thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #110 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2011, 06:09:11 pm » |
|
Bệnh hoài cổ và lý sự của "đường lưỡi bò" Tác giả: Khắc GiangNói về cái lý "nhắc đến tên tôi có nghĩa là của tôi" của Trung Quốc, một bình luận của độc giả trên tờ Economist mỉa mai: "Biển Nam Trung Hoa nên nó là của Trung Hoa? Vậy là Ấn Độ Dương sẽ thuộc về Ấn Độ? Nếu đó là thật, có lẽ các quốc gia khác cũng nên nghiêm túc xem xét việc thay đổi quốc danh... Về phần Trung Quốc, có lẽ họ sẽ muốn đổi tên nước thành "Thái Bình Dương." Từ biển Giao Chỉ tới đường lưỡi bòMông Cổ có chủ quyền không thể tranh cãi với các lãnh thổ từ biển Hoàng Hải ở Đông Á cho đến Châu Âu. Nơi nào đã từng in vó ngựa thảo nguyên, đã từng có tên trên bản đồ của đế chế Mông Cổ từ thế kỉ XII-XIII đều thuộc nước Mông Cổ hiện nay. Con cháu của Thành Cát Tư Hãn hoàn toàn có thể tuyên bố như vậy nếu sự ngộ nhận về biển Đông của Trung Quốc dựa trên "lịch sử" là đúng. Biển Đông, được Trung Quốc gọi là Nam Hải, không thực sự xuất hiện nhiều trong cả đời sống văn hóa và chính trị của nước này trong một thời gian dài. Dễ thấy trong cả văn học và lịch sử Trung Hoa, chúng ta chỉ thường hay bắt gặp cái tên Đông Hải, vùng biển phía đông Trung Hoa lục địa, hơn là vùng biển phía nam vốn được coi là "hoang sơ "này. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, đối với Biển Đông, hầu hết bản đồ Trung Hoa vẽ về Việt Nam từ thế kỷ XV hoặc trước nữa cho tới đầu thế kỷ XX đều ghi biển cả phía đông Việt Nam là Giao Chỉ dương hay Đông Dương đại hải hoặc Đông Nam hải, đều có nghĩa là biển của Giao chỉ (tức Việt Nam) hay đơn giản là biển Đông (của Việt Nam). Trên hai trang 11b và 12a trích từ sưu tập bản đồ Võ bị chí (ghi lại cuộc hành trình của Trịnh Hòa trong thời gian 1405-1433 đi từ Trung Quốc qua Ấn Độ dương tới Phi Châu) có vẽ nước ta tuy đơn giản nhưng cũng rõ ràng: Nước Giao Chỉ bắc giáp Khâm Châu Trung Quốc, nam giáp nước Chiêm Thành, đông giáp biển cả mang tên Giao Chỉ dương, tức biển của nước Giao Chỉ. Đây là tư liệu của Trung Hoa khắc vẽ về nước ta và biển cả thuộc về nước ta từ thế kỷ XV. Nước Giao Chỉ với Giao Chỉ dương, trích từ bộ Võ bị chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu) Năm 1842, tác giả người Trung Hoa - Ngụy Nguyên xuất bản sách Hải quốc đồ chí mô tả và khắc vẽ bản đồ tất cả các nước trên thế giới và toàn thể năm châu bốn bể, theo phương pháp khoa học với kinh tuyến và vĩ tuyến. Trong sách này, Ngụy Nguyên đã vẽ hai bản đồ về Việt Nam. Trong đó, bản đồ thứ nhất vẽ sơ sài, chia nước ta ra hai phần (Việt Nam Đông đô và Việt Nam Tây đô). Ở ngoài khơi phía đông hai phần Việt Nam, Ngụy Nguyên ghi rõ là Đông Dương đại hải, tức biển Đông rất lớn. Cũng trong tác phẩm Hải quốc đồ chí, Ngụy Nguyên còn khắc vẽ bản đồ An Nam quốc với đường nét đúng kinh tuyến và vĩ tuyến rất rộng lớn. Ngoài khơi nước An Nam có ghi rõ Đông Nam hải, tức là biển Đông Nam.  An Nam quốc với biển Đông Nam hải, trích Hải quốc đồ chí. (Ảnh chụp lại từ tư liệu của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu). Vậy bằng cách nào và từ khi nào đã xuất hiện đường chữ U đứt khúc (hay "đường lưỡi bò" theo cách gọi phổ biện ở Việt Nam) để Trung Quốc vin vào đó khẳng định chủ quyền đối với 3/4 diện tích Biển Đông? Tại hội thảo về an ninh Biển Đông do CSIS tổ chức ở Washington D.C trung tuần tháng 6, lần đầu tiên một học giả Trung Quốc đã phải chính thức thừa nhận đường chữ U đứt khúc ("Đường lưỡi bò" theo cách gọi phổ biến ở Việt Nam) là sự thừa kế từ giai đoạn Tưởng Giới Thạch cầm quyền. Theo Giáo sư Tô Hạo, xuất phát từ "sáng kiến" của một người Trung Quốc vào năm 1930, năm 1947 Tưởng Giới Thạch đã cho vẽ thành bản đồ, nhưng chỉ lưu hành trong nước mà chưa có tuyên bố quốc tế. Nhưng đến 1949, khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, nhà cầm quyền mới tại Trung Hoa lục địa lại in thành sách và mang dạy cho trẻ con. "Bằng chứng lịch sử...rõ ràng?"Chính quyền Trung Quốc cho rằng họ có những chứng cứ lịch sử "rõ ràng" để khẳng định chủ quyền trên biển Đông: đó là việc người Trung Hoa trong 2.000 năm qua với lực lượng hải quân hùng mạnh, đã đi lại tấp nập trên biển Đông từ Hải Nam cho đến tận Indonesia. Ngư dân Trung Quốc cũng coi vùng này là nơi đánh bắt hải sản truyền thống, và những ai không tin vào các bằng chứng trên thì có thể nhìn vào những "di tích" tìm thấy trên các đảo thuộc vùng tranh chấp, gồm cả xương cốt của những người Trung Hoa từng đặt chân lên đây. Thế nên, dù trong cả 2.000 năm lịch sử đó chưa có vua chúa Trung Hoa nào tuyên bố biển Đông là "lợi ích cốt lõi" của họ, thì vùng biển này vẫn nghiễm nhiên là lãnh thổ của Trung Quốc. Khoan chưa nói đến đến bao nhiêu phần trăm số di tích tìm thấy trên đảo kia là "đồ xịn", thật là khó để thuyết phục bất kì ai rằng chừng đó là đủ để khẳng định chủ quyền lãnh hải cho một quốc gia. Điều này được chấp nhận thì chả khác nào coi những đống xương ở gò Đống Đa cũng là căn cứ xác định chủ quyền. Quan điểm về những cuộc thám hiểm và buôn bán của thương nhân và hải quân người Hoa trên biển Đông lại càng mơ hồ hơn. Nếu "bằng chứng lịch sử" là đúng, người Anh có lẽ bây giờ là bá chủ của nhân loại, khi tàu thuyền của họ đi lại tấp nập trên khắp các vùng biển trên thế giới vào thời kỳ hưng thịnh nhất của thực dân Anh, trong đó có cả vùng biển Đông Hải của Trung Quốc. Lý sự của cái tênTên gọi quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay của biển Đông là biển Nam Trung Hoa (South China Sea). Đó đơn giản chỉ là tên gọi của những người châu Âu giao thương với Trung Quốc qua con đường biển Đông vào thời cận đại, hoàn toàn không có ý nghĩa về mặt chủ quyền. Và trong bài viết mới đây nhất của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã lý giải rất rõ ràng vì sao từ biển Cochinchina (Giao Chỉ gần Trung Hoa), người phương Tây đã ghi sai nhầm là biển China. Tuy vậy, nhiều người Trung Quốc vẫn lầm tưởng rằng cái tên Nam Trung Hoa đồng nghĩa với việc biển Đông là chủ quyền của Trung Hoa. Trong các bài viết của China Daily, tờ báo tiếng Anh hàng đầu của Trung Quốc, tên gọi biển Nam Trung Hoa nhiều khi còn được dùng là " vùng biển phía Nam của Trung Quốc" (China's South Sea). Sự "lầm tưởng" này mang lại những tác hại vô cùng nghiêm trọng: một mặt kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong chính người dân Trung Quốc, một mặt cũng khiến cho tiếng nói của các quốc gia ASEAN có tranh chấp trên biển Đông cũng bị yếu thế hơn trong truyền thông quốc tế. Chẳng thế mà trong đầu tháng 6 vừa qua, Philippines vừa tuyên bố sẽ gọi biển Đông là biển "Tây Philippines" (West Philippines Sea), thay vì tên biển Nam Trung Hoa mà họ vẫn thường sử dụng. Thậm chí có một số ý kiến cho rằng nên đổi hẳn tên quốc tế của biển Đông là biển Đông Nam Á (South East Asia Sea) để xóa hẳn sự mập mờ trong tên gọi này. Nói về cái lý "nhắc đến tên tôi có nghĩa là của tôi" của Trung Quốc, một bình luận của độc giả trên tờ Economist mỉa mai: "Biển Nam Trung Hoa nên nó là của Trung Hoa? Vậy là Ấn Độ Dương sẽ thuộc về Ấn Độ? Nếu đó là thật, có lẽ các quốc gia khác cũng nên nghiêm túc xem xét việc thay đổi quốc danh... Về phần Trung Quốc, có lẽ họ sẽ muốn đổi tên nước thành "Thái Bình Dương." Link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-04-benh-hoai-co-va-ly-su-cua-duong-luoi-bo-
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #111 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2011, 01:33:54 am » |
|
Phanh phui 'kế mới' độc chiếm biển Đông của Trung Quốc (ĐVO) Trong bối cảnh biển Đông vẫn chưa lặng sóng, ông Zhu ChengHu, Giáo sư ĐH Quốc phòng, một trong những học giả có tiếng của Trung Quốc lại “đổ thêm dầu vào lửa” với chiêu hiến kế giúp Bắc Kinh độc chiếm biển Đông trên Thời báo Hoàn cầu.
Theo ông Zhu, truyền thông và học giả nước ngoài đang có thành kiến với Trung Quốc về vấn đề biển Đông, khiến "rồng Trung Quốc" lâm vào thế bị động trước dư luận quốc tế. Nghiên cứu, hoạch định chiến lược biểnGiáo sư Zhu khẳng định, để bảo vệ chủ quyền quốc gia tại biển Đông, trước hết Chính phủ cần tập trung nghiên cứu và hoạch định chiến lược biển nói chung và biển Đông nói riêng. Ông Zhu nhấn mạnh, kỹ thuật chế tạo tàu và sức mạnh hàng hải của Trung Quốc luôn đứng đầu thế giới. Triều đại nhà Nguyên có công đầu trong việc mở ra tuyến thương mại hàng hải nối liền Đông – Tây. Đây là một ví dụ điển hình cho sức mạnh siêu cường biển của Trung Quốc qua nhiều thế kỷ. Sau cuộc cách mạng công nghiệp, các nước phương Tây bắt đầu ý thức được vai trò quan trọng của biển đảo và nhanh chóng triển khai sức mạnh trên biển. Trong khi đó, triều đại nhà Minh lại ban bố lệnh “đóng cửa biển”, khiến sức mạnh hàng hải của Trung Quốc bị suy giảm trong bối cảnh mục nát của chế độ thực dân nửa phong kiến. Từ đó về sau, chiến lược biển gần như không có vị trí quan trọng và xứng đáng trong chiến lược phát triển quốc gia. Nhiều chuyên gia cho rằng, thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương. Do vậy các quốc gia ven biển đều ra sức khai thác và tận dụng nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là tại các vùng lãnh hải tranh chấp chủ quyền. Vì vậy, Bắc Kinh cần nỗ lực hoạch định chiến lược biển nói chung và biển Đông nói riêng. Theo ông Zhu, việc nghiên cứu và hoạch định chiến lược này phải do Trung tâm nghiên cứu chiến lược phát triển hải dương, trực thuộc Cục Hải dương Trung Quốc chịu trách nhiệm thực hiện. Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp, Bộ Giao thông, Cục Hải quan, chính quyền địa phương các tỉnh thành ven biển và những đơn vị có liên quan đều phải tham gia hoạch định chiến lược này. Hoàn thiện hệ thống chính sách an ninh quốc giaKhông chỉ chú trọng hoạch định chiến lược biển, Trung Quốc cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống chính sách an ninh quốc gia. Giải quyết những vấn đề liên quan tới biển đảo như: tranh chấp lãnh thổ, hoạch định đường biên trên biển, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng trên biển… đều là những nhiệm vụ quan trọng trong hệ thống an ninh quốc gia. Tuy nhiên, Giáo sư Zhu khẳng định, một số vấn đề liên quan tới an ninh quốc gia, trong đó có biển đảo thường do Chính phủ chỉ định một Bộ ngành nhất định giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, Bộ ngành chịu trách nhiệm thường xuất phát từ nhu cầu và đặc thù công tác của mình, thậm chí đặt lợi ích của đơn vị lên lợi ích của quốc gia và không chịu tiếp thu ý kiến đóng góp của các Bộ ngành khác. Những thói quan liêu, cửa quyền này sẽ gây tổn hại nặng nề tới an ninh quốc gia. Tăng cường lợi ích kinh tế biểnKế sách thứ ba theo ông Zhu là cần tăng cường lợi ích kinh tế trên biển Đông. Các nước tranh chấp chủ quyền đang ráo riết tận dụng mọi biện pháp để củng cố, tăng cường lợi ích căn bản tại biển Đông. Trong đó, có bên ngang nhiên chiếm hữu một số đảo, tuyên bố chủ quyền và phát triển du lịch quốc tế; có bên khai thác trái phép dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên trong vùng lãnh hải hợp pháp của Trung Quốc. Trong khi đó, dù có chủ quyền không thể tranh cãi tại vùng biển này, Trung Quốc vẫn bền bỉ chịu đựng. Những nhún nhường thời gian qua đã khiến các bên lầm tưởng có thể dễ dàng "nắn gân" và bắt nạt chúng ta. Do vậy, nhiệm vụ cấp bách hiện nay là duy trì và tăng cường lợi ích kinh tế tại biển Đông. Để giải quyết được vấn đề này, trước hết, Chính phủ nên kêu gọi các công ty dầu khí nhanh chóng tiến hành các hoạt động thăm dò và khai thác độc lập tài nguyên biển, cổ vũ những công ty này liên kết với các công ty, tập đoàn dầu khí lớn thuộc các nước phát triển, thậm chí là móc nối với các công ty của chính những nước đang tranh chấp chủ quyền biển Đông để cùng phối hợp khai thác. Ngoài ra, các Bộ ngành cần khai thông tư tưởng, cổ vũ các công ty du lịch lập đoàn khảo sát tại Hoàng Sa và Trường Sa, khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư khai thác du lịch tại đây và xây dựng một vài thiên đường “Maldives” để du khách trong nước và bạn bè quốc tế tới thưởng ngoạn. Mặt khác, cần tăng cường thăm dò, khảo sát tài nguyên biển vì biển Đông ngoài nguồn tài nguyên thủy sản, thủy triều, sức gió, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên vô cùng phong phú, còn rất nhiều khoáng sản giá trị khác chưa khám phá. Tận dụng quyền ngôn luậnMột nội dung quan trọng cuối cùng được học giả này đưa ra là cần tận dụng quyền ngôn luận để bảo vệ hình ảnh của Trung Quốc. Theo ông Zhu, các Bộ ngành chức năng cần xây dựng cơ chế thông tin kịp thời, định kỳ và sâu rộng những sự kiện thời sự trong ngoài nước tới giới học thuật, giúp các chuyên gia có thêm dữ liệu chính thống để tham gia hội đàm, phát biểu đầy sức thuyết phục tại các hội nghị quốc tế, khiến những quan điểm của Trung Quốc ngày càng được quan tâm và đón nhận. Muốn tận dụng quyền ngôn luận, cần hoàn thiện cơ chế giao lưu đối ngoại, xây dựng đội ngũ học giả, nhân tài có trình độ ngoại ngữ tốt, thậm chí thông qua các đại sứ quán Trung Quốc tại nước ngoài để lựa chọn các học giả gốc Hoa đủ năng lực. Đồng thời, các Bộ ngành cần lên dự toán cụ thể, hỗ trợ các chuyên gia tham gia những hội thảo học thuật quốc tế. Đây là một phương pháp hiệu quả góp phần tuyên truyền chủ trương chính sách và hình ảnh chân thực nhất của Trung Quốc tới cộng đồng quốc tế. Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/thegioi/Phanh-phui-ke-moi-doc-chiem-bien-Dong-cua-Trung-Quoc/20117/153442.datviet
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #112 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2011, 01:44:02 am » |
|
Báo Trung Quốc: Có " hàng rào " tốt mới có hàng xóm tốt Thời báo hoàn cầu đăng bài viết của Lý Lệnh Hoa, nghiên cứu viên Trung tâm thông tin hải dương quốc gia Trung Quốc cho rằng, giải quyết vấn đề Biển Đông hiện nay cần dựa vào Công ước Luật biển 1982, do đó tác giả cũng “ngầm” giải thích rằng đường lưỡi bò là vi phạm Công ước LHQ Luật biển 1982.
Hiện tình hình Biển Đông đã trở thành điểm nóng. Tính phức tạp của vấn đề Biển Đông không chỉ tồn tại trong tranh chấp lãnh thổ giữa các bên, mà còn tồn tại trong chủ trương phạm vi quyền tài phán vùng biển chồng lấn. Theo một thẩm phán về luật biển quốc tế từng tuyên bố: “sẽ xảy ra sự cố về chủ trương vùng chồng lấn”. Điều đó cho thấy, đây là vấn đề quan trọng cấp thiết đối với các quốc gia ven biển khi hoạch định đường biên giới trên biển Kể từ năm 1947, khi Trung Quốc đưa “đường đứt đoạn” hay “đường 9 đoạn”, “đường chữ U” vào bản đồ Biển Đông, hơn 60 năm qua chưa có một tuyên bố chính thức, rõ ràng của Đại lục hay chính quyền Đài Loan về ý nghĩa pháp luật của đường đứt đoạn này. Giải quyết tranh chấp Nam Hải phải dựa trên “Công ước LHQ về Luật biển năm 1982” và “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Nam Hải” ký năm 2002. Tất cả các nước xung quanh Biển Đông trong đó bao gồm cả Trung Quốc đều đã tham gia “Công ước”, chỉ có trong khuôn khổ “Công ước” thì mới có thể thực hiện cùng thắng giữa Trung Quốc với các nước xung quanh Biển Đông. “Công ước “ quy định, mỗi quốc gia ven biển đều có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng 200 hải lý, nói theo cách thông thường, đó là phạm vi các nước tính từ đường cơ sở thực tế hướng ra phía ngoài 200 hải lý. Trong lịch sử, Việt Nam chủ trương trong Vịnh Bắc Bộ đường lịch sử là 10803’13’’, Philippine chủ trương đường lịch sử tính từ quần đảo Kagitingan, còn một số học giả trong nước (Trung Quốc) thì chủ trương “đường 9 đoạn”, điều này đều vượt quá phạm vi 200 hải lý quy định trong “Công ước”. Đơn phương chủ trương như vậy đều không thể phát huy vai trò trong bảo vệ quyền lợi biển của nước mình. Tác giả kiến nghị, các nước không ngại vẽ ra biên giới biển đơn nhất 200 hải lý để tiến hành khai thác không tranh chấp. Trong quá trình phân định này, biên giới biển của quần đảo Trường Sa sẽ khó xác định nhất. Một số quốc gia tại khu vực Biển Đông tuy đã vẽ ra đường cơ sở thẳng dọc theo bờ biển và đảo của họ (chú thích: Ở đây có những đường cơ sở không hợp pháp, cần xác định lại), đến nay vẫn chưa có một quốc gia ven biển nào vẽ ra đường cơ sở trong khu vực quần đảo Trường Sa, ở đây bao gồm cả đường cơ sở lãnh hải do Philipine công bố tháng 3/2009. Tính đến việc giữa Biển Đông có rất nhiều đảo nhỏ, các đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa nằm trong ranh giới khu vực biển ngoài 12 hải lý so với bờ biển không có bất kỳ hiệu lực nào, như vậy, các quốc gia biển có khả năng sẽ căn cứ vào điều kiện địa lý đường bờ biển của lục địa và các đảo lớn của mình (như đảo Hải Nam của Trung Quốc) tiến hành phân định chỉnh thể khu đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa. Như vậy, giữa các quốc gia cũng có thể không cần giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền các đảo trước tiên, làm cho “gác tranh chấp” trở thành một khả năng hiện thực. Sự tồn tại của chủ trương đường biên giới chồng lấn sẽ không tránh khỏi dẫn đến làm nảy sinh tranh chấp, ví dụ như ngư dân của một bên bị lực lượng bên kia bắt giữ, hoặc khu vực chủ trương chồng lấn có dầu mỏ được phát hiện. Chủ trương chồng lấn giống như đường biên giới chưa giải quyết sẽ yếu việc triển khai các hoạt động kinh tế, ví dụ như công tác thă dò ngành dầu khí. Ngược lại, việc xác lập biên giới sẽ mang lại tính xác định pháp lý, sẽ thúc đẩy các hoạt động kinh tế tại “khu vực màu xám” trong quá khứ. Ví dụ, giấy phép khai thác ngành dầu khí, cùng đó ngư nghiệp cũng có thể có được sự phát triển tương ứng. Xây dựng đường biên giới cũng có thể mang lại lợi ích về chính trị, mang lại ổn định lâu dài cho môi trường quốc tế của Biển Đông. Có tổng cộng 8 quốc gia có nhu cầu phân định biển với Trung Quốc: Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei, Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản, trong đó Trung Quốc mới chỉ phân định biên giới biển với Việt Nam tại vịnh Bắc Bộ với hơn 500 km, còn công tác phân định tại các vùng biển khác đều chưa hoàn thành. Cách làm của Philippines thông qua việc lập pháp để xác định đường cơ sở lãnh hải cũng cảnh tỉnh Trung Quốc cần đẩy nhanh công tác thuộc lĩnh vực này. Hiện nay, giữa các nước trên thế giới có hơn 170 tuyến biên giới biển, bình quân xác định mỗi tuyến biên giới biển cần đến 15 năm. Biên giới biển Biển Đông sẽ là công trình gian khó nhất. Hiện nay, trong và ngoài nước Trung Quốc đều có người chủ trương dùng vũ lực bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hải đảo quốc gia, điều này là không bình tĩnh và thiếu lý trí, như vậy chỉ có thể làm cho giải quyết cơ bản vấn đề Biển Đông càng phức tạp hơn và khó khăn hơn. Việc xác lập biên giới biển xét về mặt pháp luật sẽ mang lại ổn định lâu dài cho khu vực Biển Đông. Do vậy, Trung Quốc cần tích cực hành động, sớm phân định biên giới biển Biển Đông. Công tác phân định khu vực biển Biển Đông ngoài cửa vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam cần phải sớm khôi phục đàm phán trên cơ sở chỉ đạo chính xác của “Công ước”./. Theo Thời báo Hoàn Cầu Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1763-bao-trung-quc-co-qhang-raoq-tt-mi-co-hang-xom-tt
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #113 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2011, 01:04:18 am » |
|
Chủ tịch Hội hữu nghị Việt - Trung: " Không ai có quyền dạy ai bài học" (GDVN) - "Là người Việt Nam, dứt khoát chúng ta không cho phép ai xúc phạm chúng ta và cũng chẳng ai là người có thể dạy cho ai bài học cả", ông Đoàn Mạnh Giao, nguyên Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc khẳng định. "Ta không mắc mưu những kẻ mang tư tưởng cực đoan, sô vanh" PV: Là chủ tịch Hội Hữu nghị việt Nam – Trung Quốc, ông đánh giá thế nào về những hành vi gây hấn vừa qua từ phía Trung Quốc? Ông Đoàn Mạnh Giao: Là công dân Việt Nam, thái độ của tôi cũng giống những người Việt Nam khác đó là bất bình và tức giận. Đường lưỡi bò 9 điểm không có cơ sở pháp lý nào cả. Vừa rồi tàu Trung Quốc lại cắt cáp 2 tàu thăm dò của PVN lại càng dấy lên các tầng lớp xã hội một sự phẫn nộ. Đó là tình cảm tất yếu của những người Việt Nam yêu nước. Ông Đoàn Mạnh Giao - Chủ tịch Hội HN Việt - Trung Tôi ở Trung Quốc 14 năm nên rất hiểu con người và văn hóa Trung Quốc. Tôi cũng có rất nhiều bạn bè Trung Quốc nhưng rất bất bình với cách hành xử từ phía Trung Quốc. Ở đây tôi không nói chính phủ mà có thể chỉ là cơ quan cấp dưới. Trong khi lãnh đạo cấp cao của hai nước đã nói rất nhiều đến quan hệ “mười sáu chữ” và “bốn tốt’… nhưng phía Trung Quốc lại để tàu Hải giám ngăn cản hoạt động hợp pháp của Việt Nam tại biển Đông như vậy. Không chỉ có vậy mà tướng Trung Quốc lại còn lớn tiếng dọa “cho Việt Nam một bài học lớn hơn”. Tôi nghĩ đó không phải là tiếng nói chính thống từ lãnh đạo cấp cao nhất mà chỉ là tiếng nói cực đoan từ một bộ phận. Trước tình hình đó, tất cả người dân Việt Nam cần phải tỉnh táo. Thể hiện lòng yêu nước là đúng nhưng phải bình tĩnh. Ta không mắc mưu của một số lời lẽ hô hào của những kẻ cực đoan, mang tư tưởng sô vanh nước lớn. "Người TQ hỏi tôi: Tại sao Việt Nam mua vũ khí để đánh lại TQ" Ông Đoàn Mạnh Giao: Báo chí Trung Quốc cũng có nhiều tờ đưa thông tin sai. Tôi xin kể câu chuyện thế này: Vào ngày 2/9/2010, tôi cùng 1 đoàn của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch trong đó có Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh sang Trung Quốc dự lễ kỷ niệm 60 năm thành lập quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và cũng là Quốc khánh Việt Nam. Phía bạn có đưa chúng tôi xuống Thượng Hải làm lễ kéo cờ Việt Nam rất trọng thể. Sau đó họ tổ chức cho đoàn Việt Nam du ngoạn trên sông Hoàng Phố, Lúc tôi ra ngoài hút thuốc, có rất nhiều thủy thủ thấy có một quan chức Việt Nam ra ngoài, biết tôi nói được tiếng Trung Quốc nên họ chất vấn: không hiểu tại sao phía chính phủ Việt Nam lại đi mua tàu ngầm, máy bay và vũ khí hiện đại để chuẩn bị đánh lại phía Trung Quốc? Thế thì tôi cũng hỏi lại: “Các bạn nghe tin này ở đâu?” Họ trả lời: “Trên báo chí của chúng tôi đăng”. Tôi cũng rất bình tĩnh trả lời là: Thứ nhất nếu các báo đăng thì các bạn không nên tin tất cả những gì báo chí nói. Tôi đặt lại câu hỏi: Đất nước tôi vừa trải qua mấy mươi năm chiến tranh, diện tích lại nhỏ hơn các bạn nhiều lần, dân số ít hơn đất nước các bạn 15 lần thì dại gì mà chúng tôi lại đi gây chiến với một nước khổng lồ hơn hẳn chúng tôi về tiềm lực quân sự và kinh tế. Nếu ở địa vị các bạn là lãnh đạo một quốc gia như thế, các bạn có phát động chiến tranh chống lại một nước khổng lồ như thế không? Còn việc mua sắm vũ khí, chả phải riêng Việt Nam mà nước nào cũng thế, trước kia chúng tôi chưa có tiền và vì nghèo nên chúng tôi mua sắm ít, còn bây giờ chúng tôi khấm khá hơn thì chúng tôi mua nhiều để bảo vệ chủ quyền đất nước. Bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ lãnh thổ thì chẳng phải Việt Nam mà hơn 160 quốc gia trên thế giới, nước nào cũng làm thế. Ví dụ rõ nhất là các bạn: Các bạn có tàu ngầm, hàng không mẫu hạm mà các bạn vẫn mua các loại máy bay hiện đại của Nga… Ngân sách quân sự của các bạn rất lớn. Có phải là để các bạn xâm chiếm Việt Nam đâu. Chúng tôi không bao giờ nói các bạn mua vũ khí để đánh chúng tôi cả. Thế tại sao khi chúng tôi mua vũ khí lại nói là chuẩn bị đánh các bạn”. Thế thì tất cả họ đều cười. Tôi không tin những nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ chuẩn bị có một cuộc “dạy cho Việt Nam một bài học”. Tôi tin họ có đầu óc tỉnh táo để không làm điều đó vì nhiều lẽ: Thứ nhất là: Trung Quốc đang cần một môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế. Thứ hai: họ muốn thế giới nhìn nhận Trung Quốc như một quốc gia hòa bình, không theo đuổi chủ nghĩa bá quyền. Đó là một cam kết chính trị rất cao của nhà lãnh đạo cao cấp Trung Quốc. Thứ ba: quan hệ quốc tế bây giờ không cho phép họ làm như vậy. Đây không phải là lúc cho quyết định này. Thứ tư là Việt Nam – Trung Quốc có một lịch sử gắn bó nên tôi không tin các nhà lãnh đạo Trung Quốc lại muốn có hành động gây tổn hại lớn đến hòa bình. Ta cũng không muốn như vậy vì sẽ chẳng có nước nào thắng nếu điều đó xảy ra. "... chẳng ai là người có thể dạy cho ai bài học" PV: Ông có bất ngờ về những hành vi gây hấn của Trung Quốc không? Ông Đoàn Mạnh Giao: Việc các tàu Trung Quốc gây hấn thường xuyên xảy ra năm nào cũng có. Chẳng qua 2 vụ xảy ra gần đây xảy ra gần đây liên tiếp nghiêm trọng hơn và đã bị dư luận thế giới phản đối. Tôi không bất ngờ nhưng bức xúc hơn. Tôi nghĩ họ không bao giờ từ bỏ ý đồ và chúng ta, chúng ta quyết không bao giờ chịu mất lãnh thổ do cha ông để lại. Ông Đoàn Ngọc Giao bắt tay Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào PV: Có nhiều nhà ngoại giao và quân sự Việt Nam đã cho rằng chúng ta cần phải quốc tế hóa vấn đề và tuyên truyền nhiều hơn? Ông Đoàn Mạnh Giao: Trong thời gian vừa qua báo chí đã lên tiếng rất đúng, kịp thời. Như vậy là rất tốt. Tuy nhiên chúng ta cần công khai hóa hơn nữa. Chúng ta không giấu nhân dân điều gì cả. Làm như vừa rồi cũng đã là tốt rồi. Nhưng chúng ta cần công khai hóa mạnh hơn nữa. Trung Quốc với tư cách là một nước lớn thì Trung Quốc phải thương lượng trên cơ sở chân thành chứ vừa thương lượng vừa dọa dẫm thì không bao giờ xong. Trong quan hệ quốc tế không ai được dùng những lời lẽ sô vanh, mạt sát, xúc phạm đến danh dự của một quốc gia nào cả. Là người Việt Nam, dứt khoát chúng ta cũng không cho phép ai xúc phạm chúng ta cả và cũng chẳng ai là người có thể dạy cho ai bài học cả. Phía ta phải biết kiềm chế. Tôi ủng hộ việc chúng ta bày tỏ thái độ phản đối hành vi xâm phạm chủ quyền dân tộc miễn rằng chúng ta không quá khích và phải thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nếu như chỉ là phản ứng ở cấp thấp thì vấn đề không giải quyết ổn thỏa được. Theo tôi ngoài tuyên truyền thì lúc này là lúc thích hợp để lãnh đạo cấp cao của hai nước gặp nhau thực hiện đúng như những gì từng thỏa thuận với nhau. PV: Thời gian vừa qua, nhiều học giả lên tiếng cho rằng, tinh thần dân tộc chủ nghĩa trong giới trẻ ở hai quốc gia có thể “giết chết” tình hữu nghị giữa Việt Nam - Trung Quốc. Ông nhìn nhận gì về vấn đề này? Ông Đoàn Mạnh Giao: Không phải. Lòng yêu nước của nhân dân ta là tất yếu. Người lãnh đạo cũng như các cơ quan hữu quan không nên làm thui chột đi tình hữu nghị và coi đó chuyện gì đó ghê gớm lắm. Đồng thời phải hướng dẫn bảo vệ chủ quyền và tính đến chỗ không đẩy vấn đề lên mức làm cho xấu thêm. Tôi nghĩ rằng hai bên không nên sử dụng những từ ngữ thóa mạ dân tộc khác. Chúng ta cần phân biệt lòng yêu nước của nhân dân ta với sự lợi dụng của các đối tượng phản động ở nước ngoài. PV: Là Chủ tịch hội Hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc, ông có nghĩ đã đến lúc, Hội đóng một vai trò tích cực hơn trong việc thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước đồng thời phải có những động thái nhằm giúp nhân dân Trung Quốc hiểu được chủ quyền hợp pháp của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa? Ông Đoàn Mạnh Giao: Khi đã có tuyên bố của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam nên hội Hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc không đưa ra tuyên bố nữa. Đương nhiên trách nhiệm của hội Hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc cũng như các hội hữu nghị khác là thặt chặt tình cảm gắn bó giữa hai quốc gia đi kèm với đó là bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ Việt Nam. Tôi và đại sứ Trung Quốc vẫn là bạn bè của nhau, vẫn hỏi han nhau. Tôi nghĩ các nhà lãnh đạo đủ sáng suốt để trân trọng mối quan hệ quý báu của hai dân tộc. Cảm ơn ông!Nguồn: http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/6489-thi-im-thich-hp-lanh-o-cp-cao-hai-nc-gp-nhau.html
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Su30MK2V
Thành viên

Bài viết: 158
Tôn trọng và khiêm tốn
|
 |
« Trả lời #114 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2011, 04:22:32 pm » |
|
Việt Nam sắm nhiều tàu lớn, máy bayCục trưởng Cục Cảnh sát biển, Trung tướng Phạm Đức Lĩnh cho hay, đầu năm 2012, Việt Nam sẽ trang bị thêm các tàu lớn, có thể đi biển dài ngày và máy bay cho lực lượng cảnh sát biển. Bên lề Hội nghị nhóm làm việc chuẩn bị cho Hội nghị những người đứng đầu cảnh sát biển châu Á diễn ra tại Hà Nội, Trung tướng Phạm Đức Lĩnh, Cục trưởng Cục Cảnh sát biển Việt Nam có cuộc trao đổi với báo chí. Bám biểnÔng Lĩnh cho hay: “Cảnh sát biển mới hình thành, từ 28/8/1998, đến nay mới hơn 10 năm, để đào tạo được cả lực lượng thì rất khó. Bộ Quốc phòng rất quan tâm tìm những người thực sự có năng lực để thực hiện nhiệm vụ, cho phép cảnh sát biển tìm nhân lực khác trong nước như Bộ Công an, các trường ĐH, làm nghề phù hợp với cảnh sát biển thì có thể tìm. Bộ Quốc phòng sẽ làm việc với các bộ khác để xin người”. Lực lượng hiện nay cơ bản đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ, song còn phải phấn đấu nhiều, nhất là đào tạo con người, trình độ ngoại ngữ khi làm việc với các nước. Thời gian qua, trên thực tế, việc ngư dân Việt Nam đánh bắt cá trên vùng biển chủ quyền bị bắt giữ, đòi tiền chuộc diễn ra ngày càng nhiều. Tình hình an ninh biển Đông phức tạp, hoạt động đánh cá, thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam bị đe dọa… Trên biển, nhất là ngư dân, vừa qua có nhiều phức tạp. Xuất phát từ nhận thức đó là trách nhiệm của mình, cảnh sát biển tổ chức lại phương thức hoạt động của mình để duy trì sự có mặt càng nhiều ngày càng tốt, nhất là các vùng biển giáp ranh, chồng lấn với các nước. “Mấy vấn đề đặt ra bao gồm ngư dân thấy có cảnh sát biển, yên tâm hơn, nhất là khi có tình huống, sẽ giúp đỡ, ứng cứu bà con. Nếu ngư dân vượt ra ngoài vùng biển thì cũng cảnh báo, lưu ý bà con không nên sang vùng biển đó, đánh bắt ở vùng biển của mình. Khi nào Bộ Nông nghiệp có văn bản ký kết hợp tác khai thác thủy sản với các nước thì bà con ta sang yên tâm”, ông Lĩnh nhấn mạnh. - Việc bảo vệ với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí thì sao, thưa ông? Khi nước khác có ý định thăm dò, khai thác dầu khí của Việt Nam, cảnh sát biển sẽ làm thế nào?Bảo vệ thăm dò tài nguyên dầu khí trên vùng biển Việt Nam là trách nhiệm của chúng tôi. Thời quan qua, PVN có liên hệ chặt chẽ. Bộ Quốc phòng giao cho quân chủng hải quân là lực lượng nòng cốt, tổng chỉ huy bảo vệ hoạt động dầu khí của mình. Nếu nước ngoài đến thăm dò dầu khí của Việt Nam, đã là chủ quyền của mình, mình bảo vệ đến cùng. Chúng ta không có chuyện nhún nhường. Đây không phải là vùng biển chồng lấn, tranh chấp gì cả, mà của Việt Nam. Việt Nam là thành viên UNCLOS, ta làm đúng trách nhiệm của nước thành viên, và yêu cầu nước khác cũng làm như vậy. Đã là thành viên phải thực hiện cho đúng UNCLOS. - Nếu họ định đặt giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chúng ta phải làm thế nào, thưa ông?Đặt giàn khoan, đương nhiên anh vi phạm chủ quyền của tôi được quốc tế công nhận. Chúng ta sẽ bằng mọi cách để không để việc này xảy ra, bằng mọi phương thức: đấu tranh pháp lý, ngoại giao… với sự tham gia của tất cả lực lượng, huy động sức mạnh tổng lực của các đơn vị, bằng mọi biện pháp có thể theo luật. -Trừ việc nổ súng trước?Đúng vậy. Giải quyết bằng phương pháp hòa bình. Giải quyết vấn đề trên quan điểm tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của VN. Đáp ứng 30-40% nhu cầu - Thưa ông, với một bờ biển dài và vùng biển rộng, việc đầu tư các thiết bị, máy móc phục vụ cho công tác bảo vệ biển và thực thi quản lý biển của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam như thế nào?Chính phủ rất đầu tư, dù kinh tế khó khăn nhưng vì nhiệm vụ giữ gìn an ninh biển, thực thi hoạt động trên biển. Việt Nam muốn xây dựng nền kinh tế mạnh trên biển phải có lực lượng bảo vệ, mà cảnh sát biển đóng vai trò tương đối quan trọng duy trì an ninh trật tự. Hiện Chính phủ đầu tư trang bị về phương tiện tàu thuyền ngày càng hiện đại hơn, càng ngày càng đảm bảo tàu có lượng giãn nước lớn hơn để hoạt động xa bờ, dài ngày, và trong điều kiện thời tiết rất phức tạp. Chính phủ cũng trang bị máy bay để thực hiện tuần thám cho hết thềm lục địa của Việt Nam. - Thực chất, chúng ta đáp ứng được bao nhiêu phần trăm so với nhu cầu?Vùng biển của ta diện tích gấp ba lần đất liền. Với lực lượng hiện có, ta gặp rất nhiều khó khăn: số lượng và chủng loại phương tiện hoạt động trên biển. Hiện tại đáp ứng được 30-40% yêu cầu, thời tiết phức tạp thì càng khó khăn hơn. Lực lượng cảnh sát biển Việt Nam tăng cường tuần tra kiểm tra trên biển, duy trì sự có mặt trên biển. Tuy nhiên, với vùng biển xa, chúng ta chưa thể đi hết được, chưa duy trì sự có mặt thường xuyên được. Trang bị của ta còn hạn chế, chưa đảm bảo đi ở vùng biển xa, trong thời tiết phức tạp như gió cấp 9-10 hoặc đi dài ngày trên biển. Chúng ta đang phấn đấu. Chính phủ cũng đang có định hướng đầu tư thêm. Sắm tàu lớn, máy bay cho cảnh sát biển - Cụ thể như thế nào, thưa ông?
Chính phủ đang giao cho chúng tôi lập đề án phát triển giai đoạn hai, xây dựng mô hình hoàn chỉnh của cảnh sát biển. Chúng ta sẽ tăng cường trang bị thiết bị cho cảnh sát biển. Nhu cầu thì nhiều, nhưng đáp ứng thì từng bước theo mức phát triển của nền kinh tế. Chúng ta đâu chỉ có mỗi lực lượng cảnh sát biển để chăm lo, còn bao nhiêu chỗ phải đầu tư, bao nhiêu việc phải giải quyết. Khả năng kinh tế được tới đâu thì sẽ lo tới đấy. Chúng ta chọn lọc những gì cần nhất, cấp bách nhất thì đầu tư trước. Một, trang bị tàu thuyền. hai là máy bay, để nâng cao tầm hoạt động và hiệu quả bao quát tốt hơn. Ba là con người. Con người đã đào tạo, chủ yếu lấy từ quân chủng hải quân, rồi các đơn vị khác của Bộ Quốc phòng, cho phép lấy người của các đơn vị, các trường khác có đào tạo ngành phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cảnh sát biển. Chúng ta từng bước trình độ năng lực của anh em lên, xác định cái gì cần thì liên kết với các trường… Về thiết bị, trước mắt, chúng ta lo đầu tư tàu có độ giãn nước lớn, hoạt động dài ngày. Có như vậy thì mới có thể duy trì sự có mặt của cảnh sát biển trên biển thường xuyên được, mới bám được dân. Ra dăm bữa nửa tháng, 20 ngày rồi về thì không thể bám được. Tới đây, đầu năm 2012, chúng ta sẽ có tàu 2.000 tấn, có thể chạy 40 ngày đêm trên biển, trong điều kiện thời tiết phức tạp: gió cấp 12, sóng cấp 9. Sắp tới ưu tiên đầu tư thêm tàu, máy bay. Các tàu trang bị còn có nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn, có cả sàn đỗ máy bay trực thăng, có buồng quân y, có 12 giường bệnh, cùng một lúc cấp cứu được 120 người. Khi có tàu này thì bà con có thể yên tâm. Cần là lực lượng cảnh sát biển có mặt. Tốc độ cũng đảm bảo đủ để thực hiện nhiệm vụ. http://baodatviet.vn/Home/thegioi/Viet-Nam-sam-nhieu-tau-lon-may-bay/20117/153957.datviet
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #115 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2011, 05:37:00 pm » |
|
Trung Quốc: Mỹ chẳng tốt gì với 'hổ ẩn mình' Việt Nam “Nếu Mỹ can thiệp quân sự vào xung đột biển Đông, thì động cơ thực sự của Washington cũng sẽ khiến các nước Đông Nam Á thất vọng tràn trề”, chuyên gia Zhou Fangyin, thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Trung Quốc nhận định. Tờ Thời báo hoàn cầu của Trung Quốc dẫn lời chuyên gia Zhou Fangyin rằng, tuy biển Đông gần đây đang có xu hướng "dịu sóng", nhưng những “khục khặc” giữa các nước vẫn chưa được giải quyết triệt để. Trong khi đó, cuộc diễn tập chung vào tháng 7 của Hải quân Việt Nam và Mỹ vô tình làm dấy lên nghi ngại về khả năng Washington sẽ sẵn sàng can thiệp quân sự vào biển Đông để bảo vệ các nước Đông Nam Á. Theo chuyên gia Zhou, khả năng xung đột quân sự giữa Việt Nam – Trung Quốc là rất nhỏ. Nhưng nếu xảy ra xung đột và nếu Mỹ can thiệp quân sự vào những rắc rối này, thì động cơ thực sự của Washington cũng sẽ hoàn toàn trái với mong muốn của các nước Đông Nam Á. Với hàng loạt những động thái rình rang khuếch trương cho kế hoạch “trở lại Đông Nam Á”, Mỹ đã đưa ra một số cam kết với các nước trong khu vực dựa trên cơ sở phù hợp với lợi ích căn bản của những quốc gia này. Theo ông Zhou, sự thân mật bất ngờ này đang khiến nhiều người lầm tưởng Mỹ vô tư giúp đỡ và sẵn sàng đứng ra bênh vực cho các nước này trong tranh chấp biển Đông. Mặc dù Mỹ không hân hoan trước sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ và tầm ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của Trung Quốc tại Đông Á, nhưng chuyên gia Zhou vẫn khẳng định, Washington chưa thể hiện động thái kìm hãm hay khống chế Trung Quốc một cách quá lộ liễu và vô lối. Có lẽ, chính quyền Obama muốn tránh đi vào vết xe đổ như thời đối đầu với Liên Xô trong chiến tranh Lạnh. Mặt khác, Mỹ đã và vẫn rất cần sự giúp đỡ của Trung Quốc trên một số lĩnh vực hợp tác song phương. Do vậy, trục lợi từ vấn đề biển Đông chỉ là một lá bài trong chiến lược chung của Washington tại châu Á, chứ không phải là con át chủ bài như nhiều người vẫn nhầm tưởng. Ông Zhou cũng nhấn mạnh, động cơ thực sự khiến Mỹ nhúng tay vào biển Đông chỉ bởi xuất phát từ lợi ích chiến lược của mình, chứ không vì che chở hay giúp đỡ cho Việt Nam và Philippines. Và sự can thiệp quân sự đó sẽ là một động thái hoàn toàn chủ động, xuất phát từ chiến lược và những toan tính lâu dài tại châu Á, không phải là sự miễn cưỡng và bị thúc ép từ các đối tác hoặc đồng minh quân sự. Trong khi đó, Việt Nam vẫn chưa trở thành một đồng minh của Mỹ và những cam kết giữa hai bên cũng chưa có gì sâu sắc, thậm chí còn tồn tại nhiều điểm mơ hồ. Vì vậy, Việt Nam và những nước Đông Nam Á khác đừng hão huyền về viễn cảnh được Mỹ che chở và tăng cường sức mạnh, nếu cố tình lên gân và xung đột quân sự với Trung Quốc. Ông Zhou cũng đưa ra cảnh báo, nếu sẵn sàng can thiệp vào những căng thẳng biển Đông, Washington cần hiểu rõ nguyên tắc: giúp các nước Đông Nam Á thổi bùng tinh thần chiến đấu, nhưng không thể cổ vũ quá đà, khiến Việt Nam hay Philippines – những “con hổ ẩn mình” bấy lâu sẽ vùng dậy và tuột khỏi tầm kiểm soát của Mỹ. Nếu trước đây vài tháng, Mỹ vẫn giữ thái độ dè chừng và thận trọng trong mọi chính sách, phát ngôn và hành động về vấn đề biển Đông. Vậy thì giờ đây, Trung Quốc càng hy vọng Mỹ tiếp tục “khôn ngoan” như thế. Vậy, Mỹ và Trung Quốc: ai hiểu Việt Nam hơn? Mời bạn đọc xem bài viết khởi đăng vào ngày mai (7/7). Mai Anh (theo Huanqiu)Link: http://baodatviet.vn/Home/thegioi/Trung-Quoc-My-chang-tot-gi-voi-ho-an-minh-Viet-Nam/20117/153796.datviet
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #116 vào lúc: 07 Tháng Bảy, 2011, 05:38:55 pm » |
|
Mỹ và Trung Quốc, ai hiểu Việt Nam hơn? (ĐVO) Việt Nam thấu hiểu quan niệm “không có đồng minh vĩnh viễn cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích dân tộc là vĩnh viễn”. Từ cuối tháng 6/2011, Mỹ đồng thời tiến hành 2 cuộc tập trận quy mô ở Đông Nam Á. Một cuộc tập trận mang tên CARAT với Philippines ngoài khơi đảo Palawan, một cuộc tập trận mang tên Iron Teak 2011với Indonesia tại căn cứ không quân Abdurahman Saleh, Đông Java. Dự kiến, sau các cuộc tập trận, Hải quân Mỹ còn có hoạt động chung nhằm thúc đẩy quan hệ, trao đổi chuyên môn với các nước trong khu vực. Loạt hoạt động này được coi là cách mà Mỹ thể hiện sự có mặt ở khu vực mà nước này có nhiều lợi ích, đặc biệt là vấn đề thương mại hàng hải. Trùng với thời gian diễn ra các cuộc tập trận, ngày 5/7, trang tiếng Trung của tờ Thời báo Hoàn cầu đăng tải bài viết “Mỹ có “tử tế” nếu can thiệp quân sự tại biển Đông?” Bài viết đưa ra nhiều nhận định của ông Zhu Fangyin, chuyên gia thuộc Viện Khoa học quân sự Trung Quốc. Trong đó, nội dung tập trung phân tích, đánh giá vai trò của Mỹ trong khu vực, đưa ra cảnh báo đối với việc Washington can thiệp vào vấn đề biển Đông, đặc biệt là biện pháp quân sự. Đồng thời, bài viết còn tỏ thái độ “khuyên bảo”, thực chất là cảnh cáo tới các quốc gia Đông Nam Á, trực diện là Việt Nam và Philippines, những nước mà theo ông Zhu Fangyin, “sẽ thất vọng tràn trề” nếu đặt hy vọng vào mối quan hệ với Mỹ. Không chỉ có vậy, ông Zhu Fangyin còn nhận xét, sự “thân mật bất ngờ” của Mỹ khiến nhiều người lầm tưởng nước này “vô tư giúp đỡ và sẵn sàng đứng ra bênh vực” cho các nước trong tranh chấp biển Đông vì đây “chỉ là một lá bài trong chiến lược của Washington tại châu Á”, xuất phát từ “lợi ích chiến lược của Mỹ”. Bên cạnh đó, ông này còn nhắc nhở Washington nếu “cổ vũ quá đà” sẽ khiến Việt Nam, Philippines như những “con hổ ẩn mình”, “vùng dậy và tuột khỏi tầm kiểm soát của Mỹ”. Đặc biệt, lố bịch nhất trong bài viết đăng trên Thời báo Hoàn Cầu là giọng điệu “tư vấn”: “Việt Nam đừng hão huyền về viễn cảnh sẽ được che chở và tăng cường sức mạnh từ Mỹ, nếu cố tình lên gân và xung đột quân sự với Trung Quốc”. Trong bối cảnh Mỹ đang xúc tiến các hoạt động hợp tác với các nước Đông Nam Á, có thể thấy mặt bên kia của những lời “khuyên bảo”, “cảnh báo” thực chất là sự e ngại trước mối quan hệ đang có nhiều tiến triển giữa Mỹ và các nước trong khu vực. Đây chính là tiền đề cho việc đa phương hóa giải quyết các tranh chấp ở biển Đông, cũng là điều mà Trung Quốc không hề mong muốn và luôn tìm cách né tránh suốt thời gian qua. Truyền thống dựng nước và giữ nước để lại cho Việt Nam nhiều bài học quý báu. Trong đó, bài học lớn nhất là độc lập, tự chủ. Trong lịch sử hiện đại, để đối đầu với Đế quốc Mỹ suốt 30 năm ròng, Việt Nam đã nhận được nhiều sự trợ giúp của bạn bè quốc tế, trong đó có Trung Quốc. Thế nhưng, nếu chỉ trông chờ vào sự giúp đỡ từ bên ngoài, nhân dân Việt Nam không thể nào hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Bởi hơn ai hết, dân tộc Việt Nam thấu hiểu quan niệm “không có đồng minh vĩnh viễn cũng không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích dân tộc là vĩnh viễn” đã và đang chi phối các mối quan hệ quốc tế và lịch sử đất nước của mình như thế nào. Bước vào kỷ nguyên mới, đối thoại và hội nhập, độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với chủ nghĩa biệt lập. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trên thế giới, đồng thời, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việt Nam luôn chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua con đường đàm phán hòa bình, trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi. Do đó, Việt Nam nhìn nhận sự phối hợp các bên có lợi ích đan xen trong vấn đề biển Đông thể hiện thái độ trách nhiệm với an ninh chung trong khu vực, kiềm chế các lực lượng bá quyền gây hấn, khiêu khích mưu đồ áp đặt luật chơi ích kỷ và thách thức luật pháp quốc tế. Nhìn lại lịch sử, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Mc Namara từng than thở: “Mỹ không thắng được ở Việt Nam vì Mỹ không hiểu Việt Nam”. Là người Trung Quốc, sống trong một quốc gia có vị trí địa lý gần gũi, quan hệ lâu đời với Việt Nam, lại là chuyên gia của Viện Khoa học quân sự, chuyên nghiên cứu những vấn đề có tính chiến lược, chẳng lẽ ông Zhu Fangyin lại không hiểu lịch sử Việt Nam bằng ông Mc Namara? Trường HảiLink: http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/My-va-Trung-Quoc-ai-hieu-Viet-Nam-hon/20117/153960.datviet
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #117 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 01:22:09 am » |
|
Tình thế lưỡng nan của Việt Nam, Philippines và những cơ hội mới Vấn đề là việc phối hợp giữa Việt Nam / Philippines đứng trước tình thế lưỡng nan (prisoner s'dilemma) là, nếu "anh" không sẵn sàng bảo vệ "tôi" khi tôi bị chèn ép, thì chính vì điều đó, tôi cũng sẽ không sẵn sàng bảo vệ anh, khi anh bị chèn ép. Tính đa phương trong cuộc chơi chèn ép song phương về chủ quyềnHợp tác đa phương giữa các quốc gia nhỏ, chống lại sự chèn ép bởi quốc gia lớn trong vùng, là điều tự nhiên, nhưng khó thực hiện. Lấy ví dụ, Trung Quốc gây hấn với tàu thuyền của Philippines gần Bãi Cỏ rong (Reed Bank). Nhưng điều đó chưa đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của Việt Nam, vốn muốn giữ tình láng giềng hữu hảo với Trung Quốc. Ngược lại, việc Trung Quốc cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh 02, cũng không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của Philippines, trong khi nước này vẫn có lợi ích thương mại và bang giao với Trung Quốc về nhiều mặt. Vì lẽ đó, tại hội nghị an ninh khu vực Shangri-La tại Singapore, người ta chứng kiến sự phản đối đồng thời của cả Việt Nam và Philippines trước hành động gây hấn của Trung Quốc. Nhưng đây không phải là hành động phối hợp trong một "Mặt trận thống nhất", như điều mà Thượng nghị sĩ Mỹ McCain đã nêu tại Washington sau đó, vào ngày 20/06/2011. Vì vậy, cho đến nay, bản chất của cuộc chơi chèn ép song phương do Trung Quốc tiến hành vẫn không thay đổi. Cùng với nó là sự mất mát đơn phương về chủ quyền của Việt Nam / Philippines vẫn chưa có chuyển biến tích cực. Ví dụ, ngay sau khi hội nghị cấp cao về an ninh khu vực Shangri-La vừa kết thúc, Trung Quốc ngay lập tức cho 3 tầu bán vũ trang cố tình tấn công, cắt cáp tàu Viking 02 của Việt Nam. Vấn đề là việc phối hợp giữa Việt Nam / Philippines đứng trước tình thế lưỡng nan (prisoner s'dilemma) là, nếu "anh" không sẵn sàng bảo vệ "tôi" khi tôi bị chèn ép, thì chính vì điều đó, tôi cũng sẽ không sẵn sàng bảo vệ anh, khi anh bị chèn ép. Sự hình thành một Mặt trận thống nhất trong khu vực, do đó, đòi hỏi có sự nhất trí và hợp tác đủ rộng và đủ chặt về nhiều mặt giữa các thành viên có liên quan (economies of scale and scope in coordination mechanism). Những chuyển biến tích cựcChính ở điểm này, sự tham dự của Mỹ, Nhật, và cả Nga, Ấn Độ, như là một đối trọng với Trung Quốc để gìn giữ an ninh khu vực, chứ không phải đối đầu về quân sự, là vô cùng quan trọng. Cụ thể là sau khi Thượng nghị sỹ Jim Webb lên tiếng kêu gọi Quốc hội Hoa Kỳ phải có động thái tương thích trước các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông, thì tính phối hợp của các nước trong khu vực và quốc tế đã có một sự chuyển biến tích cực. Diễn biến của hội thảo về Biển Đông tại Washington hôm 20 -21/06/2011 thể hiện điều đó. Từ hội thảo này, một cơ chế an ninh và hợp tác đa phương, nhằm dàn xếp hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông, đã bắt đầu được hình thành. Cơ chế an ninh đó là nhằm thúc đẩy: (i) Các bên phải có hành động kiềm chế, không sử dụng vũ lực trên không và trên biển để giải quyết tranh chấp. (ii) Hình thành một mặt trận thống nhất hành động nhằm gìn giữ sự ổn định trong khu vực. (iii) Mỹ cần có hành động phối hợp một cách đúng lúc, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, nhằm ngăn chặn xung đột tiềm tàng. Sự phối hợp này có thể bao hàm việc tập trận chung nhằm duy trì an ninh hàng hải, cho đến việc giúp các nước trong vùng triển khai các hệ thống cảnh báo sớm, xây dựng hệ thống phòng thủ chống lại nguy cơ xảy ra xâm lược vũ trang. (iv) Tăng khả năng cam kết của Mỹ với việc bảo vệ an ninh khu vực và trật tự hàng hải quốc tế. Nói rõ hơn: "Mỹ chấp nhận hay không chấp nhận những tuyên bố nào, cũng như chúng ta (Mỹ) sẵn sàng ủng hộ những hành động nào" (McCain, 20/06/2011). Cần nhắc lại là, việc bảo vệ an ninh khu vực và tự do an toàn hàng hải trên Biển Đông là một dạng hàng hóa công (public goods). Thiếu vai trò của siêu nhà nước, như Mỹ và Nhật, thì sẽ có quá ít sự đảm bảo về ổn định khu vực và an toàn hàng hải. Cụ thể là khi Philippines cho nhổ các cột đá do Trung Quốc dựng trên bãi đá thuộc vùng biển của mình, hay Malaysia cho máy bay ra đuổi tầu đánh cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải của Malaysia, thì các nước này thực tế đã cung cấp hàng hóa công. Theo nghĩa, hành động của họ ngăn cản Trung Quốc xâm hại lãnh thổ và chủ quyền biển đảo của nước mình, tự nó mang tính răn đe việc Trung Quốc đi xâm hại một nước khác trong khu vực. Bên cạnh đó, sự trả lời được cho là cứng rắn nhất của Thủ tướng Việt Nam tại Nha Trang sau vụ việc Bình minh 02, cũng như sự đáp trả của báo Đại đoàn kết của Việt Nam trước lời đe dọa sử dụng vũ lực của Trung Quốc vào ngày 21/06/2011 trên tờ Hoàn Cầu, lại là một tín hiệu khích lệ Philippines thể hiện thái độ kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình*. Tuy nhiên, việc từng nước nhỏ cung cấp hàng hóa công, hay tự vệ đơn phương như vậy, không bao giờ là đủ để ngăn chặn sự chèn ép. Vấn đề là các nước khác trong vùng có thể ngồi yên, hưởng lợi từ việc các nước "tiền tuyến" phải đơn phương đứng ra bảo vệ chủ quyền, mà hệ quả là sẽ đem lại sự ổn định hơn tại Biển Đông, nếu họ thành công. Ngược lại, nếu họ bị suy yếu đi, thì các nước còn lại đã nằm sẵn trong một trật tự mới đang dần được thiết lập, mà không bị tổn thất gì (free ridding). Tình thế lưỡng nan trong hợp tác khu vực (prisoners' dilema) và động cơ hưởng lợi trên nỗ lực của nước khác (free ridding), khiến cho vai trò phối hợp của Mỹ, Nhật, và các nước như Nga, Ấn Độ, càng trở nên không thể thiếu được, dù không dễ dàng. Tuy nhiên, sau Hội thảo Biển Đông tại Washington, chúng ta có thể kỳ vọng về một sự cam kết cao hơn của Mỹ và đồng minh trong việc bảo vệ chủ quyền của Philippines. Chúng ta cũng có thể kỳ vọng một sự hỗ trợ đúng lúc và hiệu quả của Mỹ, Nhật và các nước khác cho Việt Nam, trước tuyên bố hiếu chiến của Trung Quốc trên tờ Hoàn cầu. Cụ thể là Mỹ, Nhật và Nga có thể giúp nâng cao khả năng phòng thủ và cảnh báo sớm của Việt nam trên không, trên biển đảo, và trên đất liền. Cần nhấn mạnh rằng, vai trò của Mỹ, Nhật và cộng đồng quốc tế không phải là làm tăng sự đối đầu về quân sự. Vai trò chính là phải đưa ra những phản ứng kịp thời, phù hợp với bối cảnh cụ thể, tới đúng đối tác cụ thể, nhằm ngăn chặn khủng hoảng khu vực và thúc đẩy nỗ lực hợp tác. Trong bối cảnh có sự khác biệt về ý thức và khả năng bảo vệ chủ quyền giữa các nước trong khu vực; cộng với sự khó khăn về kinh tế sau khủng hoảng của cả Mỹ, Nhật và Tây Âu; bên cạnh một Trung Quốc đang lên; liệu một cơ chế an ninh quốc tế có tính đa phương có hình thành được không? Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn sâu hơn vào những thay đổi có thể diễn ra của cuộc chơi chèn ép, khi có sự tham dự của bên thứ ba - Mỹ, Nhật và các nước khác như Nga, Ấn Độ. Trung Quốc và hai cuộc chơi liên đớiTrong cuộc chơi chèn ép song phương đã mô tả ở trên, điểm mạnh của Việt nam / Philippines là công lý đứng về phía mình. Tính phiêu lưu trong chiến lược chèn ép của Trung Quốc là nó ngày một đẩy Mỹ và các đồng minh của Mỹ là Nhật Bản và Tây Âu, bao gồm cả Úc, vào thế phải đối đầu với Trung Quốc trong một cuộc cạnh tranh về tự do hàng hải. Cụ thể là xung đột trong tương lai về quyền tự do lưu thông và an ninh hàng hải ở Tây Thái Bình Dương, một khi Việt Nam / Philippines và các nước trong khu vực bị mất dần chủ quyền và rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc. Như vậy, song song với cuộc chơi chèn ép các nước nhỏ, Trung Quốc tiến hành một cuộc chơi khác, giành thế và lực trong cuộc cạnh tranh hay đối đầu trong tương lai về trật tự khu vực với Mỹ, Nhật, Úc và cả các nước khác như Nga, Ấn Độ. Xét ở thời điểm hiện tại, hai cuộc chơi này không phải là không liên đới nhau (Multi-game linkage). Cụ thể là, trước sự chèn ép hay đe dọa quân sự của Trung Quốc, sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, mà Mỹ và Nhật đóng vai trò quan trọng, sẽ cho phép Việt Nam / Philippines "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh". Một khi sức mạnh tự vệ của Việt Nam / Philippins tăng lên, thì sẽ làm tăng thế và lực của cộng đồng quốc tế, đứng đầu là Mỹ, trong cuộc chơi thứ hai nhằm bảo vệ trật tự khu vực. Điểm nhấn trong sự kết nối giữa hai cuộc chơi này chính là tính chính nghĩa. Hành động của Trung Quốc càng bạo ngược, càng phi đạo lý, thì vị thế của nó trong khu vực càng giảm. Theo nghĩa, sự liên kết giữa các nước nhỏ với Mỹ và đồng minh nhằm bảo vệ chủ quyền và ổn định khu vực càng tăng. Ngược lại, mọi chuyển biến tích cực từ phía Trung Quốc, tự nó sẽ làm giảm nhiệt trong khu vực. Ví dụ cụ thể là việc Trung Quốc vừa tái khẳng định giải quyết tranh chấp bằng thương lượng với Việt Nam vào ngày 26/06/2011. Nhưng nỗ lực ngoại giao đó sẽ chỉ làm Việt Nam xích lại gần Mỹ hơn, một khi Trung Quốc lại có hành động không tương thích với lời nói. Phân tích trên đây cho thấy, cuộc chơi chèn ép chủ quyền song phương mà Trung Quốc tiến hành với nước nhỏ hơn trong vùng đã thay đổi về bản chất. Bây giờ, nó bị kết nối với cuộc chơi khác, nhằm xác định trật tự hàng hải giữa Trung Quốc và Mỹ, mà chủ yếu là xác định rõ quyền tự do lưu thông và an toàn hàng hải qua Biển Đông. Trong cuộc chơi ghép nối - chèn ép chủ quyền và xác định trật tự hàng hải - việc Trung Quốc tôn trọng thỏa thuận ở cuộc chơi đầu sẽ tạo sự giảm nhiệt ở cuộc chơi sau. Cụ thể là nó làm giảm sự tranh giành quyền ảnh hưởng tại khu vực giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong hoàn cảnh đó, sự ổn định ở khu vực được duy trì: Việt Nam / Philippines không mất gì; Mỹ không can dự gì và Trung Quốc cũng không chiếm đoạt được gì về chủ quyền hay quyền tự do lưu thông hàng hải của các nước khác. (Theo ngôn ngữ của cuộc chơi chèn ép, các bên đều nhận 0 điểm). Trong một lựa chọn khác, Trung Quốc có thể tiếp tục gây hấn, chèn ép Việt Nam / Philippines, bất kể hậu quả là phải đối mặt với Mỹ trong cuộc giằng co về ảnh hưởng khu vực và trật tự hàng hải. Vấn đề là, Trung Quốc có tham vọng lớn muốn siết chặt con đường biển chiến lược, mà hiện có tới 80 phần trăm dầu nhập khẩu của Trung Quốc và hơn 1/3 giá trị thương mại toàn cầu đi qua đó. Tuy nhiên, một chiến lược tiếp tục gây hấn để kiểm soát sẽ không còn là lựa chọn tốt cho Trung Quốc, ít ra là vào bây giờ. Sức mạnh răn đe của Mỹ hiện đang chiếm ưu thế khiến cho Trung Quốc khó có thể gây ra một cuộc xung đột song phương, mà ngay lập tức có thể biến thành xung đột khu vực. Tổn thất về kinh tế do con đường hàng hải chiến lược bị phong tỏa và mất mát về ngoại giao do bị cô lập trong vùng có thể là quá lớn. Trong hoàn cảnh đó, có thể xem như Trung Quốc bị lùi một bước trong chiến lược lập trật tự mới trong vùng (mất 1 điểm). Ngược lại, Mỹ sẽ được lợi khi dựa vào sức mạnh quân sự hiện có để duy trì trật tự hiện hữu và hưởng lợi từ quyền tự do và an toàn hàng hải ở Tây Thái Bình Dương. Nói khác đi, Mỹ thắng 1 điểm. Nói như vậy để thấy, Mỹ sẽ không ngồi yên, nếu Trung Quốc gây hấn tới mức đe dọa sự ổn định khu vực và an toàn hàng hải. Nếu vậy, thì Trung Quốc cũng sẽ không thể gây hấn, nếu tính đến tổn thất phải trả. Trong tương quan đó, Việt Nam / Philippines sẽ phối hợp phòng thủ với Mỹ nếu có xung đột xảy ra với Trung Quốc. Tổn thất sẽ ít hơn nhiều so với ngồi yên để chịu Trung Quốc gặm nhấm dần chủ quyền của mình. Nói vắn tắt, chủ ý gây xung đột quân sự với Việt Nam như lời đe dọa trên tờ Hoàn cầu Thời báo là chưa có khả năng xảy ra. Nguồn:http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-07-05-tinh-the-luo-ng-nan-cua-vn-philippines-va-nhung-co-hoi-moi
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mig21Bis_1
Thành viên

Bài viết: 552
|
 |
« Trả lời #118 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 02:10:21 am » |
|
Bộ Ngoại giao Việt Nam: Không có thông tin về việc tàu Trung Quốc định cắt cáp (GDVN) - Trong cuộc họp báo thường kỳ được tổ chức chiều ngày 7/7/2011, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời câu hỏi của phóng viên hãng thông tấn Pháp AFP với nội dung: "Tại sao cho tới thời điểm này phía Việt Nam vẫn chưa có thông báo chính thức nào về sự kiện ngày 30 tháng 6 vừa qua có một tàu Trung Quốc định cắt cáp thăm dò của một tàu của Việt Nam?" Trả lời câu hỏi này, bà Nguyễn Phương Nga cho biết: "Chúng tôi (Bộ Ngoại giao Việt Nam) không có thông tin về việc bạn hỏi". Trong một câu hỏi khác của phóng viên AFP có nội dung như sau: "Liệu trong bao lâu nữa Chính phủ Việt Nam sẽ cho phép người dân tiến hành biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc sau một loạt các sự kiện người dân Việt Nam tiến hành tuần hành trước cửa Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và lãnh sự quán Trung Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng như sự kiện thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đã tới thăm Trung Quốc trong tháng 6 vừa qua?"Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga nói: "Cuộc họp báo hôm trước tôi cũng đã từng nói, đây là phản ứng của người dân Việt Nam trước những sự kiện gần đây diễn ra trên Biển Đông". Nguồn: http://giaoduc.net.vn/quoc-te/43-tu-lieu/6784--b-ngoi-giaov-vic-mt-tau-tq-nh-ct-cap-thm-do-tau-vn-hom-306.html
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
thanhh63
Cựu chiến binh

Bài viết: 2188
|
 |
« Trả lời #119 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 12:17:02 pm » |
|
"Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông"  ... Trong cuộc họp báo thường kỳ được tổ chức chiều ngày 7/7/2011, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời câu hỏi của phóng viên hãng thông tấn Pháp AFP với nội dung: "Tại sao cho tới thời điểm này phía Việt Nam vẫn chưa có thông báo chính thức nào về sự kiện ngày 30 tháng 6 vừa qua có một tàu Trung Quốc định cắt cáp thăm dò của một tàu của Việt Nam?" Trả lời câu hỏi này, bà Nguyễn Phương Nga cho biết: "Chúng tôi (Bộ Ngoại giao Việt Nam) không có thông tin về việc bạn hỏi". ... Link: http://vitinfo.vn/MMuctin/Xahoi/CTXH/LA90598/default.html
|
|
|
|
|
Logged
|
Nắng gió cuộc đời, phải chăng đã phũ phàng làm cho mái tóc phai đi, sáng lên màu bạc, nhưng ánh mắt vẫn đọng mãi những đốm lửa của nồng nhiệt và tha thiết...Hãy gom những đốm lửa lẻ loi ấy để bùng cháy thành ngọn lửa!
|
|
|
|