Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:39:51 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy  (Đọc 89151 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #70 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:35:50 am »

Sau khi đẩy lùi được các toán quân từ Hưng Yên, Bắc Ninh đánh sang Hải Dương với ý định đánh vào sau lưng quân Pháp đang tấn công căn cứ Hai Sông. Quân Pháp còn triệt đường tiếp tế vũ khí, lương thực vào căn cứ Hai Sông.

Nhằm thực hiện ý đồ nham hiểm trên, Hoàng Cao Khải ra lệnh chao quân triệt phá 250 làng ở cù lao Hai Sông, bắt nhân dân tản cư đi nơi khác, vì sợ nhân dân tiếp tế cho nghĩa quân. Quân Pháp mai phục ở Huệ Trì đánh cướp đoàn tải lương do Đốc vận quân lương Bùi Hữu Tích chỉ huy. Chúng bắt được ông tra tấn cho đến chết. Bà Nguyễn Thị Thành, chị ruột của Đốc Tít giữ chức Quản đốc vũ khí. Bà thương mua súng đạn, quân trang ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây chở bằng thuyền buồm phủ hàng hóa lên trên, cung cấp cho căn cứ Hai Sông. Chúng đi này gặp biến động, đoàn thuyền của bà phải dựa vào vịnh Hạ Long mà đi. Quân Pháp dò biết tin, đưa tàu chiến ra phục kích ở gần Cồn Chanh. Thấy thuyền giặc bủa kín xung quanh, bật đèn pha sáng trưng, bà biết là không thể thoát, liền cho quân đồ bộ lên Cồn Chanh rồi nổ mìn phá hủy thuyền. Quân giặc bao vậy chặt Cồn Chanh, bà chỉ huy nghĩa quân bắn trả kịch liệt, hầu hết nghĩa quân hy sinh. Bà Thành bị giặc bắt. Chúng đưa bà về Yên Lưu Thượng tra tấn man rợ. Bà không khai báo mà còn chửi vào mặt chúng. Chúng nung chiếc mâm thau đỏ rực để dọa bà. Bà không hề run sợ, bước thẳng tới ngồi gọn trên mâm. Quần áo, da thịt bà cháy khét lẹt. Sợ bà chết không khai thác được tài liệu, chúng kéo bà rồi đưa đi mất tích.

Bị triệt nguồn tiếp viện, nghĩa quân ngày một khó khăn, đạn gần hết, lương thực cạn kiệt, quân sĩ mệt mỏi. Trong khi đó thì ở phía bắc Cù Lao, phó tướng Lãnh Canh chỉ huy nghĩa quân chiến đấu ròng rã 22 ngày, đạn dược và lương thực đều cạn kiệt, quân tiếp viện không tới được. Giặc bất ngờ ập tới, ông dùng lưỡi lê, đoản đao đánh trả địch. Phần lớn nghĩa quân hy sinh, ông bị giặc bắt. Bọn giặc tra tấn ông cho đến chết. Ở phía nam Cù Lao, quân Pháp cũng tấn công ác liệt, Lãnh Hưu, Tổng Du, Quản Quỳnh tự mình xông lên trước chiến đấu ròng rã 20 ngày. Nghĩa quân chiến đấu cho đến khi bắn hết đạn. Quản Quỳnh hy sinh. Lãnh Hưu, Tổng Du bị giặc bắt, phòng tuyến phía nam tan rã. Trước tình thế đó, cuối tháng 7/1889 Đốc Tít phải dẫn tàn quân chạy về Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên. Ông được tri huyện giúp mộ quân, quyền góp được lương thực, lại trở về căn cứ Hai Sông.

Ngày 1/8/1889 Tổng đốc Hoàng Cao Khải và Thanh tra Branchard cho cảnh sát đổ bộ lên đảo Hai Sông và đã dựng trong hòn đảo lớn đối diện với Yên Lưu những đồn binh như sau:

- Dưỡng Lai: 2 vệ binh chính, 80 vệ binh dân sự.

- Lỗ Sơn: 2 vệ binh chính, 94 vệ binh dân sự.

Mỗi đồn binh này đều được cắm ở lối vào các động Dưỡng Lai, Phát Cơ, Lang Nhâm. Nhiệm vụ của các đồn binh này là bắt giữ tất cả nam giới trở lại các vùng lân cận. Địa điểm đó là ở vào khoảng đất của hòn đảo, khoảng này có nhiều đá lớm chởm và là nơi nghĩa quân của Đốc Tít dùng làm nơi trú ẩn.

Quân của lực lượng tảo thanh còn khoảng 400 và 200 vệ binh dân sự đóng ở Bần Yên Nhân, Đông Mai, Hà Xá, Phú Thị, 300 tên ở Dưỡng Lai và Lỗ Sơn(1).

Lực lượng chia làm hai cách để lên tàu:

- Một lên pháo hạm Berthe ở Villers.

- Một lên thương thuyền và 1 tàu thủy số 4 ở sông Côi, sông Thái Bình.

Một cánh đổ bộ lên phía nam của hòn đảo Lang Thiêm, một cánh lên phía bắc làng Thuỵ Khê, ở cạnh hai làng trên là những gò đống, không cây cối. cao, chế ngự các hòn núi đá, những hang động của Mai Động nằm kẹp giữa hai cánh quân này.

Cuộc đổ bộ tiến hành êm thấm, lác đác có vài nghĩa quân chống lại rời khỏi làng mạc tiến về hang động.


(1) Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải trong tỉnh Hải Dương từ đầu tháng 4 đến 15/6/1889, Piglowski dẫn trong sách: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #71 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:38:14 am »

Chiều đến nhiều toán quân Pháp mạnh đã tiến hành lùng sục các làng Thuỵ Khê, Kim Khê, Lang Thiêm, Mai Động… Từ những khoảng cách xa, vài nghĩa quân loáng thoáng, tỏ ra cô độc, kiểu cách này cho ta đặt ra giả thuyết là Mai Động có kẻ địch(1).

Quân Pháp còn huy động pháo hạm Berthe de Villière và các xuồng nhỏ tuần tiễu quanh vùng có nhiều đảo phía đông bắc và phía đông của đảo nơi nghĩa quân ẩn náu.

Đêm 2/8/1889, Đốc Tít dẫn 200 quân tấn công đồn lính. Cuộc chiến đấu kéo dài đến 90 phút, nghĩa quân giết chết 6 tên Pháp, làm bị thương 15 tên, trong đó có giám binh Laune chỉ huy cuộc bình định Hai Sông bị trọng thương, phải đưa về Hải Phòng chữa trị, một số súng bị gãy(2).

Mặc dù bị đánh phủ đầu, nhưng lực lượng địch vẫn còn rất mạnh. Sáng hôm sau, ngày 3/8/1889, Vincillion, Blanchart và Hoàng Cao Khải vẫn chỉ huy cuộc tấn công vào Trại Sơn. Đốc Tít mai phục quân ở nơi hiểm yếu dụ địch vào để tiêu diệt. Quân Pháp thấy nghĩa quân không chống cự, thì cho rằng nghĩa quân khiếp đảm vũ khí tối tân của quân Pháp mà tháo chạy, nên khinh thường, kéo nhau lên núi. Đợi khi quân giặc tới cách khoảng trên dưới 10 mét, Đốc Tít mới ra lệnh nổ súng. Tất cả mũi súng của nghĩa quân đều nhằm sẵn vào quân địch, nhất loạt rung lên. Những tên đi đầu ngã gục, những tên lính bị thương giãy giụa trong vũng máu, bọn còn lại nằm rạp xuống tránh đạn. Nghĩa quân bắn yểm hộ để một số tràn xuống cướp súng đạn. Khi Vincillion và Blanche củng cố được đội hình xua quân tràn lên thì hầu hết nghĩa quân đã trở về vị trí chiến đấu.

Cuộc chiến đấu giằng co, quyết liệt, quân Pháp bị đánh bật xuống chân núi nhiều lần nhưng chúng cậy động quân và lắm súng đạn, vẫn bắn như vãi thóc lên núi rồi hò hét xông lên. Nghĩa quân có ít người, súng đạn cũng hạn chế, nên núng thế. Lãnh Bái ở lại cầm chân giặc, còn Đốc Tít, Lãnh Quý, Lãnh Tiến rút về vùng rừng núi Phát Cơ. Lãnh Bái cầm cự được chừng một giờ thì bị trúng đạn vào vai, phải hô quân rút lui.

Quân Pháp lập tức đuổi theo, bao vây Phát Cơ kín bốn phía. Đường vào núi Phát Cơ rất hiểm trở, quân Pháp phải dùng mìn phá đã để mở lối, cho quân xông lên. Nhưng mỗi khi quân Pháp nhô lên lập tức bị nghĩa quân bắn trúng. Quân Pháp, quân Nam bị chết, bị thương rất nhiều phải rút lui. Song Hoàng Cao Khải, Vincillion và Blanche vẫn cho quân bao vây chặt Phát Cơ, Dưỡng Lai và Yên Lưu nhằm cô lập nghĩa quân trên núi đá. Trên sông Lô Sơn, sông Côi, sông Kinh Thày thì pháo thuyền Moulion và nhiều xà lúp tuần tiễu suốt ngày đêm.

Một đêm tối trời, đội quân của Riléan và Ménard mạo hiểm leo lên núi Phát Cơ nơi nghĩa quân chiếm đóng. Khi cách núi khoảng 100 mét, quân Pháp dừng lại bò sát đất tiến vào. Đến nơi chúng chia thành từng tốp 3-5 người vây chặt khu vực nghĩa quân đồn trú chờ lệnh là xông lên. Nghĩa quân sau nhiều ngày quân thảo với địch, sức lực kiệt quệ dần. Số thương binh nặng không được cứu chữa kịp thời các vết thương sưng tấy, mung mủ dẫn đến tử vong, người ốm nằm la liệt. Vì vậy quân giặc bò lên núi nghĩa quân vẫn không phát hiện được.

Trời gần sáng, một nghĩa quân làm nhiệm vụ cảnh giới nhìn thấy quân giặc liền thổi tù và báo động. Lập tức nghĩa quân cầm lấy súng sẵn sàng chiến đấu. Quân Pháp và nghĩa quân bắn nhau dữ dội. Tuy nghĩa quân cố gắng ngăn cản địch, nhưng quân Pháp lợi dụng các khe đá ẩn nấp cũng tiến lên được. Thấy quân địch mạnh, Đốc Tít phải rút hết quân theo lối bí mật.

Toán quân của Ménard chiếm được núi Phát Cơ, cướp được nhiều lương thực, khí giới, giấy tờ quan trọng mà nghĩa quân không kịp mang đi. Nhờ đó quân Pháp biết được trong hàng ngũ nghĩa quân có hai lính Pháp là Martin và Clausede đã ra hàng Đốc Tít và làm nhiệm vụ sửa chữa vũ khí cho nghĩa quân(3).

Đốc Tít đem quân về đóng ở xã Phục Lễ, huyện Thuỷ Nguyên, chưa yên chỗ thì địch đem quân đến đánh. Lần này Đốc Tít không dám giao chiến, mà thu thập quân lương rút về hang Bích Nội. Đóng quân ở đây Đốc Tít dựa vào một phía có đầm lầy, một phía có cỏ rậm để chặn địch.


(1), (2), (3) Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #72 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:40:04 am »

Quân Pháp tiến bằng hai đường: đầm lầy và cỏ rậm. Vừa tiến sát đến chân núi, quân Pháp đã bị nghĩa quân đánh trả quyết liệt. Chúng bị thiệt hại nặng, giám binh Dominiki bị trọng thương. Quân Pháp phải chia quân đóng ở Lỗ Sơn và Lang Nhâm rồi dàn trận phía Bích Nội. Súng đại bác của quân Pháp bắn dữ dội. Lãnh Quỳnh, Lãnh Đề và một số nghĩa quân tử trận. Đốc Tít phải dùng thuyền theo sông Giá rút về Đông Triều. Quân Pháp cho xà lúp đuổi theo nhưng chỉ bắt được vài chục thuyền nhỏ chở lương thực. Nghĩa quân không còn sức chiến đấu phải phân tán sống trong các làng.

Được viên tri huyện Đông Triều giúp việc tuyển quân và cung cấp lương thực, nghĩa quân lại tổ chức được lực lượng, vũ trang đầy đủ, trở lại cù lao Hai Sông. Quân Pháp và Hoàng Cao Khải vẫn tìm mọi cách để tiêu diệt nghĩa quân, song chúng không phát hiện ra nơi trú quân.

Báo chí Pháp than phiền: “Đốc Tít càng trở nên nguy hiểm. Mất năm trước, thiếu tướng Négrier đưa quân đến hỏi tội y, đã bị y làm lỡ kế hoạch. Một chuộc tiễu phạt mới được tổ chức kết quả cũng chẳng tốt lành”(1).

Sáng ngày 5/8/1889, quân Pháp tấn công ác liệt vào nơi đồn trú của nghĩa quân. Các pháo hạm Béctađờvin (Berthe de Villers) và Muliông (Moulion) cùng 4 ca nô chở đầy lính nhằm hướng sông Đá Bạch tiến vào, còn bộ binh do hai lối Lang Thi và phía Nam Thuỵ Khê rầm rộ kéo tới. Mấy làng bị tình nghi chứa chấp nghĩa quân như Lang Thiêm, Mai Động, tổng Trúc Động bị quân Pháp kiểm soát gắt gao. Quân Pháp tin chắc rằng nghĩa quân đang ẩn náu trong những hang đá ở núi Mai Động. Hoàng Cao Khải, Laune hiểu rõ tầm quan trọng của vị trí này vừa cao lại có nhiều hang động, khe đá có vách rất cao, lợi thế cho nghĩa quân phòng thủ, nên đã sai 200 vệ binh dân sự, 100 tùy tùng đi thăm dò(2).

Nghĩa quân bố trí trong khắp các khe đá và đã được lệnh khi nào địch đến thật gần mới bắn. Vì thế hơn 300 quân Pháp dàn hàng ngang dò dẫm tiến lên, nghĩa quân vẫn yên lặng, mặc cho chúng bắn súng thăm dò. Trong khi phân đội thuộc đồn binh Thuỵ Khê được báo trước đã bao vây các hòn núi đá ở phía bắc.

Hoàng Cao Khải, thanh tra Laune bố trí đội hình tấn công như sau:

- 75 vệ binh dân sự dưới sự chỉ huy của viên vệ binh chính Vincilionti theo con đê tiến về những núi đá bên tay phải. Toán thứ hai do viên vệ binh chính Soubra chỉ huy gồm một lực lượng tương đương theo con đê tiến về hướng núi đá ở phía tay trái. Một phân đội vệ binh dân sự tiến thẳng về phía núi đá ngay giữa đồng ruộng dưới sự chỉ huy của viên vệ binh chính Manard. Toán này cũng có nhiệm vụ bắn đồng loạt vào khoảng những hòn núi đá mà ở đó sẽ có những loạt đạn bắn trả(3).

Quân Pháp phát lệnh tấn công, bọn lính dò dẫm tiến từng bước khi cách chân núi chừng 100 mét thì từ phía núi đá nghĩa quân bắn ra dữ dội. Tên vệ binh dân sự chỉ huy toán quân đi đầu phải nằm rạp xuống bờ ruộng tránh đạn. Đường đạn của nghĩa quân bắn rất căng trong suốt 4 tiếng đồng hồ. Sau đó rút lên tuyến hai ở đỉnh núi. Số nghĩa quân còn lại bắn yểm hộ rút sau thì bị lính của đồn binh Thuỵ Khê bắn chặn. Nghĩa quân vốn thông thạo địa hình nên cho một bộ phậ luồn ra phía sau đánh tập hậu khiến cho quân Pháp rối loạn. Đúng lúc đó, nước thủy triều lên, trời nóng, quân Pháp sợ phải bỏ dở cuộc hành quân, rút về vị trí đem theo những xác chết và 13 vệ binh dân sự bị thương.

Nghĩa quân cũng phải rút vì không còn đạn.

Sang đêm mùng 2 rạng ngày mùng 3 tháng 8, quan Pháp bày trận hình vuông (en carcré) trên gò cao khống chế các vùng lân cận. Trước khi trời ngả tối, tên thanh tra chỉ huy cuộc hành quân nhìn thấy một toán nghĩa quân đang hội ý trên gò ở ngoài tầm súng liền bố trí lại thế trận như sau:

- Về hai phía trước mặt của thế trận hình vuông do vệ binh dân sự chiếm đóng, người của ta nằm liền nhau, súng khoác trên tay, đầu quay ra ngoài, lính gác ác cạnh đó 10 mét. Nếu bị tấn công thì rút nhau sau khi đã nổ súng báo(4).


(1), (2), (3), (4) Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải. Sđd
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #73 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:42:13 am »

Vào tầm nửa đêm và một giờ sáng, giữa bóng tối đen sệt, người lính gác nổ súng và kêu thét lên: “Cầm lấy vũ khí!”. Toán nghĩa quân đông chừng 200 người bò sát về hai phía trước mặt của thế trận hình vuông do vệ binh dân sự chiếm giữ. Tức khắc họ đáp lại tiếng nổ của người gác bằng hàng loạt đạn. Ngài thanh tra và những viên vệ binh chính nằm sau những người lính vài thước liền tiến ra đường hỏa tuyến (ligne de feu). Toán nghĩa quân cách đó không xa, trong tư thế nằm bắn, đường đạn rất căng. Ngài thanh tra bị trúng đạn vào đùi phải tuy nhiên ngài vẫn chỉ huy cuộc chiến đấu phòng ngự(1).

Hỏa lực của nghĩa quân thưa dần, thanh tra ra lênh ngừng bắn và cắm lê vào nòng súng chờ, nếu như kẻ địch tiến lên thì dùng lưỡi lê đánh lui chúng.

Súng của nghĩa quân ngừng dần, nghe rõ chúng thổi còi tập hợp quân từ đằng xa. Đến sáng hôm sau thì chúng mất hút. Trận đánh kéo dài 1 giờ 30 phút. Trong trận này 6 vệ binh dân sự chết, 3 bị thương. Do ở tư thế nằm bắn nên nhiều người bị thương nhẹ vào tay. Vài khẩu súng hư hại nặng do địch.

Ngay sáng sớm một đội thám báo có vũ trang đã đến nghiên cứu trận địa. 10 nghĩa quân nằm sóng sượt trên trận tuyến. Ta thu được 4 súng nhãn 1874, 4 súng lục, những thắt lưng đầy đạn cải tiến, nhiều gươm kiếm… Chắc chắn là nghĩa quân đã bị thiệt hại nặng nề, điều đó chứng minh ở nhiều vết máu ta thấy.

Thanh tra giao quyền chỉ huy vệ binh dân sự của đội bình định do viên vệ binh chính, hạng nhất: Vincilioni, một người vệ binh thâm niên nhất. Những người bị thương được di chuyển về nhà thương Hải Phòng(2).

Ngày 3/8/1889 pháo hạm Berthe de Villers bắn một vài quả ô huy vào vị trí của nghĩa quân gây cho nghĩa quân thiệt hại nghiêm trọng(3).

Đồn binh Lỗ Sơn được lệnh nối với Mai Động bằng những chiếc tàu thủy đã gửi đến. Sự chi viện này nhằm thiết lập một đồn binh thứ ba quanh vùng núi đá mà nghĩa quân đang chiếm đóng

Đúng như phán đoán của Đốc Tít, sáng sớm ngày 5/8/1889 Hoàng Cao Khải cho quân tấn công ác liệt vào nghĩa quân, những pháo hạm Berthe de villers và Moulion nã đại bác vào chỗ đóng quân của Đốc Tít, đạn đều rơi trúng vào các hang động trú quân của Đốc Tít ở Trại Sơn và bao vây nghĩa quân ở căn cứ Thiên Triều. Quân Pháp pháo kích 2 giờ liền gây tổn thất lớn cho quân Đốc Tít sau đó cho quân tràn lên núi, nhưng chúng cũng bị nghĩa quân tiêu diệt nhiều tên, đánh tạt xuống.

Nghĩa quân chống cự quyết liệt vì thế quân Pháp không loạt được vào phòng tuyến. Nhưng trải qua 12 ngày đánh nhau với lực lượng lớn của nghĩa quân, binh lính Pháp mệt mỏi, canh gác trễ nải. Đốc Tít lặng lẽ cho quân rút qua đèo Nghé sang Mai Động, Thiểm Khê chỉ để lại một lá cờ nghi binh(4).

Ngày 11/8/1889, Đốc Tít thấy cuộc chiến kéo dài vừa qua đã gây tổn thất nặng nề cho nghĩa quân, một số tướng lĩnh nghĩa quân hy sinh, một số bị bắt, một số cùng đường phải ra hàng. Quản đốc vũ khí Nguyễn Thị Thành chở thuyền súng đạn đến Cồn Chanh thì bị giặc phát hiện cho tàu ra bao vây. Bà cho đánh đắm thuyền rồi chiếm một hòn đảo nhỏ chiến đấu đến cùng rồi bị giặc bắt và đã anh dũng hy sinh. Con đường chuyên chở vũ khí từ biên giới Việt - Trung về do Lưu Kỳ tổ chức bị giặc phong tỏa. Nguồn tiếp tế thứ ba do Ôbe thương nhân Thuỵ Điển ở Hải Phòng bị lộ, Ôbe phải trốn về Hồng Kông. Lương thực cũng cạn kiệt, Đốc vận quân lương Bùi Hữu Tích bị bắt và hy sinh khi đang vận chuyển mấy thuyền lương về căn cứ. Nghĩa quân lâm vào cảnh thiếu súng đạn và lương thực.

Quân tiếp viện từ các căn cứ khác không tới được vì các ngả đường bộ điều bị các đồn binh mới và quân cơ động canh giữ nghiêm ngặt, còn dưới sông thì các hạm tàu của Hải quân Pháp và chiến thuyền của bọn giặc biển ở các tỉnh Hải Dương, Quảng Yên cùng bọn giáo dân quá khích ở nhà thờ Kẻ Sặt (huyện Bình Giang) bịt kín. Vì thế tất cả các đội quân cứu viện không thể lọt được vào vùng cù lao Hai Sông.


(1). (2), (3) Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải. Sđd
(4) Cụ Nguyễn Văn Xướng ở xã An Son huyện Thuỷ Nguyên cho biết, Đốc Tít buộc con chó con vào cán cờ lệnh, khi súng bắn chó sợ chạy lá cờ rung lên. Quân Pháp sợ không dám tấn công, ba ngày sau chúng thấy yên ắng mới mò lên núi thì biết đã bị mắc mưu của nghĩa quân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #74 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:45:04 am »

Để uy hiếp Đốc Tít buộc ông phải ra hàng, Hoàng Cao Khải còn cho quân vây chặt hai làng Yên Lưu Thượng, Yên Lưu Hạ ở huyện Hiệp Sơn, phủ Kinh Môn(1) quê hương Đốc Tít và làng Phù Lưu huyện Thuỷ Đường, phủ Kinh Môn(2) là quê hương bà Nguyễn Thị Nền, vợ ông. Hoàng Cao Khải còn cho phát loa đe dọa nếu Đốc Tít không cộng tác với nhà Nguyễn thì Khải sẽ bắt tất cả già trẻ, lớn bé ở vùng Hai Sông phát lưu lên rừng, xuống biển, ai chống cự bất cự già trẻ, lớn bé đều bắn chết tại chỗ, sau đó cho quân đốt phá bình địa hai làng yên Lưu và cả vùng Hai Sông.

Đốc Tít cho rằng với Hoàng Cao Khải thì đó không phải là lời đe dọa vì hắn đã từng gây ra hàng trăm vụ triệt phá các làng, xã thậm chí cả một huyện khi họ dám chống lại quân Pháp và Nam triều như đối với các huyện Đông Yên, Ân Thi, Kim Động (Hưng Yên) Văn Giang (Bắc Ninh) nằm trong căn cứ địa Bãi Sậy. Tháng giêng năm 1888, Khải đã cùng trung tá Sercvice đốt cháy một láng lớn ở tỉnh Hải Dương, Khải đã thực hiện nhiều cuộc hành hình (ở huyện Mỹ Hào) ngay sau khi xét xử, nhiều làng bị thiêu hủy theo lệnh của cấp trên vì tất cả nhân dân huyện Mỹ Hào đều là quân của ông Thuật; tháng 11/1888 sau vụ nghĩa quân giết Louis Ney, thương tá Nguyễn Hữu Hào ở Liêu Trung, Hoàng Cao Khải đưa quân về triệt phá 28 làng. Tháng 1/1889, Hoàng Cao Khải đã ra lệnh cho quân lính đốt phá 50 làng ở cù lao Hai Sông, bắt dồn dân đi nơi khác vì sợ dân ở lại giúp nghĩa quân(3).

Trong hoàn cảnh đó, Đốc Tít đề nghị các tướng đem quân và mang theo vũ khí tốt gia nhập đội quân của Lưu Kỳ hoặc các cuộc khởi nghĩa khác, còn mình và Đốc Lan phải đưa 200 nghĩa quân với 120 súng trường, 15 súng lục và hơn 300 viên đạ ra hàng. Một số thủ lĩnh như Lãnh Pha, Lãnh Hai, Đề Hùng, Đề Quý, Đốc Bẩm, Quản Bảo vẫn ở lại cù lao Hai Sông tiếp tục đánh Pháp. Quân Pháp càn quét vùng căn cứ Hai Sông bắn được 47 nghĩa quân đưa ra tòa án hỗn hợp xét xử. Chúng thu được 4 súng các loại, 3 súng trường, 8 súng lục, 120 viên đạn và nhiều vũ khí thô sơ(4).

Khi quân Pháp truy kích ráo riết, Lãnh Hai hoạt động chống Pháp ở Đông Triều, Phả Lại, Lãnh Hy đánh Pháp ở vùng ven biển Bắc Kỳ, Lãnh Pha đóng căn cứ ở Dốc Mít (Quảng Yên).

Bọn xâm lược Pháp sợ giam giữ Đốc Tít ở Việt Nam ông sẽ vượt ngục trở lại hàng ngũ kháng chiến. Chúng cũng không dám giết ông vì chúng dụ ông ra hàng, nếu giết ông thì tự chúng lột mặt nạ kẻ phản trắc. Vì vậy bọn xâm lược Pháp và Hoàng Cao Khải quyết định đày ông đi xa. Ngày 1/1/1890 Thống sứ Bắc Kỳ Brière gửi toàn quyền Đông Dương một đoạn báo cáo như sau: “… Trường hợp Đội Văn sau khi ra hàng lại quay giáo tiếp tục chống lại chúng ta đặt cho chính quyền nhiệm vụ khẩn thiết là phải có biện pháp mạnh đối với Đốc Tít, nhằm đề phòng một sự phản trắc mới. Tuy Đốc Tít xin được trở về cuộc sống đời thường như y không phải là chủ tướng tầm thường như Đội Văn. Đốc Tít là một viên quan nổi loạn chứ không phải là một tướng giặc. Tít xuất thân một gia đình danh vọng và giàu có. Vai trò của y trong cuộc chiến đấu chống lại chúng ta trước hết là vai trò chính trị và tiếng tăm của y trong vùng này có ảnh hưởng rất lớn đối với dân chúng. Hiên nay vùng châu thổ Bắc Kỳ còn buộc chúng ta tuyệt đối cần thiết phải cách ly Đốc Tít ra khỏi môi trường này. Chúng ta đã hứa bảo toàn tính mạnh cho Đốc Tít, nếu đầy sang Cayenne thì chẳng khác nào ghép y vào tội chết và sẽ có hậu quả xấu đối với công luận. Có lẽ cách khôn ngoan hơn là nên đày Đốc Tít sang Algérie”.

Bọn xâm lược Pháp đày Đốc Tít sang Algérie không qua xét xử và tiến hành hoàn toàn bí mật. Đốc Tít bị bắt đưa về Hải Dương rồi đưa về Hà Nội ngay, chúng giam giữ ông ở Hà Nội trong 5 tháng rồi bắt ông giải vào Nam Kỳ, bà Nền vợ ông được tin cũng đòi đem một con tên An mới 5 tuổi đi đày cùng chồng, và được bọn cầm quyền Pháp chấp nhận.


(1) Nay là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
(2) Nay là huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.”
(3) Theo báo Tương lai Bắc Kỳ số 16 ngày 19/1/1889. Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Piglowski: Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải.
(4) Dulleman - tài liệu đã dẫn. Về Đốc Tít trong bài: Một số tư liệu về nghĩa quân Đốc Tít của Nguyễn Hữu Hoạ nguyên trung tá quân đội nhân dân Việt Nam, người xã An Sơn huyện Thuủ Nguyên, Ủy viên Ban chấp hành hội Khoa học lịch sử huyện Thuỷ Nguyên do Ủy ban nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xuất bản tháng 6/1998 viết đại ý: Hoàng Cao Khải viết thư du hàng, ông viết thư trả lời không hàng. Lần thứ hai Khải viết thư đe dọa nếu Đốc Tít không hợp tác với nhà Nguyễn, thì Khải bắt hết người ở Yên Lưu Thượng quê ông ở huyện Hiệp Sơn và quê vợ ông ở xã Phù Lưu huyện Thuỷ Nguyên phát lưu lên rừng xuống biển, triệt phá các làng xã ở cù lao Hai Sông. Đốc Tít gửi thư nêu 5 quy ước cho Khải và yêu cầu Khải rút quân mới bàn. Khải đồng ý và hẹn ngay 12/9/1889 hôi tại đình Phù Lưu. Đúng hẹn ông đến thì bị lính của Hoàng Cao Khải xông ra bắt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #75 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:49:59 am »

CHƯƠNG VII

ĐỘI VĂN TRỞ LẠI HÀNG NGŨ KHÁNG CHIẾN
VÀ ANH DŨNG HY SINH
(9/1889-11/1889)

Trước sự truy kích gắt gao của quân Pháp và đạo quân Bình định do Hoàng Cao Khải làm Tư lệnh dưới sự giám sát của hai giám binh Blanchard và Laune. Trước tình thế bất lợi đó, Đội Văn đã thay đổi chiến thuật là tránh các mũi tấn công ồ ạt của địch sử dụng chiến thuật nghi binh, phục kích để tiêu hao lực lượng địch, bảo vệ mình. Thực dân Pháp cũng biết được chuyển hướng chiến thuật đó, nên chúng viết: “Hình như quân nổi loạn đã vận dụng một cách đánh mới: chúng tháo chạy khi bị ta tấn công ở thế cô lập, nhử cho quân ta tiến sâu vào nội đị rồi chúng tập hợp lại với lực lượng rất lớn, phản công ta bằng những đòn quyết định”(1).

Mặc dù, Đội Văn đã thay đổi chiến thuật nhưng nghĩa quân của ông vẫn bị tổn thất nặng nề, nhiều thủ lĩnh tin cậy và nhiều nghĩa quân đã hy sinh như ngày 19/2/1889, một bộ tướng của Đội Văn là Đốc Thuỷ sa vào tay địch. Ông cắn lưỡi để địch không lấy được khẩu cung và bị chúng xử tử ngay chiều hôm đó. Trong trận đánh gần phủ Từ Sơn ngày 3/3/1889, hai bộ tướng xuất sắc của Đội Văn là Quản Cheo và Lãnh Cửu hy sinh. Tiếp đó ngày 5/3/1889 một bộ tướng khác của Đội Văn là Đội Trường bị địch bắt và xử tử(2). Dân chúng các làng ủng hộ nghĩa quân bị tàn sát, nhà cửa, đình chùa bị đốt phá. Hoàng Cao Khải thấy Đội Văn lâm vào tình thế nguy ngập liền viết thư dụ hàng. Trước tình thế nguy khốn bị bao vây tứ phía, Đội Văn thấy cần phải trá hàng để bảo tồn lực lượng và học chiến thuật của quân Pháp. Song ông sợ quân Pháp không tin tưởng nên đã cho Đội Trụ, một thủ hạ tin cậy ra đầu hàng ở phân đội Phù Đổng, mang theo một súng lực và năm viên đạn. Những sự việc xảy ra sau đó cho thấy Đội Trụ ra hàng theo lệnh chảu chủ tướng (Đội Văn), nhằm thăm dò cách đối xử của chúng ta(3).

Về mục đích trá hàng của Đội Văn, tác giả Louise Michel viết: “Ông (Đội Văn) nghĩ rằng muốn chiến thắng thù tốt nhất phải tìm hiểu kẻ thù từ đồn lũy của nó. Ông trá hàng và khi nắm được thực lực của đối phương ông lại tiếp tục cuộc chiến đấu vì tự do”(4).

Đội Văn thấy Đội Trụ ra hàng được an toàn nên quyết định ra hàng và viết thư cho Hoàng Cao Khải. Ngày 27/2/1889, Hoàng Cao Khải nhận được một bức thư của Đội Văn xin đầu hàng qua sự trung gian của ông cố đạo người Tây Ban Nha ở nhà thờ thị xã Bắc Ninh và xin cho thời hạn 15 ngày. Hoàng Cao Khải chấp nhận và hứa phong cho Đội Văn chức Lãnh binh Bắc Ninh nếu y chịa ra hàng trong 5 ngày(5).

Ngày 1/1/1889, Đội Văn đã tập kết lực lượng của ông tại mấy địa điểm ở huyện Lang Tài và huyện Gia Bình. Ông cố đạo người Tây Ban Nha đến gặp Đội Văn báo tin Hoàng Cao Khải chấp nhận việc đầu hàng. Ngày 6/3/1889 Đội Văn xin gia hạn mấy ngày nữa. Ngày 11/3/1889 ông cố đạo người Tây Ban Nha báo cho Hoàng Cao Khải biết Đội Văn sẽ ra hàng vào ngày 14/3/1889(6).

Cũng trong ngày 11/3/1889, Thống sứ Bắc Kỳ Parreau báo cáo lên toàn quyền Đông Dương: “Đội Văn đã nhận thấy y khó lòng tiếp tục chống lại chúng ta được nữa, nên y đã quyết định ra đầu hàng. Y xin thời hạn là 20 ngày để tập hợp đồng đảng, gom vũ khí. Nhưng Tổng đốc Hoàng Cao Khải chỉ chấp nhận cho 4 ngày. Cuối cùng tôi đã chỉ thị cho Hoàng Cao Khải báo cho Đội Văn biết y được đầu hàng vào ngày 14/3/1889 theo yêu cầu của y. Thời điểm này đã xác định coi như không thay đổi nữa”.

Khoảng 9 giờ sáng ngày 14/3/1889, Đội Văn đưa 237 nghĩa quân. (có sách viết là 256) đến chùa Kê Nê (?). Số vũ khí đem theo đếm được 67 súng trường Gras, 31 súng trường kiểu 1874, 4 súng mổ cò, 6 súng liên thanh, 16 súng lục, một con dấu Đề đốc cỡ lớn, một con dấu Đề đốc cỡ nhỏ, một số gươm giáo ra hàng.

Hoàng Cao Khải rất mừng, trao lại toàn bộ vũ khí trên cho ông và cấp thêm 50 khẩu súng trường để ông đánh nghĩa quân(7). Việc Đội văn ra hàng “Địch rất hí hửng vì Đội Văn ra hàng coi như đã bình định xong Bắc Ninh vì Đội Văn chỉ huy số quân lưn nhất tỉnh Bắc Ninh. Quân Pháp và Hoàng Cao Khải rất mừng, chúng dự đoán Nguyễn Thiện Thuật cũng sẽ theo gương Đội Văn ra hàng. Ngày hôm sau, một tùy tướng của Đội Văn là Đốc Quang cũng đem 50 người về hàng. Vì thế quân Pháp càng tích cực mua chuộc Đội Văn hòng biến ông thành tay sai để đánh phá cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy”(8).


(1) Báo cáo bổ sung của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương năm 1889, lưu tại Cục Lưu trữ I, Trung ương.
(2), (4) Charles Fourniau. Những cuộc tiếp xúc Pháp - Việt từ 1885 đến 1896 ở Trung và Bắc Kỳ - Luận án tiến sỹ, Pari, 1983.
(3) Báo cáo của thanh tra.
(5), (6) Báo cáo của thanh tra.
(7) Báo tin tức Hải Phòng số 250 ngày 5, 7/3/1889.
(8) Minh Thành: Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 122, 123 tháng 5, 6/1969.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #76 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2011, 10:52:29 am »

Thống sứ Bắc Kỳ Parreau còn muốn cho Đội Văn và nghĩa quân của ông ra thăm Hà Nội hy vọng làm tan ý chí chiến đấu của họ. Nhiều tên chưa từng được biết hoặc đã lâu lắm mới được trở lại Hà Nội. Đướng sá khang trang, nhà cửa lộng lẫy theo kiểu Châu Âu làm cho chúng kinh ngạc. Nghĩa là chúng phải ghi nhận sức mạnh của chúng ta, thấy rõ chúng ta đã hy sinh, đã trả giá như thế nào để thiết lập nền thống trị của chúng ta ở xứ này, chứng tỏ hiển nhiên rằng chúng ta quyết dứt khoắt đứng vững tại đây.

Thống sứ Bắc kỳ Parreau rất hài lòng sau khi tự mình khai thác Đội Văn con số chính xác về lực lượng nghĩa quân, cách tuyển mộ quân, cách tìm kiếm vũ khí, đạn dược và sự liên kết giữa các toán với nhau.

Tuy nhiên Thống sứ Bắc Kỳ Parreau vẫn cảnh giác đề phòng Đội Văn “trở giáo”. Mặc khác, Thống sứ cũng lo ngại vì Hoàng Cao Khải tỏ ra tin tướng hoàn toàn Đội Văn. Vì vậy, Thống sứ cho kê rõ họ tên, tuổi, quê quán những tên đầu hàng và còn chụp ảnh từng nhóm, để chứng tỏ người Pháp đã nắm rất chắc sinh mạng của họ và mưu mô tẩu thoát của họ chỉ là ảo tưởng.

Quân Pháp trả lương cho Đội Văn 100 quan tiền, các tùy tướng 30 quan tiền, mỗi hiệp quản 25 quan tiền, mỗi quân sĩ 15 quan tiền. Lại cấp cho nghĩa quân Đội Văn “những trang phục riêng, những dấu hiện riêng để không lẫn lộn với binh lính của chúng ta: mỗi tên được cấp một nón lính kiểu lính lệ và một tấm thẻ (đeo trên mình) để dễ nhận biết họ tên khi tiếp cận, lại thêm một thắt lưng ba sắc (tam tài). Đội Văn được cấp thêm 15 súng bắn nhanh và một số pháo hiệu (loại pháo hiệu của Hải quân) để nhận biết nhau về ban đêm”.

Đội Văn ra hàng thực dân Pháp là đáp ứng tham vọng của chúng là “Dùng người Việt đánh người Việt”. Vì vậy Thống sứ Bắc Kỳ Parreau viết trong báo cáo việc Đội Văn ra hàng như sau: “… Thực dân Pháp muốn vận dụng hơn nữa việc: Dùng người bản xứ diệt người bản xứ. Cho đến nay những thử nghiệm của chúng ta không có hiệu quả mà chỉ làm cho quân nổi loạn thêm táo bạo (…). Vậy cần phải có biện pháp mới, nghĩa là phải làm sao cho dân bản xứ chống lại nhau. Tôi sẽ giao nhiệm vụ này cho Tổng đốc Hoàng Cao Khải, viên quan rất có nghị lực và đầy tham vọng”.

Quân Pháp đưa ông đi đàn áp một số thủ lĩnh nghĩa quân, song điều ông quan tâm là chiến thuật bố trí binh lực của các sĩ quan Pháp theo chiến thuật hiện đại của phương Tây, nghĩa là trận địa có mũi chính diện, mũi phụ, có quân dự bị. Khi tấn công có mũi chính diện, mũi vu hồi, tập hậu. Ông còn giao cho một số thủ lĩnh tin cậy học cách sửa chữa, chế tạo súng đạn.

Với con mắt của người cầm quân có kinh nghiệm, chỉ trong một thời gian ngắn ông cùng một số thủ lĩnh đã học được cách chỉ huy quân đội trong tác chiến cũn như trong phương pháp huấn luyện quân sĩ một cách toàn diện.

Quân Pháp sau khi bao vây, tiêu diệt được đội quân ở tây nam Bắc Ninh, buộc Hồng Lô tự khanh Tán tương Quân vụ Ngô Quang Huy phải tự tử, nghĩa quân tan rã. Quân Pháp cũng đẩy Đốc Tít vào thế cùng đường buộc ông phải ra hàng và đầy ông đi Algéri, phá được căn cứ Trại Sơn, căn cứ Hai Sông. Bừng một lực lượng lớn quân đội của nhiều binh chủng, vũ khí hiện đại, quân Pháp cũng đánh bật Lưu Kỳ ra khỏi Đông Triều, Uông Bí. Sau khi đánh phá ba căn cứ mạnh của nghĩa quân Bãi Sậy ở tây Nam Bắc Ninh, ở các huyện Kinh Môn, Thuỷ Nguyên tỉnh Hải Dương, Đông Triều tỉnh Hải Dương và Uông Bí tỉnh Quảng Yên, quân Pháp tập trung lực lượng để mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ Bãi Sậy ở Khoái Châu nhằm tiêu diệt căn cứ đầu não của cuộc khởi nghĩa.

Một sự kiện bất ngờ đối với thực dân Pháp là ngày 17/9/1889, Đội Văn sau 8 tháng trá hàng quân Pháp, trong một trận quân Pháp sai ông đi đàn áp nghĩa quân ông đã ước hẹn với một số đồng chí rồi bí mật đem 200 quân, 100 tay súng(1) vượt sông Đuống nhập với toán quân của Lãnh Đội chờ sẵn theo mật ước từ trước. Nghĩa quân mặc áo lính theo đường số 1 qua sông Cầu để lên Yên Thế gia nhập nghĩa quân Đề Nắm (Lương Văn Nắm) tiếp tục đánh Pháp(2).

Được tin Đội Văn trở lại hàng ngũ kháng chiến lập tức các tướng lĩnh cũ như Lãnh Giám, Lãnh Giới, Lãnh Bội… cũng bỏ quân Pháp chạy lên Yên Thế đưa lực lượng của Đội Văn lên trên 400 người với trên 200 súng bắn nhanh(3).


(1) Daufès: Bảo an lính Đông Dương từ ngày thành lập đến nay, sách đã dẫn - Báo Le Courier Hải Phòng năm 1889 viết: Đội Văn đe mtheo 40 súng. Theo chúng tôi, khi Đội Văn ra hàng Pháp để nguyên số súng của đội quân của ông lại trang bị thêm 50 súng nữa, như vậy số súng của ông đem đi phải nhiều - V.T.S.
(2) Tập thể sĩ quan bộ Tham mưu: Lịch sử quân sự Đông Dương từ đầu đến tháng 1/1992 Ideo, Hà Nội. Năm 1889 Pháp chưa thành lập tỉnh Bắc Giang, phần đất của Bắc Giang ngày nay thuộc tỉnh Bắc Nhinh.
(3) Daufès: Bao anh lính Đông Dương từ ngày thành lập đến nay, Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #77 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 01:58:34 pm »

“Trong một thông báo gửi nhân dân Bắc Ninh, Đội Văn tuyên bố rằng: Mình đã trá hàng để tạo khả năng nghiên cứu kỹ càng hơn tổ chức và chiến thuật của quân đội Pháp, do đó sẽ đảm bảo đánh được khi thời cơ đến nhằm đánh đuổi bọn dã man phương Tây ra khỏi xứ sở Bắc kỳ. Đội Văn thông báo rằng thời cơ ấy đã đến và quyết định với các bộ hạ trung thành của mình nơi tập hợp là khu rừng xứ Hữu Hượng mà Đội Văn sẽ đi đến đến cầu cứu sự giúp đỡ của các toán giặc vùng Yên Thế mà từ lâu đã có sự liên lạc bí mật”(1).

Đội Văn trở lại hàng ngũ kháng chiến lại liên kết với nghĩa quân Yên Thế làm cho bọn xâm lược Pháp ở Bắc Kỳ rất hoảng sợ. Chúng phải kêu lên: “Lúc này Đội Văn lại hoạt động mạnh trong vùng rộng lớn giữa Phủ Lạng Thương Bắc Ninh và Tỉnh đạo” và “Cách đây 2 tháng người ta có thể ung dung đi lại trên con đường Hà Nội - Lạng Sơn, nhưng ngày nay thì người ta phải “vũ trang đến tận răng” thế mà cũng phải là người táo bạo lắm mới dám đi từ Đáp Cầu đến Phủ Lạng Thương”(2).

Bọn chỉ huy quân sự Pháp ở Bắc kỳ lập tức ra lệnh cho đồn binh Phủ Lạng Thương phải dò tìm đương hành quân của ông. Tên trung úy May (Meyer) chỉ huy đồn Phủ Lạng Thương lập tức cho lính lùng sục vùng Phú Khê, Liên Bộ, Lán Tranh).

Đội Văn trở về Bắc Ninh là quê hương của mình. Trong một bức thư gửi nhân dân Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đề ngày 24/8 âm lịch, năm Hàm Nghi thứ 5, Đội Văn nêu rõ: “Mục đích chiến đấu của ông là nhằm để đánh đuổi giặc xâm lược Pháp, khôi phục lại đất nước, mang lại hòa bình, yên tĩnh thực sự cho nhân dân và chấm dứt những nỗi đau khổ đang đè nặng lên mọi người. Cũng để đạt được mục đích trên, Văn đã chiêu mộ nghĩa quân, tổ chức lực lượng quân sự chống Pháp. Văn kêu gọi nhân dân tích cực ủng hộ nghĩa quân”(3).

Chiều ngày 18/9/1889, quân trinh sát của Đội Văn phát hiện quân của Meyer có 51 lính đang đóng ở chùa Lang Tài, bên bờ sông Thương thuộc huyện Yên Dũng, ông quyết định phải tấn công bọn lính này, đã bình tĩnh dẫn nghĩa quân mặc quần áo lính khố đỏ tiến đến cách chùa 100 m thì xung phong đánh vào chùa, mặc cho quân Pháp chống trả dữ dội, nghĩa quân chiếm được hai gò rất cao. Ông cho bắn mãnh liệt vào chùa hai tiếng đồng hồ liền buộc quân Pháp phải cố thủ trong đó. Sau đó, nghĩa quân chia làm ba mũi lợi dụng những mô đất tránh đạn tiến vào chùa. Cuộc chiến kéo dài đến nửa đêm, tên đội Gaudin phải mở đường máu rút ra ngoài, còn Meyer phải đợi trờ sáng mới dám rút quân chạy về Phủ Lạng Thương(4). Quân Đội Văn cũng tranh thủ thời gian vượt lên Thượng Yên Thế.

Cùng ngày 18/9/1889 nghĩa quân Yên Thế do Đề Nắm chỉ huy đã bị một đạo quân Pháp do Đại úy Gooxơ (Gorxse) chỉ huy tấn công đang đóng ở trong làng Sặt. Sau một ngày kịch chiến, nghĩa quân Yên Thế đuối sức phải rút về Hữu Thương lập chiến lũy trong rừng.

Nghĩa quân Đội Văn phải trải qua chặng đường hành quân vất vả, chịu đựng đói rét, phải né tránh quân Pháp đuổi theo lại vừa trải qua trận chiến ác liệt với quân Pháp nên vô cùng mệt mỏi. Song tình thế không cho nghĩa quân được nghỉ ngơi, ông lập tức tiến công quân Pháp. Được quân Đội Văn hỗ trợ, Đề Nắm tung quân ra đánh, hai bên không hẹn mà hợp đồng chặt chẽ vì thế đại úy Gooxơ phải ngừng cuộc tấn công Hữu Thượng để đói phó với Đội Văn.

Ngày 19/9/1889, nghĩa quân vẫn “điềm nhiên tiến về phía Phủ Mọc và cứ thế tới vùng Thượng Yên Thế tiếp sức cho những toán lớn mạnh”(5) của nghĩa quân Yên Thế. Sau cuộc tiếp sức, Đội Văn triển khai lực lượng của mình ở Hữu Thượng, Dĩnh Thép, Bãi Mét và “chiếm Tỉnh đạo cũ và biến thành vị trí tiến công”(6).


(1) Frey: Pirates et rebelles au Tonkin, Paris (1892 - Giặc dã và thổ phỉ ở Bắc Kỳ, Paris, 1892).
(2) Báo Tin tức Hải Phòng số ra ngày 27/2/1890.
(3) Theo bản dịch chữ Pháp Bức thư Đội Văn gửi nhân dân huyện Yên Dũng (Bắc Giang) - theo Paul Isoart: Le phèno mène national Việt Nam, xuất bản ở Paris năm 1961.
(4) Theo Ablert de Pouvourivillet Chasseur de pirater (Laslures de In Brousse) xuất bản ở Paris năm 1928. Nhưng theo Frey trong cuốn Giặc giã thổ phỉ ở Bắc Kỳ chỉ trận đánh diễn ra ở Đèo Lai: “Chiều ngày 18/9/1889, hai bên đụng độ tại Đèo Lai (Nghĩa Trung - Việt Yên). Ngay lúc đó Đội Văn chi quân thành từng tốp có ứng cứu bằng dự bị theo đánh chiến thuật quân sự phương Tây và bắt đầu tấn công. Trong khói lửa súng đạn người ta thấy một thiếu phụ cưỡi ngựa, ăn mặc sang trọng, mang súng trường luôn luôn cổ vũ nghĩa quân. Đó là người vợ yêu của Đội Văn. Trận đánh ở Đèo Lai kéo dài tới chiều tối. Hai bên giành giật với nhau từng thước đất. Meyer phải dẫn quân chạy về Phủ Lạng Thương.
(5) Lịch sử quân sự Đông Dương từ đầu đến 1-1922, Ideo, Hà Nội, viết: “Cuộc tiếp sức ở Cao Thượng được tiến hành giữa Đề Thám và Đội Văn tại ngôi đình của làng”.
(6) Frey: Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #78 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 02:01:18 pm »

Cuối tháng 9 đầu tháng 10/1889, Đội Văn phối hợp với nghĩa quân Yên Thế Thượng, thế lực nghĩa quân mạnh hẳn lên. Mặc dù lực lượng nghĩa quân Yên Thế khi đó có khoảng 500 binh sĩ nhưng đã bị tổn thất nặng nề sau các đợt tấn của giặc Pháp, lực lượng Đội Văn có 500 quân, trang bị 250 súng bắn nhanh, nhưng cơ số đạn ít, quân lính mệt mỏi vì phải đối phó với các đợt truy kích liên tục của quân Pháp.

Mặc dù vậy, quân Pháp rất hoảng sợ vì “Sự có mặt của Đội Văn đứng đầu một toán quân lớn và trang bị vũ khí đầy đủ đã đem lại cho bọn giặc (chỉ nghĩa quân Yên Thế) một chỗ dựa rất quan trọng khiến cho những đội quân nhỏ bé của ta (Pháp) từ nay khó lòng ứng chiến với chút thắng lợi. Vì thế đại úy Gooxơ được lệnh cắt những hoạt động chống các toán ở Hữu Thượng các đội quân phải rút lui về các đồn lính”(1).

Trở lại hàng ngũ kháng chiến giải phóng dân tộc, Đội Văn coi đó là niềm tự hào của mình: “Trong một thông cáo chung gửi nhân dân Bắc Ninh, Đội Văn tuyên bố rằng mình đã giả vờ hàng phục để tạo khả năng nghiên cứu kỹ càng hơn tổ chức và chiến thuật của quân đội Pháp, do đó sẽ đảm bảo được khi thời cơ đến nhằm đánh đuổi bọn dã man phương Tây ra khỏi xứ Bắc Kỳ. Đội Văn thông báo rằng, thời cơ ấy đã đến và quyết định với các bộ hạ trung thành của mình nơi tập hợp là khu rừng xứ Hữu Thượng mà Đội Văn sẽ đi đến để cầu cứu sự giúp đỡ của các toán giặc (tức nghĩa quân) vùng Yên Thế mà từ lâu đã có sự liên lạc bí mật”(2).

Nguyễn Thiện Thuật nhận được tin cấp báo ngày 17/9/1889, Đội Văn cùng một số thủ lĩnh ra hàng Pháp, tám tháng trước đã bỏ hàng ngũ quân Pháp lên Yên Thế tiếp tục cuộc chiến đấu chống Pháp và đang bị quân Pháp truy kích, ông lập tức lệnh cho các tướng đánh mạnh vào quân Pháp ở khắp nơi để “chia lửa” với Đội Văn. Các tướng lập tức thực hiện mệnh lệnh, điển hình là các trận:

- Ngày 27/9/1889, nghĩa quân Bãi Sậy nhiều lần tấn công đồn Bầy Yên Nhân khiến viên vệ binh chính chỉ huy đồn phải cố thủ trong đồn. Sau đó, hắn thu hút lực lượng binh lính các đồn Ghênh, Đông Mai, Mỹ Hào… đến tham gia cuộc thảo phạt vào vùng Tam Trạch (Sài Trang, Yên Mỹ) vì có tin báo làng này có nghĩa quân Bãi Sậy đang trú ẩn.

Vệ binh tấn công, nghĩa quân chiến đấu quyết liệt với địch rồi rút khỏi làng tiến về con đê Kẻ Sặt. Theo tin của địch, nghĩa quân rút lui để lại 4 các bin, 3 súng mút cơ tông(3).

“Trong nghĩa quân Đội Văn có một người phụ nữ là vợ của Đội Văn, bà đã cải trang thành đàn ông, cũng đeo súng, cưới ngựa theo sát nghĩa quân trong từng trận đánh để uy náo và cùng chiến đấu với họ”(4).

Để diệt trừ Độ Văn, quân Pháp đã điều động một lực lượng lớn tràn lên Yên Thế nhằm tiêu diệt lực lượng Đội Văn trước khi nghĩa quân hòa nhập với phong trào Yên Thế. Triệt phá các đồn lũy, các làng chiến đấu, chiếm lại đồn binh, tỉnh đạo, triệt phá các cơ sở của nghĩa quân Yên Thế dọc sông Thương và ở khu vực Phủ Mọc, Cầu Chay. Lực lượng quân Pháp gồm:

- Đạo binh của thiếu tá ĐuyMông (Dumont) gồm 1.000 lính (500 kị binh, 384 bộ binh, 1 tiểu đội pháo binh chốt giữ Nhã Nam, Dĩnh Thép, Hữu Thượng).

- Đạo binh của của thiếu tá Pichkê có 250 thám báo phối hợp với một cánh quân do thám binh Chiappini chỉ huy làm nhiệm vụ tuần tiễn sông Thương, ngòi Vo, phủ Mọc, sông Cầu để chặn đường rút của nghĩa quân.

- Đạo quân do Hoàng Cao Khải gồm 600 lính cơ chốt giữ ở vùng sông Cầu rải quân từ biển Gầm lên Phủ Lạng Thương.

Những cuộc hành quân này bắt đầu từ ngày 11/10/1889. Trong 154 ngày toàn xứ bị sục sạo khắp nơi. Những đồn nhỏ của nghĩa quân Yên Thế và các làng đắp lũy bị san phẳng hoặc làm mồi cho lửa. Lương thực dự trữ bị đốt cháy nhưng các toán giặc vẫn vô hình, vô ảnh, chúng phân thành những đơn vị nhỏ và mất hút vào những con đường mà quân ta không vào được.

“Mùa này cho phép những cuộc hành quân dài hơn. Ngay những ngày đầy tháng 10 một đội quân được tập hợp với nhiệm vụ phải chiếm lấy tỉnh đạo, san phẳng những đồn nhỏ và những làng có đắp lũy ở vùng Yên Thế và một khi thu được kết quả ấy rồi thì phải đánh ngoặt xuống Yên Thế nhằm đánh bọn giặc đóng giữ”(5).


(1) Tập thể sĩ quan Tham mưu: Lịch sử quân sự Đông Dương từ đầu đến 1/1922, Ideo, Hà Nội.
(2) Frey: Giặc giã và thổ phỉ ở Bắc Kỳ. Sđd.
(3) Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải, Piglowski dẫn trong: Lịch sử Lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
(4) Theo Frey: Pirates et rebelles au Tonkin (Hos soldas au Yên Thế), Nhà xuất bản Hachette, Paris, 1892. Theo cụ Vương Văn Sướng cháu gọi Đội Văn bằng ông bác và nhiều người dân ở thôn Thuận An, xã Châu Lỗ, Thuận Thành, Bắc Ninh kể thì Đội Văn có hai bà là bà thứ năm và bà thứ sáu, một bà quê ở làng Ngò nay thuộc xã An Bình, Thuận Thành và một bà ở làng Hè thường búi tóc ngược cầm súng, kiếm ra trận cùng Đội Văn. Đến nay con cháu cũng không biết tên vì các bà quê ở làng khác.
(5) Lịch sử quân sự Đông Dương của tập thể sĩ quan Tham mưu viết: Mùa này cho phép những cuộc hành quân dài hơn. Ngay những ngày đầu tháng 10 một đội quân đượ tập hợp với nhiệm vụ phải chiếm lấy tỉnh đạo, san phẳng những đồn nhỏ và những làng có đắp lũy ở vùng Yên Thế và một khi thu được kết quả ấy rồi thì phỉa đánh ngoặt uống Yên Thế nhằm đánh bọn giặc đóng giữ.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Năm, 2011, 06:57:26 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #79 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 02:04:54 pm »

Đội Văn buộc phải chiến đấu ở vùng rừng núi mà quân của ông chưa quen, cơ sở trong nhân dân không có, việc tiếp lương thực vô cùng khó khăn trong khi bị quân Pháp truy kích từ nhiều hướng rất dữ dội ở Thượng Yên Thế nên trong các ngày 22-23/10/1859, Đội Văn phải dẫn quân về huyện Yên Dũng (Bắc Giang). Khi tới Sen Hồ, sở lị của huyện Yên Dũng lúc đó, Đội Văn đã gửi thông báo cho nhân dân huyện Yên Dũng tgrong đó có lời tuyên bố sắt đá: “Không chịu sống đội trời chung với bọn quỷ Tây Dương” và kêu gọi tất cả mọi người ủng hộ và đứng vào hàng ngũ nghĩa quân. Bên dưới kí tên: “Đề đốc họ Vương” chức do ông Tán Thuật phong cho(1).

Nhân dân huyện Yên Dũng cũng như nhân dân Bắc Ninh gia nhập nghĩa quân của ông, tiếp tế lương thực, nhường làng xóm của mình cho nghĩa quân xây dựng căn cứ chống Pháp. Nghĩa quân hoạt động mạnh trong một vùng rộng lớn giữa Phủ Lạng Thương - Bắc Ninh và Tỉnh đạo, địch phải thừa nhận: “Cách đây hai tháng (trước khi Đội Văn đến) người ta có thể ung dung đi lại trên con đường Hà Nội - Lạng Sơn, nhưng ngày nay thì người ta phải “vũ trang trận răng” thế mà cũng phải là người táo bạo lắm mới dám đi từ Đáp Cầu đến Phủ Lạng Thương”(2).

Thấy địch không ngừng truy kích khắp nơi, Đội Văn phái 14 thủ lĩnh dưới quyền ông trở về đồng bằng để xây dựng lại lực lượng nghĩa quân nhằm làm cơ sở phát động một phong trào khởi nghĩa mới. Nhưng không may cả 14 người đều bị quân Pháp chặn bắt. Đội Văn bị ốm rất lâu đồng thời lại bị thương trong chiến đấu với giặc, lực lượng nghĩa quân bị suy yếu, nhiều người bỏ đi hoặc ra hàng. Trước tình hình đó, Đội Văn định rút về đồng bằng chờ thời cơ khác. Khi về tới Bắc Ninh thì ông phát bệnh nặng rồi bị lọt vào tay bọn công giáo phản động. Do một cố đạo người Tây Ban Nha làm trung gian, ngày 31/10/1889 chúng đem nộp ông cho đồn binh Pháp ở Bắc Ninh. Mặc dù ông đã bị thương lại ốm nặng nhưng chúng vẫn nhốt ông vào cũi, đeo gông cổ, xiềng tay giải về Hà Nội.

Ngày 17/11/1889, quân Pháp xử chém ông tại bãi đất trống ở thành phố Hà Nội (nay là nhà Kèn vườn hoa Lý Thái Tổ).

Đội Văn hy sinh hết sức dũng cảm, ông hiên ngang mỉm cười dưới lưỡi dao của kẻ thù(3). Ngay sau đó chúng chặt đầu ông đem về bêu ở Bắc Ninh còn xác ném xuống sông Hồng vì chúng rất sợ uy tín của Đội Văn trong phong trào khởi nghĩa. Báo Tương lai Bắc kỳ (L’avennir du Tonkin số 178 ngày 9/11/1889 viết: “Nếu người ta trả xác Đội Văn cho gia đình ông thì sẽ có những cuộc tang lễ long trọng để làm vẻ vang cho Đội Văn. Người ta sẽ xây cho ông một đài tưởng niệm và sau này ngôi mộ của ông sẽ trở thành nơi hành hương, một nơi trung tâm tập hợp những cuộc khởi nghĩa mới”. Chính vì những lý do này mà Thống sứ Bắc Kỳ Brière kiên quyết trị Đội Văn theo luật An Nam(4).

Nhân dân vô cùng thương tiếc, sánh ông ngang với Đốc Tít có đôi câu đối:

“Tít bổng trời đông, tái tạo Nam bang tri vũ trụ
Vang lừng đắt Bắc, Nam đạo Tây quốc tri cơ mi”
(5).

Nhân dân ca ngợi Đội Văn đã từng chiến đấu ở Bãi Sậy lại chiến đấu ở Yên Thế:

“Cỏ vùng Bãi Sậy còn xanh
Đá vùng Yên Thế chênh vênh chẳng mòn”
.


(1) Tập thể sĩ quan tham mưu: Lịch sử quân sự Đông Dương từ đầu đến 1/1922, Ideo, Hà Nội, Sđd.
(2) Báo Le Courrier Hải Phòng năm 1889.
(3) Theo Albert de Pouvourivillet Uhseur de pirais (Lesliv res de la Brousse) xuất bản ở Paris - 1923. Về sự hy sinh của Đội Văn đã được đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong “Bản án chế độ thực dân” viết như sau: Một người Pháp đã từng ở Bắc Kỳ lâu năm kể: “Chúng ta (?) coi những người Việt Nam yêu nước là những tên cướp. Chẳng hạn như Đội Văn, một người yêu nước đã từng chiến đấu mấy năm trời chống lại sự thống trị của người nước ngoài bị chém tại Hà Nội, bêu đầu ở Bắc Ninh, xác ném xuống sông Hồng” (Hồ Chí Minh tuyển tập, tr. 128).
- Ngày 28/11/1996, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ra quyết định số 666/QĐ/UB về việc đặt, đổi tên một số đường phố ở thành phố Hải Phòng do Chủ tịch Đào An ký như sau, trong đó:
1 - Đường hiện mang số 23, một đoạn của đường 28 và một đoạn của đường 12, đặt tên là phố Bãi Sậy.
2 - Đường hiện mang số 25, đặt tên là phố Tán Thuật.
3 - Đường hiện mang số 26, đặt tên là phố Trại Sơn.
4 - Đường hiện mang số 27, đặt tên là phố Núi Voi.
5 - Đường hiện mang số 11, đặt tên là phố Đội văn.
6 - Đường hiện mang số 24, đặt tên là phố Cử Bình(a).
7 - Đường hiện mang số 22, đặt tên là phố Hàm Nghi.
8 - Đường hiện mang số 24, đặt tên là phố Tiền Đức.
9 - Đường hiện mang số 21, đặt tên là phố Đốc Tít.
(a) Cử Bình là tướng hậu quân của Tạ Hiện (Tạ Hiện có 5 dinh là: Tiền quân Đức, Tả quân Quý, Hữu Quân Khoát (sau Khoát hàng Pháp), Trung quân Dĩnh, Hậu quân Bình), ông từng đỗ cử nhân. Khi Tạ Hiện bị giết ông cũng như các tướng khác chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Tán Thuật. Cử Bình đưa quân về Kiến An làm thủ lĩnh vùng này, ông chỉ huy hạ đồn Núi Voi. (Theo Đặng Huy Vận - Chu Thiên: Đề đốc Tạ Hiện và phong trào chống Pháp ở Nam Định và Thái Bình cuối thế kỷ XIX đưng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử.
(4) Báo L’anvenir du Tonkin số 178 ngày 9/11/1889.
(5) Khởi nghĩa Yên Thế của Khổng Đức Thiêm, Nguyễn An Cần, Sở Văn hoa Thông tin Bắc Giang, Hội Khoa học lịch sử, 1977.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM