phòng bị nghẽn đường, Lưu Kỳ mở tới 3 đường vận chuyển vũ khí:

- Đường từ huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Yên ngược lên Đầm Hà, Hà Cối qua Móng Cái, Bình Liêu sang Đông Hưng và Đồng Tôn, Trung Quốc.

- Đường từ Bã Chẽ, Lộc Bình, Nam Chàm qua núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn) qua tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

- Đường khe suối, luồng lạch và ven vịnh Bắc Bộ qua Mũi Ngọc của huyện Móng Cái sang các huyện Đông Hưng, Phòng Thành (Trung Quốc)(4).

Sau khi tiếp xúc với phái viên của Nguyễn Thiện Thuật, Ba Báo hoạt động ở vùng sông Thái Bình, Kinh Thày; Trung Lan, Đốc Đàm hoạt động ở huyện Thanh Hà; Tiền quân Phạm Văn Đức hoạt động ở vùng các cửa sông, hải đảo; Lãnh Tư, Cử Bình hoạt động ở Núi Voi, huyện An Lão; Đội Quý, Ba Giang, Phạm Văn Khoát hoạt động ở huyện Ninh Giang, Hải Dương đã giao ước phối hợp chiến đấu ngăn chặn không cho quân Pháp từ Hải Dương đi đánh phá các căn cứ của nghĩa quân ở Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng Yên.

Khi các phái viên hoàn thành nhiệm vụ trở về, Nguyễn Thiện Thuật rất vui mừng vì chẳng những toàn bộ tướng lĩnh của Đổng Quế hưởng ứng mà thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa như Đốc Tít ở Kinh Môn, Trung Lan, Đốc Đàm ở Thanh Hà, Đề Quý, Lãnh Khoát ở Ninh Giang, Tiền Đức ở Gia Lộc, Lãnh Tư, Cử Bình ớ An Lão, Ba Báo ở vùng sông Kinh Thày (Hải Dương), Lưu Kỳ ở Lục Ngạn (Bắc Ninh); Tạ Hiện ở phủ Thái Bình (Nam Định)… đều tự nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ Cần vương do vua Hàm Nghi phát động.


(1) Theo Lịch sử đấu tranh vũ trang cách mạng huyện An Lão, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.
(2) Theo tư liệu của trung tá Mạc Hữu Họa, Hội Khoa học lịch sử huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.
(3) Theo tư liệu của trung tá Mạc Hữu Họa, Hội Khoa học lịch sử huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.
(4) Vũ Thanh Sơn: Tướng lĩnh Bãi Sậy, NXB. Văn hóa Dân tộc, 2001.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 08:13:44 am »

Nguyễn Thiện Thuật quyết định làm lễ Tế cờ vào tháng 8 năm Ất Dậu (tháng 9/1885) tại Văn Chỉ xã Bình Dân, tổng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, nơi Đổng quân vu Đinh Gia Quế đã long trọng tổ chức lễ Tế Cờ vào tháng 4/1883 phát động cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Văn Chỉ, Bình Dân được trang hoàng cờ hoa rực rỡ. Các tướng lĩnh đứng nghiêm trang chứng kiến lễ thượng cờ. Khi lá cờ đại màu đỏ rực được kéo lên đỉnh cột thì Bắc Kỳ Hiệp thống quan vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật uy nghi trong bộ lễ phục trang trọng tuyên đọc chiếu Cần vương nhà vua Hàm Nghi.

Chiếu Cần vương

Dụ:

Từ xưa kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh, giữ, hòa. Đánh thì chưa có cơ hội, giữ thì khó định hẹn được sức, hòa thì họ đòi hỏi không biết chán. Đang lúc thế sự muôn vàn khó khăn như vậy, bất đắc dĩ phải dùng quyền. Thái vương dời sang đất Kỳ(1), Huyền Tông sang chơi đất Thục(2), người xưa cũng đều đã có làm.

Nước ta gần đây ngẫu nhiên gặp nhiều việc. Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ đến tự cường tự trị. Kẻ Tây được phái đến ngày càng ngang bức, hiện tình mỗi ngày một quá thêm. Hôm trước, chúng tăng thêm binh thuyền đến, bắt theo những điều mình không thể nào làm được; ta chiếu lệ thường khoản tiếp, chúng không chịu nhận một thứ gì. Người kinh đô náo động, mối nguy biến ngay trong chốc lát. Kẻ đại thần mưu việc nước, chăm chỉ đến kế yên xã tắc; trong triều triều phải đắn đo về hai điều: cúi đầu tuân mệnh, ngồi để mất cơ hội, sao bằng nhìn thấy chỗ âm mưu biến động của địch mà đối phó trước ví bằng việc xảy ra không thể tránh được thì cũng còn có vài việc ngày nay để mưu tốt cái lợi sau này, cũng là do thời thế xui nên vậy. Phàm những người đã được cùng dự chia mối lo này, tưởng cũng đã biết cả. Biết thì phải tham gia vào công việc, nghiến răng, dựng tóc thề giết tan giặc, nào ai là không có cái lòng như thế? cũng lẽ nào không có người gối gươm(3), đánh dầm(4), cướp giáo(5), lăn chum(6) ư? Vả lại kẻ bây tôi đứng ở triều, chỉ có theo nghĩa mà thôi. Nghĩa đã ở đâu mà sống chết ở đấy. Hồ Yển, Triệu Thôi(7) nước Tấn, Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật(8) nhà Đường là người thế nào đời xưa vậy?

Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này không thể hết sức giữ được, để đô thành bị hãm, xe tứ giá(9) phải dời xa, tội ở mình trẫm cả, thật là xấu hổ vô cùng. Nhưng chỉ có luân thường quan hệ với nhau, bách quan khanh sĩ không kế lớn nhỏ, tắt không bỏ xa trẫm; kẻ sĩ hiến mưu kế, người dũng hiến sức lực, kẻ giàu bỏ của ra hiến quân nhu, đồng bào, đồng trạch(10) chẳng từ nguy hiểm, như thế mới phải chứ? Cứu nguy chống đỡ, mở chỗ nguy khốn, giúp nơi bức bách đều không tiếc gì tâm lực, ngõ hầu hòng trời giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại được bờ cõi, chính cái cơ hội này, phúc của tôn xã tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau rồi cũng nghỉ với nhau há chẳng tốt lắm ư? Bằng cái lòng sợ chết hơn lòng yêu vua, nghĩ lo cho nhà hơn là lo cho nước, làm quan thì mượn cớ tránh xa, đi lính thì đào ngũ, trốn lẩn, người dân không biết trọng nghĩa, cứ gấp việc công, kẻ sĩ thì cam bỏ chỗ sáng đi theo vào nơi tối tăm, ví không phải sống thừa ở trên đời thì mũ áo mà làm ngựa trâu, ai nỡ làm như thế?

Thưởng cũng hậu mà phạt cũng nặng, triều đình sẽ có điều lệ hẳn hoi chớ để sau này phải hối. Phải nghiêm sợ mà tuân theo!


Hàm Nghi năm đầu tháng 6 mùng 2
Khâm thử                        

(Chu Thiên dịch theo bản chữ Hán trong Trung - Pháp chiến tranh
Tư liệu, quyển VII, in trong cuốn Thơ văn yêu nước, nửa sau
thế kỷ XIX (NXB Văn học, 1970, tr.52-523)

Lời chiếu của nhà vua yêu nước, còn ở tuổi thiếu niên đã dũng cảm từ bỏ ngai vàng dấn thân vào rừng sâu, núi thẳm, phát động phong trào Cần vương đã kích động ý chí chống giặc cứu nước của các tướng lĩnh và nghĩa binh, mọi người muốn xông ngay ra chiến trường đánh đuổi giặc Pháp.

Trong không khí sôi động đó, Nguyễn Thiện Thuật đọc sắc phong của vua Hàm Nghi cho các tướng:

- Phong chức Hồng lô tự khanh Tán tương quân vụ cho cử nhân Ngô Quang Huy.

- Phong chức Hồng lô tự khanh Tán tương quân vụ cho Nguyễn Thiện Kế(11).

- Phong chức Hồng lô tự khanh Tán tương quân vụ cho cử nhân Nguyễn Hữu Đức.

- Phong chức Đô thống cho Tạ Hiện.

- Phong chức Đề đốc quân vụ An Hải cho Đốc Tít (Nguyễn Duy Hiệu).

- Phong chức Đề đốc Hải An cho Nguyễn Thiện Dương.

- Phong chức Đề đốc cho Lãnh binh Nguyễn Văn Sung.

Các tướng đã được Đổng quân vụ phong tước vẫn giữ nguyên, Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần theo quyền hạn nhà vua giao cũng phong chức Đề đốc cho các ông Phạm Văn Ban, Lưu Kỳ và dâng sớ về triều phong tước, ban thưởng cho một số tướng lĩnh.

Về cuộc chiến đấu, Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ chủ trương:

1. Củng cố vững chắc căn cứ địa Bãi Sậy, căn cứ Hai Sông, căn cứ Bảo Đài và các căn cứ hiện có ở Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Yên.

2. Giao cho các tướng lĩnh ở đồn nào mộ dân ở đó, xây dựng căn cứ mới, tự túc lương thực, vũ khí tới mức cao nhất.

3 Tăng cường các trận tập kích vào đồn địch, chặn đánh quân tuần tiễu, quân đi càn, tăng cường công tác binh vận, tiễu trừ Việt gian.

Nguyễn Thiện Thuật đã nâng cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy lên quy mô rộng lớn và quyết liệt.


(1) Nhà Chu trước ở phía Tây sông Vị, dời sang phía Đông (đất Kỳ, miền Sơn Tây) dựng nghiệp.
(2) Đường Minh Hoàng bị An Lộc Sơn đánh phải bỏ Kinh đô dời sang đất Thục.
(3) Lưu Côn đời tấn, chí muốn giết giặc, đêm nằm không ngủ được nói rằng: “Gối lên gươm mong chóng sáng để giết giặc”.
(4) Đánh dầm tức là đánh dầm chèo: Tổ Địch đời Tấn đi qua sông cầm dầm chèo đập xuống nước thề không bình xong Trung Nguyên thì không trở về.
(5) Cướp giáo: Uất Trì Cung đời Đường ba lần đấu võ mà đều cướp được giáo của đối phương.
(6) Lăn chum: Đào Khản đời Tấn làm đến chức Chinh Tây đại tướng quân, bình được loạn Tô Tuần. Khi ông còn là Thứ sử Quảng Châu một ngày lăn 100 cái chum ra rồi lại lăn vào để quen việc nặng nhọc và nói rằng: “Ta sẽ gắng sức để bình định Trung Nguyên nhưng nếu quen nhà rồi sợ không làm được”.
(7) Hồ Yển, Triệu Thôi người nước Tấn theo Tấn Văn Công (Trùng Nhĩ), chạy ra ngoài 19 năm, say lấy lại được nước.
(8) Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật là những trung thần đời Đường Minh Hoàng giúp nhà vua bình an loạn An Lộc Sơn lấy lại được nước.
(9) Xe tứ giá: Xa giá của ba cung: mẹ và hai vợ Tự Đức.
(10) Đồng bào, đồng trạch: cữ trong bài thơ “Vô y” ở kinh Thi nói tình quân dân, san sẻ áo, gắn bó với nhau, không trừ gian khổ, nguy hiểm, lúc nào cũng có nhau.
(11) Nguyễn Thiện Kế dâng sớ xin cố từ, lấy chữ Đường Dân làm hiệu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 06:08:02 pm »

CHƯƠNG II

NGHĨA QUÂN BÃI SẬY CHỦ ĐỘNG TẤN CÔNG VÀ ĐÁNH THẮNG
NHIỀU TRẬN CÀN QUÉT LỚN CỦA QUÂN PHÁP
(9/1885-12/1886)

Điều bất lợi cho cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy và các cuộc khởi nghĩa khác ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ là từ ngày 1/6/1885, Thống tướng De Courcy từ Pháp tới vịnh Hạ Long nhậm chức Tổng Tư lệnh lực lượng viễn chinh Pháp ở Trung và Bắc Kỳ nắm toàn bộ quyền quân sư và quyền dân sự. Nhiệm vụ quan trong mà nội các Brisson giao phó cho De Courcy là:

1. Bình định vùng đồng bằng Bắc Kỳ.

2. Đánh chiếm và bình định vùng miền núi Bắc Kỳ.

3. Dọn đường sông Hồng để đánh chiếm Lào Cai.

Nội các Brison còn quyết định tăng quân số đánh chiếm Bắc Kỳ, Trung Kỳ từ 2 sư đoàn lên 3 sư đoàn; 2 sư đoàn đóng ở Bắc Kỳ, 1 sư đoàn đóng ở Trung Kỳ(1).

Ngày 11/6/1885, Thống tướng De Courcy ra bản Tổng mệnh lệnh phân chia 13 tỉnh hiện có ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ thành 2 quân khu lớn: quân khu miền đông gồm 6 tỉnh là: Quảng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên - quân khu miền tây gồm 7 tỉnh là Hà Nội, Hưng Yên, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Nam Định, Ninh Bình.

Quân khu miền đông có 1 sư đoàn chiếm đóng phiên chế thành 2 lữ đoàn do trung tướng Négrier chỉ huy. Quân khu miền tây có 1 sư đoàn gồm 2 lữ đoàn, Sư đoàn do trung tướng Briène de Lisl chỉ huy(2).

Vào thời điểm Nguyễn Thiện Thuật khôi phục phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy thì đạo quân viễn chinh Pháp đã lên đến đỉnh cao nhất vào quý II năm 1885 với gần 42.000 quân khi cuộc chiến tranh Trung - Pháp đã kết thúc và khi quân Pháp chỉ còn đối phó với những toán “giặc cướp lẻ tẻ” như lời tuyên bố huênh hoang, bịp bợm của các quan chức thực dân lúc ấy. Một bộ tham mưu hùng hậu đã được thành lập để chỉ huy đạo quân viễn chinh gồm có 9 tướng, trong đó có 1 đại tướng, 2 trung tướng, 4 thiếu tướng, 1 tư lệnh pháo binh và tướng tham mưu tướng, 36 sĩ quan tham mưu, 600 sĩ quan đủ loại… Điều nay khiến người Pháp đương thời phải thốt lên: đây là một bộ tham mưu đủ sức để chỉ huy một đạo quân lớn ở Châu Âu(3).

Với lực lượng quân sư hùng hậu như vậy, bọn tướng tá Pháp chủ quan, khinh địch tưởng rằng với những cuộc hành quân cảnh sát dễ dàng đè bẹp được các cuộc kháng chiến chống Pháp ở Trung và Bắc Kỳ. Năm 1885, Thống tướng De Courcy, Tư lệnh kiêm Tổng trú sứ đã huênh hoang hứa với chính phủ Pháp là cuộc chinh phục Việt Nam sẽ kết thúc vào năm sau (1886) như chính phủ Pháp và dư luận Pháp đòi hỏi.

Để thực hiện được những lời lẽ huênh hoang trên, Thống tướng De Courcy đã “ra quân” với những binh đoàn lớn (grandes colone). Một trong những mục tiêu De Courcy chọn để tấn công là căn cứ Bãi Sậy.

Về phía nghĩa quân mới được phục hồi sau 1 tháng, chỉ có một số ít nghĩa quân đã từng tham gia chiến trận, dày dạn với tiếng súng, còn lại đều mới tuyển mộ trong nông dân. Việc huấn luyện các động tác chiến đấu cơ bản chưa có thời gian làm, chỉ có các “cựu binh” hướng dẫn cách sử dụng súng bắn nhanh mà lần đầu tiên trong đời họ được nhìn thấy. Vũ khí chỉ có một số ít súng bắn nhanh còn lại là súng kíp, hỏa mai và vũ khí thô sơ như giáo, mác, mã tấu. Nhiều làng mà nghĩa quân dùng làm căn cứ chưa kịp củng cố hào, lũy. Lương thực, thực phẩm cũng hoàn toàn không có dự trữ mà chủ yếu nghĩa quân vẫn ăn cơm nhà, khi có chiến sự thì nhân dân quyên góp gạo nấu tập trung. Tuy khó khăn chồng chất nhưng ông và các tướng lĩnh vẫn quyết tâm chiến đấu bằng lòng căm thù và tinh thần dũng cảm, cùng với sự đồng tình phối hợp tác chiến của nhân dân. Qua công tác trinh sát và nhân dân báo tin, ông biết rõ quân Pháp đang cùng với quân Nam triều tập trung binh lực lớn để tấn công căn cứ Bãi Sậy. Với phương châm “Chờ địch tới không bằng đánh địch trước”, Nguyễn Thiện Thuật tăng cường phòng thủ Bãi Sậy, lệnh cho các cánh quân phải tổ chức trận địa, mưu trí đánh thắng các trận càn quét nhỏ của địch, đồng thời bao vây tấn công các đồn Cái Nênh, Duyên Hà (nay thuộc tỉnh Thái Bình khi đó còn thuộc hưng yên), đồn Ứng Lôi, đồn Phù Cừ nằm trên hữu ngạn sông Luộc nằm trên địa bàn các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ và các đồn ở huyện Kim Động, Khoái Châu, Phó Nham, đồn Bình Phú, đồn Lực Điền. Các tướng đã thực hiện mệnh lệnh trên một cách khẩn trương, tích cực. Vì vậy trong tháng 9, 10/1885 đã có một số trận đánh như sau:

- Tháng 9/1885, ngay sau lễ Tế cờ nghĩa quân đã vượt sông Hồng tấn công các phủ đường, đồn bốt của quân Pháp ở các huyện Thường Tín, Thanh Trì, Thanh Oai, Ứng Hoà thuộc tỉnh Hà Đông.


(1) Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, tr.253.
(2) Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, tr.253.
(3) Những cuộc tiếp xúc Pháp - Việt ở Trung và Bắc Kỳ từ năm 1885 - 1896 của Charles Fourniau (Lescontate Farcai - Việt Nam, miên en An Nam et du Tonkin de 1885 à 1896), tr. 568 do Ngô Văn Hoà “giới thiệu sách” trong Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số tháng 4/1984.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 06:11:19 pm »

Tuần phủ Cao Xuân Dục sai tên Bát phẩm Nguyễn Chúc, Cửu phẩm Phùng Văn Thoan đem quân đánh nhau với nghĩa quan. Khi bọn này bị nghĩa quân đánh cho đại bại, Cao Xuân Dục thân cầm quân đánh chiếm các phủ thành, thu hết vũ khí, tiền bạc, lương thực rồi rút về Bãi Sậy an toàn.

Mặc dù Cao Xuân Dục không diệt được nghĩa quân nhưng để mua chuộc, khuyển khích bọn tay sai, Đồng Khánh vẫn tặng cho Cao Xuân Dục Quân công kỷ lục hai thứ, một cái khánh vàng Quân công và dây đeo. Bọn Chú, Thoan mỗi tên được thưởng bài tử kim và thăng trận. Ngài lại truyền chỉ thông lục cho Tả Kỳ và Hữu Kỳ biết(1).

Tại Trại Sơn(2) huyện Thuỷ Đường(3) phủ Nam Sách khi Đốc Tít đang dự lễ Tế cờ ở Văn chỉ Bình Dân thì các tướng Lãnh Canh, Lãnh Pha đã tấn công quân Pháp ở chợt Cột, Đông Triều (Hải Dương). Quân Pháp chưa hết kinh hoàng về trận đánh đó thì Đỗng Lăng lại phục kích trên đường Đèo Neo - Huệ Trì giết trên 30 tên lính Pháp(4).

Nghĩa quân ráo riết chuẩn bị tấn công thành Hải Dương. Việc tuyển mộ, huấn luyện cho tân binh diễn ra công khai. Nhân dân đóng thuế, xay giã thóc gạo làm quân lương giữa ban ngày. Bọn lính đồn sợ hãi không dám ra ngoài. Các quan huyện, tổng lý chạy hết vào tỉnh lỵ, bọn chỉ điểm lộ mặt chui rúc trong đồn không dám ở làng. Nghĩa quân định tấn công thành Hải Dương vào đêm 28 rạng ngày 29/9/1885(5).

Việc chuẩn bị đánh chiếm diễn ra công khia song công sứ Pháp và tổng đốc Hoàng Cao Khải cho rằng nghĩa quân nghi binh nên chưa có hành động đối phó. Khi pháo hạm La Matsuy (Maussue) đụng độ với nhiều toán nghĩa quân ở làng Mao Điền, huyện Câm Giang cách tỉnh lỵ chừng 15 cây số Bọn cầm quyền Pháp thấy rõ nguy cơ tỉnh lỵ Hải Dương bị tấn công mới vội vã điều 3 toán quân gồm những đại đội Âu - Phi, lính pháo thủ Bắc Kỳ, lính Nam triều càn quét các huyện Cẩm Giàng, bình Giang và cả vùng nam Bắc Ninh, bổ sung lính và súng đạn cho các đồn ở ngoại vi tỉnh lỵ. Quân Pháp còn đóng chặn các ngả đường vào tỉnh lỵ. Ngoài pháo hạm La Massue, công sứ còn điều thêm hai pháo hạm làm nhiệm vụ bảo vệ hai bên bờ sông Thái Bình và vùng sông ngòi phía trong.

Với lực lượng quân sự mạnh có 3 pháo hạm yểm hộ, quân Pháp đã đẩy lùi được nghĩa quân của Hai Kế ở vùng rừng núi huyện Chí Linh và huyện Đông Triều. trước khi quân Pháp rút khỏi Đường Hào, Bình Giang chúng đã dựng một loạt đồn bốt mới ở những cứ điểm quan trọng. Được các đồn hỗ trợ, bọn quan phủ, huyện ở Nam Sách, Bình Giang, Cẩm Giàng trước kia chạy vào tỉnh lỵ nay lại lục đục kéo về phủ đường. Bọn mật vụ chỉ điểm trước kia sợ uy thế của nghĩa quân phải trốn tránh vào đồn binh hoặc nằm im nay đều ngóc đầu dậy trả thù những gia đình có người tham gia nghĩa quân, đưa lính đi cướp phá những làng tiếp tế, cho nghĩa quân đồn trú. Bọn chúng được quân hỗ trợ tới các làng thu thuế cho Pháp chỉ riêng hai huyện Đường Hào, Bình Giang bọn chúng đã bắt dân đóng 60.000 quan tiền thuế truy thu ở những làng trước kia không chịu nộp thuế cho Pháp(6).

Quân Pháp không đủ trải ra trên diện rộng, chúng luôn luôn bị nghĩa quân tập kích vào bọn lính đóng dã ngoại, bọn tuần tra, bọn đi thu thế, nên quân Pháp phải chia nhỏ lực lượng để đối phó. Lợi dụng cơ hội đó, nghĩa quân từ Chí Linh, Hưng Yên trở lại hoạt động xung quanh tỉnh lỵ Hải Dương, đột kích một số đồn quân Pháp mới dựng, trừng trị những tên tay sai có nợ máu với nghĩa quân và nhân dân.

Nguyễn Thiện Thuật phán đoán sắp tới quân Pháp sẽ đánh lớn vào căn cứ Bãi Sậy, nên đã quyết định rút lực lượng của Hai Kế về Bãi Sậy để củng cố trận địa, chuẩn bị vũ khí, lương thực sẵn sàng đón đánh địch.

Đúng như phán đoán của ông, tháng 10/1885, Thống tướng De Courcy giao cho thiếu tướng Négrier, trung tá Donnier, trung tá Godard huy động một lực lượng lớn liên tục tấn công suốt 3 tháng (10, 11, 12/1885) vào căn cứ của nghĩa quân ở các huyện Văn Giang (Bắc Ninh), miền tây Đường Hào nay thuộc huyện Yên Mỹ). Tuần phủ Hoàng Cao Khải cũng đưa lính đến phối hợp với quân Pháp để đàn áp phong trào(7).


(1) Quốc triều chính biên toát yếu, quyển VI, NXB Độc Lập, Huế, 1923, Tả Kỳ là từ Bình Định đến Bình Thuận, Hữu Kỳ là từ Hà Tĩnh đễn Thanh Hóa.
(2) Trại Sơn trước đây tên là Trại Tre nằm ở thượng huyện Thuỷ Đường. Phía bắc có dãy núi đã vôi Thiên Triều, có 9 hang động lớn, có nhiều di tích thời tiền sử, thời Hùng Vương, Hai Bà Trưng, phía nam giáp sông Kinh Thày, phía tây giáp sông Hàn Mấu, phía đông giáp sông Hòn Ngọc.
(3) Tháng 4/1885 đổi tên là huyện Thuỷ Nguyên, phủ Nam Sách Hải Dương, nay Thuỷ Nguyên thuộc Hải Phòng.
(4) Tác giả khai thác tại Trại Sơn, An Sơn, Thuỷ Nguyên năm 1998.
(5) Theo Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Nguyễn Luận dịch năm 1975, bản đánh máy lưu tại thư viện Hải Dương.
(6) Theo Dulleman: Niệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc.
(7) Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 06:12:03 pm »

Với hệ thống tình báo tự nguyện, hình thành một đường dây từ cơ sở tới trung tâm căn cứ, nên mọi hoạt động của giặc đều được báo cáo kịp thời về bộ Tư lệnh. Nguyễn Thiện Thuật cùng các tướng lệnh cho các đơn vị nghĩa quân đóng ở trong và ngoài căn cứ Bãi Sậy chủ động đón đánh quân Pháp. Vì vậy ngay khi quân Pháp vừa xuất phát ra tới đường số 5, đường 39… chúng đã bị các đơn vị nghĩa quân chặn đánh, cản bước tiến vào căn cứ. Quân giặc bị đánh ở khắp nơi, liên tục, nhưng không có lực lượng của nghĩa quân nên vô cùng hoang mang. Nhưng nỗi kinh hoàng của chúng còn tăng lên gấp bội khi chúng tiến sâu vào vùng giáp ranh căn cứ ở miền tây Đường Hào và nam Văn Giang. Bọn giặc liều chết tới được các xã ngoại vi căn cứ Bãi Sậy thì nhiều tên đã bị chết vì những tay súng bắn tỉa, bị chết vì sa hố chông, cạm bẫy. Bọn giặc càng vào sâu thì số thương vong càng lớn, có toán phải quay về nơi xuất phát. Có bọn đang lội bì bõm dưới đầm lầy thì đột nhiên cờ đỏ phất lên, nghĩa quân đột ngột hiện ra vung gươm, mã tấu, đoản đao lăn xả vào chúng mà chém giết, cướp súng đạn. Khi bọn lính ở phía sau đến cứu thì động bọn của chúng chỉ là những cái xác không hồn, mất cả súng đạn, quân trang. Không giết được nghĩa quân, quân Pháp và Hoàng Cao Khải cho quân tàn phá các làng nghĩa quân xây dựng căn cứ. Lửa cháy ngút trời hết ngày nọ sang ngày kia. Song sự tàn bạo của giặc không uy hiếp được nhân dân, có rất nhiều làng dân chúng đi hết, nhường làng xóm, nhà cửa cho nghĩa quân xây dựng tận địa chiến đấu. Quân Pháp phải chịu tổn thất lớn mới tiến sát đến căn cứ Bãi Sậy. Chúng thấy hầm hố, giao thông hào chằng chịt như mạng nhện. Quân giặc không còn đường tiến phải luồn lách trong lau sậy, bị lạc, quân lính càng lo sợ như lạc vào “mê hồn trận” và “bát quái trận đồ”. Hoàng Cao Khải sai đốt Bãi Sậy, lửa bén vào lau lách khô cháy ngùn ngụt, nhưng chúng cũng không thấy bóng dáng nghĩa quân, khiến cho cả quan lẫn lính càng hoảng sợ.

Một tên lính nhìn thấy trong đám cháy có một cửa hầm, Hoàng Cao Khải sai bọn lính gạt tro than ra nhìn xuống thấy sâu thăm tẳm, tối om bèn sai một viên lính Pháp, hai viên đội và vài tên lính khố xanh xuống hám sát. Bọn này sợ hãi run lập cập bò xuống hầm, càng vào sâu đường hầm càng tối đen, lõng bõng nước, bùn ngập ngang đầu gối, ngoắt ngoéo chúng phải dò dẫm từng bước, luôn đề phòng nghĩa quân bất ngờ xông ra giết chết. Bên ngoài toán quân canh cửa hầm cũng phải luôn luôn đề phòng, đứa nào súng cũng lên đạn lăm lăm trong tay hễ có động là bắn súng báo hiệu cho bọn dưới hầm chui lên.

Bỗng nhiên nghĩa quân từ các hầm bí mật bắn điểm xạ từng phát, mỗi tiếng nổ là một tên giặc ngã gục. Bọn giặc kinh hoàng đón cái chết mà không biết địch thủ ở đâu thì các ông Đề, ông Lãnh đầu chít khăn đó, lưng thắt bao xanh phất cờ đỏ ra lệnh, nghĩa quân như từ trên trời rơi xuống, từ dưới đất mọc lên, miệng thét “sát, sát” vung mã tấu, đoản đao lăn xả vào chúng mà chém giết. Bọn chúng toan chống cự nhưng nghĩa quân xông ra mỗi lúc một đông, bọn lính Pháp và lính khố xanh không dám chống cự, cũng không biết đường nào mà chạy vì ba phía đều là nghĩa quân, phía còn lại là lửa do chính chúng gây ra.

Bọn lính chui ở dướng đường hầm nghe thấy tiếng súng, tiếng gươm giáo, tiếng hò la từ bên trên vọng xuống, chúng hiểu ra là mặt đất đang xảy ra giao chiến vội vàng kéo lên. Nhưng hễ kẻ nào nhô lên đến cửa hầm đều bị bắn chết chỉ còn mấy tên nhờ bọn lính canh hỗ trợ nên đã thoát chết.

Sau trận thất bại này, thiếu tướng Négrier, Hoàng Cao Khải đành phải hô quân tháo chạy về phủ lỵ Khoái Châu. Từ đây, chúng chia quân đi đánh các làng xóm thuộc huyện Văn giang, Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi. Quân Pháp thẳng tay tàn sát, xa thì dùng súng, gần thì dùng lưỡi lê, báng súng tàn sát không tiếc tay, hàng trăm người phần lớn là ông bà già, trẻ em đã bị chết thê thảm. Những người bị bắt bị chúng dồn lại rồi xả súng bắn chết, nhiều xóm làng bị đốt trụi, nhiều hào lũy bị san phẳng.

Nhưng có điều kỳ lạ là ngay trong vùng quân Pháp vừa chém giết, chúng vẫn bị nghĩa quân và nhân dân tự vũ trang tấn công. Có lần một toán quân tuần tiễu đóng trong đình bỗng nửa đêm thình lình hàng loạt súng bắn vào giết hơn một chục tên. Chúng bắn loạn xạ, tìm mãi vẫn không biết súng từ nơi nào bắn tới. Thực ra nghĩa quân chỉ có vài người lợi dụng đêm tối leo lên mái đình dỡ ngói chĩa súng bắn xuống. Khi chúng biết được súng từ đâu bắn tới thì nghĩa quân đã rút lui, chúng chỉ còn biết băng bó cho những tên bị thương, khiêng xác chết của đồng bọn rút lui. Có lần quân Pháp đi nghênh ngang trên một quãng đê gặp mấy người lái buôn. Mấy người này rút súng giấu trong người bắn tới tấp vào chúng. Chúng chưa kịp đối phó thì những người nông dân trên cánh đồng cũng xông lên, chúng chỉ còn biết tháo chạy thoát thân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 06:14:34 pm »

Quân Pháp điều quân đi càn quét nhưng không gặp nghĩa quân đâu mà còn bị đánh bới những toán quân nhỏ, quân Pháp không sao truy kích được. Nghĩa quân còn đột kích vào những vị trí trú quân và những trận tao ngộ chiến mà nghĩa quân thường là những toán có rất it chỉ có 15-20 người phân tán khắp nơi, xuất kỳ bất ý đánh bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Kiểu chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân đó, dân cũng là lính, lính cũng là dân làm cho quân Pháp lo sợ nơm nớp ngày đêm. Có làng quân Pháp bao vây một làng nghi là có nghĩa quân đồn trú thì có vài kỳ mục khăn xếp, áo the đội những mâm chuối tiêu, trứng gà luộc, rượu ra chào mừng các sĩ quan Pháp. Khi quân Pháp hỏi trong làng có nghĩa quân không thì họ đều trả lời “không biết, không có”, nhưng thực ra khi đó có tới hơn hai chục nghĩa quân đang ăn cỗ tại đám giỗ nhà lý trưởng. Quân Pháp biết rõ nhưng sợ có phục binh nên không dám vào.

Nghĩa quân Bãi Sậy không dừng lại ở những trận đánh nhỏ, những trận tập kích và những trận tao ngộ chiến mà còn điều động quân, có trận tới 300-400 quân được trang bị súng bắn nhanh tấn công các đồn địch và đã giành được thắng lợi như trận đánh vào các đồn bốt, vào phủ đường huyện Ân Thi.

Khi quân Pháp đánh phá căn cứ Bãi Sậy, thì tại Hải Dương, nghĩa quân do Đề Quý chỉ huy đã phối hợp với nghĩa quân Ba Báo liên tiếp đánh phá các đồn địch, chặn đánh tàu thuyền, các toán quân Pháp đi càn quét khiến cho quân Pháp lo sợ. Vì vậy riêng Hải Dương, quân Pháp đã phải thành lập 3 binh đoàn để đối phó:

- Binh đoàn Nenny phụ trách vùng đông nam Trung châu tức phủ Nam Sách, đối phó với Đề Quý.

- Binh đoàn Falkon và Faure đối phó với quân Đốc Tít ở Trại Sơn.

- Binh đoàn Rouseau và Founière bình định vùng Đông Triều(1).

Ngày 30/11/1885, quân Pháp do hai đại úy Falkon và Faure có 5 hạm tàu yểm hộ đã bao vậy Trại Sơn có 600 quân do Đốc Tít chỉ huy. Nghĩa quân chặn đánh quân Pháp, bắn chết tên chỉ huy tàu chiến trên sông Giá, gần khu lò gạch Thụ Khê, huyện Thuỷ Nguyên. Cũng trong ngày 30/11/1885, đại bác của quân Pháp trên tàu chiến ở sông Hàn Mấu, sông Bến Ngọc bắn dữ dội vào căn cứ Trại Sơn yểm hộ cho bộ binh tràn lên. Nghĩa quan dựa vào núi đá, hang động, lại có 3 con sông bao quanh là sông Kinh Thày, sông Hán, sông Con, địa hình rất hiểm trở. Sau khi bắn đại bác, chúng cho công binh dọn đường rồi cho bộ binh tiến lên.

Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt suốt 12 ngày đêm, quân Pháp không vào được căn cứ của nghĩa quân mà còn bị thiệt hại nặng nề. Nghĩa quân có 600 người chiến đấu kiên cường, sử dụng nhiều loại súng bắn nhanh, cả gươm, giáo, mã tấu để đánh gần. Nghĩa quân lợi dụng sườn núi dốc đứng làm bẫy đá gây cho quân Pháp thiệt hại nặng nề.

Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt đến nỗi bộ Tư lệnh quân Pháp ở Trung - Bắc Kỳ, điều động toàn bộ binh lính do thiếu tướng Négrier, đại tá Donnier, trung tá Godard đang càn quét Bãi Sậy phải vội vã đem quân về ứng cứu(2).

Ngày 11/12/1885, nghĩa quân chủ động rút khỏi Trại Sơn về lập căn cứ mới tại cù lao Hai Sông(3). Vị trí Hai Sông nằm trong phạm vi quân khu Hải Phòng của quân Pháp.

Căn cứ cù lao Hai Sông chưa được củng cố vững chắc thì quân Pháp tập trung pháo binh, công binh, bộ binh thủy quân lục chiến có tàu chiến gắn đại bác yểm hộ tấn công. Nghĩa quân đánh trả kịch liệt, cả hai bên điều thiệt hại nặng nề. Đốc Tít rút về huyện Đông Triều, Chí Linh.

Tại đây ông đã phối hợp với Lưu Kỳ, Đề Quý, Đốc Khoát liên tục tấn công các đồn binh Pháp và các toán quân Pháp coi phu làm đường Hải Dương - Chí Linh - Đông Triều gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Kẻ thù cũng phải thừa nhận; “Đốc Tít đã phục hồi được lực lượng sau trận tấn công của quân Pháp, vào cuối năm 1885, trở về hoạt động ở Hiệp Sơn, Giáp Sơn, Chí Linh. Tại vùng đất dân cư đã chịu ảnh hưởng và nhiệt tình ủng hộ ông từ mây năm trước, ông đã bổ sung được quân số. Tán Thuật cung cấp cho Đốc Tít tiền thu thuế, Lưu Kỳ cung cấp súng mua từ vùng biên giới Việt Trung về”(4).


(1) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Nguyễn Luận dịch năm 1975, bản đánh máy lưu tại thư viện Hải Dương.
(2) Theo Hồ Sanh: Việt Nam dưới ngọn cờ Cần vương xuất bản ở Sài Gòn năm 1948.
(3) Cù lao Hai Sông, bắc giáp sông Đá Bạc, nam giáp sông Kinh Thày, bởi sông Hàn Mấu, sông Đá Bạc cắt ngang cù lao Hai Sông chảy ra biển. Diện tích chiếm 2/3 huyện Thuỷ Nguyên, bốn xã của huyện Kinh môn, tới bến đò Triều.
(4) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc - Hải Dương 12/1932, Nguyễn Luận, bản đánh máy lưu tại thư viện Hải Dương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 06:16:40 pm »

Không đánh được căn cứ Bãi Sậy và thất bại trong việc tiêu diệt quân chủ lực của Đốc Tít ở căn cứ Trại Sơn, quân Pháp tập trung quân đánh Đề Ban ở căn cứ Tam Tổng, bắc Ân Thi. Để tránh giao chiến với lực lượng lớn quân Pháp, nhằm bảo tồn lực lượng, Đề Ban đưa hơn 1.000 quân chạy lên huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương. Chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật cùng Đề Vinh lên Đông Triều, bàn bạc với ông, chỉ giữ lại 300 người khỏe mạnh dũng cảm, trung thành được trang bị tốt làm quân cơ động. Chru tướng cũng để Đề Vinh ở lại giúp Đề Ban huấn luyện quân đội, sử dụng thành thạo súng bắn nhanh, ứng dụng chiến thuật đánh du kích như đột kích, tập kích, phục kích, dùng kế nghi binh lấy ít đánh nhiều. Đề Vinh cũng bồi dưỡng cho đội quân cơ động của Đề Ban làm công tác binh vận, ngụy vận, phân hóa hàng ngũ kẻ thù để tiêu diệt. Số quân còn lại là những người già yếu, gia đình neo đơn được trở về xã trở thành lực lượng đánh tại chỗ để bảo vệ làng xóm, làm nhiệm vụ sản xuất lương thực, cung cấp một phần cho nghĩa quân.

Từ đó Đề Ban không phải lo nhiều về lương thực, thực phẩm cho đội quân đông tới một nghìn người. Đội quân của ông chỉ có trên 300 người nhưng là đội quân tinh nhuệ, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, được trang bị tốt, nên đánh trận nào cũng thắng.

Quân Pháp bị thất bại liên tiếp đã phải thừa nhận: “Năm 1885 việc chống bọn cướp bóc chưa đạt được một tiến bộ nào trừ thời gian cuối năm, chúng ta không được an toàn dù chỉ là đi lại khoảng 1 giờ trong tỉnh. Cờ đỏ giương cao, những toán cướp chiếm giữ các thôn xã chính, chiếm giữ các ngả đường lớn, kiểm soát các khách bộ hành, chặn đứng mọi sự giao liên, gây nguy hiểm cho sự qua lại của những người mà họ có ý ngờ vực. Thường xuyên trong đêm, từ tỉnh ta nhìn thấy ánh lửa của nhiều thôn xã bị đốt cháy. Nhân dân sống trong thành phố liên tục sở hãi một cuộc tấn công mà đâu đâu cũng có tin đồn.

Đành phải điều một pháo hạm và một viện binh người Pháp đến nhằm xua tan nỗi kiếp sợ bao trùm”
(1).

Không đánh bại được Bắc Kỳ Hiệp thốn quân vụ Đại thần Nguyễn Thiện Thuậ trên chiến trường và không khuất phục được ông bằng những lời dụ dỗ đường mật của ông vua bù nhìn Đồng Khánh, một kẻ trung thành với đế quốc Pháp. Cuối năm 1885, giặc Pháp đã hèn hạ đến huyện Mỹ Hòa mộ những người làm gián điệp để phá cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy từ bên trong, ám sát thủ lĩnh Nguyễn Thiện Thuật và các thủ lĩnh khác. Chúng đến tận làng Xuân Dục, tập trung dân chúng lại gọi lý trưởng ra hỏi mồ mả tiền nhân họ Nguyễn ở đâu nhưng lý trưởng không trả lời. Giặc bắn chết ông, chúng lại bắt một thiếu niên 16 tuổi kề gươm vào cổ mà hỏi mồ mả họ Nguyễn ở đâu. Thiếu niên lắc đầu không đáp, giặc vung gươm chém, máu chảy ròng ròng từ đầu đến gót chân. Chàng thiếu niên anh dũng đã thét lên: “Đồ giặc giữ, quan Hiệp thống Nguyễn Thiện Thuật hết lòng vì nước, ta tiếc rằng không thể cầm roi ngựa mà đi theo ngài lẽ nào lại giúp bay làm điều bạo ngược!”.

Quân giặc không khai thác gì ở chàng thiếu niên dũng cảm lại bị chàng sỉ nhục, bọn dã man lấy vải quấn quay người thiếu niên tẩm dầu mà đốt. Chàng thiếu niên anh hùng bất khuất vẫn chửi mắng quân giặc cho tới lúc chết
(2).

Sau trận đánh thắng quân Pháp tấn công vào căn cứ Bãi Sậy và các căn cứ khác của nghĩa quân, Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật đã cho củng cố vững chắc hệ thống phòng thủ ở căn cứ Bãi Sậy hơn nữa. Các đường địa đạo được đào thêm, cấu trúc trận địa được thay đổi, các vọng gác cũ được rời đi nơi khác, thiết lập các vọng gác mới vừa bí mật vừa bất ngờ với địch.

Ông đặc biệt coi trọng việc phát triển binh lực ở các địa phương, các vùng có vị trí quân sư, kinh tế quan trong.

Thực hiện chủ trương trên của chủ soái các tướng lĩnh đã phát triển lực lượng, chia nghĩa quân thành những toán nhỏ 20-25 người hoạt động độc lập ở các làng xóm, trại ấp do những người có tài năng về quân sư chỉ huy. Nghĩa quân được tiếp nhận một số súng bắn nhanh còn lại họ tự sản xuất theo mẫu súng của Pháp.


(1) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(2) Nguyễn Thượng Hiền: Giọt lệ bể dâu. Trần Văn Giàu, Đinh Văn Xuân - Lịch sử cận đại Việt Nam, quyển 1, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1975.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 06:20:51 pm »

Nghĩa quân các làng phối hợp với nhau đánh thắng nhiều trận càn lớn của giặc tấn công các đồn Lực Điền (tổng Tứ Dương, huyện Yên Mỹ), Bình Phú (tổng Khoá Nhu, Yên Mỹ), Liêu Trung (tổng Liêu Xá, Yên Mỹ), Hoàng Trạch (tổng Mễ Sở, Khoái Châu) Quảng Bố, Mẫn Xá, Quan Đình, Quan Độ (Bắc Ninh), Mễ Đậu (Văn Lâm), An Định (Đông Triều). Nghĩa quân còn vượt sông Hồng phối hợp với nghĩa quân Lãnh Be (xã Tự Nhiên, Thường Tín) đánh sang Hà Nội, Hà Đông.

Nghĩa quân hoạt động mạnh gây cho quân Pháp nhiều tổn thất, ngay kẻ thù cũng phải thú nhận: “Chúng ta còn phải chiến đấu chống một kẻ thù rất khó tiêu diệt hơn cả việc chúng ta chiếm cứ được thủ phủ của tỉnh này. Nhưng toán cướp đông, được trang bị tốt có kỷ luật, dưới sự chỉ huy của những viên thủ lĩnh mà nhân dân đều kính phục. Mỗi viên thủ lĩnh lại có vùng chiến đấu riêng và như vậy họ chiếm toàn địa bàn. Họ là chỗ dựa của Tán Thuật về người, về vũ khí trong chuộ chiến đấu không khoan nhượng chống chúng ta với hy vọng không bao giờ mệt mỏi làm cho chúng ta lực cùng, sức kiệt, bằng cách tổ chức những hoạt động cừu địch buộc chúng ta phải sợ hãi ná đảm rồi rút khỏi Bắc Kỳ”(1).

Sau thất bại của quân Pháp ở Bãi Sậy và các cuộc khởi nghĩa khác ở Bắc kỳ, Trung Kỳ làm cho Thống tướng De Courcy thất bại cả về quân sư lẫn chính trị. Tướng De Courcy đã gặp phải sự chống đối gần như là của toàn thể dân chúng. Về quân sư, so sánh với những cuộc chiến tranh của Pháp ở Algéri, Tuynidi và cuộc xâm lược của đế quốc Anh ở Ấn Độ, Miến Điện thì tỉ lệ thương vong của Quân Pháp ở Trung - Bắc Kỳ lên cao nhất, gần 10%(2).

Cuộc chiến đấu của nhân dân Trung - Bắc Kỳ còn tác động ngay cả đến nước Pháp. Dư luận nước Pháp đã bàn cãi sôi nổi về vấn đền Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Trong vòng gần một năm những tin tức trực tiếp hay có liên quan đến những vấn đền này, đã chiếm vị trí trang nhất trên các báo chí của nước Pháp. Fournia viết: “Cho đến trước thế kỷ XX vấn đề Bắc Kỳ đã chiếm vị trí quan trong trong chính sách đối ngoại của nền “đệ tam cộng hòa Pháp”(3) và “… việc xâm lược Bắc - Trung Kỳ cũng gây ra những sự xáo trộn mạnh mẽ trong đời sống chính trị của nước Pháp(4).

Sang năm 1886, tướng De Courcy không chỉ phải đối phó với các căn cứ cũ của nghĩa quân Bãi Sậy được triển khia trên địa bàn rộng lớn tỉnh Hưng yên, các huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhân (nay thuộc Thái Bình) miền tây Hải Dương như căn cứ của Trung Lan - Đốc Đàm ở Thanh Hà, căn cứ Bối Giang và vùng phụ cận Ninh Giang, căn cứ Núi Voi ở An Lão, vùng rừng núi Đông Triều, Chí Linh, vùng cửa sông và các đảo, vùng Trại Sơn, Hai Sông ở Thuỷ Đường, Kinh Môn ỏ Hải Dương, vùng Lục Ngạn(5), Chạm Lộ - Tam Á của Thuận Thành (Bắc Ninh), mà còn phải đối phó với những căn cứ mới.

- Căn cứ nam Bắc Ninh do Hồng lô tự khanh tán lý quân vụ Ngô Quang Huy mới thiết lập từ đông Văn Giang qua nam Gia Lâm kéo dài tới vùng Thuận thành (nay là huyện Văn Lâm), phía tây nam Thuận Thành, vượt qua sông Đuống qua qua các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong của Bắc Ninh tới vùng lưu vực sông Cà Lồ thuộc các huyện Kim Anh(6), Đa Phúc(7) của Bắc Ninh, huyện Phổ Yên của Thái Nguyên, huyện Đông Anh nay thuộc Hà Nội.

- Căn cứ của Nguyễn Thiện Kế ở đông nam Bắc Ninh gồm các huyện Gia Bình, Lang Tài, phía đông huyện Siêu Loại (phủ Thuận Thành) của tỉnh Bắc Ninh, các huyện Bình Giang, Thanh Miện, Cầm Giàng (Hải Dương).

- Căn cứ Thị Cầu (Bắc Ninh) của Lãnh Giang phía bắc, phía nam sông Cầu.


(1) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(2), (3), (4) Những cuộc tiếp xúc của Pháp ở Trung và Bắc Kỳ từ năm 1885 đến năm 1896 của Charles Fourniau (Lescoutacre Francai Việt Nan miên en An Nam et au Tonkin de 1885 à 1896). Ngô Văn Hoà giới thiệu trong mục “đọc sách” trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6/1984.
(5) Huyện Lục Ngạn xưa thuộc tỉnh Bắc Ninh có 7 tổng khi thành lập tỉnh Bắc Giang thì thuộc tỉnh Bắc Giang. Nay 7 tổng được chia ra 3 huyện như sau:
- Huyện Lục Ngạn: tổng Niêm Sơn (Đào Gia, Nam Dương, Phong Minh, Phú Điền, Phú Nhuận, Tân Hoa, Tân Mộc, Xa Lý; tổng Kiên Lao: (Kiên Lao, Kiền Thành, Cấm Sơn, Hộ Đáp, Sơn Hải, Tân Sơn); tổng Hà Nộ: (Biện Sơn, Giáp Sơn, Hồng Quang, Phong Vân, Tân Quang, thành Hải). Tổng Biển Động(Biển Động, Kim Sơn và 6 xã thuộc huyện Sơn Động ở dưới.
- Huyện Lục Nam: tổng Võ Trang (Bình Sơn, Lục Sơn, Thường Sơn, Võ tranh). Tổng Cương Sơn (Cẩm Lý, Huyền Sơn, Cương Sơn, Nghĩa Phương) và xã Trường Hoàng của tổng Mỹ Lương.
- Huyện Sơn Động có 6 xã: Cẩm Đàn, Chiên Sơn, Giáo Liên, Phúc Thắng, Quế Sơn, Thạch Sơn của tổng Biển Động.
(6) Huyện Kim Anh đời Lê Quang Thuận gọi là huyện Kim Hoa, năm Thuận trị thứ nhất đổi là huyện Kim Anh, thuộc phủ Thiên Phúc, tỉnh Bắc Ninh.
(7) Huyện Đa Phúc trước là huyện Thiên Phúc, phủ Thiên Phúc, tỉnh Bắc Ninh, sau đổi là Đa Phúc thuộc tỉnh Phúc Yên.
Nay Kim Anh và Đa Phúc hợp nhất thành huyện Sóc Sơn, thuộc thành phố Hà Nội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2011, 06:23:43 pm »

Ba căn cứ trên mới triển khai từ cuối tháng 9/1885 nhưng đã rất sôi động, gây nên khí thế chống giặc Pháp chưa từng có ở các tỉnh châu thổ sông Hồng. Căn cứ của Ngô Quang Huy hoạt động công khai, hàng ngày các đội tuyên truyền, võ trang trống dong cờ mở đi tới các làng xã trong vùng tố cáo tội ác của giặc Pháp xâm lược, lên án vua bù nhìn Đồng Khánh và Nam triều tiếp tay cho giặc Pháp đàn áp phong trào Cần Vương, kêu gọi mọi người gia nhập quân đánh cả Triều lẫn Tây. Ngô Quang Huy cho đắp một con đê lớn, trên trồng tre dọc theo sông Nghĩa Trụ kéo dài từ phía tây bắc là xã Ngọc Linh, qua 3 xã Tuấn Dỵ, An Lạc, Vĩnh Bảo đến các xã Đông Khúc, Tráng Vũ, Kênh Cầu dài trên 20 km làm phòng tuyến chống Pháp và một số con đê khác từ xã Nghĩa Trai đến Cầu Ghênh (Nhạc Miếu) dìa 4 km làm tuyến phòng thủ(1).

Ngô Quang Huy khôn lập đại bản doanh ở An Lạc mà lập ở chùa Dâu(2). Ông thiết lập nhiều làng chiến đấu do các lãnh binh, đốc binh, hiệp quản… người làng xã đó chỉ huy như Đại Từ, Đông Mai, Nghĩa Lộ, hương Lãng, Thanh Khê, Phượng Trì, Ngọc Quỳnh ở nam Thuận Thành nay thuộc huyện Văn Lâm, tỉnh hưng Yên; An Lạc, Tuấn Dỵ xưa thuộc huyện Văn Giang nay thuộc huyện Văn Lâm, Phú Thị, Ngọc Trì, Dương Xá huyện Gia Lâm; Phù Lập, Long Khám (Tiên Du), Thuý Lâm (Quế Dương), Đẩu Sao (Kim Anh), Đông Tảo (Đa Phúc), Quan Đình, Quan Độ (Yên Phong, Bắc Ninh)…

Căn cứ của Nguyễn Thiện Kế ở đông nam Bắc Ninh gồm các huyện Gia Bình, Lang Tài ở phía đông huyện Thuận Thành (Bắc Ninh), Cẩm Giàng, Thanh Miện, Bình Giang (Hải Dương). Căn cứ này đã nối liền căn cứ Tam Tổng ở Bắc Ân Thi do Đề Ban chỉ huy với căn cứ của Đội Văn ở Phạm Lộ, Tam Á ơ phía đông Thuận Thành với căn cứ Lục Ngạn (Bắc Ninh) của Lưu Kỳ với căn cứ Lãnh Giang ở Thị Cầu. Căn cứ của Lãnh Giang ở Thị Cầu đã là cầu nối giữa căn cứ Yên Phong, Tiên Du của Ngô Quang Huy với căn cứ của Tổng Bưởi, Cai kinh ở Phủ Lạng Thương, Lạng Sơn và quân Cờ đen do tướng Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy, quân Thành do Đường Cảnh Tùng, Hoàng Quế Lan đóng ở Phủ Lạng Thương.Căn cứ của Lãnh Giang ở Thị Cầu còn án ngữ con đường bộ thiên lý Bắc nam từ Bắc Ninh qua Thị Cầu đi Phủ Lạng Thương, Lạng Sơn án ngữ đường sông từ Lục Đầu Giang theo sông Cầu ngược lên Thị Cầu để tấn công tỉnh thành Bắc Ninh từ phía bắc, tấn công Phủ Lạng Thương (nay là thị xã Bắc Giang) từ phía nam. Quan trong hơn nữa Lãnh Giang còn có một đội quân tham gia bảo vệ một trong ba tuyến đường vận chuyển vũ khí của Đề đốc Lưu Kỳ mua ở Quảng Đông, Quảng Tây về tập kết ở Thị Cầu trước khi phân phối cho nghĩa quân Bãi Sậy ở Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương.

Nghĩa quân Bãi Sậy vừa phát triển lực lượng vừa chặn đánh quân Pháp, bảo vệ vùng căn cứ và chủ động tấn công đồn binh Pháp. Từ cuối năm 1885 và 2 tháng đầu năm 1886, nghĩa quân đã đánh nhiều trận, trong đó có một số trận như sau:

- Trong trận đánh quân Pháp ở xã Nghĩa Trụ (Nay thuộc huyện Văn Giang), nghĩa quân mai phục sau chiến lũy, chặn đánh quân Pháp đi ca nô ở sông Nghĩa Trụ. Khi quân Pháp đổ bộ lên, nghĩa quân dùng mâm đồng, chậu thau làm mộc đỡ đạn đánh giáp lá cà. Trận này quân Pháp chết nhiều, nghĩa quân cũng bị thiệt hại nặng vì đạn súng bắn nhanh xuyên qua mâm đồng và chậu thau.

- Nghĩa quân các xã Hương Lăng, Thanh Khê, Phượng Trì(3) làm lễ tế ở đình Chạ Hiên, Hương Lăng rồi xuất quân đánh đồn Bần Yên Nhân.

- Ngô Quang Huy đích thân chỉ huy nghĩa quân tấn công đồn Ghênh, đồn Đống Mối (nay thuộc huyện Văn Lâm), đồn Bần Yên Nhân.

- Nghĩa quân Ngô Quang Huy phối hợp với nghĩa quân huyện Đường Hào(4) Hải Dương do Lãnh Nhàn, Lãnh Thảo, Đốc Muỗi chỉ huy đánh trận Cầu Lường (nay thuộc xã Bạch Sam, huyện Mỹ Hào) bắt được tên chỉ huy Pháp đưa về giết tế cờ khởi nghĩa.

- Nghĩa quân Đội Văn tấn công phủ Thuận Thành thu được trên 300 súng bắn nhanh lấy cả súng hỏng về sửa chữa.


(1) Chiến lũy vừa là phòng tuyến đánh giặc vừa là đê phòng lụt. Trong kháng chiến chống Pháp (1947-1954) bộ đội, du kích cũng dựa vào các lũy trên để đánh Pháp. Đến năm 1956, khi làm công trình thủy lợi Bắc - Hưng - Hải mở rộng lòng sông Nghĩa Trụ mới bị phá bỏ.
(2) Theo gia phả dòng họ Ngô Quang ở An Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm và tác giả ghi theo truyền ngôn vở vùng Dâu, Keo, Dương Xá, Phú Thị, Tô Khê…
(3) Nay cả 3 thôn thuộc xã Minh Hải, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
(4) Tháng 4/1886 đổi tên huyện Đường Hào thành huyện Mỹ Hào, huyện Đường An thành huyện Năng An, huyện Thuỷ Đường thành huyện Thuỷ Nguyên đuề thuộc tỉnh Hải Dương để khỏi trùng tên húy, tên hiệu của vua Đồng Khánh.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Năm, 2011, 07:52:17 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM