Đậu Thanh Sơn
Thành viên

Bài viết: 552
1975 - Mãi mãi là người chiến sỹ SĐ Sông Lam
|
 |
« Trả lời #370 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2013, 08:06:57 am » |
|
Chào chị Hatuyenha
Em vẫn theo dõi đọc bài của chị và các thành viên của trang VMH. Nhưng dạo này phần vì bận công việc, phần thì mệt mỏi, phần thì ... nên em lười viết lắm, kể cả bài của em, em cũng đang bỏ ngõ. Sáng nay đọc một loạt bài của chị, biết chị vẫn bình an, dù bị ngã cùng cháu, nhưng chỉ bị bầm tím đầu gối, như thế cũng rất may. Cầu chúc chị và gia đình luôn khỏe và viết được nhiều về cụ và đồng chí bạn bè của cụ nữa...
Trong bài chị có nói đến các cụ ở Vinh mang bánh "Cu Đơ" ra HN chiêu đãi anh em món đặc sản xứ Nghệ. Em xin tham gia một chút không biết có bị loãng bài của chị không. Món này ở Hương Sơn quê em không gọi là bánh cu đơ chị ạ, mà gọi là kẹo cu đơ. Hiện nay có rất nhiều bài viết về món kẹo này. Em xin mượn bài viết "Huyền thoại về kẹo cu đơ" của tác giả Lê Văn Vỵ viết về kẹo này để chị cùng mọi người đọc cho vui và hiểu thêm về mảnh đất Hương Sơn quê em... Cũng trong bài viết này, tác giả cũng có nhắc đến năm 1950 Trường thiếu sinh quân về học tại Thịnh Xá (Sơn Thịnh) bây giờ. Không biết năm đó cụ Nguyễn Sơn có về đấy không. Nếu có dịp họp mặt lại các cụ lần tới chị hỏi xem nhé.
Huyền thoại về kẹo Cu đơ (Kỳ 1)
Từ Hương Sơn, cu đơ có măt khắp nơi, lên tàu, lên xe, lên máy bay mang chút quà mọn ngọt ngào thơm thảo của người dân Hà Tĩnh gửi đến bạn bè bốn phương. Từ gói kẹo lạc trong lá chuối khô đến kẹo cu đơ trong hộp nhựa, hộp các tông được phong bao gắn nhãn mác, cu đơ Hà Tĩnh hòa nhập vào thương trường, khẳng định thương hiệu…là cả hành trình gian nan … Kẹo cu đơ gắn liền với tên tuổi của ông cu Hai, gắn liền với làng Thịnh Xá, một làng quê trù phú, trọng chữ nghĩa, học hành, tấp nập buôn bán phía hữu ngạn dòng sông Ngàn Phố (Hương Sơn, Hà Tĩnh).
Phải mất rất nhiều thời gian, chúng tôi mới nối liên lạc được với bà Đinh Thị Bình (sinh năm 1925; gọi ông cu Hai bằng chú ruột, trú quán tại Hà Nội từ năm 1960). Bà Đinh Thị Bình (khó khăn lắm) nhớ lại: “ Cha tôi là Đinh Nho Vân con cả. Con thứ là chú Vi. Gọi Vân Vi cho chảy ca mà. Chú Đinh Vi con thứ, nên gọi là Hai. Chú Hai sinh khoảng năm 1901, mất khoảng năm 1966. Chú có 5 con hai trai ba gái. Tất cả đều rời quê kiếm ăn. Không ai theo nghề của cha cả. Năm con đã mất 4. Bây giờ chỉ còn cháu Liên (con út) hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh. Vườn nhà ông Cu Đơ Khoảng năm 53, 54 gì đó, ta giải tù hàng binh thực dân Pháp về Thịnh Xá. Rất nhiều lính Pháp đến nhà chú Hai ăn kẹo lạc, uống rượu đã phiên chuyển từ “hai” (tiếng Việt) sang “deux” (tiếng Pháp) và tên gọi Cu Đơ có từ ngày đó”. Nhưng theo bà Lê Thị Hạnh (77 tuổi, cùng quê) thì biệt danh cu Hai lại bắt nguồn từ giá mỗi đĩa kẹo lạc hai tiền, nên khách quen gọi ông cu Vi là cu Hai.
Chúng tôi tìm về Thịnh Xá, qua chợ Gôi, rẽ phải, ngoặt ra bờ sông Ngàn Phố là tìm đến đươc nhà của ông cu Hai. Nhưng vườn nhà đã bán cho gia chủ khác. Di tích của ông Cu Hai chỉ còn đất vườn. Nhà cửa, cây cối, hàng rào cho đến các công trình trên đất đã khác. Bà Lê Thị Hạnh (77 tuổi) cho biết: Năm 1992, anh Đinh Nho Nguyên (con thứ 3 của ông Đinh Vi) bán vườn nhà cho gia đình bà.
Theo bà Hạnh, trước khi làm nghề nấu kẹo, ông cu Hai làm nghề buôn trầu. Hàng ngày, ông quảy hai sọt vào các nhà dân dọc hai bên bờ sông Ngàn Phố. Nhưng rồi lụt bão, trầu chết rũ. Nghề buôn trầu không ăn thua. Ông Hai chuyển sang nấu kẹo. “ Tôi không còn nhớ rõ lắm, nhưng ông bắt đầu nấu kẹo khoảng năm 47, 48 gì đó. Kẹo ông Hai nấu là kẹo khuôn. Khuôn làm bằng bẹ chuối. Kẹo nấu xong đổ lên giấy, hay lá chuối. Chỉ bán ở chợ Gôi, Choi. Nhưng từ 1950 trở đi, ở Thịnh Xá có trường Thiếu sinh quân hoc tại trường THCS Sơn Thịnh bây giờ. Hàng ngàn người. Hết lớp này rồi lớp khác. Ngoài bộ đội tình nguyện Việt Lào từ mặt trận Trung Lào cũng về an dưỡng, khoảng năm 1953, 1954 có thêm hàng binh Pháp cũng về đây. Làng Thịnh Xá là hậu phương tấp nập, nhộn nhịp. Nghề kẹo của ông cu Hai “phất” lên từ đó. Hàng ngày, HS, bộ đội tù binh người Pháp đến nhà ăn kẹo, uống nước chè xanh”. Bà Hạnh nhớ lại Trường THCS Sơn Thịnh (Bây giờ) Kẹo lạc Hương Sơn được nấu từ nguyên liệu lạc , mật mía, chanh, gừng. Lạc và mía được trồng trên những bãi bồi phù sa hai bên bờ sông Ngàn Phồ phì nhiêu. Chanh tứ thì quanh năm ra quả. Ở Hương Sơn, vườn nhà nào cũng có một luống gừng. Gừng trồng trên đất trau nắng, chở từ ruộng về, được tấp nhả bừa (gốc rạ trộn bùn) vừa tốt vừa thơm. Cho nên kẹo cu đơ được nấu từ những thứ nguyên liệu thuần phác nhà quê không trộn lẫn. Làm kẹo, ông cu Hai tuân thủ một nguyên tắc không pha trộn, không sử dụng bất cứ nguyên liệu nào khác được sinh ra từ đất quê.
Hương Sơn còn nỗi tiếng chè xanh. Chè xanh được trồng trên các dãy đồi lộng gió, thoáng đãng phơi nắng, tắm mưa, xanh mỡ màng. Chè xanh cắt xuống, rửa nước đầu nguồn Ngàn Phố, hãm nước giếng khơi “ ba chò”: Cho chát, cho đặc, cho thơm, mà “đi” với kẹo cu đơ thì phải biết. Sự kết hợp gữa thơm, chát, ngọt quyện vào lưỡi làm nên một vị đặc thù khó quên, khiến nhiều người nghiện. Đã chè xanh phải đi với miếng kẹo lạc. Xong thong thả rít một hơi thuốc Lào ngửa cổ, phả khói lên trời là thú quê không gì sánh bằng. Bao nhiêu mệt mỏi lên thác, xuống ghềnh, nắng mưa ngấm vào xương cốt cứ là tiêu tan.
Vì thế cu đơ phải sinh ra từ đất chè xanh. Ăn cu đơ mà không chè xanh thì coi như không phải ẩm thực đúng kiểu cách. Thứ quà quê này gắn liền với văn hóa ẩm thực vừa dân dã, vừa cao sang. Còn thú gì hơn, trăng lên, chè xanh đổ bát B 52 (bát sắt, to, dùng cho bộ đội thời chiến), kẹo lạc chặt miếng lên đĩa, ngồi ngoài hiên, ngắm trăng sáng, hưởng cơn gió thổi từ sông Ngàn Phố về mát rượi, chuyện làm ăn, chuyện làng xóm cứ thế mà râm ran.
Cho nên, nhà ông cu Hai phải bắc mấy dãy ghế dài. Ra cả ngoài sân, trước ngõ. Khách ngồi dưới bóng tre xanh, nghe chim hót, nghe gió xào xạc, nghe mái chèo vỗ sóng trên sông Ngàn Phố, và hương đồng gió nội quyện với hương mật mía, hương chè xanh ngào ngạt…
Kẹo ông cu Hai nấu đổ ra khuôn. Ngoài ra, chiều khách ăn kẹo non, ông cu Hai đổ vào đọi (bát) gọi là “kẹo đọi”. Rồi sau này, kẹo đổ lên lá bánh đa úp lại. Kẹo cu đơ bây giờ là tên gọi cho thứ kẹo ngoài bánh trong kẹo này.
Nhân dân Hương Sơn, Hà Tĩnh đã lấy tên người sáng tạo để gọi tên đặc sản cũng là một cách vinh danh cho người đã có công sản sinh ra thứ quà mang đậm hồn quê. “ Vi có nghĩa là làm. Cái hay của ông Vi chính là đã làm ra kẹo cu đơ. Kẹo cu đơ gắn liền với một thời kỳ của Thịnh Xá, với phong cảnh trên bến dưới thuyền, với làng quê- hậu phương nhưng là cửa ngõ đón, đưa những đoàn quân, nơi gắn liền với trường học, trường chỉnh huấn, chỉnh quân, với các chợ Gôi, Choi, Phố, Rạp vv…Cu đơ gốc không phải ốp bánh đa như bây giờ. Dân gian lưu truyền rằng: Khách vào ăn kẹo đọi ở nhà ông cu Hai dùng bánh đa múc kẹo lên, thấy ngon, bùi, từ đó kẹo được đổ trên bánh đa. Gốc kẹo đổ vào bánh đa ra đời từ đó! ”. Ông Đào Bỉnh (83 tuổi, Sơn Ninh) chia sẻ.
Nghề nấu kẹo không có gì khó khăn. Bí quyết nhà nghề không có gì bí hiểm cả: “ Ông Cu Đơ không dấu nghề. Bà con đến học, ông bày cả”. Bà Hạnh nói.
Người dân Hương Sơn trữ lạc trong chum. Mùa mía kéo che, mật trong vại. Thỉnh thoảng ngày nông nhàn làm một nồi, hãm ấm nước chè xanh, làng xóm hú gọi nhau bù khú.
Trong ký ức tôi không thể nào quên mỗi lần đến phiên chợ Rạp, mẹ lại cho ra chợ, đến hàng kẹo lạc của bà Duyên. Bà Duyên chít khăn đen, môi ăn trầu đỏ tươi, vừa cười, xởi lởi, cầm dao, giơ dùi (một khúc gỗ) chặt bôm bốp kẹo lạc, gói vào lá chuối khô dúi vào tay tôi. Những hạt lạc vỡ do vết dao chặt bà gom sạch bảo tôi khum tay lại đón lấy. Tôi nhanh nhẩu ngửa cổ, cho vào miệng nhỏm nhẻm nhai khoái chí. Nhưng từ ngày bà Duyên mất, chợ Rạ không ai bán kẹo nữa.
Tại Thịnh Xá, sau khi ông Cu Đơ qua đời, “thời vàng son” kẹo cu đơ Thịnh Xá đã qua. Cả làng còn lại 5 người nấu kẹo mang ra chợ bán. Ông Nguyễn Văn Hùng (53 tuổi) cạnh nhà ông Cu Đơ kế tục nghề nấu kẹo cho đến nay, nhưng mỗi ngày cũng chỉ một nồi dăm chục chiếc gọi là.
Kẹo cu đơ có nguồn gốc từ Hương Sơn. Nhưng theo điều tra của chúng tôi cả huyện Hương Sơn, hiện nay, người theo nghề không quá 25. Chủ lò kẹo lớn nhất là của bà Hường (thị trấn Phố Châu).
Lò kẹo cu đơ của bà Hường thường xuyên có 9 thợ làm. Từ tráng bánh, chọn lạc, mua mật, bắc nồi , nấu kẹo, đóng gói, tất cả cung đoạn ấy đều trông chờ vào tay của 9 người đàn bà.
Cu đơ bà Hường nấu tại nhà, không nhập cho các đại lý, sản xuất đến đâu là bán đến đó. Không biển quảng cáo, chào mời. Khách mua ăn hay làm quà cho người thân ở xa như Thành phố Hà Nội, Hồ Chí Mình và nhiều nơi khác.
Bí quyết để có kẹo ngon theo bà Hường là mật Sơn Thọ (Vũ Quang) được chắt ra từ những cánh đồng mía dưới dãy núi Giăng Màn. Lạc bãi Sơn Trung hay Sơn Giang , Sơn Bằng, Sơn Châu (Hương Sơn). “ Lạc phơi giòn, không có hạt lép và sâu. Mật Sơn Thọ không chua. Đặc. Vàng óng. Phụ gia không sử dụng. Mùa đông thêm gừng trong vườn nhà. Mùa hè tinh chanh. Sử dụng phụ gia như bột nở kẹo bạc màu, ăn rát lưỡi. Sử dụng dầu chuối, mất mùi vị của kẹo lạc quê hương”. Bà Hường nói.
Sau khi cho mật đun sôi, bỏ lạc quấy đều khoảng gần 1 tiếng là bắc ra, múc rải lên bánh đa đã quạt khô. Sau đó gấp lại. Kẹo cu đơ nhà bà Hường có hình bán nguyệt như nửa vầng trăng.
Từ Hương Sơn, cu đơ đã đi khắp bốn phương. Nghề cu đơ đã ra Nghi Xuân, đến Hồng Lĩnh, xuôi Can Lộc, Thạch Hà, vào Thị xã Hà Tĩnh và có một làng: Làng cu đơ ở phường Đại Nài (TP Hà Tĩnh). (Tác giả bài viết: Lê Văn Vỵ)
|