Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:25:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một số hình ảnh, thông tin về bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển - Phần 3  (Đọc 432905 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #340 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2011, 03:33:00 pm »

Hoan nghênh ASEAN-Trung Quốc hướng tới xây dựng COC


Việt Nam hoan nghênh việc ASEAN và Trung Quốc nhất trí tiếp tục thực hiện đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), hướng tới xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC).

Ông Lương Thanh Nghị, người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN, phát biểu như trên vào chiều 24-11 tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao.

Ông Lương Thanh Nghị nói: “Hòa bình, ổn định an ninh và tự do an toàn hàng hải ở biển Đông là lợi ích chung của khu vực và tất cả các nước; các bên liên quan cần giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS)”.

Cũng tại buổi họp báo, bình luận về tin trên báo chí Trung Quốc ngày 22-11 cho biết Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) đã cho phép một công ty Trung Quốc mở tuyến du lịch đến quần đảo Hoàng Sa, người phát ngôn nói: “Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động của nước ngoài tại hai khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam, trái với tinh thần DOC”.

Nguồn: http://phapluattp.vn/20111124112048776p0c1013/hoan-nghenh-aseantrung-quoc-huong-toi-xay-dung-coc.htm
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #341 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2011, 12:07:40 am »

Lại xuất hiện bản đồ đáng ngờ


Thời gian qua, nhiều cá nhân, tổ chức người Việt trên khắp thế giới liên tục phát hiện và phản đối các tác giả Trung Quốc lồng bản đồ có đường lưỡi bò gần ôm trọn biển Đông vào những bài báo khoa học.

Các tạp chí như Waste Management và Nature đã có phản hồi chính thức khẳng định bản đồ phi lý này không có chỗ trong các ấn phẩm khoa học không liên quan đến vấn đề tranh chấp chủ quyền.

Tuy nhiên, mới đây ấn phẩm Environmental Research Letters thuộc nhà xuất bản IOPScience đăng một bài nghiên cứu của một nhóm tác giả Trung Quốc và Ý, trong đó có các bản đồ gây nhiều lo ngại mới. Cụ thể, trong bài Changes in snow cover over China in the 21st century as simulated by a high resolution regional climate model về lượng tuyết phủ ở Trung Quốc trong thế kỷ 21 có nhiều bản đồ nước này không kèm đường lưỡi bò.


Bản đồ “kỳ lạ” trên Environmental Research Letters - Ảnh chụp từ website của IOPScience

Thế nhưng ở góc phải phía dưới của các bản đồ lại xuất hiện một phụ đồ nhỏ thể hiện gần như toàn bộ biển Đông và lãnh thổ Việt Nam mà không có bất cứ chú thích hay diễn giải nào. Điều này có thể gây ngộ nhận rằng khu vực trong bản đồ nhỏ này cũng thuộc Trung Quốc. Thiết nghĩ cộng đồng người Việt trong ngoài nước và các cơ quan hữu trách cần lên tiếng yêu cầu giải thích rõ ràng, tránh chuyện lập lờ nhằm phục vụ cho mục đích nào đó.

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20111124/lai-xuat-hien-ban-do-dang-ngo.aspx
Logged
trauxanh
Thành viên
*
Bài viết: 143


« Trả lời #342 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 08:54:03 am »

Thứ Hai, 28/11/2011, 07:30 (GMT+7)

Giải pháp đòi lại Hoàng Sa

TT - Làm cách nào để Việt Nam giải quyết và đòi hỏi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình (như khẳng định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi trả lời chất vấn trước Quốc hội)?

Tàu SAR-412 thuộc Trung tâm Tìm kiếm cứu hộ cứu nạn hàng hải khu vực 2 từng tham gia cứu nạn ngư dân miền Trung tại ngư trường Hoàng Sa - Ảnh: Đăng Nam

Các thành viên của Quỹ Nghiên cứu biển Đông đưa ra một số cơ sở và bước đi để hiện thực hóa công việc này của Việt Nam.

Xác lập chủ quyền


Nhà nước phong kiến Việt Nam đã biết đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi đó được gọi dưới tên chung là Đại Trường Sa, Hoàng Sa hay Vạn Lý Trường Sa và coi chúng là một phần lãnh thổ của mình.

Trong suốt ba thế kỷ từ 17-19, chính quyền phong kiến Việt Nam đã thực thi liên tục chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa bằng cách thường xuyên cử các đội thuyền Hoàng Sa và Bắc Hải đến các đảo này hằng năm để khảo sát, đo đạc, khai thác tài nguyên một cách có hệ thống, thu lượm các tài sản chìm đắm, xây miếu dựng đền và trồng cây như các biểu tượng khẳng định chủ quyền, tổ chức thu thuế, cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn.

Việc thực thi chủ quyền này diễn ra hoàn toàn không gặp bất cứ sự phản đối hay tranh chấp nào từ phía các quốc gia khác, kể cả Trung Quốc.

Theo luật quốc tế, bản thân quyền phát hiện đầu tiên một lãnh thổ vô chủ không đủ để tạo ra danh nghĩa pháp lý cho quốc gia phát hiện. Muốn thụ đắc chủ quyền, quốc gia này phải tiếp tục chiếm cứ hiệu quả lãnh thổ đó. Hai nguyên tắc cơ bản trong việc thụ đắc chủ quyền là nguyên tắc thật sự - tức là chiếm hữu thật sự lãnh thổ vô chủ, coi nó như một bộ phận lãnh thổ của mình và thực thi quyền hạn nhà nước, quản lý hành chính trong một thời gian hợp lý; và nguyên tắc công khai - việc chiếm hữu phải được các quốc gia khác công nhận. Một cá nhân hay một công ty không thể thụ đắc chủ quyền lãnh thổ.

Ngoài yếu tố vật chất (corpus), việc chiếm hữu thật sự đồng thời còn đòi hỏi yếu tố tinh thần (animus), nghĩa là ý chí của quốc gia muốn chiếm hữu lãnh thổ vô chủ.

Việc thực thi chủ quyền của nhà nước phong kiến Việt Nam có đầy đủ các yếu tố vật chất và tinh thần, được thực hiện trong một thời gian dài hoàn toàn không gặp bất cứ sự phản đối hay tranh chấp nào từ phía các nước khác, đảm bảo được cả nguyên tắc thật sự và nguyên tắc công khai, do đó việc xác lập chủ quyền quần đảo Hoàng Sa bởi Việt Nam trong thời kỳ nhà nước phong kiến là không thể tranh cãi và ít nhất từ thế kỷ 17, Hoàng Sa đã không còn là lãnh thổ vô chủ (terra nullius).

Sau khi thiết lập chế độ bảo hộ tại Việt Nam, Pháp đã đại diện cho Việt Nam trong việc thực thi và bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Đến ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính quyền Bảo Đại việc quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 22-8-1956, sau khi quân Pháp rút đi, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã thiết lập ngay lập tức sự kiểm soát của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa và đối phó với Trung Quốc trong tranh chấp này.

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời ngày 2-7-1976 là bên kế thừa hợp pháp của hai nhà nước trước đó, tiếp tục sở hữu danh nghĩa pháp lý đối với quần đảo Hoàng Sa cho đến nay.

Tuy đã mất yếu tố vật chất do bị Trung Quốc cưỡng chiếm bằng vũ lực, nhưng Việt Nam vẫn luôn thực thi chủ quyền của mình bằng yếu tố tinh thần. Tháng 12-1982, Việt Nam đã thành lập huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Được hoàn thành năm 2009, tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải (đặt tại huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi) mang tính biểu tượng tâm linh tri ân những người từng hi sinh trên biển Đông bảo vệ chủ quyền biển đảo trên hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa - Ảnh: Kim Em

Đấu tranh ngoại giao

Chúng ta cần tận dụng tất cả các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên Hiệp Quốc, APEC, ASEAN, Thượng đỉnh Đông Á... nhằm tranh thủ công luận quốc tế cho một cuộc đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc. Thiếu sự hỗ trợ tinh thần và pháp lý của cộng đồng quốc tế sẽ khiến khả năng chấp nhận của Trung Quốc trên bàn đàm phán song phương vốn đang khó khăn sẽ càng khó khăn hơn.

Đương nhiên, không thể không vận dụng sức mạnh của dư luận và trí tuệ nhân dân, học giả và chuyên gia các giới Việt Nam trong và ngoài nước để tác động đến nhân dân thế giới và những nhà đàm phán Trung Quốc.

Những tác động này phải đủ mạnh và kiên trì, nhưng đồng thời cũng khẳng định thiện chí đàm phán và hợp tác hòa bình với Trung Quốc.

Chúng ta cần đưa vấn đề Hoàng Sa ra đàm phán song phương với phía Trung Quốc cùng lúc phân tích cái lợi của việc đàm phán này đối với các lợi ích khác của Trung Quốc như sức mạnh mềm, bình an ở vùng biển phía nam để phát triển kinh tế của họ.

Và cần đưa việc tranh chấp Hoàng Sa vào phạm vi điều chỉnh của COC (Quy tắc ứng xử trên biển Đông) cũng như các văn bản khác trong tương lai. Tất nhiên chúng ta vận dụng khéo léo vị thế mà mình đang có để đàm phán với Trung Quốc để họ hiểu rằng đàm phán song phương và hòa bình là cách mà Trung Quốc sẽ được nhiều hơn về uy tín trên trường quốc tế.

Lập cơ quan chuyên trách

Trước hết, Nhà nước cần lập cơ quan chuyên trách làm đầu mối và quy tụ các trí thức am hiểu về ngoại giao, sử học, công pháp quốc tế, Trung Quốc học để liên tục đưa ra yêu cầu giải quyết và khẳng định chủ quyền Hoàng Sa một cách thiện chí và hòa bình. Cơ quan này có trách nhiệm chuẩn bị cho chứng cứ pháp lý và lịch sử, sẵn sàng cho việc đưa tranh chấp Hoàng Sa ra Tòa án công lý quốc tế (IJC).

Chúng ta cần nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ những vụ án xét xử tranh chấp lãnh thổ giữa các nước Malaysia, Singapore, Indonesia, Campuchia, Thái Lan.

Theo luật quốc tế, tòa chỉ có thẩm quyền giải quyết một tranh chấp một khi tất cả các bên trong tranh chấp công nhận thẩm quyền của tòa cho vụ tranh chấp đó.

Hiện tại, Trung Quốc chưa hề công nhận thẩm quyền xét xử của tòa cho tranh chấp biển Đông. Vì vậy, Việt Nam không thể khởi kiện Trung Quốc trước tòa để giải quyết tranh chấp về Hoàng Sa.

Chúng ta cần đàm phán, gây áp lực với Trung Quốc để đạt được một sự đồng ý của Trung Quốc nhằm đưa tranh chấp Hoàng Sa ra trước IJC.

Công việc này đòi hỏi sự bền bỉ. Vì vậy các kinh nghiệm về đấu tranh, kiến thức về đàm phán, pháp luật, lịch sử cũng cần được học tập và ứng dụng một cách lâu dài.

Nhà nước cần phổ biến thông tin một cách sâu rộng trong toàn dân và kiều bào để có sự hậu thuẫn cao nhất cho sự nghiệp lớn này. Nhân dân ta thông hiểu đầy đủ thì mới gia tăng sức mạnh của ngoại giao nhân dân và tác động mạnh mẽ đến nhân dân Trung Quốc và Hoa kiều trên toàn thế giới. Chúng ta cần kêu gọi tập trung chứng cứ về Hoàng Sa, đồng thời đề nghị các học giả Việt Nam trong và ngoài nước cung cấp, phân tích và hệ thống hóa các chứng cứ này.

Và điều rất quan trọng là chúng ta chủ động chọn thời điểm để nêu vấn đề khôi phục và thu hồi Hoàng Sa tại các diễn đàn thế giới và khu vực để chuẩn bị dư luận ngoài nước.

NGUYỄN THÁI LINH - LÊ MINH PHIẾU - LÊ VĨNH TRƯƠNG (Quỹ Nghiên cứu biển Đông)

Không thể chinh phục lãnh thổ bằng vũ lực

Theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ 20 việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 24-10-1970 ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp”.

Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật pháp quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

Chúng ta làm chủ Hoàng Sa từ lâu

Chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Có đầy đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thật sự ít nhất là từ thế kỷ 17. Chúng ta làm chủ khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế.

Năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này.

Lập trường nhất quán của chúng ta là Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc, phù hợp với Công ước về Luật biển, phù hợp với tuyên bố DOC.

(Trích nội dung trả lời chất vấn của Thủ tướng NGUYỄN TẤN DŨNG ngày 25-11-2011)
Nguồn:http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/466951/Giai-phap-doi-lai-Hoang-Sa.html
Logged

Máu bất khuất nhuộm tươi màu cờ đỏ
Lòng trung kiên tô sáng sắc sao vàng
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #343 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2011, 12:09:19 am »

Giáo sư Carl Thayer: Biển Đông cần sự đoàn kết trong khối ASEAN


Carl Thayer, Giáo sư danh dự của Đại học New South Wales tại Viện Quốc Phòng Australia vừa có bài viết trên Tạp chí Wall Street Journal kêu gọi các quốc gia ASEAN cần đoàn kết trong việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông.

Theo đó, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á ở Bali, Indonesia tuần trước đã chứng kiến thảo luận sôi nổi về Biển Đông. Tổng thống Mỹ Barack Obama đề xuất thảo luận vấn đề  nhưng Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo lại lập luận, hội nghị không phải là nơi thích hợp. Đó là vấn đề cần được giải quyết song phương giữa các nước liên quan.

Cuối cùng, Tổng thống Indonesia Susilo Bambang, người đang là Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) quyết định, 16 trong số 18 lãnh đạo quốc gia trước đó đã nêu vấn đề an ninh biển trong các bài phát biểu của họ đồng nghĩa với việc đã đạt được sự đồng thuận để thảo luận về vấn đề.

Trong khi đó là một tín hiệu đầy hy vọng thì vẫn còn những nghi ngại liệu ASEAN có đủ gắn kết để đàm phán về một giải pháp song phương toàn khối thỏa đáng cho vấn đề tranh chấp với Trung Quốc.
 
Tác giả cho rằng, Trung Quốc và các nước ASEAN hiện đang bắt đầu đàm phán về một bộ Quy tắc ứng xử (COC) để giảm bớt những căng thẳng. Thế nhưng, ASEAN đã không đạt được sự đồng thuận chung về chính sách trong vấn đề này khi cho rằng các vấn đề an ninh biển chỉ liên quan đến 6 bên tuyên bố chủ quyền là Trung Quốc, Đài Loan cùng 4 nước ASEAN gồm: Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei chứ không phải 6 thành viên ASEAN khác không có tuyên bố chủ quyền.

"Đây là một chiến lược hết sức sai lầm. An ninh biển ở Đông Nam Á ảnh hưởng tới cả các bên tuyên bố chủ quyền và không có tuyên bố chủ quyền vì luật pháp quốc tế áp dụng ngang bằng nhau ở tất cả mọi nơi. Nếu chỉ đạt được một Quy tắc ứng xử trên Biển Đông sẽ khiến Trung Quốc được tự do thực hiện hành động quả quyết trên các vùng biển Đông Nam Á khác trải dài từ Tây Ấn Độ Dương tới Vịnh Thái Lan" - Giáo sư Carl Thayer lưu ý.

Bài báo cũng nêu lên những bình luận tích cực về ngoại giao của Việt Nam và Phillipines. Tác giả cho rằng, Biển Đông không phải là vấn đề đối đầu với Trung Quốc mà trên hết là hòa bình và thịnh vượng ảnh hưởng đến toàn bộ châu Á.
 
Tại Bali, Tổng thống Obama nhắc lại các quan điểm của Mỹ mà Ngoại trưởng Clinton đã phát biểu năm ngoái: Mỹ không đứng về bên nào nhưng ủng hộ tiến trình ngoại giao hòa bình, hợp tác trên cơ sở luật pháp quốc tế và đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển. Ông Obama cũng nhắc lại các lợi ích của Mỹ trong đó có tự do hàng hải và tự do thương mại quốc tế không bị cản trở.

Vị Giáo sư Viện Quốc phòng Australia kết luận: "Giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề mang tính toàn cầu và có thể khiến rất nhiều nước châu Á tham gia. Đây có thể là cơ hội để ASEAN gây sức ép lên Trung Quốc giải quyết vấn đề. Một giải pháp tập thể là có thể, nếu ASEAN chịu đương đầu với thách thức".

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #344 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2011, 12:22:53 am »

Học giả Trung Quốc ngại nước này 'ngộ nhận Biển Đông'


Mới đây, ông Lý Thần Huy, Phó giáo sư ngành Khoa học vật liệu và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học kỹ thuật Hoa Trung, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc có bài viết "E rằng chúng ta ngộ nhận trong vấn đề Nam Hải (theo cách gọi của Trung Quốc, tức Biển Đông - PV)”.

Dù mục đích bài viết của PGS Lý để thuyết phục người Trung Quốc thấy chính phủ của họ "không ươn hèn", tuy nhiên qua bài viết, cũng có thể thấy sự ngộ nhận của rất nhiều người Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, dẫn đến kích động tinh thần dân tộc cực đoan ở nước này.

Mở đầu bài viết, PGS Lý tỏ ra lo ngại trước một bài báo có tên "Âm thanh vũ lực ở Nam Hải đang được khuếch đại trong dân chúng Trung Quốc", trong đó viết: "trong dân chúng Trung Quốc, bao gồm cả một số chuyên gia học giả, chủ trương dùng vũ lực trong vấn đề tranh chấp ở Nam Hải".

Theo bài "Âm thanh vũ lực..." trên, phần lớn người Trung Quốc cho rằng họ "bị xúc phạm nặng nề" vì đương nhiên cho rằng "Nam Hải là của chúng ta". Cũng theo bài báo này, "Việt nam và Philippines dám tranh chấp với chúng ta là vì có sự hậu thuẫn từ phía Mỹ, do Mỹ xúi giục. Và Mỹ muốn ngăn chặn, muốn có kẻ địch luôn bên cạnh Trung Quốc".

"Những nhận thức này đang rất phổ biến trong dân chúng Trung Quốc. Nhưng chính phủ Trung Quốc hoàn toàn im lặng, không có ý định dẹp yên dư luận này", PGS Lý viết.

Sự im lặng trên, theo PGS Lý sẽ "có thể thổi bùng một cách sai lầm chủ nghĩa dân tộc, làm cho Trung Quốc trở thành một dân tộc hiếu chiến trên thế giới và làm mất đi giá trị của hình tượng Trung Quốc".

"Họ cho rằng, Việt Nam, Philippines tranh chấp Nam Hải với Trung Quốc là do Mỹ xúi giục, điều đó không tránh khỏi tức giận lây người Mỹ. Thế là trong cộng đồng quốc tế, kẻ thù của Trung Quốc ngày càng nhiều mà bạn bè càng ít", PGS Lý viết tiếp.

Phản bác ngộ nhận của nhiều người Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, PGS Lý cho rằng: "Việt Nam và Philippines tranh chấp Nam Hải với Trung Quốc hoàn toàn không phải do Mỹ cổ vũ, hỗ trợ. Ở đây, Mỹ không có liên quan gì. Việt Nam, Philippines không thể vì một nước xúi giục mà đi gây sự với một nước khác, điều đó không phù hợp với đạo lý và quy tắc quốc tế.

Cách nghĩ này thật ngây thơ, thậm chí là ngớ ngẩn. Đối với một quốc gia, đem sự an toàn, yên ổn của mình trao vào tay người khác, hoàn toàn vô căn cứ. Huống chi Việt nam và Mỹ vẫn là hai đối thủ từng có mối thù không đội trời chung.

Còn Philippines, mặc dù là đồng minh quân sự của Mỹ, nhưng là một nước nhỏ bé ở xa Mỹ, gần Trung Quốc thì không dại gì đi gân hấn với Trung Quốc, “nước xa không cứu được lửa gần”, chỉ rước hoạ vào thân".


Đặt câu hỏi: "Vậy rốt cuộc, vì cái gì để Việt Nam và Philippines gây tranh chấp với Trung Quốc trên Nam Hải? Có phải là Nam Hải thuộc Trung Quốc? và Nam Hải có nhiều tài nguyên nên các nước mới đến tranh chấp?" , PGS Lý viết: "nếu chúng ta cứ kiên quyết cho rằng khu vực này thuộc Trung Quốc, thì họ cũng khẳng định, khu vực này thuộc về họ. Chúng ta có thể đưa ra rất nhiều tư liệu, chứng cứ chứng minh, khu vực này từ xưa dến nay là thuộc sở hữu của Trung Quốc thì họ cũng đưa ra được những tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Chúng ta cho rằng, lý do của chúng ta là đầy đủ, thì họ cũng làm được như vậy".

"Chúng ta giận dữ cho rằng họ đến cướp đất của chúng ta, thực tế là, chúng ta cũng tự nhận thấy là một nước lớn, khi thấy khu vực này có nhiều tài nguyên thì đến chiếm giữ, người ta sẽ cho rằng, chúng ta ỷ thế là nước lớn, không phải họ uy hiếp chúng ta mà chúng ta uy hiếp họ. Trong bối cảnh như vậy, dù không có sự ủng hộ của Mỹ, dù họ là nước nhỏ, họ cũng không dễ dàng lùi bước".

"Tôi nghĩ, dựa vào lý của mình sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề. Vì sẽ không ai thừa nhận khu vực đó là thuộc về đối phương".

Từ phân tích trên, PGS Lý phát biểu: "Trong thời đại ngày nay, càng không thể nói đánh là có thể đánh người khác".

PGS Lý cũng đề xuất: "Theo tôi, biện pháp tốt nhất là nhờ vào sự phân xử của cộng động quốc tế. Lấy cộng đồng quốc tế làm trọng tài. Chúng ta là một trong năm thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc".

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #345 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2011, 12:18:53 am »

Không ai có thể xoá bỏ những xác tín lịch sử


Người Trung Hoa đã lợi dụng tình trạng Việt Nam bị Pháp đô hộ, chính quyền Pháp đã lơ là việc bảo vệ, chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa cũng như tình trạng người Việt bất hòa để mà dần dần lấn chiếm. Chính các nhà báo pháp như Henri Cucherousset, Alexix Elie Lacombe… vào những năm thập niên 30 của thế kỷ XX này đã vạch ra những sai lầm, âm mưu mờ ám của Toàn quyền Đông Dương dung túng những xâm phạm chủ quyền của người Trung Hoa ở Hoàng Sa...

Tài liệu của sử gia Nguyễn Nhã

Trong luận án tiến sĩ đề tài chủ quyền Trường Sa-Hoàng Sa năm 2002, sử gia Nguyễn Nhã đã nói rõ như sau:

Về mặt pháp lý quốc tế vào đầu thế kỷ XX, trước khi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam, quần đảo Trường Sa tức Đại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa đã được Việt Nam chiếm hữu thật sự, hòa bình và thực thi chủ quyền liên tục, với những bằng chứng sau đây:

Một là nhà nước ở Việt Nam trong 3 thế kỷ từ cuối thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã tổ chức đội Bắc Hải đi tìm kiếm hải vật ở khu vực Bắc Hải tức khu vực quần đảo Trường Sa và cả Côn Đảo, Hà Tiên cũng ở phía Nam của Đại Việt. Phủ Biên Tạp Lục (1776) của Lê Quý Đôn và rồi Đại Nam Nhất Thống Chí (khởi soạn 1848, in năm 1910) của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn đều khẳng định "đội Bắc Hải, khiến đội Hoàng Sa kiêm quản, ra Bắc Hải, các đảo Côn Lôn tìm lấy hải vật".

Phủ Biên Tạp Lục, quyển 2 của Lê Quý Đôn còn cho biết thêm rằng sở dĩ nhà nước sai chức cai đội Hoàng Sa kiêm quản đốc đội Bắc Hải này vì chẳng qua họ chỉ lấy được những hải vật kể trên mà thôi tức là những hàng đồi mồi, hải ba, đôn ngư (cá heo lớn như con heo), lục quý ngư, hải sản (con đỉa biển), còn những vàng bạc và các của cải quý báu khác thì ít khi họ tìm kiếm được. Vậy là do đội Bắc Hải ít khi tìm kiếm được các sản vật quý trong đó có vàng bạc hay súng ống nên các chúa Nguyễn đã để cho cai đội Hoàng Sa kiêm quản (…).

Hai là Trường Sa chịu sự quản lý hành chính của Quảng Ngãi. Bởi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được coi là một. Tỉnh Bình Thuận chỉ cung cấp suất đinh cho đội Bắc Hải mà thôi. Mà chúng ta đã biết Hoàng Sa nằm trong cương vực, vùng biển của Quảng Ngãi, do Quảng Ngãi quản hạt. Đến năm 1933, quần đảo Trường Sa mới được tỉnh Bà Rịa (Nam Kỳ) quản lý về mặt hành chánh. Năm 1956, tỉnh Bà Rịa được đổi tên là Phước Tuy (Nam Bộ). Năm 1982 lại do tỉnh Phú Khánh (Trung Bộ) quản lý và trở thành một huyện đảo.

Ba là những hoạt động liên tục, định kỳ của thủy quân từ đầu nhà Nguyễn, cụ thể bắt đầu từ năm 1816 tại quần đảo Hoàng Sa mà như ta đã biết thời kỳ này Hoàng Sa và Trường Sa là một. Đó là những việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ của thủy quân, việc cắm mốc chủ quyền, dựng bia thành lệ hàng năm đến từng hòn đảo được ghi trong sách Hội Điển triều Minh Mạng.

Bốn là năm 1933, khi chưa có nước nào, kể cả Trung Quốc đặt vấn đề chủ quyền ở quần đảo Trường Sa, chính quyền Pháp ở Việt Nam đã tổ chức chiếm hữu theo nghi thức truyền thống phương Tây. Như thế, nhân danh Vương quốc An Nam theo Hiệp ước Pháp-Việt 1874 cũng như Hiệp ước 1884, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã chính thức chiếm hữu Trường Sa trong tình trạng không có nước nào chiếm hữu (…).

Những hoạt động liên tục hàng năm của đội Bắc Hải thời Chúa Nguyễn và đầu thời nhà Nguyễn, cũng như những hoạt động của thủy quân trong suốt triều Nguyễn đã chứng minh một cách hùng hồn quần đảo Trường Sa không phải là đảo vô chủ. Song hành động của chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam tổ chức chiếm hữu theo nghi thức cổ truyền phương Tây chẳng qua là để hợp thức hóa việc chiếm hữu đúng theo pháp lý quốc tế lúc bấy giờ để tránh mọi sự tranh chấp của các nước khác, đồng thời cũng thể hiện ý đồ chính trị của Pháp, sáp nhập Trường Sa vào xứ Nam Kỳ thuộc địa, thay vì xứ Trung Kỳ bảo hộ.

Điều cần nói thêm là, khi chính quyền thực dân Pháp tổ chức chiếm hữu theo nghi thức truyền thống phương Tây vào năm 1930 đến 1933, thì cũng chưa có một quốc gia thứ ba nào đặt vấn đề tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa (Spratley). Khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam năm 1956, Trường Sa được bàn giao cho chính quyền ở Nam Việt Nam quản lý đã bảo đảm tính liên tục thực thi chủ quyền một cách hòa bình của Việt Nam đối với Trường Sa.

Năm là ngoài sự sáp nhập Trường Sa về mặt hành chính của chính quyền thực dân Pháp vào cảng Bà Rịa, Vũng Tàu, đất Nam Kỳ theo Hiệp ước Pháp - Việt 1862, 1874. Chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã có những hành động cụ thể như xây dựng bia chủ quyền, xây dựng trạm khí tượng, trạm vô tuyến ở đảo Itu - Aba cùng trại binh ở quần đảo Trường Sa. Suốt thời gian từ 1927 đến 1945, chính quyền thực dân Pháp ở Việt Nam đã thường xuyên tổ chức khảo sát hay khai thác ở quần đảo này.

Những tình tiết trên đây là những bằng chứng rõ ràng về sự chiếm hữu thật sự, liên tục và hòa bình của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, chỉ bị gián đoạn một thời gian ngắn khi bị Nhật dùng vũ lực trái phép đem quân chiếm đóng một thời gian (ngay khi Nhật đảo chính Pháp và tước khí giới quân Pháp đồn trú ở Trường Sa ngày 9/3/1945). Cuối 1946 qua năm 1947, cũng trong một thời gian ngắn, lợi dụng thời gian tranh tối tranh sáng, quân đội, Trung Hoa Dân Quốc lấy cớ giải giáp quân đội Nhật đã đến chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu-Aba) vốn bị Nhật chiếm vài năm trước đó. Song đến đầu năm 1950, quân Trung Quốc đã rút.

Sau đó đến năm 1956, cũng lợi dụng tình hình tranh tối tranh sáng giao quyền hành, Trung Hoa Dân Quốc đã chiếm đóng đảo Ba Bình (Itu-Aba) của Trường Sa và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã chiếm đảo Phú Lâm của Hoàng Sa. Đó đều là những hành động trái phép đối với luật pháp quốc tế. Nếu các nước ngoài bằng vũ lực xâm chiếm tranh giành chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, thì sự xác lập chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam về mặt pháp lý quốc tế vẫn còn có giá trị của nó.

Sau tháng 4/1956, khi quân viễn chinh Pháp rút, các chính quyền ở Nam Việt Nam quản lý Trường Sa, luôn có những hành động bảo vệ chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Đến năm 1975, khi giải phóng Miền Nam Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản, tiếp tục trấn giữ, thực thi chủ quyền của Việt Nam đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa. Mọi sự xâm chiếm bằng vũ lực của Trung Quốc cũng như các nước khác trong các thời kỳ đã qua cũng như hiện nay đều vi phạm pháp lý quốc tế.

Tài liệu của nhóm nghiên cứu viết trên chuyên san Sử Địa số 29 (1975)

Sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974, một nhóm nghiên cứu sử học của chúng ta đã phản ứng bằng cách xới lại kho sử liệu minh chứng cho vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa-Hoàng Sa, đăng trong tập san Sử Địa số 29. Trong bài đầu tiên mang tựa "Quần đảo Hoàng Sa", sử gia Hoàng Xuân Hãn viết (trích những đoạn quan trọng):

Quần đảo Hoàng Sa là đất của Việt Nam, hoặc nói cho hợp hơn, là đất của Đại Việt từ khi dân Việt định cự ở phủ Tư Nghĩa, tức là đất Quảng Ngãi ngày nay. Bút chứng cũ nhất và đầy đủ nhất thấy trong sách Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn soạn vào năm 1776, với những tư liệu của các Chúa Nguyễn. Sau đó, các sử gia, địa gia triều đại nhà Nguyễn đều dựa theo đó và thêm thắt việc mới vào. Về đồ vẽ, các "bản đồ" và "lộ đồ" đời Lê cũng có ghi một cách sơ sài cái "bãi cát vàng" hoặc "bãi Trường sa" ấy.

Tiếp đó, tác giả-tiến sĩ Thái Văn Kiểm bổ sung (trích những đoạn quan trọng):

Theo Hiệp ước đình chỉ ký kết tại San Francisco, vào tháng 9-1951, khoản 2, nước Nhật Bản phải rút lui khỏi các nơi mà họ đã dùng vũ lực để chiếm đóng trong thời Đệ nhị thế chiến, lẽ tất nhiên là trong đó có hai quần đảo Paracels và Spratley. Tại Hội nghị San Francisco, ngày 7-9-1951, Thủ tướng Chính phủ, Trưởng phái đoàn Việt Nam, đã long trọng tuyên bố như sau: "Et comme il faut franchement profiter de toutes occasion pour étouffer les germes de discorde, nous afirmons nos droits sur les iles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet Nam". Xin tạm dịch là: "Và vì chưng phải lợi dụng tất cả mọi trường hợp để chặn đứng những mầm xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã luôn luôn từ xưa thuộc lãnh thổ Việt Nam". Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco long trọng ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn phó hội, không có một phái đoàn nào phản đối gì cả.

Một trong những bài viết độc đáo trong tập san trên là phần phanh phui thủ đoạn của Pháp khi không ngăn chặn Trung Quốc chiếm Hoàng Sa… Tác giả Nguyễn Nhã viết:

Chính người Trung Hoa đã lợi dụng tình trạng Việt Nam bị Pháp đô hộ, chính quyền Pháp đã lơ là việc bảo vệ, chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa cũng như tình trạng người Việt bất hòa để mà dần dần lấn chiếm. Chính các nhà báo pháp như Henri Cucherousset, Alexix Elie Lacombe… vào những năm thập niên 30 của thế kỷ XX này đã vạch ra những sai lầm, âm mưu mờ ám của Toàn quyền Đông Dương dung túng những xâm phạm chủ quyền của người Trung Hoa  ở Hoàng Sa.

Chính tạp chí "Eveil Eeconomique de l' Indochine" trong nhiều số liên tiếp đề cập đến Hoàng Sa, nhất là số 741 (12/6/1932) đã đăng tải bức thư của Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier gửi cho Tổng trưởng Thuộc địa ở chính quốc. Bức thư này đã tiết lộ sự thực trắng trợn của chính quyền Pháp ở Đông Dương khi ấy đã cố ý lặng thinh, không phản ứng trước vụ các tàu của Trung Hoa vào năm 1909 đã đổ bộ, bắn đại bác, xâm phạm lãnh thổ mà họ biết chắc rõ đã thuộc về Việt Nam từ lâu qua sử sách hay thực tế.

Chính quyền Pháp khi ấy đã nói rằng họ muốn chờ một lúc khác thuận tiện cho người Pháp hơn để lên tiếng và hơn nữa "Hoàng Sa có thể được dùng làm món hàng trao đổi trong các vụ thương lượng về nhượng địa với Trung Hoa". Chính việc tiết lộ bức thư này mà tòa soạn báo "Evil Economique de l'Indochine" đã bị dự thẩm Bartet ra lệnh khám xét ban đêm để tịch thu tài liệu về Hoàng Sa đã vạch những sai lầm, mờ ám của chính quyền Pháp khi  ấy.

Cũng trong báo "Eveil Economique l'Indochine", số 738 (22/5/1932), tr 5-6, ông Alexix Elie Lacombe đã khen mỉa mai rằng, Toàn quyền Đông Dương đã khéo ru ngủ được Bộ Thuộc địa Pháp hầu dẹp qua một bên vụ Hoàng Sa khi Tổng đốc Quảng Châu đã lên tiếng giành chủ quyền Hoàng Sa năm 1907 và đến năm 1909, khi tàu Trung Hoa đã hai lần đến Hoàng Sa vào tháng 4 và tháng 6, trong lần thứ 2 đã cắm cờ Trung Hoa, bắn 21 phát súng, vị lãnh sự Pháp ở Quảng Châu có thư về Pháp báo cáo, nêu sự kiện xâm phạm chủ quyền nhưng chính quyền Pháp khi ấy lờ đi.

Thấy người Pháp làm ngơ, người Trung Hoa  đã làm tới, ngày 30/4/1921, chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông đã ký văn thư 831 đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc hành chính vào chính quyền Yahien, Hải Nam. Triều đình Việt Nam hồi ấy dù chỉ còn hư vị, nhưng Binh bộ thượng thư Thân Trọng Huề đã lên tiếng phản đối năm 1925…

Chính những dư luận báo chí tố cáo trên, đã khiến chính quyền Pháp phải hành động và do đó mới có sự việc Pháp tổ chức chiếm hữu Trường Sa (Spratly) vào năm 1933 và thiết lập các cơ sở hải đăng, đài khí tượng, các trại lính, để lính Việt Nam và Pháp bảo vệ Hoàng Sa.

Nhìn lại quá trình lịch sử, chúng ta thấy một số sự kiện lịch sử và địa lý quan trọng đáng ghi nhớ là:

Năm 1634,  một chiếc tàu Hòa Lan bị chìm đắm tại Hoàng Sa (Paracels), viên thuyền trưởng và  đoàn thủy thủ lâm nạn đã được quan chức Quảng Nam, dưới thời Chúa Sãi, giúp đỡ cho trở về xứ Batavia.

Năm 1702, dưới thời Chúa Minh Nguyễn Phước Chu, và từ đó về sau, sử sách đã nói tới Đội Hoàng Sa có nhiệm vụ tuần tiễu hải phận xứ Đàng Trong, kiểm soát các thương thuyền và đặc biệt thâu lượm được nhiều hàng hóa và kim khí, vật dụng tại quần đảo Hoàng Sa, đem về nộp cho Phủ Chúa tại Phú Xuân.

Năm 1802 (đầu niên hiệu Gia Long), "cũng phỏng theo chế độ cũ, đặt Đội Hoàng Sa" (theo Đại Nam Nhất Thống Chí). Năm 1816, Vua Gia Long thân chinh tiếp nhận quần đảo Hoàng Sa và thượng quốc kỳ trên đảo (theo Jean Baptiste Chaigneau và Giám mục Tabert).

Năm 1820 (đầu niên hiệu Minh Mạng), "thường sai thuyền công đến nơi dò xét hải trình…" (theo Đại Nam Nhất Thống Chí).

Năm 1835, Vua Minh Mạng truyền lập miếu Hoàng Sa dựng bia đá và tấm bình phong.

(Thái Văn Kiểm, tập san Sử Địa số 29)


Nguồn: http://antg.cand.com.vn/vi-vn/tulieu/2011/6/75425.cand
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #346 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 12:21:40 am »

Lược trích  quan điểm riêng của ông Thái Văn Cầu, một chuyên gia khoa học không gian hiện sinh sống ở Hoa Kỳ về:  Hướng đi mới cho tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.

tác giả đề cập hai điểm chính, căn cứ và chỉ tiêu giải quyết tranh chấp.

Căn cứ giải quyết tranh chấp:

Sau khi dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974,  Trung Quốc nỗ lực chứng minh “chủ quyền” của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa trong các lãnh vực nghiên cứu khác nhau.

Dựa vào kho cổ sử tuy lớn về số lượng nhưng có không ít vấn đề về chất lượng, giới nghiên cứu Trung Quốc, dưới sự hỗ trợ của nhà nước Trung Quốc, tranh thủ biến không thành có về chứng cứ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa.

Trung Quốc, ở một mức độ nhất định, thành công trong việc tạo hỏa mù, đánh lừa dư luận Trung Quốc và dư luận quốc tế.

Đã có trường hợp học giả phương Tây đưa nhận định về chủ quyền biển đảo xa rời cơ sở lịch sử hay pháp lý, gây bất lợi cho Việt Nam.

Ngược lại, trong một thời gian dài, Việt Nam hầu như bị động trong công việc nghiên cứu chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa một cách khoa học và nghiêm túc.

Mối quan tâm về chủ quyền gia tăng khi Trung Quốc trở nên hung hãn trên Biển Đông ......

Đồng thời, sự lớn mạnh của mạng lưới internet trong nước giúp truyền thông tin đa chiều rộng rãi hơn trước.

Kết hợp hai yếu tố trên dẫn đến sự hình thành giới nghiên cứu độc lập và những bài viết có giá trị, dù bị giới hạn về phương tiện.

Để khắc phục thiếu sót trong quá khứ, và để loại bỏ lỗ hổng trong lập luận chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa,  Việt Nam nên khẩn trương hỗ trợ giới nghiên cứu, thúc đẩy tham khảo tư liệu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia và từ các nguồn khác (kể cả ngoài nước), chuyển dịch những nghiên cứu đúng đắn từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài (cụ thể như tiếng Anh, tiếng Hoa), tư vấn chuyên gia ở ngoài nước về giải quyết tranh chấp lãnh thổ, đào tạo lớp người trẻ với chuyên môn nghiệp vụ cao, v.v.

Chỉ tiêu giải quyết tranh chấp:

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói “… chúng ta chủ trương đàm phán, giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này của chúng ta phù hợp Hiến chương LHQ, Công ước luật biển, Tuyên bố DOC.”

Quan điểm của Trung Quốc đối với Hoàng Sa hiện nay rất rõ ràng: “Không có gì để đàm phán cả… Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc chưa bao giờ là đề tài tranh chấp và Việt Nam đã thừa nhận điều này trong quá khứ. Thảo luận về nỗ lực hợp tác bảo vệ tài nguyên, tìm kiếm cứu nạn và các việc khác là một chuyện, chủ quyền của Trung Quốc là một chuyện khác”.

Khi Trung Quốc công khai cho biết vị thế của họ trong tranh chấp biển đảo, đặc biệt là đối với Hoàng Sa, dù không từ bỏ chủ trương đàm phán với Trung Quốc, Việt Nam, ngay lập tức, cần thực hiện những phương án song song:

   1. Tranh thủ các nước ASEAN để hoàn thành trong vòng 6 tháng tới bộ Quy tắc Ứng xử (COC) trên Biển Đông, nêu rõ Hoàng Sa, Trường Sa là khu vực tranh chấp, phải được giải quyết dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và UNCLOS.

   2. Hoàn tất hồ sơ cần thiết để đưa tranh chấp Hoàng Sa ra cơ quan tài phán quốc tế.
 
   3. Tranh thủ sự ủng hộ của Philippines, Malaysia, Indonesia, v.v., cho bước 2.

Thời điểm nêu lên trong bước 1-2 phản ánh yếu tố khách quan và thuận lợi từ tình hình khu vực và thế giới.

Hơn 4 tháng trước, Philippines yêu cầu Trung Quốc cùng đưa tranh chấp Trường Sa ra Tòa án Quốc tế về Luật biển (ITLOS); Trung Quốc từ chối.

Việt Nam nên tích cực ủng hộ và vận động để các nước khác ủng hộ yêu cầu trên của Philippines, cùng Philippines và Việt Nam đưa tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa ra ITLOS hay Toà án Quốc tế (ICJ).

Ngoài ICJ và ITLOS, vì UNCLOS cung cấp cơ chế trọng tài đặc biệt và hội đồng trọng tài đặc biệt thuộc Phụ lục VII và Phụ lục VIII để tài phán các trường hợp tranh chấp không giải quyết được thông qua ICJ hay ITLOS, Việt Nam nên khẩn trương và nghiêm túc nghiên cứu khả năng sử dụng hai cơ chế này, cũng cho bước 2 ở trên.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2011/12/111201_hoangsa_opinion.shtml
Logged
Mig21Bis_1
Thành viên
*
Bài viết: 552



« Trả lời #347 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 12:27:28 am »

Hải đăng trên đảo Tiên Nữ, quần đảo Trường Sa, Việt Nam.

Bia chủ quyền trên đảo Nam Yết

Nguồn: http://nghiencuubiendong.vn/gallery-bn-hinh-nh?func=detail&id=123
Logged
Ca_Pố_Sai
Thành viên
*
Bài viết: 33



« Trả lời #348 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 12:33:53 am »

Dạo này bà buôn cải cũng bày đặt đưa mấy cái bài của mấy tay ngồi trên mây viết về Hoàng Sa. Nếu thực sự ASEAN là một khối thống nhất và chịu ủng hô nhau như bước 3, thì đã không có chuyện hục hặc ở Trường Sa giữa "các nước ASEAN anh em".

Tin tứ từ bà buôn cải, thì tốt nhất là đọc cho vui, xem như kịch bản hài giải trí.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #349 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 12:43:46 am »



   1. Tranh thủ các nước ASEAN để hoàn thành trong vòng 6 tháng tới bộ Quy tắc Ứng xử (COC) trên Biển Đông, nêu rõ Hoàng Sa, Trường Sa là khu vực tranh chấp, phải được giải quyết dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và UNCLOS.

   2. Hoàn tất hồ sơ cần thiết để đưa tranh chấp Hoàng Sa ra cơ quan tài phán quốc tế.
 
   3. Tranh thủ sự ủng hộ của Philippines, Malaysia, Indonesia, v.v., cho bước 2.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2011/12/111201_hoangsa_opinion.shtml
Tóm lại như mấy tồng chí BBC xúi là quốc tế hóa vấn đề Hoàng Sa. Như thế là đi ngược lại với chủ trương của Việt Nam rằng vấn đề song phương thì đàm phán song phương, vấn đề đa phương thì đàm phán đa phương trên cơ sở công ước năm 1982 về lãnh hải và bộ quy tắc ứng xử biển Đông sắp tới.
Các nước Philippin, Malaysia, Indonesia hay các nước tuyên bố chủ quyền là ở quần đảo Trường Sa chứ không phải Hoàng Sa nên chả có gì đảm bảo người ta ủng hộ để mà tranh thủ. Đưa ra toàn án quốc tế tức là làm to chuyện lên, gây căng thẳng không cần thiết, phức tạp thêm tình hình.
Nói chung là mấy chú BBC này ngoài xúi bậy, kích đểu thì không biết làm gì hơn. Bảo BBC đọc để giải trí là không sai.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM