Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:26:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy  (Đọc 89160 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2011, 05:50:55 pm »

Tuy nhiên, Nguyễn Thiện Thuật và Đốc Sung đã nghi binh dánh lừa được quân Pháp vượt sông Đuống an toàn. Đến trưa ngày 24/3/1889, Hoàng Cao Khải lại nhận được tin của Bố chính Bắc Ninh đang chỉ huy 50 lính giám sát hướng bắc sông Đuống báo cho biết là toán quân của Tán Thuật được các toán của Đốc Sung tăng cường hiện đang đóng ở các làng Mạn Xá, Quan Đình, Quan Độ huyện Yên Phong trong phủ Từ Sơn. Bố chính Bắc Ninh còn cho biết là xin viện binh của công sứ Bắc Ninh và tấn công nghĩa quân vào hồi 4 giờ chiều, buộc nghĩa quân phải rút về làng Mạn Xá là làng chiến đấu được nghĩa quân xây dựng từ lâu. Bên ngoài làng là lũy tre dày, xung quanh làng là hào ngập nước, cắm chông tre. Trong làng đường ngõ ngoắt ngoéo, nhiều ao, đầm, gồ đống nên quân lính không dám đánh đêm mà chỉ bao vây xin tiếp ứng.

Công sứ Bắc Ninh nhận được tin lệnh cho tri phủ Từ Sơn đem 100 lính trang bị tốt và điều đội tuần tra cảnh sát 150 lính do 2 viên vệ binh chỉ huy lập tức được phái tới Mạn Xá cùng với mệnh lệnh: “Chỉ được trở về khi đánh tan Tán Thuật hoặc Tán Thuật phải ra hàng”. Công sứ còn phái viên vệ binh chính là Corre đem theo 96 lính đến Lê Thi để giám sát bến đồ Cầu Đông lối sang Sơn Tây đóng lõng quân Tán Thuật do quân bố chính Bắc Ninh, tri phủ Từ Sơn đánh tan ở Mạn Xá sẽ phải dạt sang.

Hoàng Cao Khải cũng lệnh cho án sát Hưng Yên đưa 100 quân đến đảo Phù Vệ (giáp Kẻ Sặt) để ngăn chặn quân của Đền Ban, Lãnh Bay, Lãnh Phong từ Ân Thi vượt qua Cầu Giàng sang nam Bắc Ninh.

Nguyễn Thiện Thuật và Đốc Sung phán đoán được ý đồ của quân Pháp, trong khi đó nghĩa quân bị bao vây ở Mạn Xá vì thế phải sử dụng kế sách nghi binh thu hút lực lượng địch rồi bí mật vượt vòng vây về Thuý Lâm. Khi Hoàng Cao Khải phát hiện ra thì nghĩa quân đã đi xa, đang hoạt động ở Đa Phúc.

Để đối phó, quân Pháp phải bố trí binh lực trên một đường thẳng dài 50 km rải rộng trên địa bàn ba tỉnh Sơn Tây - Bắc Ninh - Hưng Yên, đồn phía bắc ở Thuý Lâm trên vùng sông Cà Lồ, đồn phía nam ở Phù Vệ.

Ngày 25/3/1889 quân Pháp tung hai đơn vị đuổi theo Tán Thuật, ông vượt sông Cà Lồ và đến Xuyên Kỳ. Công sứ Thái Nguyên đã được báo tin này và phán đoán Nguyễn Thiện Thuật đang ẩn náu ở nhà một người em ở Bình Xuyên.

Trong khi đó các toán nghĩa quân khác cũng hoạt động mạnh ở khắp nơi khiến quân Pháp bối rối, trong cùng một thời điểm phải tiến hành ba hướng càn quét là:

- Truy kích Nguyễn Thiện Thuật ở phía bắc, bên kia sông Cà Lồ trên phủ Đa Phúc và huyện Kim Anh.

- Truy lùng toán quân của Ba Phi ở hướng Phả Lại - Chí Linh.

- Truy lùng toán quân của Đề Ban, Đề Quý có sự hỗ trợ của Đốc Tít ở phía nam Kẻ Sặt.

Sau sự việc ở Mạn Xá, Bố chính Bắc Ninh không còn biết ông Thuật hiện ở đâu, liền đóng tại Phủ Lỗ khi biết tin toán của ông Thuật rút về Phổ Lộng và Đẩu Sao ở phủ Đa Phúc liền lập tức sai Bố chính Bắc Ninh đem 100 lính khố xanh và bắt dân phu đi theo, hành quân từ 3 giờ sáng đến Phổ Lộng. Nghĩa quân chặn đánh rồi rút sang Đan Tảo cũng ở phủ Đa Phúc.

Lực lượng quân Pháp tấn công Đan Tảo gồm vệ binh dân sự và dân binh chia làm nhiều toán bao vây làng rồi nổ súng tấn công. Nghĩa quân dựa vào hào lũy kiên cố đánh trả địch rất quyết liệt. Trận chiến đấu kéo dài từ 7 giờ sáng đến 19 giờ quân Pháp mới thọc được vào một trong số cổng chính. Một bộ phận quân Pháp lọt được vào trong làng nhưng do có nhiều nhà tường trình bằng đất, nhiều vườn cây rậm rạp, nhiều ao hồ, gò đống, thuận lợi cho nghĩa quân vận động và tổ chức tác chiến, nên quân Pháp bị chặn đứng lại không vào sâu được trong làng. Nghĩa quân biến nhà viên lý trưởng là nhà ngói có tường dầy bao quanh thành pháo đài kiên cố, đục tường làm lỗ châu mai, từ đó nã đạn vào quân của Bố chính Bắc Ninh. Quân Pháp nhiều lần đột phá để đốt cháy nhà viên lý trưởng nhưng không hiệu quả. Lúc đó trời bắt đầu tối, cuộc giao chiến phải ngừng lại.

Tranh thủ lúc ngớt súng, nghĩa quân rút về làng Trà Mậu. Quân Bố chính cũng rút về Phủ Lỗ, đem theo một số xác chết trong đó có tên phó quản vệ binh dân sự.

Quân Bố chính bắt được một nghĩa binh, đem chém đầu ngay. Quân Pháp thu được 1 súng loại nặng, 2 súng khác, 1 súng lục, 1 kiếm, nhiều cái mộc, nhiều lao…
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Năm, 2011, 08:42:20 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 15 Tháng Năm, 2011, 08:42:45 pm »

Ngày hôm sau, 29/3 Tổng đốc cử viên thanh tra cùng với 100 vệ binh dân sự do viên vệ binh chính Chiappini chỉ huy tham gia cuộc thảo phạt của Bố chính Bắc Ninh.

Trước sự truy kích ráo riết của quân Pháp, Tán Thuật, Đốc Sung, Quản Dây rút về làng Thuý Lâm. Trận chiến đấu bắt đầu từ 10 giờ sáng đến 17 giờ ngày 29/3 một cuộc kịch chiến diễn ra giữa 300 quân của Tán Thuật, Đốc Sung với quân của Bố chính Bắc ninh và viên vệ binh chính Chiappini ở làng Thuý Lâm, quân Bố chính chiếm được một phần làng, đốt cháy nhà cửa. Song nghĩa quân vẫn giữ vững từng căn nhà, bắn chặn địch. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 21 giờ, quân Bố chính sợ ban đêm phải rút lui đem theo một số xác chết trong đó có tên phó quản, nghĩa quân rút về phía làng Cao Gia, huyện Đông Anh. Trong trận này nghĩa quân cũng bị thiệt hại.

Ngày 30/3 quân Bố chính tiếp tục truy kích quân ông Thuật và Đốc Sung. Hoàng Cao Khải cũng lệnh cho công sứ Sơn Tây và Thái Nguyên cho quân chặn ở những con đường ranh giới giữa Bắc Ninh với hai tỉnh chỉ để một lối hở bên bờ tản ngạn sông Hồng, nơi đã có pháo hạm mai phục để tiêu diệt khi nghĩa quân vượt qua sông. Thanh tra trở về Kiêm Trạch huyện Đông Khê (nay là huyện Yên Phong) để hợp đồng tác chiến.

Tán Thuật, Đốc Sung khôn khéo tránh được các mũi truy kích, các ổ mai phục tiến về huyện Tiên Du để vượt sông Đuống khi có thời cơ. Nhưng khi các ông về tới Nha Thi trên bờ sông Đuống thì bị bọn mật vụ phát hiện báo cho quân Pháp. Quân Pháp lập tức bố trí lực lượng ngăn chặn.

- Đồn binh Phú Thị phải canh gác chiếc cầu tre bắc ngang sông Đuống ở xã Phù Đổng.

- Các đồn bình Đống Mối, Bần Yên Nhân tiến ngược lên mai phục ở bến đò Đại Đồng.

- Lãnh Vắn qua đò làm nhiệm vụ trinh sát ở bờ bên trái(1).

Bị quân Pháp chặn đường vượt sông, đêm 30 rạng ngày 31/3, đội quân của Tán Thuật, Đốc Sung từ Nha Thi, Phù lập chuyển theo hướng Thượng Vi cũng thuộc huyện Tiên Du. Nhận được tin trên, viên thanh tra Pháp phán đoán Tán Thuật, Đốc Sung sẽ vượt sông Đuống sang Gia Lâm liên từ Kiêm Trạch quay lại Phủ Lỗ vào hồi 5 giờ sáng. Theo lệnh của Hoàng Cao Khải, Lãnh Vắn cũng đến đó vào hồi 8 giờ sáng để hơp đồng với các đội quân khác ngăn chặn nghĩa quân vượt sông.

Song một bộ phận nghĩa quân đã vượt được sông Đuống, thanh tra đang điều động quân để ứng phó thì lại nhận được tin có nhiều toán nghĩa quân xuất hiện ở 5 làng xung quanh xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh.

Nhằm tiêu diệt đội quân này, Hoàng Cao Khải và thanh tra điều 100 lính của đạo quân Bình Định đến đồn Đống Mối ngay trong đêm 31/3. Đồng thời đích thân thanh tra chỉ huy 40 lính hành quân về phía bắc đền Ghênh (nay thuộc thôn Ngọc Quỳnh, xã Như Quỳnh, huyện Văn Lâm), nên thanh tra phán đoán khi nghĩa quân bị lính từ Đống Mối, Phú Thị tấn công nghĩa quân buộc phải rút qua lối này. Quân Pháp thú nhận; “Kẻ địch rất cơ động, chúng phân tán lực lượng rất nhanh, đôi khi ở nhiều địa điểm cách xa nhau, cùng một lúc đều có tin báo về cho chúng, chúng ta bắt buộc phải di động liên tục cả ngày lẫn đêm khi có tin báo là tỏ ra có cơ sở”(2).

Không tiêu diệt được nghĩa quân ở các làng xung quanh Phú Thị, ngay sáng 1/4/1889, đồn Phú Thị cùng với một số quân được phái tới lùng sục vào làng Hương Quan. Làng này có tin cho biết chứa 30 nghĩa quân có vũ trang. Chúng bắt được một chỉ huy là Lê Hoa và hai nghĩa quân liền đem giết ngay(3).

Ngày 2/4/1889, án sát hưng Yên đóng ở đồn Hà Liên hành hình ngay một nghĩa quân bị bắt(4).

Quân Pháp kéo đến vây làng Ngọc Can, huyện Văn Giang. Nhưng cuộc vây quét này gặp trở ngại vì trời mưa, đướng sá đã bị nhân dân phá nay lầy lội. Quân Pháp dàn quân bắn như vãi đạn vào làng, nhưng đã bị nghĩa quân nấp sau các lũy tre, thành đất rất kiên cố, có lỗ châu mai bắn trả rất chính xác và mãnh liệt. Lực lượng nghĩa quân yếu hơn nên phải rút về phía Ghênh, Đốc Trung ở lại chặn giặc bị bắt(5).


(1) Piglowski: Theo chúng tôi cuối tháng 3/1889 Lãnh Vắn mới thương thuyết để ra đầu hàng. Đây chỉ là bộ hạ của Lãnh Vắn. sđd.
(2) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
(3) Theo chỉ dụ của Đống Khánh về “Quy định mức độ trừng phạt đối với suất đội trở lên; dưới suất đội đưa đi đày khổ sai từ 5 đến 10 năm và cưỡng bức lao động tại Đà Nẵng và các công sở”. (Theo Việt Nam những sự kiện lịch sử, 1858-1945, tập 1 của Dương Kinh Quốc).
(4), (5) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:06:28 am »

Sau khi rút khỏi Ngọc Can, một toán nghĩa quân về đồn trú ở đền Ghênh xã Ngọc Quỳnh, nay là thôn Ngọc Quỳnh thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm thờ Hoàng thái hậu Ỷ Lan cố thủ. Về sự kiện này, các tác giả “Hoàng thái hậu Ỷ Lan”(1) đã viết như sau: “Nghĩa quân lui về tạm đóng ở Ghênh, khi vào đền, tướng Đốc Tít(2) là người chỉ huy đã làm lễ thánh Ỷ Lan và ra lệnh cho quân phải tôn kính nơi thờ Thánh. Sau đó quân Pháp bao vây, kêu gọi nghĩa quân trong đền phải đầu hàng. Nhưng nghĩa quân đã anh dũng chống lại địch, quyết không đầu hàng. Không làm gì được, quân Pháp đã dùng hỏa công đốt đền. Lửa thiêu cháy Tam quan và phần trên của cổng Sủi. Bỗng nhiên trời đất nổi sấm sét, mây đen kéo đến, mưa trút nước xuống, dập tắt ngọn lửa, nhờ đó mà nghĩa quân được giải thoát”(3).

Không tiêu diệt được nghĩa quân ở Hương Quan, Ngọc Can, Ghênh, ngày 3/4/1889, Hoàng Cao Khải, Branchard, Laura từ nơi tập trung quân ở đồn Đống mối đã tấn công vào huyện Văn Giang. Sự kiện trên được Piglowski tường thuật như sau:

“Một cuộc săn lùng lớn đã được thực hiện với lực lượng 350 vệ binh dân sự và 200 dân binh vũ trang vào trong huyện Văn Giang nhằm mục đích thăm dò sự có mặt và tầm quan trong của một toán nghĩa quân đang có giả thuyết đặt ra là chúng hiện ở đây. Viên chánh tổng và những viên lý trưởng nói là không hay biết. Tình hình chính trị ở đây cũng hệt như tình hình chính trị ở phủ Thượng Tân trước khi Đội Văn ra hàng. Chánh tổng và lý trưởng đều chịu sự khống chế của nghĩa quân - và lực lượng của nghĩa quân đông, lớn. Những viên chánh tổng mới hay những viên lý trưởng mới muốn thoát khỏi cái ách của chúng, đều bị thủ tiêu”.

Trong cuộc săn lùng này, hai cạnh của hinh tam giác do những con đường Ghềnh và Khúc Lộng có 350 lính chiếm giữ trước khi trờ sáng, 200 vệ binh dân sự cùng lúc tiến về phía trước các làng Lang Viên, Sơn Canh, Duy Đình, Bảo Vực, Yên Nội, Vĩnh Phúc. Những làng này nằm trên bờ con ngòi hình thành cạnh đáy của hình tam giác.

Sáng ra 200 người này chia làm 4 đội, mỗi đội gần 50 người vào săn lùng các làng trong hình tam giác. Một vị trí của toán cướp đặt ở Duy Đình, trước khi bị phát hiện đã xả súng bắn vào phía chúng ta. Lính ta xô nhanh vào đối phương trốn chạy, một tên trong bọn họ đã bỏ lại khẩu súng tốt có cả kiếm lê. Lực lượng ta dùng cơm (thổi từ hôm trước) tại chỗ. Cuộc lùng sục kết thúc vào hồi 4 giờ chiều.

83 người từ 25 đến 40 tuổi đã bị bắt vì toan vượt khỏi vùng này, 5, 6 người sau cuộc hỏi cung một cách đại khái đã được ngài Tổng đốc thả ngay.

Trong cuộc lùng sục, mỗi viên vệ binh chính của chúng ta đều được cung cấp một bản họa đồ với những lời chỉ dẫn và lộ trình cầm đi theo, những điểm nào cần chiếm giữ từng giờ, từng giờ một những sự bố trí kế tiếp nhau cần chú ý thực hiện. Mục đích cuộc thảo phạt đã đạt.

Qua cuộc thảo phạt này còn lại một vấn đề cần chứng minh: “Những linh tính về một toán nghĩa quân quan trong từ Kim Anh tràn xuống là có”.

Hoàng Cao Khải và thanh tra Branchard dự định dẫn 600 quân xuống càn quét vùng Kẻ Sặt, Kẻ Mót thuộc huyện Bình Giang giáp ranh với căn cứ Tam tổng ở bắc Ân Thi để ngăn chặn Đề đốc Phạm Văn Ban vượt qua huyện Cẩm Giàng tiến sang Thuận Thành chi viện cho Nguyễn Thiện Thuật thì nhận được một lá thư của quan huyện Quế Dương báo có 500 tên phiến loạn đang hoạt động ở làng Trang và làng Thuý Lâm. Viên thanh tra cũng nhận được một lá thư của đồn trưởng đồn binh phủ Đa Phúc với nội dung tương tự. Vì vậy Hoàng Cao Khải và thanh tra Pháp giao cho viên vệ binh chính Siappini cùng Bố chánh Bắc Ninh chỉ huy 400 quân đi đánh Kẻ Sặt, Kẻ Mót. Đồng thời, thanh tra còn điều hai pháo hạm trong đó pháo hạm Moulin thả neo ở Kẻ Giàng, làng Vĩnh Lại, trên sông Thái Bình, một pháo hạm khác thả neo ở Kẻ Mót không cho toán quân Đề Ban bị Siappin đánh chạy về Đông Triều hợp tác với Lưu Kỳ. Hoàng Cao Khải cùng với thanh tra đưa 150 quân đi gấp về phủ Đa Phúc.


(1) Các tác giả là đại tá Nguyễn Bắc, đại tá Nguyễn Hải Lương, Lê Văn Bảng, Phạm Như Tiên, NXB Thanh Hóa, 1997.
(2) Theo cụ Duyên ở xã Như Quỳnh, đây là Đốc Tít người làng Ghênh, có người nói là biệt danh của lãnh binh Trường Đình Tuyển người làng Ghênh.
(3) Về sự kiện trên được các cụ Tú Bằng, Dương Quốc Vinh người thôn Đậu, xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm là nghĩa quân Bãi Sậy tham gia trận đánh đó tường thuật bằng thơ từ tháng 4/1889. trong bài thơ có đoạn:
               “… Trời đông vân hắc kéo về
               Mưa tuôn trút nước bốn bề chớp vang
               Tối trời giặc sợ nghĩa quân
               Viện binh kéo tới khó lần thoát qua
               Ngoài đánh vào trong đánh ra
               Giữa vòng mãnh hổ cũng là coi khinh
               Vội vàng giặc rút về kinh
               Lửa tan tàn lụi nghĩa binh reo hò…”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:10:54 am »

Ngày 4/4/1889 quân Pháp phải thành lập phân đội Cà Lồ để đối phó với Tán Thuật, Đốc Sung, Đốc Mỹ đang hoạt động ở các huyện Kim Anh, Đa Phúc. Phân đội có 230 người, của lực lượng tuần tra cảnh sát và 134 người do công sứ Bắc Ninh điều sau đưa quân số của phân đội lên 380 người. Phân đội này còn được pháo hạm Bobillot làm nhiệm vụ diễu hành ở phía Ngọc Giang bên sông Hồng để tham gia vào cuộc thảo phạt.

Hoàng Cao Khải còn nằn nì với công sứ Bắc Ninh xin một lực lượng pháo binh để phá hỏng một bộ phận rất chắc chắn của làng Đăng Thao. Mọi người đều chưa hình dung được chi tiết công trình phải phá, vì làng Đăng Thao phòng thủ nghiêm mật, người ngoài không thể vào làng được mà cả làng đều là những người trung thành với chủ tướng Tán Thuật không chịu làm gián điệp cho Pháp, vì thế chúng không thể hình dung được những công trình phải phá hủy nên không nhất trí đưa đại bác tới. Thanh tra đội thám báo điều tra được các công trình định phá hủy sẽ báo cho pháo hạm Bobillot yểm hộ vào ngày 6/4/1889.

Ngày 5/4/1889 phân đội Cà Lồ kéo về Thuý Lâm nơi nghĩa quân đã giao chiến kịch liệt với quân của Bố chính Bắc Ninh từ ngay 29/3/1889. Nhưng khi Hoàng Cao Khải và thanh tra Pháp kéo tới thì nghĩa quân đã rút từ lâu, chỉ còn những “bố lộ”(1) treo đầy trên các hàng rào, dưới gốc cây tố cáo tội ác của giặc Pháp và triều đình Huế bán nước, kêu gọi nhân dân gia nhập nghĩa quân đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cõi. Hoàng Cao Khải tức giận sai quân triệt phá cả làng, gặp ai giết người đó, bất kể là người già, đàn bà, trẻ con.

Cũng tại Thuý Lâm, Hoàng Cao Khải nhận được tin báo phó công sứ Bắc Ninh dẫn 100 vệ binh dân sự cùng đi Phù Lỗ, sau đó đồn binh Đa Phúc lại bổ sung 80 lính nữa, đưa số quân của phân đội Cà Lồ lên 458 tên do một tổng đốc, 1 phó công sứ, 1 thanh tra Pháp, 1 Bố chính Bắc Ninh chỉ huy lại có pháo hạm yểm hộ.

Hoàng Cao Khải và Phó công sứ Bắc Ninh kéo đến Phù Lỗ không gặp một sự chống đối đáng kể nào của nghĩa quân, nhưng nhiều tên bị sa vào hố chông, cạm bẫy, Khải liền tung do thám đi các làng dò xét. Phủ Thống sứ Bắc Kỳ cũng lệnh cho viên vệ binh chính của tỉnh Sơn Tây đóng ở Yên Lăng(2) liên lạc với viên thanh tra đang hành quân ở Đa Phúc(3) để cung cấp tin tức.

Song nghĩa quân được nhân dân bảo vệ, bọn do thám không nắm được các hoạt động của nghĩa quân, viên thanh tra lại tung mật thám đi các làng dò xét. Bọn này trở về biết chỉ có làng Đăng Thao và làng La Cát ở huyện Kim Anh là có dấu hiệu khả nghi có nghĩa quân hoạt động.

Quân Pháp làm sao tìm được nghĩa quân vì khi Hoàng Cao Khải, Phó công sứ Bắc Ninh, thanh tra còn đang điều động quân lính thì Đốc Sung đã được nhân dân dẫn đường, đánh lạc hướng bọn do thám viên thanh trá phái đi, để Đốc Sung rời các làng ở Đa Phúc, Kim Anh. Ông còn cho quân khống chế hai đồn binh Phủ Lỗ và Đa Phúc đóng ở hai bên sông Cà Lồ giúp nghĩa quân vượt qua sông ở gần ngay hai đồn binh này luồn về hoạt động ở phủ Từ Sơn. Ngày 6 tháng 4 năm 1889, Đốc Sung chỉ huy nghĩa quân đánh phá Đông Khê (nay là huyện Yên Phong, Bắc Ninh) thuộc phủ Từ Sơn ngay gần đồn binh Từ Sơn.

Hoàng Cao Khải và Phó công sứ Bắc Ninh biết bị mắc lừa liền lập tức kéo quân về phủ Từ Sơn. Đốc Sung phán đoán trước đã đặt phục binh đón đánh đội quân ô hợp này và đã thắng lớn, tiêu diệt nhiều tên, thu nhiều vũ khí, quân trang, lương thực.

Trước khí thế dũng mãnh của nghĩa quân, quan huyện Phủ Lỗ, tay chân đắc lực của Hoàng Cao Khải rắt lo sợ, không dám đi ra khỏi phủ. Bọn mật vụ, chỉ điểm trông gương mấy tên bị trừng trị cũng co vài nằm yên. Tối 10/4/1`889, quân Pháp phải đưa một viên vệ binh chính, 60 lính đến đóng cùng quan huyện ở một làng gần đồn lính.

Khi quân của Phó công sứ và Hoàng Cao Khải cũng vững chân được ở phủ Từ Sơn thì Đốc Sung lại nhanh chóng đưa quân trở về hoạt động ở vùng phía nam huyện Thuận Thành giáp với huyện Mỹ Hào(4).

Đêm 12 rạng ngày 13/4 một phân đội gồm 250 người bao vây làng Kẻ Mót vì nhận được tin báo có 30 nghĩa quân. Một cha xứ An Nam bất ngờ và ngạc nhiên bảo đảm rằng nguồn tin trên là không chính xác. Cha xứ cho biết có một toán nghĩa quân chừng 30 người do 6 viên thủ lĩnh chỉ huy. Họ ăn mặc như người phu đã qua Kẻ Mót hôm qua. Người cho rằng chúng chưa thể đi xa, chắc còn ẩn náu trong vùng xung quanh. Sáng 13/4 quân lính lùng sục làng Đạm Trai phía trên con ngòi Kẻ Mót. Nhà cửa vắng tanh nhưng dấu vết để lại là nghĩa quân vừa di tản. Viên thanh tra dẫn lực lượng pháo thủ đi lùng sục trong cánh đồng, những đám cỏ cao, dưới rộng và phát hiện 2 nghĩa quân súng còn trên tay, không xét xử mà hành quyết ngay, 8 tên khác bị bắt trong đó có 1 là lý trưởng, 1 là phó quản(5).


(1) Bố lộ là những tấm vải trắng viết những lời tố cáo tội ác của giặc Pháp và tay sai nhằm hô hào mọi người đứng lên chống Pháp.
(2) Huyện Yên Lăng thuộc phủ Vĩnh Tường, Sơn Tây, sau thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Nay là huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
(3) Đa Phúc trước là Thiên Phúc thuộc tỉnh Bắc Ninh. Năm 1905 tách các huyện Đông Anh, Kim Anh, Đa Phúc của tỉnh Bắc Ninh nhập vào tỉnh Vĩnh Yên. Nay Kim Anh, Đa Phúc hợp nhất thành huyện Sóc Sơn thuộc Hà Nội.
(4) Vùng này năm 1890 Pháp cắt thành lập huyện Văn Lâm là một trong 4 huyện của đạo Bãi Sậy để đánh dẹp nghĩa quân Bãi Sậy. Năm 1891, Pháp lại giải tán đạo Bãi Sậy, trả huyện Cẩm Lương về cho hai huyện Cẩm Giàng và Lang Tài, Văn Lâm cùng Yên Mỹ, Mỹ Hào sấp nhập vào tỉnh Hưng Yên.
(5) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #64 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:15:33 am »

Được tin Đốc Sung đang hoạt động mạnh ở vùng Mễ Đậu, ngày 13/4/1889, Hoàng Cao Khải, phó công sứ Bắc Ninh phải đưa quân đóng giữa các đồn mới như sau:

- Hào Xá(1), Đông Mai đều thuộc tổng Đại Từ, huyện Văn Lâm, hai đồn binh có 100 vệ binh dân sự.

- Đồn Phú Thị, đồn Bần Yên Nhân được tăng thêm để mỗi đồn có 50 lính và 15 lính ở tàu Doudard de Lagré đổ bộ lên (nơi có sông Như Nguyệt, cầu Như Nguyệt, nơi vua Lý gặp Ỷ Lan, sông này chảy ra cống Xuân Quan ở sông Hồng).

Ở mỗi đồn binh kể trên, một quan chức bản xứ của lực lượng tuần tra cản sát giám sát tất cả các hoạt động của những toán nghĩa quân trên một đường kính nhất định và kêu gọi đầu hàng(2).

- 260 vệ binh dân sự, 1/2 lực lượng cảnh sát tuần tra đóng ở Lương Tài (tổng Lương Tài, huyện Văn Lâm cùng với tổng đốc và thanh tra đóng ở đó(3).

Một đại quân lưu động gồm 118 người do công sứ Hải Dương tổ chức ra, đặt dưới sự điểu khiển của ngài quan án tỉnh này, đạo quân gồm cả 50 người của lực lượng tần tra cảnh sát từ Bần Yên Nhân rút về nhập vào lực lượng đang đóng quân ở Văn Nhai, chỉ huy là viên đội chính loại 1: Vincillomi(4).

- Ngày 18/4/1889, các thuộc hạ của Đội Văn (khi đó ông đã trá hàng quân Pháp) nhận lệnh bắt vợ một viên thủ lĩnh trở về làng Nghĩa Lộ, tổng Đại Từ vào ban đêm. Những người tùy tùng đều có vũ trang nên đã bảo vệ được vợ của viên thủ lĩnh này bằng cách giương đông kích tây đánh vào đồn Đống Mối. Trong khi đân binh vào làng Nghĩa Lộ thì vợ viên thủ lĩnh đã tìm cách trốn, tuy nhiên bọn chũng cũng bắt được bà(5).

Cùng ngày 18/4, phân đội Bãi Sậy hợp binh với đồn Đống Mối và Bần Yên Nhân cho quân lùng sục là làng Yên Tập, tổng Yên Xá, huyện Mỹ Hào, gần làng Khúc Nhu, tổng Yên Xá, căn cứ của anh em Lãnh Thảo, Hai Thao, Đốc Muỗi qua cùa Hương Lãng ở phía nam huyện Thuận Thành đã khám phá ra một công binh xưởng, những khuôn đúc về các chi tiết quy lát cơ động của kiểu súng 1874 và nhiều linh kiện khác trong quá trình chế tạo(6).

Ngày 19/4/1894, phân đội Phú Thái (Hải Dương) bắt được các nghĩa quân là Gia, Khu La, Gấm tất cả đều bị hành hình(7).

Bố chính Bắc Ninh nhận được tin báo quân Đốc Sung đánh phá Mễ Đậu và Cự Đình trong phủ Thuận Thành, nhưng không điều động được quân. Đến ngày 26/7/1889 hắn mới lệnh cho đồn binh Đống Mối và Bần Yên Nhân hợp thành và cả 35 vệ binh mới từ Ninh Bình gửi tới thành một đạo quân tiến đánh Đốc Sung.

Song Mễ Đậu là căn cứ tin cậy của Đốc Sung từ nhiều năm trước, nên khi Đốc sung tới nhân dân đã dời đi nơi khác chỉ để trai tráng ở lại giúp Đốc Sung. Đốc Mỹ xây dựng trận địa, phục vụ hậu cần. Mễ Đậu trở thành làng kháng chiến vững chắc, không kém gì các làng Phổ Lộng, Thuý Lâm, Đăng Thao, Đan Tảo ở Đa Phúc và Kim Anh nên Bố Chính đánh suốt một ngày mà không phá được lũy còn bị thiệt hại nặng nề về người và của.

Không đánh được Đốc Sung quân Pháp trả thù bằng cách giao cho án sát Hưng Yên đóng ở đồn Hà Liên chặt đầu Quản Tu thủ lĩnh nghĩa quân ở huyện Lang Tài (Bắc Ninh) và các nghĩa quân Nam, Quy, Trụ, Lập, Dinh, Vương, Hựu, Vích, Tín, Đáp, Tích, Huy, Phu bị bắt trong các trận càn quét(8).

Điều mà Hoàng Cao Khải, Bố chính Bắc Ninh không thể ngờ là Đốc Sung, Lãnh Mỹ, Quản Dậy lợi dụng đêm tối, trời mưa bí mật đem 200 quân vượt vòng vây về bắc Ân Thi phối hợp với đội quân của Đề Quý, Lãnh Vang, Đội Vinh vây đánh một phân đội lính của tỉnh Hưng Yên đóng ở bắc Ân Thi để khống chế không cho nghĩa quân đem quân lên nam Bắc Ninh. Trận này nghĩa quân thắng lớn giết được nhiều giặc, thu được nhiều vũ khí. Song nghĩa quân cũng bị tổn thất không ít mà theo tài liệu của quân Pháp, nghĩa quân chết 6 người, trong đó có Quý và Thông được đưa về chôn ở làng Thanh Khúc.


(1) Có lẽ là Trình Xá - VTS.
(2), (3), (4), (5), (6) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
(7) Dulleman: Notice sur la Province de Hải Dương. Sđd.
(8) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #65 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:22:57 am »

Nhận được tin trên, Hoàng Cao Khải vội vàng sai bố chính Bắc Ninh rút bớt quân bao vây Mễ Đậu đi cứu viện phân đội Hưng Yên đang bị nguy khốn ở bắc Ân Thi. Nghĩa quân rút lui trước khi quân tiếp viên của quân Pháp kéo tới. Ngay trong đêm, Đốc Sung, Lãnh Mỹ lạ hành quân về Thuận Thành, còn Lãnh Vang, Đội Vinh phân tán vào các làng ở bắc Ân Thi(1). Khi Đốc Sung, Lãnh Mỹ về đến làng Mộ Đạo, Cự Đình huyện Thuận thành thì bị bọn thám báo phát hiện báo cho Bố chính Bắc Ninh. Hoàng Cao Khải, thanh tra Laune nhận được tin liền lệnh cho Bố chính Bắc Ninh cùng đồn trưởng các đồn Đống Mối, Bần Yên Nhân tập hợp thành một đạo quân tiến đánh Cự Đình. Trận đánh diễn ra vào ngày 23/4/1889, viên vệ binh chính Nicolais chỉ huy 35 dân binh của tỉnh Ninh Bình hung hăng tiến lên trước, tới gần chiến lũy thì bị nghĩa quân bắn đón đầu. Vị trí của viên vệ binh này bằng phẳng vì thế rất bất lợi cho việc giữ vững. Nicolais được quân Bố chính và quân ở đồn binh Đống Mối, Bần Yên Nhân yểm hộ nên xông được vào làng. Lập tức khoảng 200 nghĩa quân bao vây quanh Nicolais và 35 người lính đánh giáp lá cà. Giữa lúc trận chiến đấu diễn ra quyết liệt thì viên quản khố xanh Normanrd cùng với 75 lính của đồn Bần Yên Nhân xông vào đánh tập hậu quân phiến loạn (entre cogne derrere les piates). Sau 1 giờ 30 phút súng nổ ran, bọn phiến loạn tháo chạy tứ phía, đồn Bần Yên Nhân truy đuổi chúng 45 phút, mỗi khi thấy chúng tổ chức lại thành một nhóm lại xả súng bắn vào đồng loạt. Đã bắn hết 2.884 bao đạn.

34 nghĩa quân bị giết, số bị thương chưa rõ. Trong số chết tại trận có Lãnh Trạch người làng Dịch Trì, Lãnh Dan và Lãnh Kiệt người làng Bảo Khan, Lãnh Dao ở Nghĩa Lộc, Lãnh Lộc ở Man Lương, Lãnh Nai ở Lê Xá.Trong số chết, có cả một đội và nhiều lính. Về phía ta hoàn toàn vô sự(2).

Những đồn binh Lương Tài(3) và huyện Cẩm Giàng do các viên vệ binh chính chỉ huy: Dominici và Perroudin mặc dù quân số ít ỏi cũng chạy lại chiến trường vì ở xa quá họ đến không kịp để góp sức; cả những đồn binh Ghênh, Ngã Tư Dâu cũng vậy.

Lãnh Vắn từ cuối tháng 3/1889 đã bí mật thương thuyết với Bố chính Bắc Ninh xin hàng, giử cả dấu ấn đến đồn Đống Mối để làm tin. Lãnh Vắn đã tiết lộ bí mật các vị trí đóng quân cùng các cuộc hành quân của nghĩa quân cho quân Pháp. Sau trận giao tranh này, Lãnh Vắn công khai ra hàng Pháp.

Lãnh Vắn đã lôi kéo một số lãnh binh, đốc binh, nghĩa quân chịu ảnh hưởng của hắn ra hàng. Trong số những người ra hàng có những người bị đẩy vào tình thế buộc bị rơi vào thế cùng đường, có ngưười bị giặc bắt cha mẹ, vợ con buộc phải ra hàng để cứu thân nhân. Song cũng có những kẻ phản bội lý tưởng của mình, phản bội chủ thướng và đồng đội như Đốc Khoát, Lãnh Quang, Lãnh Tảo… trở thành tay sai đắc lực cho giặc đi do thám, đưa đường cho giặc đánh phá căn cứ, triệt hạ các cơ sở, giết hại các thủ lĩnh gây tổn thất nặng nề cho cuộc khởi nghĩa.

Hoàng Cao Khải tưởng rằng Đốc Sung cũng như một số thủ lĩnh khác đã ra hàng, ngày 25/4/1889 hắn viết thư chiêu hàng, nhưng “Toán quân của Sung không phúc đáp thư của ngài Tổng đốc do những viên mật vụ chuyển đến mà còn tìm cách bắt những tên này”.

Đốc Sung còn trả lời quân Pháp và Hoàng Cao Khải bằng hành động quyết liệt: “ngày 4/5/1990 giao cho Đốc Mỹ tấn công Lãnh Vinh, Lãnh Hiếu, định ra hàng ở tổng Phú Thị” và ngày 6/5/1889 tấn công giết chết 6 thuộc hạ của Quý đã ra hàng Pháp[/i(4).

Mặc dù cón hiều cố gắng song Nguyễn Thiệt Thuật, Đốc Sung, Đốc Mỹ và các tướng lĩnh khác đã bị quân Pháp, đạo quân Bình định của Hoàng Cao Khải, Branchard, Laura, của Bố chính Bắc Ninh chặn lại không liên hệ được với đạo quân của Tán tương quân vụ Ngô Quang Huy.

Bị quân Pháp, quân Hoàng Cao Khải truy kích ráo riết, Ngô Quang Huy và Ngô Quang Chước phải chạy về một làng thuộc tỉnh Bắc Giang, theo sau ông chỉ có mười nghĩa quân thân tín. Thấy khó lòng thoát khỏi bị quân Pháp bắt, Ngô Quang Huy giải tán nghĩa quân rồi tự vẫn vào ngày 1 tháng 4 năm Kỷ Sửu, Thành Thái thứ nhất (khoảng ngày 1 tháng 5 năm 1889) Ngô Quang Chước cùng mấy nghĩa quân thân tín chôn cất ông, sau đó san bằng mặt ruộng. Chủ ruộng là cơ sở của nghĩa quân gieo mạ lên xóa dấu vết khiến bọn Pháp và Việt gian không tìm thấy(5). Ngô Quang Chước phải trốn tránh không dám về làng.

Còn chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Sung, Đốc Mỹ cũng đã đánh bại các cuộc hành quân của giặc Pháp và Nam triều, trở về căn cứ Bãi Sậy an toàn. Về sự kiện trên, thực dân Pháp phải thú nhận như sau:

“Nhưng từ đó cho tới ngày 31/3/1889 và sang cả đầu tháng 4/1889, Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Sung thoắt ẩn, thoắt hiện liên tục đánh quân Pháp ở Bắc Ninh, Phúc Yên, Thái Nguyên, Sơn Tây khiến cho quân Pháp khốn đốn rồi kéo xuống mạn Thanh Trì, Thường Tín vượt sông Hồng về căn cứ Bãi Sậy an toàn”(16.

Trong năm tháng đầu năm 1889 mặc dù quân Pháp và Nam triều đàn áp tàn bạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, song nghĩa quân vẫn chiến đấu kiên cường. Tuy Tán tương quân vụ Ngô quang Huy cùng một số tướng lĩnh, nghĩa quân hy sinh, một số tướng lĩnh, nghĩa quân đầu hàng giặc gây tổn thất về lực lượng, vũ khí. Nhưng về cơ bản nghĩa quân đã làm thất bại các cuộc hành quân của quân Pháp vào nam Bắc Ninh, căn cứ Bai Sậy, bắc Ân Thi, căn cứ Hai Sông ở Kinh Môn và Thuỷ Nguyên, phá vỡ cuồng vọng cửa giặc Pháp và Nam Triều là giết hoặc buộc Nguyễn Thiện Thuật đầu hàng. Kẻ địch phải thú nhận:

“Cho nên chúng ta thấy cần phải chiếm cứ những địa bàn căn cứ này vào lúc mà những toán cướp nếu bé nhỏ thì không trụ được bằng cách tăng thêm nhiều đồn binh của lực lượng tuần tra cảnh sát, buộc những toán cướp này hoặc những tàn dư của những toán này phải ra hàng, nếu không thì phải chui vào ẩn náu ở một vùng và chỉ ở một vùng thôi. Vùng này ta mở cửa, đó là vùng đảo có Hai Sông nơi đồn trú của Đốc Tít. Khi đạt được kết quả này chúng ta sẽ tập trung lực lượng vào đảo bằng một đòn nhanh và có hiệu lực”(7). Tuy nhiên, quân Pháp chưa kịp thực hiện kế hoạch trên thì tháng 6 năm 1889 theo lệnh của Toàn quyền Parô (Parreau)(8) tháng 6/1889, Thống sức Bắc Kỳ Brière phải ra sắc lệnh giải tán đạo quân Bình định đê thay thế bằng một đạo quân mới là binh đoàn cảnh sát (Colone de police) ngay trong tháng 6/1889,


(1) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam - Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải. Sđd.
(2) Thật là vô lý lấy đâu ra lắm Lãnh binh lại cùng bị chết trong một trận nưh thế, mà quân Pháp không hề có một tên nào bị thương vong - VTS.
(3) Tổng Lương Tài thuộc huyện Văn Lâm.
(4) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
(5) Theo gia phả họ Ngô Quang ở thôn An Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm do cụ Ngô Quang Vy cháu 4 đời cụ Ngô Quang Huy, cụ Ngô Quang Chước cung cấp cho tác giả tháng 11/1998.
(6) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ - Báo Tương lai Bắc Kỳ số 147 ra ngày 6/4/1889 - Báo Tin tức Hải Phòng số 258 ngày 4/4/1889.
(7) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
(8) Đứng đầu bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở vùng Bắc Kỳ là viên Tổng trú sứ (Résident Genéral) mà đương thời lúc đó gọi là Toàn quyền Lưỡng Kỳ, thay mặt chính phủ Pháp cai trị ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ theo Hiệp ước 6/6/1884. Toàn quyền Lưỡng Kỳ ngang với Thống đốc Nam Kỳ và độc lập đối với Thống đốc Nam Kỳ. Dưới quyền Toàn quyền Lưỡng Kỳ là Thống sứ Bắc Kỳ và Khâm sứ Trung Kỳ. Các tổng trú sức Trung Bắc Kỳ là: Pônbe (Paul Bert) 8/4/1886-11/11/1886; Pôlanh Vian (Paulin Vial) quyền Tổng trú sứ 12/11/1876-28/1/1887; Bilhua (Bilhourd) 29/1/1887-11/9/1887; Bécgê (Berger) quyền Tổng trú sứ 11/9/1887-27/10/1887; Bilhua (Bilhourd) Tổng trú sứ 27/10/1887-17/11/1887; Bergea quyền Tổng trú sứ 17/11/1887-25/6/1888; Parô (Parreau) quyền Tổng trú sứ 25/6/1888-8/9/1888; Rêna (Rheinard) Tổng trú sứ 23/6/1888-5/1889; Parô (Parreau) quyền Tổng trú sứ 5/1889.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #66 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:28:01 am »

CHƯƠNG VI

QUÂN PHÁP TẬP TRUNG BINH LỰC
TIÊU DIỆT NGHĨA QUÂN ĐỐC TÍT
(6/1889-8/1889)

Sau trận chiến kéo dài 3 tháng đến tháng 5/889, quân Pháp huy động lực lượng lớn bao gồm quân viễn chinh Pháp, đạo quân Bình định, cảnh sát cơ động, binh lính Nam triều ở các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Bác Ninh, Tây Sơn, Thái Nguyên, Ninh Bình có sự chi viện tích cực của pháo binh, công binh, các hạm tàu. Tuy chúng không tiêu diệt được thủ lĩnh Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Sung, Đốc Mỹ, nhưng đã làm tan rã lực lượng nghĩa quân của Ngô Quang Huy, dồn ông vào đường cùng, buộc ông phải tự tử. Chúng cũng buộc nhiều thủ lĩnh nghĩa quân phải ra hàng trong đó có Đội Văn, Lãnh Vắn, Đốc Quang, Đốc Khoát, Lãnh Tảo và nhiều thủ lĩnh khác cùng hàng trăm nghĩa quân, mất rất nhiều vũ khí trong đó có tới 300 khẩu súng bắn nhanh(1). Trước sự tấn công ác liệt của quân Pháp, Đốc Tít phải bỏ căn cứ Hai Sông rút về xây dựng căn cứ mới ở cù lao Hai Sông.

Tuy nhiên, quân Pháp cũng bị tổn thất nặng nề về binh lực, vũ khí, tiền bạc, thất bại nặng nề hơn nữa là Thống sứ Bắc Kỳ Brière phải ra sắc lệnh giải tán đạo quân Bình định vào đầu tháng 6/1889, khiến nó bị chết yểu sau khi ra đời mới được 2 tháng tuổi.

Không tin tưởng vào quân Nam triều do Hoàng Cao Khải và các quan lại chỉ huy, ngày 8/6/61889, bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Trung - Bắc Kỳ điều động quân Pháp đóng ở Ninh Hải (nay là Hải Phòng) tỉnh lỵ Hải Dương, Quảng Yên tấn công căn cứ Thuỷ Động(2) ở cù lao Hai Sông.

Vùng Hai Sông nằm giữa hai con sông Kinh Thầy và sông Đá Bạch trên một địa bàn rộng lớn thuộc địa phận các huyện Kinh Môn, Đông Triều, Thuỷ Nguyên (Hải Dương) và Yên Hưng (Quảng Yên), nằm ngay trong phạm vi 13 xã của huyện Kinh Môn (Hải Dương) - Đông Triều (Quảng Ninh) - Thuỷ Nguyên (Hải Phòng). Cù lao Hai Sông lại phân chia làm cù lao lớn và cù lao nhỏ, do một nhánh của sông Kinh Thầy, dân cư gọi là sông Hàn Mấu cắt ngang.

Đây là vùng núi non hiểm trở. Khi cần nghĩa quân có thể mở rộng phạm vi hoạt động phối hợp tác chiến với nghĩa quân Tiền Đức ở đảo Cát Bà và các cửa sông; với nghĩa quân Cử Bình, Lãnh Tư ở An Lão, phủ Kiến An; với nghĩa quân Lưu Kỳ ở vùng rừng núi huyện Đông Triều; với nghĩa quân Nguyễn Thiện Kế ở bắc Hải Dương và nam Bắc Ninh.

Nhờ địa thế núi cao hiểm trở, Đốc Tít đã bố trí trận địa phòng ngự ở thế có lợi, đánh bật nhiều cuộc tấn công của quân Pháp. Dulleman từng đem quân đi đánh Đốc Tít, sau đó là phó công Sứ Hải Dương viết về trận đánh đó như sau: “Trong khu sào huyệt “đảo có hai sông” Đốc Tít mạnh lên. Tít có 150 súng. Một lực lượng của chúng ta khi qua vùng này bị tiết đánh. Liên kết với những toán cướp của Tàu ở Đông Triều và chính Tít… ngày càng trở nên nguy hiểm. Mấy tháng trước đây một cuộc thảo phạt được tiến hành để chống Tít. Cuộc thảo phạt này do lực lượng của những đạo quân chính ngạch đảm nhiệm có sự yểm hộ của những pháo hạm nhưng thất bại. Một cuộc thảo phạt khác giao cho dân binh tỉnh Hải Dương cùng với dân binh Quảng Yên cũng không đem lại những kết quả tốt. Từ trên một hòn núi đá Tít đích thân chỉ huy cùng với một cái loa. Trận chiến đấu khốc liệt kéo dài tới khi quân nhu của dân binh bị cạn. Nấp trên đỉnh núi cao, toán cướp rất có lợi thế. Hệt như một đạo quân giỏi, chắc trong bọn họ có cựu pháo thủ và cựu dân binh, họ bắn hăng vào chỉ huy sở, 4 dân binh bị hy sinh, 13 bị thương, 20.000 viên đạn bị mất. Về phía Đốc Tít, do bị loại khỏi vòng chiến đấu. Sự thiệt hại này khiến Đốc Tít suy yểu nghiêm trọng. Có lẽ sợ một cuộc tấn công mới và có lẽ cũng vì quân nhu cạn. Đốc Tít sau đó rời “đảo có hai sông” cùng với đồng đảng của mình vào ẩn náu ở vùng Đông Triều và vùng Lục Nam”(3).


(1) Trong số ra hàng Pháp thì Lãnh Vắn, Đốc Khoát, Lãnh Tảo là những kẻ phản bội đã giúp Pháp điên cuồng đánh phá cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Đội Văn trá hàng, còn một số khác chỉ an phận không gây tội ác.
(2) Chúng tôi đã về Trại Sơn xã An Sơn và vùng Hai Sông hỏi các cố lão và tra cứu các sách địa chí viết trước Cách mạng tháng Tám 1945 thì ở vùng Hai Sông không có làng xã nào tên là Thuỷ Động. Địa danh này là một cái hang đầy nước ở núi Thiên Triều cạnh chùa Kim Liên ở Trại Sơn. Muốn vào hang phải đi bằng thuyền nghĩa quân bắc sạp trên mặt nước để ngủ nên gọi là Thuỷ Động.
(3) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Hải Dương, 1932.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #67 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:32:41 am »

Sau trận quân viễn chinh Pháp bị thất bại ở Trại Sơn và Hai Sông, thống sứ Bắc Kỳ nhận thấy muốn thắng được cuộc khởi nghĩa do các sĩ phu lãnh đạo, mà lực lượng chiến đấu lại là nông dân sống trên vùng đất đai rộng lớn, quân Pháp không có cơ hội đánh thắng được nên quay sang sử dụng chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”. Tháng 6.1889, toàn quyền Parô lại ủy quyền cho thống sứ(1) Bắc Kỳ Brière ra quyết định thành lập binh đoàn thứ hai mang tên là Binh đoàn cảnh sát (Colone de police) và giao cho Hoàng Cao Khải khi đó đã được Nam triều thăng chức Khâm sai Bắc Kỳ giữ chức Tư lệnh binh đoàn, Museller với danh nghĩa là ủy viên chính phủ. Binh đoàn có cả Tòa án quân sự để xét xử “Những vụ án phiến loạn”.

Thực dân Pháp đã tập hợp 1000 dân vệ dưới sự chỉ huy chặt chẽ của các viên thanh tra, cai đội Pháp 500 lính cơ và chỉ huy của họ.

Lần thứ hai được thực dân Pháp giao cho làm Tư lệnh binh đoàn, Hoàng Cao Khải điên cuồng trổ tài với bọn xâm lược bằng cách đánh phá ác liệt cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, khủng bố nhân dân. Hắn ngạo mạn xưng là Phó vương thả sức ban ơn, gieo họa.

Với kinh nghiệm đánh phá các cuộc khởi nghĩa ở Trung - Bắc Kỳ trong nhiều năm, Hoàng Cao Khải vạch ra kế hoạch đánh phá cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy như sau:

- Tạm thời chưa đánh phá lớn căn cứ Bãi Sậy, chỉ tăng cường quân lính tạo thành thế bao vây ngăn chặn nghĩa quân Bãy Sậy mở rộng địa bàn hoạt động, tiêu diệt các tướng lĩnh ở căn cứ khác nhằm cô lập căn cứ Bãi Sậy.

- Tập trung quân Pháp - Nam với lực lượng mạnh có pháo binh, công binh, hạm tàu tiêu diêt căn cứ Hai Sông của Đốc Tít, căn cứ Đông Triều, Lục Nam của Lưu Kỳ.

- Bố trí lực lượng mạnh ngăn chặn nghĩa quân từ Bãi Sậy, nam Bắc Ninh, bắc Hải Dương đến ứng cứu cho Đốc Tít, Lưu Kỳ.

Kế hoạch đánh phá cuộc khởi nghĩa Bãy Sậy có trọng điểm của Hoàng Cao Khải được Thống sứ Bắc Kỳ phê chuẩn. Lập tức từ tháng 6/1889, Hoàng Cao Khải tăng cường quân lính và súng đạn cho các đồn binh xung quanh căn cứ Bãi Sậy, lập thêm các toán quân cơ động chốt các vị trí trọng yếu giáp ranh giữa các tỉnh Hưng Yên - Hải Dương - Bắc Ninh để ngăn chặn nghĩa quân từ căn cứ Bãi Sậy tiếp ứng cho Đốc Tít, Lưu Kỳ.

Rút kinh nghiệm trận đánh ngày 8/6/1899 thất bại vì quân Pháp không nắm được thực lực của Đốc Tít nên trong khi đai quân tấn công căn cứ Hai Sông thì những căn cứ khác của Đốc Tít liên tục đánh phá các đồn binh Pháp, là nơi quân cơ động Pháp tập kết trước khi tấn công vào trung tâm căn cứ Hai Sông và cướp các kho lương thực. Vì vậy, trước khi tiến hành trận đánh quy mô lớn hơn, bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp và Hoàng Cao Khải tung gián điệp đi do thám, chúng nắm được quân của Đốc Tít như sau:

Ngày 27/6/1889

Qua sự đối chiếu nhiều báo cáo khác nhau của những viên mật vụ từ những nơi Đốc Tít chiếm giữ là có thể có một bảng kê ước chừng về lực lượng của viên thủ lĩnh này:

- Đội quân trợ thủ người Tàu: 380 tên

- Mai Động(2), Lãnh Pho, Vũ Pháo: 16 tên

- Đội quân của Tán Thuật, Cai Mỹ: 11 tên

- Đội quân của Đốc Tít, Đốc Thuận, Quản Xuyên, Quán Hạnh, Quản Y: 47 tên

- Phó đề đốc Lăng (Lan): 100 tên

- Ở Phát Cơ: Lãnh Luân, các đội Hựu, Cao, Cách: 72 tên

- Ở Liên Sơn, Lãnh Hay, Quản Phi: 43 tên

- Ở Vũ Lao(3), Lãnh Huyên, Quản Nguyên, Lãnh Niên: 27 tên

- Ở Phượng Sơn, đội Chu; 25 tên

- Ở Phi Việt: Quản Bang: 15 tên.

- Ở Viên Khê: Quản Dung: 18 tên

- Ở Phù Lưu(4): Quản Sửu: 15 tên

- Ở Ngọc Khê: Quản Cay: 18 tên

 Trên các ngòi lạch: Đội Ba và Đạt: 6 thuyền

Tổng số chừng 1.100 người trang bị thích đáng.


(1) Từ tháng 4/1886-5-1886 khi bãi chức Tổng trú sứ ở Trung - Bắc Kỳ, thay vào đó là chức Thống sứ ở Bắc Kỳ, Khâm sứ ở Trung Kỳ, Chính phủ Pháp đã phải thay đổi người giữ chức Tổng trú sứ đến 9 lần là Paulber, Poli, Vial, Bihua (Bihourt), Béc giê (Berger), Parreau, Rêna (Rhénrart), Parô (Parreau).
(2) Nay thuộc xã Liên Khê, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
(3) Nay thuộc xã Kỳ Sơn, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
(4) Có Phù Lưu Nội, Phù Lưu ngoại nay thuộc xã Phù Lưu huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #68 vào lúc: 19 Tháng Năm, 2011, 09:37:55 am »

Vấn đề đặt ra cho quân viễn chinh Pháp và tay sai Hoàng Cao Khải là phải kiểm tra những địa điểm có nghĩa quân đồn trú, các cuộc hành quân của nghĩa quân Đốc Tít và nghĩa quân do Nguyễn Thiện Thuật cùng các tướng lĩnh do ông chỉ huy. Một vấn đề nữa là căn cứ Hai Sông tại sao nghĩa quân lại bỏ phòng ngự phía trước vốn quen thuộc để tập trung vào giữa một hòn đảo nằm đối diện với Yên Lưu, một hòn đảo hình thành bởi sông Giá ở phía bắc và đông bắc, bởi sông Kinh Thày và sông Cấm ở phía tây nam, bởi sông Đằng Giang ở phía đông(1).

Sau những trận đánh lớn vào căn cứ nghĩa quân chẳng những quân Pháp không tiêu diệt được nghĩa quân mà còn bị thất bại thảm hại. Hoàng Cao Khải tổng đốc Hải Dương - Hưng Yên – Bắc Ninh kiêm Khâm sai Bắc Kỳ, kiêm chỉ huy Tiễu phủ sứ nhận thấy quân Pháp không thể dùng lực lượng lớn đánh nhanh thắng nhanh, hắn đã hiến kế cho quan thày Pháp tập trung binh lực lớn đồng loạt tấn công vào căn cứ Hai Sông, đóng các đồn binh xung quanh căn cứ, điều động hơn mười tàu chiến, pháo hạm, công binh, pháo binh đánh phá căn cứ Hai Sông. Tổ chức lực lượng hương binh phản động, khủng bố nhân dân, triệt phá các làng có người tham gia nghĩa quân, ủng hộ, đóng thuế cho nghĩa quân. Cấm chợ, ngăn sông để nghĩa quân không mua được lương thực. Một chiến dịch vu cáo nghĩa quân là kẻ cướp được tung ra, chúng còn hèn hạ cho tay chân đóng giả nghĩa quân đi ăn cướp rồi phao tin nghĩa quân đi cướp của dân. Hoàng Cao Khải còn giao cho các đồn binh, các quan phủ huyện phải đánh phá, chặn được đường không cho nghĩa quân từ Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Lục Nam đến chi viện cho Đốc Tít.

Kế hoạch trên của Hoàng Cao Khải được bọn cầm quyền Pháp chấp nhận và khẩn trương điều động lực lượng.

- Ngày 13/7/1889 một cuộc tập trung lực lượng vệ binh dân sự nhằm hỗ trợ việc bình định vùng Đông Triều đã hoàn thành. Những chuẩn bị cuối cùng cho lực lượng này đã được tiến hành.

- Phân đội Yên Liên bắt Lê Văn Cự người làng Yên Liên, huyện An Dương tỉnh Hải Dương (nay thuộc Hải Phòng). Cự là thám báo của Đốc Tít và là một thành viên của nghĩa quân do viên Phó thủ lĩnh Lam chỉ huy. Cự bị bắt quả tang đang hoạt động do thám. Hắn cũng khai Lãnh Lam, Nguyễn Văn Thi, Lê Văn Gác cùng là người làng với hắn và đều là người của Đốc Tít(2).

- Ngày 14/7/1889, Hoàng Cao Khải cùng hai giám binh Blanchard và Laune chỉ huy cho binh đoàn bao vây căn cứ Hai Sông bằng 4 đạo quân lớn:

+ Đạo quân thứ nhất của Tán lý Cao Xuân Dục đóng đồn ở xã Mai Động và chặn đường ra vào của nghĩa quân.

+ Đạo quân thứ hai của Tán lý Đào Trọng Kỳ đóng đồn ở xã Quỳ Khê chặn đường sau lưng nghĩa quân ngăn nối Đốc Tít rút vào huyện Đông Triều.

+ Đạo quân thứ ba của Tán lý Nguyễn Hữu Vịnh đóng ở xã Dương Động chặn đường cửa sông.

+ Đạo quân thứ tư của Hoàng Cao Khải đóng phía trước mặt nghĩa quân.

Địch còn sử dụng 10 pháo hạm do sĩ quan Pháp chỉ huy, binh lính Pháp sử dụng pháo đại bác trợ chiến(3).


(1) Piglowsky: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
(1) Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải trong tỉnh Hải Dương từ đầu tháng 4 đến 15/6/1889. Piglowsky dẫn trong sách: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
(3) Lịch sử cận đại Việt Nam, tập II của Trần Văn Giàu và Đinh Xuân Lâm - dẫn theo báo cáo của Trần Lưu Huệ tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên Kinh lược sứ Bắc Kỳ về việc bắt Đốc Tít.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #69 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:34:50 am »

Hoàng Cao Khải, Banchard, Laune mở đợt tấn công lớn vào cù lao Hai Sông bằng những loạt đại bác bắn dữ dội vào các làng Viên Sơn, Phát Cơ, Việt Sơn, Cao Từ. Nhiều nhà cửa, cây cối bị dổ, cháy. Sau một đợt đại bác, bọn chỉ huy Pháp lại đem quân xông vào, nhưng đều bị nghĩa quân đánh bật trở lại(1).

Nguyễn Thiện Thuật nhận được tin quân Pháp tấn công vào căn cứ Hai Sông đã lệnh cho thủ lĩnh nghĩa quân tấn công vào các đôn bốt mở đường cho đội quân đến chi viện cho Đốc Tít. Chỉ trong cuối tháng 7/1889, hàng loạt cuộc tấn công đã diễn ra.

- Ngày 23/7/1889, một toán 50 nghĩa quân đột kích vào phủ Thuận Thành (Bắc Ninh)(2).

- Nghĩa quân hoạt động ở Cầu Hầu (Yên Mỹ) nghĩa quân có ý định vượt qua huyện Ân Thi để tiến sang Hải Dương, Morel, phó công sứ Hưng Yên và quản khố xanh Samaral, Soler Anber phải kéo đến đánh nhau với nghĩa quân.

- Đề Mỹ chỉ huy một toán quân có 60 tay súng trú quân ở Chúc Mao thì Tán lý Lê Hoan, Đề đốc Sơn Tây, thanh tra Zambert bao vây tấn công, đã bị nghĩa quân đánh cho đại bại, giết chết 16 tên, bị thương 2 tên.

- Ngày 23/7/1889, một toán nghĩa quân mạnh chừng 300 người, được trang bị 200 súng bắn nhanh về làng Quang Bố, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh thì gặp toán quân của trung úy Trysandier Laubarède chỉ huy 30 lính khố xanh cũng đang trên đường đi tìm và diệt nghĩa quân. Hai bên đánh nhau dữ dội, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề. Laubarède tử thương(3).


(1) Trong mấy thập kỷ qua có rất nhiều sách, tạp chí viết Đốc Tít bố trí cho Nguyễn Thiện Thuật trốn sang Trung Quốc vào tháng 7/1889 như sau:
Sách Lịch sử Việt Nam (1858-1896) viết: “Cho đến giữa năm 1889, trên tất cả ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, nghĩa quân rơi vào tình thế bị bao vây, cô lập và liên tục bị truy kích. Trước tinh thế khó khăn đó, Nguyễn Thiện Thuật đã giao bình quyền cho các em Nguyễn Thiện Kế, Nguyễn Thiện Giang và một số tướng lĩnh khác rồi vượt vòng vây đến căn cứ Hai Sông. Tại đây Đốc Tít đã bố trí cho ông trốn sang Trung Quốc (7/1889), ông đi Khâm Chân, Nam Ninh rồi chết ở bên đó và năm 1925”.
Nguyễn Văn Khánh trong bài: Giòng họ Nguyễn Thiện Thuật trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX viết: “Mùa thu 1889 trước tình thế khó khăn, Nguyễn Thiện Thuật giao lại binh quyền cho em là Nguyễn Thiện Kế và một số tướng lĩnh khác rồi vượt vòng ây đến căn cứ Hai Sông với Đốc Tít. Ngày 17/7/1889, Đốc Tít đã tổ chức cho Nguyễn Thiện Thuật vượt vòng vây sang Trung Quốc, Nguyễn Thiện Thuật sang chân núi Bái Vọng để khấn bái tổ tiên, sau đó ông lại đổi núi này thành núi Bái Đức”.
Một số sách khác cũng viết theo như vậy.
Theo chúng tôi không có việc Đốc Tít bố trí cho Nguyễn Thiện Thuật trốn sang Trung Quốc vì:
- Thứ nhất là, ngày 8/6/1889, quân Pháp tấn công căn cứ Thuỷ Động (ở Trại Sơn) suốt 8 tiếng đồng hồ, quân Pháp bắn 22.000 viên đạn, Đốc Tít định rút về Lục Nam thì quân Pháp lại tấn công. Đốc Tít phải lui quân trở lại đánh giáp lá cà rồi rút về Đông Triều, Lục Nam sau đó lại trở về căn cứ Hai Sông.
Ngày 14/7/1889, Giám binh Laune và Hoàng Cao Khải bao vây cù lao Hai Sông bằng 4 đạo quân lớn. Cuối tháng 7/1889 phải chạy về xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên. Sau đó trở lại căn cứ Hai Sông. Từ ngày 1 đến ngày 11/8/1889 Đốc Tít bị quân Pháp vây đánh liên tục. Ngày 12/8/1889, Đốc Tít, Đốc Lăng đưa hơn 200 quân ra hàng Pháp.
- Thứ hai là từ tháng 7/1889 đến tháng 9/1890, nhiều tài liệu của Pháp nhắc đến Nguyễn Thiện Thuật như: “Tán Thuật, Hai Kế, Đốc Sung, Lãnh Bao và Văn trở lại chiến trường đều mới có mặt ở vùng này”. (Theo Dulleman). “Tháng Giêng năm 1890, chúng (chỉ nghĩa quân) mở hai đợt tấn công lớn vào Kẻ Sặt, một đội lính cơ, lính khố xanh được thành lập sau cuộc xung đột với các đám giặc liên kết, quân ta đuổi được chúng sang tỉnh Bắc Ninh và sau đó chúng phải tự phân tán.Nhưng rồi Tán Thuật trở về, các đám lại quần tụ và tập trung quanh ông ta” (Theo Hải Dương tỉnh chí). Hoàng Cao Khải cũng tự thú nhận; “ở vùng Đốc Sung vẫn còn lại chừng 200-300 tên, vũ trang khoảng 100 súng, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Tán Thuật”. (Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải)…
- Thứ ba là, từ căn cứ Bãi Sậy lên Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương tới Lạng Sơn sang Long Châu rất gần, lại là địa bàn hoạt động của ông. Hà tất gì ông phải đến căn cứ Hai Sông nhờ Đốc Tít đưa sang Trung Quốc.
Lại nữa, làng Chi Ngãi, huyện Chí Linh nằm cạnh đường 18 từ Bắc Ninh tới Phải Lại - Hòn Gai. Chi Nghĩa cách thị trấn Sao Đỏ khoảng 3 km, phía tay trái đường có mộ và nhà thờ Nguyễn Phi Khanh. Vào thời điểm đó, quân Pháp đống đồn ở Phả Lại, Sao Đỏ ngày nay, Uông Bí… Đường 18 là đường hành quân của quân Pháp đâu có dễ dàng gì để ông Thuật đến bái vọng tổ tiên.
Một điều nữa là, sách Lịch sử Việt Nam viết; “Nguyễn Thiện Thuật giao binh quyền cho Nguyễn Thiện Kế và Nguyễn Thiện Dương” Nhưng Nguyễn Thiện Dương đã hi sinh trong trận tao ngộ chiến ở Bần Yên Nhân ngày 9/2/1888 và Nguyễn Thiện Thuật mất ngày 26/5/1926 (ngày 15 tháng 4 năm Bính Dần), chứ không phải năm 1925 và Khâm Châu chứ không phải Khâm Chân.
Sở dĩ có sự nhầm lẫn trên là do có sự hiểu bai thơ của Nguyễn Thiện Thuật nhan đề “Ký Đốc Tít” gửi cho Đốc Tít, sau khi đầu hàng Pháp tiệc tùng ở dinh Tổng đốc Hải Dương mở đầu bằng hai câu:
   “Cộng thệ tiêm cửu thất tải dư
   Mai Sơn nhất xuất ngẫu tương sơ”

Dịch:   Hơn bẩy năm trời hẹn trước sau
   Mai Sơn một chốc bỗng xa nhau

thành bài thơ của Đốc Tít tiễn Nguyễn Thiện Thuật trước khi lên đường Trung Quốc nhan đề: “Tiễn Nguyễn Công Thiện Thuật” mở đầu bằng hai câu:
   “Cộng thệ tiêm cửu tứ tải dư
   Mai Sơn nhất xuất ngẫu tương sơ”

Dịch   Diệt thù thề bốn năm hơn
   Xa nhau một buổi Mai Sơn lên đường…

(2) Minh Thành: Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 122, 123 tháng 5, 6/1969.
(3) Theo La Garde Ingigène des créstion à losrous của Daufès.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Năm, 2011, 10:55:05 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM