Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:18:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nam thiên nhất tuyệt kiếm - Trần Phiên Ngung  (Đọc 82773 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #110 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 05:55:30 pm »

Giữa đám đông vây quanh, một thiếu phụ tuổi chừng trên bốn mươi, tuy ở tuổi trung niên, nhưng nhan sắc của bà còn tuyệt đẹp. Thiếu nữ đi cạnh bà giống bà như đúc, tuổi nàng khoảng mười sáu, mười bảy. Cả hai, trang phục thật giản dị, nhưng không những không làm mất đi vẻ xinh đẹp, mà như còn tăng thêm nét ôn nhu, nhân hậu. Nguyên Huân nhận thấy người thiếu nữ đi bên cạnh trung niên thiếu phụ kia, có rất nhiều nét giống Uyển Thanh của chàng, nhưng gương mặt và đôi mắt dịu dàng của nàng thuần hậu hơn Uyển Thanh.

Một ý nghĩ thoáng qua trong óc chàng, chưa kịp hình thành, thì đã nghe tiếng vó ngựa dồn rập và tiếng roi nẹt đường cùng với tiếng quát tháo, thoáng đã đến gần. Đám đông đang nói cười bỗng chốc không còn một bóng người, cả dãy phố lặng ngắt. Nguyên Huân chưa kịp ngạc nhiên thì trước mắt chàng, bảy, tám người trên lưng ngựa đã hiện ra. Người dẫn đầu là một thanh niên tuổi chừng hai mươi, ăn mặc diêm dúa, tóc cột cao phía sau bằng một dải lụa màu xanh biếc, xõa xuống sau lưng, một con bướm được kết bằng những viên ngọc lóng lánh điểm trên búi tóc, sau lưng đeo một thanh trường kiếm. Y vận y phục màu vàng, trước ngực thêu một cặp chim loan, phượng bằng kim tuyến. Bảy người trên ngựa theo sau đều là những võ tướng, kim khôi, giáp trụ, trang bị đao thương .kiếm kích.

Thanh niên gò cương ngựa, đôi mất âm hiểm, dâm đảng nhìn khắp trước khi nhảy xuống mình ngựa, bọn võ tướng vội vả xuống theo. Tay vung vẩy chiếc roi ngựa, y bước đến trước mặt người thiếu phụ và thiếu nữ.
Thiếu phụ bước tới một bước vòng tay nói:

- Tiện thiếp kính chào Thái tử!

Gã thanh niên cũng chào đáp lại:

- Không dám, xin kính chào Vương phi và Quận chúa!

Vị Quận chúa là thiếu nữ xinh đẹp, nghiêng mình chào nhưng không nói gì, vẻ mặt nàng không được vui.

- Hôm nay Quận chúa có gì không được hài lòng vậy!

- Điện hạ thứ cho tiện nữ, chắc vì đi bộ mệt nên vẻ mặt biếng vui vậy thôi!

Vương phi đỡ lời, rồi quay nhìn con gái:

- Hoài Nam, con ra mắt Thái tử đi chứ!

Hoài Nam Quận chúa thoáng cau mày, cúi đầu nhỏ nhẹ:

- Xin ra mắt Điện hạ!

Thái tử long lanh ánh mắt, cười toác miệng:

- Không dám, Quận chúa mạnh khỏe chứ!

- Xin cảm ơn Điện hạ!

Tám người dẹp đường cho Vương phi lúc nãy cũng biến mất, thì ra họ chỉ là những thường dân, thấy bóng hung thần nên sợ hãi lãng tránh. Đệ lục Thái tử Chu Nguyên Khánh được Thành Tổ cưng chìu nên tự do hoành hành, tác oai tác quái không coi Vương pháp vào đâu, dân chúng kinh thành xem y không khác gì hung thần ác sát.

Chu Nguyên Khánh nhìn Vương phi:

- Ta đã thưa với Vương phi nhiều lần, là không nên ra phố một mình. Vương phi cùng Quận chúa lại còn đi bộ như thế nữa, làm cho bọn dân đen nhơ bẩn kia lờn mặt. Nghe tin, ta vội vã đến đây để bảo vệ Vương phi và Quận chúa đó!

- Xin tạ ơn Thái tử. Hôm nay là ngày Vọng, mẹ con thiếp đi chùa dâng hương cúng Phật, mà đối với Phật
Tổ, ai cũng như nhau, nên không dám nghênh ngang xe ngựa!

- Cũng phải khác nhau chứ, ta với Đức Phật cũng như anh em, ông ta ngày xưa là Thái tử, ta cũng là Thái tử. Nhân tiện, cũng ghé thăm ông Phật một chút, nên xin được tháp tùng Vương phi!

Vương phi sợ hãi, không biết nói gì. Đang vênh vang, tự đắc Chu Nguyên Khánh bỗng cau mày quát lớn:

- Thằng dân đen chó chết kia, mi không còn muốn sống nữa rồi! Lôi cổ hắn lại đây, ta dạy cho hắn biết phép tắc của bản triều!

Vương phi và Hoài Nam cùng quay lại, và nhìn thấy một thiếu niên đứng cách đó không xa. Biết bản tính tàn ác của Chu Nguyên Khánh, mặt Hoài Nam tái đi vì sợ. Riêng Vương phi, vừa nhìn thấy chàng trai, bà giật mình. Bà nhíu mày cố nhớ lại, nhớ lại một cái gì mà bà chưa kịp hiểu là mình muốn nhớ điều gì, chỉ biết là nó vừa thoáng hiện trong trí bà như sau một đám mây mù.

Nguyên Huân, vì tò mò, nên đáng lẽ bỏ đi như mọi người, thì chàng lại đứng tại chỗ dõi theo câu chuyện giữa Vương phi và đám người ngựa sang trọng, quên mất lẻ hơn thiệt, phiền phức, đến khi nghe tiếng quát của Đệ lục Thái tử Nguyên Khánh, Nguyên Huân mới biết mình đã quá khinh xuất Thật ra, đối với chàng, Nguyên Huân thật chẳng coi gã Thái tử hống hách, ngu xuẩn kia ra gì, kể cả bảy tên võ tướng. Nhưng như thế, tất phải xảy ra việc động thủ, gây trở ngại cho công việc của chàng sắp tới, do đó, Nguyên Huân quyết định nhịn nhục.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #111 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 05:56:13 pm »

- Kẻ tiện dân bấy lâu nay nghe uy danh Thái tử, bởi nay tình cờ được gặp, được thấy "dung nhan" nên sung sướng mà quên quỳ lạy, mong Thái tử lượng thứ cho!

Trong ánh mắt thương xót lẫn lo sợ của Hoài Nam, giờ bỗng thay bằng tia nhìn thương hại, nếu không muốn nói là khinh bỉ, nhưng rồi nàng cũng hiểu và thông cảm cho thân phận của người dân, vì mạng sống mà phải làm những điều trái với lòng mình. Chu Nguyên Khánh, thông thường được bọn thuộc hạ vây quanh tâng bốc, nay lại gặp dịp được một tên dân nịnh hót trước mặt người đẹp, y đổi giận làm vui, y múa roi ngựa vun vút trên đầu chàng, lấy giọng oai nghi:

- Tên dân ngu xuẩn kia, đã biết uy danh của ta, lại biết lỗi mình ngu muội. Ta tha cho, cút đi!

Nguyên Huân vái ba vái, rồi đứng lên đi thẳng. Vương phi nghĩ thầm: "Thiếu niên này ta thấy gương mặt quen thuộc lắm, nhìn phong thái con người y, ta chắc y xuất thân không phải tầm thường. Y dùng chữ "dung nhan" thật mỉa mai và đúng nữa. Chữ này dùng để chỉ nhan sắc đàn bà, con gái; một là y ngu dốt, hai là y cố tình châm biếm?"

Vương phi nghĩ thế, và quay nhìn Thái tử, nói:

- Mẹ con thần thiếp đi bộ, chẳng dám vô lễ để Thái tử cùng đi bộ theo, xin Thái tử đến trước dâng hương,
thần thiếp cùng hài nữ xin đến sau một bước!

Chu Nguyên Khánh nghĩ đến đoạn đường từ đây cho đến Châu thành phía Bắc, nơi Sơn Quang Tự tọa lạc, đường xa, mà đi bộ y không quen, cưỡi ngựa đi kèm thì khiếm nhã với người đẹp, nên y vui vẻ nói:

- Vương phi nói cũng phải, để ta đến trước sắp xếp cho Vương phi và Quận chúa dâng hương cúng Phật!
Nói xong, đôi mắt hấp háy nhìn Hoài Nam Quận chúa bằng ánh mắt say mê, rồi nhảy lên ngựa phóng đi.
Hoài Nam nói với mẹ :

- Thưa mẹ , quay về đi !

- Con không muốn nhìn thấy y làm nhơ bẩn cửa Phật, để đến kỳ sau vậy; vã lại Bảo Thư hôm nay khó ở,
con muốn quay về!

Vương phi ngẫm nghĩ rồi gật đầu, nói:

- Thôi, ta về ! Phật Tổ cũng hiểu mà tha thứ cho mẹ con ta ?

Hìnhh ảnh Hoài Nam Quận chúa bám mãi trong đầu óc Nguyên Huân. Suốt đêm ấy chàng thao thức. Có một điều gì đấy lờ mờ, ẩn hiện trong ý nghĩ của chàng. Khuôn mặt của Hoài Nam và Uyển Thanh. Và Vương phi, Vương phi nào? Người đàn bà kia là vợ của vị Vương gia nào trong Triều đình của Vĩnh Lạc Hoàng đế?

Chàng ngồi dậy, mở toang cửa sổ. Từng cơn gió lạnh buốt như kim châm lùa vào phòng. Phố xá chìm trong
yên tỉnh, chìm trong ánh sáng trắng đục lạnh lẽo. Đột nhiên, trong cái tĩnh mịch của đêm đông, chàng vừa thoáng nghe có tiếng chéo áo phất nhẹ trong khí lạnh. Ai đã xử dụng khinh công đi lại vào lúc này? Nhất là đêm nay trời vẫn sáng vì có trăng rằm, tuy bị những đám mây xám phủ kín bầu trời, nhưng đêm rằm vẫn sáng bàng bạc một màu sữa đục.

Một thoáng suy nghĩ, Nguyên Huân tung người qua cửa sổ vượt lên mái nhà. Cách chàng một quãng xa, một bóng mờ vút đi dưới ánh trăng khuya, chàng tung người đuổi theo. Với bộ võ phục màu vàng, hòa vào ánh trăng chiếu nhờ nhờ, thân pháp chàng phóng vút như một mũi tên; khoảng cách mỗi lúc một gần, nhưng rồi, tuy đã vận hết cước lực, chàng vẫn không rút ngắn thêm khoảng cách.

Bóng trắng vút về hướng Bắc, về hướng Sơn Quang Tự, rồi mất hút trong những tàn cây của ngôi đại tự cổ kính. Còn đang ngơ ngác, thoáng nghe tiếng gió phía sau, biết có người tập kích, nhanh như chớp, Nguyên Huân xoay mình lại, cùng lúc, đầu một ngọn roi như rắn mổ từ dưới bóng tối của tàn cây đánh đến.
Đầu roi chưa tới mà kình lực đã ập đến phong tỏa các huyệt đạo trên nhân mạch của chàng.

Không chậm trễ, chàng vận Hỏa Vân công, phối hợp Nhật Nguyệt Tam hóa Thần công, giở Triệt Di thủ pháp hóa giải và phản công tức khắc. Thân ảnh chàng như bóng mờ, xuyên qua đảo lại trong trùng trùng bóng roi, kình lực của ngọn roi mỗi lúc một tăng thêm, tiếng roi rít ngược và mổ xuống nhắm vào các tử huyệt trên người chàng, đường roi như chẳng biết dung tình, liên tục tấn công không dứt. Nguyên Huân vận thêm nội lực, hai bàn tay chàng như biến theo muôn vạn đầu roi, chụp, bắt, búng, đẩy, xô, cuốn... dần dần đường roi như giảm hẳn uy thế.

Từ khi bước chân đi lại chốn giang hồ, lần đầu tiên chàng gặp phải một cao thủ đáng sợ như vậy. Nếu không có thời gian công phu quý báu ở Tuyệt Tình Đàm, và nhất là Tý lực của chàng sau những ngày luyện kiếm dưới thác nước, chắc chàng không thể nào địch nổi với đường roi hiểm ác này.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #112 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 05:56:53 pm »

Thoắt chốc, hai bên đã giao thủ đến ba, bốn trăm chiêu, vẫn không kềm chế nhau được. Đường roi rút ngắn dần, càng ngắn, kình lực càng mạnh thêm. Bấy giờ, Nguyên Huân đã nhận ra đối thủ của chàng có một thân hình nhỏ nhắn, mặc bộ dạ hành tuyền trắng, mặt bịt một vuông khăn cùng màu, do vậy, cả thân người như chìm lấp trong không gian màu sữa. Như muốn dứt điểm, bóng người đổi thế công, đầu roi quái dị mổ đến như cùng lúc từ cả ba hướng, tả, hữu và trực diện khiến Nguyên Huân phải lui lại một bước. Bỗng nhiên áp lực đột ngột biến mất, ngọn roi đã thu gọn trong tay của đối thủ .

- Mô Phật! Công lực của Trần thí chủ tăng tiến đến thế là cùng!

Bóng trắng vừa nói vừa cởi chiếc khăn bịt mặt.

- Sưthái!

Nguyên Huân mừng rỡ reo lên. Tâm Hư sư thái mỉm cười:

- Mấy hôm nay, ta thấy Thiếu hiệp qua lại Hoàng thành mấy lần. Ban ngày không tiện gặp nơi tửu lầu, nên đêm nay có việc ngang qua đây, muốn thử công phu Thiếu hiệp một phen. Thật quả võ công của Thiếu hiệp tăng tiến nhanh thật, ta không ngờ đấy!

Nguyên Huân vòng tay thưa:

- Đa tạ Sư thái quá khen!

Tâm Hư nói:

- Bần ni đến đây đã trên nửa tháng rồi, ngụ tại ngôi Sơn Quang Tự này. Mời thí chủ quá bộ ghé lại, ta có vài việc muốn nói!

Nguyên Huân theo Sư thái vào khuôn viên ngôi cổ tự bằng lối sau. Trời bắt đầu sáng dần. Một lát sau, Tâm Hư sư thái trở lại trong bộ đồ tu hành:

- Thiếu hiệp ăn, ở nơi sang trọng thật!

Nguyên Huân ngượng ngùng thưa:

- Bạch Sư thái, chẳng qua là vạn bất đắc dĩ, mong Sư thái hiểu cho!

Tâm Hư cười, nói:

- Ta có trách móc gì thí chủ đâu. Chỉ vô tình nói thế thôi, Thiếu hiệp đừng quan tâm nhé !

Nguyên Huân hỏi:

- Công việc của Sư thái đã xong chưa?

Tâm Hư nhìn ra ngoài trời, ngàn cây đẫm hơi sương lạnh lẽo, không gian cô tịch.

- Bần ni có chút việc riêng của bản phái, mà trên ba mươi năm bần ni bôn tẩu khắp thiên hạ vẫn chưa hoàn thành được; Suốt dãy Hoa Nam, Hoa Bắc, Tứ Di, nội, ngoại thành, đế tâm nghe ngóng, tìm kiếm không ngừng kể từ ngày trao chức Chưởng Môn cho Sư muội đến nay, vậy mà vẫn tuyệt âm vô tích!

Nguyên Huân e dè hỏi:

- Sư thái tha lỗi cho vãn bối tò mò . Chẳng hiểu Sư thái có thể cho vãn bối giúp ích gì được chăng?

- Việc này cũng không có gì bí mật cả. Ngày xưa trên giang hồ xuất hiện hai báu vật. Đồ Long đao và Ỷ Thiên kiếm, vốn do Quách đại hiệp tạo thành bởi khối Huyền thiết trong Thủy động, và là nơi cất giấu hai báu vật giang hồ cũng do Quách đại hiệp tìm được, một là bộ Cửu âm Chân kinh, chép trên tấm da người của xác đồng Trần Huyền Phong, đã vô tình lọt vào tay đại hiệp ngày đại hiệp còn ở sa mạc Mông Cổ. Hai là bộ Vũ Mục Di Thư, do Vũ Mục Nhạc Phi, một danh tướng của Tống triều trước tác, sau Nhạc Phi bị giết bởi tay Tần Cối. Di Thư sau đó lọt vào tay Thiết Chưởng bang của Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cửu Thiên Nhân, và được cất giữ trong thánh địa bất khả xâm phạm của bang Thiết Chưởng; đó là một hang động dùng làm nơi tọa diệt của các đời Bang chủ. Hang động đó nằm ở đốt thứ ba của ngọn núi chính trong năm ngọn núi có thế dựng đứng như bàn tay, nên gọi là Chưởng Phong Sơn, hay Thiết Chưởng Sơn cũng vậy.

Tổ sư bản phái Quách Tường, vốn là con gái của Quách Hoàng nhị hiệp, nên báu vật này là báu vật trấn sơn của Nga Mi. Hiện nay Vũ Mục Di Thư không biết mất về phương nào. Trước đây, Giáo chủ Minh giáo, người họ Trương, đã thu hồi được Vũ Mục Di Thư và trao cho Từ Đạt, Từ Đạt nhờ vào Di thư trở thành danh tướng, đánh đâu thắng đấy, phò Chu Nguyên Chương dựng nên nhà Minh, vì họ Chu vốn là người của Minh giáo. Sau khi Từ Đạt bị sát hại, bộ Di Thư không biết lạc về đâu.

Khi Sư phụ còn sống, người bắt ta làm xong bốn điều, là thu hồi được báu vật về cho Nga Mi. Trong ba mươi năm qua, ta mới làm xong được một. Ba việc còn lại, một là Vũ Mục Di Thư, hai là Đồ Long đao đã được Nhan Bổn năm xưa hàn lại, ba là ỷ Thiên kiếm, đã bị gãy lìa. Nay bần ni biết Thiếu hiệp mưu toan xâm nhập Thư khố và Ngự thư phòng tìm kiếm Bí Kíp của tổ tiên, ta cũng muốn nhân cơ hội này, chúng ta cùng liên thủ tìm kiếm, thí chủ nghĩ sao?

Nguyên Huân đáp:

- Xin Sư thái cứ tin vào vãn bối, nếu trong lúc lục soát Thư khố hoặc trong Ngự thư phòng, vãn bối phát giác được Di Thư Vũ Mục, thế nào cũng thu hồi về cho quý phái!

Tâm Hư nói:

- Bần ni thay mặt bản phái Nga Mi tạ ơn Thiếu hiệp!
- Xin Sư thái đừng nói vậy, đó là bổn phận trong võ lâm mà thôi!
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #113 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 05:57:42 pm »

Chương 17
Ngổn ngang dạ đất, lòng trời
Ngẩn ngơ bóng cá, tơi bời dáng chim.

Từ hôm gặp Quận chúa Hoài Nam, lòng Nguyên Huân không lúc nào không nghĩ đến nàng, nhất là đôi mắt. Chàng cũng không hiểu tại sao, cố xua hình ảnh nàng ra khỏi tâm trí thì đôi mắt ấy lại càng hiện ra rõ rệt, như một ám ảnh dịu dàng. "Sao ta lại có thể như thế này, ta thực chẳng đáng làm người nữa. Trách nhiệm ta chưa thành, Tổ quốc ta còn quằn quại dưới gót chân bọn xâm lược, thì ta, ta lại đem lòng tơ tưởng đến một người con gái của kẻ thù. Biết đâu nàng chẳng là bà con cật ruột với một trong những tên tướng giặc đang dày xéo Giang sơn, Tổ quốc ta...

Không, ta không thể như thế, không thể phản bội Uyển Thanh của ta được, dẫu là trong ý nghĩ..."
Nguyên Huân tự sỉ nhục mình mỗi khi chàng thoáng bắt gặp chàng, như đang nhớ, đang đắm chìm vì đôi mắt ấy.

Một buổi, Nguyên Huân gọi A Thực vào phòng, móc túi cho y hai lạng bạc, A Thực cúi đầu tạ ơn, và nhìn chàng nói:

- Công tử có điều gì dạy bảo, xin cứ nói, tiểu nhân, dẫu việc khó đến đâu cũng chẳng từ nan!

Nguyên Huân cười nói:

- Ta không nhờ ngươi việc chi khó khăn lắm đâu. Ta thấy ngươi đối với ta có lòng nên giúp ngươi chút đỉnh, để thêm vào chi phí cho vợ con ngươi đó mà!

- Tấm lòng của công tử đối với tiểu nhân dẫu chết cũng chẳng quên. Mấy bữa nay công tử đi chơi có gì vui không?

- Ta đi thăm mấy chốn danh lam thắng cảnh, vì chẳng mấy khi về Kinh đô. à, hôm nọ, ta có gặp một trung niên thiếu phụ tuyệt sắc, và một thiếu nữ đi cùng bà cũng đẹp không kém. Cả hai người ăn mặc giản dị, nhưng dân chúng thì tỏ ra quý trọng vô cùng. Hình như đó là thê thiếp của một vị Vương nào trong triều thì phải?

A Thực tươi hẳn nét mặt vì có cơ hội tỏ sự hiểu biết của mình, tuy vậy cùng lúc y nghĩ nhanh trong đầu: "Chàng công tử chắc hẳn mê cô Quận chúa mất rồi, thể nào ta gạ đưa mỹ nữ đến cũng chẳng thiết." Y giải thích cho Nguyên Huân nghe một hơi:

- Bọn con Vua, cháu Chúa, Vương tôn công tử, thê thiếp những nhà đại gia quyền quý ở đất Yên Kinh này ai chẳng ăn diện, trang điểm. Người mà công tử hỏi đó là Vương phi và Quận chúa của Quang Minh Vương phủ. Nghĩ cũng thật lạ, Pháp Vương quyền khuynh thiên hạ, lại vô cùng ... vô cùng... khắc nghiệt, thế mà Vương phi và Quận chúa lại là những người hết sức nhân hậu và bình dị. Công tử chắc hẳn chưa biết, Vương phi nổi tiếng ở đất Yên Kinh này là đệ nhất mỹ nhân đấy, dẫu bà đã trên bốn mươi rồi. Còn Quận
chúa nhan sắc đang vừa độ, đẹp chẳng kém mẹ bao nhiêu, công tử cũng đã nhìn thấy rồi, tiểu nhân chẳng cần phải xưng tụng nữa. Ấy, công tử biết không, đệ lục Thái tử say mê Quận chúa Hoài Nam, đeo đuổi bao nhiêu năm, nhưng Quận chúa chẳng đoái hoài; cũng may là Dương Vương quyền uy nghiêng trời, võ công lệch đất, nếu không úy kỵ thì đời nào Thái tử chịu lụy. Thái tử mà để ý đến ai, thì đừng hòng thoát khỏi, dẫu người ta có chồng hay chưa chồng...
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #114 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 05:58:18 pm »

Nguyên Huân ngắt lời tên tửu bảo lắm chuyện:

- Cảm ơn A Thực, ta hỏi cho biết vậy thôi, vì một vị Vương phi và Quận chúa mà ra phố, đi bộ, ăn mặc giản dị như thế, thật là cổ kim hiếm thấy. Ta nghĩ có thể Hoài Nam Quận chúa... Đang nói, Nguyên Huân thết nhiên im bặt nửa chừng. Chàng giật mình nhớ lại, trước hôm chàng lên đường, Đoàn lục thúc có nhắc đến người vợ yêu dấu của ông đã bị kẻ thù bất mang đi biệt tích. Đó là một thiếu phụ xuân sắc ở độ tuổi hai mươi lăm, một " Tây Bắc đệ nhất mỹ nhân". Có thể nào Vương phi chính là Thúc mẫu của chàng, là mẹ của Uyển Thanh?, và Hoài Nam cũng chính là đứa con của bà và Lục thúc? Ngày hai người xa nhau là ngày bà đã hoài thai. Và Hoài Nam, Hoài Nam, nhớ phương Nam. Phải rồi, một cái tên mang nổi nhớ về một phương trời.

Nguyên Huân sung sướng khi chàng hiểu ra được nguyên nhân vì cớ sao mà người thiếu nữ này đã làm thao thức tâm trí chàng như vậy, chính vì dung mạo của nàng phảng phất hình ảnh của Uyển Thanh, đôi mắt và khuôn mặt.

Giờ đây, làm sao để có thể gặp được bà? Chàng không thể đường đột đến tìm bà nơi Vương phủ, và bà, liệu bà có còn nhớ gì đến quê cha đất tổ, đến chồng, con nữa không? Hay vì được sống trong nhung lụa, quyền uy mà quên hết mọi sự! Chàng buồn lòng tự hỏi.

Nhưng Hoài Nam, Hoài Nam? Nỗi nhung nhớ về một phương trời đã xa vời vợi, nỗi xót xa nung nấu từng tháng, ngày, đã bật thành tiếng gọi trên môi? Và bà vẫn còn là bà của lúc này? Ngày bà đặt tên cho con, cách đây đã mười sáu mười bảy năm, bây giờ nỗi nhớ ấy có còn chăng, hay đã nhạt phai, " Ô không, chàng nghĩ, Thúc mẫu sống trong quyền uy nhung lụa, nhưng chính mắt ta, ta đã thấy bà dung dị, giản đơn biết là chừng nào. Chẳng gấm vóc, trang sức, chẳng ngựa xe võng lọng. Một vị Vương phi ra phố, đi bộ để gần gũi đám dân đen. Một tâm hồn, một con người như thế, chẳng thể nào đổi thay được". Nguyên Huân bỗng thấy lòng mình nhẹ nhõm.

Và như thế, Hoài Nam chính không chừng lại là em gái cùng cha, cùng mẹ với Uyển Thanh; nhưng ở Hoài Nam, nàng có đôi mắt ôn nhu, thuần hậu và dáng đi uyển chuyển hơn chị . Chàng tự nhủ " Em của Uyển Thanh cũng là em ta vậy!"

Nhưng cũng từ đó, Nguyên Huân nhận ra là càng ngày hình ảnh của Hoài Nam càng đậm nét trong tâm trí chàng. Nguyên Huân cố hình dung về Uyển Thanh, về những tháng ngày đã lớn không bên nhau, và ngày chia tay, nước mắt của Uyển Thanh làm lạnh vai áo chàng; nhưng chỉ một phút sau, hình ảnh thân thương ấy chìm đi, nhường cho đôi mắt, đôi mắt đã chiếm lĩnh tâm hồn chàng. Đôi mắt dịu dàng, thăm thẳm kia như đọng mãi trong hồn như bóng đêm, bóng đêm vây chặt lấy chàng và chàng chìm đi trong bóng đêm huyền diệu ấy. Nguyên Huân cố cưỡng lại với chính mình bằng tất cả ý chí, nhưng rồi chàng lại như ngạt thở bởi nỗi đau đớn êm đềm ấy phủ vây. . . "ôi, tình yêu ! Phải chăng?" Và chàng, giờ đây mới hiểu được nỗi đớn đau của Bảo Thư, mới hiểu được sự kỳ diệu, sự dịu dàng, nhưng mạnh hơn cái chết, hơn tất cả đất lẫn trời, trời lẫn đất hợp lại.

"Không! Ta không thể! Ta không thể?", đã bao nhiêu lần chàng tự nhủ, tự dày vò, và cũng bấy nhiêu lần chàng rã rời bất lực. Tình yêu, hạnh phúc, như nỗi chết này chăng? Đất trời gom nhỏ lại khi chàng nhớ Hoài Nam. "Núi non kia xuống thấp, và biển biếc chợt vô cùng khi ta nghĩ đến em."

"Uyển Thanh, lẽ nào em bỏ ta chiến đấu một mình, lẽ nào em bỏ ta trong sương phủ, để mặc ta trong đêm tối muôn trùng. Không, ta không thể phụ Uyển Thanh, Uyển Thanh trông ngóng ta từng phút, ta không thể là một con người như thế này được!" Nhưng, sao đôi mắt kia lại như cố tình hiển hiện trong mắt chàng khép kín, như cuốn xoáy vào nỗi nhớ không rời! Đã bao nhiêu lần chàng trỗi dậy trong bóng đêm, muốn tìm cách lọt vào Vương phủ, chỉ để mong nhìn thấy đôi mắt kia một lần; nhưng một điều gì tự trong sâu kín của ý thức đã giữ chàng lại.

Lần đầu tiên trong đời, Nguyên Huân hiểu thế nào là tình yêu, và nhớ nhung. Trước đây chàng cũng nhớ Uyển Thanh, nhưng nỗi nhớ ấy dịu nhẹ như nhớ về một vùng trời, vùng đất, nhớ đến một người thân xa cách. Chàng yêu thương Uyển Thanh như yêu thương tình ruột thịt. Và giờ đây, chàng phải dùng mọi ý lực để nhớ rằng, Uyển Thanh đã đặt trọn vẹn niềm tin yêu vào chàng, Uyển Thanh là người vợ chính thức của chàng; Hoài Nam, chỉ là một tình yêu gởi theo bóng mây, suốt đời câm nín.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #115 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 05:58:58 pm »

Nhưng dẫu sao, chàng cũng sẽ phải gặp Vương phi, sẽ tỏ bày cùng bà thân thế của mình, sẽ gợi lại cho bà nhớ lại Đoàn lục thúc và Uyển Thanh, chồng con bà, nếu bà đã quên. Ôi, nếu bà không còn nhớ đến quá khứ nữa, chàng sẽ phải nói thế nào, thuật lại thế nào với Đoàn lục thúc của chàng; và ngược lại, nếu bà muốn trở về Đại Việt với chồng, với con, sẽ làm thế nào để có thể đưa bà trong an lành. Nhiệm vụ chàng quả thật vô cùng nặng nề, chưa hoàn thành được lấy muôn một, lòng chàng xốn xang trăm nỗi!

Buổi chiều, như mọi chiều, Hoài Nam sang Bích Thảo Cung thăm mẹ. Thấy mẹ ngồi một mình im lìm, đơn chiếc trong bóng chiều, ngó mông ra khu hoa viên lạnh lẽo, ánh mất thẩn thờ, vô định, nàng trông bà không khác gì một pho tượng đá câm lặng. Hoài Nam đến bên mẹ quỳ xuống, ngước nhìn khuôn mặt bà, đôi mắt bà đăm đăm như chìm trong suy tư Nàng dịu dàng hỏi mẹ:

- Mẹ! Mẹ có điều chi suy nghĩ vậy?

Vương phi đưa tay vuốt tóc con gái, im lặng không nói. Tâm hồn bà đang chìm lắng trong đầy ắp nổi ngậm ngùi. Bao nhiêu năm trời qua đi theo tuổi đời của đứa con gái yêu quý bà những tưởng đã nguôi ngoai, những tưởng một đời bà cũng chìm sâu vào quá vãng; nhưng sau bao nhiêu ngày đêm, từ lúc nhìn thấy gã thanh niên trẻ tuổi ngoài đường phố, nét mặt y đã làm bà trăn trở, y đã làm bà nhớ đến một người nào đó, bà đã vận dụng trí nhớ của mình, và rồi chiều hôm nay, đột ngột trong óc bà mở bừng một hình ảnh. . . và cả một quá khứ đã trở về cùng bà , như nước triều dâng, như cơn sóng dậy...

Cách nay đã mười tám năm, cũng vào chiều mùa đông như hôm nay, một toán người võ trang lạ mặt xông đến gia trang của người họ Trần, Tam ca của chồng bà. Trận đánh diễn ra khốc liệt, từng toán binh lính của giặc, chen lẫn những tên bịt mặt bằng vải đủ màu, đã ra tay chém giết, đốt phá...Bà ngất đi trong nổi kinh hoàng. Khi tỉnh dậy, thấy mình ở nơi hoàn toàn xa lạ, chồng và con bà không biết ra sao? Bà khóc lóc thê thảm, và bị dẫn đi ngày, đêm về phương Bắc cùng một số tù nhân khác, gồm phần lớn là đàn ông, những người đứng tuổi. Rồi một đêm kia, giữa con đường xuyên sơn, một toán người đã xông vào tấn công bọn quân binh, một người đã cứu bà thoát khỏi gông cùm, một lần nữa bà lại ngất đi. Khi tỉnh lại, bà thấy mình đang nằm trong một căn phòng trần thiết cực kỳ sang trọng, với một đám thể nữ vây quanh săn sóc cho bà. Người đàn ông cứu bà, chính là Quang Minh Dương Vương.

Dương Vương đối với bà hết dạ ân cần, chăm sóc bà với tấm lòng độ lượng, khoan dung. Ông hứa sẽ cho điều tra về vụ thảm sát mà ông cho biết là do một đám quan quân lộng hành làm bậy. .. Mấy ngày sau, Dương Vương thông báo cho bà biết, bọn quan quân vô kỷ luật kia đã bị trừng phạt nặng nề, và ông cũng tỏ lòng đau đớn cho bà biết, trong vụ thảm sát kia, người sống sót duy nhất là bà, chỉ một mình bà.
Theo lệnh của Hoàng đế, tất cả mỹ nhân, nghệ nhân, nhân tài của Đại Việt bị bắt giữ phải giải giao về Kim Lăng, nhưng chính ông, không bằng lòng với chính lệnh ấy, ông đã giết hết bọn quân binh dẫn độ, thả hết tù nhân; riêng bà bị ngất đi, nên ông đem về đây cứu chữa.

Thế là chồng con bà đã chết, cả gia đình Trần tam ca với chú bé năm tuổi, con của Tam ca cũng không còn sống sót. Bao nhiêu lần bà muốn quyên sinh, nhưng còn bào thai trong bụng, bà không thể nào chết được, vì đó là đứa con còn lại duy nhất của chồng bà, giọt máu cuối cùng của dòng họ Đoàn. Bà phải sống, với niềm hy vọng mong manh, một ngày nào trở về cố hương.

Và cảm vì tấm lòng của Dương Vương, nên bà nhận lời làm vợ ông để có nơi nương tựa cho con sau này. Thoắt chốc đã mười tám năm trôi qua, hình ảnh đầy máu lửa ấy còn in đậm nét trong lòng bà . Suốt trong bằng ấy năm, bà cố quên đi mà chẳng thể nào quên được...

Và rồi nay thì người thiếu niên tuấn tú ấy đột ngột hiện ra trước mắt bà, đã dần đưa bà nhớ lại người anh kết nghĩa thứ ba của chồng bà, Trần Nguyên Lữ. Người thiếu niên của buổi sáng hôm ấy, giống Trần tam ca như tạc. Ngày bà về làm vợ Đoàn Chính Tâm, chính Trần tam ca đã đứng ra lo lắng mọi thứ, khi cô gái họ Lý, tên Yến Phi về nhà chồng... Khuôn mặt, vầng trán, chiếc mũi, đôi mắt của chàng thanh niên giống Trần tam ca từng nét một. Đây có phải chăng là đứa con trai được năm tuổi của ông khi trước? Không, chẳng thể nào như thế được ! Từ Yên Kinh về Đại Việt đường xa vạn dặm... Và cậu bé ấy với đứa con gái đầu lên ba của bà đã chết trong buổi chiều đông lửa loạn ấy. Không! Đây chỉ là người giống người đấy thôi... và bà ngồi như thế suốt buổi chiều bên hoa viên lạnh giá. Xót xa, thờ thẩn...

Nhìn nét mặt lo lắng của con, bà ôn tồn âu yếm nói:

- Hoài Nam, tính mẹ lúc này thường như thế, con đừng lo cho mẹ !

Hoài Nam nắm lấy bàn tay như búp ngọc của mẹ:

- Mẹ có điều gì dấu con phải không mẹ?!

Vương phi nhìn sâu vào đôi mắt tuyệt đẹp của con, áy náy hỏi:

- Sao con lại có ý nghĩ ấy?

- Con linh cảm thấy có điều gì đấy mà mẹ không nói ra, và bởi con thấy mẹ, đường đường là một Vương phi, tại sao mẹ lại sống khắc kỷ với bản thân mẹ như thế?

Vương phi cố gắng mỉm cười, vỗ vai con gái:

- Thế còn con, sao con lại sống giản dị như vậy?
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #116 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 05:59:41 pm »

- Tại con thích thế!

- Thì mẹ cũng vậy!

- Không, mẹ ạ ! Bên Vân Trang cung, tuy con sống giản dị, nhưng không đến nỗi buồn tẻ, bình dân như bên Bích Thảo cung của mẹ. Mẹ không chịu cho ai hầu hạ mẹ, săn sóc mẹ. Chắc chắn là mẹ có nỗi buồn nào đấy mà mẹ giấu con, phải không mẹ?

Vương phi im lặng. Phải, bà đã giấu con gái bà tất cả. Bà không muốn Hoài Nam buồn phiền vô ích, khi tất cả đã chẳng còn gì, chẳng còn một hy vọng gì ! Bà sẽ mang bí mật của đời bà xuống mộ sâu, không tỏ bày cùng ai, ngay cả với con. Bà cố nén đau đớn, bảo con:

- Không đâu, con gái yêu của mẹ, chẳng có điều gì mẹ giấu con!

- Nhưng, này mẹ ! Sao mẹ chẳng một lần thuật cho con nghe thời con gái của mẹ, trước khi mẹ về làm vợ cha con!?

Bà thở dài:

- Có gì đâu mà kể! Thời con gái của mẹ bình dị lắm, mẹ vốn là người ... Vân Nam, mẹ mang thai con những ngày ở đấy nên mới đặt tên con là Hoài Nam!

Kim Lăng, cố đô của Hoàng đế, có gần quê mẹ không?

- Cũng gần con ạ! Và mẹ vì thế mới gặp cha con!

- Này mẹ, con có bà con, thân thuộc, cậu dì không mẹ?

- Không con ạ ! Mẹ chỉ có một mình, những người thân nay chẳng còn ai nữa!

Hoài Nam thở nhẹ:

- Tội nghiệp mẹ! Chắc ngày mẹ bằng tuổi con, mẹ khổ lắm phải không mẹ?

Không đâu con, có một thời mẹ hạnh phúc... Thôi, Hoài Nam, mẹ mệt quá, để hôm khác, mẹ kể cho con nghe nhé...

- Vâng, mẹ đi nghỉ đi, trời lạnh lắm!

- Có lẽ sắp có tuyết rồi đấy !

- Ở quê mẹ có tuyết không hở mẹ?

- Không, con ạ! Cũng có mùa đông, nhưng không bao giờ có tuyết cả!

- Con mong ước có ngày về quê mẹ...

- Mẹ chẳng còn hy vọng gì, nhưng mẹ chỉ mơ ước thôi!

Hoài Nam nhìn mẹ:

- Sao mẹ không nói với cha con? Mẹ thấy đấy, mẹ muốn điều gì, cha con đều làm theo ý mẹ!

- Không, mẹ không bao giờ...

Vương phi rời cửa sổ, Hoài Nam dìu bà vào phòng trong:

- Mẹ đã dùng cơm chiều chưa?

- Mẹ đã ăn rồi, còn con?

- Con ăn xong trước khi sang đây. Này mẹ, mẹ có nhớ người thanh niên hôm nọ không? Y hèn nhát quá!

- Không đâu con, mẹ không nghĩ vậy; mẹ không thấy vẻ sợ hãi trên nét mặt y, chỉ vì y không muốn sinh chuyện đó thôi!

- Có lúc con cũng nghĩ rằng y không hèn nhát, vì lẽ gì đó mà y nhịn nhục thôi, con có cảm tường con đọc thấy điều này trong ánh mắt y, mẹ có nhận thấy như vậy không?

- Mẹ thấy, trong lúc mọi người bỏ chạy hết, y vẫn điềm nhiên đứng lại!

- Có lẽ vì y không biết đó thôi!

vương phi nhìn Hoài Nam, ngạc nhiên:

- Y không biết cái gì vậy con.

- Chắc là y ở xa đến, nên không biết gì về Đệ lục Thái tử và tính tàn bạo cửa gã!

- Mẹ có cảm tường y ở nơi rất xa mà đến...

- Tại sao mẹ lại có cảm tưởng ấy?!

- Mẹ cũng không biết nữa, mẹ đoán vậy !

Vương phi nằm xuống giường, kéo chăn đắp. Hoài Nam buông mùng cho mẹ và hỏi:

- Thể nữ hầu hạ mẹ đâu hết cả?

- Mẹ cho họ lui cả rồi. Mẹ đâu có việc gì cần thiết giờ này để họ phải túc trực!

- Mẹ ạ! Nếu cha con biết được, chắc chắn cha sẽ giết họ đấy, nhưng... sao cha con đối với mẹ, con và
Bảo Thư thì độ lương, hiền hậu thế, còn đối với mọi người thì ra tay lại quá tàn độc...?

- Làm sao con lại nói vậy?

- Bởi con biết, và cả mẹ, mẹ cũng biết...

- Không, mẹ không biết gì về những chuyện của cha con, và mẹ không muốn biết!

Hoài Nam vẫn tiếp tục:

- Bảo Thư nói với con, trong thiên hạ, mọi người đều oán hận cha con. Tại sao vậy mẹ?

- Mẹ đã bảo với con là mẹ không biết gì hết. Làm sao mà mẹ biết được! Thôi, Hoài Nam, con về nghỉ đi, trời lại lạnh nữa. Mẹ muốn nằm một mình. Về đi con!

- Vâng, con xin nghe lời mẹ ! Con cầu cho mẹ được ngon giấc!

Hoài Nam cúi xuống hôn lên trán Vương phi, rồi quay ra. Nàng lại tự hỏi: "Chẳng là việc liên quan đến ta, sao gã thanh niên, mà vẻ mặt, ánh mắt y lại làm cho ta bận tâm đến thế!"
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #117 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 06:00:34 pm »

Chương 18
Nguyên Huân thu hồi Vũ Mục Di Thư
Phượng Thánh trọng thương âm Hàn Ngọc Chướng.

Thoắt đã đến đầu tháng chạp, khí trời càng lúc càng giá buốt, tuyết trắng đầy trời, kinh thành co ro trong cái không gian lạnh lẽo. Sinh hoạt phố xá vì thế mà giảm đi, đã cuối giờ Thìn, đường sá vắng người qua lại. Tuy trời giá buốt, rét mướt như thế, Nguyên Huân vẫn thức dậy vào lúc tiếng trống điểm canh tư.Trong suốt mười mấy năm trời, chàng không hề bỏ dở việc luyện tập, giờ đã thành thói quen. Dù bất kỳ nơi đâu, bất kể điều kiện thời tiết nào, chẳng một lần lơ là việc tinh luyện võ công; chính vì sự chuyên cần khổ luyện ấy chàng đã đạt được một cách hết sức nhanh chóng những thành tựu về võ học.

Sau khi dùng điểm tâm, Nguyên Huân khoác lên người chiếc áo khinh cừu, bước ra trời tuyết lạnh. Chàng đi đến địa điểm mà Kiến Nghiệp đại sư đã ghi trong giấy.

Nơi chàng tìm đến là một căn nhà cổ kính, khuất sau những hàng cây và một hoa viên nhỏ. Một gia nhân bước ra, co ro vì giá lạnh, nét mặt cau có; nhưng khi nhìn thấy tấm áo khinh cừu quý giá trên người chàng, y liền tươi ngay nét mặt, hỏi:

- Công tử có việc gì cần?

Nhìn người gia nhân già nua đang run rẩy trong cái buốt giá lạnh cóng của buổi mạnh đông, Nguyên Huân động lòng trắc ẩn, chàng thò tay vào túi, lấy ra thoi bạc chừng bốn, năm lượng đưa cho lão:

- Trời lạnh quá, lão cầm lấy uống rượu cho ấm!

Lão gia nhân trố mắt nhìn Nguyên Huân, đôi mắt mệt mỏi bỗng sáng lên:

- Công tử cho lão nhiều thế, lão thực áy náy lắm!

Tuy nói vậy nhưng bàn tay nhăn nheo đã cầm lấy thoi bạc nhanh như cắt.

- Xin lão trượng cho biết Thái công công đã về chưa?

Lão gia nhân nói:

- Công công đã về hồi hôm, chắc giờ còn đang ngủ. Mời công tử vào, tuyết xuống nhiều quá!

Dẫn Nguyên Huân vào một khách phòng rộng, lão rót nước mời chàng:

- Mời công tử dùng trà cho ấm!

Nguyên Huân nói:

- Nếu Thái công công đã thức, xin lão trượng bẩm với Thái công công là có người từ Hắc Mai Sơn ở Hàng Châu tới thăm!

Chỉ một lát sau, lão gia nhân bước ra cung kính:

- Thưa công tử, chủ nhân có lời mời.

Nguyên Huân đứng lên, đi theo người lão bộc, xuyên qua một hành lang rộng, đến một căn nhà xinh xắn; lão đẩy cửa bước vào ra dấu cho chàng đi theo. Người đàn ông có tuổi, không râu, tóc đã lốm đốm bạc, ngồi lọt trong chiếc ghế rộng, đôi mắt lim dim dưới hàng lông mày thưa, như còn ngái ngủ ; nhưng chàng bắt gặp, rất nhanh, một ánh tinh quang lóe lên rồi lại tắt ngay. Lão đứng dậy đón chàng, Nguyên Huân vòng tay thi lễ:

- Tại hạ họ Trần, xin được Thái công công tiếp kiến!

- Lão hủ chính là Thái Hòa đây ? Chẳng hay công tử gặp lão hủ này có chuyện gì vậy?

May mắn quá! Tại hạ từ Hắc Mai Sơn ở Hàng Châu ghé ngang đây, nghe Công công là người tâm phúc trong cung, nên có chút báu vật muốn bán vào cung. Chẳng hay Công công có giúp cho được không?

- Điều này có thể được, lấy ra thì khó thật, nhưng bán vào thì cũng dễ thôi!

"Lấy ra thì khó, bán vào thì dễ". Nguyên Huân biết lão lang tra hỏi mật khẩu chàng:

- "Báu vật tùy người mà đến", kẻ có phúc thì "không cầu cũng tới", "Vinh bất chiêu nhi tự lai, nhục bất trục
nhi tú khứ".

(Cái vinh không cầu cũng tới, cái nhục không trục cũng đi).

Nguyên Huân đọc lời ở chương Hiếu Hạnh trong sách Thuyết Uyển.

- Nhưng công tử có báu vật gì ? "Sao bán đi mà không tiếc"?

- Tại hạ "Không còn phúc thì giữ làm sao được" vì " ngọc quý giống như mỹ nhân, không có đức thì nên
họa". Món hàng của tại hạ gồm "Lam ngọc", "Uyên ương hồng bảo ngọc và " Ngũ Hành kỳ hỏa ngọc".

- Vậy thì đưa "Ngũ Hành kỳ đến đi!"

Nguyên Huân tươi cười ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, Thái Hòa công công nói:

- Hữu sứ vẫn mạnh chứ! Công tử có gì xin cứ nói.

- Tại hạ mới chia tay với Đại sư khoảng hai tháng nay, lão sư có việc cùng Ngô kỳ sứ đi Trường Bạch Đại
sơn, có lẽ cũng sắp ghé Yên Kinh!

Nguyên Huân trình bày lý do mà chàng đến đây và những hành sự cần thiết của mình. Thái công công nghe xong, nói:

- Lão hủ coi về Ngự trù, tức là nơi nấu món ăn cho Nhà Vua, hàng tháng được ra phố để thanh toán tiền bạc với các nguồn cung cấp thực phẩm cho Hoàng cung. Thực ra lão hủ cũng có thể dàn cảnh để đưa công tử vào nội cung, nhưng chỉ có thể ở lại trong khuôn viên của nhà bếp, chứ không được đi lại tự do, vậy cũng chẳng giúp ích gì cho công từ. Vã lại, lão hủ đã theo Minh giáo gần bốn mươi năm nay, khi mới mười bảy, mười tám tuổi, được lệnh của Hữu sứ, làm người kề cận, giám sát và thu lượm tin tức từ khi Thành Tổ lên ngôi.
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #118 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 06:01:20 pm »

Trải qua mấy chục năm làm nghề Thái giám, phải hủy mình đi, thì còn tiếc tấm thân già này làm gì, chỉ e vì khinh xuất mà làm hỏng đại cuộc, chẳng làm trọn vai trò của mình. Nay leo lên đến chức Tổng Quản Ngự trù phòng cũng là điều đau lòng không ít; lão hủ giờ đã già, gia đình không có ai, có chết cũng chẳng quản; dẫu nguy hiểm thế nào, lão cũng cố gắng giúp cho công tử!

Vì công việc được giao, lão không dám để lộ tông tích. Nay công tử muốn biết sơ đồ của nội cung; tuy rằng sống trong cung đã lâu, nhưng từ Kim Lăng về Yên Kinh chưa đầy ba năm, nên lão cũng chưa nắm được sơ đồ, địa hình. Công tử ráng chờ lão dăm ba ngày, để lão còn có thì giờ phối kiểm mới được. Công tử nghĩ thế nào?

Nguyên Huân mừng rỡ đáp:

- Được lão anh hùng tận tình giúp đỡ như thế này, đến chết vãn bối cũng không quên ơn đức cao dày của Tôn giá!

Thái Hòa trầm ngâm nói:

- Công việc xâm nhập Hoàng thành rất nguy hiểm, kẻ tầm thường không thể nào làm nổi. Công tử chắc hẳn phải công lực phi phàm mới dám liều mình như thế! Hiện giờ quân Cấm vệ, Cẩm Y vệ canh giữ nội cung không dưới vạn người, Thánh Hoàng đi thân chinh cũng chỉ mang theo một nửa. Tất cả lực lượng còn lại trong tay Pháp Vương điều động, thêm một số cao thủ trợ lực. Không những thế, trong đạo quân Cẩm Y vệ, số cao thủ không phải là ít. Lúc này trời mưa tuyết, việc canh phòng cũng có phần lơi lỏng; lão sẽ cố gắng hoàn tất sơ đồ để công tử còn có thì giờ hành sự trong những đêm mưa tuyết, và áo quần dạ hành phải cho tiệp với màu trắng của tuyết, như vậy mới dễ ẩn thân được. ..

- Xin cảm ơn lão anh hùng đã chỉ dạy!

Tám ngày sau, chàng nhận được sơ đồ Hoàng thành và nội cung, do người lão bộc đưa tới:

- Lão Công công có dặn, công tử xem xong, nhớ cho kỹ rồi hủy ngay đi. Lão nô phải chờ cả một buổi mới gặp được công tử, không dám đường đột vào tửu lầu!

Nguyên Huân nhìn người lão bộc hóa trang lem luốc trong võ bọc một người bán than, chàng cảm động, tặng lão một thỏi vàng chừng bốn lạng, nói:

- Tại hạ xin cảm ơn lão trượng! Có chút đỉnh mong lão nhận cho. Đây không phải là sự tạ ơn, chỉ có chút tấm lòng nhỏ đấy thôi . . .

Người lão bộc rưng rưng nước mắt:

- Công tử cho lão hậu quá, lão không biết nói gì thêm được! Từ lâu lão chỉ ao ước cổ áo quan, bây giờ công tử đã chu tất cho!

Người lão bộc già nua vái chàng rồi quay đi.

Suốt hai ngày trời, Nguyên Huân nghiên cứu sơ đồ, đến khi nhắm mắt có thể hình dung được, chàng đốt sơ đồ; đợi đêm xuống, mặc bộ dạ hành, từ đầu đến chân đều trắng như tuyết Chàng nai nịt gọn gàng, mang theo những vật quý giá, đề phòng trường hợp biến động nào đó mà chàng không thể quay lại được. Đến cuối giờ Hợi, Nguyên Huân mở cửa sổ phóng ra ngoài.

Trăng mùng chín khuất trong cơn mưa tuyết dày đặc, những cánh tuyết rơi trong không gian như lông ngỗng. Kinh đô chìm trong im lặng, lạnh lẽo, buốt giá. Giờ này, ngoài chàng chắc không còn ai dám ló đầu ra khỏi nhà ; thỉnh thoảng chỉ còn nghe lẻ loi những tiếng trống cầm canh rời rạc vang lên trong đêm lạnh... Nguyên Huân xử dụng Hoán Ảnh thân pháp đến mức chót, thân ảnh như bóng mờ, lẫn vào màn đêm dày đặc loang loáng sáng mờ bởi từng đợt bông tuyết rơi theo từng cơn gió thổi mạnh... Đến chân Hoàng thành, chàng chọn một ngọn cây cao đang trĩu xuống dưới lớp tuyết dày nặng, ẩn mình nhìn vào...

Điện đài như bát úp, ẩn hiện lờ mờ sau màn tuyết rơi, thỉnh thoảng thấp thoáng ánh lửa, chàng đoán là do những người lính canh và tuần tra đốt lửa sưởi . Nguyên Huân phóng qua mặt thành như cơn gió thoảng, ẩn dưới tàn cây, rồi nhún người lên trên chục ba một thân cây lớn . Vừa lúc đó, toán quân tuần tiểu xách đèn lồng đi tới, chúng chụm vào nhau cho bớt lạnh. Có tiếng người trong đám:

- Lạnh buốt thế này, ở nhà rúc đầu vào nách vợ là nhất; nghĩ chẳng biết con vợ già đêm nay nó có chịu nằm một mình không?

- Con vợ ngươi già khú đế, đứa nào nó thèm thuồng mà ngươi sợ!

- Tôn huynh chẳng biết gì, nồi nào úp vung nấy chứ, chẳng nhẽ bà xã của tôn huynh mới đáng lo hay sao?

- Ta đã khóa chặt cửa rồi còn sợ gì!

Tiếng người thứ ba chen vào:

- Đàn bà mà đã muốn, dẫu có bỏ vào chai vào hủ, nó vẫn lăng nhăng được như thường!

Một đứa khác gắt:

- Lạnh chết mẹ mà còn nói nhăng cuội. Hừ? Đêm lạnh thế này, có ma nào dám mò đến mà tuần phòng. Tường cao, hào sâu, có đến tiên cũng chẳng lọt vào được!

Đợi cho toán tuần tra đi qua, Nguyên Huân định hướng, phóng vút đi. Chàng kiểm tra địa điểm toàn bộ, lọt vào đến nội cung, thân pháp như ảo ảnh. Chủ đích chàng đêm nay là thám sát, nhận định tình hình, việc tìm kiếm sẽ vào đêm khác.

Qua đêm thứ hai,trời cũng như đêm trước nên Nguyên Huân cũng lọt vào dễ dàng. Ngự Thư phòng nằm trong Thiên Cực cung; nơi này vì là chỗ Hoàng đế ngự, cho nên việc canh phòng cực kỳ cẩn mật, nhưng hiện nay, vì Hoàng đế đã thân chinh, do đó có phần lỏng lẻo, nhất là trong những đêm giá buốt như thế này. Nguyên Huân lọt vào không mấy khó khăn sau khi đã phải vượt qua bảy, tám vọng gác. Một lần, lúc phóng qua vọng gác thứ năm, chàng nghe một lính gác kêu lên với bạn:

- Quái lạ! Mày có nghe thấy cơn gió lạ không, bông tuyết bị cuốn đi như có trận cuồng phong, kỳ lạ thật?
Logged
Mathew1990
Thành viên
*
Bài viết: 841


« Trả lời #119 vào lúc: 04 Tháng Bảy, 2011, 06:02:07 pm »

- Mày thắc mắc làm gì? Trời đất nhiều lúc vẫn có những điều kỳ lạ!

- Tao phải để ý xem mới được, gió gì kỳ quái vậy!

Ngự Thư phòng nằm ở hướng đông nam Thiên Cực cung, đó là nơi Hoàng đế đọc sách, hoặc nghe quan Thị Giảng Đại Học sĩ giảng giải kinh, sách; nhưng đời Thái Tổ và Thành Tổ. lập Ngự Thư phòng cho có vẽ văn học, nhà Vua ít khi bước chân tới. Bởi vậy, quanh năm, cánh cửa sơn son thếp vàng, chạm trổ long phượng đóng im ỉm. Nguyên Huân nhảy lên cao, lựa chỗ, gỡ những thanh gỗ, chui vào.

Căn phòng rộng mênh mông, bốn phía là kệ sách. Có chủ tâm từ trước, chàng đã xin Qui Loan Cô Cô cho chàng hạt Dạ Minh Châu, viên ngọc quý xanh biếc, tỏa ánh sáng mờ ảo. Với thị lực của chàng, ánh sáng mờ ấy đủ cho chàng tìm thấy một chiếc kim dưới đất, và việc đi lại tìm kiếm trong Thư phòng cũng khó có ai phát giác.

Cả đêm, chàng lục tìm không để sót một nơi nào, đến nỗi trời đã sáng bạch mà chẳng hay. Biết mình không thể ra khỏi Thư phòng, ra khỏi cung cấm vào lúc ban ngày, Nguyên Huân nghĩ nhanh: "Hoàng đế đi chinh chiến, mà dẫu có ở nhà cũng không hề ghé vào đây, bởi những thư mục rõ ràng đã rất lâu không có dấu đụng tới, nhưng bằng vào việc các kệ sách, bàn ghế sạch sẽ, không một hạt bụi; những kẻ quét dọn vẫn vào đây làm bổn phận hàng ngày, la phải tìm chỗ ẩn thân mới được!"

Chàng đưa mắt nhìn quanh. Không một chỗ ẩn mình. San sát nhau chỉ toàn là kệ sách kê đến sát xà ngang; và cũng vì thế Nguyên Huân tìm thấy nơi ẩn thân cực tết: một thanh xà ngang cực lớn, hình khối chữ nhật, nằm vắt ngang chính giữa trần phòng cao, bề mặt dày đến ba gang tay đủ cho một người nằm, ở dưới dẫu cho có nhìn lên cũng không thể trông thấy được. Nguyên Huân tung người nhẹ nhàng nhảy lên, một lớp bụi lả tả từ phiến gỗ rơi xuống; chàng nằm sấp xuống dọc theo. thanh xà, đưa mắt nhìn sang kệ sách, và, đôi mắt chàng bỗng sáng lên, chú ý nhìn phía trên kệ sách. Kê sát tường, là một chiếc tủ nhỏ, mà nếu vô tình không để ý, đứng dưới đất, hoặc dù có trèo lên cao cũng không thấy được. Trên cánh tủ sơn son, bốn chữ vàng lộng lẫy: "Thái Tổ Di Vật", Nguyên Huân với tay, vừa đủ chạm cánh tủ, cánh tủ không khóa, theo bàn tay chàng, mở ra, cùng lúc chàng nghĩ thầm: "Di vật của Thái Tổ tại sao lại để tại chốn này, đáng lẽ phải để nơi điện thờ mới phải !"

Chàng có biết đâu rằng, khi mới dời đô, Thành Tổ không muốn bất cứ ai, bất cứ vị Thân Vương nào nhìn thấy những di vật này, vì có những điều bất tiện, mà từ khi lên ngôi, chính vì quá khứ của Thái Tổ, Thành Tổ đã mang mặc cảm, cái mặc cảm khó chịu nhất của con người là mặc cảm tự ti. Khi vua Thái Tổ băng hà, lập Hoàng tôn là Kiến Văn, con của trưởng Thái tử Chu Nguyên Tiêu đã chết. Kiến Văn ham thích văn chương, cho rằng nguồn gốc xuất thân của Thái Tổ là một điều đáng quý trọng, vì từ đó, đã nói lên được rằng có phúc trạch rất lớn. Từ trong cửa Phật bước ra là gồm thâu thiên hạ, đó chẳng phải là mệnh trời sao, nên gom góp những di vật của Thái Tổ, cất giữ trong điện thờ. Đến khi Thành Tổ cướp ngôi của cháu. Thành Tổ vốn là con thứ của Thái Tổ, không ưa văn học, chỉ thích võ công, vì vậy, tuy không dám hủy di vật của cha, nhưng chẳng muốn một ai biết tới, mới đem cất dấu ở Ngự Thư phòng.

Nguyên Huân thấy trong đó: Một bộ áo cà sa đã cũ, một đôi dép bằng da trâu, một chuỗi hạt bồ đề, một chiếc mũ ni bằng len màu nâu đã rách tổ chở, và trong số di vật ít ỏi kia, một cuốn sách, một cuốn sách khá dày, bìa bằng loại da mềm, màu đen.

Mở vào trong, giấy sách đã ố vàng, nhưng chữ còn đọc rõ. Trang đầu ghi bốn chữ: " Vũ .. . Di Thư , chữ thứ hai đã bị mối gậm nhấm, nhưng Nguyên Huân nhận ra ngay, đó là cuốn Vũ Mục Di Thư của Nhạc Phi, một báu vật truyền đời của Nga Mi phái mà mấy chục năm nay Tâm Hư sư thái đã tốn bao nhiêu công phu tìm kiếm. Cuốn sách này trước đây Trương Vô Kỵ, Giáo chủ Minh giáo trao cho Từ Đạt dùng để đánh đuổi quân Nguyên Mông, khi đại sự đã thành, Thái Tổ êen ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Hồng Võ để nhớ đến Hỏa giáo, vốn là khởi thủy của Minh giáo, đồng thời thu hồi Vũ Mục Di Thư lại, sợ lọt vào tay người khác.
Nguyên Huân vội thu lấy quyển sách quý cất giấu vào người, khép lại cánh tủ, vừa lúc nghe tiếng cửa phòng mở.

Đó là những Thái giám vào làm công việc lau dọn Ngự Thư phòng. Họ lăng xăng quét lau có vẻ vội vàng, khẩn cấp. Một người nói:

- Hôm nay Thiên tuế thanh sát tất cả nội, ngoại Hoàng cung; nghe đâu Thánh thượng sắp sửa hồi loan?

- Trước đây Khẩu Phúc mang quân chinh di, đánh trận nào bại vong trận nấy. Từ ngày Thánh thượng xuất chinh, đánh luôn chín trận, thắng cả chín; đuổi con cháu Thuận đế đến tận Hưng An, bọn chúng phải chạy trốn khỏi vùng thảo nguyên Hắc Long Giang.

- Nhưng bọn chúng quay lại mấy hồi! Theo ý ta, Thánh thượng chưa thể hồi loan ngay được, còn phải làm cho con cháu Bản Nhã Thất Ly và A Lỗ Đài tuyệt đường quật khởi, mới ổn định được phía Bắc lâu dài được. Nếu có trở về, ít ra cũng phải một, hai năm nữa!

- Ôi thôi, chuyện đó không phải việc chúng ta lo, các người bảo quét cứ quét, bảo dọn, cứ dọn, đừng có vớ vẩn già non, chết không kịp ngáp!

Bọn Thái giám làm công việc rất nhanh rồi rút lui. Nguyên Huân trong dạ vừa buồn phiền, vừa mừng rỡ. Lúc thấy quyển sách bìa đen, chàng những tướng tình cờ tìm thấy được báu vật của Tổ tiên, không ngờ lại là của Nga Mi phái, nhưng dù sao, chàng cũng hiểu rằng, khi quân Minh kéo sang Đại Việt, thì ngày ấy Thái Tổ đã băng hà, nên việc gom thu sách vở tài vật nhân tài của nước Nam, chắc chắn không do lệnh của Thái Tổ.

Khoảng đầu giờ Tỵ, cửa Ngự Thư phòng lại mở, Nguyên Huân ghé mắt nhìn xuống. Bọn Thái giám hàng Tổng Quản bao quanh một người tướng mạo phương phi, khoảng trên bốn mươi, dáng người cao lớn, ăn mặc theo phẩm phục Vương gia, nhìn bao quát khắp phòng, người này lên tiếng hỏi:

- Ngự Thư phòng gồm tất cả bao nhiêu quyển sách?

Một viên Thái giám kính cẩn thưa:

- Khải trình Thiên tuế, số sách tại nơi đây gồm đủ loại, do quan Đại Học sĩ Thị Giảng lựa chọn. Theo thống kê, gồm một vạn bốn ngàn tám trăm quyển, ngoài ra còn lưu trữ chế biểu dưới triều Thái Tổ!

Nguyên Huân dự đoán người này có lẽ là Nhiếp Chính Thành Vương Thoán, y bước đến chiếc long kỷ kê trên bục cao, bên cạnh chiếc bàn chân quỳ Long Ly Quy Phượng hình chữ nhật, hai đầu uốn cong, trên để văn phòng tứ bảo toan ngồi xuống, nhưng nghĩ sao lại thôi. Y nhìn quanh một lúc rồi nói:

- Thánh thượng rất ít khi ghé nơi đây, phải không?
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM