Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:19:39 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thông tin và hình ảnh về Quân đội Ấn Độ  (Đọc 24006 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 04:29:31 am »

SƠ LƯỢC VỀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ẤN ĐỘ

(Nguồn : tham khảo từ báo Đất Việt, báo Tuổi trẻ và một số diễn đàn quân sự)


Lịch sử hình thành

Lực lượng vũ trang hiện đại của Ấn Độ đã được xây dựng trong thế kỷ 19 thời kỳ Anh đang cai trị Ấn Độ. Trong Đệ nhị Thế chiến, quân của Ấn Độ đã đóng vai trò chính trong việc cản trở, hạn chế sự phát triển của Đế quốc Nhật và cũng tham gia chiến đấu trong một số trận trên mặt trận theo trục bắc Phi và Ý.
Lực lượng vũ trang Ấn Độ đã có nhiều thành công trong quân đội Anh - Ấn, sau đó là việc giành lập cho Ấn Độ năm 1947. Lực lượng vũ trang Ấn Độ đã tham gia chiến đấu trong cả 3 cuộc chiến tranh chống lại Pakistan và cuộc chiến tranh chống lại Trung Quốc. Lực lượng vũ trang Ấn Độ cũng tham gia vào các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc và hiện nay đứng thứ 2 trong các nước có quân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình. Lực lượng vũ trang Ấn Độ có số quân đông thứ 3 trên thế giới.

Sơ lược về tình hình quân sự và đối ngoại của Ấn Độ

- Từ khi được Anh trao trả độc lập, Ấn Độ đã ba lần chiến tranh với Pakistan (1947, 1965 và 1971), không kể những lần đụng độ nhỏ ở vùng tranh chấp Jammu - Cachemire mà gần nhất là trận Kargil năm 1999. Phía Bắc thì Ấn Độ đã một lần chiến tranh với Trung Quốc năm 1962, trong trận đụng độ này, Quân đội Ấn Độ bị thua thất bại nặng nề và mất hơn 15 ngàn Km vuông đất. Phía Đông quan hệ với Bangladesh cũng không được tốt, mặc dù chính Ấn Độ đã giúp Bangladesh giành lại độc lập từ Pakistan. Ấn Độ vừa xây dựng hoàn thành một tường rào trên suốt biên giới với Bangladesh.

- Liên minh Trung Quốc - Pakistan rất khăng khít trên mọi lĩnh vực, có nhiều chưong trình sản xuất vũ khí chung, Trung Quốc là nguồn cung cấp vũ khí chính của Pakistan. Và có thể chính Trung Quốc đã ngấm ngầm giúp Pakistan phát triển thành công vũ khí nguyên tử và tên lửa đạn đạo. Từ sau chiến tranh năm 1962 với Ấn Độ, thay vì trực tiếp đối đầu, Trung Quốc dùng chiến lược chiến tranh ủy nhiệm qua Pakistan để đối phó với Ấn Độ. Mặc dù quan hệ Trung - Ấn, quan hệ Ấn Độ- Pakistan được cải thiện nhiều gần đây, liên minh Trung Quốc - Pakistan này vốn sinh ra để đối đầu với Ấn Độ nên vẩn là đe dọa lớn nhất của Ấn độ .

- Là một lãnh tụ trong nhóm các quốc gia không liên kết, Ấn Độ trên lý thuyết là nước trung lập, không đồng minh. Nga ( Liên Xô cũ) là nước thân cận với Ấn, có " quan hệ chiến lược ", là nguồn cung cấp vũ khí chính. Ấn Độ có nhiều chương trình chuyển giao công nghệ sản xuất vũ khí với Nga.

Ấn Độ và Trung Quốc

Mọi quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc đều bị chi phối bởi vấn đề biên giới vẫn chưa giải quyết từ hơn 50 năm nay. Trung Quốc và Ấn Độ giáp nhau trên 3 550 cây số, được phân cách bởi dãy núi Himalaya hiểm trở và vùng cao nguyên Tây Tạng. Trong nhiều thế kỷ, Tây Tạng là vùng đệm giữa hai nước. Sau khi Trung Quốc chiếm Tây Tạng năm 1950, hai vùng đệm hiện nay là hai nước Nepal và Bhutan, nằm ở phía nam dãy Himalaya. Ba khu vực ngày nay vẫn là điểm nóng của sự xung đột giữa Ấn Độ và Trung Quốc: Aksai Chin ở tụ điểm của biên giới ba nước Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc, Arunachal Pradesh, ở sát biên giới Đông Bắc của Ấn Độ và Kashmir, ở Tây Bắc Ấn Độ.

Aksai Chin hiện thuộc quyền quản lý của Trung Quốc nhưng Ấn Độ coi như thuộc về mình và đòi lại. Ngược lại, Arunachal Pradesh là một tiểu bang của Ấn Độ nhưng Trung Quốc lại coi là thuộc về Tây Tạng và đòi Ấn Độ trả lại. Kashmir là vùng tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan, mỗi bên chiếm một nửa và đòi bên kia phải trả phần còn lại. Mâu thuẫn giữa Ấn Độ và Trung Quốc ở Kashmir là vì Trung Quốc ủng hộ Pakistan.

Trong những thế kỷ trước Trung Quốc và Ấn Độ rất ít quan hệ vì địa lý cản trở. Khi hai nước giành độc lập và thoát khỏi ách ngoại bang vào cùng thời điểm, những đường biên giới do các nước thực dân ấn định trở thành đầu mối cho những xung đột có khi dẫn đến chiến tranh. Bản tuyên ngôn độc lập năm 1947 cũng chia cắt lãnh thổ Ấn Độ thành hai nước Pakistan và Liên bang Ấn Độ. Một sự phân chia đẫm máu: từ 300 000 đến 500 000 người bị thảm sát trong các cuộc chém giết lẫn nhau của hai cộng đồng hồi giáo và ấn độ giáo, và từ 10 đến 15 triệu người di cư từ vùng này sang vùng kia. Sự chia cắt đất nước và ba cuộc chiến tranh Ấn Độ- Pakistan tiếp nối nhau (1947-1948, 1965, 1971) để giành giựt vùng Kashmir vẫn là vết thương nhức nhối truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tại Ấn Độ. Việc Trung Quốc ngay từ đầu và cho đến ngày nay luôn là đồng minh đắc lực của Pakistan chỉ có thể thêm một ung nhọt cho quan hệ đã căng thẳng giữa hai nước. Trung Quốc cũng không ngần ngại dùng Pakistan để cảnh báo Ấn Độ ngay cả những lúc hai bên vui vẻ với nhau nhất: ngay sau khi viếng thăm Ấn Độ tháng 11.2006, chủ tịch Hồ Cẩm Đào bay sang Pakistan, như để nhắc lại một trong những điểm bất di bất dịch của đường lối ngoại giao mình. Chính sách "tay đấm tay xoa" này cũng thể hiện qua việc đại sứ Trung Quốc tại Ấn Độ Sun Yuxi , chỉ một tuần trước khi ông Hồ Cẩm Đào sang, tuyên bố: "Quan điểm của chúng tôi là toàn bộ tiểu bang Arunachal Pradesh thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Chúng tôi đòi lại tất cả." Khiến cho bộ trưởng ngoại giao Ấn Pranab Mukherjee phải đối đáp lại: " Arunachal là một bộ phận của Ấn Độ".

Mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong vùng Kashmir cũng không chỉ vì Pakistan mà còn vì một khu vực hai bên trực tiếp tranh giành nhau. Aksai Chin là một vùng đất rộng 38 000 cây số vuông, ở độ cao 5 000 thước, hoang vu và khô cằn, rất ít dân cư nhưng ở vị trí chiến lược giữa ba nước Pakistan, Ấn Độ và Trung Quốc. Aksai Chin ngày xưa thuộc về vương quốc Ladakh nhưng được sát nhập vào Ấn Độ thuộc đế quốc Anh khi Anh và Tây Tạng (lúc ấy còn độc lập) ký hiệp ước năm 1904, ấn định biên giới giữa Tây Tạng và Ấn Độ theo đường ranh giới Mac Mahon. Trung Quốc lúc ấy không công nhận Tây Tạng là nước độc lập nên cũng không công nhận đường Mac Mahon. Vì vị trí chiến lược của Aksai Chin, nằm trên quốc lộ 219 của Ấn Độ nối Tây Tạng và tỉnh Sinkiang (Tân Cương), Trung Quốc nhất định giữ quyền kiểm soát khu vực này.

Trung Quốc cũng đòi lại một khu vực rộng khoảng 82 000 cây số vuông ở Đông Bắc Ấn Độ hiện là tiểu bang Arunachal Pradesh nhưng Trung Quốc thường gọi là Zangnan (Tạng Nam). Arunachal Pradesh có hơn 1 triệu dân, đại đa số gốc Tây Tạng, Miến Điện và Thái, chỉ khoảng 15% là di dân từ các vùng khác của Ấn Độ, đặc biệt là hai tiểu bang lân cận Assam và Nagaland. Tại hội nghị Simla năm 1913-1914, thống đốc Anh Sir Henry Mac Mahon ấn định biên giới giữa Ấn Độ và Tây Tạng theo một đường ranh giới mệnh danh là "đường Mac Mahon" (Mac Mahon Line) nhằm nới rộng vùng kiểm soát của Anh và tạo ra một số vùng đệm. Các đại diện Anh và Tây Tạng tại hội nghị thông qua đường ranh giới này nhưng Trung Quốc chối từ ký hiệp định vì khẳng định Tây Tạng thuộc chủ quyền của mình và đường Mac Mahon vô giá trị. Năm 1950, thấy Trung Quốc sửa soạn chiếm Tây Tạng, Ấn Độ đơn phương ấn định biên giới theo đường Mac Mahon tuy Trung Quốc phản đối. Trong hơn 10 năm sau đó, vấn đề lắng dịu nhờ không khí hoà hoãn giữa hai nước, nhưng bùng lên trở lại với cuộc chiến tranh biên giới Ấn-Trung năm 1962. Trung Quốc kéo quân sang chiếm đa số khu vực này nhưng sau khi tuyên bố chiến thắng, rút trở lại sau đường Mac Mahon.

Vấn đề Tây Tạng và chiến tranh biên giới năm 1962

Sau khi lên nắm chính quyền, Mao Trạch Đông tuyên bố Tây Tạng thuộc về Trung Quốc và quyết tâm đặt Tây Tạng dưới quyền kiểm soát hành chánh và quân sự của mình. Đối với Bắc Kinh, sự quan tâm của Ấn Độ đến vùng này là can thiệp vào nội bộ Trung Quốc. Tuy Ấn Độ thừa kế một số đặc quyền tại Tây Tạng từ thời còn thuộc về Anh Quốc, thủ tướng Nehru, để trấn an Trung Quốc, khẳng định Ấn Độ không có tham vọng chính trị hay đất đai gì ở Tây Tạng, và cũng không đòi hỏi đặc quyền gì ở đó, nhưng mong muốn duy trì các quyền lợi thương mại cố hữu. Trước thái độ mềm mỏng ấy, Trung Quốc yên tâm tiến hành mưu đồ của mình và tháng 10. 1950 đem 40 000 quân tấn công Tây Tạng cùng lúc ở 6 nơi. Chỉ trong hai ngày, quân đội Trung Quốc đã giết hơn một nửa quân đội nhỏ nhoi và non nớt của Tây Tạng, chỉ có 8 000 người. Ấn Độ tuy bàng hoàng và phẫn nộ cũng không làm được gì để ngăn cản bước tiến của Trung Quốc. Chính quyền Tây Tạng cầu cứu đến cộng đồng quốc tế và Liên Hiệp Quốc nhưng rồi cũng bị ép buộc ký với Bắc Kinh, tháng 5.1951, một hiệp định "17 điểm" trong đó Tây Tạng công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ nhưng được duy trì hệ thống chính trị và xã hội của mình. Ngày 9.9.1951, 23 000 quân Trung Quốc tiến vào thủ đô Lhassa, mở đầu cho bi kịch của người dân Tây Tạng, còn kéo dài đến ngày nay. Chưa đầy một năm sau, Bắc Kinh bắt đầu siết chặt sự kiểm soát, áp đặt những biện pháp xoá bỏ các truyền thống văn hoá và xã hội của Tây Tạng và tăng cường đàn áp sự kháng cự. Tháng 3.1959, sau một cuộc nổi dậy thất bại ở Lhassa, Đức Đà Lai Lạt Ma và hàng ngàn người Tây Tạng phải bỏ xứ đến nương náu tại những vùng Tây Bắc của Ấn Độ, tập trung ở tiểu bang Himachal Pradesh. Giòng chảy những người từ Tây Tạng đến tị nạn ở Ấn Độ không còn ào ạt như trong những năm đầu nhưng vẫn tiếp tục. Sự hiện diện của Đức Đà Lai Lạt Ma và một cộng đồng Tây Tạng ở Ấn Độ vẫn là một điều làm Trung Quốc khó chịu, dẫu là tháng 6.2003, Ấn Độ đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Tây Tạng và tuyên bố không hỗ trợ những hoạt động chống lại Trung Quốc của cộng đồng Tây Tạng tại Ấn Độ.

Việc Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng bằng vũ lực cũng là một đòn nặng đối với bản thân thủ tướng Nehru và thuyết sống chung hoà bình của ông. Tuy bị chỉ trích trong nội bộ là ngây thơ và yếu hèn, ông Nehru vẫn gắng gượng dĩ hoà vi quí vì tin rằng Ấn Độ cần phải hoà hảo với Trung Quốc để rảnh tay xây dựng kinh tế.

Sau khi lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh tháng 4.1950, Ấn Độ ký với Trung Quốc tháng 4.1954 một hiệp định về Tây Tạng và đặt nền tảng cho quan hệ giữa hai nước, trên cơ sở 5 nguyên tắc sống chung hoà bình (Panchsheel). Câu khẩu hiệu quen thuộc thời đó là "Hindi-Chini bhai-bhai" tức "Ấn Độ và Trung Quốc là anh em". Nhưng tình huynh đệ này cũng chỉ kéo dài được vài năm trước khi vỡ tan với cuộc chiến tranh biên giới năm 1962.

Cho đến ngày nay Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn bất đồng ngay cả về những lý do đưa tới chiến tranh và đổ lỗi cho nhau. Một điều chắc chắn là ở đây có nhiều yếu tố: tình hình Tây Tạng, vai trò Trung Quốc gán cho Ấn Độ trong cuộc nổi dậy ở Lhassa và nhất là việc Đức Đà Lai Lạt Ma chạy sang Ấn Độ; những đụng độ liên tiếp giữa các đội biên phòng của hai nước, và chính sách "tiến tới" (Forward Policy) của Ấn Độ thực hiện qua việc xây cất khoảng 60 tiền đồn trong đó 43 là ở phía bắc đường Mac Mahon, đối với Trung Quốc là bằng chứng của một mưu đồ bành trướng. Từ tháng 6.1962, các cuộc chạm súng leo thang thành chiến tranh thực thụ ngày 10.10.1962 khi quân đội Trung Quốc tràn sang Aksai Chin và Arunachal Pradesh, đánh bại các đội phòng vệ và tiến sâu vào lãnh thổ Ấn Độ. Cuộc chiến bất quân bình giữa bên Trung Quốc, đông đảo và dạn dày hơn, và bên Ấn ít kinh nghiệm và thiếu chuẩn bị, kết thúc chớp nhoáng, chỉ hơn một tháng sau, khi Trung Quốc tuyên bố chiến thắng và đơn phương ngừng bắn. Số tử trận và tù binh phía Trung Quốc không được thông báo còn phía Ấn Độ chết 1 383 người, bị bắt làm tù binh 3 968 người và mất tích 1 696 người. Chiến tranh chính thức chấm dứt khi Trung Quốc trả tù binh rồi rút về phía bên kia đường Mac Mahon. Một lý do tại sao Trung Quốc không "thừa thắng xông lên" mà tỏ ra rộng lượng biết điều là vì cùng lúc ấy, thế giới đang rúng động về vụ khủng hoảng tên lửa ở Cuba, khiến cuộc chiến tranh Ấn-Trung bị các nước Tây phương xem như một hành động gây hấn khác của khối Cộng sản. Tuy thắng thế dễ dàng nhưng Trung Quốc khôn ngoan hiểu là nên dừng lại ở đó và nhanh chóng giải quyết tranh chấp.

Cuộc chiến tranh biên giới đánh dấu một sự chuyển hướng triệt để trong đường lối ngoại giao và quân sự của Ấn Độ. Ông Nehru bị chỉ trích nặng nề là đã không đo lường được tình thế, chính sách hoà hảo với Trung Quốc và các lý thuyết sống chung hoà bình trên cơ sở bất bạo lực do ông đề xướng bị thực tế phủ nhận phũ phàng, và giấc mơ của ông xây dựng một trục Ấn Độ-Trung Quốc cùng nhau chế ngự châu Á tan như bong bóng.

Ấn Độ rút ra cho mình bài học là phải xây dựng sức mạnh quân sự và tự bảo vệ nếu muốn có chỗ đứng trên thế giới, quay sang Liên Xô và bắt đầu ra sức trang bị vũ khí. Trung Quốc và Ấn Độ bước vào một thời kỳ lạnh nhạt và đối nghịch kéo dài cho đến cuối thập niên 1980.

Sự bại trận năm 1962 cũng là nỗi tủi hổ của người Ấn cho tới ngày nay và tiếp tục chi phối cái nhìn của Ấn Độ về Trung Quốc, nuôi dưỡng một tâm trạng phức tạp: mặc cảm, tự ái, nghi ngại và tị hiềm pha lẫn nể phục và thèm muốn. Nhiều nhà phân tích, kể cả người Ấn, nhận xét: "Trung Quốc là nỗi ám ảnh của Ấn Độ". Một ám ảnh đi đôi với một nỗi day dứt thường kỳ khác: được xem như một cường quốc, ít ra là trong khu vực, nếu không trên toàn thế giới. Đáp lại khát vọng này là thái độ kẻ cả, có khi khinh thường của Trung Quốc khiến cho Ấn Độ càng bức bối. Một thí dụ: khi ông Atal Bihari Vajpayee, lúc đó là bộ trưởng ngoại giao, đến thăm Trung Quốc tháng 2.1979, ông đã phải hấp tấp về sớm hơn một hôm vì Trung Quốc tấn công biên giới bắc của Việt Nam ngay lúc ấy và còn tuyên bố "sẽ cho Việt Nam một bài học như đã cho Ấn Độ một bài học năm 1962"! Một câu nói vừa gây căm phẫn trong dư luận Ấn Độ, vốn có nhiều cảm tình với Việt Nam và đã nhớ ngay đến kinh nghiệm của chính mình, vừa cho thấy Trung Quốc sẵn sàng "chơi cha" Ấn Độ, chả coi anh ta ra gì.

Cũng vì mong muốn xác định cương vị của mình trên thế giới nên Ấn Độ đòi hỏi tham gia Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc với tư cách thành viên thường trực. Tuy Trung Quốc tuyên bố chính thức ủng hộ nguyện vọng này nhưng cho tới nay hồ sơ của Ấn Độ bị gắn liền với yêu cầu cùng mục đích của Nhật, mà Trung Quốc thì nhất định không cho Nhật tăng cường vai trò của mình, khiến Ấn Độ rất sốt ruột và bất bình.

Do đó không ngạc nhiên khi thấy đối với Ấn Độ, Trung Quốc là một sự nhức đầu kinh niên. Ngay cả việc chọn thái độ, cách đối xử với Trung Quốc cũng là một đề tài tranh cãi trong nội bộ Ấn Độ.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Chín, 2011, 07:55:26 am gửi bởi Triumf » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #1 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 08:25:17 pm »

Chọn thế đứng trước Trung Quốc

Theo vài nhà phân tích, ở Ấn Độ có ba cách cảm nhận và phản ứng trước sự vươn lên và sức mạnh của Trung Quốc: một là thán phục và khiếp sợ và do đó nghĩ rằng cần phải cầu an với Trung Quốc; hai là coi Trung Quốc như mối đe doạ nhưng trong tương lai xa, cho nên phải tăng cường sức mạnh kinh tế và quân sự của để giao lưu với Trung Quốc hầu kềm chế và cân bằng ảnh hưởng (check and balance), và ba là coi Trung Quốc như mối đe dọa lớn và ngay trước mắt, và vì thế phải đối xử như Trung Quốc đã đối xử với Ấn Độ: áp dụng chính sách ngăn cản và bao vây (containment–cum-encirclement).

Trường phái thứ nhất là nhóm lobby ủng hộ Trung Quốc: các đảng viên đảng cộng sản, trí thức thiên tả, một số nhà báo, những người chống chiến tranh, chống hạt nhân, chống Mỹ và những người lý tưởng. Ngoài ra còn có một số doanh nhân làm ăn với Trung Quốc và những người cảm thấy gần gũi với Trung Quốc về chính trị hay ý thức hệ. Có lẽ tiêu biểu cho nhóm này là quốc vụ khanh đặc trách thương mại Jairam Ramesh, người đã chế ra từ "Chindia" để miêu tả viễn tượng một sự hợp tác khăng khít giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Trong dịp chủ tịch Hồ Cẩm Đào thăm Ấn Độ tháng 11.2006, ông Ramesh tuyên bố trước Hiệp hội các công nghiệp Ấn Độ: "Chúng ta có còn chạy đua gì nữa đâu. Họ đã ăn đứt chúng ta rồi".

Trường phái thứ ba là nhóm diều hâu chống Trung Quốc, qui tụ một số trí thức dân tộc chủ nghĩa cực đoan và giới lãnh đạo quân sự. Không ít người Ấn, ngay cả giới trẻ, hoặc có thành kiến hoặc không biết mấy gì về Trung Quốc. Đối với họ Trung Quốc là đồng nghĩa với chiếm đóng Tây Tạng, xâm lăng Ấn Độ năm 1962, đồng loã với kẻ thù truyền kiếp là Pakistan, mưu toan thôn tính nước họ.

Song đại đa số người Ấn thuộc vào trường phái thứ hai, họ là các viên chức nhà nước, đa số giới nhà báo và trí thức, các doanh nhân, và những người có cái nhìn thực tế và ôn hoà. Họ nhận thức được ảnh hưởng thuận lợi của các cải cách và bước tiến kinh tế của Trung Quốc trên châu Á và Ấn Độ nhưng cũng chia sẻ những quan tâm về chính sách quân sự của Trung Quốc. Họ hiểu là đối với Trung Quốc không thể cầu an mà cũng chẳng thể ngăn cản. Phần nào họ tiêu biểu cho thái độ chung của Ấn Độ trước Trung Quốc: hoan nghênh về kinh tế và băn khoăn về quốc phòng. Những thăng trầm trong quan hệ giữa hai nước là tuỳ theo khuynh hướng ngả về phía này hay phía kia, ưu tiên cho kinh tế hay ưu tiên cho quốc phòng.

Ấn Độ và Pakistan

Vào năm 1945, Ấn Độ vẫn là thuộc địa của Đế chế Anh, nhưng phong trào đòi độc lập diễn ra hàng thế kỷ qua không thể chịu đựng lâu hơn được nữa. Tuy nhiên, vấn đề của một xã hội bị chia rẽ giữa 250 triệu người Hindu và 90 triệu người Hồi giáo là không thể được giải quyết trọng vẹn bằng cách chia tiểu lục địa thành Ấn Độ Hindu, Đông Hồi giáo và Tây Pakistan. Chi vài tuần sau khi giành được độc lập vào ngày 15 tháng 8 năm 1947, hai quốc gia đã lại lao vào một cuộc cuộc chiến khác với nhau.

Bnag Kashmir ở miền Bắc có dân số phần lớn là người Hồi giáo, nhưng một Hoàng tử người Hindu lại luôn nỗ lực để tỏ ra trung lập đối với cả hai bên. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa của người Hồi giáo vào tháng 10 năm 1947 đã buộc ông phải sớm đưa ra quyết định. Kết quả llà ông đã liên minh với Ấn Độ. Cuộc chiến tiếp theo giữa hai nước Ấn Độ và Pakistan đã kết thúc sau thỏa thuận ngừng bắn do Liên Hợp Quốc đề xuất vào ngày 31 tháng 12 năm 1948. Theo thỏa thuận này,Ấn Độ sẽ kiểm soát khu vực phía Nam, còn Pakistan sẽ chiếm lĩnh vùng núi phía Bắc.

Sau đó, Ấn Độ thỉnh thoảng lại giao tranh với quân Trung QUốc tại các khu vực biên giới còn tranh cãi thuộc phía Bắc quận Ladakh và đồn Biên phòng Đông Bắc (hiện nay là Arunachal Pradesh). Đồn biên phòng này là nơi mà khu vực biên giới Ấn Độ đã bị tấn công vào tháng 10 năm 1962, trước khi Trung Quốc chấm dứt cuộc chiến vào tháng 11 và rút lui. Phản ứng của Ấn Độ là một hành động phối hợp để bành trướng và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang. Kết quả của cuộc cải tổ nay sẽ được chứng minh trong vòng 10 năm.

Ấn Độ gặp rắc rối bởi nhiều cuộc khởi nghĩa khác ở vùng biên giới. Tuy nhiên, Pakistan vẫn là đối thủ chính của họ. Vào năm 1965, một cuộc xung đột mới ở Kashmir và khu vực Rann 0f Kutch, thuộc biên giới giữa Ấn Độ và Tây Pakistan., lại nổ ra. Tiến trình này bắt đầu với những cuộc giao tranh lẻ tẻ và bùng nổ thành chiến tranh ngầm vào tháng 9. Một thỏa thuận ngừng bắn mới của Liên Hợp Quốc đã được đề xuất sau đó 22 ngày. Tuy nhiên, hành động này chỉ đưa ra sau khi trận chiến có quy mô lớn nhất giữa những cỗ xe tăng kể từ sau Thế chiến thứ hai diễn ra ở khu vực gần Sialkot.


Cuộc chiến vốn có nguy cơ nổ ra giữa Ấn Độ và Pakistan kể từ sau thời kỳ độc lập đã thực sữ diễn ra vào năm 1971, sau khi Pakistan tuyên bố trở thành nước độc lập với Bangladesh. Tây Pakistan đã tìm cách để trấn áp phong trào giành độc lập, và cuộc nội chiến này đã làm mất đi sinh mạng của hàng trăm người. Có trên 10 triệu người dân Bengali đã nướng thân ở Ấn Độ. Những hoạt động dui kích ban đầu đã nhanh chóng mở đường cho tiến trình can thiệp quân sự quy mô lớn với sự hiệp lực của Quân đội Xô Viết.

Vào ngày 3 tháng 12, Pakistan đã tìm cách chặn trước cuộc xâm lược của Ấn Độ vào Bangladesh. Họ thực hiện điều này bằng cách chủ động xâm lược vùng Káhmir và Punijah. Không quân Ấn Độ đã trụ vững sau những cuộc tấn công vào căn cứ quân sự của họ. Trong những ngày tiếp theo, cuộc xâm lược của quân Ấn Độ vào miền Đông đã bắt đầu diễn ra. Chi trong vòng 13 ngày, căn cứ chỉ huy Pakistan ở Bangladesh phải đầu hàng với một lực lượng lên đến 85.000 người. Riêng ở phía tây, Ấn Độ đã chặn đứng cuộc tiến công của Pakistan. Vào ngày 17 tháng 12, cuộc chiến kết thúc - Pakistan mất Bangladesh.

Vào năm 1998, hai quốc gia lại rơi vào một tình thế căng thẳng liên quan đến vấn đề hạt nhân. Sau cuộc thử nghiệm tên lửa hạt nhân của Pakistan vào tháng 4, Ấn Độ đã cho nổ 5 quả bom hạt nhân bên dưới lòng đất vào tháng 5. Phía Pakistan phản ứng lại với 5 cuộc thử nghiệm liên tiếp đưới lòng đất cũng trong tháng đó. Vào tháng 5 năm 2002, khu vực tranh chấp Kashmir một lần nữa lại khiến cho Ấn Độ và Pakistan đứng bên bờ vực của chiến tranh hạt nhân.
Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #2 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 12:39:11 am »

Ấn Độ và Việt Nam

Bắt nguồn từ lịch sử

Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đã có ngọn nguồn lịch sử. Thủ tướng Ấn, Jawahrlal Nehru, là lãnh đạo nước ngoài đầu tiên thăm Bắc Việt năm 1954, và trong hầu hết thời gian Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ và Việt Nam là đồng minh gắn bó. Cả hai thân thiết với Liên Xô và đều chịu các cuộc tấn công biên giới của Trung Quốc: Ấn Độ năm 1962 và Việt Nam 1979.

Việc Ấn Độ ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh và trong thời gian Việt Nam chiếm đóng Campuchia đã đem lại giá chính trị, làm quan hệ Delhi – Washington căng thẳng, và làm chậm quá trình bình thường hóa quan hệ Ấn – Trung gần một thập niên. Đổi lại, Việt Nam ủng hộ Ấn Độ trong xung đột với Pakistan, và là một trong những nước đầu tiên công nhận Bangladesh năm 1971.

Nhưng trong thời gian Chiến tranh Lạnh, quan hệ Ấn – Việt chủ yếu mang tính chất ngoại giao và chính trị. Giao thương hạn chế, và phần an ninh cũng chủ yếu chỉ là trao đổi thông tin. Chỉ sau khi Chiến tranh Lạnh kết liễu và môi trường an ninh châu Á được tái câu trúc, rồi lại có Chính sách Nhìn về phía Đông của Ấn Độ đầu thập niên 1990, chỉ khi đó mối quan hệ dần dần chuyển thành đối tác chiến lược thực sự.

Quan hệ chiến lược mở rộng

Phải đến khi có một chính phủ dân tộc chủ nghĩa ở Delhi cuối thập niên 1990, quan hệ tay đôi mới tăng tốc và ngả sang góc độ chiến lược.

Cùng các vụ thử nghiệm hạt nhân Pokhran II năm 1998, chính phủ đảng BJP của Atal Behari Vajpayee ra dấu với thế giới, nhất là với Trung Quốc, rằng Ấn Độ đã trở thành đại cường. Việt Nam thì cũng muốn bớt phụ thuộc vào Nga trong chuyện mua vũ khí và ngoại giao quốc phòng. Lãnh đạo hai nước cũng nhận ra rằng, dù có tiến bộ trong quan hệ với Bắc Kinh, cả Ấn Độ và Việt Nam vẫn chia sẻ sự tương thông chiến lược trong nhu cầu kiềm chế Trung Quốc.

Từ năm 1998, hai nước đã thắt chặt quan hệ cả về quân sự và ngoại giao. Việt Nam ủng hộ cố gắng của Ấn Độ muốn có ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, vận động cho Ấn Độ có mặt ở Hội nghị Đông Á 2005, giúp ngăn không cho Pakistan vào Diễn đàn Khu vực Asean. Đổi lại, Ấn Độ ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO, giúp Việt Nam có ghế trong Hội đồng Bảo an năm 2007. Thương mại hai chiều tăng nhanh, từ 72 triệu đôla năm 1995 lên tới 2 tỉ đôla năm 2008. Các đại công ty Ấn như Tata Steel và ONGC Videsh Limited bắt đầu đầu tư ở Việt Nam, trong cái mà nhiều người hy vọng mở đầu cho hình mẫu thương mại mới ở Á châu.

Ấn Độ xem Việt Nam là chướng ngại chính cho sự bành trướng về nam của Trung Quốc. Cũng giống như Trung Quốc cố gắng chặn Ấn Độ bằng việc kết liên quân sự với Pakistan, New Delhi đã hợp tác quốc phòng, giúp đỡ quân sự cho nước láng giềng nhỏ hơn.

Năm 2000, George Fernandes, Bộ trưởng Quốc phòng của chính phủ BJP, ký Nghị định thư Quốc phòng 15 điểm với Hà Nội, hứa hẹn giúp đỡ cho việc hiện đại hóa quân đội. Ba năm sau, hai nước tiến thêm bước nữa khi ký Tuyên bố chung Hợp tác. Năm 2007, hai bên lại ký thỏa thuận Đối tác Chiến lược.

Thiết bị quân sự của hải quân và không quân Việt Nam có cùng nguồn gốc Nga giống như Ấn Độ. Điều này cho phép quân lực Ấn thường xuyên giúp Việt Nam giải quyết khó khăn bằng việc cung cấp phụ tùng thay thế, và dịch vụ trùng tu và sửa chữa. New Delhi đã sửa chữa, nâng cấp 125 máy bay Mig21 của Việt Nam. Phi công Ấn Độ cũng giúp đào tạo, và năm 2005, hải quân Ấn chuyển hơn 150 tấn phụ tùng tới Hà Nội để giúp tu bổ tàu Petya và OSA-11. Tuần duyên hai nước đã đi tuần chung, và hải quân hai bên đã tập trận chung năm 2007.

Chưa mãn nguyện

Dẫu vậy, vẫn có cảm giác ở cả Ấn Độ và Việt Nam rằng quan hệ chưa đạt tới tiềm năng.

Việt Nam đặc biệt thất vọng vì Ấn Độ chưa phải là đối tác cung cấp vũ khí đáng tin cậy. New Delhi đã dè dặt trong cung cấp các hệ thống tên lửa mà ban đầu đã hứa hẹn. Năm 2000 và nhiều lần trong thời gian đảng BJP cầm quyền, Ấn Độ hứa sẽ chuyển giao hệ thống tên lửa Prithvi và BrahMos. Prithvi là tên lửa đạn đạo tầm ngắn khoảng 200-350 cây số, trong khi BrahMos, được Ấn sản xuất chung với Nga, là tên lửa chống tàu rất hiện đại, dựa trên tên lửa Yakhent của Nga, có thể bay nhanh gấp đôi tốc độ âm thanh. Nếu Việt Nam có hệ thống đó sẽ là thách thức lớn cho sự thống trị trên Biển Đông của hải quân Trung Quốc.

Đã có nhiều diễn giải vì sao Ấn Độ không cấp Prithvi và BrahMos cho Việt Nam. Có người nói chính phủ đảng Quốc đại (ngày càng tập trung cho hợp tác kinh tế, thay vì quốc phòng, với Việt Nam) không muốn làm Trung Quốc bực tức. Người khác lại quy lỗi cho bộ máy hành chính Ấn Độ, hoặc lại có người, trong trường hợp BrahMos, cho rằng hệ thống này phải được gắn kết đầy đủ trong quân lực Ấn Độ trước khi có thể giao cho các nước thân thiện như Việt Nam. Đa số phân tích gia đồng ý rằng Việt Nam, về lâu dài, có thể có được Prithvi. Nhưng không chắc như thế trong trường hợp BrahMos.

Người ta tin rằng chính vì sự thất vọng này, cùng nhiều lần chậm trễ khi chuyển giao quân trang, mà Việt Nam đã mua súng bán tự động và súng bắn tỉa từ Pakistan năm 2007. Ấn Độ thì cũng hơi thất vọng khi triển vọng hải quân của họ có chỗ lâu dài tại Vịnh Cam Ranh ngày càng xa vời.

Mặt trận kinh tế cũng chưa hoàn thiện. Mặc dù thương mại song phương tăng mạnh trong một thập niên vừa qua, nhưng nó cũng ngày càng mất cân đối – Việt Nam chịu thâm hụt một tỉ đôla với Ấn Độ. Ấn Độ đã lịch sử bác bỏ đề nghị của Việt Nam muốn có hiệp định tự do thương mại song phương (FTA), và đã từ chối giảm – miễn thuế cho sản phẩm Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Chín, 2011, 12:03:19 pm gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 02:10:26 pm »

Sáu nhiệm vụ chính của Quân đội Ấn Độ

- Đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ.
- Bảo vệ Tổ quốc trước sự tấn công của kẻ thù.
- Sẵn sàng đổ bộ chiến đấu ngay trên đất của kẻ thù.
- Tuyệt đối không được dùng vũ khí hạt nhân để tấn công phủ đầu.
- Sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân khi có thiên tai, thảm họa xảy ra
- Tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (Lực lượng Gìn giữ hòa bình Ấn Độ - IPKF)


Cấu trúc


Bộ chỉ huy của Lực lượng vũ trang Ấn Độ đặt ở New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Tổng tư lệnh của các lực lượng vũ trang Ấn Độ là Tổng thống nhưng đây chỉ là chức vụ mang tính chất nghi thức, trên thực tế quyền kiểm soát quân đội nằm trong tay Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Bộ Quốc phòng (MOD) chịu trách nhiệm bảo vệ quốc phòng và an ninh trên lãnh thổ Ấn Độ. Có khoảng 2.414.700 (xếp thứ 3 trên Thế giới) người đang phục vụ trong thành phần các lực lượng vũ trang Ấn Độ. Quân đội Ấn Độ chia làm hai thành phần: Lực lượng Vũ trang Ấn Độ, gồm Lục quân Ấn Độ, Hải quân Ấn Độ và Không quân Ấn Độ, được đặt dưới sự chỉ huy, điều hành trực tiếp của Bộ Quốc phòng. Lực lượng phục vụ, hỗ trợ gồm có Lực lượng Bảo vệ Biên giới Ấn Độ, Lực lượng Bán vũ trang Ấn Độ và Bộ chỉ huy các Lực lượng Chiến lược. Tất cả các quân nhân phục vụ trong quân đội của Ấn Độ là những người tình nguyện, mặc dù chính phủ được quyền thực thi chế độ tòng quân bắt buộc khi thấy cần thiết cho việc bảo vệ Ấn Độ. Tuy nhiên, Ấn Độ chưa bao giờ thực thi chế độ tòng quân cưỡng bức, ngay cả trong các cuộc chiến tranh lớn trước đây. Lực lượng Vũ trang của Ấn Độ vẫn duy trì hầu hết cách thức tổ chức trong quân đội đã đước thiết lập bởi quân Anh, song lực lượng vũ trang đã thể hiện được vai trò chiến lược, quan trọng của Ấn Độ, có năng lực và sức mạnh ngày càng tăng sau khi Ấn Độ trở thành quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân công khai, hợp pháp.

Binh lính Ấn Độ trong bộ quân phục truyền thống.

Cải tổ quân đội

Quân đội Ấn Độ đang chuẩn bị kế hoạch cho cuộc cải tổ lớn nhất trong lịch sử quân sự nước này.

Việc cải tổ có thể sẽ được bắt đầu sớm vào khoảng tháng 3-4/2011.

Dự định các đề xuất cải tổ đó là, sẽ thành lập một Bộ tư lệnh chiến lược bao, tăng cường khả năng chiến đấu của quân đội, loại bỏ một số cấu trúc hành chính quân sự hiện hành và giảm bớt các sở chỉ huy ở tất cả các cấp trong bộ máy lực lượng vũ trang.

Tóm lại, đây được cho là những thay đổi và cải tổ triệt để nhất của quân đội trong suốt chiều dài lịch sử quân sự Ấn Độ.

Tên lửa AGNI-3 đại diện sức mạnh Ấn Độ.

Các đề xuất là một phần của “chương trình nghiên cứu thay đổi” được thực hiện bởi một nhóm quan chức cao cấp quân đội dưới sự chỉ đạo của tư lệnh lục quân, tướng V K Singh khi ông đương chức chỉ huy của Bộ tư lệnh phía Đông.

Cách đây 30 năm, Ấn Độ từng thực hiện một cuộc cải tổ quân đội, nhưng chủ yếu được thực hiện theo phương án cơ giới hoá. So với sự thay đổi ngày nay, các đề xuất mới, có tính đột phá hơn. Một trong những đề xuất quan trọng nhất là thành lập một Bộ tư lệnh chiến lược, theo đó 3 quân đoàn sẽ hợp lại cùng nhau.

Một nghiên cứu đang tìm ra câu tranh lời cho cuộc tranh luận về vị trí Bộ tư lệnh chiến lược. Hiện nay, đã có hai phương án là, chuyển đổi căn cứ Jaipur hoặc căn cứ Pune thuộc thành Bộ Tư lệnh chiến lược. Các khu vực và bộ máy hoạt động của các đơn vị trực thuộc quân đội sẽ được phân chia và tái cơ cấu ngay sau khi quyết định cuối cùng. Theo một số nguồn tin, căn cứ Jaipur được chọn nhìn là vị trí thích hợp và chiến lược nhất.

Jaipur là nơi dự định đặt Bộ tư lệnh chiến lược mới.

Bộ tư lệnh phía Tây Nam được thành lập từ năm 2005 từ một phần của Bộ tư lệnh phía Tây và bộ tư lệnh phía Bắc được tách ra. Việc thành lập Bộ tư lệnh chiến lược cũng đồng nghĩa rằng quân đội Ấn Độ sẽ có 05 Bộ tư lệnh theo các khu vực hoạt động, chưa kể Bộ tư lệnh huấn luyện và Bộ tư lệnh chiến lược mới.
Bộ tư lệnh chiến lược cũng có một đề xuất bổ sung mới là xây dựng quân đoàn Miền núi đảm trách hoạt động vùng biên giới tiếp giáp Trung Quốc. Việc đề xuất đối với quân đoàn mới này đang phải trờ đợi phê chuẩn của uỷ ban nội các về các vấn đề an ninh Ấn Độ.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2011, 09:22:35 pm gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #4 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 02:28:56 pm »

Phần đầu ở trên em trình bày sơ lược về Quân đội Ấn Độ.
Phần thứ hai là cơ cấu tổ chức, tình hình hoạt động của các quân chủng Hải - Lục - Không quân của Quân đội Ấn Độ.
Phần thứ ba là một số thông số cơ bản về các loại vũ khí đang được trang bị trong biên chế của Quân đội Ấn Độ.


Các quân chủng

Hải quân Ấn Độ


Hải quân Ấn Độ là một quân chủng của Quân đội Ấn Độ. Tính đến năm 2006, Hải quân Ấn Độ có khoảng 67.000 quân nhân thường trực. Hải quân Ấn Độ có 170 tàu chiến đang hoạt động và hơn 250 máy bay chiến đấu thuộc không quân hải quân. Hải quân Ấn Độ là lực lượng hải quân lớn thứ năm trên thế giới. Tư lệnh hiện nay của Hải quân Ấn Độ là Đô đốc Nirmal Kumar Verma thay cho Đô đốc Sureesh Mehta đã nghỉ hưu, Đô đốc Nirmal Kumar Verma trước đây là chỉ huy trưởng của Bộ chỉ huy Hải quân phía Đông tại Visakhapatnam.

Mặc dù nhiệm vụ chính của hải quân là đảm bảo an ninh cho các vùng lãnh hải của Ấn Độ, nhưng Ấn Độ cũng sử dụng hải quân để tăng cường quan hệ quốc tế thông qua các cuộc tập trận chung, thăm hữu nghị quân cảng các nước trên thế giới và thực hiện sứ mệnh nhân đạo, cứu trợ thiên tai. Trong những năm gần đây, Hải quân Ấn Độ liên tục được hiện đại hoá, mở rộng để vươn mình ra đại dương.

Hiện nay, Hải quân Ấn Độ đang thực hiện chính sách Hướng đông nhằm kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc tại Vịnh Bengal và Ấn Độ Dương và tăng cường sự ảnh hưởng của Ấn Độ tại khu vực châu Á - Thái bình Dương Ngoài ra, Hải quân Ấn Độ cũng đang tăng cường, củng cố mối quan hệ với các đồng minh chiến lược tại khu vực Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan, Malayxia, Indonesia và Việt Nam.

Một bác sĩ quân y thuộc Hải quân Ấn Độ đang khám bệnh cho trẻ nhỏ tại Pohpein, Micronesia.

Tổ chức

Hải quân Ấn Độ được chia thành ba vùng chiến thuật. Ở mỗi vùng chiến thuật có một bộ chỉ huy hải quân độc lập, đứng đầu là một Phó đô đốc. Có tất cả ba bộ chỉ huy hải quân và một bộ chỉ huy kết hợp. Các lực lượng tàu chiến được biên chế thành hai hạm đội là Hạm đội miền Đông và Hạm đội miền Tây.

- Bộ chỉ huy Hải quân phía Đông đóng tại Visakhapatnam, Andhra Pradesh đứng đầu là Phó Đô đốc Anoop Singh, chịu trách nhiệm quản lý Hạm đội miền Đông
- Bộ chỉ huy Hải quân phía Tây đóng tại Mumbai, đứng đầu là Phó Đô đốc DK Joshi, chịu trách nhiệm quản lý Hạm đội miền Tây
- Bộ chỉ huy Hải quân phía Nam đóng tại Kochi, đứng đầu là Phó Đô đốc KN Sushil
- Bộ chỉ huy kết hợp được thành lập năm 2001 đóng tại Port Blair, đảo Andaman và Nicobar.

Hải quân Ấn Độ được chia thành 6 thành phần :

- Bộ chỉ huy
- Cục Hậu cần
- Học viện hải quân
- Lực lượng tàu nổi
- Lực lượng Không quân hải quân
- Lực lượng tàu ngầm


Căn cứ

Hải quân Ấn Độ có hai căn cứ hải quân lớn là Mumbai và Visakhapatnam, hai căn cứ này ngày càng trở nên chật chội khi mà tàu hải quân phải chia sẻ nơi đỗ với các tàu thương mại. Vì thế, bắt buộc Ấn Độ phải tính đến việc xây dựng căn cứ mới.

Năm 2005, căn cứ mới mang tên Kadamba ra đời, đây được coi là căn cứ hải quân lớn thứ ba của Ấn Độ và lớn nhất trong khu vực Nam Á. Kadamba là thành quả của giai đoạn đầu thực hiện kế hoạch xây dựng căn cứ hải quân mới. Kadamba là cảng nước sâu mang tính chiến lược của quân đội Ấn Độ, được xây dựng làm nơi đỗ đậu cho các tàu chiến hiện đại, tàu cỡ lớn, tàu ngầm.

Ngoài ra, hệ thống nâng ở căn cứ có thể nâng vật có trọng lượng lên tới 10.000 tấn, tương đương với trọng lượng tất cả tàu chiến hải quân Ấn Độ, ngoại trừ tàu sân bay và các tàu hỗ trợ.

Căn cứ hải quân Kadamba. Mặt nước trong căn cứ hải quân này khá phẳng lặng nhờ có các đê chắn sóng.

Hải quân Ấn Độ cũng đang thiết lập một căn cứ tại quần đảo Lakshadweep nhằm gia tăng sức mạnh và sự hiện diện của Hải quân Ấn Độ cũng như tạo hành lang an ninh để ngăn chặn nạn cướp biển. Hải quân Ấn Độ cũng đã thiết lập một căn cứ hải quân ở Madagascar, để giám sát và tuần tra bờ biển của Mozambique và miền Nam Ấn Độ Dương

Một căn cứ khác là Học viện Hải quân INS Zamorin tại Ezhimala, đây là nơi đào tạo quân nhân chủ yếu của Hải quân Ấn Độ. Ngoài ra còn một số trung tâm đào tạo nhỏ hơn nằm ở các khu vực khác.

Một căn cứ hải quân của Ấn Độ cũng đang được xây dựng tại Oman.

Hiện nay, Ấn Độ đang mong muốn Việt Nam cho hải quân nước này thuê quân cảng Cam Ranh để đặt căn cứ, nhằm tăng cường sức anh hưởng của Hải quân Ấn Độ tại khu vực Đông Nam Á.

Quân nhân Hải quân Ấn Độ duyệt binh
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2011, 09:21:43 pm gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 06:34:19 pm »

Chính sách “Hướng Đông”

Hải quân Ấn Độ đang chuyển sức mạnh cho bộ chỉ huy Hải quân phía đông bên cạnh quá trình hiện đại hóa lực lượng. Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, Bộ chỉ huy Hải quân phía đông của Hải quân Ấn Độ luôn đóng vai trò phụ so với những đồng nghiệp ở miền tây vốn được coi là “tay kiếm” của Quân đội Ấn Độ.

Nhưng mọi việc đang nhanh chóng thay đổi. Các chiến lược gia đã tăng tầm quan trọng của cánh phía đông đối với chiến lược hải quân và ngoại giao.

Lý do đơn giản và dễ nhận thấy là với sự hiện diện ngày càng lớn của người láng giềng lớn Trung Quốc trên vịnh Bengal và Ấn Độ Dương, Ấn Độ không thể làm ngơ và bỏ mặc sườn phía đông. Đây cũng là một phần trong kế hoạch ngoại giao, kinh tế và chính trị tập trung vào miền đông đã kéo dài trong 2 thập kỷ của Ấn Độ có tên là “Hướng Đông”.

Bên cạnh đó, xu hướng tập trung về phía đông cũng mang lại tầm ảnh hưởng lớn hơn cho Ấn Độ khi vùng biển châu Á - Thái Bình Dương càng ngày càng trở nên quan trọng.

Bộ chỉ huy hải quân phía Đông đặt trụ sở tại Visakhapatnam, Andhra Pradesh. Đây cũng là ngôi nhà của lực lượng tàu ngầm của Ấn Độ. Trong vài năm trở lại đây, vùng chiển thuật phía đông của hải quân Ấn Độ đã được tăng cường sức mạnh với tốc độ “chóng mặt”: Năm 2005, số lượng tàu chiến là 30; vào năm 2011, con số này đã tăng lên khoảng 50 – chiếm 1/3 tổng số tàu chiến của Hải quân Ấn Độ. Đà tăng trưởng này sẽ còn tiếp tục trong tương lai.

Sau khi tàu sân bay INS Vikramaditya (cải tạo từ tàu Đô đốc Gorshkov của Nga) được bàn giao cho Hạm đội miền tây, Hạm đội miền đông sẽ có tàu sân bay đầu tiên – tàu INS Viraat, đang hoạt động trong biên chế Hạm đội miền Tây.

Tàu sân bay INS Viraat sẽ là ngôi sao mới của bộ chỉ huy Hải quân phía Đông của hải quân Ấn Độ.


Cùng với tàu INS Viraat, 5 tàu chiến có trang bị tên lửa dẫn đường lớp Rajput (nâng cấp từ tàu chiến lớp Kashin của Liên Xô cũ) cũng sẽ chuyển sang biên chế của Bộ chỉ huy hải quân phía đông.

Tàu ngầm INS Arihant cũng là một vũ khí lợi hại trên vùng vịnh Bengal.

Một “nhân vật” đáng chú ý nữa của vùng chiến thuật phía đông chính là tàu đổ bộ INS Jalashwa (cải tạo lại từ tàu đổ bộ USS Trenton) – tàu chiến duy nhất mà hải quân Ấn Độ mua từ Mỹ.

Trong tươnng lai gần, các tàu khu trục tàng hình INS Shivalik, INS Satpura và INS Sahyadri, INS Shakti cùng máy bay tuần tra biển tầm xa P-8I Poseidon cũng sẽ gia nhập biên chế vùng chiến thuật đông của hải quân Ấn Độ.

Tàu ngầm INS Arihant đang trong quá trình chạy thử tại Visakhapatnam cũng sẽ là một phần trong kế hoạch tăng cường sức mạnh cho cánh phía đông của Ấn Độ. Theo các nguồn tin khác, 2 tàu ngầm mới của Ấn Độ cũng đang được chế tạo tại Visakhapatnam.

Ngoài 2 căn cứ hiện có là Visakhapatnam và Kolkât, bộ chỉ huy hải quân phía đông cũng sắp có thêm nhà mới tại Tuticorin và Paradeep cùng sân bay hải quân ở Dega.

Rajali và Uchipuli – nơi Ấn Độ sẽ bố trí các máy bay không người lái. Theo các thông tin mà báo chí đã công bố, căn cứ của tàu ngầm hạt nhân (có mật danh Varsha) cũng sẽ được đặt gần Visakhapatnam.

Tương đồng với sự lớn mạnh về mặt quân sự, các tướng lĩnh tại bộ chỉ huy hải quân phía Đông cũng đều được thăng cấp.

Khu vực mà vùng chiến thuật phía đông của hải quân Ấn Độ quản lý có sự hiện diện của các quốc gia truyền thống như Sri Lanka, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ nằm giữa bờ đông và eo biển Malacca sầm uất .
Kế hoạch lớn của Ấn Độ có tên “Hướng Đông” đã được tiến hành từ cách đây 20 năm. Bởi vậy nếu cho rằng Ấn Độ phải tốn tiền của cho bộ chỉ huy hải quân phíq đông chỉ vì lo sợ Trung Quốc thì lập luận này cũng không hoàn toàn đúng.
Vị trí địa lý cho phép Ấn Độ vươn ra khu vực Đông Nam Á, thậm chí cả Đông Á và Thái Bình Dương. Ngoài mục đích phát triển thương mại và kinh tế, tiếng nói trong các vấn đề an ninh và chiến lược tại khu vực này cũng được chính phủ Ấn Độ coi trọng.

Thương mại giữa Ấn Độ và các quốc gia Đông Á, Đông Nam Á đang tăng dần. Mối quan hệ an ninh cũng được Ấn Độ tích cực thúc đẩy, không chỉ với các quốc gia như Việt Nam và Singapore mà còn cả các quốc gia xa hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Hải quân luôn đóng vai trò quan trọng trong tham vọng vì đặc điểm địa lý ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Hiên nay, tầm ảnh hưởng của Ấn Độ tới khu vực này còn mờ nhạt và không được coi là một nhân tố có tiếng nói lớn. Nhưng với quá trình hiện đại hóa hải quân nhanh chóng, Ấn Độ mong muốn sẽ trở thành một thế lực có ảnh hưởng tới trật tự và tương lai của châu Á - Thái Bình Dương.
Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #6 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 06:59:19 pm »

Đầu tư cho hải quân

Theo kế hoạch trong vòng 20 năm tới, Ấn Độ sẽ chi tiêu khoảng 46,96 tỷ USD cho việc hiện đại hóa lực lượng hải quân, chiếm đến 27,8% tổng mức đầu tư cho hải quân của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Đóng mới 101 tàu chiến, bao gồm các tàu khu trục tàng hình hiện đại, tàu sây bay, tàu đổ bộ thế hệ mới và tàu ngầm hạt nhân chiến lược.

Ngoài các tàu chiến được đóng mới từ các nhà máy đóng tàu trong nước, Ấn Độ còn đặt hàng đóng mới tàu chiến từ nước ngoài chủ yếu từ Nga.

Tàu khu trục tàng hình Project 11356 của Ấn Độ được đóng mới tại Nga.

Các chuyên gia lưu ý là, không gian của các nhà máy đóng tàu Ấn Độ khá chật hẹp và gần như đã được sử dụng hết. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và kế hoạch giao tàu cho quân đội. Mặt bằng không đủ các nhà máy sẽ khó lòng mà mở rộng và tăng tốc độ sản xuất.

Hiện tại, chương trình tàu ngầm tấn công lớp Scorpene không thể tăng tốc độ và tiến độ giao hàng vì không còn không gian để sản xuất bổ sung.

Ngoài ra, để hạn hạn chế sự phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài và thúc đẩy nền công nghiệp quốc phòng trong nước phát triển, Bộ Quốc phòng Ấn Độ vừa công bố chiến lược phát triển quốc phòng, trong đó công bố tài liệu quy định mới về mua sắm vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang.

Những quy định mới này có hiệu lực từ ngày 1/1/2011. Theo đó, mục đích chính của các tài liệu này nhằm phát triển quân đội Ấn Độ từ và giảm sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang từ nước ngoài.

Tài liệu hướng dẫn được ban hành nhằm ưu tiên các đơn đặt hàng cho các tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Ấn Độ. Điều này có nghĩa, nếu ngành công nghiệp Ấn Độ có thể tự sản xuất trang bị kỹ thuật cho Bộ Quốc phòng, thì  mua việc các đơn đặt hàng và chế tạo sẽ được tiến hành với các đối tác trong nước.

Việc mua sắm vũ khí ở nước ngoài sẽ được thực hiện chỉ khi ngành công nghiệp Ấn Độ là không thể sản xuất được hoặc không thể hoàn thành đúng thời hạn hợp đồng. Việc đánh giá quá trình sản xuất sẽ được thực hiện bởi một ủy ban đặc biệt của Bộ Quốc phòng Ấn Độ.

Chiến lược sản xuất các sản phẩm quốc phòng này cho phép nhập khẩu thêm các thành phần kỹ thuật khác từ nước ngoài nếu cần thiết, bởi lẽ việc sản xuất những linh kiện đắt tiền ở Ấn Độ không phải là vấn đề khả thi. Trong trường hợp đó, các quy tắc trong tài liệu cũng quy định, tất cả các linh kiện nhập khẩu phải được kiểm tra lắp đặt bởi các công ty Ấn Độ.

Để giải quyết các vấn đề khác nhau trong lĩnh vực chế tạo thiết bị quân sự của Ấn  Độ, Bộ quốc phòng nước này dự định cho phép các công ty tư nhân tham gia dự thầu cùng với các doanh nghiệp nhà nước. Với quy định mới ban hành của Bộ quốc phòng Ấn Độ, ngay từ bây giờ Bộ quốc phòng sẽ cắt giảm tỷ trọng các mặt hàng quân sự nhập khẩu từ 75% xuống còn 25%.

Và theo đó, ngành công nghiệp hàng hải quân sự được đưa đi tiên phong. Ấn Độ đang xây dựng một trung tâm thiết kế, chế tạo tàu cho Hải quân của Ấn Độ. Tổng chi phí dự án ước tính khoảng 6 tỷ rupy (khoảng 133 triệu USD). Ngoài chính phủ và Bộ Quốc phòng Ấn Độ, tham gia dự án còn có các hãng đóng tàu Mazagon Docks và Goa Shipyard, cũng như Bộ Công nghiệp tại thành phố Challiyar, bang Kerala.

Dự kiến, các chuyên gia của trung tâm sẽ thiết kế các loại tàu mới theo yêu cầu của Hải quân Ấn Độ, phụ trách sản xuất các mẫu tàu đầu tiên để thử nghiệm để sau đó chuyển giao cho các hãng đóng tàu khác của Ấn Độ sản xuất hàng loạt.

Tại trung tâm mới cũng sẽ thành lập một cơ sở đào tạo để đào tạo lại cán bộ làm nhiệm vụ thiết kế tàu.

Vào giữa tháng 11/2010, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K.Antony tuyên bố rằng, trong kế hoạch mua sắm vũ khí tương lai, Hải quân Ấn Độ sẽ không nhập khẩu tàu do nước ngoài đóng, mà chỉ mua tàu đóng tại Ấn Độ. Văn bản áp dụng quy định mua sắm mới đầu tiên sẽ là Hải quân Ấn Độ, còn sau đó, hiệu lực của văn bản sẽ được mở rộng sang việc mua sắm quân sự của tất cả các quân-binh chủng.

Theo nguồn tin của hãng DNA cho hay, Ấn Độ đã thực hiện gần xong giai đoạn hai của việc tàu sân bay Vikrant có lượng giãn nước 40.000 tấn. Tàu sân bay mới được khởi đóng vào tháng 2/2009 sau khi chính phủ Ấn Độ chuẩn chi kinh phí đóng tàu.

Việc đóng tàu chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 lắp ráp thân tàu, giai đoạn 2 đóng hoàn thiện. Theo thiết kế, tàu sân bay mới có chiều dài 260 m, chiều rộng 60 m. Tàu sử dụng các động cơ LM 2500 của General Electric (Mỹ). Tàu có thể đạt tốc độ đến 28 hải lý/h.

Một cụm tàu sân bay mới sẽ gồm 29 máy bay tiêm kích Mig 29K và 10 trực thăng Ка-31 (Nga) hay Dhruv của hãng HAL (Ấn Độ). Ấn Độ dự kiến đóng mới tổng cộng 2 tàu sân bay. Tàu đầu tiên dự kiến chuyển giao cho Hải quân Ấn Độ vào năm 2013.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2011, 10:04:01 pm gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #7 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 08:35:56 pm »

Quân hàm Hải quân Ấn Độ

Do chịu sự thống trị của thực dân Anh trong một thời gian dài, nên không có gì lạ khi hệ thống quân hàm của Quân đội Ấn Độ chịu sự ảnh hưởng lớn nếu nói đúng hơn là sao chép gần như toàn bộ hệ thống quân hàm của Quân đội Anh (các bạn có thể tìm hiểu về hệ thống quân hàm của Quân đội Anh cũng như các nước khác tại http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,22068.0.html). Sau đây là hệ thống quân hàm của Hải quân Ấn Độ :


Thủy sư đô đốc (đến thời điểm hiện nay chưa có vị tướng hải quân nào của Ấn Đô được phong cấp bậc này)  
                                

Đô đốc            


Phó đô đốc


Chuẩn đô đốc


Đại tá Hải quân cao cấp


Đại tá Hải quân


Trung tá Hải quân


Thiếu tá Hải quân


Đại úy Hải quân      


Trung úy Hải quân
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Chín, 2011, 10:53:33 pm gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 705


« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2011, 09:47:15 pm »

Quân hàm Hải quân Ấn Độ

Do chịu sự thống trị của thực dân Anh trong một thời gian dài, nên không có gì lạ khi hệ thống quân hàm của Quân đội Ấn Độ chịu sự ảnh hưởng lớn nếu nói đúng hơn là sao chép gần như toàn bộ hệ thống quân hàm của Quân đội Anh (các bạn có thể tìm hiểu về hệ thống quân hàm của Quân đội Anh cũng như các nước khác tại http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,22068.0.html). Sau đây là hệ thống quân hàm của Hải quân Ấn Độ :

Thủy sư đô đốc (đến thời điểm hiện nay chưa có vị tướng hải quân nào của Ấn Đô được phong cấp bậc này) 
                                 
Đô đốc             

Phó đô đốc

Chuẩn đô đốc

Đại tá Hải quân cao cấp
    

Cấp hiệu cầu vai của Hải quân Ấn giống như hệ cấp hiệu Hải quân Hoàng gia Anh. Từ cấp Rear Admiral trở lên, dùng biểu tượng sao pip, chỉ thay biểu tượng crown bằng biểu tượng sư tử Sarnath.
Logged
Bộ đội Cụ Hồ
Thành viên
*
Bài viết: 158



« Trả lời #9 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2011, 06:18:05 pm »

Lực lượng đặc nhiệm hải quân Ấn ĐỘ - MARCOS

Mặc dù lịch sử hình thành và phát triển không dài, nhưng lực lượng đặc nhiệm MARCOS đã có những chiến công xuất sắc, được trao nhiều huân, huy chương cao quý của quân đội cũng như của Chính phủ Ấn Độ.

Thuyền hơi là một trong những phương tiện di chuyển chủ yếu của lực lượng MARCOS

Những ngày đầu thành lập

Năm 1986, Bộ Tư lệnh Hải quân Ấn Độ đã quyết định thành lập một đơn vị đặc nhiệm, có khả năng tiến hành các chiến dịch đặc biệt trên biển, tổ chức hoạt động trinh sát trên biển, cũng như tham gia các chiến dịch chống khủng bố. Theo đó một nhóm các thợ lặn và các chuyên gia phá hoại dưới nước đã được tập hợp thành một đơn vị theo kiểu mẫu của đơn vị đặc nhiệm SEAL của Hải quân Mỹ. Phần lớn các nhân viên trong đơn vị này đã được cử đi học tập và nâng cao trình độ tại Meccu, căn cứ của đặc nhiệm Hải quân Mỹ tại Colorado (bang California).

Đơn vị mới này theo dự kiến sẽ phải đảm đương một loạt các nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt trên biển, kể cả đấu tranh chống khủng bố hay bảo vệ các dàn khoan. Trên cơ sở đơn vị này, Hải quân Ấn Độ vào tháng 2/1987 đã chính thức tuyên bố thành lập đơn vị lính thủy đánh bộ đặc nhiệm với tên gọi ban đầu là Indian Marine Special Forces (IMSF). Chỉ huy đầu tiên của đơn vị này là Trung úy trẻ Arwind Singh, từng tốt nghiệp trường đào tạo ở Colorado. Đến năm 1991, IMSF được chính thức đổi tên thành Lực lượng đặc nhiệm hải quân (MCF - Marine Commando Force) với tên gọi vắn tắt là MARCOS.

Các binh lính thuộc lực lượng MARCOS

Tổ chức và trang bị

Các đơn vị của MARCOS được chia thành 3 nhóm tác chiến chính, mỗi nhóm sẽ đảm trách một lĩnh vực chuyên sâu cụ thể. Quân số mỗi nhóm có tổng cộng vào khoảng 2.000 người, chia thành 10 đại đội với biên chế trung bình 200 người. Tuy nhiên, mỗi đại đội khi tham gia các chiến dịch đặc biệt chỉ có khoảng 120 binh sĩ, số còn lại được xếp vào bộ phận hỗ trợ và hậu cần. Trong mỗi nhóm tác chiến này đều có trong thành phần một phân đội chống khủng bố có quân số tương đương một trung đội tăng cường. Tên gọi chính thức của phân đội này là “Bộ phận phản ứng nhanh” (QRS – Quick Reaction Section). Ngoài ra, các đơn vị MARCOS còn tham gia vào các chiến dịch tìm kiếm và cứu hộ trên biển, cũng như hoàn thành các nhiệm vụ do thám nếu có yêu cầu.

Để có thể trở thành một chiến binh thực thụ của MARCOS, các ứng cử viên tình nguyện sẽ phải trải qua một khóa huấn luyện và tuyển chọn 11 tháng, trong đó tất cả sẽ phải trải qua những thử thách khó khăn nhất. Trung bình sau mỗi khóa như vậy, tỉ lệ học viên đáp ứng các điều kiện chỉ còn khoảng 15%. Tiếp sau đó là một khóa học 9 tháng về các kỹ năng chiến đấu dưới nước. Học viên sẽ được làm quen với các loại vũ khí khác nhau, các phương pháp trinh sát do thám, cũng như kỹ năng xâm nhập vào hậu phương địch. Những binh sĩ muốn gia nhập bộ phận QRS còn phải được chọn lọc kỹ càng hơn. Họ phải học thêm về kỹ năng chống khủng bố, giải phóng con tin, đánh chiếm các tàu thủy hay cả mục tiêu trên mặt đất, nhảy dù v.v...

Lực lượng MARCOS trong cuộc tập trận chung với Hải quân Philippines

MARCOS được trang bị rất nhiều loại vũ khí khác nhau như súng trường tự động FN FAL của Ấn Độ, M-16 của Mỹ hay AK-47 của Nga. Các chuyên gia bắn tỉa được trang bị những loại súng trường đặc dụng MSG và PSG-1. Ngoài ra còn có một số loại súng ngắn và súng máy hiện đại khác. Với đặc trưng tác chiến dưới nước của mình, MARCOS có trong thành phần trang bị rất nhiều loại đồ lặn và trang bị thở đặc dụng. Các phương tiện vận chuyển cơ bản phải kể đến những loại tàu kéo 2 và 4 chỗ, thuyền hơi, canô v.v... Đơn vị còn có cả một hạm đội nhỏ đóng tại cảng Visaz gồm nhiều tàu nhỏ phục vụ hoạt động tuần tiễu và đổ bộ. Ngoài ra, MARCOS còn được phép sử dụng 6 chiếc trực thăng “Sea King” Mk.42C và một vài trực thăng hạng nhẹ Chetak.

Những chiến dịch đã tham gia

Theo nguyên tắc, mọi chiến dịch có sự tham gia của MARCOS đều được chuẩn bị theo trình tự hết sức kỹ lưỡng: nghiên cứu kỹ về địa hình qua bản đồ và ảnh chụp, thu thập thông tin về đối phương, chọn các phương pháp và vị trí đổ bộ tối ưu v.v... Bộ phận tham gia chiến dịch trinh sát thường được chia thành 2 đến 3 nhóm khác nhau để đảm bảo khả năng thu thập thông tin cao, cũng như khả năng so sánh nếu cần thiết. Cụ thể như trong chiến dịch do thám căn cứ của bọn khủng bố ở thung lũng Kashmir hồi giữa những năm 90, các đơn vị MARCOS đã chia thành 3 nhóm xâm nhập theo đường không, đường thủy và cả đường bộ.

MARCOS trên thực tế đã được “thử lửa” ngay từ khi mới thành lập. Năm 1987, đơn vị này đã tham gia vào các chiến dịch ở Sri-Lanka chống lại lực lượng nổi dậy “Những con hổ giải phóng Tamil” (LTTE). Các hoạt động của MARCOS trong khuôn khổ chiến dịch mật danh “Pavan” này đã kéo dài cho tới năm 1991. Nhưng phải đến tháng 11/1988, MARCOS mới có được thành công lớn đầu tiên trong chiến dịch “Cactus”. Khi đó Ilan đã âm mưu tổ chức đảo chính tại quần đảo Maldives. Một nhóm 46 tay súng đã bắt giữ 27 người, trong đó có cả Bộ trưởng Giáo dục Maldives, sau đó cố thủ trong một chiếc tàu buôn chiếm được. Các binh sĩ MARCOS trên 2 chiếc tàu tuần tiễu của Ấn Độ đã bí mật bám theo. Sau một thời gian chuẩn bị và lập kế hoạch kỹ lưỡng, chiến dịch giải phóng con tin đã được tổ chức thành công xuất sắc.

Từ giữa những năm 90, MARCOS tham gia chiến đấu chống lại lực lượng ly khai tại Kashmir. Chiến thuật hữu hiệu nhất của họ là tổ chức trinh sát kỹ lưỡng rồi bất ngờ tấn công tiêu diệt căn cứ địch. Hoạt động của các chiến binh MARCOS hiệu quả đến nỗi, họ được đối phương gọi bằng những cái tên như “Dadiuali Fauj” (Những người lính mang đến sự kinh hoàng), hay “”Madjarmahami” (Những con cá sấu).

Tuy có lịch sử hình thành và phát triển không dài, nhưng lực lượng đặc nhiệm MARCOS đã có những chiến công xuất sắc, được trao nhiều huân, huy chương cao quý của quân đội cũng như của Chính phủ Ấn Độ. Với kế hoạch trang bị lại vũ khí trong thời gian sắp tới, MARCOS được hy vọng sẽ có tiềm năng chẳng kém gì những đơn vị đặc nhiệm dưới nước tương tự khác như SEAL của Mỹ hay SBS của Anh

Đổ bộ từ trực thăng
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2011, 06:35:57 pm gửi bởi Bộ đội Cụ Hồ » Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM