Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:15:28 pm » |
|
- Đó không phải là tình yêu sao?
- Không! Đó không phải là tình yêu trai gái. Thí dụ như Huân đệ yêu Uyển Thanh vậy!
- Có chứ! Tiểu đệ yêu nàng bằng cái tình yêu mà tiểu đệ vừa nói đó thôi!
Bảo Thư lắc đầu:
- Huân đệ chưa hiểu gì cả!
Trong ánh mắt của Bảo Thư, Nguyên Huân bắt gặp mơ hồ một niềm vui bất chợt, mong manh và dịu dàng, và ở đó, những giọt nước mắt lại ứa ra lả chả . Bảo Thư cứ để im cho những giọt lệ chan hòa:
- Ta những tướng ta sẽ quên được chàng và âm thầm về làm vợ người khác, một đời rồi cũng qua, mọi điều rồi cũng lãng quên đi, nhưng rồi ta đã hiểu ra một cách muộn màng, là càng cố quên, càng cố xua đuổi chàng ra khỏi tâm hồn ta, ta càng nhớ chàng thiết tha và say đắm. Ta không thể lừa dối người đàn ông kia và ta đã từ hôn. Gia gia ta giận ta lắm, ta bỏ ra đi một đêm khuya, và ta chẳng biết phải đi đâu, ta chỉ đi tìm niềm khuây khỏa...
- Vị huynh đài diễm phúc mà Thư tỷ yêu thương kia là ai thế? Y có biết Thư tỷ yêu y không? Thư tỷ nói đi, tiểu đệ đi bắt y về cho Thư tỷ nhé!
Nguyên Huân bỗng bất chợt thấy chơi vơi như sương khói bởi cái nhìn kỳ lạ của Bảo Thư, vừa êm ái vừa say đắm, vừa như trách móc giận hờn, và trên đôi môi nàng, một nụ cười chợt hé :
- Huân đệ, người ấy là... Huân đệ không biết đâu, và ta, ta cũng chẳng biết chàng là ai nữa...
Nguyên.Huân nhìn thấy nỗi phấn đấu khủng khiếp nào đó đang diễn ra trên khuôn mặt đau đớn của người thiếu nữ, trong ánh mắt mà chút vui kia chợt tan đi, chỉ còn lại là vực thẳm của tối tăm trong đôi mắt Bảo Thư, và bất chợt, nàng ngất đi.
Đêm hôm ấy, Bảo Thư lên cơn sốt, nàng bỏ ăn, chỉ nằm im, đôi mắt nhìn vào khoảng không. Giông bão diễn ra trong lòng nàng, cuồn cuộn những cơn sóng gào thét. vật vã. Nguyên Huân đã điểm vào các huyệt Phong trì, Đại trùy, Thái xung, ân đường để cứu Bảo Thư hồi tỉnh, và các huyệt Thiên trụ, Bách hội, Hoa đà, Giáp tích, Phế du, Tâm du, Thận du để giảm cơn sốt có lúc làm nàng mê sảng.
Hai hôm sau, bệnh tình Bảo Thư đã thuyên giảm. Nguyên Huân trả tiền rất hậu cho người chủ thuyền đã ghé bờ để tìm cho một người thầy thuốc. Chàng lo lắng, săn sóc, suốt đêm ngày ngồi bên cạnh nàng, những lúc như thế, bệnh tình nàng như có thuyên giảm, cái nhìn không còn xa xăm, lạ lẩm, nhưng những giọt nước mắt lại chan hòa trên gối. Nguyên Huân để yên cho nàng khóc, chàng vụng về, càng an ủi, càng làm Bảo Thư không dứt lệ. Chàng có biết đâu rằng Bảo Thư đã chính vì chàng mà khóc, mà càng thương đau, vì nổi niềm riêng không thể tỏ bày...
Nguyên Huân lau nước mắt cho Bảo Thư, lau những giọt mồ hôi trên vừng trán khói sương; và chàng vô tình không thấy được ánh sáng hạnh phúc trên khuôn mặt nàng, hạnh phúc dạt dào trong đôi mắt mênh mông thăm thẳm kia, một điều gì đấy của hạnh phúc, một hạnh phúc chứa chan và ảo ảnh. Và cũng chính vì đó, những lúc Nguyên Huân săn sóc cho nàng tận tình, kề cận những đêm thức trắng, ân cần như một người con, như một đứa em, như một người chồng dịu dàng, đã giúp nàng dần bình yên trong cơn chiến đấu giữa bản năng của tình cảm và lý trí. Lý trí dần trở về, và đôi mắt nàng từ lúc nào, chỉ còn lại tia sáng lạnh lẽo như đông giá, như thu muộn.
"Ta không thể, nàng tự nhủ, ta không thể làm hỏng mất đời chàng, ta yêu chàng là dường nào, sao ta lại có thể làm chàng đau xót vì ta. Ta hơn chàng năm tuổi, chàng còn nghĩa vụ hai vai, tình yêu không thể là chiếm đoạt, là ích kỷ, mà chính là hãy tự quên mình, tự xóa mình đi.
Thôi, xin tạ ơn đời, tình yêu dịu ngọt của tôi, tình yêu như trái đắng, như bóng tối, như giông bão, như lửa dậy trong lòng tôi. Tôi khao khát nó và tôi đã có nó, tôi đã hiểu được thế nào là tình yêu, tôi đã làm người. Chẳng đủ sao Bảo Thư, ngươi còn muốn gì nữa?! Suốt đời ngươi tôn thờ nó, đừng biến nó thành của riêng mình, đừng biến cái tận cùng cao đẹp kia thành bùn nhơ, đã mấy ai có được một tình yêu trong sự tự xóa nhòa mình.
Ôi ta chẳng thể, Nguyên Huân ơi, em chẳng thể, chẳng thể. Cớ sao em chẳng thể nói được cùng anh muôn vàn điều em muốn nói. ôi, anh gần gũi bên em là dường nào, mà xa vời chi đến vậy. Tình yêu như nụ hồng nhung óng ánh những sương mai. Em chẳng thể đổi lấy cái tầm thường để mai này héo úa. Suốt đời, kể từ đây, chàng ở trong lòng em, sống trong em chàng như hơi em thở, như mắt em nhìn, thế chẳng đủ sao! Ôi Ta chẳng thể lôi kéo chàng vào tăm tối, để cho một ngày nào, một ngày nào mai sau, nụ hoa kia phai tàn, chỉ còn là những giọt lệ. của hối tiếc. Huân đệ ơi, Thư tỷ mãi mãi có thể chẳng giữ được, nếu chàng ở bên em, em không thể chiến đấu âm thầm một mình. Bảo Thư, ngươi đừng xót xa, đừng phiền lụy, hãy rời xa và giữ chàng vĩnh viễn."
Từ đó, Bảo Thư quay mặt vào vách, thở đều như ngủ khi có Nguyên Huân ở cạnh, hoặc nhìn đi nơi khác khi phải đối diện chuyện trò, nhưng nàng dần cũng hiểu rằng, điều ấy chẳng ích gì, chẳng ích gì cho sự chiến đấu vẫn còn dằn xé trong tâm hồn nàng những lúc ấy.
Qua ngày thứ tám, Bảo Thư đã bình phục, sắc hồng đã ửng trên khuôn mặt xanh xao, và nàng cũng nhận ra Nguyên Huân có phần gầy hao, tiều tụy, và trong đôi mắt vẫn đầy sự lo lắng cho nàng bấy lâu nay, đã có niềm vui khi thấy nàng hồi phục. Bảo Thư như có được niềm an ủi mênh mang, nàng run giọng:
- Tội nghiệp Nguyên Huân của chị, vì ngu tỷ mà hiền đệ vất vả thế này. Ngu tỷ hôm nay đã khỏe hẳn rồi, chỉ có hơi mỏi mệt, ngu tỷ chỉ vặn công điều tức là lấy lại sức khỏe ngay thôi. Hiền đệ vì ta mà ốm đi, lòng ta chẳng nỡ...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:16:07 pm » |
|
Nguyên Huân cười:
- Thư tỷ, Thư tỷ xem Huân đệ này là người xa lạ hay sao mà khách sáo thế? Đó là bổn phận của đệ. Cũng như những ngày còn ở Võ Đang Sơn, Thư tỷ đã lo cho đệ từng chút, Thư tỷ quên rồi sao?
Quên rồi sao! Quên rồi sao! Lạy trời Phật, hãy cho con được quên! Nhưng không, đừng bắt con quên chàng, vì đó là hạnh-phúc-trong-nổi-bất-hạnh-mà-con-đã-tự-nguyện. Quên rồi sao khi ta đã lo cho chàng từng chút. ôi, tình yêu của ta, ôi tuổi tác ôi thứ bậc, và những ngăn cách nào không cho em ngã vào vòng tay chàng, chàng vô tình hay chàng tàn nhẫn. Điều nào cũng là hạnh phúc của em, Nguyên Huân ơi!
Bảo Thư quay đi giấu những giọt nước mắt bất chợt ứa ra, không, ta không thể mềm yếu như thế, và nàng quay lại, mĩm cười :
- Ta nhớ chứ, làm sao những tháng ngày ấy mà ta quên được Hiền đệ dạy ta nói tiếng Đại Việt, khi hiền đệ đi rồi, những chữ, những tiếng quên đi, ta nhớ lại gần hết. Nguyên Huân, hiền đệ phải dạy ta cho trọn nhé! Từ hôm ấy, Nguyên Huân tiếp tục dạy Bảo Thư tiếng Việt Nàng ríu rít như chim. Nguyên Huân dạy cho nàng những câu ca dao của dân tộc, những câu ca dao nồng nàn như trời mây quê hương, như hoa cỏ ngát thơm đất mẹ, như nhịp cầu sương khói trên dòng sông uốn mình trong vắt:
"Qua cầu ngả nón trông cầu,
Cầu bao nhiêu nhịp., em sầu bấy nhiêu."
"Qua đình ngỏ nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu."
Bảo Thư đọc đi đọc lại mà không thấy chán, càng đọc càng hay, càng thấy nồng nàn. Oi quê hương chàng, những vần thơ mộc mạc, âm hưởng tuyệt vời, tứ thơ mênh mông chân thật, hơn hẳn hàng trăm lần những bài thơ Đường cầu kỳ. Không một dân tộc nào có được chữ "Mình" trong ngôn ngữ của họ, chữ "Mình" mới súc tích, mới chứa chan âu yếm làm sao! Mới thể hiện được sự tan biến vào nhau để trò thành duy nhất. Bảo Thư đã bao lần thầm gọi "Mình ơi, Mình ơi", "Mình Huân ơi", không được, "Mình Bảo Thư ơi". Không, chỉ có mình ơi, trong đó đã có cả chúng ta làm một. Nàng gọi:
- Mình ơi !
Nguyên Huân giật mình, ngơ ngác:
- Không phải, chữ này chỉ được dùng cho hai kẻ yêu nhau, cho cặp vợ chồng thôi, không được dùng ở bất cứ trường hợp nào khác!
Bảo Thư không đỏ mặt vì sự nhầm lẫn cố ý đó, chỉ mỉm cười như e ấp:
- Vậy " Mình" là tình yêu phải không?
- Đúng vậy, mà không đúng vậy, nó là cái gì cao cả hơn nữa. Ngu đệ nghĩ rằng tình yêu còn có sự mong ước chiếm lấy ở đây hai người đã tự tan đi, biến đi để chỉ còn là một, hợp làm một!
Bảo Thư thầm nghĩ: " Một dân tộc như thế, làm sao có thể khuất phục được." Có lần Bảo Thư đứng ngắm Nguyên Huân nằm ngủ, nàng nhìn vầng trán mênh mông của chàng, gương mặt anh tuấn và cương nghị. "Cho em nhìn chàng một lần, một lần và mãi mãi". Nàng muốn ôm lấy chàng, muốn được hôn trên vầng trán kia, khát khao tan biến đi, khát khao hủy diệt đi để được hồi sinh trong máu huyết chàng.
Một hôm thuyền đến Hán Khẩu vào cuối giờ tuất, do đó, đêm cuối cùng ở lại thuyền, nàng viết để lại cho Nguyên Huân vài hàng trong lúc Nguyên Huân đang tọa công. Nàng viết bằng chữ nôm:
"Em Huân của chi. Chúc em may mắn, chị đi tìm chàng, chị mang chàng đi, chị mãi mãi của chàng và chàng mãi mãi của chị trong lòng. Thế là đã đủ, cảm ơn em. Chị không hy vọng có ngày gặp lại em, chị cầu chúc cho em và Uyển Thanh hạnh phúc.
Xin đừng quên chị.
Mình"
Hai hàng lệ chứa chan, Bảo Thư nhìn Nguyên Huân lần cuối cùng. Lần cuối cùng và không bao giờ nhìn thấy nữa. "Vĩnh biệt chàng, vĩnh biệt người yêu dấu của em. Em mang chàng đi, một mình em, và chàng ở trong em mãi mãi".
Bảo Thư lầm lủi lẻn lên bờ, một mình nàng với thanh kiếm và đêm tối bao la...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:16:56 pm » |
|
Chương 12 Tuyệt-tình-đàm cũ, mây trời cũ Trăng vẫn riêng đầy buổi nhớ xưa. Buổi sáng hôm sau, Nguyên Huân không thấy Hân Bảo Thư, chàng hỏi người chủ thuyền, y trả lời là đêm hôm qua, lúc đầu giờ Tý, Bảo Thư đã lên bờ, rồi không thấy trở về. Nguyên Huân cũng không tìm thấy hành trang của nàng, chỉ có lá thư để lại. Đọc xong lá thư, lòng chàng đầy thương cảm và buồn bã, biết là Bảo Thư quyết ý ra đi, có tìm kiếm ũng không được, vã lại đất trời mênh mông biết nàng về u! Chàng trả tiền cho người chủ thuyền, thờ thẩn lên bờ. Nguyên Huân nhẩm tính đoạn đường xa còn lại, từ Hán Khẩu đến Yên Kinh, đường còn mấy ngàn dặm, phải xuyên qua Hồ Nam, Sơn Đông, rồi Hà Bắc. Yên Kinh thuộc phủ Khai Phong, tỉnh Hà Bắc. Chàng vào quán ăn dùng điểm tâm, rồi nhờ người chủ quán mua giúp một con ngựa với đầy đủ yên cương. Đó là một con ngựa quí, mình nhỏ, thuộc loại ngựa Vân Nam, giống ngựa này nhỏ nhắn nhưng sức chịu đựng hết sức dẻo dai, bền bỉ, tuy không đẹp bằng ngựa Á Rập nhưng nó chịu được mọi thời tiết, hơn hẳn cả loài ngựa Mông Cổ, dù loại này có chân to, lông dày, ức nở, gồm có hai loại: Loa Mã và Công Mã. Chàng mang theo một số lương khô, để đề phòng những nơi không có quán trọ. Ngày đi đêm nghỉ; có những đêm trăng sáng, gặp chốn thanh u, chàng thúc ngựa đi luôn cả đêm, hoặc nghỉ chân, ngủ lại bên một sườn núi, một cánh rừng. Nguyên Huân cố quên hết mọi điều, dốc tâm luyện công, không lúc nào ngơi nghỉ, vì chàng biết rằng kẻ thù đang đợi chàng phía trước. Bởi vậy, tuy chỉ mới xa quê hương chưa đầy bốn năm, mà công lực chàng đã tinh tiến bằng người khổ luyện trên mười năm. Nhẩm tính ngày lên đường, từ Hán Khẩu, chàng đoán chừng mình đang ở giữa ranh giới thuộc tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam, hoặc giả có thể đã đang trong địa phận của tỉnh Hồ Nam. Chàng cứ nhắm hướng chính Bắc mà đi. Một hôm, Nguyên Huân gặp một rặng núi cao ngăn cách, ngựa không thể nào vượt qua được qua được, sườn núi dựng đứng, nhưng toàn cảnh hết sức u nhã. Còn đang phân vân không biết tính sao, ánh mắt chàng thốt nhiên mừng rỡ và thúc ngựa chạy về phía trước. Dưới gốc cây đại thụ, một người tiều phu dựa lưng ngồi nghỉ, Nguyên Huân xuống ngựa lễ phép hỏi thăm. Người tiều phu đã già nhưng thân thể còn cường tráng, nhìn chàng như thầm quan sát, một lúc rồi nói: - Tráng sĩ đi lầm đường rồi, không có lối nào đi qua rặng núi này cả, phải bọc lên hướng Tây khoảng tám mươi dặm, sẽ gặp một con đường vượt đèo mới qua được dãy Nam Sơn này, hoặc giả đi về hướng Đông hơn một trăm dặm sẽ gặp một nhánh sông chảy hướng Bắc Nam, cứ dọc theo triền sông mà đi, nhưng địa thế hiểm trở lắm! Nguyên Huân hỏi: - Lão trượng, không còn đường nào khác nữa sao? Lão tiều nhìn ngọn núi ngất trời, vách đá dựng đứng, nói: - Lão chưa thấy có ai có khả năng vượt qua được núi này bằng ngựa cả, lão cả đời kiếm củi quanh quẩn nơi này mà chưa phát giác được một con đường xuyên sơn nào khác, chỉ nghe đồn trong dân gian có một hang động xuyên qua lòng núi, nhưng đến giờ không ai tìm ra! Bỗng chàng để ý đến tiếng động "uồm uồm" vang đến từ phía chân núi, nên hỏi: - Thưa Lão trượng tiếng động ấy vì đâu mà có vậy? Lưng chừng vách đá, khoảng một trăm trượng, xuất phát ngọn thác chẳng biết từ đâu chui ra, lượng nước lớn lắm! - Lão trượng, thanh âm có vẻ khác lạ lắm! - Lão cũng thấy như vậy, nhưng chẳng ai biết vì sao cả. Thác chảy ngầm trong lòng núi và trổ ra, thiên nhiên kỳ diệu lắm, chẳng ai biết được! - Thưa nếu vậy, trên đỉnh Nam Sơn này hẳn nhiên phải có một hồ nước, rồi chảy ngầm vào một hang động, và thoát ra thành thác nước này? - Thì chắc là vậy! Nguyên Huân vẫn tiếp tục: - Nhưng nước ở đâu chảy vào hồ ấy mới được chứ? - Miền này, mưa trên đỉnh núi quanh năm, nước quanh đỉnh núi tích tụ lại cũng nên! Nguyên Huân trầm ngâm không nói gì. Lão tiều phu khom người quảy gánh củi lên vai, nói: - Đã trưa rồi, lão phải về thôi. Lối ba dặm ở hướng Đông Nam có một sơn thôn, lão họ Hạng. Thôi, chào tráng sĩ!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:17:28 pm » |
|
Nguyên Huân đứng dậy chào từ biệt. Và cũng vì lời của Lão tiều, chàng tò mò dắt ngựa đi dưới những tàn cây lớn lần tìm đến ngọn thác. Khu sơn lâm này là một khu rừng thuần khiết, không có loại cây tạp nhỏ; càng đi sâu vào chân núi, quang cảnh của rừng càng u nhàn. Chàng gặp một dòng suối chảy ngang chặn lối đi. Suối không sâu lắm, nước trong như ngọc, chảy lặng lờ qua từng gộp đá, những phiến đá bị bào nhẵn bởi dòng nước xua theo thời gian, từng đàn cá nhỏ đủ màu nô đùa trong lòng nước mát. Hai bên bờ cát mịn, vàng óng ánh. Ánh nắng xuyên qua các tàn cây của hàng đại thụ cao ngất hai bên bờ suối, bóng nắng lung linh, phản chiếu màu cát vàng dưới lòng suối, con suối như biến thành một giải nước vàng lấp lánh.
Dưới những bóng cây, cỏ non mơn mởn, Nguyên Huân thả cương, con Hoa Tâm khôn ngoan, như hiểu được ý chủ, thong thả nhẩn nha gặm cỏ bên suối. Nước mát quyến rũ chàng, Nguyên Huân thả người tắm trong dòng hoàng ngọc tuyền. Chàng đi dọc theo dòng suối, cẩn thận mang theo thanh Bạch Hạc và hành trang, con ngựa lững thững sau lưng chủ. Từ ngày con Hoa Tâm thuộc về chàng, những ngày đầu còn nhớ chủ cũ, biếng ăn, nhưng dần dần, bởi cảm nhận được sự chăm sóc đầy thương yêu của Nguyên Huân, lòng cảm mến giữa người và vật vì thế phát sinh.
Nguyên Huân ngước nhìn lên dòng thác, thác nước cuồn cuộn đổ ầm ầm vang vọng cả khu rừng, dải lụa bạc khổng lồ đổ xuống vỡ tan thành bọt nước trắng xóa. Đứng sững người nhìn ngọn thác, và trong tiếng động bất tuyệt do nước vỡ gây ra, Nguyên Huân lắng nghe thấy một âm thanh khác uồm uồm bất tận. Đột nhiên chàng nhận ra dưới chân mình một vật lạ, lấp lửng dưới lớp cát, chàng cuối xuống mò lên, và trên tay chàng là một thanh Truy thủ, không biết chôn dưới lớp cát vàng từ khi nào, mà lớp rêu phong và cát ẩm hằn dấu trên chuôi đao, chuôi được làm bằng loại sừng trắng, không phải ngà voi, không phải gạc hươu nai mà bằng một loại sừng lạ.Cầm lấy chuôi đao, Nguyên Huân cảm nhận một hơi ấm tỏa ra. Sừng Tây ngưu chăng? Chẳng lẽ một loại sừng Tê giác, một loại thuốc cực quý, lại có màu trắng hồng đẹp như thế? Đuôi thanh Trủy thủ chạm trổ một con chim ưng xòe cánh. Lưỡi đao bằng loại thép xanh biếc, tỏa hơi lạnh. Chàng không biết nó được vùi lấp bao lâu dưới cát, mà khi sợi tóc được đặt ngang, sợi tóc bị hơi thổi của chàng ép vào lưỡi đao, đứt lìa. Nguyên Huân mừng rỡ nâng niu thanh Trủy thủ quý giá. Tiếc thay không có võ đao, mà lưỡi đao lại sắc như nước. Có đám trúc mọc trên bờ, chàng chặt một đoạn, ốp lại làm vỏ đao. Thanh Trủy thủ quí báu kia nằm im trong chiếc vỏ đao tầm thường.
Bây giờ chàng mới ngạc nhiên tự hỏi, thanh đao quý ấy, tại sao thất lạc nơi này, và xuất xứ của nó không thể từ một nhân vật tầm thường được!
Chàng ngước mặt trông lên, đỉnh Nam Sơn chìm trong mây, dựng đứng đến chóng mặt. Quả thực, không ai có thể lên đến đỉnh núi bằng con đường vách núi sừng sững như tường thành này. Chàng lên bờ lấy lương khô ra ăn. Đám hoa bên bờ suối tỏa hương thơm ngào ngạt, buổi trưa yên tỉnh. Tiếng động ì ầm triền miên của thác nước tạo cho chàng một cảm giác sâu lắng bình yên kỳ lạ, nhưng trong nó tiếng "uồm nồm" kia vẫn cứ làm cho chàng thắc mắc.
Mặt trời vừa đứng bóng. Trên những đóa hoa rực rỡ sắc màu, từng đàn ong bay lượn hút mật ngọt. Chẳng biết chúng tự nơi nào, nhưng mỗi con ong rời đài hoa bay đi, chúng bay lên và mất hút trên vách núi cao vòi vọi. Chắc đâu đó trên hốc đá tình cờ trên kia, là những ổ ong với những dòng mật ngọt. Chàng cũng chẳng biết được, loài ong có thể bay cao được bao nhiêu bằng đôi cánh mỏng manh ấy, và có làm tổ của chúng trên vách núi cao không?! Nguyên Huân thốt nhiên nhớ đến lời lão tiều phu, và truyền ngôn về một hang động. Vách núi dựng đứng, dưới chân là những tảng đá khổng lồ, hang động nằm nơi nao, sau những đống loạn thạch? Chàng đột nhiên quay nhìn dải lụa sinh động màu bạc kia, và thần trí chàng chú mục vào đó. Phía sau thành nước kia là gì, có gì phía sau đó? Nhưng, với cả một khối nước khổng lồ tư trên cao hàng trăm trượng đổ xuống, ai có thể chịu được sức nặng ghê gớm ấy mà chui qua?!
Nguyên Huân mím môi đứng dậy, rút thanh Bạch Hạc, chàng quyết tâm thực hiện cái ý nghĩ đã manh nha và đã quyện chặt trong đầu, nhất định phải. khám phá, sau lưng của cái thác nước hùng vĩ này, phải chăng là cửa vào của một hang động?!
Nguyên Huân vung mạnh thanh trường kiếm, kiếm khí tỏa nhanh theo bóng người xoay tròn, mạnh như một con trết; một vùng khí quang tròn như chiếc tán phủ quanh trên đầu Nguyên Huân hét lớn, vận Thiên Cân Trụy giữ mình đứng vững trên phiến đá trơn nhẵn, xử Hỏa Vân công đến độ chót, kình lực theo thế quay nhanh, vung mạnh thanh kiếm chém chếch thẳng vào thành nước. Trong một thoáng, khi đường kiếm vạch trên dãy nước tách ra, Nguyên Huân đã nhìn thấy với tích tắc thời gian như mơ hồ này, một cửa động trước khi chàng bị sức nước hất tung ngược ra phía trước.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:18:05 pm » |
|
Như được tiếp sức mạnh, như quên hết thời gian, mười, mười lăm, rồi ba mươi, năm mươi lần, Nguyên Huân tiếp tục, và không nản, công phá dải nước. Cho đến lúc tay chân rũ liệt và bóng chiều đã phủ xuống, chàng đành bỏ cuộc, lên bờ ăn qua loa chút lương khô, ngồi vận công lấy lại nguyên khí đã mất. Đêm nay trăng rằm vằng vặc, đã mười lăm ngày kể từ hôm Bảo Thư bỏ đi, chàng đã đến nơi này.
Sáng hôm sau, qua đêm nghỉ ngơi, khí lực hồi phục, chàng tiếp tục công phá thành tư nước. Và, ngày qua ngày kiên trì. Cho đến một hôm, Nguyên Huân nhận ra nội lực của chàng tăng tiến, sung mãn hơn rất nhiều: sức chuyển lực của Hỏa Vân Công vào đường kiếm chém vạch lên dải nước, áp lực trì trọng của sức nước lên tay kiếm như có phần giảm xuống, và dải nước rẻ ra như lâu hơn, những lúc ấy, chàng đã nhìn ra hang động với ánh sáng của mặt trời buổi sáng lọt qua màn nước lung linh, chiếu vào.
Ngày qua ngày, sự kiên trì và quyết chí mãnh liệt đã cho Nguyên Huân một thành quả, thanh kiếm đã đánh hắt tung dải nước, không một giọt nước nào lọt qua đường kiếm chặn.
Một buổi sáng tinh sương, thi triển công phu, với từng bước thận trọng, chàng đi qua dải thác. Từ đường kiếm đầu tiên đã hai mùa trăng đi qua, thanh kiếm đã trở thành như không còn có trong tay chàng. Nguyên Huân có biết đâu rằng giờ đây nội lực của chàng đã lên đến hàng thượng thừa. Cũng vì thanh Trủy thủ và sự tò mò, chàng vô tình có được thành quả ấy. Nguyên Huân quay trở ra. Chàng gọi con Hoa Tâm và đi về chốn sơn thôn của lão tiều phu họ Hạng. Chàng gởi ngựa và biếu lão một lạng vàng, hẹn đến ngày chàng quay trở lại.
Tự nhiên có được số vàng ấy, lão tiều mừng rỡ và không hề thắc mắc hỏi han. Số vàng trong túi gấm của Thiên Quang, không kể ngọc quí, có đến hai trăm lượng, chàng đã chia cho mỗi người một ít để chi dụng dọc đường: Khô Nỗ Viết, Thành Sử Nghiệp và Bảo Thư. Trong năm viên ngọc Hổ Phách, chàng chọn lấy một viên đẹp nhất có vân như mây tỏa, đeo vào cổ cho Bảo Thư, và với số vàng còn lại, chàng dùng nó trong thời gian bôn tẩu giang hồ thi hành trách nhiệm. Nguyên Huân trở lại thác nước, vượt qua thành nước dày, vào hang.
Ánh sáng từ ngoài, qua màn nước, lung linh trên vách động. Vách động phẳng lì, trơn nhan như bị bào mòn. Ánh sáng chiếu vào rất sâu trong động do sự phản chiếu trên vách đá màu trắng. Nguyên Huân có cảm tưởng đường đi mỗi lúc một cao, đi lần trong bóng tối một đoạn rất dài, nhờ thị lực tinh tường nên không mấy khó khăn. Chàng không biết thời gian qua bao lâu, đột nhiên bắt gặp một hơi gió nhẹ thoang thoảng mùi hương của hoa, và ánh sáng mỗi lúc một rõ dần, cuối cùng, chàng đã đứng trước cửa hang ở rất cao trên dãy Nam Sơn.
Nguyên Huân bàng hoàng nhắm mắt lại một lúc lâu, trước mắt chàng mở ra một mặt hồ rộng, nước trong vắt, có những dòng suối từ nhiều hướng đổ vào trên những độ cao khác nhau. Một rùng hoa ven hồ với những tàn cây cao. Đứng từ trên nhìn xuống mặt hồ như một tấm gương lớn, và xa kia, có những mái nhà thoáng ẩn hiện trong làn sương la đà . Một thôn trang trong Sơ Trung? Một cảnh bồng lai mà chàng tìm thấy? Không khí thoáng đảng và ngọt ngào. Từ nơi chàng đang đứng, những mái nhà ngói đỏ điểm giữa khung cảnh bao la xanh tươi như một bức tranh, cảnh tượng như chỉ có trong bức họa của những họa sĩ tài danh..
Nguyên Huân vạch đám dương xỉ và những bông hoa lạ đủ màu rực rỡ vươn cao, chàng lần mò đi xuôi xuống con đường nhỏ trước mặt ẩn dưới những tán cây cao, hoa nở rực rõ. Một không gian im vắng và thanh khiết, chàng như vừa thoát khỏi cảnh hồng trần nhiễu nhương, những đau khổ chất chồng để lạc vào chốn tiên cảnh tĩnh mịch nhưng xôn xao hoa lá và hương thơm.
Một ngôi nhà như kiểu Thủy tạ trên mặt hồ, những cây cầu cong soi bóng trên những dòng suối róc rách. Con đường dẫn chàng vào khu nhà, bây giờ khuất sau hàng cây trước mặt. Nguyên Huân bỗng giật mình, một đám mây đen như muốn che kín mặt hồ, đang vần vũ tiến lại phía chàng cực mau. Chàng đã nhận ra đó là một bầy ong khổng lồ trước khi chúng xòa xuống tấn công chàng. Nguyên Huân kinh hải vũ lộng thanh Bạch Hạc, kết thành một luồng bạch quang bao bọc thân thể, những con ong đầu tiên chạm vào bạch quang kiếm rơi lả tả, nhưng hết lớp này đến lớp khác lao vào không dứt, ba bầy ong khổng lồ khác từ ba hướng vù vù kéo đến, chàng nhận ra loài ong vò vẽ, một loài ong độc. Lớp ong vây quanh chàng, chết rụng xuống hàng hàng lớp lớp một con đã lọt qua luồng kiếm ảnh, vai chàng nhói buốt, rồi vết thứ hai, vết thứ ba, trên cổ, trên lưng.
Nguyên Huân biết rằng chàng sẽ bại trận. Không một ai có thể chống chọi được hầy ong hàng triệu con như thế này. Chàng không còn đường thoát thân ngoại trừ lao xuống hồ. Chàng lặn xuống và mở mắt nhìn lên làn nước trong vắt, cả một đám mây vẫn vần vũ trên mặt hồ. Nguyên Huân vận Qui Tức công, nhưng Qui Tức công cũng chẳng giúp cho chàng được lâu dài, chàng phái nổi lên mặt nước để hít thở với thanh kiếm trong tay như tàn che. Hai, ba, rồi năm lần trồi lên, nước hồ lạnh buốt, thân thể chàng bị nọc độc của ong làm cho rời rá, đầu chàng đã bị thêm hai, ba vết chích nữa; lần thứ tám chàng nghe mơ hồ có tiếng sáo, hay một âm thanh gì tương tự, và bầy ong, như có luồng bão lốc, tỏa ra bốn phía. Chàng vừa đến phía bên kia hồ, trườn lên, và ngất lịm.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:18:41 pm » |
|
Đến khi tỉnh lại, không biết đã qua bao lâu, chàng thấy mình mẩy ê ẩm, đau nhức, hai tai ù, và trong đầu như có tiếng sóng vỗ. Chàng cố gượng ngồi dậy, căn nhà vắng lặng, ngoài trời đã khuya, cả không gian im vắng, ngọn đèn lồng treo trên xà ngang tỏa ánh sáng vàng vọt. Nguyên Huân liếc nhìn căn phòng, ghế bàn và đồ đạc giản dị, trang nhã . Chàng dần nhớ lại, từ lúc lọt vào khu vực tình cờ này, hồ nước rộng, bầy ong, và bây giờ là vết đau nhức trên thân thể...
Nguyên Huân nhắm mắt luyện công khu trục nọc độc của ong trong người, đồng thời lấy lại nguyên khí đã mất. Trên Bách Hội huyệt, một làn sương nhẹ bao phú, trong phút chốc chàng trôi vào cõi tịnh không. Khi chàng mở mắt, một lão nhân chống gậy trúc đã đứng trước mặt chàng nhìn chàng đăm đăm, đôi mắt sáng quắc dưới hàng lông mày trắng xóa. Lão nhân râu tóc trắng như cước, mặc chiếc áo thụng màu vàng có hoa văn, phong thái như một tiên ông. Thấy chàng mở mắt nhìn, ông lên tiếng:
- Tiểu tử, ngươi khá lắm, sống sót được như thế quả là hiếm có, lão tử đã tạm thời khu trục nọc độc cho ngươi, cho ngươi ngủ một giấc dài để bồi dưỡng nguyên khí, bây giờ ngươi đã vận công, tống hết độc khí rồi đấy!
Nguyên Huân thấy sức khỏe đã trở lại bình thường, vội đứng lên, vòng tay cúi đầu chào.
- Thôi ngươi đừng thủ lễ, trời gần sáng rồi, ngươi đã ngủsuốt buổi chiều và tròn một đêm. Ta cứ nghĩ ngươi không sống được, nọc ong cực độc, mà ngươi còn sống, lại hồi tỉnh sớm hơn là ta tướng, nghĩ cũng lạ lùng, công lực ngươi cũng khá lắm! Ngươi đang nghĩ xem ta là ai có phải không? Đừng cố công vô ích, ngươi không đoán được đâu!
Lão nhân này là tiên hay thánh mà thấu suốt ý nghĩ của chàng?
- Lão tiền bối thứ lỗi, vãn bối..
- Thôi được, ngươi ngồi xuống đây nghe ta nói!
Nói xong lão nhân bước đến ngồi xuống trên một có ghế mây, Nguyên Huân bước theo ngồi xuống ghế đối diện qua mặt án thư hẹp được ghép lại rất mỹ thuật bằng những thân mây lên nước màu đỏ sẫm.
- Bây giờ ngươi nghe ta hỏi: làm sao ngươi có thanh Trủy thủ này?
- Vãn bối tình cờ lượm được ở dòng suối trước thác nước.
- Vậy là ngươi đã chui qua thác nước mà vô đây?!
- Đúng vậy!
- Tên ngươi là gì?
- Vãn bối họ Trần, tên Nguyên Huân!
Bây giờ ngươi rót nước mà uống, rồi nghe ta nói: "Thanh Trủy thủ đó là của Tổ tiên ta, nó có một cặp. Ngày xưa Trường Xuân Tử Khâu Xử Cơ đã tặng cho hai nhà Dương, Quách làm lễ vật giao ước. Tổ phụ ta một thanh, Quách đại hiệp giữ một, cách đây đã gần hai trăm năm. Đến đời thân phụ ta là Thần Điêu Hiệp Lữ mới khắc thêm con chim ưng xòe cánh này, chữ Quách trên cán đao vẫn còn đọc được. Thanh Truy thủ này bị thất lạc đã trên 140 năm, trước khi ta ra đời, nghĩa là ta đã tròn 140 tuổi. Từ thân phụ ta được gọi là Điêu, rồi từ đó kế tiếp tứ linh: Long, Ly, Qui, Phượng. Ta là Long Điêu, con trai ta là Ly Cát, cháu ta là Qui Loan. Con trai ta đã qua đời, y chỉ có một người con gái cũng đã sáu mươi rồi. Cháu gái ta không lấy chồng, họ Dương ta chưa đủ bốn đời đã tuyệt tự, không có người nối dõi tông đường là tội trạng nhất đối với tổ tông.
Nét mặt hồng hào của lão nhân buồn hẳn đi. Một lúc sau như nhớ lại quá khứ xa xăm, ông tiếp:
- Nơi này đã dựng lên từ một trăm bốn mươi năm về trước, và không ai tự ý đến đây khi ta không mời mà còn sống sót trở về . Đó là quy luật của nhà ta từ khi về ở Tuyệt Tình Đàm này. Ta cứu ngươi vì ngươi đã có thể chiến đấu với bầy ong canh giữ nơi này một cách kiên cường, và vì nhất là dòng họ Dương ta đã tuyệt. Đến khi ta phát giác ra ngươi mang trong mình thanh Trủy thủ của Tổ tiên ta, ta càng tin rằng do anh linh của tổ tiên dẫn dắt ngươi về đây để nhận lấy chữ Phượng làm truyền nhân đời thứ năm của nhà họ Dương này.
Trần Nguyên Huân! Nếu ngươi bằng lòng điều kiện ấy, ngươi sẽ được ta truyền lại toàn bộ võ công và thanh kiếm Độc Cô năm xưa, và ngươi sẽ được tự do tung hoành thiên hạ ! Ta không bắt ngươi thay đổi họ tên, mà chỉ muốn ngươi mang thêm hai chữ như một biệt danh của ngươi: Phượng Thánh ! Còn không, ngươi phải chết, dù rằng ta rất quý mến ngươi. Cháu gái ta cũng đã nhận ra thanh Bạch Hạc của người họ Trần mà cháu ta đã từng quen biết năm xưa, y là người trong Bát Đại danh gia, nhưng quy luật của nhà ta, không thể vì tình cảm quen biết mà sửa đổi được !
Nguyên Huân ngồi im lặng, một lúc sau chàng nói:
- Hài tử không phải vì cái chết mà vâng mệnh, nhưng chỉ có một điều còn nặng nợ hai vai, nên làm sao có thể lưu lại?
- Tốt lắm, ngươi chẳng cần lưu lại nơi này lâu ngày đâu. Khi ngươi lạy bàn thờ Tổ tiên họ Dương, ngươi sẽ là Thiếu đàm chủ của Tuyệt Tình đàm; ngươi đi, về là quyền của ngươi. Vậy thì ngươi theo ta!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:19:16 pm » |
|
Trời vừa hửng sáng, tiếng còi vừa rúc lên, đã nghe tiếng trống, chiêng rộn rã, và từ bốn phía, những gia nhân mặc áovàng lũ lượt kéo nhau đến ngôi nhà Từ Đường của nhà họ Dương. Ba chiếc kiệu, mỗi chiếc tám người khiêng, đến trước gian nhà nhỏ. Lão nhân ra hiệu cho Nguyên Huân ngồi lên chiếc thứ ba, trên chiếc kiệu thứ hai đã có sẵn người ngồi lên đó là Qui Loan Cô Cô, bà mặc chiếc áo vàng như những gia nhân của Tuyệt Tìnhh Đàm. Một người nô bộc mang đến trước mặt Nguyên Huân chiếc áo hoa văn màu vàng, cung kính quì dâng lên, chàng hiểu ý mặc vào.
Ba chiếc kiệu dừng lại trước Từ Đường. Thảm hoa trải từngoài cửa Từ Đường dẫn vào trong. Ngôi Từ Đường rộng lớn, các cột đều chạm trổ sưu son thếp vàng lộng lẫy. Chính vị là bàn thờ, che vải đỏ, thêu hình chim Thần ưng và bao quanh là tứ linh Long, Ly, Qui, Phượng. Chiếc màn được vén lên, qua hương đèn khói nhang nghi ngút, những bài được lồng trong khung dát ngọc, thấp thoáng bóng hình...
Lão nhân kính cẩn đứng chính giữa, Qui Loan CÔ Cô đứng phía sau, sau cùng là Nguyên Huân. Tiếng chiêng trống đổ liên hồi, lễ tế tửu bắt đầu, bốn thiếu nữ mặc áo vàng thêu kim tuyến xanh dâng rượu phụ tế. Qua ba tuần rượu, lão nhân quì xuống chiếc gối nhồi lông điểu thử màu vàng óng tay nâng thanh Trủy thủ ngang mày, giọng run run cảm động:
- Hôm nay, trước anh linh Tiên tổ, bất hiếu tôn, tử Dương Long Điêu dâng trình báu vật của Dương gia, đã thất lạc từ một trăm bốn mươi năm trước. Do anh linh Tiên tổ dung rủi đã thu hồi được, và trước tôn quang tổ tiên, Hài tử xin dâng trình con cháu đời thứ năm là Phượng Thánh, do thần ý của Tổ tiên soi sáng đã dung nạp!
Nói xong lão nhân Long Điêu phục lạy tám lạy, để thanh Truy thủ lên chiếc giá khảm ngọc trước bàn thờ đã bốn đời bỏ trống. Chiêng trống lừng vang.
Có tiếng hô vang của người phụ lễ:
- Tử tôn đời thứ năm hành đại lễ!
Lão nhân Long Điêu lui ra, Nguyên Huân quì xuống nhận ba nén nhang từ tay người phụ tế, mắt nhìn thẳng lên bài vị, chàng chấp tay tuyên đọc:
- Hài tôn là Trần Nguyên Huân, vốn người Đại Việt, vì nợ nước hai vai làm trọng, đã bôn tẩu sang Trung Nguyên, được kỳ duyên mà tới chốn này, và được anh linh tiên tổ Dương gia thu nhận, chọn làm truyền nhân đời thứ năm là Phượng Thánh. Trước mặt linh vị, Hài tử xin thề giữ gìn đạo đức, bảo trọng danh dự và trách nhiệm, giữ gìn nếp thơm của Trần, Dương hai họ. Con cái giữ họ Dương đời đời chẳng đổi.
Nói xong chàng lạy tám lạy. Đứng lên, Nguyên Huân tiến lại ghế ngồi của Dương lão nhân, quì lạy ba lạy, hô lớn:
- Hài tôn tham kiến Thái tổ phụ lão nhân gia!
Khuôn mặt Dương Long Điêu rạng rỡ:
- Con hãy đứng dậy!
Nguyên Huân đến trước mặt Qui Loan toan quì lạy, Qui Loan đỡ lên:
- Hài nhi tham kiến CÔ CÔ !
Qui Loan dịu dàng âu yếm nói:
- Ta với gia gia con giao tình rất đậm, đã cùng thân phụ con kết nghĩa huynh muội, thật là trời xanh dung rủi cho có ngày hôm nay !
Nói xong lệ chan hòa, cảm động nói tiếp:
- Khi vừa nhìn thấy con, con giống Trần huynh của ta như đúc vã lại Bạch Hạc kiếm làm sao ta quên được, nên ta nhận ra ngay. Trên hai mươi năm chia cách!
Nói xong, bà lấy vạt áo lau nước mắt.
Dương lão nhân nói lớn:
- Phượng Thánh con, ta tiết lộ cho con điều này. Tổ tiên họ Dương ta xưa kia vốn người Giao Chỉ, nay là Đại Việt. Tô Định cai trị đất Giao Chỉ bạo ngược dưới thời Hán Quang Võ, tổ tiên ta bị bắt giải về Trường An ngày Mã Viện xâm chiếm, từ đó, gần hai ngàn năm vẫn còn nhớ gốc xưa . Trong gia phả nhà họ Dương ta còn ghi rõ. Nay con cũng người Đại Việt sau hai ngàn năm mà tới, thật quả có trời xanh!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:20:07 pm » |
|
Chương 13 Lòng mây trăm mối ngổn ngang Một đêm lửa cháy, Trường Giang quặn buồn. Ngày hôm sau, Nguyên Huân kể tất cả cho Long Điêu và Qui Loan nghe về hoàn cảnh cùng bước phong trần vạn dặm của chàng. Qui Loan kêu lên: -Vậy mà...? Rồi bà âm thầm đứng dậy bỏ đi không nói. Đêm ấy bà thức trắng đêm, lập bàn thờ riêng trong phòng mình, thắp hương lạy và khóc. Bà thức như thế suốt ba đêm, sang ngày thứ tư bà ngã bệnh. Nguyên Huân đến thăm viếng, săn sóc hết sức tận tình, Dương Long Điêu thấy thế rất hài lòng: Từ đấy, không biết có phải vì sự chăm sóc ân cần kia mà Dương Qui Loan xem Nguyên Huân như con đẻ. Những ngày bà đau ốm, bệnh không ra bệnh, chàng viếng thăm sớm chiều, duy có điều chàng phân vân nhưng không dám hỏi, chàng đã nhìn thấy bài vị thờ cha chàng, cùng với nỗi buồn héo hắt trong đôi mắt đẹp của bà. Qua mười ngày, bà có vẻ bình phục, nhưng mái tóc mây của bà bây giờ đã bạc trắng. Dương lão nhân truyền thụ toàn bộ khẩu quyết võ công nhà họ Dương cho Nguyên Huân, ông tận lực chỉ dạy cho chàng, ông nói: - Phượng Thánh, con không đủ thời gian học tập, ta truyền thụ khẩu quyết cho con. Với nội lực hiện có, con sẽ luyện thành công phu của nhà họ Dương ta, kết hợp với võ công của Châu lão tiền bối để lại, ngày ấy con sẽ nhận từ tay ta Độc Cô kiếm, con sẽ trở thành thiên hạ vô địch! Ngừng một lúc, ông tiếp: - Ta có điều này muốn nói với con, con trai ta ngày xưa có thu nhận một tên đồ đệ, y vốn người họ Tiêu của Khiết Đan, sau đổi làm họ Dương, lấy họ cũ làm tên, là Dương Tiêu. Y chỉ là một đệ tử ngoại truyền, chưa được vào chốn này, nhưng sau khi học toàn bộ võ công của Ly Cát con ta, y đã đầu độc sư phụ của y. Đáng lẽ ta không thể để cho y sống đến ngày nay, nhưng vì ta đã có lời nguyền không bao giờ ra khỏi nơi này. Bởi vậy, nếu công việc của con hoàn thành, con hãy mau trở về đây, ta truyền hết nội lực của ta cho con, con sẽ thay ta mà thanh toàn môn hộ, quét sạch cửa ngõ! Nguyên Huân giật mình, thế là chàng đã biết rõ lai lịch của Dương Tiêu. Vậy thì Cửu âm Chân Kinh y đã luyện thành. Châu Bá Thông, lão ngoan đồng tiền bối, ngày về già, kết giao huynh đệ với Thần Điêu đại hiệp Dương Qua và truyền cho Cửu âm Chân Kinh, đến đời Dương Ly Cát, nhận Dương Tiêu làm đệ tử và truyền lại cho y. Vậy công phu âm hàn của y là do từ Cửu âm Chân Kinh mà ra. Dương lão nhân lại nói: - Tuyệt Tình Đàm này cả ngàn năm trước vốn là miệng của Hỏa Sơn, dãy núi này qua nhiều phen biến thiên thay đổi hình dạng, nên nay mới có vách đá phía Nam dựng đứng. Thân phụ ta khi đến đây khám phá ra một mỏ kim cương và hồng ngọc, chính vì vậy mà ta không muốn để bất cứ kẻ nào lạ mặt vào đây, lòng người tham lam sẽ tàn phá tất cả. Nơi này ngoài địa thế vô cùng hiểm yếu, còn có đàn ong hàng triệu con canh giữ. Tuy vậy, vẫn có một con đường ra vào từ hướng Bắc, con đường cực kỳ bí mật, được sắp xếp theo Cửu Cung Bát Quái trận đồ, ta phải chỉ dẫn cho con mới được.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:20:44 pm » |
|
Từ đó, ngoài buổi học khẩu quyết võ công, tôi luyện nội công tâm pháp, học cách điều khiển đàn ong, chàng theo Dương lão nhân quan sát, xem xét địa hình, kể cả những nơi tuyệt mật của dòng họ Dương. Hai tháng đã trôi qua, Nguyên Huân nghĩ đến trách vụ nặng nề đang chờ chàng, chàng xin phép Dương lão và Cô Cô để ra đi. Dương Long Điêu khảo hạch tất cả những gì đã truyền thụ cho chàng lần cuối, và ông chấp thuận để chàng lên đường.
Riêng Qui Loan Cô Cô thì hết sức âu lo khi biết chàng đơn độc đối phó với những hiểm nguy bất trắc, và nhất là việc tương lai chàng sẽ không tránh khỏi, đó là phải trừ khử Dương Tiêu, kẻ giảo hoạt, thế lực tuyệt cao và võ công của y gần như không ai thắng nổi. Bà biết rõ bản lãnh Dương Tiêu, cha bà đã truyền thụ cho y toàn bộ công lực của ông, Nguyên Huân không thể là địch thủ của gã, ngay chính bà vị tất đã là đối thủ của Dương Tiêu, y hấp thụ toàn bộ Cửu Âm Chân Kinh, mà trong đó vì có một số chiêu số quá độc ác bà đã không luyện tập. Người duy nhất có thể khuất phục y, ngoài Nội tổ của bà, là một người họ Trương, ngoài ra chẳng còn ai. Trần Nguyên Lữ của bà đã chết trong tay y bây giờ đến lượt con trai của chàng. Bà dặn dò Nguyên Huân từng chút một, từng li từng tí, nhưng bà vẫn chẳng thể làm cho mình an tâm.
Nguyên Huân quỳ lạy Dương lão nhân gia và lên đường, Qui Loan đưa Nguyên Huân đến tận nơi mà tại đó bà đã thề không bao giờ bước thêm một bước để vượt qua từ mười lăm năm nay. Nguyên Huân giống cha như tạc, lòng bà quặn đau nhớ đến những hình ảnh và kỷ niệm đã xa vời trong quá khứ mà bà đã cố quên và đã chẳng thể quên.
Nguyên Huân biết Cô Cô thương mình, và chàng cũng mơ hồ thấu hiểu được từ ngày nhìn thấy bài vị của cha trong phòng bà, khi nghe chàng thuật lại thân thế và cái chết của cha chàng. Chàng cầm tay bà, quỳ xuống từ giã, Cô Cô ôm lấy chàng. Tự dưng chàng thấy bà như một người mẹ và chàng xúc động. Chàng lớn lên không biết mặt cha mẹ, chàng đã khao khát tình mẫu tử, khao khát sự dịu dàng, vỗ về mà chàng chỉ có trong giấc mơ, trong nỗi xúc động, chàng khẽ gọi bà, như trong những giấc mơ thuở thiếu thời:
- Mẹ, mẹ của con!
Dương Qui Loan nghe được tiếng gọi ân cần kia, nỗi đau buồn suốt cả một đời, bỗng dưng một phút tiêu tan như bọt nước.. "Ôi, con ta, con ta... con của chàng... ?"
Bà ôm đầu chàng vào người thì thầm:
- Nguyên Huân! Con của mẹ, con yêu thương của mẹ!
Trong suốt đời bà, bà khao khát có bấy nhiêu. Bốn mươi năm trôi qua trong đời bà, kể từ ngày còn là cô gái áo vàng đi lại trong võ lâm, kể từ khi bà gặp người con trai Đại Việt đó một Vương gia của Trần triều Đại Việt phương Nam, từ ấy suốt đời bà không còn thấy ai có phong cách hào hùng, uyên bác và anh tuấn hơn chàng. Bà khao khát có với chàng một người con, nhưng bà không thể có. Bà đã có cùng chàng tám năm trong hạnh phúc và ba mươi hai năm chia lìa, bây giờ tóc bà đã bạc, và chàng không còn trên cõi đời này nữa, thì giờ đây, niềm ao ước suốt bốn mươi năm kia mới hình thành, con trai duy nhất của chàng, và giờ đây là con của bà, đứa con trai như chính bà sinh ra:
- Huân nhi, con của mẹ, con đừng để mẹ lo lắng, con phải trở về cùng mẹ , mẹ . . .!
Nguyên Huân xúc động, chàng như thấy chính mẹ chàng vẫn còn sống trên đời, và đích thực tự trong tâm hồn chàng, bà là mẹ của chàng:
- Mẹ, con xin hứa, con sẽ về cùng mẹ!
Nói xong, chàng nhảy vút ra khỏi tay bà, chàng không muốn mẹ chàng khóc vì âu lo cho đứa con vừa gặp lại với khoảng thời gian đoàn viên thoáng chốc, chàng không muốn nhìn những giọt nước mắt vì chàng mà lả chả...
Phải hai tháng trời, Nguyên Huân mới đi qua khỏi dãy núi ngăn cách Bắc Nam. Đương dài còn trước mặt. Từ Ứng Thiên phủ, ngày ra đi đã năm tháng qua, mà đoạn đường đến Yên Kinh còn dằng dặc. Hai mươi ngày sau, chàng đến bờ Hoàng Hà, con sông lớn thứ hai sau Trường Giang chảy ra biển Hoàng Hải. Cứ xuôi theo dòng sông này chàng sẽ đến Yên Kinh, dòng sông chảy qua cực Bắc của tỉnh Hà Nam, một phần của Sơn Đông và đổ ra cửa biển. Từ đấy chàng phải đi một khoảng mấy trăm dặm nữa mới đến được Yên Kinh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Mathew1990
Thành viên

Bài viết: 841
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 01:21:26 pm » |
|
Trên suốt đường đi, chàng cố tránh không can dự gì đến chuyện ân oán của võ lâm Trung Thổ dù chàng đã chứng kiến sự thanh toán đẫm máu trong nội bộ Cái Bang, chàng đã chứng kiến những bạo tàn của quan lại triều Minh đối với thần dân của họ, và những cướp bóc, hãm hiếp, cả những khốn khổ của người dân gây ra bởi hai đạo võ lâm Hắc, Bạch. Nguyên Huân dừng lại đợi chuyến đò xuôi vào chiều ngày mai, chàng thuê một căn phòng trong thị trấn sát bờ sông. Thị trấn Tam Lư trên hữu ngạn Hoàng Hà là một thị trấn sầm uất, thương thuyền xuôi ngược tấp nập. Các thương thuyền ngược xuôi Hoàng Hà phải đợi ra đi từng nhóm, và phải thuê các tay võ lâm hảo thủ làm nghề bảo tiêu, vì trộm cướp trên sông nước Hoàng Hà xảy ra thường xuyên. Buổi chiều nay, chàng lang thang trong phố để tìm hiểu sinh hoạt nơi thị trấn cận giang này. Chưa đi được mấy con đường thì bỗng nhiên cả thị trấn nhốn nháo hẳn lên bởi tiếng tù và rúc lên u u và tiếng vó ngựa phi rầm rập. Chẳng nhẽ giữa ban ngày mà bọn cướp lộng hành đến thế ?! Nhưng chỉ một lúc sau chàng đã biết là triều đình đang chuyển quân. Bọn kỵ binh, bộ binh đông như kiến cỏ đang di chuyển vềhướng tây, binh lính rùng rùng kéo đi làm bụi bốc lên mù trời, tiếng vó của hàng chục ngàn con tuấn mã khiến mặt đất rung chuyển. Cũng may đại quân kéo đi cách thị trấn khoảng chừng hai dặm về hướng nam. Nguyên Huân tự nghĩ, hẳn phải có cuộc biến động gì mới khiến triều đình điều động một đạo quân lớn như thế. Dân chúng xôn xao, thì thầm bàn tán, trên khuôn mặt của người dân thị trấn chợt hằn nổi âu lo.. Cứ mỗi lần có binh biến, thuế má nặng nề lại dồn dập đổ lên đầu đám lê dân nghèo khó. Chiều hôm sau đoàn thuyền nhổ neo xuôi dòng, đi đầu là một con thuyền lớn, nối tiếp theo là dòng thuyền trên ba mươi chiếc, đi cách bờ chừng hai mươi trượng, những cánh buồm lớn kéo lên căng gió . Thuận dòng nên cả đoàn thuyền đi băng băng.. Trên khoang con thuyền lớn dẫn đầu, một bọn hảo hán chừng tám, chín người đang quây quần bên những vò rượu dưới ánh trăng thượng tuần. Tiết trời đang vào thu, gió mát từ mặt sông rộng lồng lộng thổi ngập thuyền, mặt nước lấp lánh dưới ánh trăng mênh mang huyền ảo, không gian tĩnh mịch. Nguyên Huân ngồi ngay đầu mũi thuyền, cách đám hảo hán chừng một quảng ngắn. Chàng ngồi im ngắm vẽ đẹp của Hoàng Hà mênh mông dưới ánh trăng dịu dàng. Sóng vỗ vào mạn thuyền như ru ngủ. Ngoài đám hảo hán đeo kiếm trên lưng đang ăn uống, nói cười, có lẽ là bọn bảo tiêu do đoàn thuyền thuê mướn, còn có hai người đàn ông và một cô gái ngồi dựa mạn thuyền; cô gái này chàng đã thấy buổi chiều lúc lên thuyền, khoảng chừng mười chín,. đôi mươi, có đôi mắt sáng, gọn gàng trong bộ võ phục màu xanh dương, lưng đeo một thanh trường kiếm. Cô gái nằm gối đầu lên bọc hành lý, thanh gươm để sát cạnh xuôi theo thân người. Hai lão già vẻ người quắc thước ngồi gần về phía chàng đang to nhỏ nói chuyện. Tuy họ nói nhỏ, nhưng thính lực chàng rất cao nên vẫn nghe rõ. Lúc đầu chàng không muốn tò mò nghe chuyện người khác, nhưng đến khi họ nói đến cuộc chuyển quân ngày hôm qua Nguyên Huân chú ý lắng nghe.. Một người nói: - Bọn Ngõa Thích hưng binh làm phản, lần này Triều đình lúng túng lắm! Một giọng trầm hơn cất tiếng hỏi: - Lão huynh nói lúng túng là thế nào? Chỉ cần đưa một đạo binh tiểu phạt thì đâu lại vào đó thôi! - Sao lại không lúng túng. Phía Nam dân Đại Việt rùng rùng nổi lên, quan quân không lúc nào yên. Trên một mảnh đất Đại Việt nhỏ bé như thế, mà có đến hơn mười cuộc khởi nghĩa dấy. lên cùng một lúc. Tổng binh đại nguyên soái Lý Bân bị giết chết, nhưng nói thác đi là chết bệnh, Trần Trí phải lên thay, triều đình không còn tướng tá nào khác! - Binh của Thành Tổ dư trăm vạn, tướng giỏi có ngàn viên, sao lão huynh lại nói là không còn ai . - Hừ! Chỉ toàn là một lũ vô dụng, ức chế dân lành thì giỏi, vơ vét thì tài, mãnh tướng gì chúng nó. Còn quân, dẫu có dư trăm vạn thật, nhưng có phải là gom được cả đâu, trấn đóng các nơi, thì trăm vạn nào có là gì! - Lão huynh nghĩ sao không biết, chứ cứ theo ý.của đệ thì Đại Việt là cái xương khó gặm, nhả quách cho rồi! - Hà ! Đó bởi lão đệ không phải là Hoàng Đế đó thôi, chứ Đại Việt là miếng mồi ngon lắm đấy, nhưng nuốt trôi được hay không thì lại là đằng khác. Giống dân ở phương Nam này cương cường lắm, đàn bà cũng mấy phen đấy nghĩa làm vua. Lão đệ còn nhớ hai câu thơ thời Hậu Hán không: Hoành qua đương hổ dị
Đôi diện Vương bà nan.
(Múa giáo diệt hổ dễ
Chống vua Bà khó thay. ) [/i]
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|