Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:16:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đất trời  (Đọc 58882 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #90 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:08:48 pm »

Trãi quát :

- Vào nhà thì cởi giày ra !  Mi là ai ?

- Ta là Nguyên Long !

- Láo, Nguyên Long là Hoàng thái tử, đâu có ăn nói mất dạy, không trên chẳng dưới như mi.  Nếu mi là
Nguyên Long, mi có biết Nguyên Long đến đây làm gì không ?

- Biết, đến để học...

- Học có cần thầy không ?

- Hừm... cần !

- Nguyên Long muốn học, thì phải biết kính thầy.  Trên là Vua, rồi đến Thầy.  Thầy còn hơn cha, mi có biết thế không ?

- ...

- Hôm nay, ta đuổi mi về cho mi nghĩ lại.  Mai lại đến xem sao !

Sáng hôm đó, Nguyên Long lủi thủi đi bộ về Hoàng cung.  Chiều Lợi gặp, hỏi biết sự tình.  Hôm sau, Long lại đến.  Lần này, nó tự động cởi giày, nhưng đứng trân trân nhìn.  Trãi bảo :

- Khi gặp thầy, vòng tay lại chào !  Không biết thì lại về...

Ðến ngày thứ ba, Long nghiến răng vênh mặt lên :

- Chào thầy ạ !

Trãi bảo :

- Khi chào, cúi đầu xuống !

Nguyên Long vòng tay, cúi đầu, miệng lại nhắc lại lời chào.  Lúc nó ngửng lên thì bên cạnh Trãi là Thị Lộ.  Nó ngạc nhiên, mắt đăm đăm nhìn.  Lộ cười, dịu dàng :

- Kính chào Hoàng thái tử !  Tiện nữ là Thị Lộ, nội tướng của quan Gián Nghị.

Sau buổi gặp gỡ Thị Lộ lần đó, Nguyên Long thay đổi hẳn.  Trãi để Thị Lộ dạy Nguyên Long mặt chữ và tập cho Long viết.  Phần mình, Trãi giảng kinh nghĩa, chú tâm đến phẩm chất và cung cách con người.

Học chữ dễ.  Chỉ trong vòng ba tháng, Nguyên Long đã đọc thông Luận Ngữ.  Thị Lộ khéo léo khích tính
hiếu thắng của Nguyên Long, nhưng Long hình như học chỉ để làm Lộ vui lòng.  Với Trãi, Nguyên Long tuy kính nể nhưng vẫn giữ tật ương ngạnh.  Một hôm, Trãi nhẹ nhàng :

- Hoàng thái tử sẽ lên ngôi Cửu trùng.  Vậy có biết làm Vua là để làm gì không ?

Nguyên Long đáp :

- Sách bảo là Thế thiên hành đạo !  Còn cha tôi làm vua thì để nhăn nhó kêu đau bụng !

Sợ lỡ lời phạm thượng, Trãi tần ngần rồi tiếp :

- Hành đạo là thế nào ?

- Cha tôi bảo là thu hết về một mối và giữ cái ngai vua cho chắc !

Biết Long trêu chọc, Trãi lờ đi, lại hỏi :

- Thế sách, sách bảo sao...

- Sách bảo cứ lấy đời Ðường, Ngu làm chuẩn.  Vua hiền thì như Nghiêu, không tham giữ gì cho mình, truyền ngôi cao cho Thuấn, kẻ thương dân đen như thương thân mình.

- Hoàng thái tử có làm được như Nghiêu như Thuấn không ?

- Không !

- Tại sao ?

- Dân thời Ðường - Ngu không như bây giờ.  Thời này, hở một cái là ăn cướp, ăn giật.  Thầy cứ ra xem ở chợ người ta lừa lọc chửi bới nhau thế nào tất biết !

Trãi rùng mình, gượng nói :

- Vua Nghiêu vua Thuấn, tất sẽ có dân Nghiêu dân Thuấn...

Long cười, giọng rất tự nhiên :

- Không phải thế.  Dân là dân Nghiêu dân Thuấn, ắt Vua mới không thể khác đi được.  Dân Kiệt, Trụ mà Vua lại Nghiêu, Thuấn thì chỉ ba bảy hai mươi mốt ngày là cả trăm cả nghìn đứa nó đè lên cổ.  Cha tôi bảo, cái sợ đầu tiên của bậc Ðế Vương là lũ quần thần xung quanh hăm he quyền thế.  Vì thế, giữ Ðế nghiệp như đặt cái ghế ba chân rồi ngồi lên thì mới vững !

- Huh

- Ba chân là cái tháp bút, cái giá gươm và một bọn tôi đòi tật nguyền cần có chủ như đám hoạn quan hay đám Nội Mật.  Còn điều này là do chính tôi suy ra : ba chân ghế đó không được dài ngắn khác nhau.  Tâu lên, cha tôi lại nhắc thêm là   muốn thế thì lúc nào cũng có thể chặt chân ghế. Cha tôi  dạy không ngó ngàng thì cái chân ghế nào cũng tự nó cứ dài ra.  Muốn chặt, để chúng phạm tội.  Cần chặt, mới xử.  Ðó là công việc của Nội Mật viện...

Nghe Long nói, cơn bực bội của Trãi bùng lên.  Nhưng đó chỉ là một đốm lửa.  Nỗi buồn như nước triều dâng lên dìm tắt ngấm đốm lửa kia, mênh mang biến thành một niềm ngậm ngùi không bờ bến.  Nhìn vẻ thơ dại sót lại trên khuôn mặt tinh quái của Long, Trãi hiểu rằng chưa, chưa hoàn toàn đến nỗi tuyệt vọng. 
Còn nước, còn tát.  Chàng trầm tĩnh, giọng cương quyết :

- Hoàng thái tử !  Tiên học lễ.  Thừa thì giờ ta mới học văn.

- Khi đến nước Vệ, học trò đức Khổng Tử là Hữu hỏi ‘‘  Dân đông rồi, nên làm gì ? ’’.  Ðáp ‘‘  Làm cho dân giàu ! ’’.  Hữu lại hỏi ‘‘  Ðã giàu rồi, nên làm thêm gì ? ‘‘.  Ðáp ‘‘  Phải dạy dân ! ’’.  Ðó là, có thực mới vực được đạo.  Chính trị, trước là làm sao cho dân giàu, sau là làm cho dân trên hiếu dưới hòa, cẩn thận cung kính mà chân tình thật ý, mở lòng nhân yêu cả mọi người...  Hoàng tử nghĩ thế nào ?
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #91 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:09:29 pm »

Nguyên Long cắn môi, cúi đầu :

- Tôi cho rằng thầy...

Trãi đưa tay ra dấu, rồi thưa :

- Bậc Vương Ðế xưng mình là quả nhân và gọi bầy tôi bằng chức phẩm, xin Hoàng tử để tâm cho...

- Quả nhân cho rằng Gián Nghị đại phu nói ý thì vẫn chỉ là ý chung chung, còn làm thế nào thì quả nhân chưa rõ.  Trừ một điều, muốn dân giàu thì chớ để quan quân tham nhũng, cướp của hại người, vơ vét của cải...  Còn dạy dân, dạy đọc dạy viết thì mở trường, nhưng đại phu cứ xem đám sinh đồ ở Quốc tử giám, chúng nào có biết thế nào là cung kính, hiếu hòa đâu...  Quả nhân nghe phụ hoàng dặn đám thẩm hình quan rằng chúng quấy phá thì cứ bắt, cứ giam, cứ phạt mà rồi sau lại đâu vào đấy...  Trừ cho sạch thì phải giết hết ư ?

Trãi lắc đầu :

- Không !  Bất giáo nhi sát, vị chi ngược.  Bất giới thị thành vị chi bạo.  Không dạy mà mang giết, gọi là ngược.  Không răn mà đòi thành người thì gọi là bạo.  Ngược bạo là hai tội ác của kẻ trị dân.  Dạy là dạy lễ.  Lễ không phải là hình thức nghi trượng.  Lễ là nghĩa, phòng điều bất nhân, ngăn ngừa tội phạm.  Lễ khác với Pháp.  Pháp để trừng trị tội phạm, nhưng khiến dân sợ mà phục tùng. Lễ dùng cái lẽ con người với nhau để dân thuận mà theo.  Nhưng dạy thế nào ?  Lấy thân mình ra làm gương thì không cần nói.  Ðó là thượng sách.  Nếu thân chưa tu, thì phải giảng.  Nhưng giảng đạo nghĩa, như Hoàng tử vừa kể, có người hiểu, kẻ không !

Nguyên Long ngắt lời Trãi, mắt nhướng lên :

- Bậc Vương Ðế tu thân thế nào ?

- Chương Thuật nhi, sách Luận ngữ, bảo  Chỉ ư đạo, cứ ư đức, y ư nhân, du ư nghệ , nghĩa theo Vương đạo là giữ Ðức, dựa vào con Người, và vui với cái Ðẹp.  Ðức người quân tử như gió.  Gió thổi thì đức của đám lê dân như cỏ ngả theo.  Kết quả là bất lệnh như hành, vô vi nhi trị giả, kì Thuấn dã dư.  Không cần lệnh, dân đã tuân.  Không can thiệp mà nước đã trị, nghiệp vua Thuấn đạt được như thế đó !

Giá như không có Thị Lộ thì Nguyên Long sẽ tìm mọi cách để khỏi phải ngày ngày nghe Gián Nghị đại phu giảng nghĩa lý kinh sách.  Thời gian đầu, Long có dịp là nói ngược những điều thầy dạy.

Trãi nói  :

- Vương đế, cũng là người.  Mạnh Tử dạy, vua Thuấn xuất thân từ đám dân cày, Phó Duyệt là thợ nề, Bách Lý Hề ở trong đám lái trâu.  Trời trao mệnh lớn cho ai thì thử thách để họ phát động lòng tốt, luyện cái tính mà tăng tài năng.  Nhưng Vương Ðế là ngọn.  Dân là gốc.  Gốc bền, ngọn mới tốt tươi.  Muốn cho bền, phải vun xén.  An ủi vỗ về dân, sửa cho ngay lòng tin, uốn cho thẳng tính tình, khiến dân an vui với đạo là trách nhiệm Ðế Vương.  Muốn thế, vua là vua Nghiêu vua Thuấn, thích lễ thì dân không ai không dám bất kính, thích nghĩa thì dân không ai không dám không phục...
 
Long vặn :

- ...dám hỏi đại phu, lời Mạnh Tử chiœ ra Vương đạo cho thế gian, nhưng tại sao cuối đời ngài than : trẻ học đạo Nghiêu Thuấn, lớn lên muốn thực hành, ngờ đâu vua chư quốc lại răn là hãy bỏ cái học kia đi mà theo ý ta, thì làm sao bây giờ !  Vậy, phải chăng là sau Nghiêu - Thuấn, chẳng bao giờ còn có Nghiêu, có Thuấn nữa ?

Ngạc nhiên, Trãi lại kiên nhẫn giảng giải, không để ý rằng Nguyên Long dẫu nghe nhưng đầu óc để đâu đâu, thỉnh thoảng lại che miệng giả như đang ngáp. Với Lộ, việc học khác hẳn.  Lộ mang Kinh Thi so sánh với những ghi chép bằng chữ Nôm trong Nam Dao chí, ra câu đố, câu ví và tập cho Long làm Từ, làm Thơ, xướng họa với nhau cả buổi.  Long một hôm nói :

- Giá mà không phải học Kinh nghĩa với đại phu thì Long này có thể xướng họa với phu nhân cả năm mà không chán.  Quả nhân nói thật, kinh nghĩa chẳng dùng được việc gì cả !

Lộ dịu dàng :

- Hoàng tử quên chữ nhẫn.  Cần lắm, biết nhẫn là biết đợi.  Không nóng vội, không hấp tấp, để nhìn cho xa, nghĩ cho sâu.  Quan Gián Nghị dùng kinh nghĩa để trỏ ra lối đi trong rừng thiêng núi thẳm.  Ai cũng đi, thì đạp bụi đạp cỏ mãi thành đường.  Bỏ bê, cây hoang cỏ  dại  um tùm tất dấu vết con đường mất đi.  Mất là thế nào rồi cũng đi lạc...

Ngả người ngồi dựa vào phản, Long nhác thấy bóng mình và Lộ phản chiếu trong tấm gương to bản để cạnh tường.  Nó nắm tay Lộ, chỉ :

- Phu nhân nhìn xem.  Trong tấm gương kia, có phải là Long hay không phải là Long ?

Chưa kịp phản ứng, Lộ ngạc nhiên thấy giọng Long buồn hẳn đi :

- Quả nhân thì đây, chứ không phải là trong tấm gương soi đâu !  Nhưng cho đến bây giờ, ai cũng muốn Nguyên Long là cái hình ảnh trong gương, đặt làm thái tử thì làm thái tử.  Thái tử phải học, thì bắt học.  Học làm vua, thì phải như Nghiêu, như Thuấn.  Còn Long thật, ngồi đây, có ai thực tâm đoái hoài tới đâu !
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #92 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:10:24 pm »

Ngỡ ngàng, Lộ nói, giọng ngập ngừng :

- Ðâu phải ai cũng được như Hoàng tử !  Hoàng thượng đã sắp đặt thế, chắc mẫu hậu cũng vui lòng...
Không ngờ nghe đến đấy, Nguyên Long chồm lên chụp nghiên mực ném vào tấm gương.  Trong tiếng thủy tinh loảng xoảng vỡ chói tai, Long gào lên :

- Ta làm gì có mẹ !  Ai là mẫu hậu ?  Ai ?  Còn ta, ta không muốn làm vua, không...

Lộ hoảng sợ, hai tay đặt lên vai Long, kéo về phía mình, van vỉ :

- Hoàng tử yên nào.  Cho tôi xin !

Trưa hôm đó, Long vuột chạy về Hoàng cung.  Ra nhặt những mảnh gương vụn rơi trên nền gạch đỏ, Lộ nhìn vào mặt gương vỡ rạn thành những vệt cong chúi vào những điểm đồng tâm hoắt nhọn.  Ðằng sau, thấy khuôn mặt mình biến dạng chồng chéo lên nhau, Lộ bỗng đau xót.  Ngay chính Lộ, Lộ nào muốn ở đây, là phu nhân của Gián Nghị đại phu đang chấp hành việc thị giảng cho một ông vua tương lai.  Ðời bắt vậy.  Trãi không dứt được nỗi khắc khoải của một kẻ muốn uốn nắn thế thời, bỏ đi nhưng rồi cũng phải quay trở lại chốn cung đình, như bị một thứ hấp lực của định nghiệp.  Còn nàng, chẳng lẽ đành vậy ?

Tối đó, Trãi đi chầu về báo sáng mai nhà Vua sẽ chính thức ban chiếu giáng Tư Tề và lập Nguyên Long làm Thái tử kế vì.  Lộ thuật lại phản ứng của Long buổi trưa nay.  Nghe Trãi kể, Lộ mới biết là đẻ ra, Nguyên Long đã mồ côi mẹ, người đàn bà họ Phạm bị mang tế sống cho thần Phổ Hộ ở giòng sông Ác  gần mười năm về trước.  Lộ lặng lẽ một hồi rồi thủ thỉ :

- Thầy ơi !  Có lẽ đã đến lúc nên về Côn Sơn rồi !

Trầm ngâm, Trãi liên tưởng đến hoàn cảnh một ông vua thơ dại bị giằng co tung hứng giữa một đám quyền thần lăm le bon chen tranh giành.  Thị Lộ lại nhắc :

- Sang đầu tháng này, là ngày giỗ ông ngoại...

Lúc đó Trãi thốt :

- Ừ thì về.  Chạnh lòng, Trãi thì thào - Thật tội cho Nguyên Long, không biết phải làm thế nào để giúp được...

Nắm lấy tay Trãi, Lộ áp lên môi, giọng bùi ngùi :

- Em đã thay thầy, nhắc cho Hoàng tử chữ nhẫn.

Sau khi đã xếp đặt chu đáo việc kế vị, Lợi biết sức mình đã kiệt.  Thấy chỉ vài tháng mà Nguyên Long thay đổi, đã biết đọc và viết, bớt trái tính trái nết, Lợi vui ra mặt, bỏ hết thời giờ gần Long.  Lợi bảo :

- Khi ta chết, con lên ngôi có những kẻ phụ chính.  Họ đều lầm lỗi, ta tha nhưng không quên, ghi lại mọi sự việc. Với đám quan lại, ta đã đuổi nhiều đứa ra Diễn Châu, Hoan Châu.  Chúng đều căm giận bọn còn tại chức ở triều đình.  Khi con đủ sức, lấy chúng nó về, phong lại quan chức, làm chỗ dựa cho mình...

- Thưa Phụ hoàng, đủ sức là làm sao ?

- Ðủ sức là lúc cái chân ghế thứ ba dài bằng hai cái kia.  Chưởng quan Nội Mật Nguyễn Thúc Huệ và Thái giám Ðinh Hối là cái chân ghế đó !  Con hiểu chưa ?

- ...

- Về phần Tư Tề, ta dặn.  Thứ nhất, khi lên ngôi rồi thì cấm quan lại không cho giao du đi lại với Tư Tề. 
Thứ hai, giữ Tư Tề ở Kinh Ðô, không để dời  cư đi đâu.  Thứ ba, cực chẳng đã thì giáng xuống làm dân, không được giết...

- Thưa Phụ Hoàng, tại sao không giết...

Câu Long hỏi khiến Lợi giật mình.  Quay lại nhìn, Lợi rờn rợn, thấy ánh mắt Long ánh lên như thép nguội.  Lợi định bảo, giết nó, nhỡ mày giết phải cha mày thì sao ?  Nhưng kìm lại, Lợi chần chừ rồi nghiêm giọng :

- Anh em không ai đi giết nhau !

Cuối tháng bảy năm Quí Sửu, Lợi quyết định cùng Nguyên Long về Lam Sơn bái yết sơn lăng.  Lên núi Chí Linh là nơi xưa nghĩa quân bị quân nhà Minh vây hãm, Lợi kể cho Long nghe ba tháng đói khổ, phải giết voi giết ngựa, ăn cây ăn củ, cái chết rình rập trong đường tơ kẽ tóc.  Lòng bùi ngùi, Lợi khẽ nói :

- Nghiệp nhà đâu phải một sớm một chiều mà có !  Buột miệng,  Lợi than - Chẳng hiểu có giữ được không...

Nguyên Long nghe, nhanh nhảu :

- Thưa Phụ hoàng, quan Gián Nghị Nguyễn Trãi khi dạy con có bảo cứ thường thì Ðế nghiệp thịnh ở đời thứ
ba.  Và kéo cho dài thì được hai trăm năm, đến đời thứ tám, thứ chín...

- Ðó là xét trên sử sách thì có thế.  Nhưng hậu sự tùy vào nhiều yếu tố, lắm điều không ngờ trước được !  Chốn quyền thế như hang rắn.  Cổ lai bất độc bất anh hùng !
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #93 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:11:09 pm »

Ðúng, xưa nay không độc thì mấy ai thành anh hùng ! Nhìn đám mây đùn thành gò thành đống trên đỉnh non trải ra trước tầm mắt, Lợi hồi tưởng đến thuở bơ vơ chẳng biết đi về đâu. Ngay trên khoảng đất núi chơ vơ này, Lợi đã nghĩ đến chuyện đầu hàng quân Minh khi đám võ tướng mệt mỏi định bỏ kiếm buông cờ. Lạ thay, đúng lúc đó thì Trãi, kẻ chỉ một hai dùng nhân tâm mà chiến đấu với giặc lại là kẻ quyết không chịu qui hàng. Thật ra, nghe theo Trãi nhưng Lợi vẫn nghi rằng một ngày kia nghĩa quân có thể chiến thắng một lực lượng xâm lăng đông hơn đến hai mươi  lần. Dụng tâm công chẳng qua là để duy trì cái đoàn quân nhỏ nhoi của mình. Lợi lại cũng không ngờ gió có thể trở cờ, thời có thế có thì con đường tiến về giải phóng Ðông Quan lại thênh thang đến vậy.  Lên ngôi vua, hoài nghi trở thành một thứ phản xạ vô điều kiện, kể cả hoài nghi chính mình. Vì thế, Lợi giết Hãn,  Chú rồi Xảo. Phần Trãi, người tin, và tin tuyệt đối vào những  điều Lợi không bao giờ tin như nhân nghĩa, Lợi chần chừ cho đến lúc thấy vô hại mới tha chết. Vả lại, Lợi dựa vào ai với cái triều đình non trẻ ngỡ ngàng đi tìm mình, không thấy nên chẳng có cách nào khác hơn là núp vào cái bóng quân quyền nhà Minh. Kẻ thù xưa dẫu chiến  bại nhưng vẫn là tay trên, có  lễ nhạc và nhất là một mô hình tổ chức xã hội chính trị. Còn ta, người chiến thắng ? Quay lại mẫu mực Lý-Trần ?  Hay đi lên phía trước theo gót lịch sử ? Nhưng về đâu ?  Không biết thì cứ giữ rịt lấy ngôi vua ! Làm sao hơn được ?

Nhưng chỉ bám vào quyền hành thì được bao lâu ? Nhìn Nguyên Long, Lợi tự hỏi chẳng biết cái quyết định phế Tề lập Long đúng sai thế nào. Nỗi hoài nghi như những tế bào nhiễm độc lại phá ra gậm nhấm xương tủy. Ho lên xù xụ, Lợi cảm thấy rã rời. Những ngày cuối đã đâu đây. Ðiều này là sự chết, điều  Lợi không thể hoài nghi được.

Ở Lam Sơn ít lâu, hai cha con Lợi lên đường về Kinh.  Lợi lệnh cho đi qua những địa điểm xưa là đường nghĩa quân đi chặn, vây và đánh quân nhà Minh.  Khi đến sông Ác, mặc dầu thuyền nhân ra sức chèo, thuyền ngự không qua được sông, cứ nhích lên là lại trôi tuột xuống.  Lợi thầm khấn thần Phổ Hộ :

- Xưa ta đã hiến Ngọc Trần cho thần, nay còn đòi gì...

Ðột nhiên, trời nổi gió xoáy, thuyền ngự quay vòng vòng.  Lợi nghe văng vẳng tiếng cười the thé.  Rồi tiếng quát :

- Cái hạn ba năm tới rồi đó !

Từ lúc đó, Lợi hôn mê.  Gió ngừng, sông êm, thuyền ngự khi ấy mới qua sông.  Ðoàn ngự giá đi gấp về Kinh.
Chiều ngày hai mươi hai tháng tám, Thuận Thiên năm thứ năm, thì Lợi tỉnh lại.  Cho gọi đám phụ chính và Nguyên Long vào, Lợi nhìn chung quanh, mắt nhướng lên trắng rã, thều thào :

- Mọi việc ta đã xếp đặt thế nào, cứ thế ấy mà làm !  Ðế nghiệp nhà Lê là của chung...

Nắm lấy tay Long, Lợi tiếp :

- Các vị phụ chính đều là người dòng họ nhà ta.  Con lên ngôi, đừng quên những điều ta dặn.

Sử chép, Vua băng hà ở chính tẩm vào lúc sao chổi mọc ở phương Tây.

Nhục cốt của Lê Lợi, Thái Tổ nhà Lê quàn ở cung Vạn Thọ hai ngày ba đêm trước khi đưa về Lam Sơn mai táng.  Ðại thần từ hàng nhất phẩm trở lên được vào kiến diện tiên đế trước khi tẩm liệm, nối nhau đi mặt mũi thi nhau rầu rĩ, người khóc được cố tình thút thít khiến những kẻ không mau nước mắt tím dạ căm gan.  Ðứng đằng trước hai vị hoàng phi, Tư Tề và Nguyên Long nhận những cái vái của đám thần tử, nghiêm nghị nhìn im lặng.  Bên cạnh, ba vị phù chính Lê Sát, Lê Vấn và Lê Ngân nét mặt đăm đăm, tính thầm trong đầu những cảm tình riêng tư hoặc ràng buộc ân nghĩa của những kẻ diễu hành qua mặt mình.
Ðêm cuối, Long ngồi cạnh thi hài cha.  Giữa áo quan lót lụa trắng, Lợi lọt lỏm trong bộ hoàng bào, da tái khô, mặt vô cảm như đất nặn.  Hai hàng nến trắng cắm dọc hắt ánh vàng vọt lên trần, lung linh theo gió lùa qua những bức hoành phi, chiếu lên vách hình bóng chập chờn hư thực.

Khi đám hoạn quan lui ra, Long ngả người trên chiếc ghế bành trước Lợi vẫn ngồi.  Nó chưa bao giờ cảm thấy trơ trọi đến thế.  Lần đầu nó chua xót  thương thân.  Rồi không kìm được, nó hộc lên khóc.  Cứ thế, thời gian trôi theo tiếng nức nở ấm ức.  Dần dần Long thiếp đi.  Nó mơ màng thấy một người đàn bà áo trắng từ sau lưng đến đặt tay lên vai nó, mơn trớn, vuốt ve rồi thì thầm :

- Ngủ đi con !  Mai mốt là lễ đăng quan !  Phải ngủ cho khỏe...

- Ai, ai đấy ?

- Mẹ đây con.  Mẹ sẽ về sông Ác.  Con phải ở lại đây một mình...

- Một mình à, con sợ lắm !

- Ai làm vua mà chẳng một mình, đừng sợ !

Long ngoái cổ nhìn.  Người đàn bà áo trắng nhạt nhòa hóa ra sương khói mờ dần nhưng đủ để Long nhận ra dáng dấp Thị Lộ.  Nó gào lên :

- Chị, chị ơi !  Ðừng bỏ em một mình !

Bật dậy, nó vừa khóc vừa kêu, vừa chạy vồ cái không nắm bắt được cho đến lúc Ðinh Phúc, tên hoạn quan thân tín, chạy vào lay. font-family:"Times New Roman" >Nguyên Long tỉnh ra.  Nó lấy tay quệt  mắt, mím miệng lại.  Từ hôm đó, nó quyết định gọi mẹ là chị.  Cách gọi đó thành  tục lệ trong cung vua  suốt kỷ nhà Lê kéo được quãng ba trăm năm mươi năm sau. Nhưng nói cho ngay, đến năm Ðinh Hợi (1527) đời Cung Hoàng thì nhà Lê mất thực quyền.  Họ  Mạc  tiếm ngôi, rồi sau là thời nhà Chúa với cuộc Trịnh –Nguyễn phân tranh. Cho đến đời cuối cùng là Lê Chiêu Thống thì vị vua này đi cầu cứu nhà Thanh bên Tàu và mất luôn chính danh năm Kỷ Dậu (1789).  Nhà Lê thực sự cáo chung như bất cứ những triều đại, sau và trước, mắc tội cõng rắn cắn gà nhà.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #94 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:12:53 pm »

Chương 10
CUNG ÐÌNH

Tháng chín, Quí Sửu ( 1432 )

Nguyên Long lên ngôi.  Thái Tông Văn hoàng đế, niên hiệu Thiệu Bình, lúc đó chưa được mười hai tuổi nhưng không nhờ Thái Hậu buông rèm coi chính sự.  Nguyễn Trãi được sai viết văn bia Vĩnh Lăng kể công đức Lê Lợi, lại lui về Côn Sơn, dâng biểu từ cái chức Gián Nghị đại phu được Tiên đế phong cho.  Thị Lộ đùa :

- Này thầy, người ta là quan có quyền.  Còn mình, làm quan chỉ có trách vụ can ngăn.  Mà lại can ngăn Vua, nghĩa là không có thể xiểm nịnh ton hót.  Em nghĩ - Lộ cười - con đường thăng quan của Gián Nghị đại phu là con đường xuống huyệt !  Thầy từ quan là không muốn em góa, em đội ơn thầy !

Nghe Lộ nói, Trãi mủi lòng nhưng cố gượng cười.  Vua nay miệng còn hơi sữa, có làm gì đâu mà cần can ngăn.  Quyền lực nay tập trung vào tay bộ ba Sát, Vấn, Ngân.

Nhưng thời cuộc đầu năm Thiệu Bình thứ nhất vẫn còn là một bàn cờ thế.  Sát nắm quân đỏ, bên kia Ngân nắm quân đen.  Vấn lúc gà bên này một tiếng, khi phụ họa bên kia một câu.  Ðám quan văn võ bu quanh xuýt xoa trầm trồ.  Riêng bọn Nội Mật viện, vốn xảo quyệt, không bàn tán, chầu rìa chờ lúc cờ tàn để thủ đắc cơ hội đẩy tốt sang sông.  Về phần bọn hoạn quan, chúng là những kẻ bị lãng quên với một ông vua không chút quyền hành,  cho đến nay chỉ biết bắt chúng làm ngựa để cưỡi lên lưng.  Thái giám Ðinh Hối lầm lũi trong hành lang cung cấm, thì thào bàn tán với đám hoàng phi mới góa bụa đang hóa thành những cái bóng ma dật dờ ngẩn ngơ trước một cuộc đổi đời trong chớp mắt.

Tân niên, năm Giáp Dần.  Năm tuổi của tân Hoàng đế khiến miệng lưỡi thế gian có dịp kháo nhau không biết liệu nhà vua có tai qua nạn khỏi không ?  Ðó là cách nói cạnh nói khóe vu vạ cho những kẻ nắm quyền bởi đám người đang hoang mang tìm chỗ đứng. Ðinh Hối bắt mối với học sĩ  Lê Cảnh Xước, người của Nội Mật viện, chuyên việc giấy tờ thu thuế dưới tiên triều.  Xước bàn bạc thế nào với Nguyễn Thúc Huệ không một ai biết, đi liên lạc đám văn quan như Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thiên Hựu, Trình Thuấn Du, Bùi Ư Ðài, Bùi Cầm Hổ...  Sát biết chuyện, hiểu là muốn nắm triều chính thì không thể thiếu bọn giá bút.  Dùng Phan Thiên Tước như thân tín, Sát sai cấu kết với Thái sử Bùi Thì Hanh và Lễ bộ thị lang Trịnh Toàn Phương. Tước bàn bạc với Cảnh Xước và Cầm Hổ, tạo ra liên minh giữa Sát và bọn văn quan, đằng sau được sự ủng hộ của Nội Mật viện.  Trong khi bọn giá bút tính toán, đám túi gươm vẫn bình chân như vại.  Ðại đô đốc Lê Vấn nắm binh quyền, nay lại được giao trách vụ kề cạnh ngôi vua, cùng Tư  không Lê Ngân lấn dần quyền Tư đồ Lê Sát, nhưng cả hai đều ngạc nhiên không thấy Sát phản ứng mạnh mẽ.

Sau Tết Nguyên Ðán, bộ ba Sát, Vấn, Ngân duyệt lại chiếu dụ trong dịp tân niên.  Ngày mồng sáu tháng giêng, Nguyên Long ngồi trên ngai vua, đọc :

Ðạo làm tôi cốt yếu có hai điều.  Trên thì yêu vua, dưới thì yêu dân.  Yêu vua phải hết lòng trung, yêu dân phải hết lòng thành.  Mới rồi, tìm người hiền giúp việc trị nước, đã có lệnh cho mọi người tiến cử, đến nay vẫn chưa được một người nào, thế là ra làm sao ?

Sát đỏ mặt, cau mày nhìn Vấn. Sau buổi chầu, Sát hỏi Vấn, giọng gay gắt :

- Ðại Ðô đốc, chiếu dụ không phải như tôi cũng như cả ngài và Ðại Tư không đã cùng nhau duyệt trước và đồng ý. Thế là ngài có ý gì ?

Vấn luống cuống :

- Chính tôi cũng không hiểu !  Ta cùng lại hỏi nhà Vua xem sao !

Khi Ðinh Hối đưa ba vị phụ chính vào cung Càn Ðức, Nguyên Long đang ngủ trưa.  Bị đánh thức, Long cầu nhàu nghe Ðinh Hối dặn dò.  Lát sau, Long ra ngồi trên sập.  Vấn khẽ rập đầu, hỏi :

- Hoàng thượng, sao không đọc chiếu dụ do thần dâng ?

- ...

- Ai xui Hoàng thượng sửa lại câu đầu.  Lẽ ra là ‘‘ Trẫm ở ngôi cao, nhưng nhờ ba vị đại thần phụ chính, giữ nghiêm phép nước, thiên hạ an lạc thái bình ’’.

- Không ai xui ta !  Lời ta xuống chiếu, là lời của Mạnh Tử bàn về đạo làm tôi !  Sai chăng ?  Ðại đô đốc sửa lại thế nào ?
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #95 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:13:29 pm »

Nghe Nguyên Long thản nhiên đáp với giọng khiêu khích, Lê Vấn gầm gừ :

- Hoàng thượng tuổi nhỏ, chớ có dại dột nghe bọn xấu xúi bẩy.  Chắc lại trong đám hoạn quan...

Vấn không ngờ là Long đột nhiên nắm chén trà đập xuống đất, quát lên :

- Hai vị Tư đồ và Tư không có nghe chưa ?  Bảo Vua là dại dột có  phạm thượng không ?  Ta tuổi dẫu nhỏ, nhưng ta là vua.  Ðại tư đồ, khi Tiên đế băng hà, dặn gì, Tư đồ còn nhớ không ?

Sát chẳng nói chẳng rằng, quì xuống rập đầu xin tha tội.  Ngân bắt chước, và Vấn đặng chẳng đừng cũng phải làm theo.  Dĩ nhiên, Ngân không thể bênh Vấn.  Liên minh này từ nay có vết rạn :  Sát đồng ý với Ngân rằng từ nay trở đi, chỉ để Hoàng thượng dựa cột bên đông điện Hội Anh nghe việc triều đình, ngai vàng ở giữa bỏ trống, một bên là Lê Sát, bên kia là Lê Ngân ngồi coi chính sự.

Dựa trên chiếu cầu hiền, bọn văn quan thảo sớ tiến cử lại Nguyễn Trãi nay đã về ở ẩn trên Côn Sơn. Sát không thể chối từ, thể theo cái điều đã ngầm thỏa hiệp với đám văn quan.  Riêng về phần Nguyên Long, nhà vua  học được bài học đầu của quyền lực.  Mỗi lần nhớ đến khuôn mặt thất thần của một viên Ðại đô đốc đã từng chiến trận hai mươi năm, Long không khỏi cùng một lúc thấy lại trước mắt mình vẻ hỉ hả ở đuôi mắt Lê Sát.

Trong số một trăm năm mươi sáu người được gọi ra tham chính chẳng phải chỉ có Nguyễn Trãi.  Vấn nay đã ngả về phía Lê Sát, đồng tình cho gọi Trịnh Hoành Bá và Lê Quốc Khí, kẻ đã hãm hại Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, từ Diễn Châu về Kinh.  Nguyễn Thiên Tích và Bùi Cầm Hổ đều là Ngôn quan thời tiên triều, đọc lại chỉ dụ của Lê Lợi, nghiêm cấm không bao giờ dùng Hoành Bá, Quốc Khí vì tội cáo gian giết hại công thần.  Sát thuận theo lời Tích và Hổ, nhưng đòi phải ủng hộ mình quyết định truất chức  Trịnh Khắc Phục, em khác cha cùng mẹ với Lưu Nhân Chú, không cho làm Nam Ðạo hành khiển.  Em của Phục là Trịnh Khả uất ức nhưng không làm gì được.

Ngày mười lăm tháng giêng, Lê Sát làm chủ tế, sai giết ngựa trắng lấy máu cho bá quan ăn thề, lập đàn tế cáo với trời đất.  Ngày hai mươi, Sát điểm   quân bộ và quân thủy trên bờ sông Nhị, cạnh dinh Bồ Ðề.  Bấy giờ, rõ là Sát đã nắm được gần hết quyền bính.  Chưởng quan Nội Mật viện Nguyễn Thúc Huệ lúc đó mới ngả cờ, trở thành cánh tay phải của Sát trong mọi sự vụ quan hệ.

Nguyễn Trãi được bổ làm Hành khiển thừa chỉ, dâng biểu tạ ơn.  Vài ngày trước khi Trãi rời Côn Sơn về
Kinh, Lộ nói dỗi :

- Thầy làm Hành khiển cho một vị thiếu đế không có quyền, chắc là sẽ bận bịu lắm.  Thôi, thầy cứ đi một mình, thầy nhé...

Trãi phải năn nỉ mãi Lộ mới chịu theo, nhưng dặn là không thù tiếp ai ở nhà, và nhất là cứ có dịp thì  rời Ðông Ðô lánh đi Nhị Khê.

Công việc đầu của Trãi không dính gì đến sự vụ hành khiển.  Nguyễn Thiên Tích làm Ngự tiền học sinh cục trưởng, xin để Trãi phụ tá mình trong kỳ thi học sinh đầu tháng hai, lấy đỗ nghìn người, chia làm ba bậc.  Bậc nhất và nhì, đưa về cho học ở Quốc tử giám.  Bậc ba, cho học tại các nhà học ở các lộ và đều miễn lao dịch.  Ðó là lần đầu lê dân có cùng cơ hội như đám con cháu quan từ hàng tam phẩm trở lên vẫn tự động được vào học ở mọi nơi.  Nhưng nói cho ngay, từ thời Lê Lợi, cái học ở Quốc tử giám dẫu chỉ nhắm đào tạo nha lại cũng chẳng mấy thành công.  Trãi cùng đám quan văn dâng sớ xin cải tổ việc học .  Bọn
đại thần phụ chính gạt đi, coi chữ nghĩa là phù phiếm.

Sự nghi kỵ đám giá bút sau thời gian đó trở thành trầm trọng vì vụ giám sinh Nguyễn Ðức Minh bị bắt.  Số là Minh  rời nhà đến Quốc tử giám, thấy dán ở vách đền trên đường một mảnh giấy trong có câu ‘‘ ...Ðại tư đồ Lê Sát và Ðô đốc Lê Vấn cùng mưu giết ông Sĩ phán đại lý ’’.  Ðức Minh gọi người đến xem rồi lấy xé ra ném xuống nước.  Ai cũng biết ông Sĩ chính là tên tục của Lưu Nhân Chú.  Sát giận, ngờ Minh viết,  sai bắt rồi tra khảo thừa sống thiếu chết để tìm ra những kẻ chủ mưu đằng sau.  Minh không nhận.  Sát định chém nhưng Ngôn quan Nguyễn Thiên Hựu cho là còn ngờ, xin giảm tội chết, chỉ tịch biên gia sản và bắt đi đày.
Thời gian đó, nạn hạn hán đã kéo dài hai tháng.  Không mưa, mặt ruộng khắp nơi nứt nẻ sạm xịt   như da xác chết, cả mùa lúa vụ Ðông Xuân coi là thất bát.  Dân từ Mường Ba Long, Mường Mộc... kéo về Kinh ăn mày ăn xin, người chết đói rải rắc khắp năm cửa ô.  Sát lo, nhưng không biết làm gì hơn là sai đặt đàn chay ở điện Cần Chính rồi cho cầu đảo.  Theo lời của vợ lẽ là Nguyễn thị, Sát bắt các quan rước Phật chùa Pháp Văn ở Cát Châu về Kinh cầu mưa, dùng tay thuật sĩ  họ Trần lập đàn tế sao ba ngày ba đêm.  Trời vẫn không mưa.  Ngày 24 tháng tám, vào giờ Thìn, Kinh đô nhốn nháo, hàng dân la ó chạy như kiến vỡ tổ vì ở phương đông bắc, khí xanh khí đỏ như hình cầu vòng tụ lại lừ lừ bay về. Cũng hôm đó, người thợ ở Tả ban tất tác là Cao Sư Ðăng xây chùa Thanh Ðàm có đến tám mươi gian, buột miệng ‘‘ ...thiên tử không có đức, đại thần ăn của đút, có gì là thiện đâu mà làm chùa to thế ! ’’.  Bị cáo giác, Sát nghe giận lắm, sai bắt Sư Ðăng.  Quan thẩm hình bảo ‘‘ Nó dám nói càn, đem chém ! ’’ .  Nguyễn Thiên Hựu lại xin tha tội chết.  Sát quát ‘‘ ...trước đã nghe ông, không giết Ðức Minh vu cho ta tội hại công thần, nay lại định tha thằng này, làm sao răn sợ đứa khác ! ’’.  Hựu không nói nữa.  Sát sai mang chém Sư Ðăng thì trời mưa nhỏ.  Hôm sau, trong triều Sát hớn hở :

- Nếu nghe Ngôn quan, làm gì có trận mưa ấy.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #96 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:14:07 pm »

Không ai ngờ rằng Lê Ngân nói sẵng:

- Giết nhiều kẻ xấu thì mưa nhiều, chỉ có điều xương người chất đầy đường khó đi mà thôi !

Trời vẫn giáng cơn hạn xuống đất Giao Chỉ, cả tháng chưa có đến một giọt mưa.  Bắt đầu vào hè, mặt đất chằng chịt những vết cùi hủi khô hoác trơ ra dọa nạt.  Gạo trong kho nhà vua phát đã gần hết, trong khi đám người đói ăn kéo về Kinh mỗi lúc một đông.  Họ ngơ ngẩn, mắt trắng dã, miệng hông hốc, chân bước khật khừ. Lê lết ở cổng chùa chiền, họ xếp thành hàng dài, tay nâng những chiếc bát  mẻ lên mỗi khi có khách thập phương đi ngang.

Một điều lạ, hàng dân trố mắt thấy quân lính địa phương từ các châu, lộï  đi hộ tống từng đoàn xe  chở hàng trăm cái cũi đưa về Kinh.  Sau những mảnh vải đen trùm lên cũi, không ai biết là gì.  Chỉ nghe thấy tiếng kêu tựa như tiếng chí chóe,  người ta kháo nhau có lẽ là tù binh bắt từ Mường Ba Long, nơi có dân nổi loạn chống triều đình.  Có người ra dáng chê bai, bảo đói thế này, giết cho xong chứ tù chỉ nuôi tốn cơm.  Từ cửa Ðại Hưng, đoàn xe tập hợp lại rồi theo ven sông Tô Lịch chia nhau đi về phía Hoàng cung.  Thái sử Bùi Thì Hanh và Lễ bộ thị lang Trịnh Toàn Phương đã chờ sẵn, chỉ  trỏ ra lệnh, đoàn xe cái thì vào điện Vạn Thọ, cái thì vào điện Cần Chính, Kính Thiên ...  Phương không đội mũ và không mặc áo tía dành cho quan hàng ngũ phẩm như lệ thường.  Bỏ tóc xõa đến vai, quan Lễ bộ lần này choàng lên người một bộ áo thụng trắng toát, lưng thắt bằng dây cói, tay cầm thiền trượng có gắn những quả chuông nhỏ leng keng nhịp theo từng bước.

Ðầu giờ Thìn, ba tiếng trống thì thùng điểm.  Khi đó, Lê Sát và Nguyễn-thị từ điện Kính Thiên bước ra.  Cũng đúng lúc đó, có tiếng lao nhao.  Rồi tiếng quát :

- Sao lại bắt ?  Bắt làm gì ?  Trả lại cho ta...

Sát quay sang hỏi.  Tên chưởng đội chạy ra.  Lát sau, hắn quay về, gập đầu thưa :

- Bẩm Ðại Tư đồ, một thằng khùng khùng...

Ngoắc tay, Sát lạnh lùng :

- Bắt nó, hạ ngục ngay cho ta !

Toàn Phương lẩm bẩm khấn vái cho đến khi Thái sử Bùi Thì Hanh đến gần nói nhỏ vào tai.  Cả hai tiến về phía Sát.  Phương vòng tay cúi đầu :

- Bẩm Ðại Tư đồ, mọi việc đã sẵn sàng.  Ðại Tư đồ đi ngay cho !

Sát nhìn lên trời cao.  Nắng gay gắt đổ lửa xuống nhân gian không một chút gì thương xót.  Ðằng xa, tháp Báo Thiên ánh lên sắc lấp lóe của những chiếc tầm sét chờ cơn thịnh nộ.  Thình lình trời tối dần.  Khi cả bọn vào trong điện Kính Thiên, Thì Hanh thì thầm :

- Bẩm Ðại Tư đồ, con tinh vượn đen sắp ăn mặt trời.  Ðúng khi nó nhe răng ra gặm, ta mới giết những con vượn sống đã trấn yểm ở vị bộ bát quái trong cung điện, ắt khống chế được tai biến như hạ quan đã trình...
Hanh chưa dứt lời thì Toàn Phương, răng cắn chặt một bó hương đang cháy, tay phải cầm thiền trượng, tay trái buộc   bó chỉ ngũ sắc giơ lên bắt quyết, đảo người xoay vòng vòng như lên đồng.  Nhạc ngũ âm tấu lên, cung bậc thoắt lên cao, chói vào tai như kim đâm.  Nguyễn-thị thì thào :

- Khống chế tai biến thế nào ?

Thì Hanh đáp :

- Dạ, lúc tinh vượn thấy đồng loại chết,   nó sợ há mồm ra kêu thì không nuốt được mặt trời...

Trời tối sầm xuống.  Ðúng lúc ấy, trống ngũ liên nổi lên.  Ngoài cung, tiếng la ó, tiếng chân chạy thình thịch.  Ở khắp các điện,  vượn tru tréo kêu thảm thiết. Bọn lính rút dao chực sẵn, dứt hồi trống là thẳng tay đâm vào rồi cứa cổ vượn. Giết xong, bọn lính được lệnh lấy máu vượn vẩy lên sân cung điện.  Ðến lúc mặt trời  ló ra thì rõ là con tinh vượn đã bỏ chạy vì sợ.   Sợ cũng phải, đếm ra có đến dư ba trăm con vượn được mang ra trấn yểm ở năm cung và sáu điện.  Máu trên sân, trên sàn, đỏ lè, kỳ cọ phải hai ngày sau mới sạch.

Sau hôm có nhật thực, Ðại Tư  đồ nắm quân quyền vui hẳn lên, hậu thưởng cho Bùi Thì Hanh và Trịnh Toàn Phương.  Chẳng để Nguyễn - thị nài nỉ lâu, Sát để vợ lạy Toàn Phương làm thầy. Mặt trăng đói đi gặm mặt trời đâu chỉ là điềm họa. Lính mang xác vượn ra phân phát cho những người đói ăn nằm rải rác khắp  nơi trong Kinh.  Họ hò hét tranh nhau xô vào cướp.  Có kẻ kêu ‘‘ Ăn vượn, như ăn trẻ con ! ’’.  Người ta liền đáp ‘‘ ...đói thì trẻ con cũng ăn ’’.  Từ cổng chùa Báo Thiên, Ðạo Khiêm miệng niệm nam mô, đi theo một chú tiểu. Không hẹn,  Khiêm chống gậy đến chỗ Trãi ở, bảo :

- Ông bạn của chúng ta bị bắt rồi.  Hôm qua hắn la ó gây sự với bọn quan quân ở Hoàng thành...

Trãi hỏi cớ sự, rồi cả hai đến Thẩm hình viện xin cho gặp tên tù mới bắt, vào ngục nhưng vẫn la thét cả đêm như người điên.  Ngục quan mở cửa, tay đưa một ngọn trủy thủ,  thưa với Hành Khiển rằng nếu tên  tù điên thật thì cứ giết ngay, không sao. Ðạo Khiêm và Trãi bước vào, nhìn Lý Tử Cấu co ro nằm, đầu gối kéo lên đến cằm.  Khiêm chưa kịp hỏi,  Cấu đã kêu toáng lên:

- Chúng nó bắt con vượn lông vàng của đệ rồi !

Thấy Trãi bên cạnh Khiêm, Lý Tử Cấu nổi nóng, gay gắt :

- Huynh đài thấy đấy !  Muốn cướp muốn bắt là cướp là bắt...Cái triều đình của huynh còn ngặt hơn cả bọn quân Minh ngày xưa.
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #97 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:14:52 pm »

Trãi ngượng ngùng im lặng, để Ðạo Khiêm kể. Nghe việc giết vượn trấn yểm, Cấu nước mắt trào ra, giận  dữ gào :

- Chúng nó giết tri kỷ của ta rồi !  Trời ơi !  Trời không có mắt ư ?

Quay mặt vào tường, Cấu ấm ức khóc như con trẻ, mặc cho Ðạo Khiêm dỗ dành an ủi.  Trãi buồn bã, không nói gì.  Làm quan, chàng mới biết mình liên đới trách nhiệm cả cái chuyện dị đoan mê tín mà bọn Thì Hanh và Toàn Phương giấu kín cho đến lúc thi hành.

Thẩm hình quan cho lệnh tha, Trãi và Ðạo Khiêm thuê cáng mang Lý Tử Cấu về chùa Báo Thiên.  Cho đến lúc Trãi chắp tay tạ từ, Cấu mới mở miệng :

- Này Ức Trai !  Hiền huynh sướng hay khổ ?

Ngập ngừng, Trãi thốt :

- Không sướng !

- Nhàn nhân bất lợi thiên hạ, thiên hạ trị hỉ !  Ðừng ai đi làm lợi cho thiên hạ, ắt thiên hạ sẽ vui mà trị.  Ðệ hiểu huynh không phải vì cái bả khanh tướng mà xuất.  Nhưng huynh nhớ cái tích Dương Tử đi câu ở sông Bộc chứ.  Hai đại phu được Sở Vương sai đến vời ông ra phụ chính, ông không thèm ngoảnh lại, bảo thà là con rùa sống kéo đuôi trong bùn còn hơn con rùa chết bảo quàn ở chốn miếu đường.  Thôi đi, đi đi,  đừng làm bẩn mình nữa !

-      ...

Sai người vời Thị Lộ vào hoàng cung, Nguyên Long thấp thỏm từ khi mặt trời ló ra sau đỉnh tháp Báo Thiên phía đông điện Càn Ðức.  Ði ra đi vào, Long ngứa chân đá bọn hoạn quan, miệng chửi om xòm.  Xưa nay vốn được yêu dùng, Ðinh Phúc cũng phát sợ, tìm gọi Lương Ðăng.  Dưới tiên triều, Ðăng đã chém đầu chú ruột là ngụy quan Lương Nhữ Hốt, kẻ làm tham chính cho Thượng thư Hoàng Phúc nhà Minh sang cai trị Giao Châu.  Ðăng tìm đường tiến thủ bằng cách tự thiến để xung vào làm hoạn quan, đồng thời  là tai mắt cho Nội Mật viện. Tiên đế Thái Tổ cho Ðăng chức Nội nhân phó chưởng, nhưng vốn   tính nghi kỵ và không ưa nịnh nọt,  sau đẩy Ðăng  ra cho làm văn đội.  Nội Mật viện nay lấy cái thế liên minh với Lê Sát, lại đưa Ðăng trở lại hoàng cung, tiếng là để tập tành cho đám cung nhân nghề thư họa hát xướng.  Khéo bày trò chiều vị tân hoàng đế tập tễnh vào tuổi dậy thì, Ðăng dần dần chiếm được lòng Nguyên Long.

Ðược lệnh gọi, Ðăng giả khép nép, đẩy cửa rồi quì một gối, giọng như đóng vai hề :

- Muôn tâu bệ hạ, có lệnh truyền là kẻ tiện nhân đến ngay mong báo đáp hoàng ân...

Ðang bực mình, Long sẵng :

- Ta truyền lệnh gì... Hoàng ân cái mả mẹ mi !

Dứt lời, Long giật cây cung treo trên vách.  Bọn hoạn quan còn ngạc nhiên thì Long đã lắp tên vào nhắm rồi bắn.  Thật may, mũi tên vút cạnh đầu một hoạn quan thập thò ở cửa.  Thế là cả đám tóe chạy, miệng la ôi ối.  Không ngờ đến cái trò vui lạ lùng này, Long thích chí tiếp tục bắn, tên găm lên vách, lên cột.  Bọn hoạn chạy ra vườn Ngự Uyển. Long đuổi, rồi rình cứ như đi săn.  Lát sau, đã có kẻ bị tên vào đùi, vừa kêu đau vừa tập tễnh chạy.  Long đuổi theo, tay lắp tên, miệng thét ‘‘ ...con hoẵng, mày chạy đằng trời à ?... ’’.  Tên hoạn quan ngã chúi mặt vào bụi cây ngâu.  Ðịnh chồm dậy nhưng Long đã nhào lại chặn, mũi tên căng trên dây kê vào thái dương, tuột tay là mất mạng như bỡn.  Tên hoạn quan sợ quá, miệng rối rít :

- Ối giời đất ôi, tha cho tôi...  giời ơi là giời !

Long cười ha hả :

- Lần đầu ta thấy một con hoẵng biết nói.  Giời đâu mà gọi, hả ?

- Lạy hoàng đế, bỏ hộï cái mũi tên ra...  Con hoẵng này muốn sống...  giời ơi là giời !

- Lại gọi giời à ...

Ðúng lúc đó, bọn lính Thiết Ðột ở đâu hiện ra.  Một tên quì xuống chưa kịp tâu thì giọng  đàn bà đã cất lên :

- Muôn tâu bệ hạ, tiện nữ vâng thánh chỉ đã tới hầu.  Xin bệ hạ chớ để tiện nữ thấy máu, sợ lắm...

Nguyên Long nghe tiếng Thị Lộ, quẳng ngay cây cung xuống đất, miệng vui mừng :

- Chị đấy à !  Em chờ mãi...  Sốt ruột nên mới phải bày trò săn hoẵng.

Vừa tội nghiệp, vừa buồn cười, Thị Lộ cố giữ cung cách nghiêm trang, quì xuống gập đầu :

- Tiện nữ phụng mệnh, cung chúc hoàng thượng vạn tuế !

Long nhảy lại cạnh Lộ, nắm tay rồi liến láu :

- Với người ta thì bệ hạ hay hoàng thượng được chứ với chị thì không !  Vào đây, vào đây với em...

Vừa nói, Long vừa kéo Lộ đi.

Long có chủ đích, nắm tay Lộ, đi như chạy.  Lộ bước theo, nói nhỏ :

- Bệ hạ là vua, chẳng thể như người ta.  Xin đừng tự xưng là em như hồi nãy nữa, không được đâu.
Ngừng chân, Long hỏi :

- Làm vua, rồi chẳng thể thế này, không được thế kia !  Thế thì để làm gì ?  Chị bảo không xưng em, chẳng lẽ xưng ta à ?
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #98 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:15:36 pm »

Lộ ngẫm nghĩ.  Nhớ đến những mảnh gương vỡ vụn phản chiếu khuôn mặt nát ra thành những mảnh sắc nhập nhòa và tiếng thét vô vọng ngày Long bỏ chạy về hoàng cung dạo nọ, Lộ bỗng chạnh lòng. Tai lại văng vẳng tiếng Long gào ‘‘ ...ta làm gì có mẹ! ’’  và tiếng nghiên mực đập vào cái gương góc thư phòng hôm nào, nàng đồ rằng sự ngỗ nghịch tai quái đến ác độc của Long chỉ là cách giấu đi nỗi cô đơn trong lòng đứa trẻ thiếu tình thương một người mẹ. Nhìn Long,  Lộ dịu dàng :

- Thì xưng là... quả nhân.  Và thôi, cứ gọi tiện nữ là chị cũng được !

- ...Quả nhân... sẽ chỉ gọi một mình chị là chị.

Hai người đi dọc qua hành cung, rẽ về phía đông điện Hội Anh.  Long kéo Thị Lộ đến cạnh chiếc cột to bằng hai người ôm, chạm trổ một con rồng lượn từ dưới lên, ngóc đầu nhìn vào sân chầu nơi bá quan nghị sự.  Không nhìn Lộ, Long giọng rưng rưng thì thào :

- Chỗ này là chỗ khốn nạn nhất, chị biết không ?

Lộ ngạc nhiên nhìn.  Thân rồng vẩy sắc vểnh lên, vờn quanh là bốn con hổ, con nằm phủ phục, con dương nanh há miệng, con chồm chân như sắp vồ.  Lạ là ngoài cặp mắt rồng tròn vo lồi ra, mắt những con hổ bị khoét sạch, nét dao vụng về xoáy vào bằm vặp.  Lộ buột miệng :

- Tại sao lại thế ?

- Quả nhân dựa cái cột này đã một trăm sáu mươi hai ngày để nghe chúng nó bàn chính sự, làm cái này, thôi cái nọ...  Cái ngai vua bỏ trống, vua đứng dựa cột cho Tư đồ, Tư khấu sai bảo quần thần.

Rút chiếc dao găm từ chiếc bao da có thếp vàng ra cầm, Long thẳng tay đâm vào mắt con hổ đang chồm chân.  Vừa khoét mắt hổ, Long vừa nghiến răng :

- Con hổ này nó bắt quả nhân  lấy con nó làm vợ đấy...  Tháng sau thì con hổ cái về ở điện Vạn Thọ, vua có ưng hay không cũng mặc !

Nói đến đó, Long ngồi phục xuống chân cột, hai tay bưng mặt, khóc rưng rức.  Nhìn đôi vai Long run rẩy,
Lộ không biết làm gì.  Nàng để Long cứ thế khóc vùi, chỉ lẳng lặng nắm tay Long khe khẽ bóp.  Nhìn lên, bốn con hổ nay đều chột mắt chầu quanh con rồng vẩy sắc, Lộ  rùng mình.  Nàng bỗng sợ cho Long. Dẫu sao Long cũng vẫn chỉ là một đứa trẻ.  Lộ thì thào :

- Có nhớ chị nói gì dạo nọ không ?

Ngạc nhiên thấy mình xưng chị với Long, Lộ nghe Long nức nở :

- Nhớ, nhớ một chữ nhẫn chị dặn...

Lát sau, Long gạt nước mắt, giọng quả quyết :

- Quả  nhân hỏi chị trước, chị ưng thì sẽ xin Tư đồ Lê Sát để chị vào điện Vạn Thọ giảng kinh sách cho quả nhân !  Chị bằng lòng không ?

Triều đình đồng lòng sai Hành khiển Nguyễn Trãi viết thư cầu phong với nhà Minh cho Văn Thái Tông Nguyên Long.  Biểu cầu phong   đã đưa lên Tư đồ Lê Sát duyệt đến hai tuần trăng nhưng Trãi vẫn chưa nghe động tịnh.  Khoảng thời gian đó, hoàng cung huyên náo vào dịp làm lễ tơ hồng cho Thái Tông và Lê Kim Dao, con gái thứ của Tư đồ Lê Sát.  Chuyện lễ lạc xong, Lê Cảnh Xước  và Nguyễn Thúc Huệ mời Trãi vào Nội Mật viện.  Xước giả lả :

- Biểu cầu phong do quan huynh viết đúng là rồng bay phượng múa.  Duy có một điều bàn với quan huynh là nên đổi lại...

Trãi vái, rồi nhẹ giọng :

- Quan huynh nói, đệ xin lĩnh giáo.

Lê Cảnh Xước nhìn Thúc Huệ, trịnh trọng ê a đọc lại bài biểu, rồi đòi đổi lại mấy chữ.  Nghe Xước nói, Trãi phát bực mình.  Thật ra, đổi dăm ba chữ thì biểu văn mất đi cái hùng khí tự cường kín đáo, đâm thành quị lụy lời của phiên thần van nài xin xỏ với đức Ðại hoàng đế nhà Minh.  Hít một hơi dài vào lồng ngực, Trãi giữ bình tĩnh, nhìn hai vị đồng liêu một chặp.  Chàng đoán là việc trì trệ gửi biểu cầu phong do Sát quyết định, ý để con mình  thành nguyên phi rồi mới chính thức xin cho Lê Thái Tông Nguyên Long làm An nam quốc vương.  Như vậy, cháu ngoại mình là giòng giõi huyết thống, sau tất nhiên sẽ kế vị trị vì.  Chàng cũng hiểu rằng Sát không sai bảo, hai vị đồng liêu này đâu dám tự tiện đến xách mé một câu, hai chữ với mình.  Gượng cười, Trãi chắp tay, nhẹ giọng :

- Quan huynh góp ý, đệ kính cẩn ghi tâm.  Nhưng lần này thì đệ xin huynh thứ lỗi.  Ðệ nghĩ rằng văn có cái khí của văn.  Khí thuần nhất, phải nhất quán về tình và về lý.  Ðằng sau tình và lý, là hồn.  Hồn của biểu văn đây là cái hùng tâm đế vương một cõi, không cúi đầu để xin, không quì gối để nài...  Chỉ một hai chữ là có thể đổi hẳn cái ý chí kia, làm hại đến quốc thể.  Xin huynh nghĩ lại cho...

Thúc Huệ chen vào, mặt lạnh như tiền :

- Quan Hành khiển, vâng lệnh Tư đồ sai chúng tôi hội ý với ngài...

Trãi ngắt :

- Nội Viện chính sứ, đổi dăm chữ là ý của Tư đồ hay là ý của hai vị...

Nói đến đó, Trãi bỗng nghĩ đến cái cảnh hạn hán đang đe dọa hàng dân, bực bội tiếp :

- ...Thôi, hai vị biết còn biết bao nhiêu việc cần làm ngay, xin chớ bận tâm về một vài chữ...
Logged
Uragan
Thành viên
*
Bài viết: 860


« Trả lời #99 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 02:16:18 pm »

Cảnh Xước cầm bản thảo bức biểu đập xuống, cao giọng :

- Nhưng lệnh Tư đồ, chúng tôi không làm không được !

Trãi không dằn được, đứng bật dậy.  Nhìn chòng chọc, Trãi quát :

- Bọn các ngươi biết gì mà bàn chữ với nghĩa.  Xưa nay làm cái việc thu thuế, thì cứ thế mà đi vơ đi vét.  Ngoài hoàng cung, hàng dân đang đói vì hạn hán.  Nạn này, cũng vì có những kẻ như các ngươi mà trời hành đấy...

Dứt lời, Trãi bước thẳng.

Nhưng việc vừa xảy ra chỉ là đòn đánh dứ vào bọn văn quan.  Bọn Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thiên Hựu, Bùi Cầm Hổ, Trình Thuấn Du...đến gặp Trãi tại tư dinh, báo việc Ðồng tri bạ tịch Bắc Ðạo Bùi Ư Ðài.  Viên trọng thần họ Bùi đã theo nghĩa quân từ thuở vây Ðông Ðô, được Lê Lợi cất lên chức Thượng thư ngay khi còn ở dinh Bồ Ðề đối đầu với Vương Thông.  Mới đây, Ðài dâng sớ, tâu hai điều.  Thứ nhất, Ðài khuyên vua bên trong dùng Hoàng huynh, Quốc cửu am hiểu điển chế xưa để nhắc nhở cho mình, bên ngoài đặt chức sư phó làm cột trụ chỉ huy trăm quan.  Thứ hai, Ðài nhắc rằng những quan viên văn võ có tội trước kia Tiên đế bắt đi đầy thì nay lại thấy chúng trở về làm quan nắm quyền coi quân, trị dân.  Thế là trái ý Tiên đế và không hợp đạo Trời Ðất.

Ðại tư đồ Lê Sát biết.  Bàn với Lê Ngân, Sát làm tờ tâu :

 ‘‘ ... Tiên đế vốn biết bọn thần là hạng chất phác ngu độn cho nên lúc sắp mất đem bệ hạ ký thác cho bọn thần.  Nay Ư Ðài nói thế, ý ngờ bọn thần chuyên quyền làm bậy, xin bệ hạ lập người khác để phòng giữ, vậy là ly gián vua tôi, phải trị theo phép nước ’’.

Kể xong, Nguyễn Thiên Tích nhìn Trãi ngần ngừ rồi nói :

- Quan huynh xem, đám giá gươm nay coi bọn tháp bút chúng ta là hằn thù.  Ư Ðài là điểm đánh đầu. 
Huynh cũng bị chúng khiêu khích, hớ miệng là có thể bị khép tội ngay.

Trãi thở dài rồi lẳng lặng về dặn dò Thị Lộ nay được phép ra vào Hoàng cung  thù tiếp Nguyên Long.  Mấy ngày sau, Lê Sát gọi Trãi vào, hằn học bảo :

- Hạn hán vì Trời phạt thì do Vua và Tể tướng.  Sao ông trách ta đến vậy !

Biết cái thế của mình, Trãi từ tốn thưa :

- Thúc Huệ chỉ có tài vét thuế mà chiếm chỗ then chốt, vơ của dân về cho quan để mong hợp ý Vua.  Tôi nhân việc này mà nói hắn thôi, không dám bàn gì đến Vua và Tể tướng cả...

Sát không nguôi giận, nhất là vì khi đó Sát đã tâu vua xin lệnh chém Ðài đến dăm ba lần mà Nguyên Long nhất định không chịu ban chiếu.  Việc này găng đến độ bọn Thiên Tích và Cầm Hổ đành dâng sớ, nói rằng Ư Ðài dẫu gì cũng gây hiềm khích, không thể không xét.  Cho đến khi Hữu bật Lê văn Linh, vị văn quan đầu tiên có mặt từ thuở Hội thề Lũng Nhai cầm tờ sớ đến, Vua mới cho xét, nhưng cuối cùng chỉ đầy Bùi Ư Ðài đi châu xa.

Ðại Tư đồ Lê Sát sai bọn Nội Mật điều tra, nhưng không rõ có ai xúi bẩy gì mà Vua lại khăng khăng bảo toàn tính mạng cho Ư Ðài.  Sát ra lệnh cho tướng hiệu giữ các cửa hoàng cung và cung cấm rằng từ nay về sau, từ Ðại thần, Tổng quản, Hành khiển cho đến bọn cung nhân vào chầu thì phải chuyển tâu trước, đợi có sắc chỉ mới được vào.  Ðàn bà không có phẩm tước đều bị cấm.  Nội nhân, nô tỳ, nữ quan ở các điện không có việc thì không được bước tới các điện khác.

Khi Nguyên Long Thái Tông Văn hoàng đế biết không còn gặp được Thị Lộ, Vua mặt mũi xám  ngắt.  Suốt ngày viết đi viết lại chỉ một chữ nhẫn, Vua lẩm bẩm một mình, viết xong bỏ giấy vào miệng nhai rồi nuốt.

Sau vụ Bùi Ư Ðài, Lê Sát tạo áp lực khiến Nguyễn Thiên Hựu phải trút mũ xin từ quan.  Rồi Sát đẩy Ngự sử Bùi Cầm Hổ làm An phủ sứ trấn Lạng Sơn, lấy tay chân mình là Phan Thiên Tước phong chức Thị ngự sử. Khi thế lực trong triều đình sắp đặt đã đâu vào đó, Ðại Tư đồ lại gặp một sự việc khó xử.  Dăm tuần sau lễ tơ hồng, Kim Dao về nhà khóc lóc.  Nguyễn-thị là mẹ ghẻ hỏi rồi bắt Dao cởi truồng ra, thấy người bà hoàng hậu năm nay vừa đúng mười sáu bầm tím khắp nơi.  Thì ra cứ vào giường là Nguyên Long lại đè Dao ra đấm đá.  Nguyễn-thị chép miệng :

- Chết chửa !  Hay là chẳng có ai dậy Hoàng Thượng làm đàn ông ?

Dao  ấm ức, vừa mặc xiêm áo vào vừa nói :

- Nó đánh nữa, chắc là con phải đánh lại !

- Ấy chết, đừng !  Mày to xác, mày đánh mà Vua mệnh hệ gì thì sao !

Thị kể lại, Sát nghe xong vỗ bàn quát Dao :

- Vua không biết ngủ với hoàng hậu mà Tể tướng phải lo là lo làm sao ?  Giời ơi là giời !  Ðoảng ơi là đoảng !  Khi tao   mười hai tao đã biết làm đàn ông ra trò rồi ! Mẹ mày lúc ấy mới mười lăm, con ơi là con ơi !

Nguyễn-thị nguýt Sát, ngúng nguẩy :

- Biết sớm thì thôi sớm, muốn muộn cũng chẳng được, hay hớm gì !  Ðể đó tôi lo.  Bùa yêu sắc ra cho uống thì chỉ cuối năm là có cháu bế ngay...

Nguyễn-thị đến bàn với Trịnh Toàn Phương.  Hai thầy trò vào điện Vạn Thọ hì hục trấn yểm.  Ðặc biệt là trong phòng ngủ của Nguyên Long, Toàn Phương cho cậy gạch dưới chân long sàng để chôn những đạo bùa màu vàng có vẽ hình bộ phận cả âm lẫn dương.  Xoa tay nhìn Nguyễn-thị, Toàn Phương thì thào, giọng hả hê :

- Giờ nõn có, nường cũng có thì đố mà kiềm được...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM