Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 12:15:00 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy  (Đọc 89295 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #80 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 02:07:21 pm »

CHƯƠNG VIII

NGHĨA QUÂN LƯU KỲ ĐÁNH BẠI NHIỀU CUỘC
TẤN CÔNG CỦA QUÂN PHÁP VÀO CĂN CỨ
(5/1889-10/1890)

Từ khi Nguyễn Thiện Thuật về nước, Lưu Kỳ gia nhập cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thì thế lực của ông ngày càng lớn mạnh, quân Pháp phải thừa nhận: “Mặc dù khác dân tộc, khác khuynh hướng, nhưng hai người thủ lĩnh (Nguyễn Thiện Thuật và Lưu Kỳ) đã phối hợp chặt chẽ trong mọi hoạt động” và “Ông có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn Thiện Thuật, được Tán Thuật phong chức Đề đốc”(1). Nguyễn Thiện Thuật giao cho Lưu Kỳ trấn giữ vùng Đông Bắc Bắc Kỳ và tổ chức quy mô đường dây mua và vận chuyển vũ khí từ miền Nam Trung Quốc về cung cấp cho nghĩa quân.

Được sự giúp đỡ tích cực của đồng bào Hoa và đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, Quảng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Lưu Kỳ đã nhanh chóng xây dựng được một đội quân hùng mạnh, có đủ lương thực. Lưu Kỳ cũng nhanh chóng tổ chức quy mô đường dây mua, vận chuyển vũ khí từ Quảng Đông, Quảng Tây vượt qua biên giới các tỉnh Lạn Sơn, Quảng Yên, Bắc Ninh tập kết ở hai điểm Lục Ngạn và Thị Cầu, rồi từ đó cung câp cho các đơn vị của nghĩa quân. Đội quân hộ tống đông tới trăm người, thông thạo núi rừng, khe lạch ở vùng Đông bắc. Đây là đội quân có võ nghệ, thiện chiến đủ sức mạnh để tiêu diệt các toán quân thổ phỉ mạnh và cả các toán quân Pháp. Việc này chính bọn chỉ huy quân sự Pháp cũng phải thừa nhận: “Đặc biệt cũng do chính Lưu Kỳ mà Bãi Sậy đã nhận được nhiều súng ống từ Trung quốc chuyển sang với giá rẻ”(2).

Từ đó cho đến tháng 5/1889, nghĩa quân Lưu Kỳ chẳng những bảo vệ được căn cứ mà còn mở nhiều trận tấn công vào các đồn binh Pháp.

Ngày 4/5/1889, quân Pháp tấn công Lang Sa, nhưng cũng như lần trước, chúng bị thất bại vì khi chúng ồ ạt tràn vào mục tiêu thì nghĩa quân đã rút từ lâu. Khi chúng hành quân trở về đang kiệt sức vì đường đèo núi hiểm trở, lại sa vào ổ phục kích của nghĩa quân. Quân Pháp mở nhiều cuộc tấn công, nhưng nghĩa quân vẫn làm chủ vùng Lục Ngạn, Bảo Đài. Quân Pháp cay đắng thú nhận sự bất lực của chúng : “ở đây Lưu Kỳ có 300 quân cùng với những đội quân người Việt của Tổng Bưởi, Đốc Nghi, Đốc Tiến hoạt động. Họ được nhân dân địa phương che chở, cung cấp tiền nong, lương thực. Nhiều đoàn xe địch bị chặn đánh, nhiều trạm liên lạc của địch bị bắn phá. họ làm chủ nhiều đồn trên đường giao thông và trên những đường vào căn cứ Bảo Đài có quân bố trí mai phục, và có hầm chông cạm bẫy”(3).


Đồn Đông Triều. thị trấn Đông Triều nơi nhiều lần
nghĩa quân Đông Triều tập kích quân Pháp

Bọn xâm lược Pháp và tên đại Việt gian Hoàng Cao Khải tập trung quân lực tấn công căn cứ Hai Sông, đồng thời chúng mở một chiến dịch tấn công vào căn cứ Bảo Đài để hai cánh quân này bị động không chi viện được cho nhau.


(1) Daufès: La Garde ingigène de l’Indochinol sa Création à nos zours, tomme 1, Paris, 1933.
(2) Pgginier - Situation du Tonkin et de l’AnNam au 25/10/1890.
(3) Chabrol: Những cuộc hành binh tại Bắc Kỳ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #81 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 02:08:59 pm »

Cuối tháng 7 đầu tháng 8/1889, quân Pháp mở chiến dịch lớn tấn công vào căn cứ của Lưu Kỳ. Lực lượng của chúng gồm hai binh đoàn:

- Binh đoàn thứ nhất do thiếu tá Prêtê (Pretet) chỉ huy gồm 350 tên đi từ Lầm đến đèo Quán để càn quét vùng Bắc Lệ cắt đứt đường rút lui của nghĩa quân về phía đông.

- Binh đoàn thứ hai do đại úy Pênha (Pegna) chỉ huy gồm 230 tên đi từ Kép tấn công vào vùng Bảo Lộc cũng nhằm chặn đường rút lui của nghĩa quân về phía đông.

Đồng thời chúng cho một đội quân ngụy canh gác ở phía bắc không cho nghĩa quân tiến sang hữu ngạn sông Thương. Ở phía Nam chúng dùng tàu chiến kiểm soát trên sông vùng Lục Ngạn.

Biết được tin này Lưu Kỳ chủ động chuẩn bị đối phó. Chủ trương của ông là rút lui khi địch mạnh, hãy đợi cho chúng hành quân mệt mỏi trong núi rừng lúc đó mới đánh.

Đúng như dự tính của ông, địch đã phải len lỏi trong rừng rậm, dưới trời mưa to gió lớn chỉ tìm thấy những căn cứ bỏ không của nghĩa quân. Đề đốc Lưu Kỳ chủ trương xây dựng căn cứ ở nơi hiểm yếu, nhưng đó chỉ là những nơi nghỉ chân sau đợt hành quân dài ngày, không phải những doanh trại cố định. Nó gần giống như căn cứ của Đốc Ngữ song khác với những căn cứ cố định kiên cố của Đề Thám, Phan Đình Phùng. Trong thực tế, nó là những điểm tựa về phương diện tác chiến. Con đường của ông hoạt động cũng hoàn toàn bí mật, bất ngờ, chúng đã phải thú nhận: “Đó là một kẻ thù không sao nắm được”.

Cũng chính vì chiến thuật của Lưu Kỳ như vậy, nên quân Pháp không tìm thấy quân đội của ông. Chúng khủng bố nhân dân hòng buộc những người dân yếu đuối không tấc sắt trong tay khai ra nơi đóng quân, khai ra những người tiếp tế lương thực, che giấu quân của ông. Nhưng dân chúng một lòng bảo vệ ông nên quân Pháp không thu được kết quả. Chúng đang thất vọng thì nhận được tin Lưu Kỳ vẫn còn ở căn cứ Bảo Đài. Ngày 27/8/1889, quân Pháp tiến công Bảo Đài, Lưu Kỳ vận động nhân dân làm vườn không nhà trống còn ông thì rút quân khỏi Bảo Đài, nhưng cho người giám sát từng bước hành quân của chúng. Quân giặc tiến vào gần căn cứ mà không bắt được phu phục dịch, không tìm được người dẫn đường trong khi đó chúng chịu đựng đói khát, mệt mỏi. Lúc đó, Lưu Kỳ mới chọn địa hình hiểm trở là một con đường nhỏ, một bên là vách núi dựng đứng có cây cối um tùm, một bên là vực thẳm mà quân Pháp bắt buộc phải đi qua cách căn cứ Bảo Đài 500m, làm trận địa phục kích. Bọn giặc không ngờ đang dò dẫm trên đường thì bị tấn công, súng của nghĩa quân nổ dữ dội. Ngay từ loạt đạn đầu tiên tên trung úy Môngtécxơ (Monterce) đã bị thương ở tay, nhiều tên bị tiêu diệt, số còn lại tháo chạy. Quân giặc sau phút kinh hoàng phản công lại một cách yếu ớt, chúng càng đánh càng tổn thất nặng nề nên buộc phải rút lui. Bọn chỉ huy sợ bị phục kích lần nữa nên không dám rút theo đường cũ mà đi đường xuyên qua rừng nhưng rừng núi là địa bàn hoạt động của nghĩa quân nên chúng đi tới đâu cũng bị vây đánh. Trận phục kích thứ hai ác liệt không kém gì trận trươc, quân Pháp lại bị chết, bị thương một số nữa.

Ngày 31/8/1889 toán quân Pháp hành quân ở đèo Quán cũng bị phục kích trên một đoạn đường hiểm trở, vách núi dựng đứng, khi chúng vượt qua ngọn đèo cao 500m thì nghĩa quân nổ súng làm hàng ngũ rối loạn. Quân Pháp vừa hoàn hồn và tổ chức phản công thì nghĩa quân đã bí mật rút đi nhằm tổ chức tiếp một cuộc phục kích mới đón đầu chúng.

Quân Pháp bị phục kích liên tục, muốn tìm quân Lưu Kỳ đánh nhưng không đánh được, nên hai bình đoàn do thiếu tá Pretet chỉ huy và binh đoàn do Pégna chỉ huy không gặp được nhau như kế hoạch tác chiến vạch ra.

Hai đạo quân Pháp vẫn tiếp tục càn quét đến giữa tháng 9 với hy vọng tiêu diệt được quân của Lưu Kỳ, vì chúng đã gặp phải một đối thủ có tài đánh du kích thiên biến vạn hóa, lai vô ảnh khứ vô hình, khi địch mạnh, hung hăng thì ông khôn khéo rút lui để bảo toàn lực lượng cũng để cho địch khinh thường không phòng bị hoặc đã mệt nhoài đói khát vì phải hành quân lâu trong rừng rậm, đến lúc đó ông mới tung quân ra đánh, khiến giặc trở tay không kịp.

Một trận đánh nữa diễn ra giữa quân Lưu Kỳ và quân Pháp ở chùa Thượng Lẫm kết quả là hai tên trung úy Pháp bị giết chết, hai tên trung úy khác bị trọng tương, còn lính Pháp và lính Nam bị chết và bị thương rất nhiều.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #82 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 02:11:19 pm »

Thực dân Pháp không diệt được Lưu Kỳ như đối với Ngô Quang Huy buộc ông phải tự vẫn hoặc như buộc Đội Văn, Đốc Tít phải ra hàng mà chúng chỉ buộc ông rút khỏi căn cứ Bảo Đài về xây dựng căn cứ mới ở Lục Nam.

Từ căn cứ này, Lưu Kỳ mở rộng địa bàn hoạt động ra khắp vùng Đông Bắc gây tổn thất lớn cho quân Pháp. Lưu Kỳ còn thường xuyên tấn công vào các công trình đường sắt Phủ Lạng Thương - Lạng Sơn. Sự có mặt của Lưu Kỳ ở vùng Đông Bắc đã khiến kế hoạch khai thác các mỏ than ở vùng vịnh Hạ Long trên diện tích 22.000 ha(1) không triển khai được.

Để đối phó với Lưu Kỳ, ngày 5/11/1889, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Lục Nam, tỉnh lị đặt tại Lục Nam. Địa bàn tỉnh gồm các huyện Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Lục Nam, Hữu Lũng (tách từ phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh và đều nằm trên tả ngạn sông Thương).

Thực dân Pháp thiết lập và củng cố bộ máy cai trị ở cấp tỉnh, huyện, tổng, xã. Song điều quân Pháp quân tâm là thiết lập các đồn binh mới trong tỉnh Lục Nam và một đội quân cơ động mạnh để ngăn chặn các hoạt động quân sự của nghĩa quân Lưu Kỳ đang diễn ra thường xuyên và quyết liệt.

Sang năm 1890, nghĩa quân Lưu Kỳ cũng hoạt động ráo riết. Đêm mùng 8 rạng ngày 9/1/1890 tên thực dân Rốccơ (Roque) và một số sĩ quan khác ngủ tại nhà tên lý trưởng Bến Châu gần Đông Triều. 1 giờ sáng Lưu Kỳ chỉ huy một toán người Hoa và người Mán đánh vào giết được tên đại úy Rôdơ (Roce), tên thực dân La boóc (Laborde), bắt sống hai anh em tên thực dân Rốc cơ và đòi chúng phải chuộc với số tiền 50.000 đồng.

Nghĩa quân Lưu Kỳ từ Lục Nam mở rộng địa bàn hoạt động trên tuyến đường sắt phủ Lạng Thương - Lạng Sơn. Nghĩa quân Lưu Kỳ liên kết với nghĩa quân Đề Thám và công nhân đường sắt đánh phá nhiều đồn bốt đich trên tuyến đường sắt đang thi công(2).

Các hoạt động của Lưu Kỳ rất có hiệu quan, ngay bọn cầm quyền Pháp cũng phải thừa nhận:  .“Lưu Kỳ là một người có nghị lực và rất thông minh đã làm cho đồng đội tin tưởng tuyệt đối. Ông là một thủ lĩnh du kích giỏi, biến hóa khôn lường, thông thạo lối tác chiến phục kích bất ngờ. Đội ngũ nghĩa quân phức tạp phần nào ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dận. Mặc dù vậy, Lưu Kỳ còn biết sử dụng thời cơ một cách khéo léo. Dân cư vùng Đông Triều là nơi Lưu Kỳ đóng quân từ lâu đã ủng hộ ông ta, một là có lợi, hai là do sợ hãi mà phụ thuộc vào Lưu Kỳ. Dân cư buộc phải tạo ra quãng trống xung quanh những toán quân được phái tới để đánh Lưu Kỳ. Đáng ra phải có những cứ điểm như một vài pháo đài dựng lên khá kiên cố dù chỉ là hình thức ngoài vỏ từng được biết như: Than Muội, Bù Đinh, Chợ Mới thì Lưu Kỳ đã rất khôn ngoan và chỉ lập ra ở vùng rừng núi hoang vu những sào huyệt tạm bợ, thực tế cũng chỉ được củng cố qua loa, địa điểm được giữ bí mật bất kỳ lúc nào cũng có thể rời đi nơi khác”(3)

Ngày 28/3/1890, quân Pháp đánh Lục Nam, Lưu Kỳ phải chạy tới Bảo Đài, ông đóng quân ở Làng Voi.

Trong tháng 10/1890, khi Hai Kế và các tướng lĩnh nghĩa quân đánh địch quyết liệt ở Ân Thi, Khoái Châu, Bình Giang, nam Bắc Ninh thì Lưu Kỳ cũng có những hoạt động quân sự mạnh mẽ ở Lục Nam, Đông Triều, Uông Bí và vùng phụ cận như:

- Ngày 11/10/1890, nghĩa quân Lưu Kỳ tiến đánh thị xã Lục Nam. Nghĩa quân chia làm hai cánh, một kiểm soát các làng vùng ven, một cáh đánh vào tòa công sứ.

- Ngày 13/10/1890 nghĩa quân chặn đánh quân của Đuy Phuya. Để đối phó với quân Lưu Kỳ từng gây bao nỗi kinh hoàng cho quân Pháp, bộ chỉ huy quân sự Pháp ở Trung - Bắc Kỳ phải thiết lập hàng loạt đồn bốt ở Chi Ngãi, Lục nam, Lầm, Biển Động, Vi Loại, Uông Bí, Đông Triều, đưa 6 pháo thuyền ngày đêm tuần tra trên sông Lục Nam để cắt đứt đường tiếp tế của nghĩa quân và mở nhiều cuộc hành quân càn quét. Lưu Kỳ chuyển địa bàn hoạt động về Đông Triều.


(1) Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử - tập 1, NXB Khoa học xã hội, trang 329-330.
(2), (3) Chabrol: Những cuộc hành binh tại Bắc Kỳ. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #83 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 02:14:18 pm »

CHƯƠNG IX

QUÂN PHÁP ĐÁNH PHÁ DỮ DỘI CĂN CỨ BÃI SẬY -
NGHĨA QUÂN BỊ TỔN THẤT NẶNG NỀ
(10/1889-9/1890)

Sua khi đánh bại các cánh quân Đốc Tít, Đội Văn, Lưu Kỳ đầu tháng 10/1890, quân Pháp tập trung ba binh đoàn lớn do thiếu tướng Négrier, trung tá Godard chỉ huy càn đi quét lại trong huyện Mỹ Hào (Hải Dương), Văn Giang (Bắc Ninh) để tiêu diệt cánh quân do Nguyễn Thiện Kế, Đốc Súng chỉ huy. Ngày 11/10/1889 chúng cho tên quản Soler dẫn bọn thám báo đi thám thính vùng Bãi Sậy.

Ngoài ba binh đoàn chủ lực các tri phủ, tri huyện cũng có binh lính riêng, ráo riết tấn công nghĩa quân ở khắp nơi.

Cũng trong thời gian đó Toàn quyền Đông Dương Pikê (Piquet)(1) được phe hiếu chiến ở chính quốc ủng hộ đã cho phép đội quân viễn chinh Pháp tiếp tục đánh Bắc Kỳ và nhận thêm sĩ quan, quân lính, vũ khí bổ sung gửi sang Đông Dương. Toàn quyền Piquet quyết định tung toàn bộ lực lượng quân sự đánh Bắc Kỳ mà Bãi Sậy là trọng điểm.

Một bộ tư lệnh Pháp - Nam hỗn hợp được thành lập để đánh phá phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy do thiếu tướng Négrier làm tổng chỉ huy, quân Nam do Hoàng Cao Khải chỉ huy. Lực lượng tác chiến gồm một tiểu đoàn Âu - Phi thiện chiến, hai đại đội bộ binh Pháp, nhiều binh lính khố xanh, khố đỏ, một đại đội pháo binh trong đó có ba cỗ pháo hạng nặng. Các hạm tàu trang bị đại bác thường xuyên tuần tiễn trên sông Hồng, sông Luộc. Hoàng Cao khải còn điều động binh lính ở Nam Định, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội làm đội dự bị đóng ở xung quanh căn cứ Bãi Sậy. Bọn quan phủ, quan huyện được thăng thêm lính, trang bị thêm vũ khí, đạn dược.

Négrier và Hoàng Cao Khải tung quân đi do thám quanh căn cứ Bãi Sậy, khủng bố các làng xã ủng hộ nghĩa quân, cắt đứt đường giao thông liên lạc của nghĩa quân từ trung tâm cuộc khởi nghĩa ra các vùng xung quanh.

Về phía nghĩa quân, Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ địa thần họp với các tướng nhận định tình hình, phán đoán mưu đồ của giặc Pháp, giao cho các tướng chỉ huy từng cánh quân làm nhiệm vụ đánh địch từ xa căn cứ, đánh phá các đồn bốt để làm diểm tập kết quân của chúng. Ông còn tổ chức một đội “du binh” trang bị mạnh tác chiến cơ động, nhiệm vụ chủ yếu là đánh địch từ xa mới tới, mới hạ trại. Các tướng khác như Đề Ban ở vùng bắc Ân Thi, Tuần Văn ở Văn Giang, Đề Lập ở nam huyện Kim Động… có nhiệm vụ đánh chặn địch từ xa, đánh phá hậu phương của địch khi tác chiến nổ ra.

Bên cạnh quan Hiệp thống có Đốc Sung, Đốc Cọp, Đề Vinh, vợ chồng Đốc Phúc chỉ huy một đội quân 300 người bảo vệ căn cứ Bãi Sậy - Yên Vĩnh. Đốc binh Nguyễn Đình Tính, Tuần Văn chỉ huy một cánh quân bảo vệ vòng ngoài căn cứ và có những mũi đột kích vào sau lưng quân giặc. Nghĩa quân đóng ở Bắc Ninh, Lục Ngạn, Đông Triều do Hai Kế, Đốc Khoá, Lưu Kỳ chỉ huy cũng đã nhận được lệnh tác chiến tại chỗ và sẵn sàng chi viện cho Bãi Sậy

Quả nhiên chỉ ít ngày sau khi quân Pháp, quân Nam do Négrier và Hoàng Cao Khải chỉ huy cùng lính của các tri phủ, tri huyện kéo đến đóng san sát xung quanh căn cứ Bãi Sậy.

Sau vài ngày thăm dò, thám thính, bắt bớ, tra hỏi nhân dân về hoạt động của nghĩa quân, quân Pháp, quân Nam triều chia làm ba mũi tiến vào căn cứ Bãi Sậy. Bộ chỉ huy nghĩa quân bố trí sẵn lực lượng đón đánh địch ở các ngả đường. Nhân dân đã tình nguyện rời khỏi làng xóm để nghĩa quân xây dựng trận địa. Những người không tham gia chiến đấu đi rào làng, đào hầm hào, ngả cây lấp các đường ngõ.

Cuộc chiến đấu mở đầu xảy ra tại Đông Nhu(2). Quân Pháp bao vây làng, bắn dữ dội vào làng 4 giờ liền nhưng nghĩa quân có hầm hào chắc chắn nên vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Chúng tiến vào là bị nghĩa quân nấp sau lũy tre dày, trong hầm hào bắn ra làm hàng chục tên chết và bị thương. Quân Pháp được tiếp viện bắn như trút đạn vào làng.

Đánh nhau tới nửa ngày bất phân thắng bại, Đốc Cọp liền mang ấn tiên phong, tách mình ra khỏi đạo quân đi đường tắt vòng ra phía sau đánh tập hậu vào quân Pháp. Bị đánh bất ngờ vào phía sau, quân Pháp rối loạn, vòng vây nới lỏng. Nguyễn Thiện Thuật cũng từ căn cứ Bãi Sậy kéo tới, ở trong làng nghĩa quân đánh thốc ra, quân Pháp bị thiệt hại nặng. Quản Legléc bị giết chết, quản Aubert bị trọng thương phải lui dần về đồn bốt.

Thừa thắng nghĩa quân tiến lên bao vây, công phá đồn. Quân Pháp dần dần lâm vào thế nguy khốn nhưng tình thế đảo ngược khi quân Pháp là lính khố xanh ở các nơi khác kịp đến tiếp viện cho các đồn. Lực lượng của quân Pháp kéo đến rất đông, nghĩa quân vừa đánh vừa rút về Vũ Xá rồi chia các ngả canh phòng. Khoảng nửa đêm quân Pháp và lính khố xnah tròn tới bao vây kín làng Vũ Xá. Nghĩa quân rơi vào thế thế nguy cấp bắt buộc phải mở đường máu rút lui. Lãnh Chiến, Lãnh Hạ dẫn một số quân cảm tử xông ra chiến đấu với quân Pháp. Nghĩa quân chiến đấu với tinh thần dũng mãnh khiến quân Pháp hoảng sợ, hàng ngũ rối loạn. Nhờ đó ông Thuật đem được đại quân thoát ra ngoài. Lãnh Chiến và Lãnh Hạ cùng một số nghĩa quân hy sinh anh dũng. Ông Thuật rút chưa được bao xa thì quân Pháp đuổi tiết từ phía sau, ông phải rút quân về căn cứ Bãi Sậy.


(1) Pikê (Piquet) nguyên là Thống đốc Nam Kỳ từ 13/11/1887. Ngày 10/5/1889 được phong làm Toàn quyền Đông Dương, chính thức nhận chức ngày 31/5/1889, bàn giao cho Biđô (Bideau) ngày 12/4/1891 để chuẩn bị về nước.
(2) Tỉnh Hưng Yên không có làng Đông Nhu chỉ có làng Khoá Nhu, tổng Khoá Nhu huyện Yên Mĩ - V.T.S.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #84 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 06:24:00 am »

Tháng 5/1889, do bị ốm nặng ông Thuật giao cho Đốc Cọp quyền tổng chỉ huy quân bên ngoài căn cứ. Từ khi ở cương vị chỉ huy, Đốc Cọp thường đem 100 quân rời khỏi căn cứ đi đánh úp các đồn lẻ của địch, cướp khí giới, lương thực, trang bị cho nghĩa quân. Đốc Cọp đã thành công nhiều lần(1).

Ngày 22/5/1889, Đốc Cọp đem 100 quân đi kiểm tra các làng xung quanh căn cứ Bãi Sậy. Mấy làng mới quy thuận quân Pháp thấy nghĩa quân đến thì bỏ chạy, nghĩa quân phải giữ lại, giải thích họ mới dám quay lại làng. Đêm đó Đốc Cọp đóng quân ở Điền Nha, Khoái Châu(2).

Khi Đốc Cọp đem quân đi tấn công quân Pháp ở Ân Thi, Kim Động thì Nguyễn Thiện Thuật giao quyền Tổng chỉ huy bên trong và bên ngoài căn cứ cho Đề Vinh. Từ khi Đề Vĩnh giữ cương vị Tổng chỉ huy, ông dẫn quân đi đánh nhiều trận. Ngày 6/11/1889 ông tấn công đồn Bình Phú, giết lính, cướp súng, đốt đồn.

Khi Đề Vinh đem quân đi đánh ở ngoài thì Nguyễn Thiện Thuật cử Đốc Sủng lên giữ quyền Tổng chỉ huy. Đốc Sủng hy sinh trong một trận đánh cách căn cứ Bãi Sậy 5-6 km, Nguyễn Thiện Thuật cử đề đốc Nguyễn Đình Tính lên thay Đốc Sủng.

Từ cuối tháng 11 đến tháng 12 năm 1889, cac tướng ở ngoài căn cứ đã tấn công quân Pháp ở Văn Lâm, Mỹ Hào, Ân Thi (Hưng Yên), Bình Giang (Hải Dương), Lang Tài (Bắc Ninh) để giải vây cho căn cứ Bãi Sậy. Tiêu biểu là trận tấn công binh đoàn Barnettre ở Lạc Đạo (tổng Lạc Đạo, Văn Lâm) gây cho quân Pháp thiệt hại nặng nề. Vài ngày sau lại diễn ra trận đánh ở Đại Từ, tổng Đại Từ, huyện văn Lâm, quân Pháp bị thiệt hại lớn. Khi quân cứ viện của chúng tới thì nghĩa quân đã rút đi xa. Trong trận Lãnh Khuy chỉ huy đánh Cầu Hà (Ân Thi), ông bị giặc bắn chết, sau đó chặt đầu đưa về phủ Bình Giang. Lãnh Ba (lãnh binh Nguyễn Đình Tuyển) cùng bà Đốc Huệ bao vây uy hiếp phủ đường Bình Giang năm ngày liền, liên tục bắn vào đồn. Cuối cùng bọn giặc phải đem đầu Lãnh Khuy ra trả, nghĩa quân mới rút.

Cuối năm 1889, Lưu Kỳ từ Bình Hồ kéo quân về hoạt động ở Lục Nam, Bảo Đài gây cho quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Toàn quyền Đông Dương tách Lục Lan ra khỏi Lạng Sơn để thành lập một khu vực riêng do tên Đamát (Damade) đứng đầu để có tập trung lực lượng tiêu diệt Lưu Kỳ. Nghĩa quân chủ động rút khỏi Bảo Đài về đóng ở núi Huyền Dinh, cách Bảo Đài 4 km đây là vùng núi hiểm trở nhưng nghĩa quân di chuyển dễ dàng.

Tháng 12/1889, quân Pháp điều động quân từ Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương do những sỹ quan giàu kinh nghiệm như Môngpera (Monpeyrat), Macxan (Marsal), Ácta (Arta), Perơ (Pirreere) chỉ huy chia làm 3 cánh quân tấn công vào căn cứ. Lưu Kỳ phán đoán từ trước, cho quân phục kích trên những mỏm núi cao, nổ súng quyết liệt vào bọn Pháp đang hành quân trên con đường độc đạo, hai bên là vách đá dựng đứng. Giặc Pháp bị thương vong hàng chục trên, trong đó có tên thiếu úy Ácta. Quân Pháp phải rút lui, Lưu Kỳ còn tập kích đoàn xe tải chở lương thực ở núi Bóp, bẻ gãy hoàn toàn cuộc càn quét lớn của quân Pháp.

Khi cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy gặp khó khăn vì quân Pháp, quân Hoàng Cao Khải mở nhiều cuộc tấn cồn vào các căn cứ của nghĩa quân thì Phạm Trung Thứ phải đem một số quân chạy về Nam Định.

Với ý chí căm thù giặc Pháp và kinh nghiệm tổ chức vũ trang, tổ chức tác chiến của chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật và các tướng lĩnh khác, Phạm Trung Thứ đã cùng các ông Đỗ Công Thiềm, Phạm Văn Sắt, Phạm Văn Thi, Nguyễn Thế Thị, Phạm Kim Thảo… chiêu mộ nghĩa quân, rèn đúc vũ khí, chuẩn bị lương thực tổ chức đội ngũ chiến đấu.

Nhưng vào tháng 12/1889 công việc bị bài lộ do tên Tổng Cự báo cho quân Pháp biết. Trước tình thế cấp bách đó, Phạm Trung Thứ buộc phải làm lễ tế cờ khởi nghĩa rồi đánh chiếm huyện lỵ Phong Doanh (nay là huyện Ý Yên) bắt tri phủ Nguyễn Quỹ giải về đình làng Thượng Đồng trị tội. Khí thế của nghĩa quân lên cao, làng Thượng Đồng trở thành trung tâm cuộc khởi nghĩa. Ông đưa quân về đánh chiếm tỉnh lỵ Ninh Bình nhưng giữa đường bị giặc Pháp chặn lại. Phạm Trung Đồng chiến đấu quyết liệt rồi rút quân về làng Thượng Đồng cố thủ.


(1) Vũ Thanh Sơn: Tướng lĩnh Bãi Sậy, Sđd.
(2) Piglowski; Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #85 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 06:27:59 am »

Quân Pháp không dám đánh ngay, cho gián điệp dò la biết rõ lực lượng và sự bố phòng của nghĩa quân, ngày 10/12/1889 quân Pháp tấn công vào làng, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, Phạm Trung Thứ hô quân bắn vào lính Pháp, gọi hàng lính tập, vì thế hàng ngũ quân Pháp dao động khiến bọn chỉ huy Pháp phải ra lệnh rút lui vì sợ lính tập phản chiến. Quân Pháp phải thú nhận sự thất bại nặng nề này như sau: “Ngày 10/12/1889 ở làng Thượng Đồng phía bắc tỉnh lỵ, một thiếu úy khố xanh là Sô đơ rông bị chết trong một cuộc chiến đấu, ở đó người bạn của ông ta là Mô Ganh cũng bị đạn ở tay trái”(1).

Để bảo toàn lực lượng, Phạm Trung Thứ đưa quân lên xây dựng cứ điểm mới ở Núi Nể(2). Ông cho dân làng Thượng Đồng sơ tán tránh sự khủng bố của giặc. Quân Pháp tràn vào Thượng Đồng cướp phá, Phạm Trung Thứ cho quân vào Thượng Đồng đánh tan quân Pháp rồi rút về căn cứ mới an toàn(3).

Cũng trong thời gian đó, Đề Yêm bị quân Pháp truy kích ráo riết ở Hưng Yên, Bắc Ninh. Ông chỉ huy một toán quân từ căn cứ Bãi Sậy vượt sông Hồng về hoạt động ở bắc Hà Nam, nam Hà Đông. Nghĩa quân được các tầng lớp nhân dân hết lòng ủng hộ, gia nhập lực lượng, tiếp tế lương thực. Ông đã tổ chức được những trận đánh lớn của Quảng Thừa, Mã Não (nay thuộc huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) và Tuyết Sơn, chùa Hương (thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây). Cuộc chiến của nghĩa quân Bãi Sậy ở vùng Kim Bảng, Ứng Hòa do Đề Yêm chỉ huy kéo dài đến năm 1890 thì bị quân Pháp truy kích ráo riết lực lượng tiêu hao, Đề Yêm phải giải tán nghĩa quân rồi sang Trung Quốc(4).

Vào tháng giêng năm 1890, đồn Kẻ Sặt (huyện Bình Giang, Hải Dương) do giám binh Bllessen chỉ huy, phó quản Tích là đồn phó, chỉ huy 60 lính. Nghĩa quân tung một tin giả là làng Đông Xá vừa bị nghĩa quân tấn công. Giám binh Bellessen lập tức đem 46 lính đi cứu chỉ để lại phó quản Tích và 13 lính ở lại. Lúc đó Minaul. Trưởng ấn tòa sứ Hải Dương vừa đi thu thuế về vào đồn nhờ quân Tích bảo vệ 7000 quan tiền và 5 két bạc. Gần nửa đêm nghĩa quân cải trang làm lính do một sĩ quan Pháp chỉ huy kéo vào đồn. Bếp Ngọc gác cổng ngăn lại, lập tức bị bắn gãy tay. Nghĩa quân xông vào đồn giao chiến, sau đó rút lui.

Hai giờ sau, 300 nghĩa quân lại tấn công dữ dội vào đồn, đến sáng mới lui(5).

Nghĩa quân Hải Dương dưới sự chỉ huy của Đề Quý, Lãnh pha, Lãnh hai cũng hoạt động tích cực. Đêm 20 rạng 21/2/1890 đã tấn công mãnh liệt đồn Iakden (Hải Dương).

Ngày 20/2/1890 quân Pháp biết tin Đốc Sung, Đốc Mỹ đang ở làng Đồng Ngư, phủ Thuận Thành, bèn đưa 140 lính ở các đồn xung quanh đến bao vây. Đốc Sung, Đốc Mỹ chiến đấu quyết liệt và giết chết tên quản Legllère, bắn trọng thương tên quản Auber. Bị thua quân Pháp phải điều 500 quân nữa đến Đồng Ngư thì nghĩa quân Đốc Sung, Đốc Mỹ đã rút từ lâu.

Trong một bức điện về Hà Nội ngay 22/2/1890 của phóng viên báo Tin tức Hải Phòng ghi như sau: “Trong một cuộc đụng độ với toán của Đốc Sung và Tham Thuật ở Đồng Ngư tỉnh Bắc Ninh, một vệ binh chết, hai vệ binh bị thương, trong đó có vệ binh chisnh là Auber bị thương ở vai. Mọi sự bố trí đều nhằm bao vây toán này. Chúng có chừng 60 tay súng. Nhiều cuộc chiến đã nổ ra”(6).

Thực dân Pháp nhận thấy muốn đánh phá phong trào Bãi Sậy thì không thể đơn thuần bằng giải pháp quân sự, mà còn phải tổ chức lại cơ cấu hành chính. Vì vậy ngày 25/2/1890, Toàn quyền Đông Dương Pikê (Piquet) ra nghị định thành lập đạo Bãi Sậy mà nhiệm vụ của nó chỉ có một việc là đàn áp, đè bẹp cuộc kháng chiến Bãi Sậy đang được phục hồi.

Đạo Bãi Sậy có 4 huyện mới là Văn Lâm, Cẩm Lương, Yên Mỹ, Mỹ Hào được cắt từ các huyện Văn Giang, Gia Lâm, Siêu Loại của Bắc Ninh, Cẩm Giàng, Mỹ Hào của Hải Dương, Khoái Châu, Ân Thi của Hưng Yên, lị sở Bần Yên Nhân.

Cai quản đạo Bãi Sậy do công sứ Hưng Yên Masselier nắm quyền, trực tiếp là phó sứ Morel, một tên chuyên cầm quân đi đánh phá phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy. Dưới quyền Morel có hai chánh, phó quản đạo cùng một tên thanh tra lữ đoàn, 8 viên quản, 380 lính cơ dưới sự chỉ huy của một tên giám binh.


(1) Daufès: L Garde indigène de L’Indochine tomme 1, Avigron, Paris, 1933, trang 56.
(2) Núi Nể nay thuộc xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
(3) Trịnh Như: “Về phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX ở Hà Nam Ninh”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3 (174) tháng 5-6/1977.
(4) Trịnh Như: “Về phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX ở Hà Nam Ninh”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3 (174) tháng 5-6/1977.
(5) Daufès: Bảo an binh Đông Dương từ ngày thành lập đến nay, cuốn 1, xuất bản ở Paris, 1933.
(6) Báo tin tức Hải Phòng số 351 ra ngày thứ năm 27/2/1890.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #86 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 06:30:30 am »

Masselier lập đồn bốt ở những vùng giáp ranh của 3 tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, mỗi đồn có khoảng 50-60 lính, liên lạc thường xuyên với nhau. Đó là các đồn bốt: phủ Khoái Châu do thanh tra Aubert chỉ huy, Hà Tiên (giáp ranh Ân Thi - Hải Dương) do Samarim chỉ huy; Thuỵ Lân do cai Ponistis chỉ huy; Phú Thạch (tổng Mễ Sở, Văn Giang, Bắc Ninh) do Soler chỉ huy. Các tri phủ, tri huyện đều có từ 50-120 lính cơ, lính lệ và mạng lưới chỉ điểm, thám báo rải ra ở khắp nơi(1).

Mặc dù quân giặc kìm kẹp nhưng các đội tuyên truyền trừ gian của nghĩa quân vẫn tăng cường công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức và thu thuế, tuyển mộ thanh niên bổ sung cho lực lượng kháng chiến.

Các hoạt động quân sự cũng diễn ra dồn dập;

Cai Soler chỉ huy đồn binh Bình Phú, tổng Khoá Nhu (Yên Mỹ) đem tất cả lính khố xanh hành quân ra khỏi đồn đã bị nghĩa quân đánh bật trở ra bờ sông Hồng. Khi chúng sắp bị tiêu diệt thì may mắn gặp ca nô của địch nên được cứu thoát.

Tháng 3/1890, Đốc Sung, Lãnh Mỹ, quản Dây hoạt động mạnh ở Thuận Thành, Từ Sơn, Yên Phong (Bắc Ninh): Nguyễn Thiện Kế, Đề Vinh hoạt động mạnh mẽ ở Lang Tài (Bắc Ninh), Cẩm Giàng (Hải Dương), Văn Lâm (Hưng Yên); Lãnh Pha, Lãnh Hai, tướng cũ của Đốc Tít, tiền quân Đô thống Phạm Văn Đức hoạt động ở Đồ Sơn, các cửa sông, hải đảo.

Tháng 4/1890, nghĩa quân xuất phát từ Văn Giang tấn công đồn binh Bình Phú, tổng Khoá Nhu, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên. Đồn do lính lệ của tổng đốc Hưng Yên đóng. Nghĩa quân chiếm, đốt sạch đồn này.

Các đồn Lực Điền, Thuý Lâm kéo đén tiếp viện bị nghĩa quân chặn đánh ở dọc đường. Dân binh chết 3, bị thương 3, 1 mất tích. Có tin nhiều súng bắn nhanh của dân binh bị lấy mất trong đó có 9 khẩu 1842 của lính đồn Bình Phú(2).

Ngày 27/5/1890 nghĩa quân Lãnh Điển phối hợp với nghĩa quân Hà Nội phục kích quân Pháp do Aubert chỉ huy ở làng Phù Sa và Ninh Vũ (Khoái Châu), Aubet bỏ chạy để lại hai xác chết, một tên bị thương nặng, một tên bị nghĩa quân bắt.

Ngày 2/9/1890, nghĩa quân Hai Kế, Đề Vinh phối hợp với nghĩa quân Lãnh Điển tiến đánh thành phố Hải Dương. Không may kế hoạch bị lộ, công sứ Hải Dương sai Chaigrau mang 70 lính ở Hải Dương chặn đánh nghĩa quân ở ngoại vi thành phố. Sau đó quân Pháp từ Ninh Hải (Hải Phòng) đem quân thủy đánh bộ từ tàu chiến ở sông Thái Bình đổ bộ lên chặn đánh nghĩa quân. Nghĩa quân giao chiến với quân Pháp ở làng Yên Lưu Thượng, phủ Kinh Môn (Hải Dương) từ 3 giờ chiều đến 9 giờ tối. Quân Pháp chết 2, bị thương 1(3).

Song những cố gắng của nghĩa quân cũng không ngăn chặn được những cuộc tấn công quyết liệt của quân Pháp ở khắp các căn cứ của nghĩa quân.

Hoàng Cao Khải đem quân triệt hạ nhiều làng, tàn sát dân lành vô tội, trong đó có làng Văn Dương (tục gọi là làng Muồng) nay thuộc xã Hoà Phong huyện Mỹ Hào. Văn Dương là làng làm nghề rèn, nên đã rèn vũ khí cho nghĩa quân, đốt phá các xóm làng, đốt đình Giải, chùa Đụn thuộc xã Hoà Phong. Dân phải chạy đi các xã khác, cỏ mọc đầy đồng khắp nơi hoang vắng, khó tìm ra chốn cũ(4).

Cuộc khởi nghĩa tạm thời bị thoái trào nhưng quần chúng nhân dân vẫn kiên cường tiếp tục đứng lên chống Pháp, nơi bị giặc khống chế thì âm thầm chuẩn bị chờ cơ hội. Các thủ lĩnh nghĩa quân như: Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thiện Kế, Đốc Cọp, Đề Tính, Lãnh Điểu, Đề Ban, Tiền Đức… vẫn duy trì được lực lượng vũ trang và tiếp tục bổ sung, quan trọng hơn là căn cứ Bãi Sậy vẫn được giữ vững, tuy có bị thu hẹp hơn trước.


(1) A de Miribel nguyên công sứ Hưng Yên: La Province de Hưng Yên.
(2) Theo báo Tin tức Hải Phòng số 156 ngày 5/4/1890.
(3) A de Miribel sđd.
(4) Nghề cổ truyền tập 1, Hội đồng nghiên cứu lịch sử Hải Dương biên soạn, xuất bản năm 1984, tr. 48.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #87 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 06:36:43 am »

Giai đoạn thứ ba

NGUYỄN THIỆN KẾT VƯỢT QUA MUÔN VÀN
KHÓ KHĂN DUY TRÌ CUỘC KHỞI NGHĨA
(10/1890-4/1892)

CHƯƠNG I

LIÊN TỤC MỞ CÁC CUỘC TẤN CÔNG
ĐỂ PHỤC HỘI LỰC LƯỢNG
(10/1890-2/1891)

Cuối năm 1890, Nguyễn Thiện Thuật thấy tình thế trong nước có nhiều khó khăn, không thuận lợi cho cuộc kháng chiến. Tháng 10 năm ấy ông tạm giao binh quyền cho em là Nguyễn Thiện Kế và các tướng lĩnh rồi sang Trung Quốc mưu tính cuộc vận động mới để khôi phục lực lượng. Nhưng trong thời gian này triều đình Mãn Thanh đã ký “Hiệp ước thân thiện” với thực dân Pháp nên không những không giúp Việt Nam, mà còn thông đồng với Pháp giữ ông ở Trung Quốc(1).

Theo tài liệu của thực dân Pháp, sau khi Nguyễn Thiện Thuật đi Trung Quốc thì phong trào kháng chiến bị sa sút, nhiều thủ lĩnh kiệt xuất tử trận, bị bắt rồi bị hành hình, một số khác bức bách phải ra hàng. Tuy vậy dưới quyền Nguyễn Thiện Kế còn 7 thủ lĩnh chính là:

- Đề đốc Sung người làng Dịch Trĩ, Yên Mỹ.

- Đề đốc Ban, người làng Bối Khê, Ân Thi.

- Đề đốc Nguyễn Đình Tính, người làng An Vỹ, Khoái Châu.

- Đề đốc Cọp, người làng An Xá, Kim Động.

- Lãnh binh Dương Văn Điểu, người làng Phù Sa, Khoái Châu.

- Tuần Văn, người Như Quỳnh, Văn Lâm(2).

- Đề đốc Mỹ, người làng Xuân Cầu, Văn Giang.


Bảy người chỉ huy này có trên 600 khẩu súng. Không có sự chỉ huy chung, họ bắt đầu hành động ở từng vùng và tấn công liên tục vào các vị trí của ta. Hợp thành từng thoán 20-25 người, họ ẩn nấp trong các làng xã và mỗi khi một toán đánh nhau với binh lính của ta thì các toán gần đấy lại đến hỗ trợ(3).

Súng ống của họ phần lớn gồm có súng Carabine, Winchester, súng trường và các bin mle 1894 lấy ở các trại lính, súng kíp kiểu Mỹ, súng Remington, súng Mauser dùng đạn mle 1873 và một số súng hỏa mai(4).

Số liệu trên đây là do bọn mật vụ chỉ điểm báo cho quân Pháp, còn trên thực tế số thủ lĩnh nghĩa qnân còn nhiều hơn, vì chỉ riêng Đề đốc Nguyễn Văn Sung đã có 300 quân, trang bị tới 250 súng bắn nhanh. Trong trận Quang Xá, Chaignau đã phải huy động tới 500 lính đi đánh Đốc Súng, Đốc Mỹ mà vẫn không thắng. Lãnh binh Dương Văn Điển. Lãnh binh Dương Văn Điển có trên 200 quân, hầu hết được trang bị súng bắn nhanh do các nước Châu Âu sản xuất và súng cải tiến. Chánh đề đốc Nguyễn Đình Tính có 300 quân trang bị 200 súng bắn nhanh. Trận đánh đồn Kẻ Sặt, Đề Ban huy động tới trên 300 quân. Bọn cầm quyền Pháp phải thú nhận: “Lực lượng nghĩa quân Bãi Sậy vận được tổ chức và trang bị tốt nên càng ngày càng lớn mạnh”(5).

Cũng như giai đoạn trước, Hai kế vẫn lấy Bãi Sậy làm căn cứ chính. Ông cùng với Đề Ban, Đốc Mỹ cho dán các bản Tuyên cáo kể tội giặc Pháp và bọn tay sai bán nước, kêu gọi nhân dân tham gia nghĩa quân và tiếp tục thu thuế của nhân dân. Nghĩa quân vẫn hoạt động tại các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, uy hiếp đường số 5, đường 39 đánh úp các đồn lẻ, phục kích các toán quân tuần tiễu. Khi đánh lớn mới tập trung quân như trước.


(1)Theo gia phả họ Nguyễn Thiện Thuật ở xã Xuân Dục huyện Mỹ Hào và các tư liệu của A de Miribel, Daufès, Piglowski và các báo L’avennire du Tonkin, Le couriet Hải Phòng thì tháng 10/1890 Nguyễn Thiện Thuật mới sang Trung Quốc. Piglowski trong cuốn “Lịch sử lính khố xanh ở Bắc Kỳ” viết: Ngày 20/3/1890 Tán Thuật đi Lục Nam bàn viêc với cai Biểu. Dulleman viết trong cuốn “Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc” có nêu: “Trong vòng tháng 8/1897 Tán Thuật, Hai Kế vẫn còn ở Mỹ Hào (hai ông mới ở Trung Quốc về) nhưng ảnh hưởng của hai viên thủ lĩnh này đã mất” - điều này không đúng.
- Cuốn “Tán Thuật - Bãi Sậy” của Văn Hà ký hiệu SV/1038 lưu trữ ở Thư viện quốc gia cũng viết “tháng 8/1897 Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thiện Kế về Mỹ Hào, nhân lực lượng yếu không đánh nổi Pháp lại phải sang Trung Quốc”, có lẽ là dựa vào tài liệu của Dulleman. “Lịch sử 80 năm chống Pháp”, trang 32 viết “cho tới năm 1899 hai ông Nguyễn Thiện Thuật và Đốc Tít đến chỗ cùng cực phải ra hàng. Nguyễn Thiện Thuật bị đày đi Côn Đảo, Đốc Tít bị đày đi Algérie, mấy lãnh tụ nữ hoặc ra hầng hoặc nhập vào một đoàn quân khởi nghĩa khác. Cuộc khởi nghĩa đến đây là tan rã” - là không đúng.
(2) La pronnces de Hưng Yên của A de Miribel (Lịch sử chiếm đóng Hưng Yên) viết Tuàn Văn quê ở Như Quỳ là không đúng. Quê ông ở xã Xuân Quan, huyện Văn Giang nay thuộc Hưng Yên.
(3), (4) A de Miribel : Notice - notichsur la garde Indigène du Tonkin.
(5) Minh Thành: Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 122, 123 tháng 5, 6/1969.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #88 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 06:37:52 am »

Nguyễn Thiện Kế đã phái một đội vận chuyển đặc biệt để phối hợp với Đề đốc Lưu Kỳ duy trì và bảo vệ ba đường dây vận chuyển vũ khí từ Quảng Đông, Quảng Tây về nên nghĩa quân vẫn được trang bị đầy đủ súng đạn.

Để đối phó với các đồn binh, các toán quân cơ động tuần tiễn, lính dõng do quan phủ, quan huyện chỉ huy, Nguyễn Thiện Kế và bộ Tư lệnh nghĩa quân đã chi các toán lớn thành nhiều toán nhỏ từ 20 đến 30 người hoạt động lưu động từ làng này qua làng khác. Các toán quân này còn làm nhiệm vụ cảnh cáo và trừng trị đám quan phủ, quan huyện, tổng lý và những tên thám báo, chỉ điểm cam tâm làm chó săn, chim mồi cho giặc, đánh phá các căn cứ của nghĩa quân, triệt hạ các làng ủng hộ nghĩa quân.

Do bố trí lại lực lượng như vậy, nên dù quân số ít nhưng nghĩa quân vẫn có mặt ở khắp các tỉnh và tả ngạn sông Hồng. Nguyễn Thiện Kế, Đốc Sung, Đề Ban, Đốc Mỹ cũng đã nhiều lần tập trung lực lượng, tổ chức chống càn thắng lợi, chủ động tấn công địch, trong đó có một số trận tiêu biểu:

- Nghĩa quân do Hai Kế, Đề Ban, Đốc Mỹ, Đề Quý chỉ huy nhiều lần tập kích vào các đồn địch ở Khoái Châu, Hà Tiên (giáp ranh giữa Ân Thi và Thanh Miện) Phú Trạch (tổng Mễ Sở, Khoái Châu), Thuận thành, Lang Tài Gia Tài (Bắc Ninh) gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp và quân Hoàng Cao Khải.

- Nguyễn Thiện Kế vẫn giữ mối quan hệ mật thiết với Lưu Kỳ nay đã từ Ba Chẽ (Quảng Yên) trở về Lục Nam, Đông Triều đánh những trận lớn ở Lục Nam, Sơn Động, Uông Mý…

Khi biết tin Đề Ban đóng quân làng làng La Mát, quân Pháp huy động lực lượng lớn đến bao vây nhằm tiêu diệt cánh quân của ông. Từ 5 giờ sáng ngày 8/10/1890, một cánh quân do Montillon cùng Phó quản Tích bí mật lọt vào đảo Kẻ Sặt. Đảo này hình mhư một cái thau, bờ là những con đê dùng để chống lũ lụt. Trong khi đó thì những viên vệ binh chính Brento và Petit Zean đóng ở các đồn lân cận đem lính đánh tạt sườn vào nghĩa quân ở làng La Mát, trong khi mũi chính diện của Montillion tấn công vào chính diện của làng.

Nhưng bọn giặc không ngờ các mũi hành quân bí mật của chúng đã bị các trinh sát nghĩa quân và nhân dân phát hiện báo cho nghĩa quân biết. Vì vậy, Đề Ban đã bố trí phòng ngự trong làng, đồng thời cho quân đi mai phục chặn đánh quân tiếp viện và đường rút lui của chúng. Khi cánh quân chính diện do Moutillon chỉ huy tiến về bến đò ngang thì ngay từ phút đầu đã vấp phải lực lượng mạnh được Đề Ban đã bố trí sẵn và bắn quyết liệt vào đội hình hành quân của chúng. Còn cánh quân của Brenton và Petit Zean có nhiệm vụ đánh tạt sườn của nghĩa quân, không tiến được. Montillon hiểu rõ tình thế của mình đang nguy hiểm do Petit Zean bị nghẽn, nên đã nhiều lần Montillon và Phó quan Tích thúc quân lính bắn nhanh, xua quân tràn qua cánh đồng lầy, bùn ngập tới đầu gối để ra đê nhưng 50 quân của Montillon đã bị các nghĩa quân của Đề Ban xé nát đội hình bằng những đường đạn chính xác, nhiều tên bỏ mạng, nhiều tên bị thương.

Trong khi nghĩa quân chiến đấu thì nhân dân tự nguyện tiếp tế cơm nước, tải đạn, cứu thương nên đã kéo dài cuộc chiến đấu từ 5 giờ sáng tới 18 giờ. Ban đêm lợi thế thuộc về nghĩa quân, lại chiến đấu trên địa bàn quen thuộc được nhân dân giúp sức nên càng đánh càng hăng. Montillon bắn gần hết đạn phải dẫn quân tháo chạy về Kẻ Sặt. Đề Ban phán đoán trước tình thế này nên đã cho quân mai phục ở bến đò Phù Ủng bắn dữ dội vào đội hình rối loạn của chúng. Trước tình thế đó, Montillon liều chết xua quân lên chiếm ngôi chùa để cố thủ chờ viên binh, lệnh cho lính lắp lưỡi lê vào nòng súng rồi nhất loạt tràn lên. Nhưng đạn của nghĩa quân bắn xối xả, nhiều tên chết và bị thương. Montillon bị đạn bắn trúng gối bên phải.

Sau trận giao chiến ác liệ, quân Pháp chiếm được ngôi chùa, nhưng lại bị nghĩa quân bao vây chặt và tấn công ác liệt bằng súng từ xa, sau đó xông lên áp sát quân địch. Nhân dân các làng gần đó trợ chiến bằng cách gõ thanh la, trống, mõ.

Quân Pháp đang có nguy cơ bị tiêu diệt thì bọn Công giáo phản động vội vã đến báo cho cha đạo Gácsia (Garcia) người Tây Ban Nha ở nhà thờ Kẻ Sặt về tình hình nguy cấp của đạo quân Montillon ở La Mát, ở bến đò Phù Ủng và ở ngôi chùa. Tên cố đạo này lập tức cho tay chân thân tín cưỡi ngựa về báo cho đạo quân Bãi Sậy, khi đó đóng ở Bần Yên Nhân hay tin. Nhận được tin cấp báo trên, lập tức M.Della chỉ huy đạo quân Bãi Sậy liền cho 100 tay súng đến cứ viện. Bọn này đến bắn vào sau lưng toán nghĩa quân phục kích ở bến đò Phù Ủng. Quân Pháp cho Petit Zean và Montillon bắn mạnh vào phía trước nghĩa quân. Nghĩa quân bị hai luồng đạn bắn vào, đạn cũng đã cạn đành phải rút vào các làng gần đó. Nhờ đó quân tiếp viện của M.Della chỉ huy qua được sông tiến vào Kẻ Sặt(1).


(1) Dulleman: “Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp”. Hải Dương 12/1932 - Nguyễn Luận dịch, bản đánh máy lưu ở Thư viện Hải Dương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #89 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 06:42:02 am »

Ngày 8/2/1891 quân Pháp tập trung trên 1400 dân binh và lính lệ do thanh tra Blanchart và Hoàng Cao Khải chỉ huy, 14 tên vệ binh chính cùng lính Nam ba tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh có pháo binh, tàu chiến yểm hộ tấn công dữ dội vào căn cứ Bãi Sậy và các căn cứ khác của nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân do Hai kế, Đề Ban, Đốc Sung, Lãnh Tảo chỉ huy đã chống trả quân Pháp quyết liệt nhưng sau cũng phải rút sang huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà, sang vùng sông Kinh Thày(1).

Về sự kiện này A de Miribel viết tỏng quyển La Prommes de Hưng Yên như sau: “Ở La Mát (Ân Thi) viên cai Montillon bị thương trận đánh suýt trở thành thảm khốc nếu không nhờ có Đức cha Garcia, cố đạo người Tây Ban Nha phái kỵ binh phi báo cho Bần Yên Nhân biết là đơn vị đang bị vây tứ phía ở La Mát”(2) (La Mát nay thuộc xã Phù Ung, Ân Thi).

Trong khi Hai Kế và các tướng lĩnh đánh địch quyết liệt ở Ân Thi, Kim Động, Đông Yên (hưng Yê), Kẻ Sặt (Bình Giang, Hải Dương) thì Lưu Kỳ cũng có nhiều hoạt động quân sự rầm rộ ở Lục Ngạn (Bắc Ninh), Đông Triều (Hải Dương), Uông Bí (Quảng Yên) và vùng phụ cận. Trong đó, tiêu biểu là các trận:

- Ngày 10/10/1890, nghĩa quân Lưu Kỳ tiến đánh tỉnh lỵ Lục Nam. Nghĩa quân chia làm hai cánh quân, một cánh kiểm soát các làng ven tỉnh lỵ, một cánh đánh vào tỉnh lỵ, đánh vào tòa công sứ.

- Ngày 13/10/1890 nghĩa quân chặn đánh đội quân của Duy Phuya (Duffoure)…

Để đối phó với nghĩa quân Lưu Kỳ, từng gây bao nỗi kinh hoàng cho quân Pháp, Bộ chỉ huy quân sự Pháp ở Trung - Bắc Kỳ phải thiết lập hàng loạt đồn bốt ở Chi Ngãi, Lục nam, Lầm, Biển Động, Vi Loại, Uông Bí, Đông Triều. Quân Pháp cũng đưa 6 pháo thuyền ngày đêm tuần tiễu trên sông Lục Nam để cắt đường tiếp tế của nghĩa quân và mở nhiều cuộc hành quân càn quét. Để tránh tổn thất Lưu Kỳ chuyển địa bàn hoạt động về Đông Triều(3).

Nghĩa quân không những chỉ hoạt động ở Hưng Yên, Hải Dương vào hồi 21 giờ ngày 26/10/1890, lực lượng nghĩa quân đông tới 150 người được trang bị khoảng 40-50 súng bắn nhanh đã bất ngờ tập kích một đồn địch ở Gia Lâm. Đồn có 25 lính Pháp và lính khố đỏ đóng. Địch phải cho quân ở Hà Nội sang cứ viện, quân Pháp bị chết 1, bị thương 1, nghĩa quân bị thương 4. Sau đó rút lui an toàn(4).

Ngày 8/12/1890, giám binh Sobran và hai viên quản Chaignaune và Bestol đồn Kẻ Sặt đánh nhau với quân Đề Ban, Hai Kế ở tổng Huệ Lai, Ân Thi. Quân Pháp bị chết, bị thương 8, nghĩa quân bị chết một số, mất một số súng(5).

Sang năm 1891, quân Pháp nhận định là nghĩa quân khá đông đảo và trang bị tốt.

Mặc dù so với trước kia, lực lượng nghĩa quân đã suy yếu, nhưng dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thiện Kế và các thủ lĩnh khác, nghĩa quân vẫn thành công được những trận đánh lớn. Nhân dân bị địch khủng bố ác liệt, nhiều làng bị chúng tàn sát hàng chục, hàng trăm người, thiếu cháy nhà cửa, triệt hạ làng xóm nhưng nhân dân vẫn ủng hộ nghĩa quân bằng nhiều hình thức như gia nhập nghĩa quân, đóng thuế, ủng hộ thóc gạo, bảo vệ khi nghĩa quân tới hoạt động ở địa phương và một số sự hy sinh cao cả là nhường làng xóm nhà cửa của mình cho nghĩa quân xây dựng trận địa đánh Pháp.

Hoạt động của nghĩa quân gây cho quân Pháp thiệt hại nặng nề, bọn cầm quyền Pháp phải thú nhận: “Giữa vùng đồng bằng, trong khu Bãi Sậy, bọn cướp bóc lại tổ chức và đe dọa nghiêm trọng các tuyến đường giao thông giữa Hà Nội - Hải Dương, Nam Định -Hà Nội. Đầu năm 1891, một toán trong bọn này đã tấn công Hà Nội ở phía tả ngạn sông Hồng tức là giữa hệ tống đồn binh từ Bắc Ninh về Hà Nội(6).

Dulleman cũng phải thú nhận trong sách “Notice Sur de Province de Hải Dương” như sau: “Gần hết năm 1891 những di chuyển của chún để lộ ý đồ chúng muốn tập trung, đồng thời chúng cũng lớn mạnh thêm vì những đám từ Bãi Sậy kéo đến. Tán Thuật hoạt động ráo riết hơn bao giờ hết và liên lạc với những đám Đông Triều. Các huyện vừa rồi đã mất bao công sức để tống khứ các ông khách gớm ghiếc, gây giờ lại rơi vào tay chúng. Tiền Đức xuất hiện trong những vụ đánh cướp thuyền binh ở cửa sông Thái Bình và cửa lạch Văn Úc. Lãnh Quý cũng trở lại hoạt động, y đã lập bọn và lại bắt đầu quấy rối huyện Tứ Kỳ, Thanh Hà và Kim Thành. Các huyện Thanh Miện, Năng Yên, Cẩm Giàng và Thanh Lâm cũng lại thấy ló mặt những toán vũ trang khá mạnh đó đánh các đội quân ta. Loạn lạc trở lại hoành hành dữ dội bởi nguyên nhân nào chăng nữa thì tình hình cũng nghiêm trọng…”.

Vùng Đông Triều vẫn bị chiếm cứ bởi những đám giặc khách mà thế lớn thêm, vì những toán bị đánh ở vùng thượng du chạy dạt xuống chây thổ tại miền nam Đông Triều, những tướng cũ của Đốc Tít, Lãnh Pha, Đề Cửu, Đốc Chuyên, Lãnh Nam, Đốc Tuân… đã lập lại những toán có súng ống đầy đủ
.


(1) Theo Piglowski “Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ”. Daufès: Bảo an binh Đông dương từ ngày thành lập đến nay”, cuốn 1 xuất bản ở Paris, 1933.
(2) Dulleman: Nhiệm vụ bình định vủa cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(3) Khổng Đức Thiêm… Khởi nghĩa Yên Thế, Hội Khao học lịch sử và Sở Văn hóa - Thông tin Bắc Giang, Hà Nội, 1997.
(4) Báo cáo chính trị của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương năm 1890, bản viết tay.
(5) Daufès: Bảo an binh Đông Dương từ ngày thành lập đến nay”, cuốn 1, xuất bản ở Paris, 1933.
(6) Z. Mason: Những kỉ niệm ở Trung Kỳ Bắc Kỳ, xuất bản ở Paris. 1933.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM