Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:12:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đất trời  (Đọc 58874 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #40 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 10:41:13 am »

Mười hôm ở trại chè, Hãn ngạc nhiên thấy quả Trãi đã tách ra khỏi cách suy nghĩ của lớp sĩ nho cùng thời.  Măïc dầu còn trọng vọng những Chu An, Hàn Thuyên..., Trãi cho rằng họ quá vội vàng áp đặt hệ tư tưởng nho giáo mà chưa kịp sửa đổi để phù hợp với cái tâm và cái tình Ðại Việt.  Vì thế cho nên dù có sự tương ứng đồng thanh của Vua nhà Trần, đám nho sĩ chỉ đẩy lùi được đôi chút ảnh hưởng của tăng lữ trong triều đình. Nho giáo đến nay vẫn chưa có tác động tích cực trên đời sống dân gian.  Cho rằng hệ Tống Nho với tư tưởng Chu, Trình quá duy lý và cực kỳ khe khắt, Trãi quả quyết rằng mang ra áp dụng vào xã hội ta chỉ sẽ dẫn đến những mâu thuẫn và phân hóa sâu xa.  Hãn gật gù nhưng bảo chuyện trước mắt là giặc Ngô chiếm đóng nước ta.  Trãi bình tĩnh, nắm tay Hãn, viết :

- Chính giặc sẽ đưa những mâu thuẫn và phân hóa đó đến độ giặc phải thua.  Ðó là điều không tránh được...

Về phần Viễn, chàng cả ngày học hát làm Vàng Anh cứ cười như nắc nẻ.  Thế là sau này, những bài hát giặm, hát ví và quan họ theo phong cách cứu dân chống giặc lan truyền trong nghĩa quân Lam Sơn, trở nên rất phổ biến trong thời kỳ chiến tranh giải phóng.  Viễn lại xem địa hình địa vật trại chè rồi bảo Bảo.

- Nói, sợ ông anh buồn nhưng hai cái quả đồi chè trông như hai cái mông đít voi.  Thôn thượng và thôn hạ lại kẹp ở giữa, đằng sau là sông, đằng trước là rừng...  Tôi bảo thật, thế đất này không tốt.  Voi quì thì người trong thôn sẽ ra làm sao ?  Cái thế Tượng quì này phải phá đi !  Muốn phá, đặt một cái miếu tế thần Hỏa ở thôn Hạ.  Lửa dí vào đít, ắt voi phải nhổm dậy, quì được thế nào mà quì !

Bảo nghe chỉ cười.  Hãn cợt :

- Chú Viễn vừa đánh giặc vừa làm thầy phong thủy, thật mỗi lúc công lực mỗi tăng !

Nhưng sau, Hãn dặn riêng Bảo, khi giặc vào trại chè chắc là đi bằng hai ngả thủy bộ.  Một là dọc sông Lam.  Hai là từ phía Nam Lư  Sơn.  Vậy thì Bảo phải tính đường rút cho dân chạy lúc bị truy bức.  Ðường đó là đường về phía bắc núi Lam. Sửa soạn tích trữ lương khô đề phòng khi nguy cấp là việc tối cần, không trì trệ được.

Tối hôm trước khi chia tay, Hãn hỏi Trãi có muốn về với mình không.  Trãi lắc đầu.  Một tay đỡ cuốn Nam Dao chí lên, tay kia Trãi chỉ Vàng Anh, rồi viết vào khoảng không :

- Ðệ định chép thêm dân ca...  Con bé cháu và cô em dâu biết rõ âm điệu.  Lại còn Ðào lão nữa.  Thiếu họ không được...

Dẫu chắc không hiểu gì, Vàng Anh nép vào bác như một phản ứng từ linh tính.  Nó ngửng lên, cặp mắt đen lay láy tròn xoe, hỏi :

- Con hát tiễn bác Hãn và chú Viễn nhé...

Viễn nhanh nhẩu, ôn tồn bảo :

- Hát đi, hát đi !

Dưới ánh trăng non độ lập thu, tiếng trống ếch bập bùng và tiếng kèn, tiếng nhị luyến lấy giọng hát Vàng Anh.  Hát rằng :
   
Người ơi người ở đừng về...
   
Người về em những ( ơ à ) mấy khóc ( ơ khóc ) thầm
   
Nhớ ai, nhớ ( ôi à ) vạt áo
   
Vạt áo ( ấy a ) ướt đầm, ướt đầm như ( à ) mưa
   
Người ơi người ở đừng về...   

Hãn bật nói :

- Ðại sự chẳng phải chỉ để giành đất tranh sông mà là để bảo vệ những tiếng hát này !

Trãi nhìn thật sâu vào mắt Hãn.  Chàng nhớ lại lời ông ngoại.  Khi tiếp Hồ Nguyên Trừng thay mặt Hồ Quí Ly đến  Côn Sơn hỏi ý về việc triều chính,  Băng Hồ tiên sinh bảo ‘‘ Cứ xem, cuối hai trăm năm là lẽ tuần hoàn rõ ràng có suy có thịnh.  Mệnh trời như thế cũng đổi thay.  Hết Lý, đến Trần.  Rồi thì cũng phải hết Trần...  như một qui luật.  Tướng công cứ về nói như vậy với phụ thân cho ta...’’. Tháng sau, Hồ Quí  Ly tiếm ngôi. Nhưng thay Vua đổi Chúa là thay đổi lớp sơn.  Gỗ dưới mới là cái chống được nắng mưa. Chính đám hàng dân, với những lời ca kia, với tình với nghĩa, mới là lớp gỗ này.  Và, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
Cầm tay Hãn, Trãi viết lại lời cha chàng trên ải Phá Lũy :

- Vua quan là thuyền, dân là nước.  Ðưa thuyền đi là nước mà lật được thuyền cũng là nước.
Hôm sau, Trãi đưa Hãn và Viễn đến đầu ngạn Sông Lam.  Nhìn Trãi đưa tay vẫy từ xa, Viễn hỏi :

- Hai bác chuyện trò với nhau bằng tay như xẩm sờ.  Em chẳng hiểu gì sất !  Thế sao bác Trãi không chịu theo chúng mình ?

Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #41 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 10:41:57 am »

- Là vì Trãi đang lo đại sự !

- Bác đừng lỡm em.  Ðại sự giờ này có đại đầu mục Lam Sơn, có bác và Chích, rồi có bác Xảo và Xa khả Tham. Bác Trãi lo một mình thế nào được ?

- Cái đại sự của chúng ta ở trước mắt.  Nó là chuyện đuổi giặc.  Rồi đuổi được thì lập triều chính.  Cái đại sự của Trãi khác.  Nó ở ba bốn trăm năm sau.

- ...

- Trãi đang sửa soạn Kinh Thi Ðại Việt.  Thế là để thay thế cái Kinh Thi của ông Chu, ông Khổng nước Trung Hoa đấy.

- Kinh Thi Ðại Việt là cái gì ?

Hãn nghiêm mặt hỏi :

- Chú có nhớ bài hát tiễn tối hôm qua không ?

Viễn gật.  Hãn lại bảo :

- Chú thử hát lại xem !

Ngạc nhiên, Viễn hít hơi lấy giọng, ôm ồm hát. Ðợi khi Viễn hát hết câu,  Hãn bật cười quàng vai Viễn  nói lớn :

- Ðấy, Kinh Thi của ta như thế đấy !

Cơn gió bấc đầu tiên báo Ðông về năm nay đến sớm hơn thường lệ.  Mưa chiều rả rích, khí núi lượn lờ như sắp sửa rơi xuống, và cỏ cây ủ rũ cam chịu với bốn mùa đổi thay của một thiên nhiên nghiệt ngã.  Hàng dân trong trại chè cắp nón mê, khoác áo tơi bằng lá gồi, lom khom thấp thoáng như đám cò ở đâu về đậu đầy bến sông Lam.

Cời than bếp cho lửa bùng lên, Trãi bỏ thêm dăm đọi củi ngo rồi ngả người dựa lưng vào vách.  Mùi củi cháy thơm lừng, khói tỏa lên không trung một lớp màn xanh mỏng loãng mơ hồ.  Siêu nước bắt đầu ấp úng sôi, hơi bốc, tiếng nước reo lên mời mọc.  Trãi châm đèn rồi pha chè, thứ chè móc câu mới sấy vụ năm nay.
Ðêm xuống.  Cơn lạnh thấm dần vào cơ thể.  Trãi khoác lên vai tấm áo ngự hàn, xoa tay, rồi vặn bấc xuống.  Ngọn đèn thu mình lại, xanh như mắt mèo nhấp nháy.  Tợp một ngụm chè, Trãi nhắm mắt, nhấm nháp vị ngọt chát đọng lại rồi thả cho tâm trí thênh thang vào một cõi không kiềm tỏa, không ý niệm, không tiên kiến.  Ðột nhiên, chàng nghe bên cạnh tai giọng ai đó văng vẳng :

Loàn đoan ướm hỏi khách lầu hồng

Ðầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng

Ngoài ấy dù còn áo lẻ

Cả lòng mượn đắp ấm hơi cùng

Trãi mở mắt.  Ô hay, rõ là Xuyến đứng bên bếp lửa nhìn chàng, miệng cười giễu cợt :

- Ghê nhỉ, dám ướm hỏi con gái người ta rồi rủ rê đắp ấm với nhau à ?

Trãi bẽn lẽn, gượng đáp :

- Chắc tại trời bên ngoài lạnh quá...

Xuyến chép miệng :

- Thế bên trong thì sao ? Cái lạnh bên trong đấy chàng ạ ! 

Nhìn Trãi tần ngần, Xuyến nói như than :

- Có một thân một mình, lạnh lẽo lắm...

Trãi buột miệng :

- Biết thế thì nàng ở lại, đừng bỏ ta mà đi.

Xuyến lại cười, dịu dàng :

- Nhưng em không ở đây được, chàng ơi !  Chàng đi với em vậy...

Dứt lời, Xuyến kéo Trãi.  Cả hai vùn vụt biến vào sương đêm trắng đục, gió vù vù thổi ngược bên tai.  Trời sáng dần, nhưng là thứ ánh sáng chiều tà.  Ðến sân một cái đình, trai gái ở đấy chen chúc nhau cười nói.  Ðúng lúc nắng tắt, tiên chỉ làng lụm khụm trong tấm áo nhiễu màu đỏ mào gà bước ra.  Ba tiếng trống thùng thùng nổi lên át hẳn tiếng người.  Ðợi cho trong sân im lặng, cụ tiên chỉ nói ‘‘ khai lễ ‘‘ và rồi tiếng phèng la từng chặp vang lừng.  Lại tiếng cười, tiếng gọi.  Nắm lấy tay Trãi, Xuyến thì thầm, đừng có lạc mất em.  Cả hai đi về rặng ổi cạnh sân đình.  Trai gái từng cặp ngồi dưới gốc cây.  Tiếng thủ thỉ.  Tiếng rúc rích.  Rồi tiếng rên rỉ.  Xuyến ghì Trãi xuống, vít đầu hôn tới tấp lên cổ lên mặt.  Trãi thì thầm, Xuyến nhớ cái đêm ở góc thành Nam không ?  Xuyến hổn hển, nhớ chứ, chàng ơi !  Chẳng phải nhớ kiếp trước mà ngay cả kiếp này, rồi cả kiếp sau nữa.  Trãi lần tay giứt giải yếm.  Xuyến kêu, nhanh lên, kẻo sáng mất.  Trãi thấy sinh lực mình ứ ra như nhựa cây buổi xuân về.  Xuyến kêu, nữa, nữa đi.  Giời ơi, em chết mất.  Tiếng kêu làm Trãi tê điếng, người nhịp xuống nhấp nhô tựa thuyền gặp sóng.   

Giời ơi là giời, em chết mất...

Nghe tiếng kêu, Trãi hiểu rằng chết được trong niềm hoan lạc là hạnh phúc, vô cùng hạnh phúc.  Thứ hạnh phúc đó không cần đến vật chất làm khung chống.  Thì như thế, xá chi xác thân.  Sau niềm hoan lạc sự sống chỉ có thể là cái trống không.  Chết mất đâm ra thành cách duy nhất để phủ định cái khoảng trống không kinh hồn đó.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #42 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 10:46:03 am »

Trãi bừng tỉnh.  Ngọn đèn mắt mèo vẫn xanh.  Củi ngo hóa than đang nhấp nháy lụi dần.  Chàng định thần, cố nhớ lại.  Rồi chàng gọi, Xuyến ơi !  Không, không có một ai.  Vẫn chỉ tiếng mưa rơi rả rích.  Tiếng côn trùng rỉ rả.  Bên cửa sổ, đàn đom đóm bay ngang để lại một vệt  lân tinh run rẩy trong gió.  Trãi vặn to ngọn đèn dầu, ra cài tấm liếp chặn cửa.  Khi vào, chàng mài mực,  chép lại câu thơ trong giấc mơ.  Viết đến câu cuối, Cả lòng mượn đắp ấm hơi cùng,  Trãi bùi ngùi tiếc nhớ.  Chàng ao ước làm sao bây giờ mới là lúc chàng đang mơ.  Còn cái thực, là với Xuyến, ở cái đình làng nọ, trong tiếng gái trai gọi nhau của một thiên đường vỡ ra như bọt nước .

Tiếng phèng báo động đầu thôn Thượng bỗng chợt rối rít khua lên vào giờ Mùi, tháng Chạp, sau ngày trăng tròn.  Phi Bảo tay đang bế Vàng Anh. Vội bỏ con xuống, Bảo nhẩy phắt lên ngựa ruổi nước đại.  Lên đến lưng chừng đồi chè, Bảo trông thấy đám quan quân nhà Minh đã cặp được một chục chiếc thuyền cái vào bờ sông Lam.  Nhìn về hướng Lư Sơn, con đường độc đạo cũng thấp thoáng bóng người.

Bảo vừa phi ngựa xuống đồi, vừa lẩm nhẩm tính toán.  Cứ một chục thuyền cái, chúng đã có thể vận chuyển từ hai đến ba trăm lính.  Thêm vào đường bộ, tổng cộng lại ước ra đến năm bảy trăm, tức là chúng đông gấp mười đội tự vệ của trại chè.  Thế thì đánh chặn, lừa đốt thuyền, cướp thời gian để rút đi, tản người vào miệt rừng phía bắc.  Bảo về đến sân trại chính thì đám tự vệ đã nai nịt sẵn sàng.  Cách phòng thủ dân trại đã nghĩ sẵn, nên việc điều động không có gì khó khăn.  Bảo lấy hai mươi tráng đinh, sắp đặt gùi lửa, dầu đốt và diêm sinh rồi tự mình dẫn họ vượt sông Lam, đi vòng lại tập kích vào đội thuyền giặc. Hai khắc sau, giặc bắt đầu xông vào. Toán tự vệ ở hai nút chặn chốâng trả kịch liệt, tiếng tên tẩm độc rít lên xé không trung giữa tiếng la thét, tiếng rú, tiếng gọi nhau ơi ới.

Ðào Nương là người chỉ huy việc tản dân xuống thôn Hạ rồi tất cả rút vào rừng.  Dân trại tiếc của, gồng gánh chăn màn thúng mủng nồi niêu. Sợ nên cứ quíu lại, họ quơ bên nọ, quào bên kia, la khóc như vỡ chợ. Không ngờ đến tình huống này, Ðào Nương ngẩn người ra rồi mím miệng tự tay rưới dầu đốt nhà mình.  Nàng quát :

- Bớ bà con, mạng không giữ được thì mang theo được gì ?  Bỏ lại hết.  Chỉ mang chăn mùng và dao, rựa.  Thế thôi !

Dặn đám con gái lên đường đi trước, Ðào Nương chặt một đẵn tre đực, thúc giục mọi người.  Với những kẻ tiếc của dùng dằng, nàng thẳng tay quật, mắt mọng đỏ, miệng kêu :

- Ta đánh mày còn hơn để giặc giết mày !

Ðám cháy trong thôn Thượng có một tác động bất ngờ.  Khi thấy khói bốc lên, Phi Bảo đang vượt sông Lam khựng lại sợ thôn bị giặc tập kích.  Ngẫm nghĩ, Bảo ra lệnh cho đám tráng đinh quay lại không đi đốt thuyền giặc nữa.  Hai toán tự vệ cũng hoảng hốt cho người chạy về thôn, xuống tinh thần nên sức chống trả không cương mãnh như lúc đầu. Tuy vậy, tên nỏ có tẩm độc vẫn chặn được bước tiến của giặc. 
Chúng hò hét nhưng không dám liều mạng xông lên.

Ðến cuối giờ Thân, lớp phòng thủ đường bộ phải rút về tuyến thứ hai.  Bảo ra sức hò hét, bảo tráng đinh có chắc mới bắn vì lượng tên nỏ đã vơi.  Lúc đó, Ðào Nương ở đâu hiện ra.  Bảo quát :

- Nhà nó lo việc di tản cơ mà.  Ði, đi...

Ðào Nương cười, bình tĩnh đáp :

- Dân thôn Hạ cũng đã đi hết rồi...  Bây giờ em thuộc đoạn hậu, thì  ở đây chứ còn đi đâu nữa !

- Sao lại đốt nhà !

- Không đốt, người ta tiếc của không đi.  Mà giặc vào, mình không đốt, nó cũng lấy, cũng đốt.  Nàng lại cười, rồi cất giọng, hát to :
 
Trời chưa phong quang
 
Giặc Ngô vào, trời chưa phong quang...

Ðám tráng đinh phòng thủ lối đường thủy cũng vừa rút về.  Họ nhịp tay hát theo.  Tiếng hát chống giặc vang lừng lên khiến giặc ngẩn ngơ không dám tiến.  Bảo lườm vợ, mắng yêu :

- Nhà nó đến hay.  Lúc phải chạy thì lại đến.

- Thì em lại quay đầu chạy trước nhé.

Nói xong, Ðào Nương nhìn Trãi, thưa :

- Bây giờ, xin bác đi với em...

Vẫy tay gọi tráng đinh cáng theo những người bị thương, Ðào Nương đi đến đâu châm lửa đến đó, miệng lẩm bẩm, chúng bay muốn đốt tao cũng chẳng cho.  Những bó chè năm nay đã sấy khô bốc cháy, mùi khét lẹt thốc vào mũi ngột ngạt.  Trãi nhìn cô em dâu, lòng bỗng vô vàn cảm phục.  Ðúng là giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh.  Chàng bây giờ tin như đinh đóng cột rằng dẫu qua một nghìn năm Bắc thuộc, gia tộc con dân Ðại Việt vẫn chưa biến thành phụ hệ như ở Trung Hoa, nơi người phụ nữ bị đè bẹp dưới sự thống trị của tam tòng tứ đức.  Chợt nhớ ra tập Nam Dao chí, Trãi vội vã chạy vào trái nhà nơi chàng cư ngự.  Bấy giờ, ngoài tro than, chỉ còn lại ba hòn đá chụm đầu vào nhau làm bếp.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #43 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 10:47:25 am »

Ông ơi, trời tối rồi.  Chỉ có lửa.  Lửa cháy...

Ông ngửi thấy...  Nó cháy ở đâu ?

Con không biết !
 
Bây giờ, con quay về phía cuối ngạn sông cho ông ?
 
Chỗ nào là cuối ngạn ?
 
Thò tay xuống nước.  Nước xuôi về đâu thì đó là cuối ngạn.
 
Con biết rồi, phía này là cuối ngạn.  Con quay đây...

Quay chưa ?  Thế bên phải hay bên trái ?
 
Bên nào là bên phải, bên nào là bên trái ?
 
Bên tay cầm đũa là phải.

_ ...

Lửa bên tay cầm đũa hay tay cầm bát ?

Cầm bát !

Thế là lửa cháy làng ta rồi...  Lửa có to không ?
 
Con thấy cả ngọn...
_  ...
 
Ai đốt hả ông ?

Ai đốt thì cũng là giặc đốt...

Bây giờ đi đâu ?  Trời tối đen.  Con sợ...
 
Giá chỉ mình ông, thì ông ngồi xuống đây ông đợi.  Ðợi tất cả...  Ðợi xem trời có mắt       không ?

_ ...
 
Nhưng ông con mình phải đi.  Con còn trẻ dại.  Bây giờ, cứ phía đầu ngạn mà đi...
 
Ông đưa tay con nắm...

Ði ngược chiều nước chảy, đừng có nhầm...
 
Ông bước nhé...

_ ...
 
Ông có nghe thấy gì không ?  Tiếng vượn hú.  Tiếng sói tru...
 
Có.  Chúng còn xa mình...  Nhưng cái đáng sợ không phải là vượn là sói...
 
Là gì...
 
Là người.  Thế mới khổ !
 
Con không hiểu...
 
Con đừng hiểu vội... Cứ đi đi, ngược nước mà đi.
 
Ði mãi, đi đến đâu ông ơi ?
 
Chỗ đến, ông không biết.  Nhưng cứ đi, đi thì xa cái nơi ông con mình không ở được...
 
Sao mình không ở được, hở ông ?  Con mệt lắm.  Con chỉ muốn ngủ ?  Mẹ con đâu ?  Các  chị con đâu ?
Ta phải tìm họ.  Phải đi con ạ...  Tai ông vẫn nghe tiếng nước róc rách.  Con đừng xa bờ, cứ   men nó mà đi...  Bỏ cội nguồn là mất hết phương hướng, con ạ !

_  ...
 
Con còn thức không ?  Phải mở mắt ra mà định hướng.

_  ...

Con ơi, hay là con hát lên cho tỉnh ngủ ?

_  ...
 
Ông hát nhé, ‘‘ Trèo lên quán dốc, ngồi gốc cây rừng, ( ôi à ) ta ngồi gốc cây rừng... ‘‘     con hát  theo  ông...
_  ...
 
Vàng Anh, Vàng Anh.  Tỉnh dậy.  Con đi như đi trong một cơn mộng du.  Con ơi, ông không còn nghe tiếng nước...

- ...

Vàng Anh, Vàng Anh.  Tỉnh dậy.  Con ơi, ông không biết con đang bước về đâu ?  Còn ông, ông đã lòa rồi.  Ông chỉ con nghe được.  Ông không nghe thấy tiếng nước, ta đang lìa bỏ cội nguồn...

_  ...
 
Ông lại hát nhé...

_  ...
 
Tình bằng có cái trống cơm, khen ai khéo vỗ ( ối ) bông mà nên bông.  Một đoàn ( tang tình ) con gái ối mấy lội ( lội ) sông, ối ( mới a ) đi tìm...

Thình lình, tiếng bật hồng rồi cả chục ngọn đuốc soi lên.  Một tên giặc quát, tiếng trọ trẹ :

- Ðây rồi.  Một thằng già điên.  Và một con bé con...

Ðào ông giơ chiếc đàn độc huyền lên cao, hăm he :

- Tao đánh bỏ mẹ chúng mày...

Bọn giặc thấy cảnh bật cười, hộc lên rồi từng bước sấn lại.  Ðào ông hét :

- Vàng Anh.  Hát lên con.  Hát lên để đuổi chúng nó đi...

Lúc đó, Vàng Anh bừng mắt.  Nó nghe Ðào lão, giọng bí bô cất lên :

- Ấy mấy lội ( lội ) sông.  Ấy mấy ( ai ) mà đi tìm.  Ði tìm ( tìm ) ai...  Ði tìm, tìm ai...
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #44 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 10:48:03 am »

Hai ngày sau khi quân Minh bỏ đi, hàng dân trại chè lại lục đục kéo nhau về.  Thôn Thượng và thôn Hạ nay hoang tàn.  Kèo cột cháy dở ngu ngơ xiêu vẹo.  Gạch ngói đổ nát tứ tung.  Tro than bộn bề bám vào mặt đất nhão nhoẹt dưới mưa dầm.  Dăm con chó ve vẩy đuôi thấy người về, không sủa mà chỉ kêu lên hinh hích.

Người ta bổ đi tìm những người thất lạc.  Tính sổ, ngoài hai người chết trận, có mười bảy tráng đinh bị thương.  Và bốn cụ già chết cóng trong rừng.  Còn lại, cả chục người không thấy tăm tích, trong đó có Ðào lão và con bé  Vàng Anh.  Cả nhà Phi Bảo chia nhau, mỗi người đi về một phương.  Xưa, Trãi hay đi câu với Ðào lão và Vàng Anh.  Chàng men bờ sông Lam đến chỗ thường thả câu nhìn quanh quất.  Không thấy bóng dáng ai, Trãi thả bước ngược dòng đi lên.  Trong lòng sông, nước xuôi xuống uốn lượn, có chỗ đập vào đá nổi bọt trắng xóa, cuốn đi những xác lá mục chập chờ chìm trôi tăm tích.

Chàng nhìn xuống lối đi đất còn ướt, thấy dăm dấu chân.  Ði thêm, cây mang những vết chém, cành rơi nằm ngang dọc.  Trãi dấn bước, lòng hồi hộp, linh tính báo cho chàng điềm chẳng lành.  Chàng vạch lá, rẽ cây, mắt chăm chú nhìn trừng trừng.  Một lúc sau, Trãi đến một bờ đá đâm ra sông.  Trãi đến gần.  Một búi tóc bạc dựa vào hốc, mặt hướng ra ngoài.  Chạy vội lại, Trãi nhận ra Ðào lão.  Ðầu ông cụ ngoẹo xuống, vạt áo trước ngực máu vấy thâm đen.  Chỗ dao đâm, bọn giặc Ngô lại nhét cái cán cây đàn độc huyền đã bị đập nát bấy vào.  Trãi cúi xuống.  Miệng Ðào lão móm mém mở toác ra như  kêu như gào trước khi chết.  Cặp mắt lòa nay chỉ còn một lớp gân mỡ trắng hếu vô hồn trợn trừng trừng.  Một đám kiến bò thành hàng trên mặt lão nay cứng lạnh như gỗ, thản nhiên chui vào miệng, vào mũi, vào lỗ tai.  Chúng lúc nhúc bu quanh cái cán đàn, tiếp tục đục khoét vết thương chí tử.  Trãi bật dậy.  Chàng muốn kêu, nhưng cổ tức lại, thanh âm kẹt cứng yết hầu.  Vàng Anh đâu ?  Chàng nhảy bổ sang bên cạnh.  Rồi rúc vào bụi.  Vẫn không.  Chàng lại sấn tới.  Trước mặt là một khoảnh đất thưa cây.  Vẫn không.  Trãi lại lao lên, cơn sợ hãi khiến chân chàng tê cứng.

Ở bìa rừng, Vàng Anh chơ vơ nằm đó.

Con bé trần truồng, phần hạ thể be bét máu đã đông đặc.  Mắt nó mở to, nét kinh hoảng nguyên vẹn, hai tay cào bấm xuống bụi cỏ bị đạp nhàu.  Vàng Anh ơi, hỡi Vàng Anh !  Trãi thét lên ‘‘ Giời ơi là giời !  Giời có mắt không hả giời ! ’’.

Ðó là lần đầu Trãi nói ra lời sau một năm á khẩu.  Tiếng thét của Trãi vọng vào vách xuyên qua vực bay theo gió lạnh một mùa đông khắc nghiệt.  Gục mặt xuống đất, Trãi cứ thét gào cho đến khi dân trại chè chạy ùa lại.

Ðào Nương nhìn con rồi ngất đi.  Phi Bảo cởi áo quấn lấy xác Vàng Anh bế lên, nước mắt nhòa nhoẹt trên mặt nhưng mím môi không nói một câu.  Xác Ðào lão đặt trên một cái cáng, hai người khênh hai đầu, lầm lũi bước.

Hai ngày sau khi chôn cất những kẻ tử vong, dân trại chè họp nhau lại.  Bảo nói :

- Cơ sự này, ai ở lại cứ ở mà làm chè.  Tôi phải đi !

Khi có người hỏi đi đâu thì Bảo trỏ tay về phí núi Lam.  Hầu hết đám tráng đinh theo Bảo vào Lam Sơn tụ nghĩa.  Ðêm hôm đó, Bảo hỏi Trãi :

- Anh có đi không ?

- Chú đi trước đi.  Rồi sẽ gặp.

Mặt Trãi nay như thép nguội, hai con mắt lại lấy lại tất cả nét tinh anh ngày trước.  Trãi mang nghiên bút vào mộ Vàng Anh mới đắp, căng lều ở mươi bữa, ngày ngày gò người ra viết.  Lần này, sách Bình Ngô thảo bằng chữ Nôm, không điển cố, không chữ nghĩa cầu kỳ.  Sách viết rất đơn giản, câu chữ mạnh lạc.  Bởi mọi sự thật đều đơn giản đến hiển nhiên.

Viết xong Bình Ngô sách, Trãi nấu mật rồi chọn cả trăm chiếc lá rừng loại to bản.  Bỏ hai ngày trời, chàng lại cắm cúi chấm mật viết lên lá.Viết xong chàng mang đống lá đến để cạnh một tổ kiến đất.

Một đêm trước khi lên đường, Trãi ngồi thắp hương trên mộ Vàng Anh.  Chàng khấn ‘‘ đuổi giặc rồi, bác lại chép lại Nam Dao chí cho con.  Cái chết của con không vô ích đâu, Vàng Anh ơi !  Nó dạy cho bác vế thứ hai của việc lấy đạo  nghĩa chống hung tàn.  Ðó là mang trí, nhân thay cường bạo.  Vì chỉ có thế thì con người mới tránh được sự hủy diệt của chính con người trong mai hậu ’’.

Thình lình một con chim cánh chuốt màu lửa từ chân mộ bay vút lên. Cánh chim  thành một vì sao tít tắp, muôn đời nhấp nháy với gọi tương lai trong khoảng trời đất vô cùng của những con người khốn khổ.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #45 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 05:48:10 pm »

Chương 5
ÐẤT CAO

Nhâm dần ( 1422 ), Minh Vĩnh Lạc năm thứ 20

Tiết Lập Xuân.

Nhìn từ sơn trại Hoàng Nghiêu, dòng sông Mã lóng lánh như dát kim cương lượn vòng ôm lấy giải núi xanh lơ xa tít. Nghĩa quân đóng ở Mường Thôi đã hơn hai năm, thỉnh thoảng mới đụng độ với quân Minh, dân đóng thuế ít, lại đỡ phu dịch nên hết lòng ủng hộ. Tin Lý Bân vừa chết ở Ðông Quan đã truyền đi khắp nơi.  Ở hai châu Hoan, Ái, nghĩa quân vùng nào cũng phấn chấn.  Khi đó, Trãi đã trở về với Hãn và Chích, trầm tĩnh nói :

- Tướng địch chết là tướng tài mới đáng mừng.  Lý Bân không phải là hạng người này !

Hãn ngẫm nghĩ một lát rồi bảo :

- Thời cơ thì chưa tới, nhưng cũng nên lợi dụng lúc giặc còn phải chấn chỉnh, ta mang ít quân về chặn giữa Hoan châu và Diễn châu...

Hai ngày sau, Hãn mang bốn trăm nghĩa quân và hai thớt voi thọc vào  phía tây rồi suôi nam.  Trãi và Chích ở lại thì có tin của Lê Lợi.  Người mang tin là Nguyễn Xí và Hà Trí Viễn.  Gặp Trãi, Viễn mừng chảy nước mắt, kêu lên :

- Thế là bác nói được rồi !  Gớm, xưa em cứ lo... Bây giờ cóc mở miệng nhé !

Nguyễn Xí lúc đó đưa cho Trãi một chiếc lá.  Soi lên sáng, Trãi đọc Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần .  Xí nói :

- Ðại đầu mục chúng tôi mời ông rời gót ngọc về Lỗi Giang.

Trãi nhịn cười, vui đáp :

- Xin vâng, nhưng tôi chân trần dép cỏ thôi, có đâu ngọc ngà gì...

Xí đỏ mặt.  Viễn hề hề cười :

- Bác sửa soạn, mai ta đi !

Ba người lên đường lúc tiếng gà đầu ô cất lên báo sáng. Dân cầy khi đó đã lục tục kéo nhau ra đồng, xẻng cuốc trên vai, chuyện trò rôm rả. Năm nay được mùa, mưa gió chiều lòng người thôi không giở cơn hành hạ như năm ngoái. Men những cánh đồng xanh non mút mắt, Trãi vui miệng hỏi han đủ chuyện nhưng chỉ có Viễn đáp lời. Thế là Viễn lại lấy thêm một bà và đẻ thêm được một đứa. Viễn ề à ‘‘…con gái mới cay chứ, em mong sang năm thì gặt được hai đứa con trai ’’. Trãi hiểu ít là hai bà vợ Viễn đang chửa, đùa ‘‘ Chú cố thêm,  có thể lên đến ba đứa đấy...’’.  Viễn trợn mắt ‘‘…thì cố vẫn cố, nhưng Trời cho mới được, bác ạ ! ’’.
Vừa qua khỏi địa phận Lư Sơn, Lê Lợi đã từ Lỗi Giang đích thân ra tiếp Trãi.  Cúi đầu, Lợi vái :

- Cố nhân !  Xa mặt thế là bốn năm nay rồi, trông người vẫn như xưa.

Trãi vuốt búi tóc rồi nghiêng mình vái lại :

- Thưa đại nhân, tóc tôi nay mười phần đã bạc đến bốn rồi... chỉ non sông là còn đó !

Hiểu ý Trãi, Lợi thở dài :

- ...và chưa thay đổi gì cả !

Bất thình lình, Lợi xụp xuống :

- Xin hãy giúp Lợi này chỉ là kẻ áo vải tài thô trí thiển...

Trãi vội nâng Lợi lên :

- Chữ đã viết ra rành rành trên lá cây.  Như vậy, Trãi về đây cũng chỉ muốn cùng ngài đuổi giặc mà thôi. 
Ðó là thiên ý, Trãi xin tuân mệnh.

Buổi tối hôm đó, Trãi lại gặp lại Phi Bảo.  Chàng nay tự xưng tên là Chiến và lấy họ Lê, ý một lòng phò Lợi đánh giặc.  Nhìn cung cách Trãi, Bảo không nhận ra anh mình.  Mấy tháng trước ở trại chè cứ ngày ngày chép những câu ca dao tục ngữ, Trãi nhìn lúc nào cũng dịu dàng, dấu vết ngậm ngùi đọng trên khóe mắt.  Nay, khác hẳn.  Nét dịu dàng thay bằng trầm tĩnh, và ánh ngậm ngùi bằng một sự cương nghị lạ lùng.  Khi hàng dân nhặt được những chiếc lá kiến khoét thủng hàng chữ  báo mệnh trời mang lên Lam Sơn, Bảo chắc bụng rồi sẽ gặp Trãi.  Vì thế, không một chút ngạc nhiên, chàng chỉ hỏi :

- Bác Hãn nghĩ thế nào ?

Trãi trầm ngâm :

- Còn nghĩ thế nào nữa !  Sau Trùng Quang, rồi Giản Ðịnh, lòng người chẳng còn mấy ai tưởng đến nhà Trần.  Bảo rằng Lợi vi quân, là nhằm lôi cuốn những kẻ đến giúp Lợi, đồng thời giữ vững lòng tin của hàng dân vào việc khôi phục...

- Lợi có hiểu như thế không ? Bảo hỏi.

- Hiện thế giặc lại mạnh lên.  Chúng đã cấu kết với quân Lão Qua, Lợi hết chỗ dựa, mất  hậu cứ an toàn, biết cái chuyện làm vua trước mắt chỉ là chuyện nói hão, còn chông gai lắm.  Nhưng đám võ biền theo Lợi thì họ nghĩ gì ?
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #46 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 05:49:02 pm »

Bảo bật cười rồi chậm rãi :

- Họ tin là thế thật.  Và chưa gì họ đã xin Lợi xuất quân.

Trãi cũng cười.  Bảo tiếp :
   
- May quá, Lợi không cho.  Lợi bảo phải chờ quân sư.  Anh có biết quân sư là ai không ?

Một góc nhà sàn dùng làm thư phòng, trên phản để một chồng sách.  Sát vách, giá gươm treo ba thanh, dài ngắn khác nhau.  Khi Trãi bước vào, Lợi đứng dậy tươi cười mời ngồi rồi đưa mắt ra hiệu. Lê Văn Linh vái chào Trãi rồi lui  ra.  Lợi nhắp một ngụm trà, tay đưa mời Trãi dùng trầu, miệng nói :

- Trầu là trầu nguồn, thưa ngài...

Trãi lắc đầu cám ơn.  Vừa nhai trầu, Lợi vừa nói :

- Ý ngài đã giúp Lợi, xin vô vàn cảm tạ.  Lam Sơn tụ nghĩa, anh hùng đến đây số lớn là những tay đảm lượng vũ dũng.  Lam Sơn cần bây giờ là cần người trông rộng nhìn xa.  Nếu ông không quản, Lợi này xin vái ông ba vái làm quân sư...

Trãi nhíu mày.  Thì ra khi biết Trãi đã cùng Viễn và Xí lên đường, Lợi đã tung hai chữ quân sư ra dọ ý đám người hội thề Lũng Nhai thuở trước.  Thấy Trãi ngần ngại, Lợi đứng dậy nhưng Trãi giơ tay ngăn, chậm rãi :

- Ðại nhân hiểu rõ sự thế.  Xưa Khổng Minh làm quân sư cho Lưu Hán Ðế là lúc thiên hạ chia ba, mỗi người một cõi.  Ðại Việt bây giờ khác hẳn.  Cho đến nay, một mảnh đất trong tay ta chưa có.  Nghĩa quân ở Thanh - Nghệ còn Hãn - Chích, trên Mường La còn Xảo - Tham, thế vẫn rời rạc, hành sự chưa hợp nhất.  Thế mà đem Trãi này ví với Gia Cát thì chỉ để thiên hạ chê cười cho đến muôn thu nên Trãi quyết là không nhận...

Lợi chột dạ, bần thần :

- Và Lợi ngu dốt này mà bì với Lưu Bị thì Lợi cũng chẳng dám...

Trãi đứng dậy ra trước giá gươm.  Chàng rút một thanh ra khỏi vỏ, ngắm nghía, buột miệng khen kiếm là kiếm quí.  Lợi vội vàng :

- Nếu ngài thích, Lợi xin tặng...

Mỉm cười, Trãi hỏi :

- Cái cán kiếm này có dễ tháo ra không ?

Không hiểu ý Trãi, Lợi lẳng lặng gật đầu rồi tự mình xoay cán, lấy ra.  Hai tay nâng lưỡi kiếm ngang mặt, Trãi nói :

- Ngài giữ lấy cán nhưng ném lưỡi kiếm này vào chỗ cạn trên sông Lam.  Sau, ngài bảo nằm mơ thấy thần nhân ban cho cây kiếm Thuận Thiên rồi truyền cho nghĩa quân đi mò.  Lưỡi kiếm nào cắm vừa vào cán là Thuận Thiên.  Có cây kiếm, ngài truyền hịch xưng Vương.  Công việc đầu của Trãi là mang nghĩa quân của Hãn và Chích sát nhập vào nghĩa quân Lam Sơn.  Về phần Xảo - Tham, xin ngài đợi cho đến đầu hè, Trãi sẽ thu về một mối.

Nhìn Lợi mắt sáng lên, Trãi móc trong bụng ra cuốn Bình Ngô, hai tay đưa :

- Sách này dâng ngài.  Nếu ta cùng nhau nhất tâm nhất trí thì sai chép ra rồi trao lại cho hàng quân.  Chỉ lúc đó, Trãi mới xin làm Hành Khiển, nghĩa làm những việc được sai, thế thôi...

Hai tay nhận sách, Lợi cúi đầu cảm tạ.  Chỉ sáng hôm sau, Lợi đã đến gặp Trãi, nói :

- Trời đã khiến ngài về với Lợi.  Sách Bình Ngô sẽ sao ra năm mươi bản ngay ngày hôm nay.

Nói xong, Lợi xụp xuống lạy.  Trãi vội đỡ Lợi lên, nhìn vào mắt, miệng nói :

- Xin chớ làm thế.  Ðọc sách, ngài thấy chỗ cốt tử ở đâu ?

- Lấy đạo nghĩa, chống hung tàn. Mang trí, nhân thay cường bạo.

- Ngài một lòng với Trãi ?

Lợi cầm chén nước đổ xuống đất rồi thề.

Trãi bấy giờ nói thêm :

- Chuyện cây kiếm thần là cực chẳng đã.  Bây giờ Trãi này xin với ngài thêm một việc.

Lợi chưa biết là việc gì, thận trọng nhìn Trãi, im lặng.

-...là một ngày nào đuổi xong giặc, xin ngài trả lại cây kiếm Thuận Thiên cho trời đất.  Thời bình, là thời văn trị thì giữ kiếm làm gì !

Lúc đó, Lợi thở ra, vừa cười vừa nói :

- Xin ngài cứ yên lòng.  Lợi đâu chỉ là kẻ vũ phu chỉ biết có đao có kiếm.

Lê Văn Linh điều động một số người biết chữ đọc Bình Ngô sách rồi giảng lại cho đám nghĩa sĩ Lam Sơn.  Bọn Ðinh Lễ, Nguyễn Xí, Lê Hào, Lê Sát... lại bụm miệng cười với nhau hệt như ngày nào trên núi bốn năm về trước.  Duy có cái sách lược vây thành rồi chặn đánh tẻ đám quân Minh đến cứu viện là họ đồng lòng, nhưng Lễ vẫn bảo ‘‘ Vây mà hạ được thì cứ hạ, việc chó gì mà chỉ cứ vây không thôi !  Mấy anh trói gà không chặt đời nào cũng vậy, cứ thấy máu là hãi run lên rồi ! ’’.  Sát lại nhắc ‘‘ Cái chuyện tâm công như nước lã uống mà say ấy mà.  Tin khối được, ai tin ?  Ðúng là đi bán thóc giống... ’’.

Lợi gọi đám mười tám người hội thề Lũng Nhai lại ngày mồng bốn tháng bảy sau khi nhận được thư phúc đáp của Chích.  Thay mặt Hãn, Chích thuận việc sát nhập với quân Lam Sơn, viết ‘‘...Nghệ đất rộng, người đông, là nơi hiểm yếu...  Nay ta trước hãy đánh lấy Trà Long, chiếm giữ Nghệ làm chỗ đất dừng chân, rồi dựa vào tài lực nhân lực đất ấy mà quay ra đánh Ðông Ðô thì có thể tính việc dẹp yên thiên hạ ’’. Lợi hỏi, Trãi chỉ đáp ‘‘... trù hoạch lấy Nghệ thì phải tạo sức ép từ phía Nam vào.  Hiện Trần Nguyên Hãn đã kéo quân phục sẵn rồi.  Lấy xong Nghệ, lại ra mà thu Tân Bình, Thuận Hóa ’’. 
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #47 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 05:49:46 pm »

Sau khi nghe Lê Lợi nói về tình hình và vai trò của Nguyễn Trãi, bọn võ tướng Lam Sơn nhao nhao hỏi :

- Quân sư và hành khiển khác nhau thế nào ?

Lợi đáp :

- Sư là thầy.  Còn hành khiển thì sai gì làm nấy !

Nhìn đám võ tướng, Trãi im lìm, lòng tội nghiệp nghĩ đến cái bả chức phận phù danh của những kẻ nay chưa có nổi một nơi an thân.  Ðinh Lễ, có tiếng là võ dũng, ồm ồm :

- Chỉ vây mà không hạ thành.  Giặc hàng thì tha, thế còn đánh đấm thế quái nào được !

Trầm tĩnh, Trãi ngửng lên đáp :

- Vây và không hạ thành thì viện quân mới tới, ta chủ động, đánh hay không là ở ta, đi hay ở cũng là ở ta...  Còn tha giặc ư ?  Thổ binh cũng là người mình, theo thì ta cho, muốn về an cư ta cũng chịu.  Cái chính nghiã lúc đó sáng ngời, hàng dân theo về với ta sẽ có.  Với lính nhà Minh, ta tha là để chúng về, vừa chịu ân, vừa kinh hãi.  Ðồn đãi lên, thế thì thử hỏi chúng còn lòng dạ nào mà chiến đấu.  Cứ tha một, ta có thêm hai nhụt nhuệ khí, vậy liệu có lợi hơn là giết đi không ?

Nguyễn Xí lúc ấy vòng tay đứng dậy.  Trong quân, Xí  tiếng là kẻ cơ mưu, có họ hàng với ông tổ của Nguyễn Kim, người cùng Trịnh Kiểm  phò Lê diệt Mạc ngót trăm năm sau. Ðuổi Mạc xong, hai họ Trịnh - Nguyễn phân tranh suốt một thế kỷ.  Ðể bụng Trãi bỡn mình vì vụng nói câu ‘‘ rời gót ngọc ’’, Xí bặm môi :

- Bẩm đại đầu mục, Xí tôi chưa tường.  Dám hỏi Nguyễn tiên sinh, rằng tiên sinh nói chỉ vây mà giặc hàng, thế là làm sao ?

- Vây thành, lương bị cắt.  Có tích trữ lương thì cũng chỉ một thời gian, đói thì đao kiếm cũng vứt đi mà thôi...

Lê Ngân ở đâu chêm vào :

- Giặc đói, nó liều mạng đánh còn khỏe hơn nữa...

- Thế có nghĩa là giặc no, nó không liều, nó yếu chăng ? Trãi nhẩn nha hỏi lại.

Thấy có người phụ họa, Xí mạnh dạn  khẳng định :

- Trong chiến tranh, sức mạnh của cánh tay là trọng...

Trãi giơ tay, chậm rãi :

- Rất trọng.  Nhưng khi cánh tay chém xuống là tự nó chém hay là cái đầu bảo nó chém ?

- ...

Ðinh Lễ lại ồm ồm :

- Cái đầu bảo, nhưng tay mà yếu thì cũng chẳng làm gì được !

- Thế khi cái đầu yếu, chỉ tay mới mạnh thì thế nào ?  Mạnh mà chém vào bùn, thì thử hỏi có ăn thua gì ?

Bí thế, Xí hùng hổ :

- Ông đừng khinh chúng tôi không có cái đầu !  Một cây làm chẳng nên non.  Ba cây chụm lại thành hòn
núi cao.

Bấy giờ, Trãi đứng lên vái Lợi và toàn thể đám Lũng Nhai.  Trãinhỏ nhẹ :

- Trãi tôi đến đây, nếu có lỡ lời thì xin các vị bỏ quá cho, nào dám khinh ai.  Ngừng lại, giọng cương quyết, Trãi tiếp - Những điều Trãi nói, Trãi tin và thành khẩn chia xẻ với các vị.  Trong thế cuộc này, Trãi cũng một lòng đuổi giặc, nhưng thiết nghĩ, chỉ có sức tay thì không vãn hồi được đại cuộc...

Xí xen vào :

- Nhưng ông chỉ được cái nói miệng...

Lợi quát khẽ, mắt trừng lên khiến đám võ biền khựng lại.  Trãi nhìn Xí, chững chạc :

- Tôi không chỉ nói miệng.  Nghe Trí Viễn và Lê Chiến rằng ông cao cờ nhất, có tiếng là cơ mưu.  Tôi cũng học đòi, khi rảnh rỗi đi được dăm ba nước.  Tôi muốn hầu cờ ông, và thêm hai vị ông chọn vào cho thành ‘‘ hòn núi cao ’’ như lời ông dạy...

Xí hăm hở :

- Ðược, được.  Có ngay !

Trãi gằn giọng :

- Vì tránh chuyện nói miệng, nếu tôi thua tôi xin tự nguyện chết dưới tay kiếm của ông.  Ðể cho công bằng tôi cũng xin với ông như vậy...

Câu chuyện dẫn đến một bước bất ngờ khiến mọi người ngậm miệng im như tờ.  Xí thở hổn hển một lát rồi lớn tiếng :

- Ðược, được !

Xí chưa dứt lời,  tiếng tù và rúc lên, hai tiếng nhặt, một tiếng khoan. Lợi nhìn đám võ biền, vẫy Linh đi theo. Một lát sau, Lợi sánh vai Phạm văn Xảo vào trướng quân. Số là Xảo dấy quân vùng Thái Nguyên, tập hợp được đám Tày, Mường dưới quyền họ Xa Khả Tham và sau lại liên minh với họ Bế miệt Cao Bằng.  Nhận được thư Trãi, Xảo phúc đáp, bằng lòng sát nhập lực lượng vào  nghĩa quân Lam Sơn, làm thế ỷ dốc đỡ nhau chống giặc.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #48 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 05:50:47 pm »

Nhìn thấy Trãi, Xảo tươi nét mặt, chạy lại nắm tay vồn vã. Tối hôm ấy, khi chỉ còn hai người, Xảo và Trãi lững thững bước ra mỏm núi trước doanh trại. Lòng như dao cắt, Trãi ngần ngừ :

- Huynh biết chuyện về Xuyến chưa ?
 
Xảo lắc đầu :

- Sau khi huynh rời Ðông Ðô, đệ cũng phải đi ngay, chỉ cho người về báo với nhà rằng thế nào giặc  cũng về xục xạo. Gia đình đệ lánh đi, nhưng khi chạy đến Vĩnh Phú thì lạc mất Xuyến...

Nắm tay Xảo, Trãi nghẹn giọng :

- Xuyến ngược về nam, đến sông Cầu thì...chết đuối rồi !

Không kìm được, Trãi nấc lên từng chập. Xảo thẫn thờ, lẳng lặng ôm vai Trãi. Chập chùng, rừng núi Lam Sơn vây bủa một tiếng thổn thức chừng như không có gì an ủi được .

Trãi thảo xong hịch xưng Vương cho Lê Lợi thì vừa vặn Trần Nguyên Hãn đến Lam Sơn.  Lợi xem, đỏ mặt đưa cho Hãn, miệng nói :

- Thôi, hay là để ông xưng vương, Lợi này vốn dân dã, chẳng cam nổi đâu !

Biết là Lợi chỉ khéo mồm, Hãn cười ha hả :

- Nhà Trần chúng tôi công hầu khanh tướng đã hơn hai trăm năm, ăn lộc của thiên hạ thế quá nhiều rồi. 
Ông xưng Vương là hợp luật tuần hoàn, Hãn xin  vâng mệnh trời !

Nắm tay Hãn,  Lợi nói :

- Ðuổi giặc xong, thanh bình rồi ta cùng hưởng !

Hãn biết chuyện đấu cờ giữa Trãi và Xí, quay nhìn rồi hỏi thẳng :

- Này Trãi, chú định chém nó thật à ?

Trãi chỉ điềm nhiên mỉm cười.  Số là Trãi xưa đánh cờ với Băng Hồ tiên sinh từ lúc lên bốn.  Ðến sáu tuổi, mười ván, Trãi thủ hòa đến sáu.  Khi đó, Băng Hồ mất, nhưng cái tiếng cao cờ của Trãi đã đồn về tới Thăng Long.  Lợi nghe Hãn hỏi, chột dạ nhưng không biết phải hành xử thế nào, bán tín bán nghi nhìn.  Trãi kể vợ Xí đã đến khóc lóc xin mạng, bảo ‘‘ Nhà ông tha mạng cho nó, vốn đẻ ra đã lỗ mãng, lại cứ tưởng mình khôn ’’. Trãi bảo ‘‘...bà về nói ông đến đây, ba mặt một lời chứ nếu không tôi mang tiếng bỏ cuộc thi này ! ’’.  Hai hôm sau, Xí tới xin gặp, bẽn lẽn ‘‘...tôi mạo muội chót phạm thượng, nay đến xin với ông để khỏi làm con quỉ không đầu ’’. Trãi đáp ‘‘ Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy... ’’.  Xí cuống lên ‘‘ Thế nghĩa là thế nào ? ’’.  ‘‘ Nghĩa là lời nói đã nói ra, bốn con ngựa có đuổi cũng chẳng kịp.  Muộn mất rồi ! ’’.  Lúc ấy Xí  co dúm người lại, mặt tái bệch.  Trãi lại nhẹ nhàng ‘‘...Thôi, chỉ có đại đầu mục mới gỡ được ’’.  Xí gặng hỏi nhưng Trãi không đáp.  Ngay hôm đó, bọn Ðinh Lễ, Lê Sát, Lê Ngân... đều đến xin gặp, nhưng Trãi thoái thác vì công việc thảo hịch bộn bề.

Lợi nghe Trãi kể đến đấy, vội vàng hỏi :

- Tôi gỡ là gỡ làm sao ?

- Sau khi ra hịch, ngài là Vương.  Ngài có quyền sai khiến, lệnh cấm đánh cờ là xong.  Nhưng cứ lệnh mồm thôi không được.  Tôi đã thảo sẵn năm điều quân luật, xin ngài xét chuẩn.

Lợi đọc :

Lệnh cho các tướng hiệu và quân nhân :

- Cấm rượu chè, cờ bạc, trai gái làm huyên náo trong quân.

- Cấm đào ngũ, gây kinh động hão, bịa điều họa phúc làm dao động lòng quân.

- Cấm khi ra trận, nghe trống tiến quân mà dùng dằng không tiến, nghe trống dừng quân  mà cưỡng lại không lui.

- Cấm thả quân lính xâm phạm cướp bóc của dân.

- Cấm giết chóc hàng quân.  Cấm thả chúng để lấy tiền, hoặc che giấu theo tình riêng, không ghi vào sổ .

Ðọc xong, Lợi thở ra :

- Ðội ơn ngài đã tha cho Xí...  Nếu không, Lợi lại mất một tướng !

Ðúng vào lễ Trung Thu là ngày Lam Sơn phát hịch xưng Vương.  Dọc theo sườn núi, hàng dân lũ lượt rủ nhau, ai tay cũng cầm một cây đuốc.  Trên một khoảng đất vạt vào núi rộng có đến chục mẫu, nghĩa quân đã dựng thượng đài, trên sắp chỗ cho Lợi, Hãn, Trãi và đám người hội thề Lũng Nhai cùng một số võ tướng mới cùng Lam Sơn tụ nghĩa.  Lê Văn Linh được cử làm lễ quan, khăn đóng áo dài, đốt nhang vái trời khấn đất trong tiếng phèng la tứ phía nổi lên chào mừng.  Lúc trăng nhú ngang đầu, tiếng hò reo dội vào vách núi vẳng đến chín tầng mây.  Người người nay bật hồng đốt đuốc.  Nhìn từ xa, giải núi Lam thắp lửa chạy đến cuối mắt, chập chờn, hùng tráng.  Sau một hồi trống ngũ liên, Linh  dõng dạc hô  :

- Ðại đầu mục, họ Lê, tên Lợi.

Mặc áo thụng bằng nhiễu xanh, Lợi ra vái bàn thờ tổ quốc.  Vái xong, Lợi tiến lên vái tứ hướng, nét mặt trang nghiêm. Linh lại đọc:

- Ðệ nhị đại đầu mục, họ Trần, tên Nguyên Hãn.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #49 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 05:53:20 pm »

Hãn tiến ra, cũng làm như Lợi.

- Ðệ tam đại đầu mục, họ Phạm, tên Văn Xảo.

- Ðệ tứ đại nhân, hành khiển họ Nguyễn, tên Trãi.

Lê Văn Linh tiếp tục đọc tên mười tám người hội thề ở Lũng Nhai, nhưng khi đọc đến tên Xí thì không thấy Xí đâu.  Nhắc chuyện cây kiếm Thuận Thiên trời cho Lợi và những chiếc lá cây có đục chữ Lê Lợi vi quân, Linh mời Lợi lên cương vị chủ tế.

Tế cáo trời đất xong, Lê Lợi truyền hịch :

Ta,

Phát tích chốn Lam Sơn

Nương mình nơi hoang dã

Ngẫm thế thù há đội trời chung

Thề nghịch tặc khó cùng tồn tại

Ðau lòng nhức óc đã trải năm năm

Nếm mật nằm gai phải đâu một buổi...

Khi đọc đến câu cuối, hàng quân reo lên, tiếng động đến đầu nguồn sông Mã khiến chim muông cả bày vỗ cánh bay lên.  Nơi nơi, người ta ca hát.  Những bài hát giặm của Ðào Nương ở trại chè lại vang vang báo một thời đang trở dạ.  Dân các châu, các sách vật bò, thui trâu.  Rượu cần hàng vò mang ra để trên đất.
Quân canh bắt được Xí định đi trốn vì sợ cuộc cờ một còn một mất.  Họ mang Xí đẩy cho quì trước mặt Lợi.  Lợi bảo :

- Hành khiển đại nhân tha mạng cho mày rồi !

Nói xong, Lợi bắt Xí đọc năm điều quân luật, điều đầu tiên là cấm cờ bạc rượu chè.  Nhìn mặt Xí trắng bệch, Lợi thấy cần phải dặn thêm, ghé vào tai thì thầm :

- Này Xí, cứu vật vật trả ơn.  Cứu nhân, nhân trả oán.  Tao báo cho mày biết : ngày nào tao còn mà Trãi mất một sợi lông chân, ngày ấy tao giết cả nhà mày, nghe rõ chưa !

Nhìn vào mắt Lợi, Xí biết Lợi nói thật.  Bụng thót lại, Xí ra trước mặt Trãi xá ba vái.

Tin Bình Ðịnh Vương Lê Lợi đã lôi kéo được toàn bộ nghĩa quân các miền bay về đến Ðông Quan như có cánh.  Nay Phương Chính thay Lý Bân xử lý quyền Tổng Binh, cho vời tất cả đám quan sai lại.  Bọn Sơn Thọ, Mã Kỳ và Trần Trí chủ trương phải quyết liệt giáng một đòn vào đầu não nghĩa quân.  Tháng chạp năm Nhân Dần, phối hợp với quân Lão Qua tiến từ phía tây, Trần Trí và Mã Kỳ đem binh tập kích vào Quan Dạ từ phía đông bắc.  Gọng kìm hai phía xiết lại, nghĩa quân đối phó khá chật vật, tổn thất nặng nề.  Lợi ra lệnh lui về sách Khôi thuộc trấn Thiên Quan, một địa điểm nằm giữa Nho Quan và Thạch Thành.  Quân Minh truy kích ráo riết.  Nghĩa quân mở huyết lộ chạy về Chí Linh, mười phần chỉ còn ba.

Núi Chí Linh không cao nhưng rất dốc, thế rất thuận lợi cho việc phòng thủ.  Hai lần trước về Chí Linh, Lợi đã dự trù tích trữ sắn khô, khoai sấy, gạo, ngô phòng khi có biến.  Lần này, Trần Trí cho quân vây chặt dưới chân núi rồi án binh bất động.  Tham chính Lương Nhũ Hốt nịnh Trí, bảo ‘‘...đói tất đầu gối phải bò ’’.  Quả thế thật.  Ðến hết tháng thứ hai, nghĩa quân đói phải đào củ, ăn rễ cây, người nào người nấy mặt mũi xanh như lá rừng.  Qua tháng thứ ba, lác đác một vài người chết vì kiệt lực.

Nghĩa quân xì xào :

- Phải phá vòng vây…

- Phá làm sao ? Chỉ cái lỗ mồm… Phá được, đã phá rồi !

- Thế thì chết cả à ? Liều…cứ liều…

- Hờ hờ…Ðói đến chân tay bủn rủn…Liều thế nào ?

- Lạnh quá…Mùa đông năm nay lạnh thật !

- Không, lạnh vì đói đấy !  Hôm qua có một thằng bị đâm lòi ruột. Chỉ vì nó ăn một mình, không chia cho thằng anh ruột nó củ sắn nó đào được …

- Chẳng nhẽ chịu chết…Hay là trốn. Tao nghe giặc nó tha, không giết…

- Nhưng trốn mà không thoát, bọn Thiết Ðột nó có lệnh hạ thủ tại chỗ…Ba ngày trước, đã chém sáu thằng rồi…

- Rễ cây non cũng cạn, tìm cả ngày, ăn chưa lưng bụng đã hết !

- Vật voi vật ngựa mà ăn…

- Chết. Cấm đấy. Cũng tội chém…Giời ơi !

Trong quân, đào binh tìm cách trốn xuống núi ngày một nhiều.  Ngay bọn võ tướng như Ngân, Lễ, Sát cũng lặng thinh.  Bọn Lê Hào, Nguyễn Xí đòi gặp Lợi. Xí ngập ngừng :

- Thưa Vương công, xin hàng đi thôi...

Lợi quát, giọng run run :

- Bay muốn chúng chém đầu bay à ?

Hào quì xuống rập đầu :

-  Nếu không hàng, chẳng chóng thì chày cũng thành ma đói hết...

Ðêm trên núi cao, khí lạnh thấm như đâm kim vào xương tủy.  Ngồi cạnh đống lửa, Trãi vẫn lập cập run hai
tay thu vào trong tấm áo bông đã sờn rách.  Tin Hãn đến cứu, định đánh thủng vòng vây quân Minh, nhưng bị đẩy lui khiến nghĩa quân càng lao đao không còn biết tựa vào đâu.  Bỗng Lợi ở đâu tiến lại, im lặng ngồi xuống cạnh Trãi.  Hồi lâu sau, Lợi trầm ngâm, tay vê nốt ruồi trên má :

- Bây giờ phải làm gì ?

- Thưa Vương công, phải ăn !

- Ăn gì ?

- Voi, ngựa...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM