nhuthin
Thành viên

Bài viết: 80
|
 |
« Trả lời #501 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2012, 02:20:19 pm » |
|
Chiến công của người lính thông tin trạm A10
Chị Hà Tuyên Hà, nguyên trạm trưởng trạm thông tin A10, dặn đi dặn lại: “ Em nhớ đến nhé, đến dự buổi gặp mặt của các cựu chiến binh nhân kỷ niệm 40 năm trận “ Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không”, mà trạm A10 góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng. Em là tác giả tặng sách nên có mặt…Mà biết đâu em lại viết được cái gì đấy…”
Tôi sẽ đến. Nhưng lậy trời hôm ấy đừng mưa. Lậy thì lậy thế thôi, chứ cái lão trời già khó tính, đỏng đảnh quá đàn bà chẳng biết đâu mà lần.
Y như rằng hôm ấy mưa thật, một đợt gió mùa đông bắc bổ sung, rét ơi là rét. Người đơ ơi là đơ. Nhưng đơ cũng phải đi. Mấy bạn ở tận miền Nam còn ra nữa là mình, ngay đây.
Một cuộc hội ngộ giữa các thế hệ CCB lính thông tin trạm A10 thật cảm động. Hai phần ba là nữ, tỷ lệ đăng đàn cũng như vậy. Chuyện các chị kể cũng thật phụ nữ. Có chị, trong 12 ngày đêm Hà Nội bị B52 oanh tạc ấy, đi nối dây giữa bãi sông Hồng, nhìn bom rơi sợ quá, hầm mình không trú, chạy sang hầm thủ trưởng. Hỏi tại sao? Kêu: “Nếu chết thì cũng đỡ buồn”…?
Tôi đang chăm chú nghe một trong ba nhân chứng sống của trạm A 69 Quảng Bình, kể về cái ngày định mệnh, cả trạm hy sinh, hầu hết chết cháy rất thương tâm, bỗng có người vỗ vai. Ngoảnh lại, thì ra chú em họ tôi tên là Bình. Hắn nói: “Em cũng là lính A10 đây”. Thật ngạc nhiên. Đúng là trái đất tròn. Từ hồi rời Khương Trung, gần hai năm nay tôi không gặp lại hắn. Vẫn cao to, da rám nắng, rắn rỏi, khỏe mạnh, dáng dấp của người lao động chân chất.
Vậy mà có một thời, cả làng cả họ nhà tôi đồn, hắn là một doanh nhân rất thành đạt. Thôi, tạm gác chuyện B52 trên bầu trời Hà Nội năm 1972 lại, tôi kể chuyện chú ấy trước vậy.
Chuyện là, hơn mười năm trước, họ Nguyên nhà tôi bỗng rộ lên tin có một người mới về nhận họ. Anh ta giàu có lắm. Bố anh ta, từ nhỏ phiêu bạt ở Hà Nội quên cả đường về. Hơn nửa thế kỷ, tình cờ gặp người đi chợ chuối, hỏi ra đúng là người làng. May thế.
Một lần về quê giỗ họ, tôi được gặp nhân vật ấy. Chính là chú Bình đang ngồi đây.
Đố kỵ vốn là bản tính xấu của con người. Có lẽ tôi cũng không mất đi cái bản năng dở người ấy. Tôi không ưa gì hắn. Cũng từ Hà Nội về, mình thì đi chiếc xe máy ghẻ, góp giỗ 2 chục nghìn đồng. Còn hắn đi chiếc xe bốn bánh cáu cạnh, xỉa luôn ra 10 triệu tạm cho các cụ lát gạch men nhà thờ họ và cái sân để đi lại cho sạch sẽ. Đã thế hắn không biết đến thế nào là tế nhị. Mình vừa đưa cái phong bì mỏng như tờ pơ luya ra thì hắn đặt lên ban thờ cả một tập tiền dày như cục gạch. Trông hắn chẳng có vẻ gì là một doanh nhân. Nói năng ồn ã. Chắc lại làm ăn chụp giật, giàu xổi, về sĩ diện với họ hàng. Cũng tốt thôi, “ chú khỏe thì anh mừng”. Thỉnh thoảng về quê, họ mạc lại kể, chú Bình tiến cho nhà thờ họ, năm thì cái này, năm thì cái kia, tấm tắc ngợi khen. Ôi chuyện nhà quê, một đồn trăm, trăm thổi thành nghìn lạ gì. Không quan tâm.
Rồi bố mẹ tôi cũng khuất bóng, anh em mỗi người chọn một khoảnh trời riêng. Tôi mua một ngôi nhà 4 tầng tại phố Khương Trung gần cơ quan để đi làm cho thuận tiện. Nhà xây theo kiến trúc Pháp khá đẹp, tám phòng thênh thang ở sao cho hết. Tôi khoan khoái, ngày mấy bận, ra ngắm lại vào nghía. Một lần đang ngắm nghía, bỗng nghe thấy một giọng nói ồm ồm phía sau :
- Tưởng ai mua nhà này hóa ra là anh à?
Quay lại, thì ra là hắn đứng lù lù sau lưng mình từ bao giờ. Hắn nói:
- Em cũng ở gần đây, lúc nào anh lại chơi. Không biết anh có nhu cầu mua nhà, em để cho anh một cái. Không dám nói rẻ nhưng chắc chắn hơn cái này rất nhiều.
Rồi hắn chê cái nhà của tôi. Chê từ bậc thềm đến tận xó xỉnh toilet. Tôi sa sẩm hết cả mặt mày. Ức nỗi, cái gì hắn nói cũng có lý. Hắn làm tôi mất hết cả hứng thú và hoang mang vì hóa ra mình bị hớ.
À, mà chắc gì. Thói đời, hàng thịt nguýt hàng cá. Mua của chú có khi, càng quen càng lèn cho đau ấy chứ. Tôi nghĩ vậy.
- Em vừa bán xong cái nhà thứ 60. Hắn nói tiếp. Cái gì? Hắn bán những sáu chục cái nhà à? Tôi có nghe nhầm không đấy? - Em mua đất, mua nhà cấp bốn, đập đi xây bốn năm tầng rồi bán. Mỗi năm vài ba cái, hơn 20 năm nay rồi anh ạ.
Thảo nào trông hắn chẳng khác gì gã thợ xây.
Nhưng phải kiểm tra xem hắn có chém gió không? Tối, tôi hỏi chuyện bác tổ trưởng. Bác ấy bảo : “ Vợ chồng Bình, Phương chứ gì, ai mà không biết. Vợ chồng chú ấy làm ăn đứng đắn lắm. Từ hai bàn tay mà nên. Nay có thương hiệu. Xây xong cái nhà nào là bán hết ngay cái nhà ấy…”
Rồi một lần tôi cũng ghé qua nhà hắn chơi. Ngại quái gì? Mày giàu nhưng anh vẫn là chi trên, họ hàng vẫn phải có phép tắc.
Nhà hắn đẹp thật, diện tích mặt bằng có dễ hơn trăm mét vuông, bốn tầng, phòng khách rộng thênh thang. Chỗ nào cũng sạch như lau, như li, đồ đạc gọn gàng ngăn nắp.
Vợ hắn cao to như vận động viên bóng chuyền, sắc sảo và tháo vát. Rất đon đả:
- Em còn lạ gì nhà anh.(Giọng to không kém gì chồng)
Mẹ anh bán chuối cho khách sạn Sofitel Metropole từ thời Pháp thuộc cho đến tận những năm 80 của thế kỷ trước. Em thường vào nhà anh lấy hàng, em làm tiếp phẩm cho khách sạn mà. Nhà anh ở phố cổ nhưng rộng lắm. Có cái giếng trong sân, có cây bàng cổ thụ…
Hà Nội bé như bàn tay, đi đâu cũng có người biết rõ tung tích nhà mình. Bực thật.
Trong lúc chuyện trò, tôi thấy một người phụ nữ đã cứng tuỏi, nhưng không mất đi vẻ xuân sắc một thời, luôn tay dọn dẹp nhà cửa. Cái nhà này tinh tươm thế, chắc chắn phải nhờ đôi bàn tay nhỏ nhắn của người đàn bà kia. Đoán là người giúp việc, tôi khen xã giao:
- Chú thím tìm đâu được người giúp việc tử tế thế?
- Không hẳn là người giúp việc đâu anh. Chúng em móc từ bãi rác Đầm Hồng lên đấy. Chuyện hơi dài em kể anh nghe.
Cô vợ nói:
“Cách đây gần hai chục năm, có một phụ nữ trẻ, ôm một đứa con đỏ hỏn dặt dẹo qua nhà. Mặt mũi chị ta cũng sáng sủa, không đến nỗi nào, ra dáng người tử tế vậy mà sao đến nông nỗi này. Cả mẹ và con đều đói lả. Đứa bé khóc ngằn ngặt. Mẹ thế thì làm sao có sữa cho con được.
Nhìn cảnh thật thương tâm, động lòng trắc ẩn, vợ chồng chúng em cho ăn rồi hỏi chuyện:
- Chị ở đâu? Sao khổ thế này?
Chị ta ngơ ngác chỉ vào tai. Hóa ra bị nghễnh ngãng. Phải nói to mới hiểu.
- Em ở Đầm Hồng. Chị ta trả lời.
Ồ, xóm bụi Đầm Hồng, toàn dân tứ chiếng. Vợ chồng chúng em lạ gì, mấy cái lều rách nát, cạnh bãi rác hôi thối, muỗi khủng khiếp, không điện, nước.
- Thế chị tên là gì? Quê ở đâu?
- Em tên Hồng. Quê không biết.
Chị ta trả lời.
Sao lại có người không biết cả quê mình thế nhỉ? Vốn cũng là dân tha phương cầu thực, chồng em chạnh lòng nói, chuyện ấy có gì là lạ.
Vợ chồng em hồi ấy mải làm ăn, nhà cửa con cái ít có thời gian ngó ngàng, bàn nhau, hay để chị ta thử giúp việc nhà. Mà trông hoàn cảnh của hai mẹ con của chị ấy cũng không đành lòng. Em bảo:
- Chị có thể ở lại giúp việc cho nhà tôi, công sá tôi trả đàng hoàng, con chị còn nhỏ quá không thể ở bãi rác ấy được đâu?
Chị ấy gật đầu. Thế là từ đấy nhà em có người giúp việc.
Được vài ba tháng, mẹ con đã có chút da, chút thịt. Có người xui: “ Chị còn trẻ, cũng tinh ranh đi ở mãi sao được, đi chợ rau có đồng ra đồng vào, tự do, sau này còn lo cho con …”
Bùi tai, chị ấy nằng nặc xin nghỉ việc. Chúng em cũng chẳng giữ.
Một lần vợ chồng em rẽ qua Đầm Hồng xem chị ta ăn ở thế nào, thật khổ không thể tưởng tượng được. Chợ rau đi từ ba giờ sáng, lúc thì cắp con theo, khi thì gửi vạ vật, con bé quặt quẹo như cái dải khoai, vết muỗi đốt khắp người như phát ban. Chẳng họ hàng, dây mơ rễ má gì mà chồng em rên rỉ như chính người ruột thịt lâm vào cảnh ngộ ấy.
Từ hồi chị ấy không giúp việc nhà, tụi em cũng bí lắm. Cái máy giặt em cũng chẳng biết bật thế nào, chị ta giỏi lắm, cái gì cũng biết. Hai đứa con em suốt ngày nhắc đến cô Hồng, sốt hết cả ruột. Em bảo:
- Một ngày chị đi chợ lãi được bao nhiêu? Tôi sẽ trả gấp đôi. Chị quay về giúp việc nhà cho tôi đi. Mà con bé nhà chị cũng không thể ở đây được, nó chết vì muỗi mất.
Thế là, chị ấy khăn gói trở lại nhà em.
Mấy đồng đội cũ của anh Bình ở trạm A10 có dịp ghé chơi. Trông thấy chị Hồng họ kéo chồng em ra hỏi: “Ông với cô ta thế nào? Cô ta không phải tên là Hồng đâu? Là lính thông tin của đơn vị X, có tiếng xinh gái. Bị hỏng tai vì đeo cáp nhiều quá, ra quân đã lâu sao lại dạt về đây?”.
Nhà em ngớ người, thảo nào ngay từ đầu cứ thấy quen quen như đã gặp ở đâu? Chết thật, thì ra là một đồng đội thông tin.
Từ đấy, chúng em coi chị ấy không chỉ là người giúp việc, mà còn là một đồng đội sa cơ lỡ vận cần được giúp đỡ. Chúng em không bao giờ đả động đến đời tư cuả chị ấy. Có những vết thương lòng cần chôn chặt, đế sống tiếp. Phải không anh?
Mười lăm năm sau, con gái chị Hồng lớn lên xinh đẹp như một bông hoa dại bất chấp gió mưa.
Chúng em mới giật mình. Thôi chết con bé cần phải có giấy tờ tùy thân, một cái chứng minh thư cho cuộc đời phía trước của nó. Nhưng muốn có chứng minh thư thì phải có hộ khẩu. Mà hộ khẩu của nó thì, nói vui chứ thuộc diện KT 2 ở cái Đầm Hồng, do mấy thằng đầu gấu quản. Đến cái giấy khai sinh còn chẳng có thì nói gì đến hộ khẩu kia chứ. Hỏi mẹ nó, chị ta chỉ ngồi ôm mặt khóc, chẳng nói gì. Chắc, lại đụng đến nỗi đau thầm kín. Chán ghê.
Nhờ tay công an phường giúp đỡ, nhưng chỉ nhận được cái lắc đầu. Song, anh ta mách, về vùng quê nào đó nhờ nhập khẩu tạm vào đấy, rồi làm chứng minh thư. Ở nông thôn dễ hơn nhiều.
“Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền...” Cộng thêm một chút khả năng tài chính, chúng em cậy cục nhờ một người quen ở tỉnh Hà Tây, mãi tít gần chùa Hương, nhận cháu làm con nuôi, cam kết không đòi hỏi bất kỳ một quyền lợi gì.
Tưởng xong việc, ai dè đến ngày làm thủ tục nhập hộ khẩu, ông chồng phản đối, không chịu ký vào giấy tờ, sợ mua chuyện rắc rối sau này . Thế có bực mình không?
Bình nhà em tức quá, vợ chồng đành thất vọng quay về. Nhưng rồi, gần nửa đêm, chị vợ nhắn chúng em vào ngay. Có một ông bác nhân hậu, thông cảm với cảnh ngộ của hai mẹ con chị Hồng đã nói giúp. Ông chồng xuôi xuôi. Chúng em vội vàng đi luôn.
Mọi chuyện từ đấy suôn sẻ. Con bé đã có chứng minh thư. Cái vụ ấy, chúng em tốn khối tiền. Hàng năm, vào những ngày lễ tết, vợ chồng vẫn phải về Hà Tây, quà cáp cám ơn . Chỉ sợ người ta trách, không biết ăn ở, phải có trước, có sau.
Lo chứng minh thư cho cháu xong, lại lo đến việc làm. Em đã nhắm cho nó một chỗ ở khách sạn. Nhưng phải biết ngoại ngữ . Thế là chúng em bắt cháu học tiếng Anh như điên. Thậm chí sắp đến ngày phỏng vấn, thuê cả gia sư về kèm thêm. Giờ nó đã là một nhân viên làm bếp có biên chế đàng hoàng, lương lậu cũng rất khá. Chúng em chẳng lấy đồng nào, dạy cháu tiết kiệm, có chút vốn sau này mang về nhà chồng kẻo người ta coi thường.
Một lần vợ chồng em nói chuyện nghiêm túc với chị Hồng:
- Từ lâu chúng tôi coi chị như người nhà. Nếu chị không chê thì cứ ở đây với chúng tôi. Vợ chồng chúng tôi còn ngày nào thì lo cho mẹ con chị ngày ấy. Nếu chẳng may chúng tôi khuất bóng trước, thì con tôi, cháu tôi sẽ lo cho chị. Hãy yên tâm.
Tai nghễnh ngãng nghe câu được câu chăng, nhưng chị ấy hiểu hết. Rơm rớm nước mắt khóc và nói:
- Mẹ con em được như hôm nay phải cám ơn anh chị rất nhiều. Từ lâu em đã coi đây chính là nhà của em…Chết em cũng sẽ là ma nhà này. Anh chị đã nhặt mẹ con em từ bãi rác Đầm Hồng…Chị ấy nói thế làm chúng em cũng không cầm nổi nước mắt.
Nhà em bảo, không cần phải cám ơn. Tôi biết chị đã từng là lính thông tin, đồng đội của tôi. Đồng đội giúp nhau là lẽ thường. Mà không có chị giúp việc nhà, chắc gì chúng tôi đã có được cơ ngơi như hôm nay”.
Tôi nghe chuyện chú thím ấy kể mà cứ như truyện cổ tích. Thật khó tin.
Cho đến giờ, chị Hồng đã là bà Hồng. Bà đang chăm sóc thế hệ thứ hai của nhà chú em tôi. Bà còn nhanh nhẹn và khỏe mạnh lắm. Tôi thấy bà còn nắn từng nét chữ cho thằng “Tít”, cháu đích tôn của chú Bình. Có dễ bà còn chăm sóc đến đời chắt nhà chú ấy chứ chẳng chơi. Vợ chồng chú em họ tôi thì đang bận rộn, chuẩn bị đứng ra tổ chức đám cưới cho cái “Bống” con gái của bà Hồng. Mươi hôm nữa là nhà trai bưng tráp tới. Kể cũng lạ. Một người lính thông tin, sa cơ lỡ vận, thân phận bọt bèo dạt vào nhà một người lính thông tin trạm A10 rồi coi như nhà mình. Một người lính lo cho đồng đội như chính anh em máu mủ ruột già. Cánh sóng nào dẫn họ đến với nhau. Chỉ có trời mới biết.
Xin lỗi chị Hà, đáng ra em phải viết về chiến công của trạm A10, trong trận “Hà nội – Điện Biên Phủ trên không”. Song, em lại đi kể chuyện tào lao về chú em họ tên Bình. Nhưng em nghĩ, việc làm của chú ấy cũng đáng được coi như một “chiến công”.
Chiến công của người lính thông tin trạm A10, có phải không hả chị?
Tháng 12, năm 2012 Như Thìn
P/S Cho đến nay, không biết tên thực của bà Hồng là gì, cuộc sống riêng tư của bà vẫn còn là một ẩn số. Có lần bà nói, đời bà lắm truân chuyên. Bà lớn lên không có bố. Giờ đến đời con bà lại thế…Thật buồn! NT
|