Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:21:44 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy  (Đọc 89216 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 07:54:55 am »

Tất cả những cố gắng của Thống tướng De Courcy không ngăn cản được nghĩa quân Bãi Sậy phát triển cả lực lượng và vùng kiểm soát. De Courcy còn bị thất bại ở các chiến trường khác ở Trung - Bắc Kỳ.

Vì vậy, ngày 16/2/1886, Thống tướng De Courcy đã bị chính phủ Pháp bãi chức Tổng chỉ huy quân đội Pháp kiêm Tổng trú sứ Trung - Bức Kỳ, chính phủ Pháp cử tướng Varnet sang đảm nhiệm hai chức vụ đó.

Ngay sau khi nhậm chức Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Trung và Bắc Kỳ kiêm chức Tổng trú sứ ở Trung và Bắc Kỳ trông coi việc dân sự, tướng Varnet đã bắt buộc phải thay đổi chiến lược mở những cuộc càn quét quy mô lớn của Thống tướng De Courcy bằng chiến lược phân tán quân đội thiết lập các đồn binh nhỏ ở khắp nơi, thực hiện chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt”.

Varnet mở nhiều trận đánh nghĩa quân Bãi Sậy, nhưng kết quả không đáng kể. Các đồn binh, các toán quân tuần tiễu của Varnet chỉ làm giảm chứ không ngăn cản được sự hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy.

Đi đôi với biện pháp quân sự, Varnet với cương vị Tổng trú sứ Trung và Bức Kỳ cũng chuyển chế độ cai trị từ chế độ quân quản sang chế độ cai trị dân sự. Công sứ được bổ nhiệm đầu tiên ở Hưng Yên là Thureau. Tổng đốc đầu tiên là Phạm Văn Chuẩn, nhưng thực quyền nằm trong tay tuần phủ Hoàng Cao Khải(1) một tên khét tiếng tàn bạo trong việc đàn áp nghĩa quân Bãi Sậy. Công sứ đầu tiên ở Hải Dương là Aumotité.

Ngoài lực lượng quân sư do Varnet phái tới các tỉnh thì công sứ, tuần phủ ba tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh đều có quân đội riêng để đàn áp nghĩa quân Bãi Sậy.

Để đối phó lại, chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật đã phải các đội vũ trang tuyên truyền đi tuyên đọc và niêm yết các bản tuyên cáo ở khắp các thôn xóm kêu gọi lính An Nam đào ngũ, bắn vào bọn chỉ huy Pháp, bọn quan chức Việt Nam theo Pháp lập công trở về hàng ngũ kháng chiến.

Lời kêu gọi đó có tác dụng, nhiều lính Nam trong quân đội Pháp bỏ ngũ thay tên đổi họ trốn lên rừng, số đông đem vũ khí gia nhập nghĩa quân. Đơn cử trong số hơn 600 quân của Đốc Tít có tới hai phần ba là lính khố xanh, lính khố đỏ và có cả hai hàng binh Pháp là Clausede và Martin.

Mặc dù Varnet trổ hết tài năng binh nghiệp để đối phó với nghĩa quân Bãi Sậy và các lực lượng kháng chiến khác ở Trung và Bắc Kỳ, nhưng hai tháng nhậm chức tối cao về quân sư và dân sự, Varnet không xoay chuyển được tình thế, trái lại các cuộc khởi nghĩa ở Trung và Bắc Kỳ vẫn được duy trì và phát triển mạnh. Thực tế đó đã buộc chính phủ Pháp phải thay đổi chính sách cai trị ở Trung và Bắc Kỳ. Ngày 8/4/1886, Paulber, bộ trưởng bộ Giáo dục Pháp được tổng thống Pháp cử làm trú sứ dân sự Trung và Bắc Kỳ do tướng Varnet bàn giao(2). Ngày 24/4/1886 tướng Varnet phải giao chức chỉ huy quân đội Pháp ở Trung và Bắc Kỳ cho trung tướng Zamont và bị triệu hồi về nước kết thúc cuộc đời binh nghiệp ngắn ngủi ở Việt Nam.

Lực lượng quân viễn chinh Pháp ở Trung vả Bắc Kỳ khi Zamont tiếp quản 3 sư đoàn riêng ở Bắc Kỳ có 2 sư đoàn; sư đoàn bộ binh có 3 lữ đoàn, sư đoàn Hải quân có 41 tàu chiến(3).

Ngay khi mới được nhậm chức, trung tướng Zamont đã ra mệnh lệnh ngày 1/5/1886 giao cho công sứ và chỉ huy các đạo quân Pháp đóng ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương,Bắc Ninh bổ sung lính, vũ khí cho các đồn bốt sẵn có, đóng thêm các đồn bốt mới. Chỉ trong một thời gian ngắn các đồn binh của quân Pháp như Kẻ Sặt, Bình Giang, Cẩm Giàng, Định Đào, Bần yên Nhân, Dị Sử, Ninh Giang (Hải Dương), Tổng Long, Bình Phú, Lực Điền, chợ huyện, Ghềnh (Hưng Yên), Phú Dương, Hùng Giao, Hải Châu, Hương Giang (phủ Đa Phúc) và hàng loạt đồn bốt khác được bổ sung quân số, vũ khí(4).

Những đồn bốt này do lính Pháp, lính Châu Phi và ngụy binh đóng giữ. Quân Pháp còn cho quân tuần tiễu khắp trong vùng. Các binh đoàn do Bouchaud, Fouque, Bellemare, Bazinet chỉ huy còn có các toán quân cơ động sẵn sàng dàn áp, truy kích nghĩa quân(5).

Tại Hải Dương, để đàn áp cuộc kháng chiến của nghĩa quân, tiến hành bắt phu, bắt lính, thu thuế nhân dân Chí Linh, tháng 6/1886 Thực dân Pháp thiết lập huyện Chí Linh thành đơn vị hành chính thuộc phủ Nam Sách(6) (trước do tri phủ Nam Sách kiêm lý). Tòa sứ Hải Dương còn thành lập các đồn cảnh sát và dân binh đóng ở tỉnh lỵ, các phủ lỵ, huyện lỵ và những vi trí giao thông quan trọng).


(1) Hoàng Cao Khải còn làm tuần phủ Hải Dương, Bắc Ninh kiêm tiễu phủ sứ đánh phá cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.
(2) Ngày 11/11/1886 Paulber chết vì bệnh dịch tả ở Hà Nội.
(3) Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989.
(4) Báo La Venier du Tonkin tháng 5/1886.
(5) Piglowski: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
(6) Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:00:58 am »

Với chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt” theo lệnh của Tòa khâm sứ Pháp, Đồng Khánh bắt lính người Vệt ở Bắc Kỳ lên tới 27.539 tên, chia làm 4 đạo, riêng Hưng Yên, Hải Dương nơi nghĩa quân Bãi Sậy hoạt động mạnh được đặt dưới quyền đạo quân thứ tư cơ động tới 6860 tên, trong đó 5000 là lính tập, 1680 lính phuc dịch ở các tỉnh đạo và công sứ(1).

Nuyret trở về Hải Dương làm công sứ Hải Dương thay cho Aumoitte(2). Nuyret đã đôn dân binh trở thành Bảo anh binh dân sự. Lực lượng này được trang bị không kém gì lính khố xanh, đóng đồn bốt khắp các địa bàn trong tỉnh hình thành từng cụm quân sự, cum lưu động, dựa vào nhau, chi viện cho nhau khi bị nghĩa quân tấn công, chỉ để lại ở thành phố 200 tên làm nhiệm vụ thường trực cơ động khi cần thiết.

Những đồn binh mới này do những viên vệ binh chính chỉ huy và đặt dưới quyền quản lý của các quan phủ, huyện. Các quan phủ, huyện có quyền trưng tập các đội quân cảnh sát, bảo an dân sự trên để đàn áp nghĩa quân, triệt phá các làng xóm ủng hộ nghĩa quân, bắt phu, bắt lính và làm áp lực hỗ trợ cho các nhân viên thu thuế.

Một số quan phủ, huyện phản động trước kia phải lẩn trốn ở tỉnh lỵ, nay trở về đội quân trên đi cướp bóc các nhà giàu có, chỉ cần vu cho họ cái tội ủng hộ nghĩa quân. Nhiều làng ủng hộ nghĩa quân, bị bọn quan lại đưa lính đến bắt người cướp thóc lúa, trâu bồ, rồi công khai đòi tiền chuộc. Những việc oan khốc trên, thống trị Pháp và quan lại Nam triều đều rõ nhưng vẫn làm ngơ. Để uy hiếp tinh thần nghĩa quân và nhân dân, ngày 21/8/1887, quân Pháp xử tử 4 nghĩa quân tại chợ, cạnh phố Hàng Bài, Hà Nội.

Cũng trong tháng 6/1886, vua bù nhìn Đồng Khánh hạ lệnh “Cấm không ai được tàng trữ cất giấu vũ khí kể từ mác, đao, kiếm đến súng quy định cách thưởng cho những ai tự động đem đến nộp và tố giác những người tàng trữ các lọi vũ khí ấy (sẽ được tưởng tiền, phẩm hàm), quy định cách phạt những người vi phạm lệnh này (phạt tiền, đóng gông tịch thu tài sản)”(3).

Năm 1886, Đốc Tít từ Chí Linh, Đông Triều trở về xây dựng lại căn cứ Trại Sơn và Hai Sông. Tất cả các lối vào hang động, các điểm cao đều đặt súng thần công, súng “thập bát”, “thập tam”, địa lội.

Chỉ trong bốn tháng đầu năm, Đốc Tít chẳng những phục hồi được lực lượng quân sự mà quân số còn tăng. Vũ Khí được trang bị tốt, do nhiều nguồn đó là do bà Nguyễn Thị Thành, chị gái Đốc Tít giữ chức “Quản đốc vũ khí” mua từ Quảng Đông, Quảng Tây về, đó là súng của đường dây Lưu Kỳ cũng mua ở Quảng Đông, Quảng Tây, đó là súng đạn do ông Ôbe thương gia người Thụy Điển ở Hải Phòng bí mật bán cho nghĩa quân. Còn một nguồn quan trọng nữa là súng tự chế do hai hàng binh Pháp là Clausede và Martin chế tạo ngay tại căn cứ Trại Sơn. Vì thế Thực dân Pháp đã phải thừa nhận: “Vũ khí của Đốc Tít có nhiều súng bắn nhanh do Pháp và các nước Châu Âu sản xuất có tới 150 khẩu, có cả súng “thập tam”, “thập bát”. Đến cuối năm 1884, đầu năm 1885 thì 600 quân của Đốc Tít được trang bị tới 500 súng bắn nhanh còn lại là súng kíp, hỏa mai”(4).

Kẻ thù của chúng ta cũng phải công nhận: "Trong khu sào huyệt có đảo hai con sông, Đốc Tít mạnh lên, Đốc Tít đã có 150 súng. Mọi lực lượng của chúng ta đi qua vùng này đã bị tiến đánh. Đốc Tít còn liên kết với những toán cướp Tàu”(5).

Có lực lượng mạnh, trang bị vũ khí hiện đại, tháng 5/1886 nghĩa quân Đốc Tít đánh 3 tàu chiến của Pháp tại Hang Sơn, sông Đá Bạc lên yểm hộ cho lục quân vây càn Đông Triều, một tàu bị bắn trọng thương mất thăng bằng đâm vào một chiếc tàu khác, cả hai tàu đều cháy, quân Pháp phải kéo về Ninh Hải (Hải Phòng). Quân trên bộ bị nghĩa quân đánh cho tổn thất vội vã rút về Hiệp Sơn đóng lại. Đến đêm Đốc Tít đưa nghĩa quân đến đánh úp tiêu diệt đại đội Âu - Phi ở cầu Ba đến nay nhân dân vẫn còn truyền tụng về trận đánh đó(6).

Để ngăn chặn hoạt động của nghĩa quân và li khai giữa nghĩa quân với nhân dân, các công sứ Pháp ở Hải Dương là Négrier sau đó đến Morel đã mở nhiều cuộc thành quân bình định xây dựng ngụy quyền từ tỉnh, phủ, huyện đến các tổng, xã. Công sứ Auvenge cho xây dựng lại lực lượng dân binh, cho phép tòa sứ có một đội vũ trang làm chỗ dựa uy quyền cho quan chức bản xứ trong khu vực hành chính của họ. Biện pháp này cùng với biện pháp xây dựng thêm niều cứ điểm mới cho đội quân chính ngạch hoặc dân binh đã đem lại kết quả là đưa lại trật tự cho nhiều vùng trong tình. Đáng phần nàn là những biện pháp kể trên còn nhược điểm để hình thành trên toàn cục và rải ra khắp mọi nơi cần đến(7).


(1) Báo La Venier du Tonkin tháng 5/1886.
(2) Công sứ đầu tiên của Hải Dương là Aumoitte, tiếp đó là Nuyret, Morel, Auvvergne, Debisse, Adamolle, Robineau, Groleau.
(3) Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989.
(4), (5) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(6) Vũ Thanh Sơn, Tướng lĩnh Bãi Sậy, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2001, trang 254.
(7) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:05:58 am »

Mặc dù quân Pháp liên tục mở các cuộc hành quân đánh phá căn cứ của nghĩa quân, phá hủy nhiều làng xóm nơi nghĩa quân đồn trú, nghĩa quân chẳng những chống càn thắng lợi mà còn liên tục tấn công địch.

- Ngày 25/6/1886 nghĩa quân từ Bãi Sậy triển khai hoạt động ở Hà Nội. Đêm 25 rạng ngày 26/6, Lãnh Giang chỉ huy nghĩa quân tấn công một đồn binh ở Cầu Đuống, cách Hà Nội 10 kilômét(1).

Ngày 9/9/1886, Lưu Kỳ chỉ huy hoảng 1100 nghĩa quân ngươi Tàu đã lọt vào một làng gần đồn Đông Triều. Nghĩa quân đã tung một tin giả dụ viên thiếu tá chỉ huy đồn điều quân đi đàn áp ở một nơi khác. Đại úy Bertnand thuộc đơn vị số 4 Bắc Kỳ chỉ huy đồn có 160 tay súng lại được sự hỗ trợ tích cực của thiếu úy Hardoem thuộc đơn vị Hải quân số 1 và toán quân của viên đội nhất Poulet, Blanchou, Ricon thuộc đơn vị số 4 Bắc Kỳ chống lại quyết liệt nên sau vài giờ chiến đấu, nghĩa quân phải rút khỏi thị trấn Đông Triều(2).

Tháng 9/1866 nhân phiên chợ gần đồn Ứng Lôi (còn gọi là poste des bambeus) thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, 50 nghĩa quân giả làm phu khuân vác, mỗi người mang một bó cúi đến đồn của Delaforge để cung cấp củi cho binh sĩ mùa đông. Bọn lính gác không ngờ đã cho anh em vào. Vào trong đồn, nghĩa binh vứt củi, rút đoản đao súng ngắn được giấu trong các bó củi chém giết, cướp vũ khí đạn dược(3).

- Ngày 27/9/1886, nghĩa quân Bãi Sậy tấn công đồn Bần Yên Nhân(4).

- Ba Báo(5) đứng đầu một đội quân có kỷ luật và được trang bị rất tốt. Báo là người tổ chức tất cả các cuộc tấn công vào những đồn binh và những đội thám báo của chúng ta. Chính Báo là người chỉ huy cuộc tấn công táo bạo vào chiếc xà lúp (chaloupe) chở thư đường sông La Raphael vào tháng 12 vừa qua. Để trả thù cho thất bại trên, quân Pháp bắt bớ, hành hình một cách man rợ hàng trăm dân thường, đốt cháy hàng chục làng xóm(6).

- Tháng 12/1886 binh đoàn Bazinéte bị nghĩa quân đánh ở Lạc Đạo, Cống Hà (tổng Đại Từ, huyện Văn Lâm); Kẻ Sặt (huyện Binh Giang) bị thiệt hại nặng nề.

Để trả thù quân Pháp đã đốt trụi các làng trên, tàn sát dân thường vì không báo cho quân Pháp biết hoạt động của nghĩa quân(7).

Năm 1886 thế và lực của nghĩa quân Bãi Sậy rất mạnh, áp đảo quân địch. Cụ bà Nguyễn Tuy, thân mẫu ông Tán tạ thế. Ông tán tổ chức đám tang rất lớn ở làng Xuân Nhân, sát làng Xuân Đào. Về đám tang này, Phạm Văn Thụ, người xã Bạch Sam, Thượng thư triều Khải Định viết như sau:

“Hết thảy tướng tá Trung và Bắc Kỳ đều về hội tang. Khắp Đông - Bắc - Hưng (Hải Dương - Bắc Ninh - Hưng Yên) các tổng xã xung quanh đều có quân đóng. Bò, gạo phúng viếng vô kể. Quân đi như nước chảy. Đêm cất đám, mỗi tướng tá cầm cây đại bạch lạp sáng rực góc trời. Lính các đồn Tây đều trông rõ, nhưng không dám bắn ra. Huyệt xây thành lăng. Trước khi cụ Tán trảy quân đi lại phá làng, mật thiên đi các nơi khác” (sợ giặc phá trộm nhà)(8).

Năm 1886 là năm thực dân Pháp thay đổi chiến thuật từ “đánh nhanh. thắng nhanh” sang “chiến thuật vết dầu loang” đã phải mấy lần đổi tướng Tổng chỉ huy(9). Nhận xét về tình hình an ninh Dulleman viết: “Năm 1886 tình hình an ninh đã khá hơn, chỉ còn những toán cướp lớn quấy rối vùng mỏ Chí Linh, Đông Triều. Phỉ Tàu thành viên của các toán hoạt động khủng bố khắp vùng. Sợ bị trả thù, bọn hào mục không dám cung cấp tình hình cho chúng ta nữa và họ tuyên bố thẳng là họ lại sẵn sàng giúp đỡ nếu như chúng ta bảo đảm được sự an toàn cho họ”(10)… Bonnal cũng nhận định: “trong khi đó ngày lại ngày bọn phản nghịch đều thu được thắng lợi, các quan chức và những viên thủ lĩnh chiến đấu nhằm mục đích lật đổ vị hoàng đế do nước Pháp lập nên có hại cho Hàm Nghi - một ông vua hợp pháp của họ. Ở Bắc Kỳ, lũ phản nghịch sống trong vùng đầm lậy Bãi Sậy gồm những tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh. Từ nơi này bọn họ có thể tổ chức và chuẩn bị cho những cuộc thâm nhập vào địa bàn những tỉnh lân cận”.



(1) Minh Thành: Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Tạp chí Nghiên cứ lịch sử, số 122, 123 tháng 5,6/1999.
(2) Báo Tương lai Bắc Kỳ số 15 ra ngày 25/9/1886.
(3) Theo Mason: Souvenirs de l’AnNam et du Tonkin. Trận này xảy ra ở vùng Bãi Sậy. Còn theo A de Miribel trận này xảy ra ở đồn Ứng Lôi.
(4) Minh Thành: Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 122, 123 tháng 5,6/1969.
(5) Tức Tạ Quang Báo, con trai thứ ba Tạ Hiện.
(6), (7) Piglowski: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
(8) Học Phi: Một thượng thư triều đình Huế viết về nghĩa quân Bãi Sậy. Tạp chí Phố Hiến, tháng 5/1969.
(9) Thống tướng Général Bousel de Courcy, Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Trnng - Bắc Kỳ và kiêm cả chức Tổng trú sứ Trung Bắc Kỳ từ tháng 5/6/1885 đến 25/1/1886 thì bị triệu hồi về Pháp (vì phải tập trung chỉ đạo chiến tranh, phải ủy quyền Tổng trú sứ cho Đờ Săm pô (De champlaus) từ 5 tháng 6/1885 đến tháng 3/10/1885, cho Hécto (Hector) từ tháng 10/1885 đến tháng 4/1886. Tướng Vénê (Warnet) lên thay từ 27 tháng 1/1886 đến 4/71886 hắn cũng phải ủy quyền cho Hécto giữ chức Tổng trú sứ). Từ tháng 4/1886 đến tháng trung tướng Zamont lên thay chức Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Trung - Bắc Kỳ.
(10) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và chuộc chiến đấu chóng cướp bóc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:09:15 am »

CHƯƠNG III

NGHĨA QUÂN PHẢI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI
GIẶC PHÁP VÀ TRIỀU ĐÌNH ĐỒNG KHÁNH
(1/1887-12/1887)

Nghĩa quân Bãi Sậy chẳng những chỉ chiến đấu chống quân Pháp xâm lược mà còn phải chống cả triều đình Đồng Khánh nên đã phải thực hiện khẩu hiệu “Chống cả triều lẫn Tây”. Khẩu hiệu này không phải là mới mà đã được nhiều thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa lấy làm mục tiêu chiến đấu như Trần Tấn và Đặng Thai Mai, huyện Thanh Cương tỉnh Nghệ An đã khởi nghĩa nêu cao khẩu hiệu: “chống cả triều lẫn Tây” khi Tự Đức ký với Pháp “Hiệp ước Hoà bình và liên minh” ngày 15/3/1874.

Cũng trong tháng 3/1874 Hồ Sĩ Công ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã khởi nghĩa đánh cả quân Pháp, quân triều đình, quân Đạo Thiên chúa phản động nê có câu ca:

“Dập dìu súng bắn cờ xiêu
Phen này quyết đánh cả triều lẫn Tây”

Khi đó vua Tự Đức và phe chủ hòa tức phe đầu hàng mới chỉ bán rẻ một phần đất nước cho giặc bằng các hiệp ước còn Ưng Đường được thực dân Pháp đưa lên làm vua ngày 19/9/1885 thay cho vua Hàm Nghi đặt niên hiệu là Đồng Khánh. Vừa ngồi vào ngai vàng đã viết thư cho Tổng thống Pháp. Trong thư có đoạn: “Cái ân giúp cho ấy không biết lấy báo đáp, nước tôi xin nhận quý quốc là thượng quốc, và xin tuyên bố đô thống đại thần Cơ Suy (tức De Courcy) là “Bảo hộ quận vương”, Khâm sứ đại thần Champleaux làm “bảo hộ công…”(1).

Tiếp đó trong các tháng 9, 11/1885, các tháng, 6, 7/1886, Đồng Khánh liên tiếp ra các đạo dụ cho quan lại địa phương hễ bắt được Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn cho xử chém ngay.

Đồng Khánh còn sai quân triều đình đi đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa. Tháng 12/1885 nhân dân phủ Nha Sơn và phủ Diễn Châu (Nghệ An) nỏi dậy đánh chiếm phủ thành, quan quân quân đều bỏ chạy. Đồng Khánh cho quân đến đàn áp thì bị nghĩa quân đánh cho tan tác, các lãnh binh, hiệp quản, suất đội của quân triều đình đều bị bắt sống. Đồng Khánh xin quân Pháp đến giúp sức giập tắt phong trào. Sau đó, Đồng Khánh cầu cứu quân Pháp đóng ở phủ Cam Lộ, huyên Minh Linh, xã An Hà, huyện Do Linh đàn áp cuộc kháng chiến ở Quảng Trị. Đồng Khánh còn ban thưởng hậu hĩ cho những kẻ bắt giết hại được các thủ lĩnh nghĩa quân.

Tháng 6/1886, Đồng Khánh hạ lệnh cấm không ai được tàng trữ cất giấu các loại vũ khí kể từ giáo mác, đao, kiếm đến súng, quy định thưởng cho người tố giác, phạt người chứa chấp. Đến tháng 11/1886, Đồng Khánh lại quy định mức thưởng đối với những người bắt được nghĩa quân đem nộp và phạt người cố tình che giấu nghĩa quân.

Sau năm 1887, vua bù nhìn Đồng Khánh công khai tiếp tay cho giặc Pháp đàn áp các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân. Tháng giêng, vua bù nhìn Đồng Khánh quy định mức độ trừng phạt đối với nghĩa binh bị bắt: xử chém ngay lập tức những ai giữ chức từ suất đội trở lên; dưới suất đội đưa đi đày khổ sai từ 5 đến 10 năm và cưỡng bức lao dịch tại Đà Nẵng và các công sở.

Đối với cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, bộ máy cai trị của Nam triều ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh cũng được tăng cường bằng việc tháng 1/1887, Kinh lược sứ Bắc Kỳ Nguyễn Trọng Hợp xin với Đồng Khánh đổi tổng đốc Phạm Văn Chuẩn là vị quan thanh liêm có cảm tình với nghĩa quân Bãi Sậy, cho Hoàng Cao Khải từ chức tuần phủ và thăng lên Tổng đốc kiêm tuần phủ ba tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh kiêm chức Tiễu phủ sức đặc trách đàn áp cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy(2).

Đồng Khánh cũng cho phép Tổng đốc, Tuần phủ bố chính và cả tri phủ, tri huyện ở các tỉnh có nghĩa quân Bãi Sậy hoạt động được tuyển mộ quân, lập đồn bốt để đánh phá các căn cứ của nghĩa quân. Mạng lưới mật vụ, chỉ điểm cũng được chúng tổ chức dày đặc để rình mò mọi hoạt động của nghĩa quân và các làng xã ủng hộ nghĩa quân.


(1) Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, Sđd
(2) Quốc sử quán triều Nguyễn: Quốc triều chính biên toát yếu, Quyển 6, Nhà xuất bản Đắc lập, Huế, năm 1923.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:11:18 am »

Mặc dù bị giặc Pháp, quân đội Nam triều đánh phá ác liệt, nghĩa quân Bãi Sậy dưới sự chỉ huy của Bắc Kỳ hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện thuật và các tướng lĩnh đã kịp thời thay đổi chiến thuật tác chiến cho phù hợp với tình thế mới nên đã liên tục tấn công giặc.

Tháng 1/1887, Lãnh Giang về hội sư với Khoát, Ba Báo, Văn và Quý. Kết quả của sự nhất trí của họ thể hiện ngay. Lần lượt 3 chiếc xà lúp luôn bị tấn công trên sông Luộc. Một chiếc trong đó vì thủy thủ bỏ chạy nên bị cướp phá. Trong các cuộc tuần tra, pháo binh và dân binh của chúng ta vẫn thường xuyên đụng độ với những toán cướp. Lại một đồn binh suýt bị hạ. Mặt khác, lại có tin nhiều cuộc tập trung quân đang được xúc tiến trong vùng Ninh Giang, cả Tham Tán Thuật có có mặt ở Bối Giang.

Một cuộc thảo phạt được quyết định. Lực lượng chúng ta gồm có lính lê dương, lính của đại đội Châu Phi và pháo binh liền ba mặt đánh vào Bối Giang. Làng này bị chọc thủng. Chúng ta bắt được 50 tên, nhiều vũ khí. Không may cho chúng ta, Tán Thuật, Khoát và những tên thủ lĩnh khác lại chạy thoát được. Ngài thiếu tá chỉ huy trận đánh muốn đè bẹp ý chí đề kháng của dân làng bằng cách san bằng thành lũy bao quanh, song việc thực hiện rất khó khăn, ngài đánh bỏ chủ trương trên và đánh bằng lòng với chủ trương chặt một quãng hàng rào tre vậy.

Trên địa bàn khác, có tin Báo, Quý đang ở Gia Lộc, Tứ Kỳ. Cùng lúc một bộ phận của lực lượng bình định đang thảo phạt vùng Bãi Sậy tỉnh Hưng Yên, qua tỉnh Hải Dương về càn quét vùng giáp ranh tỉnh Hưng Yên và tỉnh Bắc Ninh. Sự tăng gia số lượng của dân binh cho phép cắm thêm một số đồn trên một số điểm mới… Để tăng cường phương tiện hành động cho các quan chức bản xứ, Tòa sứ tổ chức cho họ một đội phòng vệ đặc biệt (gorde spéciale). Đội này gồm những nhân viên chọn lọc. Sau đó được huấn luyện trang bị súng ống. Nhờ có đội phòng viên quan thiếu năng lực bị thay thế. Một vài tên xác định là có cảm tình với bọn cướp bị đày đi Côn Đảo. Những thôn xã tin cậy được phép trang bị vũ khí. Nhiều biện pháp nghiêm ngặt đã sử dụng thắng lợi với bọn hào mục quen nộp thuế cho địch, không chịu thuế cho ta. Sau hết là một sự trừng phạt ác liệt với những thôn xã đã để địch dùng làm sào huyệt… Tán Thuật, Lãnh Giang, Đề đốc Hiện, Tổng Kênh, Đốc Tít, Đốc Sung vẫn có mặt trong tỉnh. Đội ngũ của họ chưa xây dựng được vững mạnh bằng trước, nhưng bù lại, họ rất thiện chiến. Vì vậy mà nọ vẫn hoạt động và luôn luôn giao chiến với chúng ta. Rất nhiều lần họ còn chủ động tấn công chúng ta, tìm cách nhổ những đồn binh của chúng ta và tập kích vào lực lượng của chúng ta”(1).

Tháng 3/1887 (ngày 10/2 âm lịch) nghĩa quân tổng Đặng Xá, huyện Ân Thi nhận được tin báo ngày 10/2 âm lịch, quân Pháp từ Trương Xá (Kim Động) léo lên đánh phá ba tổng Huệ Lai, Đỗ Xá, Phủ Vệ ở bắc Ân Thi, lập tức thông tin cho nhau hình thành một trận hợp đồng tác chiến, đón đường chặn đánh bọn giặc không cho chúng đem quân lên đàn áp ba tổng phía bắc. Các đầu lĩnh nhất trí chọn “Quán Cháo” làm “điểm quyết chiến”. Nghĩa quân chia làm ba mũi do các ông Cai Con, Đặng Quang Hiệp, Ba Báo, Đào Văn Tập, Đào Đình Diện chỉ huy.

Tuy nhiên, giặc đến quá sớm, nghĩa quân chưa kịp triển khai, nhưng Cai Con và Cai Tuy vẫn mỗi người một ngựa cầm dao xông ra chém giết quân giặc. Quân giặc bàng hoàng không kịp đối phó, ba ông chém chết gần một chục tên rồi đều hy sinh.

Nghĩa quân Tạ Hiện thường phối hợp tác chiến với các cánh quân Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Kế, Đốc Tít, Đề Quý, Lưu Kỳ chỉ huy đánh thắng quân Pháp nhiền trận ở Hải Dương. Ông còn quan hệ chặt chẽ với nhiều người Việt, người Hoa cùng đánh Pháp. Trong một trận kịch chiến ở Bình Bắc, Phả Lại huyện Chí Linh ngày 2/2/1887, giặc Pháp bắt được Tạ Hiện và giết chết.

Trong suốt mùa xuân 1887, nghĩa quân Tạ Quang Báo phối hợp với quân Đề Quý hoạt động mạnh ở Chí Linh, Thanh Hà, Đông Triều, trên các dòng sông Kinh Thày, sông Hán, sông Con. Quân của ông đánh quân Pháp dữ đội, tập kích các đồn binh Pháp.

Ngày 15/4/1887 viên trưởng đồn Bình Bao đã đụng đội với một lực lượng nghĩa quân do viên Thủ lĩnh trứ danh Ba Báo. Qua cuộc chiến gay gắt Ba Báo đã rơi vào tay Echnsduler. “Từ ba năm nay Ba Báo là kẻ thù tích cực của chúng ta. Giàu có và có học, với sự hào phóng của mình, Ba Báo đã chiêu mộ được nhiều thuộc hạ trong vùng Đông Triều, Phả Lại và vùng hạ lưu đồng bằng.

Đứng đầu một toán quân có kỷ luật và được trang bị rất tốt, Báo là người tổ chức tất cả những cuộc tấn công vào những đội thám báo của chúng ta. Cũng chính Báo là người chỉ huy cuộc tấn công táo bạo vào chiếc xà lúp chở thư đường sông La Rafael của chúng ta từ hồi tháng 12 vừa qua. Báo có rất nhiều quan hệ với những viên thủ lĩnh người Tàu với những viên quan chức phản nghịch và đã thoát khỏi nhiều cuộc truy lùng cũng như đã làm thất bại nhiều nỗ lực của chúng ta”.

Ba Báo bị bắt ngày 15/4/1887 thì hôm sau 26/4/1887 giặc Pháp sợ ông vượt ngục nên xử bắn ngay(2).

Sau vụ bắt giữ viên thủ lĩnh Ba Báo của trung úy Eckensduler, ngày 12/5, dân binh lại truy lùng Chánh Sương một viên trung úy của Báo và bắt được ở làng Kinh Thuỷ. Sương bị bắn chết ngay (18/5/1887)(3).


(1) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(2), (3) Piglowski: viết trong cuốn Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ; “Ngày 13/4/1889 quân Pháp mua chuộc một tên tay sai bắt Báo nộp cho Trung úy Etvuer chỉ huy đồn Bình Bạch. Sau khi Ba Báo hy sinh quân của ông tấn công đồn Bình Bạch giết chết trung úy Đơ ma riêng mới về thay cho tên Etvuer đã về Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:13:34 am »

Ba Báo và Chánh Sương bị giết song những tướng lĩnh dưới quyền Ba Báo vẫn tổ chức nhiều trận tấn công quân Pháp trả thù cho thủ lĩnh như:

- 9 giờ sáng ngày 17/6/1887, nghĩa quân đã tấn công xà lúp Madalay của gia đình Ulyassa Pila và công ty trên sông Luộc khoảng giữa Ninh Giang và Phù Cừ.

Chiếc xà lúp Antoinette chở thư đường sông Hà Nội - Hải Phòng đã bắt gặp chiếc Maladay sau khi Maladay bị tấn công. Chiếc xà lúp Antoinette được một đồn lính canh yểm trợ nên đã cập bến Hải Phòng vào ngày 29/6/1887(1).

- Tháng 7/1887, Đội Văn tấn công Phố Bạc (nay là thị tứ xã Bạch Sam huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên).

- Lãnh Giang mở rộng địa bàn hoạt động sang tỉnh Hải Dương. Thực dân Pháp phải thừa nhận: “Năm 1887 trong thời gian chờ đợi, công việc bình định chỉ tiến hành hững bước yếu ớt. Từ tháng giêng năm 1887, Lãnh Giang lại trở về trong tỉnh và liên kết với Khoát, Ba Báo, Văn, Quý. Kết quả của viêc này chẳng bao lâu đã rõ. Vụ nọ tiếp vụ kia, ba tàu buôn nhỏ bị tấn công trên sông Luộc. Một tàu bị bỏ lại và bị cướp”(2).

“Trong những cuộc truy lùng địch các đội lính khố đỏ và lính khố xanh của chúng ta luôn luôn xung đột với các đám giặc đương đầu với họ, có một bốt suýt nữa bị họ chiếm”(3).

Cũng trong năm 1887, quân Pháp mở cuộc hành quân lớn vào tổng Trúc Động(4). Đốc Tít biết trước bày sẵn thế trận cho nghĩa quân khiêu chiến nhử dịch vào vòng vây rồi nhất loạt nổ súng. Địch chết chồng lên nhau ở cánh đồng Lan, Mai Động. Nhân dân nhặt xác cả lính Pháp - Phi lẫn ngụy chôn chung một hố gọi là mả tây cây sòi.

Tháng 7/1887, trận đánh trên sông gần chùa Hang Sơn. Quân Pháp bị chìm một ca nô, bị hỏng hai chiếc, 20 tên lính chết, 15 bị thương(5).

Tháng 8/1887, Nuyret được Thống sức Bắc Kỳ bổ nhiệm làm công sứ Hải Dương. Hắn là một tên ác ôn khét tiếng đã cùng tên trung tá Piot cai quản Hải Dương đàn áp phong trào cách mạng trong tỉnh Hải Dương(6).

Nuyret và Piot đã sử dụng lực lượng cảnh sát để đảm nhận nhiệm vụ chính đánh phá nghĩa quân. Ngoài lực lượng cảnh sát chính này, chúng còn tuyển một lực lượng dân binh trong tỉnh Hải Dương lên tới 800 tên hỗ trợ cho cảnh sát chính ngạch. Lực lượng cảnh sát hỗn hợp này được bọn cầm quyền Pháp ở Hải Dương phân bố đều khắp trong tỉnh.


Cây gạo trên đường từ làng Mậu Duyệt đến làng Ngọc Trì,
nơi các thủ lính nghĩa quân Bãi Sậy ở làng Ngọc Trì xử tội tên phản bội

Ít lâu sau, Nuyret chuyển từ các cứ điểm của lực lượng hỗn hợp cảnh sát - dân binh cho các tri phủ, tri huyện chỉ huy, riêng thành phố Hải Dương, vùng Kẻ Sặt, vùng núi Nàm Mâu đến Phả Lại (Chí Linh).

Trên địa bàn khác có tin Ba Báo và Quý đang ở Gia Lộc và Tứ Kỳ và đang bị một đạo binh gồm pháo binh và dân binh truy kích. Cùng lúc một bộ phận của lực lượng bình định đang thảo phạt vùng Bãi Sậy Hưng Yên qua tỉnh Hải Dương và càn quét vùng ranh giới Bắc Ninh - Hưng Yên. Sự gia tăng của số lượng dân binh cho phép cắm thêm một số đồn trên một số điểm mới. Nhân dân bắt đầu vững dạ tỏ ý muốn cắt đứt với bọn cướp. Ba Báo, Đề Hiện bị bắt, 11 đồng bọn ra hàng. Tòa sứ cho một đội phòng vệ đặc biệt. Quan huyện Tứ Kỳ chống trả được nghĩa quân nhờ có đội phòng vệ này. Quan huyện Thanh Hà cùng với đội phòng vệ đánh tan một toán cướp thu 20 súng.

Bị truy lùng, nghĩa quân bị chia sẻ, phân tán nhưng vẫn lẩn khuất và sẵn sàng tổ chức lại. Chúng thường vãng lai ở Cẩm Giàng, Năng Yên, Mỹ Hào, Nam Sách.


(1) Trận này Pigowski viết trong “Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ” như sau: “Chiếc xà lúp Mandalay của gia đình Ulysse Pila vào lúc 9 giờ ngày 17/6, trên sông Luộc khoảng giữa Ninh Giang và Phù Cừ. Nhiều tên cướp đã vãi đạn vào chiếc tầu. Một thủy thủ bị chết. chiếc xà lúp Antoinette chở thư đường sông Hà Nội - Hải Phòng đã bắt gặp chiếc Malayday sau khi Madalay bị tấn công. Chiếc xà lúp Antoinette đã được đồn binh đó yểm hộ và cập bến Hải Phòng vô sự (29/6).
(2) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Hải Dương 12/1932.
(3) Piglowski: Viết trong cuốn Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ
(4) Tổng Trúc Động có 9 xã: Trúc Động, Mai Động, Hưu Liệt, Phúc Liệt, Quỳ Khê, Điêu Khê, Thụ Khê, Viên Khê, Đào Tú, nay là hai xã Liên Khê, Lưu Kiếm của huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.
(5) Tài liệu của Mạc Trung cháu ba đời Đốc Tít, ở Kinh Môn, Hải Dương.
(6) Sơ thảo lịch sử phong trào công nhân và công đoàn thị xã Hải Dương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2011, 08:18:25 am »

Kết quả của rất nhiều biện pháp cộng với những hoạt động không biết mệt mỏi nhằm thiết lập và buộc phải tôn trọng sự thống trị của chúng ta và đã cải thiện được tình hình vào năm 1887(1).

Một vài viên quan có cảm tình với nghĩa quân bị đày đi Côn Đảo.

Những thôn xã đáng tin cậy được vũ trang bằng vũ khí thô sơ.

Nhiều biện pháp nghiêm ngặt đã sử dụng thắng lợi với bọn hào mục quen nộp thuế cho địch. Sau hết là trừng phạt ác liệt các thôn xã đã để địch làm sào huyệt(2).

Ngày 6/10/1887, nghĩa quân Lãnh Giang, Đội Văn có 300 người trang bị 120 súng bắn nhanh đã đánh nhau với 40 tên lính Aubert gần căn cứ Bãi Sậy(3).

Mặc dù đã chiếm được tỉnh Hưng Yên, nhưng quân Pháp mới chỉ làm chủ được tình thế ở một số nơi còn đại bộ phận vùng nông thôn rộng lớn vẫn do nghĩa quân kiểm soát, thu thế, chiêu mộ nghĩa quân, quyên góp lương thực. Thí dụ về thuế ruộng có nơi nhân dân góp mỗi mẫu một hộc thóc, có nơi là ba phương.

Cũng trong tháng 7/1887 tại làng Lang Khê ở ngã ba sông Thái Bình và sông Đuống quân đội của trung úy Monghiô gặp một toán quân của Đội Văn, hai bên đánh nhau.

Trong năm 1887, hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy rất mạnh khiến bọn xâm lược Pháp mặc dù che giấu nhiều thất bại thảm hại trong các báo cáo quân sư, chính trị, công bố một phần rất nhỏ và xuyên tác phong trào kháng chiến Bãi Sậy, nhưng vẫn phải đắng cay thừa nhận: “… Tán Thuật, Lãnh Giang theo sau là Đề đốc Hiện, tên tù vượt ngục, Tổng Kinh, Đốc Tít, Đốc Sung vẫn có mặt ở trong tỉnh. Đội ngũ của họ chưa xây dựng được vững mạnh bằng trước, song họ có vũ khí tinh xảo, rất thiện chiến: Bị vây nã liên tục, họ vẫn hoạt động và luôn luôn giao chiến với binh lính của chúng ta. Rất nhiều lần họ còn chủ động tấn công chúng ta, tìm cách nhổ những đồn binh của chúng ta (nhưng vô hiệu) và tập kích vào lực lượng của chúng ta”(4).

Trong khu sào huyệt “đảo Hai Sông”, Đốc Tít mạnh lên. Tít đã có 150 súng, một lực lượng của chúng ta khi qua vùng này đã bị tiến đánh. liên kết với những toán quân Tàu (chỉ[172] nghĩa quân Lưu Kỳ) ở Đông Triều, Tít càng ngày càng trở nên nguy hiểm. Mấy tháng trước đây một cuộc thảo phạt đã được tiến hành chống Tít. Cuộc thảo phạt này do những lực lượng của đạo quân chính ngạch đảm nhiệm có sự yểm hộ của nhiều pháo hạm nhưng bị thất bại. Một cuộc thảo phạt khác do dân binh (Milites) tỉnh Hải Dương cùng với dân binh Quảng Yên cũng không đem lại kết quả tốt ngay. Từ trên một hòn núi đá Tít đích thân chỉ huy cùng với một cái loa. Trận chiến đấu khốc liệt cho tới khi quân nhu cạn kệt. Nấp trên núi cao, nghĩa quân rất lợi thế hệt như một đạo quân giỏi chác trong bọn họ có cựu pháo thủ và cựu dân binh, họ bắn rất hăng vào chỉ huy sở, 4 dân binh hy sinh, 13 bị thương, 2 vạn viên đạn bị mất. Về phía Đốc Tít, 40 bị loại ra khỏi vòng chiến đấu. Sự thiệt hại này khiến Đốc Tít suy yếu nghiêm trọng, có lẽ sợ một cuộc tấn công mới và cũng vì quân nhu cạn. Đốc Tít sau đó rời “đảo Hai Sông” cùng với đồng đảng của mình vào ẩn náu ở vùng Đông Triều và Lục Nam(5).

Thực dân Pháp phải thú nhận rằng phong trào chống Pháp (ở Bắc Kỳ) rất mạnh, cho đến những năm 1886-1887 chúng mới chỉ chiếm được một số điểm mà thôi. Bất lực trước phong trào kháng chiến này, chúng thường la lên rằng quan lại nhà Thanh ở Quảng Đông và Quảng Tây xúi giục và giúp đỡ nghĩa quân hoạt động. Thực tế thì chính quan lại nhà Thanh cũng xác nhận rằng họ không có vai trò gì trong hoạt động chống Pháp ở Đông Bắc Bắc Kỳ. Theo họ thì: “… Ba su (đại sứ Pháp) bảo nội loạn của dân Việt là[173] do súy phủ Lưỡng Quảng chỉ thị điều ấy rất là nhàm láo. Thực tình Việt phục Pháp hay là Việt chống Pháp đều không phải là việc của Trung Quốc”(6).

Về chiến sự năm 1887, Thực dân Pháp cũng phải thú nhận: “năm 1887, trong thời gian chờ đội công việc bình định được tiến hành từng bước yếu ớt. Từ tháng giêng năm 1887, Lãnh Giang trở về trong tỉnh và liên kết với Khoát, Ba Báo, Vân và Quý. Kết quả này chẳng bao lâu đã thấy rõ. Vụ này nối tiếp vụ kia, ba tàu buôn nhỏ bị tấn công khi qua sông Luộc. Một tàu bị bỏ lại và bị cướp. Trong cuộc truy lùng địch, các đội lính khố đỏ và lính khố xanh của chúng ta luôn xung đột với các toán nghĩa quân đương đầu với họ, có một bốt suýt bị chúng chiếm…”(7).

Về sự cộng tác lỏng lẻo của phần lớn quan lại Việt Nam với bọn Pháp, chúng đánh giá như sau: “Vấn đề Bắc Kỳ đã làm nổi dậy những cuộc tranh luận ở bên Pháp, nên biết rằng chính bản thân chúng ta cũng nghi ngờ về tính chất vững chãi của công cuộc chiếm đóng của chúng ta ở đây. Một số lớn người bản xứ hy vọng sẽ có một sự kết thúc tình hình phù hợp với mong muốn của họ. Do đó mà đến lúc bấy giờ, phần đông quan chức bản xứ hay còn có thái độ do dự, ngập ngừng. Người ta có nên lấy làm ngạc nhiên về thái độ này của họ không? Chưa rõ tình thế sẽ chuyển biến như thế nào, họ sợ sẽ tự hại mình một cách vô ích nếu đàng hoàng ra mặt cộng tác với chúng ta”(8).


(1), (2) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(3) Trên đây là tài liệu Minh Thành viết trong “Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy”, số 122, 123 tháng 5,6/1969. Nhưng Daufès trong cuốn La Garde Ingigène de I’ldochine de sa création à nos zo zours (tomme I) Le Tonkin, Nhà xuất bản Séguin avigno năm 1933 cũng như các cố lão ở thôn Phù Sa xã Đại Tập huyện Châu Khoát kể thì trận này do Lãnh Điển chỉ huy. Vì đây là quê hương của ông, Đội Văn không hoạt động ở vùng này.
(4) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(5) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(6) Trung - Pháp chiến tranh, tư liệu, quyển VII, Bắc Kinh, 1955, Chu Thiên dịch, bản đánh máy lưu ở Thư viện Quốc gia.
(7), (8) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2011, 06:31:12 am »

CHƯƠNG IV

TAO NGỘ CHIẾN Ở BẦN YÊN NHÂN - LÃNH GIANG TỬ TRẬN
NHỮNG TRẬN ĐÁNH TRẢ THÙ CỦA NGHĨA QUÂN
(1/1888-12/1888)

Phát huy thắng lợi của năm 1887, bước sang năm 1888, nghĩa quân Bãi Sậy có những bước phát triển mạnh mẽ. Ngay trong tháng giêng nghĩa quân đã tổ chức nhiều trận đánh lớn trong đó có trận ngày 3/1/188, Đề đốc Lưu Kỳ chỉ huy trận đánh quân Pháp ở khoảng giữa Mai Sưu - Đá Bạc giết chết viên trung úy Marron. Bên Bourgoin Melffre dẫn phu đi Lạng Sơn bị chặn đánh. Tên nhân viên đi theo bị giết chết. Quân Pháp phải thú nhận: “Đường dây Hn đi Lạng Sơn vẫn bị ngăn trở, các đội trạm thường bị bắt. Dây điện thoại ở Lạng Sơn - Thái Nguyên - Vi Loại bị cắt nhiều đoạn, trạm liên lạc bị đánh phá. Nhân viên bưu điện đi từ Đáp Cầu lên Phủ Lạng Thương đến Lạng Sơn và Lầm không thể đi đơn độc mà phải có xe quân sự đi yểm hộ”(1).

- Ngày 1/2/1888, 200 nghĩa quân đột nhập vào chợ Tổng Long(2).

Cuộc kháng chiến ở miền Trung và Bắc Việt Nam trong đó có cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy đã gây tác động đến cả nước Pháp, dư luận nước Pháp bàn cãi sôi nổi về vấn đề ở Trung và Bắc Kỳ. trong vòng gần một năm trời những tin tức trực tiếp hay có liên quan đến vấn đề Việt Nam đã chiếm vị trí trên trang nhất các báo Pháp như “Việc chiến tranh ở Trung và Bắc Kỳ gây ra những xáo trộng mãnh mẽ trong đời sống chính trị của nước Pháp”.

Nhiều chính khác tư sản có tên tuổi của nước Pháp đã lợi dụng vấn đề này chất vấn chính phủ Pháp, tranh giành địa vị.

Chính phủ Pháp đã nhiều lần bàn lại về chính sách cai trị nói chung và đặc biệt là sách lược quân sự của Pháp ở Việt Nam(3).

Để trấn an dư luận ở chính quốc, bộ Tư lệnh viễn chinh Pháp ở Trung và Bắc Kỳ đã quyết định mở một số trận đánh lớn vào các căn cứ của nghĩa quân ở hầu khắp các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Quảng Yên. Nguyễn Thiện Thuật nhận được nguồn thông tin từ các chiến sỹ trinh sát và từ những quan lại yêu nước được ông cài cắm vào các cơ quan hành chính, quân sự của Thực dân Pháp và Nam triều. Để giành thế chủ động đối phó với những cuộc tấn công của quân Pháp, ông đã triệu tập các tướng lĩnh phải có mặt ở căn cứ Bãi Sậy vào chiều ngày 10/2/1888 để nhận mệnh lệnh mới.

Nhận được lệnh, Lãnh Giang cùng 15 chiến sỹ lập tức đi gấp về căn cứ Bãi Sậy.

Lãnh Giang tên thật là Nguyễn Thiện Dương, em thứ tư của Nguyễn Thiện Thuật(4). Ông là người có đức độ, võ nghệ cao cường từ hồi còn niêu thiếu. Ông cùng hai anh là Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Thiện Hiển theo giúp việc quân cho Nguyễn Thiện Thuật từ khi ông giữ chức Sơn Phòng Chánh sứ Hưng Hoá(5) kiêm tán tương quân thứ Sơn Tây. Khi Nguyễn Thiện Thuật làm tổng đốc Hải - Yên, ông cũng theo giúp việc quân chiêu tập anh hùng hào kiệt, đưa họ vào con đường chống giặc cứu nước. Ông cùng Nguyễn Thiện Kế một lòng ủng hộ Nguyễn Thiện Thuật từ quan để phản đối chỉ dụ bãi binh của vua Tự Đức về Đông Triều, Chí Linh chiêu mộ quan đánh pháp. Khi Nguyễn Thiện Thuật phải lánh sang Long Châu (Trung Quốc), ông ở lại trong nước hô hào nhân dân bất cộng tác với giặc Pháp, giữ vững ngọn lửa yêu nước do Nguyễn Thiện Thuật nhen nhóm.

Tháng 7 năm Ất Dậu (1885), Nguyễn Thiện Thuật được tin vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Bình, đã về nước gặp Lễ bộ thượng thư Nguyễn Quang Bích được vua Hàm Nghi giao cho chủ trương chống Pháp ở Bắc Kỳ rồi lãnh trách nhiệm phục hồi cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy vì Đổng Quế ốm nặng, phong trào đang sa sút. Nguyễn Thiện Dương có mặt trong lễ tế cờ ở Văn chỉ Bình Dân tháng 8 năm Ất Dậu (9/1885), ông được phong là Lãnh binh. Ông được chủ tướng giao cho đóng quân ở vùng Thịu Cầu án ngữ con đường thiên lý Bắc Nam từ Bắc Ninh lên Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn. Ông còn lãnh trách nhiệm bảo vệ một trong ba con đường vận chuyển vũ khí do Đề đốc Lưu Kỳ tổ chức từ biên giới Việt - Trung về tập kết ở Thị Cầu rồi phân phối cho các lực lượng nghĩa quân.


(1) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(2) Phạm Văn Sơn: Việt Nam cách mạng cận sử, xuất bản ở Sài Gòn.
(3) Charles Fournia: Những sự tiếp xúc Pháp Việt ở Trung và Bắc Kỳ từ năm 1885 đến 1896, Ngô Văn Hoà giới thiệu trong mục “Đọc sách”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số tháng 4/1984.
(4) Nguyễn Thiệt Thuật (1844-1926); Nguyễn Thiện Kế (1849-1937); Nguyễn Thiện Hiển (?-1882); Nguyễn Thiện Dương (?-1888).
(5) Tỉnh Hưng Hoá gồm các huyện liên hữu ngạn sông Hồng của tỉnh Phú Thọ ngày nay, tỉnh Yên Bái, tỉnh Lào Cai, tỉnh Sơn La, tỉnh Lai Châu, tỉnh Điện Biên ngày nay.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2011, 06:34:04 am »

Tuy đóng quân ở Thị Cầu, song phạm vi hoạt động của Lãnh Giang rất rộng bao gồm hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Yên.

Về tài thao lược của Lãnh Giang kẻ thù cũng phải thừa nhận: “Tán Thuật có hai tướng giúp việc là anh em của ông là Lãnh Giang và Hai kế. Hai người này thực sự là những chỉ huy có tài đã khiến cho cuộc nổi dậy này phải khó khăn và lâu dài mới đàn áp nổi”(1).

Ngày 9/2/1888, nhận được lệnh của chủ soái, Lãnh Giang cùng với 15 chiến sĩ lập tức đi gấp về căn cứ Bãi Sậy. Trời sẩm tối, ông về nghỉ trong ngôi chùa Bần Yên Nhân. Bất chợt toán tuần tiễu Pháp do Filippe chỉ huy đồn Ghênh từ Kẻ Sặt về qua Bần Yên Nhân phát hiện ra toán của Lãnh Giang đang đóng trong một ngôi chùa liền bao vây. Bọn Pháp nấp sau những cái mả người Trung Quốc cao tới 1 mét, rộng 2-3 mét ở xung quanh chùa bắn vào trong chùa. Nghĩa quân bắn trả kịch liệt. Mấy tên lính Pháp đi đầu bị trúng đạn chết ngay, trận chiến đấu kéo dài đến 30 phút. Quân Pháp đang lúng túng thì tình cờ gặp hai toán quân do tên quản Soler và tên quản Sumaran chỉ huy đi qua liền tới vây chặt ngôi chùa tấn công liên tục. Lãng Giang chỉ huy quân sĩ nhiều lần đánh bật quân Pháp ra xa ngôi chùa, nhưng bọn chúng đông, nhiều súng đạn vẫn không ngừng tấn công. Không may Lãnh Giang trúng đạn hy sinh. Nghĩa quân mở đường máu đưa xác ông vào trong làng, được nhân dân giấu trong đống rơm, quân Pháp không tìm ra. Khi quân Pháp rút, nghĩa quân đưa xác ông về Bãi Sậy(2).


Đồn Bần Yên Nhân nơi diễn ra nhiều trận đánh
của nghĩa quân với quân Pháp

Tại đại bản doanh ở căn cứ Bãi Xậy lúc vừa họp được một lúc thì quân canh cửa vào bẩm có một toán nghĩa quân khiêng một cái cáng đi vào. Nguyễn Thiện Thuật nhìn thấy viên tùy tướng vẫn đi theo bảo vệ Lãnh Giang đã đoán ra có việc không lánh đối với em mình. Tuy vậy ông vẫn nén lòng nghe viên tuy tướng bẩm báo. Đoạn ông bước đến bên cáng, mở chiếc chiếu ra nhận ra đó là Lãnh Giang, ông hét lên một tiếng “Lãnh Giang” rồi ngất đi. Các tướng sĩ vội vực ông vào phục thuốc. Cái chết đột ngột của Lãnh Giang là một thiệt thòi lớn chẳng những cho gia đình ông mà cho cả cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.

Tang lễ Lãnh Giang được cử hành trọng thể tại căn cứ, có đông đủ các tướng lĩnh, nghĩa quân, nhân dân đến để tang. Lửa đốt suốt đêm, sáng rực cả một vùng. Quân Pháp và Hoàng Cao Khải ở các đồn xung quanh biết nhưng không dám đem quân đến đánh. Mộ ông đắp to trên một khu đất cao tại căn cứ(3).

Thực hiện mệnh lệnh chiến đấu của chủ thướng Nguyễn Thiện Thuật trong cuộc họp ngày 9/2/1888, các thủ lĩnh nghĩa quân vừa xây dựng lực lượng vừa tấn công liên tục vào hàng loạt đồn bốt của lính lê dương, lính khố đỏ, lính khố xanh, dân binh và chặn đánh những toán quân tuần tiễu và đi càn quét ở khắp nơi.


(1) A de Miribel: La Province de Hưng Yên. Sđd.
(2) “Bảo an binh Đông Dương từ ngày thành lập đến nay” cuốn 1: “Lịch sử quân sự xứ Đông Dương” viết: “Mùa xuân năm Kỷ Mùi (9/2/1889) một toán quân Pháp bị Lãnh Giang chỉ huy 300 quân vây đánh ở Bần Yên Nhân xung quanh đồn Đoàn Thượng 3 giờ liền, sau nhờ hai toán quân Pháp đến cứu…”. Bài “dòng họ Nguyễn Trãi - Nguyễn Thiện Thuật trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX” của phó giáo sư, phó tiến sĩ Nguyễn Văn Khánh đăng trên Tạp chí Quân sự số 1-1991: “Tháng 2/1889 trong một trận kịch chiến với quân Pháp tại Yên Phú, Mỹ Hào (Hải Dương) Nguyễn Thiện Dương hy sinh anh dũng” là chưa đúng - Miribel viết trong quyển Notice được Trịnh Như Tấu trích trong Hưng Yên địa chí về trận đánh này như sau: “… Em Tán Thuật là Lãnh Giang tử trận ở xã Yên Nhân. Viên độ Filippe cùng 15 lính khố đỏ ở Kẻ Sặt đi lại, vừa ra khỏi làng Yên Nhân thì gặp toán quân Lãnh Giang đóng ở chùa, đổ ra đánh. Viên đội Filippe vì ít người, thế yếu phải nấp sau những cái mộ cao vài thước tây để chống lại với quân địch, cho đến khi các viên quan khố xanh Silor và Samaran nghe tiếng súng đem binh lại cứu viện. Chính trong trận này Lãnh Giang tử trận.
(3) Sau lại thiên đi nơi khác, về sau con cháu đưa về táng tại khu Mả Quan xã Xuân Dục.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2011, 06:41:16 am »

Ngay đêm 9/2, Tuần Văn, Đề Tính, đưa quân tấn công đồn Ghênh và đồn Bần Yên Nhân, tiêu diệt 20 tên lính pháp, lính khố đỏ song hai tên Filippe và Soler sợ hãi trốn thoát.

- Đầu tháng 3/1888, 200 nghĩa quân giáo chiến với quân Pháp cách Hưng Yên 2 kilômét(1).

- Đêm 25/3/1888, một thủ lĩnh nghĩa quân đưa một toán quân tấn công tiêu diệt hoàn toàn đồn Bình Phú(2).

- Trong tháng 3 có 500 nghĩa quân hoạt động ở vùng sông Cà Lồ(3).

- Giữa tháng 3/1888 một đội quân do Đề Cọp chỉ huy tao ngộ chiến dữ dội với quân Pháp ở Đồng Nhu, Vũ Xá, bắn trọng thương hai sĩ quan Pháp là Leglle và Chuibert, giết chết nhiều tên(4).

Nghĩa quân do Đốc Tít chỉ huy hoạt động ráo riết tiêu hao nhiều sinh lực của quân Pháp, khiến cho bọn xâm lược Pháp vô cùng lo lắng, báo chí Pháp nổ ra cuộc tranh luận: “Chính người Pháp cũng tự nghi ngờ về tính chất vững chắc của cuộc chiếm đóng. Những quan chức người bản xứ còn do dự, ngập ngừng họ chưa biết rồi tình thế lại chuyển biến như thế nào. Họ tự hại mình một cách vô ích”(5).

Trong một tờ báo Ponlanhvian viết: “Đốc Tít ngày càng trở nên nguy hiểm, mấy tháng trước thiếu tướng De Négrier đưa quân đến hỏi tội đã bị y làm lỡ kế hoạch, môt cuộc tiễu phạt mới được tổ chức kết quả cũng chẳng được tốt lành”(6).

Chính Ponlanhvian phải thừa nhận: “Bình lính Pháp rất hoang mang cứ mỗi lần phải đi đánh Trại Sơn và thực tế binh lính coi Trại Sơn là tử địa”(7).

Trong trận Hoàng Vân do Đốc Sung chỉ huy, Đội Song, Phó Hữu dực phụ trách miền tây - nam Khoái Châu và Nguyễn Công Khuyến, quê ở Trà Bồ huyện Phù Cừ chỉ huy giết chết sĩ quan Pháp Escot(8).

Tháng 4/1888, nghĩa quân Văn Giang do Tuần Văn, Lãnh Sính chỉ huy kéo tới tấn công cả ba đồn Bình Phú, Lực Điền, Thung Linh (Yên Mỹ, Hưng Yên) trong một trận đánh. Ba đồn này do lính Hoàng Cao Khải đóng được trang bị bằng súng nhãn 1842.

Tại đồn Bình Phú, tổng Khoá Nhu, huyện Yên Mỹ, 20 nghĩa quân giả làm culi, giấu súng trong người rồi kéo vào đồn làm việc. Bắt thình lình nghĩa quân xông vào, cướp súng của lính coi phu, 2 tên lính chống cự lại bị biết chết. Nghĩa quân cướp ít nhất là 9 súng nhãn 1842 và nổi lửa đốt cháy đồn.

Quân lính đang đóng ở đồn Lực Điền, tổng Tử Dương và quân Thung Linh tổng Khoá Nhu đến cứu viện đã bị nghĩa quân chặn đánh ở phủ Khoái giết thêm 3 tên lính cơ, 3 tên bị thương và thu thêm một số súng(9).

Sau trận này quân Pháp phải kiến nghị tăng cường số lính mỗi đồn lên 50-60 tên. Giá những dân binh quá rẻ, người ta có thể tăng số dân inh mà chẳng khặp khó khăn gì(10).

Những trận tấn công quyết liệt đó làm cho quân Pháp phải co lại cố thủ trong các đồn bốt. Phải cố gắng lắm, bằng nhiều biện pháp đưa quân ở Quảng yên về quân Pháp mới mở được cuộc tấn công vào Thuỷ Động - một hang lớn của nghĩa quân Đốc Tít trong căn cứ Trại Sơn, song cũng không thu được kết quả mà còn bị thiệt hại lớn.

Để đối phó với những hoạt động tích cực và có hiệu quả của nghĩa quân Bãi Sậy, công sứ Hải Dương Nuyret, trung tá Piot chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương đã thành lập hai đội khinh binh, một đội do cấc chiến binh của các đồn binh tỉnh đảm nhiệm, còn một đội gồm dân binh thường trực đảm nhiệm. Piot cũng trang bị thêm vũ khí mới nhất mới đưa từ Pháp sang cho hai đội quân này.

Trong hai tháng 3 và 4/1888, các đội khinh binh này đã phối hợp với quân Pháp và quân Nam triều do Hoàng Cao Khải chỉ huy ở các tỉnh hưng yên, Hải Dương, Bắc Ninh liên tục tấn công nghĩa quân trên tất cả các hướng. Nghĩa quân chiến thắng một số trận, tiêu hao nhiều sinh lực địch, nhưng vụ lúa chiêm 1888 mất mùa nặng, nhân dân thiếu ăn nên cung cấp cho nghĩa quân cũng không được đầy đủ như trước. Nghĩa quân lại phải đối phó với địch, súng đạn tiêu hao, lực lượng bị thiệt hại nặng nề, riêng trong mùa xuân 1888 đã có 37 thủ lĩnh từ đề đốc, đến suất đội bị giặc giết, Đốc Vinh và em của Đốc Long bị giặc bắt, một số cùng đường phải ra hàng. Nhiều làng kháng chiến bị tàn phá, triệt hạ, bọn quan lại lập được lý trưởng, hội đồng kỳ mục là những kẻ thân Pháp ở nhiều xã.


(1), (2), (4) Phạm Văn Sơn, Việt Nam cách mạng cận sử, xuất bản ở Sài Gòn.
(3) Trước đây là các huyện Kim Anh, Đa Phúc, Bình Xuyên, tỉnh Bắc Ninh nay thuộc Đa Phúc, Kim Anh hợp lại thành Sóc Sơn, Hà Nội; Bình Xuyên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên.
(5), (6), (7) Dulleman : Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(8) Phạm Văn Sơn, Việt Nam cách mạng cận sử, xuất bản ở Sài Gòn.
(9), (10) Báo Tin tức Hải Phòng số 156 ngày thứ năm 5/4/1888.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM