Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:22:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khởi nghĩa Bãi Sậy  (Đọc 89219 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #100 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:01:44 am »

Khi ba cánh quân do Molière, Lambert, Simon chỉ huy kéo tới bao vây làng Ngô Phần thì lại được một toán quân do viên quản Fouréne đi tuần tiễu ngang qua làng Ngô Phần bèn hợp quân tấn công làng Ngô Phần.

Đề Vinh(1) được sự phối hợp của nghĩa quân Ngô Phần do Tổng Quế, Lý Hai, Hai Dĩnh em ruột Lý Hai, con rể Tổng Quế là Nguyễn Vĩnh Phúc chỉ huy đã dàn quân ra nấp sau các lũy tre, lũy đất bắn trả quyết liệt đẩy lùi hầu hết các cuộc tấn công của quân Pháp.

Nhân dân Ngô Phần giúp nghĩa quân củng cố công sự, tiếp tế lương thực, cứu chữa thương binh. Hai bên giao chiến độ 1 giờ thì Fourie và Muselier hô quân xung phong vào làng, nhưng Đề Vinh cùng các vị chỉ huy khác như Quan Bá Học, Tổng Quế, Hai Dĩnh đánh bật quân địch ra khỏi cổng Cái, cổng Đình, cổng Mặng.

Lúc đó quân Pháp được giám binh Lambert và Desmots từ làng bên đánh tràn tới chọc được một mũi vào vườn Thái phía sau làng. Quân ta phản công quyết liệt. Desmots bị trúng đạn vào bụng chết ngay tại chỗ, giám binh Lambert bị trọng thượng(2)

Phía quân ta, Hai Dĩnh trèo lên ngọn cây cau phất cờ ra lệnh cho nghĩa quân bắn, nhưng ông bị quân Pháp bắn nên đã hy sinh.

Quân Pháp bị phản công mạnh, Lambert và Desmots bị thương vong phải ngừng tấn công nhưng lại tiến hành bao vây làng Ngô Phần, nghĩa quân của Đề Vinh mấy lần phá vòng vây nhưng không sao thoát được.

Nửa giờ sau, các toán quân của Pierrot, Simon, Filippi và Vilian lại kéo tới. Có thêm quân và súng đạn tăng viện, quân Pháp lại tiến hành bắn phá vào làng rồi hò hét xông vào. Nghĩa quân Đề Vinh vẫn núp sau các lũy tre bắn trả khiến nhiều lính Pháp và lính ngụy bị chết, chặn đứng nhiều đợt xung phong của địch. Quân Pháp thấy sử dụng súng bộ binh không thể thắng được nghĩa quân, quản Lambert phái một toán lính đi gấp đường về Bắc Ninh với hai việc là báo cho công sứ Bắc Ninh rõ tình hình chiến sự ở Ngô Phần. Việc thứ hai là xin Thống tướng Voyron cấp ngay cho mặt trận Ngô Phần mấy khẩu đại bác. Trong khi đó quân Pháp điều động các đồn binh xung quanh đến thắt chặt vòng vây làng Ngô Phần. Bọn giặc ở vòng ngoài chặn các toán nghĩa quân khác không cho đến Ngô Phần ứng cứu cho Đề Vinh và cũng khiến quân Đề Vinh không thể thoát khỏi Ngô Phần. Lúc này bệnh của Đề Vinh tái phát, lại không được nghỉ ngơi, phải liên tục chỉ huy nghĩa quân đánh trả quân Pháp nên càng trầm trọng, nhưng ông vẫn tổ chức chiến đấu, cho quân nấp sau các bụi tre bắn ra khiến quân Pháp không thể vào làng được.

Trưa hôm đó, quân Pháp đưa hai khẩu đại bác từ Bắc Ninh về làng Ngô Phần, chúng nã đại bác vào làng, nhà cửa bị đổ nát, người chết, người bị thương rất nhiều. Đề Vinh mấy làn phá vòng vây nhưng không được vì trời tối, mưa to và bị quân Pháp vây chặt không thoát được về làng Bích Khê nhưng cuối cùng Đề Vinh lợi dụng được đêm tối, mưa bão nổi lên, đường sá lầy lội rút khỏi làng Ngô Phần về đóng ở làng Bích Khê thuộc huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh. Cũng do mưa bão quân Pháp không chuyển được đại bác về làng Ngô Phần sớm(3).

Nghĩa quân tới Bích Khê (nay thuộc xã Phú Lương huện Lang Tài), bệnh tình của Đề Vinh ngày càng trầm trọng, nghĩa quân cũng rất mệt mỏi và đói khát. Vài giờ sau, ngày 12/4/1892, quân Pháp lại kéo tới bao vây quanh làng, song nghĩa quân vẫn chiến đấu dũng cảm, quân Pháp không sao tới giáp chiến lũy được. Về phía quân Pháp đi Bắc Ninh lây đại bác về, bình thường chỉ đi 6 tiếng đồng hồ nhưng do đường trơn chúng phải đi mất 20 tiếng nên đến 3 giờ chiều ngày hôm sau tên thiếu úy Gammard chở thêm mấy khẩu đại bác nữa bắn dữ dội vào làng Bích Khê, nhà cửa cây cối bị tàn phá. Các cánh quân của Hai Kế, Đề Quý, Đốc Mỹ hoạt động ở nơi khác cũng bị quân Pháp bao vây, chặn đánh không sao vượt được vòng vây đi ứng cứu cho Đề Vinh được.

Quân Pháp lại bắn đại bác dữ dội vào làng tới 5 giờ chiều thì nhà cửa, cây cối trong làng bị đổ gẫy hết, quân Đề Vinh tử thương rất nhiều. Phân đội bản xứ tràn vào làng nhưng nghĩa quân chống trả quyết liệt, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề buộc phải rút khỏi làng.

Mặc dù bị ốm nặng, Đề Vinh vẫn quyết định rời khỏi làng, họp tướng sỹ lại quyết định nửa đi đi ngược luồng đạn của địch để thoát khỏi vòng vây, đó là cách duy nhất. Nhưng trước luồng đạn dày đặc của giặc, tất cả nghĩa quân đều hy sinh, trong đó có Đề Vinh, Quan Bá Học, Am, tổng số 30 người.

Song quân Pháp cũng bị tổn thất nặng nề: Montillon và 4 lính bị chết, 7 lính bị thương, quân lính 3 ngày liền không được ăn cơm.


(1) Các tài liệu của Pháp như “Bảo an binh Đông Dương từ ngày thành lập đến nay”, các tài liệu của Daufés, Piglowki chỉ nói khi ở Mậu Duyệt có 200 nghĩa quân do Hai Kế, Đề Vinh chỉ huy đến khi toán quân này rút về Ngô Phần và Bích Khê thì không nói gì đén Hai kế và chỉ nói tổng số quân của Đề Vinh bị chết ở Bích Khê là 30 người, trong đó có Đề Vinh, Quan Bá Hốc, Am… Chúng tôi (VTS) cho rằng sau khi phát hiện quân Pháp tấn công vào Mậu Duyệt thì nghĩa quân chia làm nhiều cánh rút khỏi Mậu Duyệt, riêng cánh quân do Đề Vinh chỉ huy rút về Ngô Phần, Bích Khê, bị quân Pháp tấn công và hy sinh. Theo ông Nguyễn Tất Ký, chắt nội cụ Nguyễn Thiệt Thuật thì Hai Kế cũng rút với Đề Vinh. Khi bị bao vây ở Bích Khê thì Đề Vinh dẫn một cánh quân Quyết tử có 30 chiến sỹ phá vây để thu hút lực lượng địch nhưng bị chết hết. Trong khi quân Pháp tập trung quân tiêu diệt quân Đề Vinh thì Hai Kế dẫn số đông quân vượt vòng vây an toàn.
(2) Chúng tôi nghiên cứu tài liệu của các quan chức Pháp như Dulleman, Miribel… nghiên cứu thực địa, đọc gia phả các tướng lĩnh, nghe truyền thuyết ở làng Ngô Phần.
Về trận đánh này, sách “Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ của Piglowski và Miribel trong quyển Notice viết là chiến sự xảy ra ở làng Ngô Phần từ ngày 11/4/1891 và ở làng Bích Khê là ngày 12/4/1891.
(3) Dullman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #101 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:04:27 am »

Quân Pháp tràn vào các làng lùng sục bắt được 30 nghĩa quân giết ở Ao Hiên (Thị trấn Cẩm Giàng) bắt ở các nơi đưa về giết rồi ném xác xuống ao(1).

Sau trận Bích Khê, lực lượng nghĩa quân Bãi Sậy tan rã, nghĩa quân không còn đủ sức đánh những trận lớn mà chỉ còn hoạt động lẻ tẻ. Căn cứ Bãi Sậy và các căn cứ xung quanh Bãi Sậy bị lọt vào tay quân Pháp và Hoàng Cao Khải chúng đóng thêm nhiều đôn binh mới như đồn Đống Tanh giáp gới với căn cứ Thuỷ Trúc của Lãnh Chủ, Lãnh Điếc; căn cứ Mão Cầu của Lánh binh Nguyễn Đình Tiêm, căn cứ Mễ Xá của Nguyễn Hữu Đức, căn cứ vùng Ba Tổng ở bắc Ân Thi bị phá. Các căn cứ kháng chiến khác của nghĩa quân ở Hải Dương, Bắc Ninh, Phúc Yên cũng đều bị phá; quân Pháp đóng nhiều đồn hàng ngày cho lính đi càn quét, truy lùng các thủ lĩnh, nghĩa quân, tàn phá các làng xã ủng hộ nghĩa quân. Bọn phản động cường hào, bọn Việt gian, Công giáo phản động dựa vào quân Pháp trả thù bọn cường hào ở xã Dịch Trì (Yên Mỹ) đòi lại ruộng đất mà Đốc Sung đã áp dụng chính sách “đạc diền” chia cho dân trước đây(2).

Sau trận này nghĩa quân Bãi Sậy suy yếu, mặt khác quân Pháp vẫn không ngừng truy kích nghĩa quân ở khắp nơi, khiến cho nghĩa quân không dừng lâu ở đâu được vài ngày để củng cố lực lượng. Chúng cũng điên cuồng khủng bố các làng mà nghi là có nghĩa quân hoạt động. Quân Pháp còn bắt các làng có lũy tre dầy, có tường lũy bằng đất, có hào phải chặt phá dỡ bỏ, san bằng các gò đống vì sợ nghĩa quân xây dựng trận địa. Chúng còn bắt dân đi phu xây dựng đồn bốt, làm đường giao thông(3).


Lũy đất ở làng Ngô Phần, Lang Tài, Bắc Ninh nơi diễn ra
cuộc chiến đấu đẫm máu của Đề Vinh với quân pháp ngày 12/4/1892

Từ đó, Nguyễn Thiện Kế cải trang làm người bán thuốc bôn tẩu khắp nơi thường qua lại Trung Quốc thăm anh, đưa đường cho nhiều người trong nước xuất dương Đông du. Ngày 14/3/1913 và ngày 26/4/1913 xảy ra hai vụ ném lựu đạn giết chết Tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn và làm bị thương một số sĩ quan Pháp ở Hà Nội. Hội đồng Đề hình Pháp họp ngày 5/9/1913 nghi ông tham gia vụ này đã kết án chung thân vắng mặt. Năm 1914 khi ông 65 tuổi, nhà cầm quyền Pháp bắt được ông ở chợ Sơn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Pháp đày ông đi Côn Đảo, khi ông ngoài 70 tuổi, chúng mới đưa về an trí ở quê nhà(4).

Theo Huỳnh Thúc Kháng trong “Thi tù tùng thoại” thì năm 1921 cụ được tha và vài năm sau Nguyễn Thiện Kế cũng được tha.

Về tới quê thì nhà cửa khánh kiệt, bị quản thúc sống trong cảnh bần hàn nhưng ông rất khẳng khái thường nói với con cháu: “Nếu ta còn sức khỏe, ta còn tiếp tục đánh Tây đến cùng”. Theo gia phả họ Nguyễn ở làng Xuân Đào thì Nguyễn Thiện Kế mất ngày 25/10/1937 thọ 88 tuổi(5).


(1) Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ viết ngày xảy ra chiến sự ở Ngô Phần là ngày 11/4/1891 và ở Bích Khê là ngày 12/4/1891.
A de Miribel viết trong chương “Binh Pháp hạ Hưng thành” trong quyển Notice như sau: “Ngày 11/31891, quân của Hai Kế, Đề Vinh bị viên quản khố xanh Moliner vây quanh Mậu Duyệt (Hưng Yên). Viên giám binh Lambert và viên quản Desmot đem quân lại để hợp sức với viên quản Noliner. Nhưng quân giặc phá vòng vây chạy sang làng Ngô Phần.
Viên quản khố xanh Fourrre đem quân đi tuần tiễu vừa đến đấy hợp sức lại giao chiến.
Quan quân dốc hết sức phá cổng làng, viên quản Desmot tử trận, viên giám binh Lambert bị thương. Lúc ấy tạm đình chiến để xin súng đại bác ở Bắc Ninh.
Toán quân Piermot, Filippi, Vilaire cũng dần dần đến vây làng Ngô Phần. Viên quản Montillon đem thêm khí gới đến.
Đêm đến trời mưa tầm tã, đường đi lầy lội. Tonas giặc phá vòng vây nhưng bị vây ở làng Bích Khê.
Ba giờ chiều hôm sau có súng đại bác chở đến. Trận tuyến đã lập xong chỉ còn chờ khai chiến.
Đến nửa đêm, quân giặc phá vòng vây. Viên quản Montillon bị thương, quân giặc bị phá tan, chết mất 9 người. Đề Vinh, Quan Bá Học và Am tử trận. Quan quân lây được 9 khẩu súng trường, 1 súng lục và nhiều đạn dược.
Nhưng cũng do A de Miribel viết trong cuốn La Provice de Hưng Yên lại viết: “Người cầm đầu cuối cùng là Đề Vinh trốn thoát khỏi Bắc Ninh bị phát hiện ngày 12/4/1892 ở làng Lang Tài gần địa giới chúng ta đã bị bắn chết ở đó với 7 người của ông ta. Ông ta đã ngã xuống và tự vệ đến cùng làm cho viên cai Desmot bị chết, các ông thanh tra Lambert và Montillon bị thương trong lúc giao tranh” - Chúng tôi (VTS) cho rằng tư liệu ngày 12/4/1892 là đúng.
(2) Minh Thành: Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 123 tháng 6/1969.
(3) Theo Piglowski: Lịch sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ. Sđd.
(4) Theo tài liệu cùa Pháp thì sau 3 năm ngừng hoạt động đến năm 1895 Hai Kế cùng Ba Giang chỉ huy một lực lượng nghĩa quân khoảng 80 tay súng trở lại đánh Pháp ở huyện Lang Tài, Tắc Ninh (a).
(a) Pilowski: Histoire de Le Garde indigène du Tonkin (tập 1) xuất bản ở Paris không có tên tác giả. Đông Dương Tạp chí số 18 ngày 11/9/1913 và số 43 ngày 12/3/1914.
(5) Gia phả dòng họ Nguyễn Thiện Thuật ở thôn Xuân Đào, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #102 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:07:24 am »

CHƯƠNG IV

LƯU KỲ HY SINH VÀ MỘT SỐ TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG
CỦA NGHĨA QUÂN BÃI SẬY
(7/1892-2/1897)

Cuối năm 1891(1) quân Pháp lại tập trung lực lượng tổ chức một chiến dịch lớn tiến công vào căn cứ của Lưu Kỳ.

Các binh đoàn này do Rápphane (Raffanel), binh đoàn Đôminê (Nominé) chỉ huy lại được các công sứ Hải Dương, Quảng Yên, Lục Ngạn đưa quân đến gặp, dẫn đường, tiếp tế quân lương song vẫn không thu được kết quả nào đáng kể.

Do được tên đại Việt gian Hoàng Cao Khải mách nước, bọn xâm lược Pháp cho rằng Lưu Kỳ là viên dũng tướng mưu lược lại có quan hệ mật thiết với dân, được nhân dân các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc hết lòng giúp đỡ, che chở nên phải vừa càn quét, bao vây tiêu diệt sinh lực, vừa phải triệt đường tiếp tế, tách nghĩa quân ra khỏi dân.

Quân Pháp đề ra kế hoạch tác chiến là tìm mọi cách chiếm được vùng núi rừng Yên Tử, xây dựng một hệ thống đồn bốt nhằm thực hiện âm mưu nói trên(2).

Một loạt đồn bốt của quân Pháp được dựng lên ở Phả Lại, Chi Ngãi, Lục Ngạn, Biển Động, An Châu, Na Peo, Keo Cô, Quán La, Đông Triều, Vi Loại… Quân Pháp còn thành lập các đội quân nhỏ khoảng 150 đến 200 tay súng liên tục tuần tra, thám báo, phục kích, khủng bố nhân dân ở vùng Lầm, Kép Ba, Vi Loại, Quán Ba, Đông Triều, Bản Phung. Chùng còn cho 6 tàu chiến trang bị đại bác hạng nhẹ ngày đêm tuần tiễu trên sông Lục Nam(3).

Sau khi đóng các đồn binh xung quanh căn cứ, thành lập các đội quân lưu động, quân Pháp điều động một lực lượng lớn với 600 quân giao cho trung tá Teriong (Terrillon) và thiếu tá Pero (Perraux) chỉ huy.

Quân sự được bố trí như sau;

- Đạo quân thứ nhất do thiếu tá Tanơ (Tanne chỉ huy.

- Đạo quân thứ hai do thiếu tá Duyphuya (Duffoure) chỉ huy.

- Đạo quân thứ ba do thiếu tá Môren (Morel) chỉ huy.

- Đạo quân thứ tư do đại úy Lơmoan (Lemoine) chỉ huy.

Ngày 5-12-1891 cả bốn đạo quân trên tập trung ở Công Lược. Chúng chia quân đi các ngả tấn công vào căn cứ của nghĩa quân. Quân Pháp tàn sát người và gia súc, cướp thóc lúa, trâu bò lợn gà, đốt phá nhà cửa của nhân dân không từ một thủ đoạn nào, riêng tại Công Lược giặc Pháp đốt 54 nóc nhà.

Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 12, quân Pháp càn quét vùng núi nằm giữa Lục Nam và sông Kỳ Cùng. Lưu Kỳ đã khôn khéo tránh được các mũi tấn công của quân Pháp rút về phía sông Kỳ, đóng trên núi Cơ Bằng, xây dựng trận địa phòng thủ. Quân Pháp dò biết lập tức kéo tới tấn công. Teriông trực tiếp chỉ huy trận này, hắn chia quân làm hai cánh Mê Sơn và Gia Mô tiến vào Kim Sen ngày 15 tháng 12 rồi đại bộ phận kéo vào Lam Xá, còn một bộ phận nhỏ men dọc sườn núi Đông Sơn vượt qua núi, bí mặt tấn công vào căn cứ.

Lưu Kỳ bố trí sẵn quân trên bốn cao điểm, bình tĩnh đợi giặc đến gần mới nổ súng. Quân Pháp bị thiệt hại nặng nề, hai tên trung úy cùng nhiều binh lính bị giết chết, nhiều tên bị thương. Trận đánh giằng co kéo dài đến 19 giờ, quân Pháp phải rút về Lam Sá.


(1) Từ tháng 10-1890 khi Nguyễn Thiện Thuật đi Trung Quốc thì Nguyễn Thiện Kế chỉ huy các đơn vị nghĩa quân ở Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Phúc Yên và Hà Nội, Hà Đông, còn lực lượng nghĩa quân do Lưu Kỳ chỉ huy ở Lục Ngạn, Phủ Lạng Thương, Quảng Yên, Lạng Sơn do Lưu Kỳ trực tiếp vạch kế hoạch tác chiến và chỉ huy. Nguyễn Thiện Kế chỉ có sự phối hợp với Lưu Kỳ trong một số trận.
(2) Pouvourville: Etudes colonialès, tomme, tập III, Paris 1894.
(3) Pouvourville: Etudes colonialès, tomme, tập III, Paris 1894.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #103 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:12:00 am »

Trong thời gian diễn ra trận đánh ở núi Cơ Bằng thì ngày 4 tháng 12 năm 1891 ở phía Tây Nam thiếu tá Tuốcniê (Tournier) nghe tin nghĩa quân Lưu Kỳ xuất hiện ở Uông Bí hắn lập tức đem một đạo quân nhỏ có 183 lính do 4 tên sĩ quan chỉ huy xuất phát từ Quán La tiến đánh. Quân Pháp phải nghỉ lại ở Đề Tham rồi hành quân tiến vào căn cứ. Đến 1 giờ chiều Tuốcniê dẫn quân vượt dãy núi cao vào làng Đông Tham cho quân đốt làng này để uy hiếp nhân dân.

Nghĩa quân mai phục sẵn ở sườn núi đợi quân giặc đến sát gần mới nổ súng. Toán phu khuân vác đi đầu bỏ chạy tán loạn. 35 tên giặc ngã gục ngay từ loạt đạn đầu trong đó có tên trung úy Bêtua (Bethouard) bị trọng thương. Ngay đêm đó, quân Pháp phải tháo chạy chịu đựng đói khát tới 10 giờ đêm mới về tới nơi xuất phát.

Sau khi thất trận ở núi Cơ Bằng, trung tá Teriông vẫn hành quân truy tìm đội quân do Lưu Kỳ chỉ huy trực tiếp. Ngày 25-12-1891, Teriông nhận được tin Lưu Kỳ trở về núi Quynh hắn liền phái thiếu tá Guyonne (Guyonnet) phối hợp càn quét. Trong hai ngày 30 và 31 tháng 12 năm 1891, Teriông tập trung quân đánh vào căn cứ Hố Thuội và Kem An. Ở Hố Thuột, Lưu Kỳ đánh trả quyết liệt gây cho chúng nhiều thiệt hại rồi rút lui. Teriông càn quét dãy núi phía bắc, qua Bảo Đài về Lục Nam.

Sang năm 1892 vẫn diễn ra những trận chiến đấu ác liệt. Ngày 12-1-1892, quân Pháp bao vây căn cứ Chuồi Xuân. Đội quân Môren từ Đông Triều đánh lên, đội quân của Galê (Galle) từ Lục Nam đánh xuống.

Lưu Kỳ xét thấy lực lượng quân Pháp tuy mạnh nhưng phải hành quân nhiều ngày trên đường núi vất vả nên rất mệt mỏi, liền bố trí trận địa phục kích. Đội quân Môren bị tổn thất nặng, tên đại úy Lơ moan (Lemoire) và tên trung úy Exteradi (Esierhanzi) đi đuầ bị trúng đạn tử trận. Đội quân Galê phải khó khăn lắm mới chạy được đến nơi ứng cứu, đem quân đi đánh trả thù, nhưng nghĩa quân đã rút lui an toàn.

Cuối tháng giêng năm 1892, theo tin báo, nghĩa quân xuất hiện ở Hố Thuội, tên thiếu tá Guymonnê (Guyonnet) lập tức đem quân đi bao vây, song nghĩa quân đã rút lui, nhưng đến trận sau diễn ra tại Na Mâu thì tên trung úy Letardef đã bị tử trận.

Quân Pháp nhận được tin Lưu Kỳ chuyển quân về đóng trong thung lũng Cao Lão, núi Mẫu Sơn, binh đoàn Servière liền tập trung 250 quân càn quét. Nghĩa quân rút về Ba Sơn, ngày 22 tháng 4 quân Pháp tiến đánh Ba Sơn. Để tránh bị tổn thất như những trận trước Szeviere phái hai đội tiền vệ đi trước sục sạo, thám thính. Đội thứ nhất do thiếu tá Sabrol chỉ huy tiên về Cô Tam rồi theo đường Nachi đến gần vùng Bản Ngoã. Ở đây chúng có trách nhiệm thu thập tin tức về nghĩa quân Lưu Kỳ. Đội tiền vệ thứ hai do trung úy Bertrand chỉ huy có nhiệm vụ thám sát vùng núi phía tây.

Đội tiền vệ do Chabrol chỉ huy bị nghĩa quân chặn đánh hồi 7 giờ sáng ở ngã ba đường Côn Lam - Bản Ngoã - Khô Khi. Nghĩa quân mai phục trên một mỏm núi rất có lợi thế, trận đánh kéo dài 9 giờ liền. Ngay loạt đạn đầu, một phần tư toán quân tiền vệ này đã bị tiêu diệt, loại ra ngoài vòng chiến đấu. Quân giặc hoảng sợ, phải ra lệnh rút quân về và thú nhận: “Kết quả của sự chờ đợi trên lâu dài trong 3 tháng đã hoàn toàn mất, vòng vây đã bị vỡ và Lưu Kỳ cùng toàn quân của y đã vượt qua vòng vây như dòng nước lũ xô qua con đê vỡ”(1) và “Cuộc viễn chinh xưa kia lại bắt đầu làm lại. Những cuộc hành quân vất vả, những trận phục kích, những trận đánh để truy kích một kẻ thù không thể nào nắm được…”(2).

Lưu Kỳ thoát khỏi vòng vây lại tiếp tục hoạt động. Ngày 22-2-1892 ông đã phục kích thắng lợi đoàn xe địch tại cầu Bắc Lệ. Con đường Lạng Sơn thường xuyên có 500 lính gác song địch vẫn không được yên ổn. Lần này đoàn xe 45 chiếc, trong đó có 5 xe chở vũ khí, các xe khác chở quân trang quân dụng và binh lính bị thương, có 70 con ngựa dắt và một đội quân có 46 tên dưới quyền chỉ huy của đại úy Lamey và trung úy Renard rời Than Muội sáng sớm ngày 22. Khi chúng tiến qua chiếc cầu thì nghĩa quân nổ súng tiêu diệt được một số tên, nhưng trước hỏa lực mạnh của địch, họ đã rút về Bảo Đài(3).

Ngày 3-4-1892 nghĩa quân Lưu Kỳ và công nhân bị người Pháp cưỡng bức làm đường sắt Lạng Sơn đã phối hợp tập kích đội quân của tên đội Pháp trên tuyến đường từ Suối Ghềnh đi Bắc Lệ. Trong trận này phía nghĩa quân hy sinh 2 người trong đó có viên cai đường sắt(4).

Ngày 1-7-1892 nghĩa quân Lưu Kỳ lại phối hợp với công nhân đường sắt Lạng Sơn bố trí các trận phục kích bắt cóc tên thầu khoán công trường Vezin ngay trên công trường để lấy 60.000 đồng tiền chuộc lấy tiền mua vũ khí(5).


(1), (2) Pouvourvile - Etude, coloniales
(3) Chabrol: Những cuộc hành binh tại Bắc Kỳ.
(4) Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, Sđd.
(5) Theo Quennec: trong bài Les provinces de Tonkin Bắc Giang đăng trên tạp chí Reveue Indochinoise số 8 ngày 30-4-1904.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #104 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:16:21 am »

Ngày 8 tháng 7 năm 1892 nghĩa quân Lưu Kỳ lại đánh một trận lớn ở Bắc Lệ do Lưu Kỳ trực tiếp chỉ huy. Quân Pháp có 18 xe chở vũ khí và một đạo quân hộ vệ do 4 viên sĩ qyan chỉ huy: thiếu tá Normand, đại úy Charpentier, trung úy Valton và bác sĩ quân y Menier. Ngay loạt đạn đầu tiên tên thiếu tá và tên đại úy đã tử trận. Trời còn sớm, sương mù bao phủ núi đồi và địch không ngờ Lưu Kỳ dám phục kích ở ngay một địa điểm cũ và ngay sau khi chúng xuất phát lên đường. Trận đánh diễn ra ác liệt, địch gần như hoàn toàn bị tiêu diệt, 2 sĩ quan, 50 lính bị giết. Nhưng không may Lưu Kỳ cũng trúng đạn hy sinh trong khi chỉ huy trận đánh(1).

Lưu Kỳ hy sinh nhưng vợ ông(2), em trai ông và các tướng lĩnh vẫn tiếp tục chiến đấu chống Pháp. Thời kỳ này quân Pháp đã tiêu diệt được các thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, vùng Lục Ngạn, Đông Triều… căn cứ cũ của Lưu Kỳ đã bị quân Pháp chiếm đóng đặt các đồn binh khủng bố nhân dân. Vợ Lưu Kỳ và các tướng phải chuyển địa bàn hoạt động liên tục lên tục đường số 4, đoạn Lạng Sơn - Đông Khê - Thất Khê. Từ căn cứ mới này, nghĩa quân liên tục tổ chức các trận tấn công quân Pháp, tiêu biểu như các trận sau:

- Ngày 13-10-1892 nghĩa quân do vợ và em Lưu Kỳ chỉ huy giết tên Meigeniol.

- Ngày 13-10-1892 nghĩa quân do vợ và em Lwy Kỳ chỉ huy bắt tên cai mỏ Pieonelli ở gần Than Muội.

- Tháng 10-1892 nghĩa quân do Hoàng Thái Nhân chỉ huy bắt Bonillet, Drozne.

- Ngày 6-11-1892 thừa lúc viên chỉ huy Pháp đem quân đi càn quét, nghĩa quân do vợ Lưu Kỳ chỉ huy kéo đến đánh úp Thác Hát.

- Ngày 17-12-1892 vợ Lưu Kỳ trực tiếp chỉ huy đánh trận Nabo làm cho quân Pháp tổn thất nặng(3).

- Vợ và các tướng của Lưu Kỳ xây dựng căn cứ kháng chiến mới ở Bảo Đài và Cai Kinh (Lạng Sơn) thành lập căn cứ ở Bình Hồ (nay thuộc huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh) không xa Tiên Yên lắm. Đại úy Xanhzame đem quân đến đánh đã bị thất bại nặng nề vào ngày 22-6-1893 và ngày 10-8-1893(4).

- Ngày 28-7-1893 nghĩa quân do các tướng của vợ Lưu Kỳ và em Lưu Kỳ chỉ huy lại bắt cóc tên Rotty nhân viên hãng Danine trên công trường đường sắt Lạng Sơn gần Sông Hoá(5).

- Tháng 9-1893 nghĩa quân do vợ Lưu Kỳ chỉ huy lại bắt cóc tên Bule(6).

- Tháng 10-1893 nghĩa quân do vợ Lưu Kỳ chỉ huy bắt sống tên Humber và ám sát tên Pigamiôn(7).

- Cuối năm 1893, nghĩa quân do vợ và em Lưu Kỳ chỉ huy lập căn cứ mới ở Lũng Lật uy hiếp đường số 4 đoạn Lạng Sơn đi Cao Bằng. Nghĩa quân phối hợp với các toán quân người Việt từ miền xuôi tránh khủng bố và đồng bào các dân tộc để chiến đấu. Căn cứ được bảo vệ bởi 4 đạo quân:

1 - Hoàng Tài Ngạn một thủ lĩnh xuất sắc người Lạng Sơn chỉ huy.

2 - Đề đốc Quý, quan lại cũ ở Thái Nguyên chỉ huy.

3 - Đề Kỳ, tướng của vợ Lưu Kỳ chỉ huy.

4 - Vợ Lưu Kỳ (phải chăng là Hoàng Thái Nhân) chỉ huy.

Nghĩa quân còn đặt hai trạm gác ở Bình Gia và Hun Len cách căn cứ 1 ngày và 1 ngày rưỡi đường. Nghĩa quân sau khi làm chủ vùng này đặt quan cai trị, thu thuế, chiêu mộ quân. Nghĩa quân đã đánh tan nhiều trận tấn công của quân Pháp và xuất phát từ căn cứ này đã xuống đường sắt Lạng Sơn thực hiện nhiều vụ bắt cóc các quan chức Pháp, chủ thầu lấy tiền chi cho việc quân.

Đầu năm 1894, quân Pháp tập trung 3 đạo quân lớn tấn công vào căn cứ, quân Pháp bị thiệt hại nặng song nghĩa quân cũng bị tổn thất, thủ lĩnh Hoàng Tài Ngạn một chỉ huy xuất sắc hy sinh, nghĩa quân phải phân tán nhỏ rồi tan rã.

Sau trận này, cuộc kháng chiến chống Pháp anh hùng của nghĩa quân Bãi Sậy trong hơn 10 năm (4/1883-1/1894) đến đây coi như chấm dứt.


(1) Chabrol: Những cuộc hành binh tại Bắc Kỳ, Vũ Thanh Sơn dẫn trong “Tướng lĩnh Bãi Sậy”, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001, tr.125-126.
(2), (3), (4) Chabrol: Những cuộc hành binh tại Bắc Kỳ.
(5), (6), (7) Dương Kinh Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, Sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #105 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:19:45 am »

Tuy nhiên trên thực tế ngoài lực lượng do vợ Lưu Kỳ và Hoàng Tài Ngạn chỉ huy một số tướng lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy vẫn thu thập tàn quân, chiêu mộ quân mới, trở lại chiếm các căn cứ cũ hay xây dựng căn cứ mới chống Pháp. Theo thống kê chưa đầy đủ có các cuộc kháng chiến sau:

- Cuối năm 1892 đầu năm 1893 chỉ còn những toán nghĩa quân nhỏ hoạt động lẻ tẻ như Đốc Thu, Quản Hoa, em của Đốc Thu là Đốc Duyệt hoạt động ở Đông Triều, Thanh Hà.

Lãnh Pha cùng Quản Báo, Lãnh Hy khởi nghĩa ở ven biển Bắc Kỳ, lập căn cứ ở Dốc Mít.

Ngày 25-9-1892, đại úy Brunet chỉ huy 100 lính khố đỏ lấy ở Đông Triều và các diền lân cận, tiến đánh Lãnh Pha ở Dốc Chai giữa rừng Dốc Mít, nhưng chưa đến nơi thì nghĩa quân đã rút sang Đông Triều. Quân Pháp lần theo dấu vết nghĩa quân đến nghĩa quân đến ngày 28/9/1892 một toán quân Pháp ở Đông Triều do đại úy Dulin chỉ huy có 23 tay súng bộ binh và 50 lính khố đỏ tấn công vào Cửa Phủ rừng Vang thông đến căn cứ của Lãnh Pha. Nghĩa quân Pháp đi đầu bị từng loạt đạn trong rừng núi bắn ra, địa hình lại hiểm yếu, quân Pháp biết rằng không đánh thắng được nghĩa quân, phải rút lui(1).

Ngày 10 tháng 10, những toán quân Pháp tại các đồn Đông Triều, Bến Châu và Chín Gai do trung tá Louver chỉ huy tiến đánh Cửa Phủ Rừng Vang, đến nơi thì nghĩa quân đã đốt trại bỏ đi.

Ngày 11 tháng 10, đại úy Zobard coi đồn Quán La bắt được một thủ lĩnh của Lãnh Pha.

Ngày 17-11-1892, lúc viên chỉ huy Pháp đem quân đi thám thính và càn quét, một toán nghĩa quân kéo đến đánh úp đồn Thác Hát.

Từ 14 đến 17-11 một toán quân Pháp, do đại úy Dulin coi đồn Đông Triều họp cùng những quân Pháp tại những đồn Chín Gai và bến Han, vây đánh nghĩa quân của Lãnh Pha, Đề Hải, Đề Quý và Đốc Thẩm ở lũng núi phía tây Cửa Phủ Rừng Vang, đến đêm nghĩa quân rút đi để lại 8 xác chết.

Tại Hải Dương, Quý và Ba Gang tập hợp được một lực lượng nhỏ tổ chức được một số trận đánh nhỏ. Trong trận hai ông tấn công quân Pháp đóng ở hai làng thuộc huyện Vĩnh Bảo hành động không thành, hai ông bị quân Pháp truy kích ráo riết phải di chuyển sang tỉnh khác. Thống Đàm là em ruột của Đốc Lanh đem một toán quân nhỏ hoạt động ở Thanh Hà bị quan huyện Thanh Hà bắt xử tử cùng 11 nghĩa quân.

Ba Chương, em của Quý cũng bị quân Pháp bắt xử tử hình. Hai người em khác của Quý là Lãnh Nhan và Tuấn Đức một người bị quân Pháp giết, một người bị thương.

Quân Pháp treo giải thưởng đầu của các thủ lĩnh nghĩa quân. Bọn phản động đua nhau đi các làng lùng bắt nghĩa quân, nhiều nghĩa quân và nhân dân bị chúng tàn sát. Lãnh Bao cùng đường phải ra hàng, một số toán quân khác mất người chỉ huy phải tự giải tán(2).

Cuối năm 1892, nghĩa quân và công nhân mỏ Quảng Yên phối hợp với nhau dưới sự lãnh đạo của Lãnh Pha mưu toan chiếm lại vùng Đông Triều. Cũng trong thời gian này nghĩa quân của Lãnh Hy đã chiếm Hà Vối phía Tây khu mỏ Kế Bào để làm căn cứ hoạt động mạnh quanh vùng này(3).

Tháng 6 năm 1894, một toán nghĩa quân Bãi Sậy 12 người bị giam ở nhà lao Hoả Lò Hà Nội bị quân Pháp đưa đi làm ở vườn Bách Thảo, thừa lúc lính canh vô ý đã cướp súng, bắn chết 8 tên lính rồi chạy trốn theo đường lên Sơn Tây. Quân Pháp huy động quân đuổi bắt, toán quân trên cố thủ trong một ngôi chùa ở giữa cánh đồng huyện Từ Liêm kháng cự kịch liệt. Cuối cùng 11 chiến sỹ đã hy sinh, 1 người vượt được vòng vây trốn thoát(4).

Cho đến tháng 11-1895, có tin báo Đốc Thu đang ở làng Cam Lộ (huyện Thanh Hà, Hải Dương), quan huyện Thanh Hà, lính cơ đều sợ. Lúc đó một phân đội vệ binh dưới sự chỉ huy của một viên thanh tra kéo đến, viên thanh tra bị bắn chết ngay từ loạt đạn đầu(5).

Năm 1896, toán của Đốc Thu lại xuất hiện ở Nam Sách đánh nhau với quân của quan phủ. Quân của Quản Hoa, Đốc Mỹ, Đốc Tảo cũng tấn công quân Pháp ở Nam Sách. Sau đó Quản Hoa phải ra hàng, Đốc Thu trở về Bắc Ninh, trong trận này Đốc Duyệt em Đốc Thu bị bắt.

Trưa ngày 26-2-1897, một lực lượng nghĩa quân tấn công đồn Quý Cao (Hải Phòng giáp Thái Bình) viên vệ binh chính Reinrt và hai viên vệ binh dân sự phải đi tiếp ứng.

Đến chiều toán nghĩa quân trên tấn công huyện Vĩnh Bảo. tất cả các nhà giam ở Vĩnh Bảo đều bị đốt cháy do cuộc bạo động này(6).


(1), (2) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(3)  Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập 1, tr.376, 377. Sđd.
(4) C I Bourin. Le Vieux Tonkin - Nguyễn Văn Tuấn dẫn trong “Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX” quyển thượng, tr.312, Nhà xuất bản Hà Nội.
(5) Dullman viết 25-12-1932 ladmins trateur adzoint Signé: Dulleman
Ngày 24-5-1895, Ba Giang và Hai Kế hai viên thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy đã ba năm nay người ta không thấy động tĩnh gì, nay lại trở lại hoạt động ở Lang Tài (Bắc Ninh) trong vùng giáp ranh ba tỉnh Hải Dương - Hưng Yên - Bắc Ninh những đồn binh bản xứ đã được báo trước để chuẩn bị cẩn thận.
Tại sao lại chưa phá hủy những chiến lũy và những hào sâu, rào tre trong nhiều làng ở trong vùng những thứ này trở thành những thành trì tốt nhất.
(6) Piglowski viết: “Sau 3 năm tạm thời ngừng hoạt động (1892-1895) đén năm 1895, hai thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy là Hai Kế và Ba Giang với một lực lượng khoảng 80 khẩu súng đã trở lại đánh pháp ở huyện Lang Tài (Bắc Ninh) nhưng không nói thêm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #106 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2011, 07:26:48 am »

Phần thứ ba:

KHỞI NGHĨA BÃI SẬY LÀ CUỘC KHÁNG CHIẾN
RỘNG LỚN TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN

Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế khởi xướng (4/1883-7/1885), Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật đưa lên quy mô rộng lớn (8/1885-10/1890) và Nguyễn Thiện Kế duy trì (10/1890-4/1892). Các tướng còn lại kéo dài cuộc khởi nghĩa đến tháng 2/1897 mới tan rã hoàn toàn. Cuộc khởi nghĩa này có đặc trưng khác các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX những đặc điểm lớn sau đây:

1. Thường xuyên làm công tác tuyên truyền, khơi dậy lòng yêu nước trong các tầng lớp nhân dân.

Từ khi Đinh Gia Quế dựng cờ “Nam đạo Cần vương, Bình Tây phạt tội” lập căn cứ Bãi Sậy, tiếp đó là Nguyễn Thiện Thuật đưa quy mô cuộc khởi nghĩa lên thành phong trào chống Pháp, chống chính quyền Nam triều phản động trên một vùng rộng lớn ở đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Bắc. Tiếp đó, Nguyễn Thiện Kế và các tướng duy trì cho đến khi cuộc khởi nghĩa thắt bại, các vị đều coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, chí căm thù giặc trong nhân dân, kêu gọi các tầng lớp nhân dân gia nhập, ủng hộ nghĩa quân.

Các ông cử nhân Ngô Quang Huy, Nguyễn Hữu Đức và các nhà nho tham gia cuộc khởi nghĩa đảm đương trách nhiệm nặng nề này. Các ông đã đến cá làng xóm họp nhân dân, kì hào, đến các nơi tập trung dân như các chợ, các đám lễ hội để nói cho nhân dân rõ về kẻ thù của nhân dân Việt Nam là giặc Pháp và bọn quan lại làm tay sai cho giặc. Chúng đến nước ta là để xâm chiếm Tổ quốc ta, chúng chỉ gieo rắc cảnh tàn phá chết chóc cho nhân dân ta, đất nước ta mà thôi. Các ông kêu gọi mọi người phát huy tinh thần yêu nước chí căm thù giặc vốn có từ ngàn xưa, gia nhập, ủng hộ nghĩa quân Bãi Sậy đánh Pháp. Nguyễn Thiện Thuật và Bộ tư lệnh nghĩa quân còn thành lập một đội tuyên truyền - trinh sát có trên 100 người, phần lớn là các nho sinh và các cô gái, họ chia làm nhiều toán nhỏ đi khắp các tỉnh tả ngạn sông Hồng làm công tác tuyên truyền, dán bố cáo, phổ biến các bài vè như “Vè Tán Thuật”(1) và làm công tác trinh sát địch.

Đốc Tít cũng hết sức chống lại luận điệu xuyên tác của địch cho rằng nghĩa quân của ông chỉ chuyên nghề cướp bóc và một lần nữa Đốc Tít khẳng định mục đích khởi nghĩa của ông là vì nước, vì vua Hàm Nghi: “Tôi không bao giờ để cho nghĩa quân của tôi cướp bóc, tôi chỉ có một mục đích duy nhất phục vụ trung thành cho Tổ quốc và nhà vua của tôi”(2).

Trong một bức thư gửi nhân dân Yên Dũng (Bắc Giang) đề ngày 24-8-1889), Đội Văn nêu rõ “Mục đích chiến đấu của ông là nhằm đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, khôi phục đất nước, mang lại hòa bình yên tĩnh thực sự cho nhân dân và chấm dứt những nỗi đau khổ đang đè nặng lên mọi người. Đội Văn kêu gọi nhân dân tích cực ủng hộ nghĩa quân”(3).


(1) Chúng tôi trích một đoạn bài “Vè Tán Thuật” trong tập “Vè yêu nước chống Pháp”, Nhà xuất bản Văn học năm 1967:
               “… Một lòng theo ngọn cờ đào
               Thề cùng bạch quỷ có tao không mày
               Quân nghĩa dũng đêm ngày luyện tập
               Sức hùng cường giao chiến càng hăng
               Những phường mũi lõ tóc quăn
               Một rằng thất đảm, hai rằng thất kinh
               Mẹo thao lược, tài tình lắm vẻ
               Xuất sư như quỷ nhập thần
               Khi xa, khi lại như gần,
               Khi chơi hóa thật, khi Đông hóa Đoài,
               Khi giả cách làm trai thợ gặt,
               Khi giấu mình giả bắt tôm cua
               Lừa cho giặc phải sa cơ
               Gò Đa vũ dũng cũng thua sức này
               Trận đại thắng vũng lầy phủ Khoái
               Tướng Ghi ê đại bại một phen
               Giâng sơn riêng dải Hưng Yên
               Những mong đại cục chu tuyền bõ công…”

(2) Thư Đốc Tít gửi Hoàng Cao Khải ngày 7-5 năm Hàm Nghi thứ nhất (1885).
(3) Theo bản Nguyễn Ái Quốc dịch ra chữ Pháp bức thư của Đội Văn gửi nhân dân huyện Yên Dũng tình Bắc Giang (khi đó chưa thành lập tỉnh Bắc Giang, Yên Dũng thuộc Bắc Ninh).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #107 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2011, 07:46:50 pm »

Công tác tuyên truyền đem lại kết quả to lớn. Có rất nhiều gia đình cả cha con, anh em, vợ chồng đều tham gia nghĩa quân. Căn cứ vào các tư liệu của quân Pháp để lại, ta còn thấy một số trường hợp như sau: Nguyễn Hữu Đức cùng con trai là Nguyễn Hữu Hạnh, ông Lãnh Khuy cùng con gái là bà Đốc Huệ cùng con rể. Có rất nhiều vợ chồng cùng tham gia và trở thành chỉ huy như vợ chồng Lưu Kỳ, vợ chồng Đội Văn(1), vợ chồng Quyền Túc, vợ chồng Đề Vinh.

Nhiều gia đình có 2, 3, 4 anh em ruột tham gia nghĩa quân như Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Đình Đề, Nguyễn Ba Sành; Đề Quý có ba em là Lãnh Nhan, Ba Chung Tuấn Đức đều là lãnh binh, đốc binh; Lãnh Hiên có bốn anh em ruột tham gia, Đề Ban có anh cùng tham gia; Đốc Cọp có anh, em cùng tham gia; Lãnh Chủ, Lãnh Điếc có hai anh em ruột, cai Hàn là con Lãnh Chủ đều là thủ lĩnh nghĩa quân, Đốc Sung cùng em là Lãnh Trạch, Tạ Hiện có ba con trai là Quang Hùng, Quang Hổ, Quang Báo; bốn anh em ruột là Đốc Thu, Đốc Duyên và các em trai. Hai chị em Bùi Thị Huân và Bùi Thị Hoè. Nguyễn Thành Thà có bốn anh em con trai là Nguyễn Khả Lương, Nguyễn Sung, Nguyễn Giới, Nguyễn Mịch và cháu nội là Nguyễn Nhưng tham gia. Chị em phụ nữ chẳng những đảm nhân công việc hậu cần mà còn trực tiếp chỉ huy và tham gia chiến đấu. Nhiều người được phong là tướng lĩnh như bà Đốc Khuy (bà Đốc Huệ), Lãnh binh Nguyễn Thị Biên (vợ Quyền Túc), Vũ Thị Huân, Vũ Thị được phong là Đốc vận quân lương, chị Đốc Tít là Nguyễn Thị Thành làm Quản đốc vũ khí, cô Mai chỉ huy đánh đồn Bình Phú ngày 6-4-1889 bà Chiến làm bù nhìn rơm dụ địch đến rồi đánh; bà Đỗ Thị Từ bán hàng xén ở chợ Bãi Khê làm trinh sát cho nghĩa quân.

Có rất nhiều làng, tổng cả làng, cả tổng đều tham gia nghĩa quân, rào làng chiến đấu như Yên Vĩnh, An Vĩ, Đại Quan, Phù Sa, Liêu Trung, Tam Trạch, Thọ Bình, Mễ Xá, Thuý Túc… (Hưng Yên) Như Quỳnh, Ngọc Quỳnh, Lê Xá, Thái Lạc, Bối Khê (Bắc Ninh); Đan Tảo, Phổ Lộng (Phúc Yên), Phù Tình, Bối Khê, Bối Giang… Đạm Trai, An Định (Tứ Kỳ, Hải Dương), 50 làng ở vùng Hai Sông thuộc Hải Dương, các làng Bích Khê ở Bắc Ninh… các làng Đan Tảo, Phổ Lộng ở phủ Đa Phúc đều là căn cứ vững chắc của nghĩa quân.

Có nhiều huyện, đại đa số các làng trong huyện đều theo nghĩa quân, như Khoái Châu, Mỹ Hào, Ân Thi.

Công tác tuyên truyền của Nguyễn Thiện Thuật và bộ Tư lệnh đạt được hiệu quả rất cao. Một số người Pháp có mặt ở Bắc Kỳ khi đó phải thừa nhận: “Trong những bản Tuyên cáo của ông ta (chỉ Nguyễn Thiện Thuật) ông ta coi chúng ta như những kẻ thù hung tợn không biết kiêng nể bất cứ thứ gì, chúng ta đến xứ sở này là để thống trị và dìm xứ sở này trong cảnh khốn cùng”(2) và: “Trong các bản Tuyên cáo ông ta tự xưng là “Tư lệnh tả phân khu chỉ huy quân tình nguyện phò nhà vua vùng Đông” hoặc “Thủ lĩnh nghĩa quân chống xâm lược Pháp”. Nhân danh phe chống Pháp mà ông ta ra lệnh cho những người có tâm huyết chống lại chúng ta bất cứ ở đâu nếu có cơ hội thuận lợi, đồng thời tuyên truyền một viện binh của Triều đình Trung Quốc sẽ có mặt tức thì để giải phóng Bắc Kỳ(3) và “Những lãnh tụ các cuộc khởi nghĩa đường thời thường ít quan tâm đến những hoạt động chính trị trong quần chúng nhân dân, chỉ có Tán Thuật là người đã cố gắng tập hợp quần chúng nông dân Bắc Kỳ vào cuộc đấu tranh của dân tộc”.

Nhận xét về cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam cũng như cuộc kháng chiến do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, ngay kẻ thù cũng phải công nhận: “Phải thấy rằng dân tộc Việt Nam đã có nghị lực kiên cường lắm lắm mới đủ sức chịu đựng được một cuộc chiến đấu quá ư dai dẳng như thế… Trước quân đội của chúng ta (Pháp), người Việt Nam chỉ có một cách duy nhất là chết để bảo vệ nền độc lập tự do của họ…”(4)  hoặc: “Việt Nam là một quốc gia kiên cường gắn bó với lịch sử riêng, thể chế riêng của mình và thiết tha với nền độc lập của mình; … trong các thể kỷ trước, Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước quân xâm lược, họ biết đợi thời cơ… Tình trạng của chúng ta (Pháp) rất đỗi khủng khiếp bởi vì chúng ta phải đương đầu với một dân tộc thống nhất và tình cảm dân tộc của họ không phải đã suy yếu”(5).


(1) Theo Frey: Piraste er rebelles au Tonkin (Nos Soldat au Yên Thế, xuất bản ở Paris năm 1892 viết “Trong nghĩa quân Đội Văn có một người phụ nữ là vợ của Đội Văn cải trang thành đàn ông, - cũng đeo súng, cưỡi ngựa trong từng trận theo sát nghĩa quân để uy nao chiến sĩ và chiến đấu cùng họ.
(2), (3) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(4) Capitaine Charles Cosselin: L’empire d’Annam (Đại úy Sác nơ Gốt sơ lanh: Vương quốc An Nam) Perrin et cie, Paris 1904, tr.17-18
(5) Fernand Bernad (đại úy): Đông Dương những sai lầm và nguy hiểm, Paris, 1901, tr.32.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #108 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2011, 07:53:27 pm »

2. Thiết lập chính quyền kháng chiến ngay trong lòng địch

Để thực hiện được các chủ trương kháng chiến, tuyển mộ nghĩa quân, thu thuế, điều tra tình hình địch, diệt trừ thám báo, mật vụ, Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật và các tướng lĩnh coi trọng nhiệm vụ thiết lập chính quyền cách mạng. Tại vùng nghĩa quân kiểm soát, chính quyền đó do hội nghị nhân dân cử ra, ở vùng tranh chấp và vùng địch kiểm soát, nghĩa quân thành lập chính quyền bí mật và thường lợi dụng ngay “bộ máy cai trị” của địch để đưa người của nghĩa quân vào hoặc khống chế, buộc bọn lí dịch do địch cử ra phải làm việc cho nghĩa quân, không được thi hành các mệnh lệnh của giặc làm hại đến dân. Chính quyền bí mật này đã tiến hành thu thuế, thu các khoản tiền, gạo, nhân dân ủng hộ nghĩa quân, tuyển mộ nghĩa quân, đồng thời báo cho nghĩa quân biết trước các âm mưu của địch mà mình biết. Chính kẻ địch cũng phải thú nhận: “Các ông chánh tổng, phó tổng, lý trưởng, kỳ hào, đều được dân làng bầu ra dưới áp lực của nghĩa quân, nên trước hết họ trung thành với Tán Thuật. Chính những người này đã hình thành nên một chính quyền cách mạng thật sự trong hệ thống chính quyền cấp dưới”(1). Chính quyền cách mạng có ở hầu hết các tỉnh nghĩa quân hoạt động: “Tất cả các tỉnh thực chất đều nằm dưới quyền của các toán. Những quan chức do chúng ta đặt ra đều bất lực và không được ai tuân thủ. Việc cai trị không phải thuộc về các quan chức nữa mà thuộc về các viên thủ lĩnh. Những toán này tiến hành thu thuế, mộ quân và duy trì hoạt động phiến loạn trong nhân dân”(2).

Nhận xét trên đã được một người Pháp chứng minh như sau: “350 vệ binh dân sự, 200 dân binh vũ trang tấn công vào các làng Lang Viên, Sơn Cảnh, Duy Đình, Bảo Vực, Yên Nội thuộc huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có nghĩa quân hoạt động. Chánh tổng và các lý trưởng nói là không hay biết gì. Tình hình chính trị ở đây cũng hệt như ở phủ Thượng Tân trước khi Đội Văn ra hàng. Chánh tổng và lý trưởng đều chịu sự thống trị của bọn cướp vì lực lượng của bọn cướp đông lớn. Những viên cánh tổng mới, lý trưởng mới muốn thoát khỏi cái ách của chúng đều bị thủ tiêu(3).

Trong một thông tri của Perreau quyền Tổng trú sứ Trung - Bắc Kỳ gửi công sứ các tỉnh vào tháng 10-1888 sau khi thừa nhận rằng: “Nghĩa quân Bãi Sậy đang hoạt động mạnh ở các tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương. Perreau còn cho biết chính quyền và nhân dân địa phương không chịu cung cấp tin tức của nghĩa quân cho địch mà thường bỏ trốn hàng loạt trước khi địch kéo đến làng. Nhưng đối với nghĩa quân thì nhân dân lại tích cực ủng hộ về lương thực, vũ khí, đóng góp thuế má, cung cấp người… Mỗi làng đều là nơi nghĩa quân có hể đóng lại hoặc nghỉ ngơi”(4).

Một tên thực dân khác thú nhận: “Trước hết là một số tổng lý, kỳ hào ở nông thôn là những người trực tiếp cai trị nhân dân ở địa phương mình thì thái độ chính trị của họ nói chung là có giúp đỡ ít nhiều cho nghĩa quân như nộp thuế, đóng góp quân lương. Hơn nữa đại bộ phần vùng nông thôn đều do nghĩa quân kiểm soát, nên muốn hay không họ cũng phải tỏ ra có cảm tình với phong trào, có ý thức Cần vương chống Pháp”.

Qua báo chí(5), báo cáo của địch, ta thấy rõ thời đó rất nhiều làng theo nghĩa quân. Những người nông dân đều tình nguyện trở thành chiến binh và phục vụ chiến đấu. Làng xóm trở thành pháo đài, đường ngang, ngõ tắt, ao, hồ đều trở thành cạm bẫy đối với giặc. Nông dân còn tự nguyện dùng gia súc gần gũi với mình như trâu, chó, mèo để đánh những trận hỏa công. Thực dân Pháp mặc dù phải che giấu sự thật vẫn phải thừa nhận điều đó: “Thứ hai tuần qua, trung tá Servière đã đốt cháy một làng lớn trong thành phố Hải Dương. Làng này đã từ lâu trở thành nơi đồn trú của nghĩa quân. Trung tá cón bắn khoảng 10 người An Nam tìm cách lừa phỉnh theo phương pháp của nghĩa quân làm cho một phân đội của chúng ta mắc cạm” và “Tháng 7-1889, Hoàng Cao Khải ra lệnh đốt phá 50 làng ở vùng Hai Sông (Hải Dương) bắt nhân dân phải đi nơ khác vì sợ nhân dân giúp nghĩa quân”(6). Miribel công sứ Hưng Yên cũng phải thú nhận: “Thực vậy, thời ấy hầu như tất cả làng nào ở trong tỉnh Hưng Yên cũng rất đông người tham gia khởi nghĩa Bãi Sậy và thậm chí ở nhiều làng tất cả những người đàn ông khỏe mạnh đều trở thành nghĩa quân”(7) và “Nhiều làng xã được sự chăm chút của họ thực sự trở thành những pháo đài có hố sâu đầy nước, rào tre dày và tươi, lũy, lỗ châu mai”(8).


(1) Theo báo cáo chính trị tháng 3-1891 của Thống sứ Bác Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương - bản viết tay.
(2) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(3) Piglowski: Lích sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ, cuốn 1. Sđd.
(4) Về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Minh Thành - Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 122, 123 năm 1969.
(5) Báo Tương lai Bắc Kỳ số 129 ra ngày 1/2/1888.
(6) Theo Nhật ký hành quân của Hoàng Cao Khải. Sđd.
(7) Miribel, tài liệu đã dẫn.
(8) Daufès: Bảo an binh từ ngày thành lập đến nay, cuốn 1 xuất bản ở Paris, năm 1933.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Năm, 2011, 08:01:06 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #109 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2011, 07:55:38 pm »

Tháng 6-1889, quân Pháp và quân Hoàng Cao Khải tấn công căn cứ Bãi Sậy. Chúng đánh Đông Nhu trước, nhưng nhân dân nhiều làng ở vùng Bãi Sậy đã hy sinh rời khỏi làng để nghĩa quân xây dựng làng chiến đấu, đào hầm hào, đắp lũy đất, rào lũy tre. Những người đi tản cư đều là người già, trẻ em, người ốm yếu. Những người khỏe mạnh hầu hết trai tráng và cả nhiều cụ già thiếu niên đều tình nguyện ở lại giúp nghĩa quân xây dựng công sự”(1).

Một số tổng lý, kỳ hào còn thoát ly tham gia nghĩa quân. Một kỳ hào trong đội ngũ nghĩa quân Đội Văn bị quân Pháp bắt ở Hữu Thượng (Yên Thế, Bắc Giang) đem tra hỏi, ông đã trả lời thắng vào mặt chúng rằng: “Vì ông Đội Văn kêu gọi khởi nghĩa chống Pháp, như vậy nhiệm vụ của ông đã được vạch rõ nên ông phải tham gia hàng ngũ chiến đấu dưới sự chỉ huy của Đội Văn”(2).

Tháng 4-1887 “Ba Báo có nhiều quan hệ với những viên thủ lĩnh người Tàu và những quan chức phản nghịch”(3).

“Làng Phù Tình (huyện Thanh Miện, Hải Dương) thành lũy kiên cố từ năm 1885 đến ngày 12-11-1888, quân Pháp tấn công vào làng nhiều lần đều bị đánh bật ra. Đến ngày 13-11-1888 (ngày 13-10 năm Mậu Tý) quân Pháp tràn được vào làng chúng triệt hạ cả làng, phá đình chùa, bắt 43 cụ già đánh đập, chôn sống tại chỗ. Bà Nguyễn Thị Mỹ bị giặc quấn vải tẩm dầu vào người, chết vẫn không khai(4).

Thống sứ Bắc Kỳ cũng phải thừa nhận trong thời ấy đã có hình thức song song tồn tại hqi chính quyền do thực dân Pháp đặt ra và chính quyền bí mật của nghĩa quân. Trên thực tế, mọi công việc trong làng xã từ chia công điền, định hạng ruộng để đánh thuế đến việc giải quyết xích mích, kiện tụng trong nhân dân… đều do chính quyền bí mật của nhân dân giải quyết. Cũng có những xã, nghĩa quân đưa người của mình ra tranh chức lý trưởng phó lý, trưởng bạ, trương tuần, mọi việc đối phó với giặc Pháp đều làm theo sự chỉ đạo của nghĩa quân. Thực dân Pháp phải thừa nhận: “nghĩa quân là chủ nhân thực dự của đất nước đã thành lập một chính quyền bí mật song song tồn tại với chính quyền của Pháp đặt ra. “Chính quyền bí mật” này được nhân dân phục tùng và kính trọng hơn hẳn chính quyền chính thức”(5).

Chẳng những chỉ tổng lý ủng hộ nghĩa quân mà nhiều quan phủ, quan huyện cũng ủng hộ nghĩa quân. Đây là lời thú nhận của thống sức Bắc Kỳ: “Lại có một số quan phủ, huyện cũng ủng hộ nghĩa quân như cung cấp lương thực, báo cho nghĩa quân biết kế hoạch hành quân đàn áp như ở các huyện Đông Triều, Cẩm Giàng, Yên Mỹ, Mỹ Hào, v.v. Trong số các viên quan lại trên có người bị Pháp xử tử vì tội liên quan đến bọn phiến loạn”(6).

“Năm 1887 một vài viên quan có cảm tình với bọn cướp đã bị đày đi Côn Đảo”(7). “Tháng 7/1889, Đốc Tít thất trận ở Hải Sông, nghĩa quân tan rã phải chạy về Phục Lễ (nay thuộc huyện Thuỷ Nguyên và tri huyện Đông Triều, nghĩa quân đã tổ chức lại lực lượng, trang bị vũ khí và trở lại Hai Sông hoạt động”(8).

Đế quốc Pháp điên cuồng khủng bố những chức dịch mà chúng phát hiện hoặc nghi ngờ ủng hộ nghĩa quân như:

- Ngày 15/6/1889, đồn binh Đông Mai (tổng Đại Từ, Văn Lâm) bắt chánh tổng, hào mục là đồng đảng của Đốc Sung(9).

- Ngày 29 tháng 7 năm 1889, Tóa Khâm sứ Bắc Kỳ đã quyết định bắt Nguyễn Sửu, lý trưởng, Lê Đức Nhuận, Nguyễn Trung Thư hào mục làng An Vỹ (tổng An Cảnh, huyện Đông Yên) giải lên ngục thuyền Công Đảo đầy ở trại cầm cố 5 năm(10).

- Năm 1891, khi giặc Pháp phát hiện ra chánh tuần huyện Đông Yên, Dương Văn Bình thường báo cho nghĩa quân các cuộc hành quân của quân Pháp, các chuyến vận chuyển lương thực để nghĩa quân phục kích cướp lương thực. Chúng đày ông đi Côn Đảo và chết ở đó(11).


(1) Piglowski: Lích sử lính khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ.
(2) Frey: “Firateset e rebelles au Tonkin (Nos - soldat au Yên Thế), Nhà xuất bản Hachettr - Paris năm 1892.
(3) Dulleman: Nhiệm vụ bình định và cuộc chiến đấu chống cướp bóc. Sđd.
(4) Thanh Hồng làng xã và con người, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Thanh Hồng, Thanh Hà, Hải Dương, xuất bản 1991.
(5) Báo cáo chính trị tháng 3/1891 của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương, bản viết tay.
(6) Báo cáo chính trị của Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương tháng 4/1891, bản viết tay.
(7), (8) Dulleman: tài liệu đã dẫn.
(9) Piglowski: tài liệu đã dẫn.
(10) Công báo Đông Dương, phần 2; Trung Kỳ, Bắc Kỳ, số 63 tháng 8/1889.
(11) Gia phả họ Dương Hữu ở Phù Sa, xã Đại Tập, huyện Khoái Châu.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Năm, 2011, 08:00:48 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM