Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:48:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chuyện của lính " thối tai, chai đít" (phần 2.1)  (Đọc 281977 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoa sứ
Thành viên
*
Bài viết: 98



« Trả lời #240 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 12:41:59 pm »

 Mấy bố quản tri xoá Sơ đồ Tổ chức Thông tin dây trần tôi đưa lên đây rồi ! Chắc họ cho là có vấn đề " Lộ bí mật QS " . Rất nhậy cảm !                                                                                                                
  - Mạng Thông tin dây trần của 134 - ĐÃ BỊ XOÁ SỔ cách đây hơn 25 năm rồi . Cột và dây mang bán cho các vựa phế liệu , các loại máy tải ba và tổng đài cổ lổ sĩ chất đống trong kho bán không ai mua ....                                  
  - Đối tượng tác chiến trong tương lai gần của ta là ai , chúng ta đều biết . Nhưng cũng Chính anh bạn này trong những ngày đầu giúp ta đánh Mỹ đã thiết kế phần lớn hệ thống TT dây trần này đấy ! Cột , xà , dây trần , chân chống , sứ , dây co , bàn đảo , mụp , tăng-đơ , mỏ hàn , kìm , mỏ-lết , máy tải-ba , tổng đài , tổ máy phát điện , máy nắn , accu ... tất tật đều do họ trang bị hết( Madein chai-lọ ) ) . Họ thiết kế tuyến và hầm máy , cử chuyên gia huấn luyện cho ta kỹ thuật khai thác , sử dụng , bảo quản , sửa chữa ... từ A đến Z . Chính vì thế có thể nói - đối với họ Hệ thống TT dây trần của ta cách đây 25 năm họ quá biết  .                                                              
 
Sơ đồ đó vẫn hiện diện ở trang trước nữa đấy chứ (21), bác Hoa Sứ xem lại nhé  Wink
                                                                                                                                     
      Thấy lại sơ đồ rồi . Cam ơn Ban QT ! Chắc trục trặc KT thôi .
Logged
chienc3.1972
Thành viên
*
Bài viết: 861


« Trả lời #241 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 12:53:28 pm »

...Chiến c3 và Tấn Lộc 555 đều là Lính 81 ngày đêm thành cổ Quảng trị  đó chị. CCBtt nó< yêu> 3 anh E 207, 1 anh thì it tóc, 1 anh có răng khểnh, 1 anh có râu mép heheh. cái anh mà có 3 số 555 biết ngay là nghiện thuốc, CCBtt nói mấy anh này viết bài đanh đá lắm, chắc chắn là không xét nét như mấy anh thông tin nhà mình rồi.

          Cám ơn Quân y 103 "lăng xê", bọn anh hơi ngượng, thấy phải đính chính và bổ sung mấy điểm:
- CCBTT nói yêu 3 anh (nói tên hẳn hoi)...Không phải là ở E207 mà là bạn cùng trường với một số anh LS E207 hi sinh trong trận đánh đó. " yêu cái đầu hói của anh Chiến, yêu cái răng khểnh của anh Lộc và yêu bộ ria mép của anh Sơn" (và Quân y 103 cũng nhất trí). Tất nhiên chỉ là yêu vờ thôi nên bọn anh cũng vô tư, không sợ đâu.
- Về khoản xét nét thì chưa biết ai hơn ai đâu, khoan vội đánh giá chứ khoản đanh đá thì khỏi chê rồi.
- Chỉ có 2 trong 3 người có tham gia chiến đấu tại Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa năm 1972.
- Cả 3 đều Tốt nghiệp ĐHKTQS.
Vài lời bộc bạch với các bà con Tê Tê. Mong được hầu chuyện lâu dài.
Logged
linh thong tin
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #242 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 01:29:41 pm »

Lang thang trên mạng vớ được bài này, post lại để cư dân "thối tai, chai đít" đọc, nhất là các đồng chí nào đã có thời gian sống ở Trạm A70 và A72 Trung đoàn 134 anh hùng.

Vạch rừng tìm di tích... (Kỳ 1)


QĐND - A70 và A72 là hai trạm cơ vụ dã chiến của Trung đoàn Thông tin 134 - Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc, đặt ở vùng núi phía nam tỉnh Quảng Bình trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là những trạm đường trục từ Hà Nội vào, bảo đảm thông tin liên lạc từ Trung ương trực tiếp chỉ đạo các mặt trận phía nam Quân khu 4, Trị Thiên và Nam Lào. Tháng 5-2009, hai trạm thông tin A70 và A72 đã được Nhà nước cấp bằng Di tích lịch sử Quốc gia.

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày truyền thống Lữ đoàn Thông tin 134 - Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân - tiền thân là Trung đoàn Thông tin 134 (8-8-1966/8-8-2011), chúng tôi đã có cuộc hành hương tìm về những “địa chỉ đỏ” trên đây...

I . Hang Cơ Yếu đây rồi!

Mặc dù là dân Quảng Bình, nhưng từ quê tôi vào miền tây huyện Lệ Thủy ngót hai trăm cây số. Từ bé đến giờ tôi chưa hề đến vùng này. Những thông tin về trạm cơ vụ dã chiến A72 tôi nắm được cũng rất... lơ mơ: Đóng trong hang đá dưới chân núi An Bờ, thuộc xã miền núi Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy. Từ Bắc vào theo Đường Hồ Chí Minh, đến đoạn đập Cẩm Ly thì rẽ trái theo đường chiến lược 10B, ngược vài chục cây số nữa thì đến trụ sở UBND xã Ngân Thủy. Đến đó thì hỏi tiếp, hình như rẽ phải là núi An Bờ. Cẩn thận kẻo chạy quá lên làng Ho giáp Nam Lào...

Tóm lại, mang tiếng là “thổ dân”, được mời tham gia chuyến hành hương về nguồn với tư cách nhà báo kiêm... người dẫn đường, nhưng sự thông thạo của tôi cũng chẳng hơn gì mấy anh em trong đoàn, đều là những cán bộ thế hệ “hậu sinh” của Lữ đoàn 134 hôm nay. Bởi vậy, sau một ngày ê ẩm trên chiếc u-oát cọc cạch từ Hà Nội vào, tôi đề nghị nghỉ lại thành phố Đồng Hới để hỏi thăm đường đi nước bước qua đám bạn bè của tôi đang ở Đồng Hới. Cùng lắm thì ngày mai mất thêm một ngày ở Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh, vừa để hỏi đường vừa kiếm thêm tài liệu. Hồ sơ đề nghị công nhận Di tích lịch sử Quốc gia do họ chuẩn bị mà...

Đêm, uống rượu đẻn trên bãi biển Nhật Lệ với mấy anh em văn nghệ Quảng Bình, nghe tôi nói về kế hoạch trên đây, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật gần như reo lên: “Lo chi chuyện đó, mai tui đưa chú đi!”. Ờ nhỉ, tôi quên mất ông cựu Chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh đây là dân Lệ Thủy, lại từng có hai khóa làm Trưởng ban Văn hóa-Xã hội của Hội đồng nhân dân tỉnh. Được Hoàng Vũ Thuật trực tiếp đưa đi thì còn gì bằng!

Hăng hái thế, nhưng sáng hôm sau leo lên xe đi được một đoạn, ông bạn vong niên của tôi mới thú nhận: Thích xê dịch với anh em một chuyến nên anh... xung phong vậy, chứ thật ra chỗ đó anh cũng mù mờ lắm”. Dân Hồng Thủy-Lệ Thủy thật đấy, nhưng từ nhỏ đi học phải ở trọ xa quê. Lớn lên ra Vinh rồi ra Hà Nội học sư phạm, học viết văn. Vợ con trước ở thị trấn huyện, rồi vô Huế hơn chục năm, nay thì định cư ở Đồng Hới. Đã vậy, anh chưa hề trải qua quân ngũ nên mấy việc nhà binh cũng không rành...

Trung tá Trần Ngọc Luận, cán bộ Phòng Chính trị Lữ đoàn 134 tranh thủ bổ túc cho ông bạn tôi mấy trang lịch sử của đơn vị: Vào những năm 1966-1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chuyển sang giai đoạn mới quyết liệt hơn, Bộ Quốc phòng quyết định xây dựng thêm tuyến thông tin dây trần hơn 400 cây số từ bắc Nghệ An vào sát sông Bến Hải. Từ đường trục này sẽ có nhiều đường nhánh tỏa về các địa bàn, để bộ trực tiếp chỉ đạo các mặt trận phía nam Quân khu 4, mặt trận Trị Thiên, Bộ tư lệnh Bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559), Đoàn vận tải 500 của Bộ Giao thông vận tải và mặt trận Nam Lào. Theo đó, Cục Thông tin liên lạc, tiền thân của Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc sau này - quyết định thành lập Đại đội 7 trực thuộc Trung đoàn Thông tin 134, quản lý và khai thác tuyến dây trần hơn 300 cây số từ Giang Sơn-Nghệ An vào điểm cao 316-Vĩnh Linh. Tuyến này có 3 trạm cơ vụ tải ba đều nằm trên đất Quảng Bình là: A69 ở Lèn Hà-Tuyên Hóa; A70 ở Khương Hà-Bố Trạch và A72 ở An Bờ-Lệ Thủy. Trong đó, A72 là trạm cơ vụ loại lớn, bảo đảm thông tin đường trục từ sở chỉ huy cơ bản ở Hà Nội đến các sở chỉ huy tiền phương của các lực lượng ở chiến trường. Trạm A72 đặt trong một hệ thống hang đá dưới chân núi An Bờ của xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy. Trong những thời điểm ác liệt hoặc những chiến dịch lớn, hệ thống hang này còn được chọn đặt sở chỉ huy chiến dịch và sở chỉ huy tiền phương của bộ đội pháo binh, lực lượng vận tải và các cơ quan tiền phương của Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Hậu cần, Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc v.v..


Đường vào hang Cơ Yếu (A72). Ảnh: Thiết Thạch.

Do tầm quan trọng như vậy nên trạm cơ vụ A72 có tới 50 mạch thoại cao tần, 28 đầu máy tải ba các loại và 2 tổng đài loại 100 số. Trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Trạm A72 đã bảo đảm thông tin liên lạc xuất sắc trên cả hai hướng: Đến Sở chỉ huy tiền phương của Bộ chỉ đạo tác chiến ở Trị Thiên và Sở chỉ huy tiền phương của Quân khu 4, chỉ đạo kiềm chế pháo binh địch ở Cồn Tiên - Dốc Miếu và ngăn địch đổ bộ đánh vu hồi đường biển. Đặc biệt, mùa xuân 1971, ngoài nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cho các hướng chiến trường, A72 còn là trạm đón tiếp các cơ quan của Bộ Quốc phòng và phái viên cấp cao của Đảng và Nhà nước vào trực tiếp theo dõi và chỉ đạo chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Nơi đây trở thành trung tâm chỉ huy chiến dịch. Công việc của cán bộ, chiến sĩ Trạm A72 tăng tới 7-8 lần so với bình thường. Trong và sau chiến dịch, nhiều tướng lĩnh đang có mặt tại chiến trường Trị - Thiên lúc đó, như: Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Thiếu tướng Trần Quý Hai, Thiếu tướng Đàm Quang Trung, Thiếu tướng Doãn Tuế... đã đến thăm, động viên và khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Trạm A72...

Mải câu chuyện lịch sử quên cả đoạn đường xa. Mặt trời nhô khỏi ngọn đồi bạch đàn thì chúng tôi nhận ra trụ sở Đảng ủy và UBND xã Ngân Thủy, tọa lạc ngay bên đường cái. Nghe chúng tôi trình bày công việc, Bí thư Đảng ủy xã Nguyễn Thoan thú thật: A72 thì anh có nghe nhưng chưa đến đó bao giờ. Khu vực này nhiều hang lắm, hồi chiến tranh hầu như hang nào cũng có bộ đội hoặc thanh niên xung phong đóng quân. Quân đội gọi theo theo ký hiệu quân sự, dân bản gọi theo tên địa phương, nên không biết hang nào là Trạm A72. Gần đây, thỉnh thoảng cũng có người của cấp trên về điều tra khảo sát. Khi thì bên ngành văn hóa, khi thì bên tuyên giáo, khi thì tỉnh đội, quân khu... anh giao cho xã đội tiếp đón và giúp đỡ. Năm kia, A72 được cấp bằng Di tích lịch sử Quốc gia, nhưng chỉ nhận về treo chứ không có kinh phí tổ chức lễ đón nhận đàng hoàng như nhiều nơi...

Một ông cụ độ 70 tuổi, vẻ như lao công hay bảo vệ trụ sở, xách phích nước nóng vào cho bí thư pha trà mời khách, nán lại hóng chuyện chúng tôi rồi kêu lên: “Tui biết rồi, đó là hang Cơ Yếu. Kêu như rứa vì ngày trước bộ đội thông tin đóng trong đó. Hang nớ chính tui soi đuốc cho bộ đội đi tìm đặt trạm a lô chớ ai!”.

Bí thư Nguyễn Thoan nói: “Chắc đúng đó! Hồi ấy, ông Nguyễn Văn Tời đây là Trung đội trưởng dân quân, kiêm Phó chủ nhiệm Hợp tác xã Khe Sung”. Được bí thư đồng tình, ông Tời say sưa kể chuyện “hồi nớ, hồi nớ... bày tui với bộ đội thông tin...” một thôi một hồi rồi quay sang bí thư: “Thằng Thà dẫn cán bộ trên huyện, trên tỉnh vô đó nhiều lần rồi!”.

“Thằng Thà” là Xã đội trưởng Nguyễn Văn Thà, 31 tuổi, con trai ông Tời. Thà từng đi bộ đội, học trường quân sự tỉnh và được phong thiếu úy dự bị động viên. Một chàng trai Vân Kiều nhỏ con, đen cháy và nhanh như sóc. Ô tô lắc lư sấp ngửa theo sự hướng dẫn của Thà được chừng nửa giờ thì hết chạy nổi. Tất cả xuống đi bộ. Thà bảo gần thôi, một quãng nữa thôi, vậy mà sau hơn một giờ bươn bả theo anh, khi thì rẽ lau lách, khi băng qua đồi trọc, có lúc phải trèo qua những hàng rào kiểu “phòng tuyến” làm bằng cọc nhọn, ngọn cây và cành gai góc để ngăn trâu bò phá nương, vẫn chỉ... “sắp tới, sắp tới rồi, mấy eng cố chút nghe!”... Cuối cùng, khi ngỡ như không thể mệt hơn nữa thì chúng tôi cũng đến được. Từ chân núi đá ngước lên chỉ thấy um tùm cây cối. Vạch lối leo lên, hiện ra một vòm hang rộng, dơi đập cánh vù vù. Mấy đoạn tường bê tông xây trước cửa hang như tấm bình phong bị đập phá nham nhở. Leo tiếp một đoạn nữa, gặp một hang rộng hơn, trên vách đá còn dấu tích nhiều chữ viết và vài nút sứ cách điện như để chứng minh nơi đây từng có những đường dây điện chạy qua. Anh Thà nói hang dưới kia đặt máy nổ và hàng hóa, hang này là trạm máy thông tin, kêu là hang Cơ Yếu, hang trên kia nữa là hang Nhà Báo. Trung tá Luận giải thích: Theo các cựu chiến binh trung đoàn kể lại, thì hang trên cùng rộng lắm, chứa được hàng tiểu đoàn. Ngày trước đặt các sở chỉ huy tiền phương. Chắc có nhà báo ở cùng, hoặc có bộ phận quân bưu vận chuyển sách báo cho mặt trận, hoặc có các cơ quan “bàn giấy” nên gọi mật danh như thế để giữ bí mật.

Từ hang Cơ Yếu lên hang Nhà Báo có các bậc đá gắn bằng xi măng. Chúng tôi cắm cúi leo, mũi và mồm tranh nhau thở, chỉ xã đội trưởng là vẫn thong thả như đi... dạo. Anh cho biết, nhiều lần lên xuống hang này, anh đã đếm đúng 72 bậc đá. Mắt anh Luận sáng lên thú vị: “Thế hả? Chắc ngày xưa lính mình cố tình xếp đúng ngần ấy bậc không hơn không kém, để trùng hợp với phiên hiệu Trạm A72...”.

Anh dừng lại tựa lưng vào vách đá, đứng thở một lát rồi rút điện thoại di động, reo lên: “Ơ này, sóng Viettel đầy ắp nhé!”. Rồi anh bấm máy, rối rít:

- A lô, chào cụ ạ! Con đây. Chúng con đã lên được hang Cơ Yếu rồi! Đang chuẩn bị lên hang trên...

Trần Ngọc Luận bật loa điện thoại cho mọi người cùng nghe. Tiếng người trong máy trả lời rổn rảng:

- Thế à, giỏi lắm! Này, cố gắng tìm đến nhà ông Lộc thăm ông ấy nhé! Hỏi thăm bà con thế nào họ cũng biết. Ông Nguyễn Đức Lộc là trợ lý tham mưu trung đoàn, lấy vợ người Vân Kiều ở xã Ngân Thủy và đang ở rể tại đó!

- Vâng ạ, vâng ạ, cụ yên tâm, nhất định chúng con sẽ tìm được...

Anh tắt máy rồi hớn hở khoe: “Cụ Nguyễn Huy Văn, Tham mưu trưởng Trung đoàn Thông tin 134 thời chống Mỹ đấy! Chuyến đi này của anh em mình, một phần cũng vì nguyện vọng của các cụ tiền bối trung đoàn...”.

(còn nữa)

Ghi chép của MAI NAM THẮNG
Logged
linh thong tin
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #243 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 01:34:59 pm »

Vạch rừng tìm di tích... (Kỳ 2)


II. Chuyện một cựu trợ lý... “cắm bản”!

QĐND - Vẫn là xã đội trưởng Nguyễn Văn Thà dẫn chúng tôi đến thăm cựu trợ lý tham mưu trung đoàn Nguyễn Đức Lộc, một sĩ quan thông tin từng gắn bó với trạm cơ vụ A72 những năm chiến tranh ác liệt nhất, hiện đang sống cùng người vợ Vân Kiều ở thôn Cẩm Ly của xã Ngân Thủy này.

Vẫn là lời khẳng định nhẹ bẫng của Thà: Chỉ một quãng thôi! Vậy mà xe chạy vòng vèo gần trọn một vòng hồ trung thủy nông Cẩm Ly rộng mấy chục ki-lô-mét vuông, bỏ lại con đường cấp phối để rẽ vào đoạn đường đất lồi lõm sống trâu, lại qua một con suối hai bờ lên xuống bùn đất nhão nhoét nữa... cuối cùng chúng tôi mới đến được nhà bác Lộc!

Cựu chiến binh Nguyễn Đức Lộc đón chúng tôi sững sờ ngạc nhiên như không thể nào tin nổi: Tròn 35 năm kể từ ngày phục viên về sống ở cái xóm miền núi heo hút này, ông chưa được gặp lại một đồng đội nào của trung đoàn ngày ấy. Chàng trợ lý tham mưu đẹp trai, tháo vát, năng nổ ngày nào bây giờ đã là một ông lão 75 tuổi, râu tóc bạc phơ, phong thái lão thực như một tiên ông.  Quê ở Phú Yên, là thiếu sinh quân tập kết ra Bắc, học sinh miền Nam ở trường Đông Triều - Quảng Ninh cùng lớp với những Trà Giang, Lâm Tới và một số người sau này trở thành những cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước và quân đội. Sau 6 năm tu nghiệp thông tin ở nước ngoài, về nước năm 1966 là được biên chế luôn vào trung đoàn thông tin chiến lược 134. Có mặt tại trạm A72 ngay từ buổi đầu thành lập trạm và gắn bó cho đến ngày phục viên, năm 1976. Vợ ông, bà Hồ Thị Kim Đóa là người Vân Kiều bản địa, làn da chỉ hơi ngăm ngăm, người nhỏ nhắn nhẹ nhàng, hai hàm răng trắng vẫn đều tăm tắp khiến nụ cười của bà lão sáu mươi đẹp lạ lùng. Chả trách bốn mươi năm trước, chàng trợ lý tham mưu trung đoàn bị “sét đánh” ngay từ hôm đầu tiên gặp cô y tá Vân Kiều...


Vợ chồng cựu trợ lý tham mưu Nguyễn Đức Lộc say sưa kể về “một thời A72”. Ảnh: Thiết Thạch.

Mối tình thời chiến của ông bà nảy sinh trong những ngày vô cùng ác liệt. Chao ôi kể sao xiết những khó khăn, vất vả của những người lính giữa Trường Sơn nơi của ngõ chiến trường miền Nam. Ngày ấy núi An Bờ như là vật chuẩn cho máy bay Mỹ ném bom và phóng hỏa tiễn. Tọa độ mục tiêu chúng tính toán chính xác từ Hạm đội 7, từ U-ta-pao rồi, cứ đến đây căn đúng tọa độ là cắt bom, phóng đạn. Nhưng núi đá hiểm trở quá, hang đá kín đáo vững chắc quá, nên người và phương tiện không hề gì, chỉ khổ mấy anh đường dây phải đi khắc phục sự cố liên tục ngày đêm. Phần lớn bom đạn không nhằm vào được hang đá, vung vãi khắp thung lũng. Đấy, hai cái thung xơ xác sim mua và cỏ may ban sáng các chú đi qua, trước đây là hai bản Vân Kiều, có tên là bản Sung và bản Son. Bom đạn chà xát quá bà con phải sơ tán đi nơi khác, rồi định cư lâu dài không quay về nữa. Con đường vào trạm A72 trước đây ô tô tải chạy được, nay xói lở sạt lún cây cối um tùm mất hết dấu vết rồi...

Ông kể: Một lần đang có phiên liên lạc quan trọng từ Hà Nội vào thì máy bay nhào đến đánh phá. Đường dây bị đứt. Máy tải ba 12, máy VBO.12, máy MZ.132 đều tê liệt. Trong giây phút cực kỳ khẩn trương nghiêm trọng, tôi ra lệnh lấy đầu B của máy tuyến phụ lắp vào đầu B của máy tuyến chính, ưu tiên số một cho phiên liên lạc từ Tổng hành dinh. Gọi là tuyến phụ nhưng là tuyến chỉ huy của các binh chủng và trong hiệp đồng tác chiến thì anh nào cũng rất quan trọng. Tuyến liên lạc bị ngắt đột ngột, phát hiện ra tôi là “thủ phạm”, họ làm ầm lên, đòi đưa tôi ra tòa án binh. May mà cấp trên vào kiểm tra đối chiếu, thấy tôi xử lý như vậy là đúng, thế là thoát tội!

Bao nhiêu lần được tham gia phục vụ các chiến dịch và những trận đánh lớn, nhớ nhất là phiên trực bảo đảm thông tin phục vụ trận pháo kích sân bay Tà Cơn ngày 15-3-1971. Đây là một trận đánh lớn trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ - ngụy hòng chặt đứt đường Hồ Chí Minh, xoay chuyển chiến cuộc. Giao hội của phiên trực hôm đó có trạm A40 Hà Nội, A72 là thông tin đầu cuối của Bộ tư lệnh, KC100 kết nối với đài quan sát cách sân bay Tà Cơn độ 50 cây số và K77 kết nối với trận địa pháo 45 hạng nặng. Sở chỉ huy tiền phương của Bộ tư lệnh pháo binh do Tư lệnh Doãn Tuế trực tiếp chỉ huy, đóng ngay tại Trạm A72. Đến 12 giờ trưa, các máy lẻ cũng đã giao hội xong. Như vậy, từ Trung đoàn pháo binh 45 đến sân bay Tà Cơn chỉ độ 10 cây số mà thông tin phải bảo đảm thông suốt trên 200 cây số. Trước đến nay, đây là cuộc giao hội thông tin hữu tuyến phục vụ cho trận tập kích pháo binh có quy mô lớn và phức tạp nhất mà tôi được biết. Tất cả nín thở hồi hộp chờ đợi giờ G.

Đồng hồ điểm 13 giờ, 14 giờ, rồi 15 giờ... tin tức từ các hướng chuyển về tới tấp. Ở khu vực tổng đài, các lá báo đổ rào rào như mưa, 4 nhân viên tổng đài trở tay không kịp, mồ hôi ròng ròng. Một sĩ quan tác chiến vớ tờ báo gấp tư quạt cho nhân viên trực máy. ..

15 giờ 45 phút, đài quan sát báo địch sắp đổ quân. Trung đoàn 45 báo cáo đã sắn sàng!

16 giờ 30 phút, đài quan sát báo cáo tổng cộng có 36 trực thăng đang hạ cánh. Tư lệnh Doãn Tuế ra lệnh nổ súng!

16 giờ 40 phút, tín hiệu từ đài quan sát đến trung tâm bị mất. Trung đoàn trưởng pháo binh ra lệnh cứ phần tử cũ mà bắn. 10 phút sau, tín hiệu thông suốt. Sau này mới biết tổ 35 ở Vĩnh Linh bị B52 làm đứt 2 khoảng cột 100 mét. Hết loạt bom, anh em khôi phục ngay!

Đài quan sát tiếp tục báo cáo “hàng” đến nhiều. Tư lệnh pháo binh ra lệnh: Bắn mạnh vào! Tiếng trung đoàn trưởng pháo binh vang lên trong máy: Rõ!

Thông tin giao hội vẫn thông suốt. Cả trạm máy như sôi lên.

17 giờ 48 phút, đài quan sát báo cáo sơ bộ kết quả: Ta tiêu diệt 5 trực thăng, 3 phản lực, đánh cháy khu kho, đánh sập sở chỉ huy địch...

Tư lệnh Doãn Tuế ra lệnh: Ngừng bắn! Mọi người ôm nhau reo hò tưởng nổ tung hang đá. Vừa lúc ấy tổng đài báo cáo có máy gọi gặp trưởng ca và lãnh ca. Thì ra là thư ký của đồng chí Lê Trọng Tấn chuyển lời khen ngợi của Phái viên Bộ Quốc phòng bên cạnh Bộ tư lệnh mặt trận Trị Thiên khen ngợi ca trực thông tin. Một lát sau, Tư lệnh Thông tin, Tư lệnh Pháo binh, rồi Chính ủy Trung đoàn 134 trực tiếp gọi điện khen ngợi trạm A72. Các trạm bạn cũng gọi đến chúc mừng...

Mà này các chú có biết phụ trách ca trực hôm đó là ai không? Đinh Văn Sức! Không biết Đinh Văn Sức là ai à? Là tác giả bài “Tình ca A72” đấy. Để tôi đọc cho nghe nhé:

Bên này là núi An Bờ

Bên kia cò lả cánh mờ trong sương

Suối Di lấp lánh soi gương

Nhà sàn, bản cọ, con đường quanh quanh...

Hang Cơ Yếu dốc dựng thành

Thung xa gợn sóng cỏ tranh ngút ngàn

Chim kêu, vượn hót vang rừng

Ơ kìa, có cả chú chồn liệng bay

An Bờ, cảnh đẹp nơi đây

Dẫu bom đạn, vẫn ngất ngây tâm hồn...

Chúng tôi cùng vỗ tay tán thưởng nhiệt tình. Thơ hay mà người đọc thơ cũng tình cảm lắm. Bao năm rồi mà ông vẫn thuộc làu làu. Thế đủ biết thời trai trẻ ông cũng dạt dào lai láng lắm. Nhân đà vui, tôi lếu láo đòi ông kể chuyện ngày xưa làm sao mà tán đổ cô y tá bản? Ông Lộc cải chính: Y sĩ của trạm xá xã chứ! Dạo ấy tôi bị sốt rét đến liệt cả đầu gối, chống gậy đi không nổi. Mấy anh trong trạm nói chữa thuốc tây nhiều hại lắm, thôi khiêng ra trạm xá xã nhờ bà con chữa thuốc dân tộc cho, may ra đỡ. Bà Đóa nhà tôi đây chữa Đông - Tây y kết hợp, cả châm cứu nữa. Cái kim bà ấy to như cái nan hoa xe đạp mài nhọn, thế mà tôi không sợ bằng cái bát thuốc nấu bằng lá gì đắng đến quăn cả lưỡi, quăn cả ruột gan. Hơn một tuần thì tôi đi lại ăn uống được. Bà ấy cho thêm một bọc lá, bảo mang về đơn vị sắc uống tiếp. Tôi lành hẳn nhưng nhớ bà ấy cồn cào, vài ngày lại tìm cách ra trạm xá, khi thì vì việc này, khi thì vì việc khác. Cốt chỉ để được thấy bà ấy cười, nói với nhau đôi ba câu. Đơn vị có anh nào sốt rét, đau bụng, sái chân, trượt da... tôi đều đề nghị mang ra trạm xá để tôi được ra thăm và “làm việc” với y sĩ Hồ Thị Kim Đóa. Chú hỏi tôi đã đặt vấn đề tình yêu với bà ấy như thế nào à? Chịu, không nhớ nữa. Cứ tự nhiên như thế rồi thành chuyện chính thức, báo cáo tổ chức xin cưới. Đơn vị đồng ý, tổ chức đám cưới cho chúng tôi năm 1973, sau ngày ngừng bắn...

Bây giờ thì ông bà đã cháu nội cháu ngoại đề huề. 4 cô con gái và một cậu con trai đều học hành tử tế, thành đạt. Cô con gái út là giáo viên, đang theo chồng sang làm nghiên cứu sinh bên Pháp. Con cháu đều ở xa, hiện tại hai ông bà già thành “vợ chồng son”. Phụ cấp thương binh của ông mỗi tháng hơn triệu rưỡi. Lương hưu trí của bà được hai triệu rưỡi. Chừng đó thu nhập, cộng với vườn cây, ao cá, vạt rau túc tắc nuôi trồng được, cuộc sống cũng tạm ổn. Hiện nay bà vẫn làm Bí thư chi bộ thôn, ông thì đã xin thôi chức Hội trưởng Hội Cựu chiến binh xã vì mấy năm nay nặng tai khó nghe. Nhớ đơn vị, nhớ anh em đồng đội lắm nhưng ở đây xa xôi hẻo lánh không có cách gì liên lạc chắp nối được...

Dùng dằng bịn rịn mãi mới chia tay được với gia đình người cựu binh trung đoàn thông tin. Ông tiễn chúng tôi ra tận ngõ. Bắt tay lắc lắc mãi. Đi một đoạn, thấy ông vẫn đi theo, bảo tiễn các chú đoạn nữa. Đến con suối, thôi bác quay lại kẻo suối trơn. Bắt tay nhau lần nữa thật chặt. Qua suối, thấy ông vẫn lội theo, bảo tôi tiễn các chú ra chỗ đỗ ô tô. Lại bắt tay lắc lắc thật lâu. Chúng tôi chui vào ô tô, bác đứng bên ngoài vỗ nhè nhẹ vào cánh cửa, âu yếm thân thương như vỗ vai từng người vậy. Xe nổ máy trườn đi, ngoái nhìn qua ô kính phía sau vẫn thấy ông đứng trân trân vẫy vẫy. Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật bần thần nhắc tôi: "Cậu viết bài, làm cách chi đưa được số điện thoại nhà bác là 052.2243827 để đồng đội cũ có thể liên lạc trò chuyện với bác. Báo đăng, nhớ gửi về thôn Cẩm Ly, xã Ngân Thủy, huyện Lệ thủy - Quảng Bình, biếu vợ chồng bác Nguyễn Đức Lộc nhé!".

(Còn nữa)

Ghi chép của MAI NAM THẮNG
Logged
linh thong tin
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #244 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 01:38:52 pm »

Vạch rừng tìm di tích... (Tiếp theo và hết)


III. Im lìm di tích…

QĐND - Là một trong 3 trạm cơ vụ đường trục từ Hà Nội vào, nằm ở cửa ngõ chiến trường Trị-Thiên, trạm A70 được bố trí nằm giữa 2 trạm A69 và A72. Từ đây còn có các trạm nhánh bảo đảm thông tin liên lạc từ Bộ Quốc phòng trực tiếp đến Sở chỉ huy tiền phương của Tổng cục Hậu cần, Binh trạm 14 và Binh trạm 26 của Bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559) và Cục Vận tải tiền phương (Đoàn 500) của Bộ Giao thông Vận tải. Hầu hết các cơ quan, đơn vị trên đây đều đóng ở khu vực Cự Nẫm-Khương Hà-Xuân Sơn và khởi điểm Đường 20 Quyết Thắng nối Trường Sơn Đông-Trường Sơn Tây, thuộc huyện Bố Trạch -Quảng Bình. Vừa bảo đảm liên lạc đường trục, vừa phụ trách các tuyến nhánh nên trạm A70 được trang bị đủ các “chủng loại” phương tiện: Máy tải Ba ZM.132, máy VBO.3, máy TCT1.2, tăng âm 12 đường bảo đảm từ tổng đài A40-Hà Nội, với 30 mạch thoại cao tần và tổng đài 100 số… Biên chế trạm thường xuyên khoảng ba chục cán bộ, chiến sĩ; gồm 3 bộ phận: Nguồn, đường dây và tổng đài.

Ba trạm cơ vụ A69, A70 và A72 cách nhau hơn 200 cây số đường rừng hiểm trở, nhưng đều thuộc biên chế đại đội 7 nên nhiều cựu chiến binh trung đoàn thông tin 134 thời ấy đều đã từng “nếm mật nằm gai” ở cả ba trạm. Đại tá Trần Đăng Tân, nguyên cán bộ Cục Chính trị Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc, là một người như vậy. Anh Tân là người Liên Mạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội, đi bộ đội năm 1968, làm lính thông tin hơn bốn chục năm cho đến ngày nghỉ hưu. Những năm 1969-1970 anh ở tổ đường dây Trạm A70 đóng ở cây số 4 Đường 20 Quyết Thắng. Trạm cơ vụ A70 đặt trong một hang đá thuộc quần thể Phong Nha-Kẻ Bàng, gần trọng điểm Khương Hà ác liệt nổi tiếng trên đường Trường Sơn thời chống Mỹ, cứu nước.


Tìm lại “một thời A70” trong hang Thông Tin. Ảnh: Thiết Thạch.

Tôi gặp anh Tân lần đầu vào năm 2009, tại lễ đón nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho trạm cơ vụ A69. Sau này thêm mấy lần gặp anh tại Hội đồng ngũ A69 ở Hà Nội, thành ra thân quen. Tôi là lớp hậu sinh, chưa làm lính thông tin ngày nào, nhưng được kết nạp vào Hội đồng ngũ A69 làm hội viên danh dự, nhờ bài bút ký 5 kỳ “Lèn Hà bi tráng” đăng trên Báo Quân đội nhân dân, được giải thưởng báo chí 5 năm của Bộ Quốc phòng (2004-2009) và được Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đính kèm theo hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng cho trạm A69. Mỗi lần hội ngộ là các thành viên say sưa ôn lại những kỷ niệm một thời A69, nhưng anh Tân thì thỉnh thoảng lại “chêm” vào những kỷ niệm một thời A70 của anh cũng rất ấn tượng.

Chẳng hạn như chuyện mùa hè năm 1969, Trạm A70 của các anh được lệnh di chuyển từ cây số 7 ra cây số 4 để nắn tuyến, hôm đầu tiên anh và một chiến sĩ người Phú Thọ quyết định thám hiểm chiếc hang kỳ bí nguy nga như một cung điện. Tuổi trẻ tò mò mạo hiểm, chả biết sợ là gì. Hai đứa một đèn pin lò dò tiến vào, càng đi càng bị kích thích cuốn hút bởi những cột đá sừng sững, những tảng thạch nhũ treo ngược vòm hang đẹp mê hồn. Thú vị nhất là vào gặp một vách đá phẳng như chiếc bảng đen lớp học, trên đó có hai dòng chữ viết bằng than ghi họ tên của hai người đã vào thám sát trước đó. Người thứ nhất vào năm 1953. Người thứ hai vào năm 1959. Anh tìm quanh, kiếm được một cục than củi ngay dưới vách đá, viết tiếp tên mình vào phía dưới hai dòng tên. Không biết đấy có phải là hòn than mà hai vị tiền nhân kia đã dùng để viết tên mình hay không? Rồi lại tiếp tục tiến vào sâu. Bỗng anh bạn Phú Thọ trượt chân đập chiếc đèn pin xuống đá vỡ tan bóng đèn. Một màu đen đặc quánh bao bọc lấy hai người. Tối kinh khủng. Tối tuyệt đối. Căng mắt ra cũng không cảm nhận được bất cứ hình thù gì phía trước. Mò mẫm, rờ rẫm, trượt ngã, loay hoay… vẫn không sao xác định được hướng ra. Hét hú khản giọng váng tai cũng không có tín hiệu gì đáp lại. Dễ đến 4-5 giờ sau đó, mới có người cầm đèn pin tìm vào. Thì ra lúc các anh vào hang có người biết, nhưng người đó hết phiên trực máy xuống núi ngủ vùi. Đến khi đơn vị báo động đi tìm hai người thì anh ta mới nhớ ra…

Rồi chuyện cậu Hoan dẻo mỏ, phiên trực nào hơi nhàn rỗi một chút là mở bài véo von tán tỉnh với mấy em ở hai đầu A69 và A72. Cũng vì A70 không có biên chế nữ như 2 trạm kia nên chẳng riêng gì Hoan mà nhiều cậu chàng ở đây cũng thèm tiếng con gái lắm. Bữa đó vô phúc cho Hoan, đang cợt nhả “em áp sát má vào tổ hợp cho anh hôn một cái” thì bị đại đội trưởng bắt quả tang. Xin nói thêm là mấy năm đầu, đại đội đóng cùng A70, sang chiến dịch Đường 9-Nam Lào mới chuyển vào An Bờ đóng cùng A72. Thế là cu cậu bị khép án vi phạm nội quy, phải chuyển từ tổ tổng đài sang tổ đường dây. Tội nghiệp lính mới đi sửa đường dây ban đêm chưa có kinh nghiệm, bị rắn bướm đớp cho một phát. Đang đêm, đơn vị phải cấp tốc cáng xuống trạm xá Khương Hà cách gần hai chục cây số. Mất gần một tháng điều trị mới được ra viện. Về trạm cái chân vẫn tím từng mảng, đại đội cho về lại tổ tổng đài trực máy. Nhưng từ đó cu cậu ngoan hẳn, đố dám hươu vượn dẻo mỏ như trước…

Và hôm nay chúng tôi đang tìm về cái hang đá của một thời A70…

Sau khi xem giấy giới thiệu và nghe chúng tôi trình bày công việc, Chủ tịch UBND xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, chậm rãi:

- Thế này các đồng chí ạ: Cái hang A70 mà cái đồng chí nói ấy, địa phương chúng tôi gọi là hang Thông Tin. Hang này năm kia đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử Quốc gia. Bằng công nhận di tích có rồi, nhưng xã chưa tổ chức đón nhận trọng thể được. Không phải vì không có tiền, mà vì đang vướng ba bốn anh quản lý. Cái hang đó thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Nay lại nằm trong khu dự án chăm sóc linh trưởng của một tổ chức quốc tế. Vào được đó khó khăn phức tạp lắm. Khó khăn phức tạp vì dốc cao đá dựng, cây cối um tùm, không có đường sá gì, không được chặt phát bất cứ thứ gì. Và khó khăn phức tạp vì phải được sự đồng ý của Ban giám đốc Vườn Quốc gia và Ban Quản lý dự án chăm sóc linh trưởng. Nhưng các đồng chí đi làm công việc quân sự, chắc là được. Để tôi cử anh Chí xã đội trưởng dẫn các đồng chí qua bên đó…

“Bên đó” tức là bên Ban giám đốc Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, trụ sở đóng cách UBND xã chỉ vài cây số. Ban đầu, ông Vân Phó giám đốc bảo chúng tôi phải có giấy giới thiệu của Ban Quản lý di tích lịch sử tỉnh. Cái Ban ấy ở mãi tận Đồng Hới, cách đây hơn 50 cây số. Nhưng sau khi nghe tôi tự giới thiệu là con em quê nhà, lại nhắc tên mấy ông bạn học đang làm “sếp” ở Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch và Chi cục Kiểm lâm tỉnh, ông mới dịu giọng gọi điện sang Ban Quản lý dự án linh trưởng, đề nghị cử người dẫn chúng tôi lên “khảo sát quân sự” hang Thông Tin. Buông máy, ông nở nụ cười rất thiện chí: Phải nói như rứa họ mới linh động chớ!

Theo hướng tay xã đội trưởng Trần Văn Chí chỉ, thì cái hang ấy đã nằm ngay lưng ngọn núi đá trước mặt chúng tôi, nhưng anh Chí bảo về cơm nước đã, chiều mới lên được. Đang sốt ruột nên chúng tôi miễn cưỡng nghe lời, nhưng đến chiều mới rõ là ban sáng không thể lên kịp vì còn phải chờ một nhân viên kiểm lâm thạo lối dẫn lên, nếu xớ rớ vướng phải hàng rào bằng dây điện trần chạy pin mặt trời sẽ bị giật té ngửa. Khu bảo vệ và chăm sóc linh trưởng của quốc tế mà! Con đườngg ô tô dã chiến chạy sát chân núi xưa kia đã mất dấu trong lau sậy um tùm. Nền lán trại bộ đội cũng đã bị cỏ tranh khuất lấp. Đường lên cửa hang cứ nhằm phương vị thẳng đứng, vạch cây đỡ cành mà chui, cấm không được chặt bẻ thứ gì làm ảnh hưởng sinh thái của đám con cháu lão Tôn…

Mồ hôi đầm đìa. Chân tay đầy vết cào xước. Mồm mũi thi nhau thở… Sau gần một giờ bươn chải chúng tôi cũng tiếp cận được cửa hang. Bức tường bê tông chắn phía trước đề phòng hỏa tiễn vẫn còn nguyên vẹn. Phía sau là một vòm hang thênh thang hun hút. Hơi lạnh tỏa ra khiến mọi mệt nhọc nóng bức như biến đâu sạch. Tiến thêm một đoạn, hiện ra một nhánh rẽ bên phải cũng hun hút không kém nhánh chính. Vương vãi khắp nơi là những miếng nhựa hình chữ nhật màu đen. Anh Luận nói rằng đó là đáy một loại pin vuông của bộ đội thông tin thời chống Mỹ. Nhiều đoạn hang có những khối đá cuội được xếp chồng rất vuông vức, chắc ngày xưa là chỗ kê giường nằm của bộ đội. Chưa tìm thấy vách đá có dòng tên mà anh Trần Đăng Tân đã kể, nhưng tôi gặp rất nhiều những dòng chữ viết bằng than, bằng phấn, bằng đá non… trên các vách đá hai bên thành hang. Hầu hết là họ tên, quê quán, ngày tháng nhập ngũ…

Đứng giữa một không gian tuyệt mỹ và kỳ vĩ của tạo hóa, tận mắt chứng kiến những dấu tích hào hùng oanh liệt một thời, trong tôi trào lên những cảm xúc thật khó tả. Dưới kia, dòng sông Son lấp lánh nắng chiều. Con sông huyền thoại thời chống Mỹ giờ đây đang tấp nập những mái chèo chở du khách muôn phương ngược dòng lên chiêm ngưỡng những di sản thiên nhiên của nhân loại. Có ai biết chỗ chúng tôi đang đứng đây, cách bến đò du lịch chưa đầy một cây số, là một Di tích lịch sử Quốc gia và cũng là một thắng cảnh không kém phần hấp dẫn? Việc chấp hành nghiêm ngặt những yêu cầu chuyên môn của một dự án bảo vệ động vật hoang dã là cần thiết, nhưng có nhất thiết phải đặt dự án ở khu vực này không? Để phải hy sinh những giá trị tinh thần của một di tích lịch sử? Cũng như nếu hang Cơ Yếu (A72) ngày càng bị vùi lấp bởi cỏ cây, mưa nắng; tìm vào được di tích phải vượt qua bao trở ngại của thiên nhiên và do chính con người tạo ra… như hiện tại, thì làm sao bảo tồn và phát huy được những giá trị to lớn của một Di tích lịch sử Quốc gia?

Câu hỏi ấy cứ ám ảnh tôi suốt chặng đường trở về cho đến tận hôm nay, khi ngồi viết lại những dòng này…

Tháng 8-2011

Ghi chép của Mai Nam Thắng
Logged
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #245 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 03:04:12 pm »

  Chị Loan mà Quany103@ nhắc đến sau này làm bí thư Đảng ủy phường hàng Buồm ,sau khi ở KC 100 (Quảng trị ) về trạm A 10 mình đấy.
Mình không bao giờ quên được câu tâm sự khi họp tổ Đảng của chị Loan : Đến đêm mấy đứa con gái nằm ôm chặt lấy nhau run rẩy không biết hôm nay đến lượt đứa nào ...bị xếp "động đến ".

 Các bạn Tanloc555@ ,Chienc3.1972@làm sao biết được Hatuyenha@ cơ chứ vì 10/1972 mình đã ra trường về trạm A 10 của C8 e 134 rồi. Ngày 18/12 năm đó Mỹ dùng B52 ném bom Hà nội ,cả đêm mình đi chạy dây hướng A 52 sáng ra mới biết nhiều người chết xung quanh
cánh đồng làng Cót . Sáng 19/12 nhận bàn giao trạm trưởng trạm A 10 từ anh Chiến khóa 1 trường DHQS ( anh Chiến sau này lên đến trung tướng ) . Còn cái Đỗ Anh Hà khóa 6 là con cụ Đỗ Trình ,khóa đó có 5 nữ thì phải . Có Vân vịt vợ anh Trụ giáo viên DHQS, Lương luyện vợ anh Luyện sau là hiệu trưởng HVKTQS , còn 2 cô nữa tự nhiên quên béng . Khóa 6 vào trường được một năm thì bọn mình ra trường .  Sắp tới bọn mình sẽ về trường dự 45 năm thành lập trường. Khoa VTD mời tất cả cựu sinh viên tất cả các khóa của khoa sáng
22/10 đấy . Các bạn có ai học ngành VTD thì về nhé gặp các "đại ca " nay đều đã thành các lão bà hết rồi.

 Các cô em của tôi _ lính TT trạm A 10 đa tình đa cảm lắm đấy . Chị em tôi  xa nhau vì mưu sinh nhiều năm nhưng gặp lại vẫn yêu nhau như xưa . Gặp các anh trong chuyến đi vừa rồi là khoe ngay với bà chị già . Trái đất tròn mà .
Logged
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #246 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 03:16:07 pm »

Bạn Linh thong tinG@ đưa tin có hang trạm A 72 thật xúc động . Ngày xưa ấy các lính TT của e134 ở vậy đấy để hoàn thành nhiệm vụ.
Ông anh tham mưu ngày xưa nay thành ông cụ râu dài đẹp lão thế . Thật thương . Cám ơn bạn .
Logged
Tanloc555
Thành viên
*
Bài viết: 200


« Trả lời #247 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 04:50:42 pm »

Chị hatuyenha@: Khóa 6 hình như chỉ có 4 nữ: Anh Hà, Vân vịt, Lương luyện và Chi. Khóa 7 có hai nữ: Mai Phương và Vân tơ, Khóa 8 có Hường. Mỗi lần vào SG tanloc555 vẫn gặp các bạn cùng khóa là chính, Mai Phương và Vân tơ vẫn có gặp nhưng ít hơn. Hôm vừa rồi cả hội ngồi với nhau nhưng Vân tơ không đến được vì đang sửa nhà. Lâu lâu gặp nhau cũng vui "Bà Chị" ạ.
Logged
hatuyenha
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2403


« Trả lời #248 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 05:30:45 pm »

  Đúng rồi còn Chi em của Việt Hải (bạn cùng lớp hồi PT với mình )con cụ Kinh Chi nguyên cục trưởng cục bảo vệ . Mai Phương con cụ Đặng Tính hy sinh bên K . Còn Hường thì đi duyệt binh năm 1973 với mình , trước đó hắn làm việc tại nhà máy TT M1. Còn Mai toa nữa không nhớ là khóa mấy nhỉ ? Có năm mình nhắc chủ nhiệm khoa tổ chức cho chị em các khóa từ khóa một đến các khóa sau này vui phết . Các bà nội bà ngoại kỹ sư TT bỏ cháu ở nhà đến vui vẻ với nhau , thế mới hay chứ ,trẻ lại , mày tao chí tớ . Nhớ quay quắt.
Logged
quân y 103
Thành viên
*
Bài viết: 277


« Trả lời #249 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2011, 06:44:46 pm »

Vân tơ có phải Vân con Bác An ?Ngày xưa A10 goi là Vân con,Vân đùng duyệt binh cùng CCbtt và chị Hatuyenha.
bác nào đi bộ đội sau tự giác gọi các anh các chi đi lính trước nha.
chi hatuyenha ơi ngày 4/12 gặp mặt trạm A10  mời tất cả ai có tình cảm với lính TT nha chị.
Cám ơn anh Linhthongtin .ngày chi Loan ra A10 da vàng  môi thâm đen vì sốt rét,thuơng các chị ấy lắm ,mỗi lần đi củi phài đi bộ 9km mới có .gùi gạo về ăn phải đi hàng tuần ,
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM