Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 06:21:16 pm » |
|
Tuân báo cho Trãi biết rằng Lê Lợi đã bỏ hẳn cái ý dùng tiền giấy và có ý vời Trãi vào giao cho việc viết ‘‘ Lam sơn thực lục’’, ghi lại từ đầu cuộc khởi nghĩa cho đến ngày đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi. Nghĩ ngợi một lát, Trãi nói :
- Trãi tuân mệnh. Chỉ xin các vị huynh đài nói với Hoàng Thượng cho Trãi này về Côn Sơn. Và để Trãi tự tại, đi đâu thì đi, ở đâu thì ở. Chữ nghĩa là thứ vô kiềm bất tỏa, nhốt vào chuồng tất chỉ thành thứ gà xù gà toi, cho bay cho nhảy may có thể thành chim bàng chim phượng !
Chẳng ngờ Trãi chỉ xin có vậy, Tuân mừng rỡ ra về, không hỏi tại sao Trãi lại dễ dãi đến thế. Ðiều này, con bé Ðỏ Mỏ không ngạc nhiên cho lắm. Nó thấy dạo sau này bác nó cả tiếng ngâm thơ, ha hả cười một mình, lắm lúc hứng chí đến độ ngả rượu ra độc ẩm. Lại có một cô gánh chiếu hôm nọ ghé qua để lại phong thư có hương bưởi phảng phất. Bác nó bóc ra xem, loay hoay viết đáp lại, rồi ngơ ngẩn cả ngày. Về Nhị Khê ngày giỗ cha, Ðỏ Mỏ kể cho mẹ nghe, đánh một câu :
- Mợ ạ, con chắc bác đang phát rồ. Nghe đâu bác nói với quan Thị lang xin cho bác lên Côn Sơn nữa.
Ðào Nương ngẫm nghĩ rồi mỉm cười. Hôm đó, Vành Khuyên cũng về nhà. Ánh mắt dò hỏi, Ðỏ Mỏ hỏi chị :
- Ðúng là bác phát rồ, chị nhỉ !
Lúc ấy, Ðào Nương khẽ lắc đầu rồi dịu dàng bảo :
- Chúng mày không biết được đâu ! Chắc bác chúng mày sắp lấy vợ đấy !
Lời Nguyễn lão thuật lại hôm ấy ám ảnh Trãi. Khi bước vào nhà, Trãi ngượng ngùng kể câu chuyện đám sinh đồ ghẹo Thị Lộ. Việc lẽo đẽo theo Lộ biến thành một nghĩa cử, và cái chuyện ghé vai gánh bó chiếu hóa ra hành vi xốc vác hào hoa. Trãi tò mò :
- Thơ làm sao hay thế... đệ cũng chịu !
Nguyễn lão khề khà :
- Con bé lên năm thì mẹ nó chết. Rồi anh chị nó lấy vợ lấy chồng ở riêng cả. Thế là gà trống nuôi con, chữ nghĩa tôi dạy nó, thì đến năm lên mười cháu đã thông cả Tứ Thư... Còn thơ, trời phú cho, biết thế nào ! Nhưng tôi cứ ngại...
- ...
- ...ngại cái khẩu khí. Một bữa trời mưa hai cha con dắt nhau đi qua cái cổng làng, đường trơn như mỡ. Cháu trượt chân ngã khiến đám trai làng vỗ tay cười như ong vỡ tổ. Ðệ có biết nó ứng khẩu thế nào không ?
- ...
- Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài.
- Tuyệt diệu !
- Thì hẵng... Nhưng là khẩu khí nam nhi. Trái khoáy như vậy, tôi đâm lo !
Từ dạo ấy, Trãi ngày ngày ra quán nước hàng Chiếu. Bà hàng đon đả, chào ông, ông sơi điếu thuốc. Nước hôm nay có vối, mát cổ. Cám ơn bà. Cho tôi cốc chè xanh. Tôi khát. Chẳng chỉ khát nước đâu.
...Thầy không nhận ra em, nhưng em nhận ra thầy. Mỗi lần thầy đến chơi với cha em, em có nhà thì em xuống bếp, thầy nào có thấy em đâu. Phận nữ nhi mà. Em không chua chát và cũng chẳng mỉa mai, sự thật nó thế. A không, có cho làm trai em cũng xin đừng. Người ta sinh ra phải đi đến cùng thân phận mình, dẫu là nam hay là nữ.
..Thầy ơi, thầy cứ ra ngồi nhìn em thế, em ngượng lắm. Lắm hôm nói, lưỡi cứ líu lại. Bây giờ, ai chẳng biết tại sao thầy ra đây ngồi. Thầy cứ bảo, thầy có quyền, ngồâi đâu là chuyện của thầy. Thế nhưng người ta cũng có quyền, miệng tiếng là miệng tiếng của người ta. Hay thôi, thế này... Thầy cứ đón em lúc tan chợ, đầu đê Yên Phụ ... Nhé, thầy nhé !
Em, em ngồi xuống đây. Trời vào thu rồi. Em xem, nhạn đã về. Mênh mang lưng chừng mặt hồ, khói thu từng lớp đùn lên xây thành. Gió thu lạnh thì em ngồi sát vào tôi. Sát thêm vào. Cho tôi ngửi hương bồ kết. Phải, có những mùi hương đánh thức kỷ niệm. Em bắt tôi phải kể. Thôi em ạ, nhỡ quá khứ khuấy động làm sóng như mặt hồ kia trong gió chiều khiến hiện tại đâm ra bấp bênh thì sao ? Hiện tại với tôi là em. Tôi không muốn làm vẩn động bất cứ gì. Không ! Em không bằng lòng ư ? Thế thì được, nhưng em biết cho, quá khứ đó cách cái hiện tại này mười tám năm rồi... ...Chuyện như thế, không nhắc em ngỡ đã quên đi. Cho đến lúc em lên năm, em chưa nói được một câu, cả nhà tưởng em là con câm. Mẹ em kể, thời đó chạy loạn vì quan nhà Minh là Hoàng Phúc truy lùng những kẻ giao du với Nguyễn Trãi. Lúc đó, nghe đâu Trãi ám toán Phúc và đã trốn. Cha em đào thoát, nhắn về, và thế là cả nhà tản cư vào ở ven sông Cầu. Ít lâu sau, cứ đến đêm là ai cũng nghe tiếng khóc. Rồi tiếng hát. Vâng, tiếng một người đàn bà. Lúc ấy, em còn bé, em sợ lấy hai tay bịt chặt tai lại. Hát gì ? Em không nhớ ! Em chỉ biết là nghe não nùng, thê thiết. Em bịt tai, nhưng không hiểu sao, tiếng khóc tiếng hát cứ vang vọng trong đầu. Cho đến một hôm, tiếng khóc tiếng hát bặt đi. Ai cũng bảo vậy nhưng sao em vẫn nghe thấy. Mẹ em bảo ‘‘ ...nó bị ma làm rồi ! ’’. Cứ thế. Cả mấy ngày liền, em vẫn bịt tai, vẫn nghe. Cho đến lúc em mê man thì bật miệng kêu. Ðó là lần đầu em nói được. Em gọi Trời ơi ! Và từ đó, em không còn nghe thấy tiếng khóc tiếng hát ấy nữa .
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 06:22:02 pm » |
|
Quỉ thần ư ? Kính nhi viễn chi. Kiếp trước hay kiếp sau ai biết được. Ta chỉ biết kiếp này. Em ơi, hạnh phúc nằm trong từng cái nhỏ nhoi -...Lại lời Xuyến đấy, thầy đã nói cho em nghe một lần rồi, thầy ơi !
Nhưng bây giờ là em, bằng xương bằng thịt. Thu tàn, lá rụng đã gần hết rồi. Em ngồi sát, sát nữa vào. Những chiếc lá trên mặt hồ đong đưa thế gian. Ta sợ. Ðêm qua nằm nghe mưa rơi, ta nhớ em...
- Nhớ em, hay nhớ Xuyến ?
Nhớ em. Chỉ có em, là hiện tại của ta. Yêu một người, khó vô cùng. Yêu non sông xã tắc dễ hơn vì tình yêu đó trừu tượng. Nó được gạn lọc qua chữ nghĩa thánh hiền, biến thành một thứ thần quyền dính dấp u mê. Mà đã u mê, còn gì là ý thức. Không ý thức, làm sao có tự do ?
- ...Thế yêu một người, là thế nào ? Lộ hỏi, giọng hờn dỗi.
Trãi nhắm mắt. Giả thử không có Thị Lộ ở bên, cả nhân thế này bỗng trống tênh. Giữa cái mênh mông vô nghĩa đó, chàng chỉ muốn tan biến đi, mãi mãi, tan biến không cách cứu vãn hay đảo ngược được. Nắm bàn tay Lộ áp lên môi, nước mắt Trãi ứa ra. Một lát sau, Trãi thủ thỉ :
- Là thế nào ư ? Ta là em. Và Em cũng là ta !
Ôm lấy đầu Trãi áp vào ngực, Lộ cũng khóc. Trãi rúc vào hít thở mùi da thịt nồng nàn, chòm râu bạc áp lên lồng ngực Lộ săn lại rồi cứng lên đáp mời ve vuốt. Vòng tay gỡ vành khăn, giải tóc Lộ rơi xuống. Giải thác ấy chảy vào mặt vào mũi Trãi, mang theo mùi hương bồ kết, lẩn vào mớ tóc bạc mơ hồ vết tích thời gian.
Hôm ấy, Trãi đưa Lộ vào nhà. Nguyễn lão reo :
- A, đệ đấy à ?
Trãi biết mình phải nói ngay, nói hết. Chàng nuốt nước bọt, nhìn thẳng vào mắt Nguyễn lão, chậm rãi :
-Huynh thứ cho ! Ðệ phải lòng Thị Lộ từ mấy tháng ròng. Nay xin với huynh...
Không ngờ Nguyễn lão cười ha hả :
- ...xin làm giai tế ta chứ gì ? Ta biết, biết ngay từ hôm đệ gánh mớ chiếu về đây...
Hóm hỉnh, Nguyễn lão tiếp :
- Thế bây giờ xưng hô thế nào ?
Lúc ấy, Lộ trốn xuống bếp nhưng thập thò nhìn qua khe cửa. Một Trãi xưa đi gặp đủ loại tướng tá giặc Minh, nổi tiếng là trầm tĩnh và khéo thuyết phục, nay miệng cứ cứng ra. Nguyễn lão vỗ vai Trãi kéo xuống:
- Này... tóc bạc thì dùng Hà thủ ô. Còn như cái... kia, ta có bài thuốc hay lắm. Lấy mật khỉ sơ sinh rồi hòa ra với đá khơi dương thì biết đâu sang năm ta lại chẳng có cháu ngoại để ẵm để bồng. Ha ha, tuổi ta cao, sớm ở tối có thể về. Lộ có người nương tựa, ta mừng... Thế nhé...
Ðêm hôm đó, Trãi ngủ lại nhà cha con Thị Lộ. Chàng không say như lần đầu ở đây, thao thức với tiếng gió và mùi hương của cây chuối cạnh cửa sổ. Hôm sau, Trãi trân trọng đưa vào tay Thị Lộ một bài thơ.
Bén hơi xuân, tươi tốt liền
Ðầy buồng lạ
Mầu thâu đêm
Tình thư một bức phong còn kín
Gió nơi đâu
Gượng mở xem
Ði dọc hành lang dẫn vào điện Cần Chính, Trãi nhủ lòng, rằng dẫu gì thì cũng phải nghĩ đến Thị Lộ. Từ sau Tết, Nguyễn lão yếu dần. Tối hôm rằm tháng giêng, Nguyễn lão đòi gặp Trãi. Nắm lấy tay, Nguyễn lão thều thào :
- Thế là sắp xa nhau rồi. Ðệ lo cho Lộ, ta an lòng. Ði đi ! Chốn quyền thế lắm hùm beo, con bé lại ương ngạnh như nam nhi...Phức tạp lắm !
Trãi đáp cho Nguyễn lão xuôi lòng. Khi gà gáy canh ba, chàng vuốt mắt cho Nguyễn lão rồi ôm lấy Thị Lộ. Ghìm tiếng nấc, nàng cắn răng, thỉnh thoảng lại hộc lên nỗi đau đớn biệt ly. Dẫu rồi phải đến, sinh diệt vẫn là cái qui luật quái ác nhất con Tạo bày ra để thế nhân không thể quên cái hữu hạn và sự nhỏ nhoi của mình.
Ðến cuối hành lang, Trãi ngần ngừ, nhắc thầm, rằng phải đi, đi cho xa. Ðược lệnh, Trãi bước vào, sụp gối quì lạy. Trên chiếc ngai, Lợi ngồi dựa đầu, đưa tay làm dấu cho Trãi đến gần. Hơn một năm không gặp, Lợi gầy rộc đi, da tái mét, má lõm vào khiến cặp mắt như lồi ra. Lợi lên tiếng :
- Lâu rồi, nhìn ông thấy ông trẻ ra. Lại nghe ông mới lấy một người thiếp, ta mừng cho ông.
Trãi rập đầu :
- Muôn vàn đội ơn Hoàng Thượng, quả có thế thật !
- Quan Thị lang Nguyễn Mộng Tuân cho ta biết là ông muốn rời nhà về Côn Sơn ?
- Tâu Hoàng Thượng, đúng vậy ! Và thần cũng xin được tự do đi đây đi đó...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 06:22:49 pm » |
|
Giọng cau có, Lợi ngắt :
- ...để làm gì ?
- Tâu Hoàng Thượng, nước ta nay lấy lại từ tay giặc, ít là ta phải biết ta có gì, ở đâu, sông núi thủy thổ thế nào. Cho đến nay, chỉ có bọn thổ quan và thuế quan ghi chép, rõ là chẳng có hệ thống gì, lung tung cả. Thần đi, để viết tập Dư Ðịa chí. Ðồng thời, lại có thể tìm hiểu tâm tình hàng dân, để lại chút phong hóa cho đời sau...
Gật gù, Lợi ngẫm nghĩ rồi hỏi :
- Thế, cũng được. Dư Ðịa chí quả là cần. Còn dân tình, ông phải trình vào Hoàng cung, qua Viện Nội Mật trước đã. Từ hai năm nay, ta ở ngôi cao, xa dần bọn lê dân, lúc nào cũng thấp thỏm. Dân không yên, thì ngôi vua không vững... Thế bao giờ thì ông viết xong Lam Sơn thực lục ?
Trãi ngần ngừ rồi thưa :
- Hạ thần về Côn Sơn, chỉ độ một hai tháng là xong !
- Ta định về Lam Kinh bái yết sơn lăng cuối mùa xuân này. Liệu có kịp không ?
- Tâu Hoàng Thượng, kịp !
- Ta nghe ông bảo, chữ nghĩa cho bay thì hóa ra chim bàng chim phượng, phải không ?
- Dạ, đúng vậy. Còn nhốt lại thì quá lắm cũng chỉ là gà, là vịt...
Lợi chau mày, nhìn lên trần, thốt :
- Ðúng vậy ! Ta sai Ðào Công Soạn viết. Hà, hà, đống chữ đúng là một đàn gà toi... Dẫu dốt như ta mà còn biết, hà hà...
Chưa biết nói gì, Trãi thấy Lợi đổi giọng, nói như than :
- ...mà này, ông may hơn ta nhiều. Ngồi lên ngai vua rồi lúc nào cũng nơm nớp, chán lắm. Ông xem ta bây giờ, mười phần sút đi đã sáu, bảy... Ðêm đêm, cái oan nghiệp kia lại về đòi nợ...
Nghe Lợi buột miệng, Trãi biết Lợi nói thật. Mủi lòng, Trãi định an ủi. Nhưng kìm lại kịp, Trãi chột dạ nhớ rằng không một thứ quyền lực nào chấp nhận sự thương xót. Nó đồng nghĩa với khinh khi. Và khinh khi, là vì yếu đuối. Nếu thế quyền lực không còn. Nó tự phủ nhận, và chính lúc đó là lúc những kẻ có quyền lực nổi cơn điên lên vì sợ hãi.
Trãi lạy tạ rồi giật lùi đi ra. Ðến cửa, Lợi gọi giật lại dặn :
- Này, ông đi đến đâu thì khai báo với quan nha địa phương để hễ có việc, ta còn gọi về.
Trãi lại cúi đầu vâng mệnh. Chàng thừa biết bây giờ màng lưới của Nội Mật Viện đã giăng khắp nơi, từ làng xã đến phủ huyện. Ấy, thế mà Lợi vẫn sợ. Thì ra, không sợ là thuộc tính của những kẻ không có gì để mất. Chàng nay có Thị Lộ, chàng đã biết sợ, sợ thật tình.
Một tuần trăng sau, trên đỉnh dốc lên Côn Sơn, Thị Lộ không biết nghĩ gì mà buột miệng bảo, thầy nó ơi, làm thế nào mà ta đi luôn. Ði để khỏi dính dấp gì đến những chuyện nhân gian dưới kia tít tắp.
Chống tay vào thành giường, Lê Lợi nhỏm dậy, tay chỉ chiếc ống nhổ. Thái giám Ðinh Hối vội vã cầm, hai tay dâng lên, đầu vẫn cúi gầm xuống. Lợi hỏi :
- Quốc Vương nói gì ?
- Muôn tâu Hoàng Thượng, Vương thưa rằng Ðèo Cát Hãn xin qui phục, cho con trưởng là Mạnh Vượng về Kinh dâng biểu...
- Hừ... Gọi Tư Tề vào cho ta. Gọi ngay !
Khoảng hai khắc sau, Tư Tề đã vào hậu điện Kính Thiên phụng chỉ. Theo chân Ðinh Hối, Tư Tề rón rén vào đứng cạnh giường. Vẫn quay mặt vào tương, Lợi lên tiếng :
- Ðánh đấm ở châu Phục Lễ ra sao ?
- Tâu Phụ Hoàng, Thái bảo Phạm Văn Xảo chốt quân, vây rồi báo Ðèo Cát Hãn. Hãn không kháng cự, xin gặp...
- Gặp ai ?
- Gặp Xảo. Và hàng...
- Mi có đó không ? - Tâu phụ hoàng, không !
- Thế chúng nói gì với nhau, mi không biết ! Hừm... Lỡ là trá hàng thì sao ?
Tư Tề ấp úng :
- ...Hãn cho con là Ðèo Mạnh Vượng về Kinh, không thể trá hàng được !
Lợi cười khẩy :
- Thế à ! Trong muôn loài, mi có biết có giống nào cha ăn sống con không ? Thấy Tư Tề lúng túng, Lợi lại hừ lên rồi tiếp - ...thiếu gì, cá trắm chẳng hạn... Mi có biết rằng xưa Thái Bảo cầm quân ở Phục Lễ, đối với Ðèo Cát Hãn có tình cố cựu không ?
- Tâu phụ hoàng, biết !
Gầm lên, Lợi chồm dậy quát :
- Thế sao mi, là chủ tướng, lại mặc cho chúng nó điều đình riêng tư với nhau ? Cút, cút ra ngay !
Thở hổn hển, Lợi xua tay, mặt tái bệch. Hai tháng sau, Lợi để Nội Mật viện hỏi tội Xảo rồi hạ ngục. Trịnh Hoành Bá cùng Lê Quốc Khí một tối đến nơi giam Xảo. Bá nói :
- Triều đình đã nghị tội Thái Bảo rồi !
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 06:23:51 pm » |
|
Xảo quắc mắt :
- Ta biết tội ta rồi, hệt như tội Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn khi xưa... Bọn Nội Mật viện chúng bay, bay có biết rồi bay sẽ ra sao không ?
- ...
- Ta vô tội, như Trần Nguyên Hãn, như Lưu Nhân Chú... Cho nên sớm muộn, bay sẽ mang cái tội tấu gian, bẩm dối khiến Hoàng Thượng lầm mà bắt chết công thần... Ha ha ha...
Trịnh Hoành Bá hai tay dâng lên một giải lụa bạch, ngập ngừng :
- Hoàng Thượng để Thái Bảo chết toàn thân !
Xảo tiếp :
- ...sẽ đến lượt chúng bay. Cái ngữ chúng bay thì lắm lắm, tìm đâu lại không ra !
Quả như lời Xảo, đến tháng một, khi đích thân Lợi dẫn quân vào châu Phục Lễ thì cả bọn Trịnh Hoành Bá, Lê Quốc Khí... đều bị thích chữ vào mặt rồi đuổi ra Diễn châu làm phu dịch. Ðèo Cát Hãn ra hàng, về Kinh và được phong làm Tư Ðồ. Nhưng ba tháng sau, vào tháng hai năm Nhâm Tí ( 1432 ), Lợi sai giết Ðèo Cát Hãn rồi đem đầu bêu ba ngày ở chợ. Ðèo Mạnh Vượng trốn về Phục Lễ, nhưng khiếp nhược đến độ không còn giữ nổi ý chí phục hận báo thù. Quốc Vương Tư Tề cũng hoảng sợ, tìm đường trốn về Thanh Hóa. Bị bắt lại, Tư Tề run như cầy sấy khi bị điệu vào điện Kính Thiên. Quì xuống lạy, Tư Tề không dám ngửng lên. Lợi nay xanh xao, tay ông bụng nhăn nhó đau, chửi :
- Mi ngu như con chó ! Ta có phải là cá trắm đâu mà trốn !
Dứt lời, Lợi thầm nhủ, để nghiệp vào tay thằng này sớm muộn cũng mất. Nhìn Tư Tề run rẩy, cơn bực bội lại ùn lên. Lợi kìm lời, nhưng lòng đã quyết. Ðó là lần cuối cùng Tư Tề gặp riêng một mình Lợi. Ðó cũng là lần đầu Lợi bớt đau bụng, và ban đêm Ngọc Trần thôi không hiện về trêu chọc nữa. Từ hôm đó, Lợi cho Nguyên Long vào ở cạnh mình. Thằng bé năm nay đã mười tuổi. Chẳng kiêng nể ai ngoài cha mình, Long suốt ngày đùa nghịch với bọn quan hoạn, bắt chúng làm lừa làm ngựa, cưỡi lên lưng rồi lấy roi quật vào mông, la thét đánh đập luôn tay. Bọn nho sĩ đến dạy Long học cũng bị hành hạ như đám hoạn, hết người này đến người kia, ai cũng cứ dăm bữa nửa tháng là xin thôi. Nhưng tất cả đều giấu Lợi.
Cho đến nay, Hoàng Thái tử vì thế vẫn chỉ đọc được có đúng một câu ‘‘ Nhân chi sơ, tính bản thiện’’ rồi phá lên cười ằng ặc.
Vun đám cỏ dại vào một bên, Trãi bật hồng thắp một bó nhang, xoay tay vung lên trời cho lửa tắt. Cắm vào chiếc bát hương phía mặt tiền ngôi mộ ông ngoại, Trãi vái ba vái, kéo áo the rồi quì cạnh Thị Lộ. Trên cái án thư trước mặt hai người là tập Băng Hồ di sự lục do Lộ nắn nót chép từ bản thảo của Trãi. Sau khi trước tác Lam Sơn thực lục, kể lại nguồn gốc Lê Lợi và cuộc kháng chiến chống Minh, chính Lộ đã thúc cho Trãi viết lại cái mảng sử thời Trần rồi thời Hồ, qua hai người gần gũi nhất là Trần Nguyên Ðán, ông chàng, và Nguyễn Phi Khanh, cha chàng. Lùi khỏi thế cuộc, Trãi nay nhìn lại quá khứ với cặp mắt khách quan và chừng mực, hiểu cái qui luật thời thế và cảm thông cho những con người muốn xoay vần rồi rút cục bị nghiền nát dưới bánh xe lịch sử. Ông ngoại cuối đời bất lực, phải gả bán làm sui gia với họ Hồ, mục đích bảo vệ đám con đám cháu. Cha thì chân ướt chân ráo làm quan triều Hồ khi tóc đã bạc, chưa thi thố được gì đã phải đào vong rồi bị đầy đi biệt xứ, đến nay thân xác vẫn còn nằm dưới ba tấc đất quê người. Ngẫm đến mình, Trãi chạnh lòng, bùi ngùi nhìn xuống đám cỏ dại dưới chân. Như đoán được, Thị Lộ nắm lấy tay Trãi, se sẽ kéo vào lòng mình. Ðánh tan cái không khí trầm mặc dễ khiến động lòng, Lộ hỏi :
- Ðến lúc hóa vàng rồi nhỉ ? Thầy giúp em...
Nhìn ngọn lửa cháy lém thếp giấy cong queo trong gió, Trãi buột miệng thở dài. Một kiếp người, là thế đấy ư ? Nhìn xa, trông rộng, trên vai gánh vác trách nhiệm Tể Tướng một triều đại, ông ngoại chàng nay vùi dưới ba tấc đất kia. Và bất lực, cả khi sống cũng như lúc chết. Ðám hậu duệ dòng dõi nhà Trần thất tán sau khi Trần Nguyên Hãn bị bức tử, nay đổi họ thay tên. Còn chàng, cháu ngoại, cũng về Côn Sơn này, bị gạt hẳn ra chốn thế quyền nay là một tập hợp bơ vơ đi tìm chỗ đứng, chao đảo hỏi mình là ai ? Nghịch lý thay, câu trả lời không cần thiết khi trước mặt có kẻ thù ngoại lai đối kháng. Nhưng lúc đã thu về một mối, quyền lực bỗng sững sờ, loay hoay tồn tại bằng cách tạo ra những kẻ thù giả tạo, đánh đấm cái bóng của chình mình trong những cơn thất thần mê hoảng. Và rồi, kết cục, chính những kẻ chiến thắng nhìn qua ải Phá Lũy, Chi Lăng để bắt chước rập cái khuôn nhà Minh và trở thành chính những kẻ ngoại lai mình đánh đuổi. Dưới cái chiêu bài độc lập, ốp vào như một niềm tin tôn giáo, và lòng yêu nước tưởng tự nhiên đến độ không ai có quyền tra vấn, họ nhắm mắt xông lên trong chiến tranh, bất chấp mọi hy sinh và đổ vỡ. Nhưng từ tro than để lại từ một cuộc chiến, những kẻ chiến thắngï đã xây dựng được gì ? Và đã làm gì, nhất là cho những người đã nằm xuống ?
Thị Lộ như đoán ra, bĩu môi, giọng có chút hờn dỗi :
- Ðấy, thầy lại vẩn vơ rồi. Quên đã hứa với em thế nào à ?
Giọng giả vui, Trãi đáp :
- Nào, đâu có gì ! Nhìn vào đôi môi Lộ đỏ áy quết trầu, Trãi tiếp - quên thế nào được ! Tự nhiên, thấy mủi lòng khi nhớ tới ông thôi...
- Thầy lại lỡm em ! Thế tuần trăng trước, ai viết Bui một tấm lòng ưu ái cũ Ðêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng nào ?
Trãi đỏ mặt, ngượng ngùng. Giọng bỗng trầm xuống như một lời than vãn, Thị Lộ giả bâng quơ, nói :
- Thân đàn bà nhỏ nhoi. Còn giang sơn kia thì to rộng. Nhỏ, giữ được, làm vợ cho mình. Còn như to rộng, chẳng thuộc về ai... Có giữ chăng là cái ảo tưởng về mình mà thôi !
Buổi trưa hôm đó, hai người lên am Mây. Nhìn qua mỏm phía đông, mái chùa Tư Quốc, nơi quàn nhục cốt sư tổ đời thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, nhô lên khỏi chóp núi, chơ vơ trong những cơn gió đã chớm hơi se sắt buổi đầu thu. Trãi rủ Lộ đến thắp hương cho sư, nhưng nàng lắc đầu, ngồi đợi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2011, 06:24:39 pm » |
|
Khi bóng Trãi đã khuất sau dốc núi, Lộ đưa tay lên vờn bắt những đám mây bay ngang vai. Chụp vào trống không, Lộ hiểu cái nhìn thấy không lúc nào cũng nắm bắt được. Nàng mỉm cười một mình. Thấm thoát, nàng đã cùng Trãi lên trên đỉnh Côn Sơn này ngót nghét một năm. Ngày ngày, nàng chép lại bản thảo Trãi viết, chữ tháo đến độ đôi khi chính Trãi đọc không ra. Không chỉ chép, nàng còn luận bàn, khi đồng ý, khi phản bác. Nhưng sống với một thiên tài, không dễ. Có những điểm Trãi bung ra bay bổng, phóng khoáng chấp nhận những điều đi ngược lại cái rào cản của những giá trị đã hằn vết trong tâm thức. Chẳng hạn như câu ‘‘ Xuất giá tòng phu. Phu tử tòng tử ’’. Trãi nhận vế đầu, nhưng lại coi vế sau như một thứ luân lý vô nhân, bảo ‘‘...nàng nghĩ xem ! Chồng chết năm hai mươi, sống thêm hai ba mươi năm, phải nhịn hết để mà ‘‘ tòng tử ’’, trong khi con người là con người, có những đòi hỏi sinh lý tự nhiên... Càng kìm hãm, càng ép buộc, càng đưa con người đến dối trá lọc lừa ’’. Nhưng quái thay, ngược lại, cũng có những luận điểm Trãi co cụm bảo thủ. Chẳng hạn ‘‘ Quân, thần, phụ, tử ’’ là cái hệ thứ bậc nói thế nào Trãi cũng một mực bíu vào. Lộ trì triết việc Lê Lợi giết Hãn và hạ ngục Trãi. Buột miệng, Trãi đáp : Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn. Dường ấy lòng ta đà phỉ nguyền
Lộ nhẹ nhàng bảo, cái thời Ðường, Ngu đó là ảo tưởng. Vua hiền, dân lương đến mức thấy vật rơi không lấy, cửa nhà không cài mà chẳng lo, là chuyện đời trước bịa ra. Trãi mím miệng không đáp, lẳng lặng cúi xuống những trang sách dở dang.
Trãi quay lại tìm Lộ lúc nắng bắt đầu ngả. Nép vào vai chồng, Lộ nắm tay, nũng nịu ‘‘ ...thầy bỏ em một mình, không sợ quỉ kêu ma bắt em à !’’.
Buổi tối hôm đó, Lộ gội đầu. Ðơm củi vào bếp, mùi hương thông thơm lừng căn nhà ba gian lặng lẽ dưới ánh trăng vằng vặc. Lộ tiếp cho Trãi ăn, như một người mẹ, một người chị. Rồi Lộ rót rượu, bảo :
- ...thầy ơi, lẽ ra thầy chỉ nên là một nhà thơ ! Ghì Lộ vào lòng, Trãi hít mùi bồ kết trong tóc, khẽ ngâm nga, ‘‘ Cổ nhân bỉnh chúc dạ du, hương hữu dĩ dã ’’, lời nhà thơ Lý Bạch ý bảo người xưa cầm đuốc chơi đêm là biết sống.
- Thầy làm cho em một câu bằng tiếng Nôm ta đi...
Ngẫm nghĩ, Trãi đọc : Cầm đuốc chơi đêm, câu người dặn Tiếng chuông chưa gióng, ắt còn xuân
Cười khúc khích, Lộ chúi mặt vào lòng Trãi, bảo ‘‘...đêm nay tròn trăng đấy! ’’như nhắc nhủ. Ðêm đó, Trãi đổ ra cho Lộ tất cả cái sinh lực đàn ông, nhận lại từ Lộ nỗi đam mê đồng thiếp của một cơ thể căng ra chín mùi, bần bật sự sống bão táp đến với những làn sóng của cơn địa chấn thịt da. Lộ rên rỉ «... Giời ơi là giời ! Em chết mất ! » Giời ơi là giời ! Em chết mất ! Ðó là tiếng kêu hoan lạc Trãi đã nghe trong giấc mơ đi với Xuyến đến một cái sân đình trai gái từng cặp quấn quít lấy nhau, thuở chàng còn ngậm lời ở trại chè ven sông Lam. Chàng hiểu, như chuyện hiển nhiên, chết được trong niềm hoan lạc là điều vô cùng hạnh phúc.
Sáng sớm sau, Trãi thức giấc thì Lộ không còn bên cạnh. Trên án thư, một tờ giấy hoa tiên có dăm chữ viết vội, và cả thế gian bỗng loãng ra, trống vắng đến mênh mông. Trãi ôm đầu, miệng bật lên ‘‘ ...Lộ em ơi, tại sao vậy ? ’’. Trãi lẩm bẩm hỏi đi hỏi lại một câu hai ngày liền, không ăn không ngủ, thậm chí không còn biết đến gì ngoài cái tê điếng của một sự mất mát chẳng có chi đền bù được. Chàng ngồi yên một chỗ, bất động như tượng tạc bằng đá nham cương, trơ trọi trên đỉnh Côn Sơn mây phủ, thỉnh thoảng chỉ đâu đó dăm tiếng chim lạc đàn. Sống hay chết đây ? Không, phải tìm, có thể là đi lại từ bước đầu, thực chứng sự có mặt của mình. Nó chính là sự ràng buộc của mỗi người vào cuộc đời qua tình yêu, điều duy nhất mang toàn vẹn ý nghĩa của sự sống. Quơ tay lấy con dao quắm, Trãi dơ lên nhìn, ngẫm nghĩ rồi nghiến răng đâm vào đùi. Máu ứa ra nhỏ ra thành giọt rơi xuống nền nhà. Nỗi đau cắt da khiến chàng bừng tỉnh. Chàng đứng dậy khập khiễng lê bước ra nhìn xuống phía dưới đồng bằng. Không có Lộ, chàng chẳng còn chút gì ràng buộc với cái đỉnh Côn Sơn chơ vơ này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:05:10 pm » |
|
Chương 9 ÐỊNH NGHIỆP Ra đến bờ sông, Thị Lộ mới cảm thấy cái lạnh ẩm buốt đầu đông thấm vào người. Tay run rẩy thắp ba nén hương cắm vào nắm cơm để cạnh một quả trứng luộc, dăm cái oản và một nải chuối ngự, nàng chắp tay nhắm mắt lại. Khói hương bay lên uốn lượn, tỏa ra rồi loãng dần trong không, chỉ để lại mùi trầm thơm ngát một khoảnh đê trườn theo dòng nước. Chim trảo trảo từ phía bắc hàng đàn bay về. Chim sà xuống kiếm mồi nơi mực nước còn thấp dưới chân đê . Chúng lông đen, nhưng không to như quạ, mỏ vàng nhạt nhọn hoắt, kêu từng tiếng quang quác như cãi vã nguyền rủa lẫn nhau. Gió ở đâu về đẩy hàng lau mọc trên đất bùn dạt xuống trồi lên, dập dềnh uốn theo chiều thổi bất chừng lúc dọc lúc ngang. Chị phù hộ, chứ cứ thế thì rồi thầy sớm muộn lại mắc vào cái bẫy thế cuộc. Em từng nghe thầy nhắc lại lời chị khi xưa, đừng chỉ lo chuyện đại sự, hạnh phúc trong từng cái nhỏ nhoi. Em nghĩ, đại sự cho một đời người chính là hạnh phúc của người đó. Giản dị thế, nhưng tại sao thầy không hiểu nổi ? Chị phù hộ cho thầy, vạch lối chỉ đường để thầy biết rằng thế cuộc như bọt nước, ao bèo, chớp mắt là chìm, chớp mắt là nổi, trong khi đời người thì là một thoáng phù du... Ðời người, một thoáng phù du. Thị Lộ nhắc đi nhắc lại, tay nắm chặt vào nhau như níu lại một cái gì vuột qua trôi chìm tăm tích. Rời Côn Sơn, nàng ghé vào Nhị Khê, xin với Ðào Nương lên thắp hương mộ tổ. Ngạc nhiên, Ðào Nương hỏi, vỡ lẽ là Lộ trên đường đi sông Cầu. Lộ bảo ‘‘...tôi về thăm họ hàng ! ’’ rồi không nói gì thêm. Hai hôm sau, Lộ lên đường, mặc dầu bọn cháu gái cố giữ lại, kêu ca ‘‘ ...lâu mới gặp bác, bác vội gì ? ’’. Ðỏ Mỏ và Vành Khuyên rất quí Thị Lộ, một phần vì tuổi tác chênh lệnh không nhiều, một phần vì Lộ giỏi thi văn, thích giễu cợt, làm thơ nhạo cả vua, quan lẫn ông sư, bà vãi. Về lại căn nhà của tuổi thơ, Lộ ngẩn ngơ nhìn hàng dậu bìm leo xiêu vẹo, hồi tưởng lại thuở gia đình chạy loạn đến bến sông Cầu. Thuở còn có mẹ. Thuở còn đủ chị đủ em. Thuở Nguyễn lão ngày ngày đi đánh dậm, tối về khêu đèn dạy cho đàn con dăm chữ vỡ lòng. Thuở nàng còn là con bé câm, muốn nói nhưng thanh âm tắc nghẽn cần cổ, đông đặc như kẹo mạch nha ở cuống họng, để chỉ cho bật ra những thanh âm ú ớ. Cho đến một hôm, cha kể, cái tiếng hát xé lòng giữa một đêm đông cất lên. Và từ đó nàng mới nói được. Nghe, rồi nàng quên. Cuộc sống rải rắc những tình cờ trùng hợp, làm sao mà tiếng hát kia khiến cho nàng, con bé câm, thốt được lên lời. Nhưng khi về ở với Nguyễn Trãi, nghe cái tâm sự của người chồng kể lại câu chuyện bên bờ sông Cầu, nàng mới giật mình. ‘‘ Thầy ơi, câu hát trên dòng sông... hát thế nào ? ’’. Trãi nghẹn giọng thầm thì ‘‘...chèo quơ nước ngược chuyến đó ngang ’’. Lạy chị, chị phù hộ. Nước ngược, đò ngang. Kẻ sang sông xưa chở huyễn hão đổi đời. Nhưng rồi thầy đã làm. Làm xong, người ta hạ ngục. Về Côn Sơn, thầy vẫn khắc khoải. Em nhắc, nhưng thầy lẳng lặng không nói gì nữa. Em bảo, thầy ơi, thế cuộc là phù du. Xưa đuổi giặc, ai cũng một lòng. Nay giặc ở chính trong lòng người, nào ai muốn đuổi. Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn là huyền thoại. Và phải là thiên tài mới tin vào và sốâng được với huyền thoại... . Thị Lộ bỗng giật mình. Tiếng chí chóe đâu đây vẳng lại, mỗi lúc một gần. Nhìn về phía sau, Lộ thấy một người, tay nải, lưng bị, trên vai có một con khỉ lông vàng. Thấy Lộ, người ấy đứng lại nhìn sững sờ, mồm mấp máy. Người lạ nói như nói một mình ‘‘...có phải là người xưa ? ’’. Ðúng, cũng cái khóe mắt có ánh hoang dại. Cũng cái miệng khẽ nhếch lên, nửa như cợt đùa, nửa như khiêu khích. Lộ khẽ gật đầu chào người lạ. Ông ta hỏi, giọng có chút ngần ngại ‘‘...bà người ở đây ? ’’. Lộ lắc đầu. Ba cây hương đã tàn. Lộ lẳng lặng châm lửa hóa vàng. Gió rít lên, lửa bắt phừng phực cháy, tàn bay ra sông như một đàn đom đóm. Con khỉ lông vàng sợ, kêu rồi rúc vào nách người lạ. Thình lình, ông ta nghe, cũng một giọng hát xé lòng ngày xưa. Ông ta hỏi, nhưng Lộ lại lắc đầu. Nàng không nghe thấy gì. Và nàng cũng không biết người lạ kia là Lý Tử Cấu, kẻ đã chứng kiến cái chết của Xuyến hai mươi năm về trước. Lợi uể oải ngồi lên, áp lưng vào tường rồi thở ra. Dẫu đã hết đau bụng được gần nửa năm, Lợi vẫn không ăn được, miệng lúc nào cũng nhạt thếch. Lợi sống là nhờ nước sâm, hổ cốt, nhung nai, mật gấu do đám ngự y cắt bốc mỗi ngày. Nay, Lợi để Nguyên Long ở cạnh mình, trước là để bớt phần nào cô đơn, sau là có dịp dạy dỗ một ông hoàng trái nết, chẳng biết kiêng nể gì ai.Vẫy tay gọi Nguyên Long, Lợi hỏi giọng nhẩn nha : - Mi nhớ ta dặn gì hôm qua ?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:05:52 pm » |
|
Nguyên Long đến cạnh giường, cúi đầu :
- Thưa cha...
- Không, thưa phụ hoàng. Phụ là cha, hoàng là vua...
- Thưa phụ hoàng, phải giữ lấy Ðế nghiệp của giòng họ.
- Ðược ! Muốn là Ðế là Vương thì phải xưng hô như Ðế, như Vương. Giữ Ðế nghiệp là giữ thế nào ?
- Thưa phụ hoàng, Ðế nghiệp trên cái ghế, ghế phải vững, số chân phải đủ...
- Bao nhiêu chân thì ghế vững, thế nào gọi là đủ ?
- Ba chân là đủ vững. Bốn thì thừa. Thừa thì không vững...
Lợi có vẻ hài lòng, với tay lấy tráp, quệt vôi rồi bỏ trầu vào miệng, nhai tóp tép. Thấy vậy, Nguyên Long định chân trước chân sau lui ra. Lợi giật giọng :
- Tại sao bốn chân lại thừa ?
- Thưa phụ hoàng, cái nọ xô cái kia, tất mặt ghế chông chênh.
Nhổ bã trầu vào ống nhổ, Lợi lấy khăn chấm quết trầu đỏ lè trên mép, hắng giọng :
- Ðược ! Nhưng có ba chân, vẫn có cái nọ xô cái kia. Thế thì vững phải thế nào ? Ðiều này, ta chưa dạy mi. Cho mi nghĩ. Rồi tối nay trả lời ta, nghe chưa ! ’’.
Nguyên Long rập đầu, nhìn Lợi phẩy tay cho phép lui ra. Nó đi giật lùi, nhưng vừa đến cửa là tếch chân sáo, một mạch chạy ra vườn Ngự Uyển. Dăm đứa hoạn quan tuổi chạc đôi mươi đã trực sẵn, thấy Long, cùng nhau hò ‘‘ ...Tướng đã về, hãy dâng lên kiếm ! ’’. Một tên quì sụp xuống, tay nâng thanh gươm ngắn, miệng kêu ‘‘ ...gươm thần đã trở về tay ! ’’. Long nắm lấy, nhảy phốc lên lưng tay hoạn quan, gào ‘‘ Theo ta, hỡi tướng sĩ !...’’. Thế là đám hoạn quan làm ngựa lổm nhổm bò theo sau. Long cưỡi, tay cầm gươm thẳng tay đập vào đít tên hoạn, miệng hô ‘‘ ...Ngựa, chạy nhanh lên. Giặc nó trốn ! Nhanh, nhanh lên ’’. Tên hoạn nhăn nhó ‘‘ ...nhẹ tay, tướng quân ơi ! Ðánh đau thì ngựa què, nhanh thế nào được ’’. Long quát ‘‘ Ðéo mẹ mày con ngựa hèn ! Tướng quân đổi ngựa ! ’’. Nói xong, Long phóng xuống rồi nắm tai tên hoạn bò sau. Nhảy phốc lên lưng, Long tay giơ gươm quật xuống, hô ‘‘ ...Thiên lý mã, thằng Liễu Thăng trước ải, chạy nhanh ta bắt nó ! ’’.
Hò hét chán, cả bọn kéo nhau vào hậu cung. Nguyên Long chễm chệ ngồi lên ghế, tay chỉ bọn hoạn, quát ‘‘ Quì xuống ! ’’. Cả bọn giả vờ líu ríu, hô ‘‘ Tuân mệnh ’’. Bắt chước Lợi, Long lấy giọng, hỏi :
- Bay trả lời. Cái ghế có mấy chân thì ghế vững ?
Một tên hô :
- Bốn !
Long trừng mắt :
- Ba có vững không ?
- Không ! Cả bọn ồn ào lên đáp.
- Chúng bay ngu lắm ! Cái ghế bốn chân vững vì để trên mặt bằng. Nếu không, nó không vững. Còn ba chân, mặt đất có thế nào, ghế vẫn vững. Hiểu chưa
Bọn hoạn ngơ ngác, nhưng lại đồng thanh hô :
- Dạ hiểu !
- Ðược, nhưng ta hỏi thêm
- ...
- Muốn thật là vững, chân ghế phải thế nào ?
- ...
- Cha tiên nhân chúng bay, đồ ăn hại... Nghĩ đi, đứa nào nói được, ta cho thưởng !
Bọn hoạn vẫn ngơ ngác. Một lát, Ðinh Phúc là cháu gọi Thái giám Ðinh Hối bằng bác, giơ tay, giọng ngần ngừ :
- Bẩm tướng quân, chân không được chân dài chân ngắn !
Ngẫm nghĩ, Long quắc mắt reo :
- Ðúng ! Không được dài ngắn khác nhau quá đáng thì ghế vững. Mày khá !
Nói xong, Long xua tay đuổi bọn hoạn, chỉ giữ lại một mình Ðinh Phúc. Nó kéo Phúc vào căn phòng riêng, thưởng cho Phúc một đồng tiền Thuận Thiên. Phúc nhận, rồi lạy tạ. Long lại bảo :
- Ngày sau, bay là một cái chân ghế...
Nói xong, Long leo lên giường, hai tay tuột quần kéo xuống. Ðinh Phúc biết Hoàng thái tử muốn gì. Lẳng lặng đến kéo tấm mành che ánh sáng hắt vào từ bên ngoài, Phúc đến cạnh Long, tay thò vào mân mê một lúc rồi há miệng ra cúi xuống.
Một lát sau, chỉ có tiếng Long rên nho nhỏ. Rồi Long thiếp ngủ. Ðinh Phúc chùi mép, kéo chiếc chăn đơn phủ lên mình Long, rón rén bước ra. Ngồi khuất mặt trong bóng tối, Ðại tư đồ Lê Sát nhìn Lợi vàng vọt dưới ánh đèn, không biết trả lời thế nào cho phải. Câu hỏi như búa bổ vào đầu Sát tóe lửa, bất ngờ đến độ Sát ngẩn ngơ như người mất hồn. Nhấp một ngụm nước, Lợi chậm rãi :
- Ðấy ! Cháu giữ lấy ngôi, là Ðế Nghiệp vẫn của giòng họ ta, ta có về với tổ tiên mới yên tâm được...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:06:35 pm » |
|
Sát vội ngắt :
- Tâu Hoàng thượng, thần...
Giơ tay lên chặn, Lợi giọng buồn bã :
- Thôi, cứ gọi ta bằng cậu như xưa. Cháu vào với ta thì cái tình máu mủ trước, nghĩa quân thần sau !
Sát đập đầu xuống đất rồi ngửng lên :
- ...cậu vẫn đây, bệnh hoạn chữa chạy rồi cũng khỏi !
- Không ! Ta biết mệnh ta rồi.
- Hiện, cậu đã phong Tư Tề là Quốc Vương. Em nó cũng thành niên, rèn luyện ít lâu thì lên ngôi ắt cũng giữ được Ðế Nghiệp !
Lợi cười nhạt :
-Không ! Cái thằng vô loài đó, tửu sắc như vậy, lại bất tài bất tướng, giao nghiệp cho nó thì sẽ toi ! Không được... Ngẫm nghĩ, Lợi đằng hắng - Hiện cháu làm phần vụ của Tể tướng, nắm hết quần thần, nay ta định giao cho giữ luôn cả đạo Ngự Tiền Thiết Ðột. Cháu lên ngôi, là do ta truyền, có ai nói gì được ! Sát nghiêng mặt nhìn lên. Trong một thoáng , cái ánh sắc lạnh của cặp mắt Lợi khiến Sát rùng mình. Theo Lợi chinh chiến trước cả ngày hội thề ở Lũng Nhai, Sát biết rõ khả năng quyền biến của người cậu ruột. Và nhất là cách hành xử dứt tình đoạn nghĩa khi cần. Thận trọng, Sát thưa :
- Còn Hoàng thái tử Nguyên Long...
Lợi chặn lời Sát, thở ra :
- Long còn bé, làm vua thì theo lệ là phải để Thái hậu buông rèm coi chính sự. Mà cháu biết đấy, đàn bà nhà ta dốt nát, làm gì được ! Giá như còn Lưu Nhân Chú để mà phò Nguyên Long thì khả dĩ còn giữ được nghiệp !
Nghe đến tên Chú, Sát rùng mình, người lạnh toát. Thời gian Lợi ra lệnh bức tử Trần Nguyên Hãn, Sát vốn ghét ganh với Chú, lên tâu với Lợi, thổi phồng chuyện Chú không thuận tình. Nhắc lại mối giao tình giữa Hãn và Chú khi cả hai cầm quân phá thành Xương Giang, Sát mong Lợi nhân dịp đó hạ thủ loại Chú vốn là người đất Thái Nguyên. Lợi nghe, chỉ buông thõng ‘‘...lúc cần, mới làm ! ’’. Mấy ngày sau, Sát bất ngờ đưa Thiết Ðột đến vây nhà Chú, xông vào giết hết già trẻ lớn bé. Trịnh Khắc Phục, là em cùng mẹ khác cha của Chú, chạy vào đập đầu dưới chân Lợi kêu khóc. Lợi lệnh cho Sát vào, phủ đầu ‘‘ Sao mi giết tướng của ta ? ’’. Ðể Sát bù lu bù loa xong, Lợi bảo ‘‘ Ta nói lúc cần mới làm, nhưng có bảo mi thế nào cần và làm thì làm gì đâu ! Cớ sự này, mi mà không là máu mủ nhà ta thì ta chém đầu ! Nhớ lấy ! ’’. Tìm cách đền bù lấp tiếng, Lợi cấp đất cho bọn con cháu Lưu Nhân Chú chạy thoát được và thăng chức cho Trịnh Khắc Phục. Lơ đi để tội Sát lơ lửng, Lợi mang chém hai viên quan nhỏ trong Viện Nội Mật, đổ tội khai báo bậy bạ. Sát ở cái tình thế gươm treo trên cổ, thấp thỏm cho đến ngày nay.
Lợi ho lên khù khụ, tay nâng ly nước sóng sánh, đổ lên áo. Sát vội moi khăn ra chùi. Ðợi khi Lợi dứt cơn ho, Sát rập đầu, run giọng :
- Xin cứ để Sát này phò Hoàng thái tử, nếu hai lòng thì đấng Hoàng thiên chu diệt cả giòng cả họ. Có ngọn đèn đây chứng giám cho !
Quay mặt đi để giấu một nụ cười, Lợi lại giả vờ ho lên. Sát rót nước đưa lại. Cầm chén nước, Lợi uống từng hụm, trầm ngâm :
- Cháu đã định thế, cái nghiệp họ Lê chắc là còn... Nhưng phần ta, ta chưa yên tâm. Ðể ta nghĩ lại đã! Nói vậy, nhưng thật ra Lợi đang bày cờ và biết là ván cờ thế cuối cùng đời mình.
Ðến Ðông Kinh, Trãi vào nhà Nguyễn Mộng Tuân, thắc mắc không biết vì cớ gì Lê Lợi hạ chỉ gọi mình về gấp. Trên đường đi từ Côn Sơn, Trãi ghé Nhị Khê, chỉ kịp viết cho Lộ vài chữ nhờ Ðỏ Mỏ mang lên sông Cầu. Trãi hỏi dò, nhưng Tuân không biết gì, chỉ bảo Trãi nghỉ ngơi rồi chính mình vào điện Cần Chính báo cho đám giám quan biết Trãi đã về phụng mệnh.
Quay về căn nhà của Nguyễn lão ven Tây hồ, Trãi bồi hồi ngơ ngẩn. Nhìn rặng bìm bịp trổ hoa, hình ảnh Thị Lộ chợt xập về, hệt như buổi Trãi kê vai gánh chiếu cho nàng dạo nào. Mở cánh cửa khóa trái, Trãi bước vào, cảm động nhìn quanh. Vướng vất đâu đây giọng nói tiếng cười, đêm chàng say rượu, buổi xin Nguyễn lão cho Thị Lộ về làm vợ. Mơ hồ có tiếng chân bước, tiếng củi nổ tí tách và giọng ấp úng của siêu nước sôi những lần uống trà ngày xưa. Ðến đêm, Trãi khêu đèn nằm dài trên chiếc trõng tre. Chàng hít hà, mong tìm ra mùi hương bồ kết, lòng se sắt nỗi nhớ Lộ. Khi rời Côn Sơn, Lộ vỏn vẹn để lại dăm chữ, ý nửa đùa, nửa trách. Nàng viết ‘‘...thầy ơi, em nhỏ nhoi, chỉ là cái bọt nước trong cơn triều dâng cuồn cuộn ’’.
Câu tấm lòng ưu ái cũ ám ảnh đêm ngày như nước triều dâng ta viết ra đâu phải là cho Xuyến, người tình khi xưa nhắc nhủ rằng hạnh phúc nằm trong từng cái nhỏ nhoi. Cũng đâu phải chỉ Lê Lợi, kẻ không nương tay, giết Hãn rồi Xảo và đem ta hạ ngục. Hình ảnh con dán đến ăn bữa cơm tù lại hiển hiện ra trước mắt. A, con vật nhỏ nhoi hôi hám. Ðến bầu bạn, nó thực sự đã mang lại cho ta cái sinh khí cần thiết để tìm sống trên con đường men cạnh cái chết. Nhưng ngay khi thoi thóp giữa bốn bức tường ngục tù, ta cũng chưa cô đơn như lúc này. Không có Lộ, đã đành. Nhưng ghê rợn hơn, là ta không hiểu được. Và chẳng phải ta không hiểu Lộ. Người đàn bà đó, như mọi người đàn bà, chỉ có tình yêu là đủ. Cái ta không hiểu, là nỗi khắc khoải của chính mình. Niềm ưu ái cũ kia là nỗi ước mơ xây nền làm móng cho một xã hội mới. Sống, ý nghĩa gì nếu không còn mơ ước. Nền móng ! Cái triều chính quờ quạng hiện nay đang đổ lên đất. Ðất kia, lại là đất bùn. Nó trùi xuống, có thể thành đầm lầy chôn đi mọi kỳ vọng. Có thể vùi chính bản thân ta. Cớ sao ta không thể quên đi ? Thảnh thơi như Lộ, sáng vui với mây sáng, chiều vui với ráng chiều. Nàng biết cái quí báu của hiện tại, của từng giây, từng phút. Còn ta, cớ sao ta cứ phải hướng đến tương lai ta thêu dệt, như con thiêu thân lao vào bóng đèn ? Phải chăng vì ta tham lam ? Vì ta đòi sống dài hơn cái cũn cỡn trăm năm một đời người ?
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:07:18 pm » |
|
Những ngày trở lại Tây hồ dài dằng dặc, với những câu hỏi dằn vặt cấu xé. Lộ vẫn vắng xa, mặc Trãi cảm thấy cái nhỏ nhoi của nàng quan trọng là nhường nào. Trời chớm vào xuân, nhưng lòng chàng chình chịch một nỗi buồn nhớ khôn nguôi. Ðám quan văn Nguyễn Thiên Hựu, Nguyễn Thiên Tích tìm đến thăm. Chàng ừ ào đáp lễ, trống vắng như nước mặt hồ ơ thờ trải rộng, thấp thỏm chờ tin Lộ, tựa bọt nước con cá quậy dưới đám hoa lục bình xô dạt vào bờ.
Sáng ngày mồng bảy tháng hai, đích thân Nội Mật Viện chưởng quan Nguyễn Thúc Huệ đến mời Trãi vào chầu. Theo chân Huệ vào điện Kính Thiên, lòng chàng hoang mang không biết Lợi gọi mình vào là về việc gì. Lố nhố dưới thềm, bọn đại thần đang đứng chờ. Có Lê Sát, Lê Ngân. Có cả Lê Vấn, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng. Lát sau Nguyễn Thúc Huệ bước ra hô ‘‘ Hoàng thượng triều thiên ! ’’. Ðám đại thần vén áo thụng, quì xuống rập đầu.
Ði từng bước ra đến ngai vua, Lợi ngồi lên, dáng mệt nhọc. Hất tay cho phép bọn đại thần ngồi dậy, Lợi chậm dãi :
- Các ông là rường là cột triều đình, hôm nay có đủ mặt để ta thông báo. Ta quyết định giáng Quốc Vương Tư Tề làm Quận Vương. Và chính thức công bố cho thiên hạ bốn phương rõ rằng Hoàng thái tử Nguyên Long được truyền tông thống, thay ta trị vì ngày ta về với ông bà tổ tiên.
Bắt chước bọn đại thần, Trãi lại rập đầu, tai nghe tiếng đồng thanh hô ‘‘ Phục mệnh! ’’. Ngước lên nhìn, mặt bọn Sát, Ngân, Vấn... không biểu lộ mảy may một chút ngạc nhiên. Trãi hiểu rằng quyết định của Lợi đã được bàn bạc. Với Sát và Hưng là những kẻ mang kim sách phù Nguyên Long, điều này hẳn dễ. Nhưng với Vấn, Linh và nhất là Lê Ngân, là ba vị đại thần mang kim sách phù Tư Tề, chắc chắn sự thỏa thuận phải có giá của nó. Y rằng vậy, ba vị Ðại đô đốc, Tư đồ và Tư khấu được chỉ định phò tá Nguyên Long là Vấn, Sát và Ngân. Kẻ được Lợi giao phó cho trách nhiệm viết chiếu giáng Tư Tề xuống làm Quận Vương và phong Nguyên Long lên làm Thái Tử kế vì không ai khác hơn là Trãi.
Khi bọn đại thần lui ra, Lợi giữ Trãi lại, giọng mỏi mệt :
- Ông thấy, ta đuối sức rồi. Chẳng còn bao lâu nữa !
- ...
- Chắc là vụ án Phạm Văn Xảo làm ông động lòng ?
- Tâu Hoàng thượng, hạ thần đã lui ra khỏi vòng danh lợi và nguyện rằng chẳng bận lòng đến chuyện triều chính...
Lợi cười nhạt, hừ lên một tiếng, tiếp :
- Nguyên Long còn nhỏ, chuyện triều chính là chuyện trăm họ đổ mắt trông vào... Ta biết lòng ông, triều chính sau ra sao là tùy ông uốn nắn Nguyên Long. Ta định phong ông làm Thị Giảng cho Hoàng thái tử... Trãi lạnh người. Thế có nghĩa chàng sẽ là cái đối tượng búa rìu của đám quan lại nhòm ngó quyền thế. Vội vàng rập đầu, Trãi thưa :
- Tâu Hoàng thượng, việc thị giảng cho Hoàng thái tử là việc lớn. Thần thiển nghĩ, nên giao cho năm ba người lo việc trau dồi cho Thái tử mới là thượng sách...
Như đoán được ý Trãi, Lợi hạ giọng cắt :
- Nếu ông lo một mình cáng đáng là mang họa vào thân thì ta đã có cách...
Ðánh nhẹ vào chiếc khánh trên án thư, Lợi vẫy. Ðại tư đồ Lê Sát sau bức hoành phi bước ra. Lợi bảo :
- Sát sẽ lo việc phụ chính cho Ấu chúa, quyền Tể Tướng. Sát cũng đồng tình với ta để ông làm Thị Giảng nên ta mới vời ông từ Côn Sơn về đây. Khi có Sát, ông không phải lo ngại gì đến an nguy. Nhìn Sát chòng chọc, Lợi gặng - Có đúng không ?
Lẳng lặng gật đầu, Sát không nhìn Trãi, giọng quả quyết :
- Cúi xin vâng mệnh Hoàng thượng. Ngày nào Sát còn thì tính mạng của quan Thị Giảng cũng như tính mạng của Sát vậy !
Vẻ hài lòng, Lợi vỗ vỗ lên tay Sát, nhắc :
- Cháu thề đi, thề cho ta yên tâm !
Nghe Sát trịnh trọng nhắc đến đấng cao thiên rồi thốt lời thề nặng, Trãi biết là mình không thể lui được nữa. Chàng trạnh lòng nghĩ đến Lộ, chua xót nhớ tiếc những ngày êm đềm lắm lúc có thể quên tiệt nhân gian. Vái cả Lợi lẫn Sát, Trãi nghiêm giọng :
- Hạ thần đội ân mưa móc, được giao cho công việc thị giảng này bởi thánh ý cao minh chắc biết rằng thời văn trị đã tới rồi. Hạ thần xin nguyện một lòng cùng Hoàng thái tử đưa xã tắc vào nếp Thuấn - Nghiêu, mang đạo thánh hiền làm rường cột triều chính.
Vượt quá con đê ngoặt vào đầm Bà, những mái nhà lợp gianh hiện ra thấp thoáng sau những tàn cây sồi lung linh bóng nắng. Mặt hồ sánh biếc màu cốm non. Lộ men từng bước đến chân đê, lòng nửa rộn rã, nửa bâng khuâng. Khi nhác thấy rặng bìm bịp chập chờn sắc hoa tím nhạt, nàng rưng rưng nước mắt.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Uragan
Thành viên

Bài viết: 860
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:08:02 pm » |
|
Ðẩy cửa, Thị Lộ hồi hộp bước vào căn nhà thuở còn con gái. Trên án thư, xấp giấy và nghiên mực. Cạnh cái trõng tre, Trãi cuộn chăn màn thành một đống. Dưới bếp, tro tàn nguội lạnh. Lộ bỗng mủi lòng. Bức thư Trãi viết như một tiếng kêu trời ‘‘ Em ơi, sao nỡ bỏ nhau đi. Ta nay là con chim không có tổ !... ’’. Trao thư, Ðỏ Mỏ bảo ‘‘ Bác cháu vội vàng vào Kinh, trông bác vừa buồn vừa lo, tội lắm ’’. Ði với cô bé cháu về đến Nhị Khê, Lộ dặn Ðỏ Mỏ chào Ðào Nương hộ, một mình đi thẳng về Ðông Kinh. Ðến gõ cửa nhà Nguyễn Mộng Tuân, Lộ mới biết Trãi tạm trú ở Tây Hồ.
Sẩm tối, Trãi về. Tung cửa chạy vào, Trãi kêu một tiếng ‘‘ Em ! ’’, nước mắt ứa ra chảy xuống đọng trên hàm râu bạc như cước. Trãi ôm choàng lấy Lộ, xiết vào như sợ Lộ biến mất, cố ghìm cơn nức nở khiến toàn thân rung lên như một sợi dây đàn chực đứt. Phải đến một khắc sau, Trãi mới thốt lên lời :
- Sao em nỡ bỏ ta đi một mình như vậy ?
Thị Lộ nghẹn ngào :
- Ðể thầy so cái em nhỏ nhoi này với đại sự to lớn kia...
- Làm sao so được ?
- Thầy ơi ! Thầy quên xưa đã nói với em thế nào là tình yêu rồi chăng ?
- Không, ta không quên !
Lộ nói, lời thê thiết :
- Làm sao giữ được tình yêu trong cõi này, hở thầy ?
Nghĩ đến công việc đã nhận với Lê Lợi, Trãi thốn đau, cắn răng lại. Lưng Lộ mềm mại uốn theo vòng tay Trãi, mỏng manh làm sao, nhỏ nhoi làm sao, nhưng như một phép màu, cũng huyền diệu làm sao. Chàng dìu Lộ, để nàng lên chiếc trõng tre dạo nọ, tay lần vào giựt giải yếm, và chìm vào tiếng thở, tiếng rên, tiếng thì thào gọi cho đời sống vùng lên từ cái bí mật khôn dò của thân xác.
Ðêm hôm ấy đầy trăng. Cây chuối sau nhà hoa nở, hương ngan ngát thoảng qua cửa sổ. Gió nồm đến hẹn lại về, phà hơi nóng vào mái gianh, thỉnh thoảng thổi xào xạc lá rặng sồi mọc cạnh hồ. Lộ âu yếm vuốt tóc Trãi :
- Thầy nhớ bài thơ ngày nọ chứ ?
- Quên thế nào được ! Nay cũng vậy. Nhưng dẫu buồng không lạ, sự màu nhiệm của đêm nay vẫn như xưa...
Lộ khẽ đọc hai câu cuối ‘‘Tình thư một bức phong còn kín. Gió nơi đâu, gượng mở xem ’’. Nghe xong, Trãi bật lên thổn thức. Lộ ngạc nhiên, nhưng cứ để Trãi khóc vùi. Không hỏi, nhưng Lộ đoán hiểu. Trong một thoáng, có lẽ Trãi cảm nhận được cái mất mát vĩnh hằng của một cõi thiên đường bèo bọt, nếu có thì ở đằng sau. Phía trước chỉ là cái bóng của những ngày đã qua.
Cứ thế, Trãi khóc. An ủi một thiên tài không khó. Chỉ cần im lặng. Lộ không nói gì, chỉ dịu dàng vuốt ve. Ðến khi Trãi nguôi ngoai, Lộ khẽ ru, bài ru những đứa trẻ lạc loài trong thế giới ăm ắp trăm ngàn toan tính. Mấy ngày sau, nghe theo Lộ, Trãi bảo với Nội Mật học sĩ Lê Cảnh Xước rằng ‘‘ Quân - Sư - Phụ ’’ đặt thầy sau chỉ Vua, bắt Hoàng thái tử Nguyên Long đến nhà để học. Nghe Xước tâu, Lợi hiểu Trãi khẳng định thêm một lần cái trật tự thứ bậc Khổng-Trình. Không để Long đến căn nhà lá của Nguyễn lão ở Tây hồ, Lợi cấp cho Trãi một tư dinh trong Kinh gần phường Kim Mã. Ở đó, Trãi thảo chiếu ‘‘ Hậu tự huấn ’’ gồm những điều dạy Thái Tử, và dâng lên cho Lợi, ý để mọi người biết nội dung công việc thị giảng đã được vua chấp thuận. Lợi phong Trãi làm Gián Nghị đại phu. Ðến ngày Lợi ban hành chiếu để quần thần ai ai cũng rõ thì Trãi mới cho Nguyên Long đến học.
Dẫu Trãi đã cẩn thận phòng thân khi nhận việc thị giảng cho Hoàng Thái Tử, Nguyễn Mộng Tuân vẫn lo ngại. Làm một bài thơ mừng tân gia, Tuân kết :
‘‘ Huề hồ nghĩ dục đồng thanh thưởng Giai túy tùy nhân vật độc tinh ’’
nghĩa là
Ôm bầu rót rượu mời nhau uống
Say cùng nhau, chớ tỉnh một mình !
để nhắc lại lời khuyên Trãi năm nọ. Trãi chỉ cười, đáp lại : Mừng người, phượng đậu nơi đền các Thẹn ta, mây giạt nhớ trời cao .
Nhìn ông lão tóc trắng, Nguyên Long khinh khỉnh giả như không thấy ai, cất tiếng hỏi trống không :
- Ai là Nguyễn Trãi ?
Ðã nghe tiếng Nguyên Long ngỗ ngược, Trãi không đáp. Lẳng lặng quay ra cửa, Long gọi đám lính Ngự tiền, ra lệnh đưa mình về. Ngơ ngác, tay chưởng đội chạy vào thưa với Trãi. Trãi nói nhỏ vào tai thế nào không biết mà đám lính kéo nhau đi, để mặc Long đứng lại trong sân.
Ðứng chán chê, Long lò mò vào. Nó lại khinh khỉnh :
- Cho miếng nước !
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|