Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2011, 10:08:34 pm » |
|
(Tiếp theo: KÝ ỨC SƯ ĐOÀN)
Tiểu đoàn một có ba đại đội bộ binh và một đại đội hỏa lực. Tiểu đoàn trưởng tên là Chu Đức Hùng, anh quê Thái Bình. Anh Hùng có dáng người nhỏ nhắn, nhanh hoạt bát và hay cười. Tuy nhiên anh rất nghiêm khắc với lính. Tiểu đoàn phó là đồng chí Nguyễn Thanh Tân, quê ở Thanh Trì, Hà Nội. Chính trị viên là đồng chí Đặng Xuân Lợi, anh có nước da đen đến nỗi giấy dầu gọi bằng cụ nên chúng tôi thường gọi là ông Lợi Đen, còn chính trị viên phó là đồng chí Nguyễn Kim Mận, tuy là phó nhưng chúng tôi rất “kiêng nể” vì anh là người thường “để ý” đến hành động và lời nói của mọi người.
Hầu hết anh em cùng xã với tôi được bổ sung về tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 3, duy nhất tôi được về tiểu đoàn 1. Cũng chẳng hiểu sao tôi thuộc dạng “thấp bé nhẹ cân” nhưng lại được biên chế về A10 là tiểu đội hỏa lực của đại đội 3. Đại đội 3 của tôi đóng quân ở thôn Bình An, xã Vĩnh Chấp thuộc đặc khu Vĩnh Linh, hòm thư 271-588JB03. Đại đội trưởng là đồng chí Nghẹ, sau khi hành quân vào đến chiến trường, đồng chí Nghẹ được cấp trên điều đi đơn vị khác và điều đồng chí Bùi Hữu Hồng làm đại đội trưởng thay thế. Hình như quê anh Hồng ở Hải Hưng. Tôi không nhớ rõ về anh ấy. Vì sau khi bổ sung về đại đội được mấy ngày, ăn Tết xong đơn vị hành quân vào chiến trường miền Đông luôn. Trong trận chiến đấu ác liệt phía Đông đường 13 ngày 2/4/1975 anh Hồng đã hy sinh. Đại đội phó là đồng chí Nguyễn Tiến Trụ, quê ở Lộc Hồng, Mỹ Văn, Hải Hưng, sau khi anh Hồng Hy sinh, anh Trụ lên làm đại đội trưởng thay anh Hồng. Nhưng trong trận đánh tại Chi Pu ngày 08/4/1978 anh Trụ cũng hy sinh tại Hà Tiên. Chính Trị viên trưởng là đồng chí Quách Thanh Tiễn, người dân tộc Mường quê ở Cẩm Long, Cẩm Thủy Thanh Hóa, anh là người rất sắc sảo trong câu chữ mỗi lần nói trước đơn vị. Chính trị viên phó là anh Nguyễn Văn Viện, quê anh ở Tân Sơn, Kim Bảng, Hà Nam. Anh là một người rất vui tính và sôi nổi. Anh kiêm luôn chức bí thư Liên chi đoàn. Tuy tôi mới về được vài ngày, nhưng anh Viện đã rất yêu quý tôi. Sau ngày giải phóng về đóng quân ở đồn Cây Mai, quận 11, anh Viện được điều sang làm chính trị viện phó đại đội Một, anh Nguyễn Tiến Đạo lên thay anh Viện làm chính trị viên phó đại đội 3. Còn tôi cũng được điều lên tiểu đoàn bộ làm thống kê quân lực tiểu đoàn. Đại đội có 3 trung đội, trung đội 1 anh Trần Quang Trung làm trung đội trưởng, trung đội 2 do anh Dũng làm trung đội trưởng (chúng tôi gọi anh là Dũng Râu vì anh có râu quai nón), Trung đội 3 do anh Ngô Quảng Vinh làm Trung đội trưởng (Rất tiếc sau này, vào năm 1999 anh Ngô Quảng Vinh bị tai nạn trực thăng ở Lào cùng với đoàn cán bộ cao cấp, trong đó có trung tướng Đào Trọng Lịch hy sinh).
* * *
Hôm sau, ngày thứ hai về đơn vị chúng tôi được nghỉ buổi sáng để tắm giặt sắp xếp ổn định nơi ăn chốn ở. Buổi chiều chúng tôi bắt đầu sinh hoạt tiểu đội và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên. Tôi và Nguyễn Đình Nam được phân công giữ đế của hai khẩu cối ở hai khẩu đội. Biểu và Điếng mỗi người giữ một giữ thân súng gắn liền chân. Vì súng cối 60 ly nhỏ gọn nên mọi người thường nói đùa là "cối tép" chứ không nặng nề và kềnh càng như cối 82... Người quán triệt tinh thần cho chúng tôi và hướng dẫn buổi học đầu tiên là anh Khoát tiểu đội trưởng, còn các anh lính 72 khác làm động tác minh họa và hướng dẫn thực hành thao tác.
Tiểu đội biên chế 12 người. Anh Nguyễn Đăng Khoát lính 71 quê ở Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Hà là tiểu đội trưởng. Anh Trần Phú quê anh ở thị xã Thái Bình là tiểu đội phó. Khi đơn vị bắt đầu đi chiến đấu thì anh Phú được tiểu đoàn điều về Tiểu đoàn bộ làm thống kê chính trị. Trong tiểu đội các anh: Đôi, Tuấn, Muộn và Hà, đều nhập ngũ tháng 5/1972, quê các anh đều ở Hưng Hà, Thái Bình. Cánh lính 74 gồm có tôi, Biểu, Điếng, Chiến, Nam và Khương. Về biên chế trong tiểu đội như sau: * Anh Khoát (tiểu đội trưởng) được trang bị một khẩu súng AK của Tiệp Khắc báng nhựa. * Khẩu đội 1 cối 60 ly: anh Nguyễn Duy Đôi làm khẩu đội trưởng. Khẩu đội viên có: anh Tuấn, tôi, Biểu và Chiến. * Khẩu đội 2 cối 60 ly: anh Tuấn là khẩu đội trưởng, khẩu đội viên có anh Muộn, Nam và Điếng.
Qua anh Khoát tôi nắm được khá rõ về tình hình của tiểu đội. Đó là một tiểu đội luôn dẫn đầu trong các phong trào thi đua của đại đội. Sỡ dĩ làm được điều đó là vì các chiến sỹ trong tiểu đội được đại đội chọn lọc những người có học hành đến nơi đến chốn và có sức khỏe tốt. Duy chỉ có anh Hoàng Đình Muộn (anh em thường gọi là Trừu) có trình độ văn hóa thấp. Nội bộ tiểu đội đoàn kết thương yêu tin cậy lẫn nhau. Tuy nhiên mỗi người mỗi tính chẳng ai giống ai. Anh Đôi là người hay phản ứng khi được cắt cử làm một việc gì đấy, nhưng sau khi được phân tích, thông suốt tư tưởng thì lại là người xông xáo và tích cực nhất. Anh Sắc thì có tính "láu cá khôn ranh" khi làm công việc, anh Hà thì hơi "ba phải" một chút, khi anh Tuấn nói gì thường là đứng về phía anh Tuấn. anh Muộn thì nhẫn nại, anh Chính thì cao to, hiền lành. anh Nhiên người dậm, ít nói hay cười và chịu "cày". Lính 74 thì có lẽ Biếu là tay khá gai góc và hay lý sự giống như một ông cụ non, một nhà hiền triết, quê Biểu ở Xuân An, Nghi Xuân, Hà Tĩnh, Biểu đã là công nhân trước khi vào lính và lớn hơn chúng tôi vài tuổi. Do nhập ngũ cùng đợt nên Biểu cũng thành “cá mè một lứa”, vì thế chúng tôi trong xưng hô với nhau cũng mày tao chi tớ. Còn Điếng quê ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh và Khương quê ở Đô Lương Nghệ An thì thuộc dạng "phổi bò" giống như bây giờ người ta hay gọi là “Hai Lúa”. Còn tôi, Nam và Chiến là những chàng thư sinh đã học cấp 3, nên chúng tôi có vẻ am hiểu và tháo vát hơn một chút. Đã từng học môn lượng giác từ năm học lớp 9 (tương đương với lớp 11 bây giờ), nên chúng tôi đã thuộc lòng hàm số một số góc đặc biệt, mà không cần vẽ đường tròn đơn vị. Vì vậy khi học bảng bắn cối đối với tôi, Nam, Chiến và Biểu không có gì là quá khó khăn… Còn tôi tôi thì rất thích thú vì được ở cùng tiểu đội với anh Khoát và anh Phú. Vì hai anh có "những điểm trùng "với sở trường của tôi. Tôi thích anh Khoát, bỡi tôi cũng là người có một chút hoa tay vẽ và kẻ chữ, mà anh Khoát lại là họa sỹ của đại đội và tiểu đoàn thời đó. Những lúc rảnh rỗi tôi và anh Khoát cũng bàn luận về các tác phẩm hội họa của nước ngoài như bức “Mùa thu vàng” của hoạ sỹ Nga Levintan, những tác phẩm hội hoạ thời kỳ phục hưng thế kỷ XIX của Tây Âu như Leona Dvinci (Hoạ sỹ Ý), Vangoc (hoạ sỹ Hà Lan), hoặc tác phẩm tranh trừu tượng của trường phái lập thể như Piccasso (Nga) vv… Tôi thích anh Phú bỡi anh Phú là người cũng đam mê về văn học nghệ thuật. Hồi ấy thú vị nhất là hai anh em cùng đàm đạo văn chương về các tác phẩm văn học của nước ngoài. Chủ yếu là văn học Nga như “Con đường đau khổ” của Alechxan Tonxtoi, “Chiến tranh và hoà bình”, Anna Kareniana, Sống lại của Leptol xtoi. Các tiểu thuyết tình báo như “Hầm bí mật bên sông Enbơ”, “Người tình báo vĩ đại Richard Sorge”, “Nam tước Pôn gôn rinh” vv…hoặc bàn luận về các bài thơ tình của các thi nhân tiếng như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Pushkin, Lecmontop (Thi hào Nga), Henrich Hai nơ (Đức). Cũng qua anh Khoát và anh Phú tôi mới thuộc lòng bài thơ “Hoa Chanh” của nhà thơ Nguyễn Bao và “Hương Thầm” của nữ thi sỹ Phan Thị Thanh Nhàn. Còn các anh lính 72 khác trong tiểu đội thì hình như không thích hoặc như là không biết về lĩnh vực này. Và, hình như anh Muộn lại là người không biết chữ nữa cơ đấy. Ngoài ra tôi cũng quý anh Đôi, bỡi anh ấy là người sống nội tâm, hơi trầm lắng một chút, nhưng rất yêu quý chúng tôi. Trong tiểu đội anh là người duy nhất đã có gia đình riêng nhưng chưa có con.
(Còn tiếp)
|