Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:17:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến tranh xâm lược của NATO chống Liên bang Nam Tư  (Đọc 53887 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 01:05:32 am »


15. CHIẾN THUẬT MỚI CỦA KQBB NATO


   Các đợt không kích vào Nam Tư được tiến hành từ tàu sân bay “Teodor Roosevell” với nhịp độ vừa phải nhưng đã không cho phép KQBB của Mỹ thực hiện một số phương pháp tác chiến mới, tạp chí “Tuần hàng không và công nghệ vũ trụ” (“Aviation Week and Space Technology”) đã đưa tin như vậy. Không quan tâm đến những tuyên bố của NATO về khả năng tăng cường lâu dài chiến dịch không kích với số lần cất cánh mỗi ngày hơn 600 lượt, nhiều phương tiện sát thương hàng không vẫn chưa sử dụng hết công suất tối đa của chúng. Ví dụ, những kế hoạch viên tác chiến trong trung tâm phối hợp không kích ở Viachenza (Italia) chỉ đặt ra cho tầu sân bay “Teodor Roosevelt” nhiệm vu chiến đấu thực hiện mỗi ngày khoảng 10-14 giờ tham gia không kích; Mỗi ngày như vậy chỉ thực hiện khoảng 70 lần cất cánh kể cả một số lần cất cánh huấn luyện để duy trì trình độ các tổ bay của các máy bay F-14 và F/A –18 để đáp ứng các yêu cầu tác chiến. Chỉ huy tàu sân bay, thuyền Trưởng David Brain nói về nhịp độ chiến đấu: “Đây không phải cuộc chạy đua tốc độ mà chỉ là cuộc đi bộ ma-ra-tông”.
   Để duy trì khả năng cất cánh chiến đấu liên tục không quân hải quân Mỹ đã quyết định bổ xung cho tàu sân bay ngoài 4 máy bay TCĐT EA-6B “Prayer” thêm 1 chiếc nữa để tăng tổng số máy bay trên tàu lên 72 chiếc. Theo những nhân viên vận hành trên EA-6B, máy bay “Prayer”cần phải đảm bảo ở tình trạng kỹ thuật sao cho tối thiểu có bốn chiếc cần phải ở trạng thái thường xuyên sẵn sàng chiến đấu để duy trì chiến dịch tấn công kể cả trong trường hợp có một chiếc trong số đó đi vào bảo dưỡng.
   Các máy bay EA-6B đậu trên tàu sân bay đã sử dụng chiến thuật tác chiến hơi khác so với chiến thuật mà chúng sử dụng khi đậu mặt đất ở căn cứ không quân Aviano của Italia. Các máy bay EA-6B tại các căn cứ mặt đất thường xuyên liên lạc trực tiếp với các nhóm máy bay cùng loại tham gia đợt không kích, trong khi đó thì các máy bay EA–6B đậu trên biển thì lại có nhiệm vụ chủ yếu gây nhiễu tại vùng có các loại máy bay tấn công khác nhau hoạt động. Các máy bay này phần lớn thực hiện những nhiệm vụ duy trì đường bay an toàn cho các máy bay chiến đấu F-14 và F/A-18.
   Một trong các phi công máy bay EA-6B đậu trên tàu sân bay tiết lộ rằng, phần lớn các tổ bay đều e ngại về hệ thống tên lửa SA-N-4 trên tàu của Nam tư hơn là đối với các hệ thống phòng không trên mặt đất. Tên lửa SA-N-4 có tầm bắn trên 16 cây số và tốc độ tương đương là 2.5 M.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #31 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 01:05:55 am »

Trong chiến dịch của Liên quân NATO thì mục tiêu chính đối với các máy bay “Prayer” là các tổ hợp phóng tên lửa SA-3 và SA-6. Trong phần lớn các trường hợp thì các máy bay “Prayer” cất cánh từ tàu sân bay thường mang 02 quả tên lửa diệt ra-đa HARM, còn các  máy bay cất cánh từ căn cứ Aviano cần phải bay dến các mục tiêu với quãng đường dài hơn do tiết kiệm nhiên liệu nên chỉ mang được một quả HAMR.
Đối với tàu sân bay “Teodor Roosevell” thì chiến dịch chống Nam Tư là lần ứng dụng chiến đấu đầu tiên kể từ năm 1981. Không quân hải quân của Mỹ đã tháo vũ khí khỏi máy bay thu thập thông tin trinh sát ES-3 “Shadow”. Theo lời của những quan chức đại diện của không quân hải quân thì sự vắng mặt của loại máy bay này không gây ra vấn đề gì cả. Chuy tàu sân bay số 8 Thuyền trưởng Jean Line nói rằng: “Trên chiến trường bây giờ có nhiều phương tiện vũ khí cùng thực hiện một nhiệm vụ”. Trong số đó có các máy bay do thám RC–135 của không quân hải quân Mỹ. Tuy nhiên, Ông ta thừa nhận rằng: “Sự vắng mặt của ES-3 không nghi ngờ gì, sẽ dẫn đến sự thiếu hụt một số khả năng nhất định, có thể trở thành vấn đề nghiêm trọng trong các tình huống chiến đấu khác” .
Một điểm bất bình thường trong chiến dịch không kích là việc sử dụng máy bay chiến đấu F-14 với vai trò tiền tiêu trên không để dẫn đường cho các máy bay khác. Máy bay hai người lái F-14 đảm nhiệm vai trò chủ yếu này để dẫn các máy bay F-14 khác và máy bay đa nhiệm một chỗ ngồi F/A-18. Tất cả các máy bay F-14 được trang bị các hệ thống ngắm–dẫn đường hồng ngoại trên khoang cho tác chiến ở độ cao thấp, bay đêm LANTIRN cho phép các máy bay này làm nhiệm vụ tiền tiêu dẫn đường. Một điểm  nữa trong chiến dịch chống Nam Tư là việc sử dụng máy bay phát hiện rada từ xa E-2C trong vai trò hệ thống điều hành tác chiến trên không.
Các máy bay F/A-18 mang thiết bị chỉ thị mục tiêu “Night Hook” với trọng lượng nhỏ hơn. Theo tiết lộ của một phi công máy báy F/A-18 thì lúc bắt đầu cuộc không kích, các nhóm máy bay tấn công của không quân hải quân Mỹ sẽ tiến hành nhiệm vụ chiến đấu về cơ bản không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhưng sau đó một số trong những máy bay trên được hợp lại thành những nhóm lớn hơn.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #32 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 01:06:14 am »

 Phần lớn các mục tiêu đã bị tấn công bởi các loại bom có điều khiển dẫn bằng laze. Tuy nhiên, theo lời của Tướng Briant thì “vẫn còn một số mục tiêu được đánh dấu để phá huỷ bằng các loại bom thông thường không có hệ dẫn đường chính xác”. không quân hải quân Mỹ cũng đã sử dụng các loại bom có điều khiên với bán kính sát thương lớn AGM–154JSOW. Các vũ khí này chỉ được đưa lên tàu sân bay “Teodor Roosevell” sau khi chúng có lệnh chuyển hướng về biển Ban tích. Các vũ khí này được lấy từ các kho vũ khí nằm ở Mỹ và trên tàu sân bay “Enterprize”. Trước khi triển khai những loại bom này, các phi công phải tham gia khoá huấn luyện về sử dụng chúng. Ngoài ra, các đợt không kích cũng đã sử dụng cả tên lửa chiến thuật điều khiển “Maverick” mà phần lớn đều có lắp đầu tự dẫn laze.
Các tên lửa chống ra-đa HARM được phóng đi từ khoang các máy bay với số lượng lớn vừa nhằm tiêu diệt các đài Ra-đa đang hoạt động vừa ngăn chặn hoạt động của các lực lượng phòng không Nam Tư thông qua việc buộc các đài Ra-đa phải ngưng phát sóng. Do vậy, tàu sân bay “Teodor Roosevell” cần phải nạp dự trữ một số loại vũ khí lớn trong đó kể cả tên lửa chống đài Ra-đa HARM. Một số vũ khí huấn luyện sử dụng trong quá trình huấn luyện phải chuyển xuống để có chỗ cho các loại vũ khí phục vụ chiến đấu.
Có hai loại vũ khí không được đưa vào sử dụng trong chiến dịch chống Nam tư là tên lửa có điều khiển “không - đất” tầm xa SLAMER và mục tiêu giả chiến thuật trên không TALD (Tactical Air Launched Decoy). Theo lời của người đại diện không quân hải quân Mỹ thì đối với các máy bay Liên quân không cần sử dụng những vũ khí trên. Bởi vì, về thực tế bom có điều khiển với đầu dẫn laze hoặc các loại vũ khí khác có thể tiêu diệt các mục tiêu mặt đất, còn đối với mục tiêu giả TALD được sử dụng để đánh lừa lực lượng phòng không  thì lại có hiệu quả sử dụng thấp. Vì theo thừa nhận của đại diện chính thức của không quân hải quân Mỹ thì các lực lượng phòng không Nam Tư đã có thể phát hiện ra được bia giả TALD.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #33 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 01:08:54 am »

16.   TỔNG HỢP TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KQ NATO
TRONG CHIẾN DỊCH CHỐNG NAM TƯ

   Ngày 31 tháng 5 bộ chỉ huy NATO công bố kết quả tổng hợp sử dụng KQ Liên quân trong chiến dịch chống Nam Tư từ ngày 24 tháng 3 đến 31 tháng 5 năm 1999. Số liệu được thống kê trong bảng sau :

« Sửa lần cuối: 28 Tháng Mười, 2011, 01:19:38 am gửi bởi duongthanhvan » Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #34 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 08:59:12 am »

17.  KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CHIẾN ĐẤU CỦA MÁY BAY TÀNG HÌNH B-2


   Máy bay ném bom tàng hình B-2 được thiết kế có sử dụng công nghệ “STELS” đã chứng tỏ vị thế của mình trong thời gian NATO tiến hành chiến dịch chống Nam Tư. Ý kiến đó đã được quan chức cao cấp Lầu năm góc tang hình đưa ra trong cuộc điều trần tại Thượng viện Mỹ ngay sau khi các chuyên gia đã đưa ra những đánh gía chỉ trích về máy bay . “Máy bay B-2 đã đáp lại sự chờ đợi của chúng ta về độ bền, độ tin cậy và những  tham số khác”, chỉ huy tàu sân bay số 509 của những chiếc máy bay này tại CCKQ Mỹ Whiteman ở tiểu bang Merryland, Thiếu tướng Leroy Bernage đã tiết lộ như vậy tại cuộc họp của Tiểu ban đảm bảo trang bị khi bàn về các vấn đề quân sư. Ông đã tuyên bố rằng trong chiến dịch tấn công Nam  Tư mới chỉ có 6 trong số 20 máy bay B-2 của không quân Mỹ tham chiến.
   Trong quá trình tập kích chống Nam Tư, máy bay B-2 đã thực hiện 30 giờ bay liên tục từ căn cứ không quân Whiteman đến lãnh thổ Nam Tư và trở về. Tướng Bernage nhấn mạnh, mặc dù những chiếc máy bay này chỉ thực hiện 50 chuyến bay chiếm 1% trong tổng số 34 nghìn chuyến bay của cả chiến dịch NATO, nhưng chúng đã ném xuống Nam Tư 11% tổng số lượng bom đã sử dụng trong chiến dịch không kích. Ông ta nói rằng có một số máy bay B-2 saukhi cắt bom trở về đã không cần phải thực hiện bất kỳ một nội dụng bảo dưỡng kỹ thuật nào mà chỉ cần nạp dầu và lắp vũ khí rồi bay tiếp.
   Mười ngày trước khi các chuyên gia của Thượng viện cho xuất bản tài liệu trong đó khẳng định rằng, máy bay B-2 có những khiếm khuyết kỹ thuật và “đỏng đảnh” trong bảo dưỡng kỹ thuật. Chúng thường đối mặt với những nghi ngờ về vấn đề ăn mòn các vật liệu đặc biệt được dùng để làm cho thiết bị bay, để đảm bảo khả năng tàng hình đối với Ra-đa của đối phương. Hệ thống xây dựng kế hoạch tác chiến sử dụng B-2 cũng tỏ ra không đủ hiệu quả vì những máy bay này chỉ được bố trí cố định tại căn cứ không quân Whiteman.
   Chính phủ Bill Clinton đã phản đối kế hoạch tiếp tục cung cấp tài chính của chương trình để tăng số máy bay này lên 21 chiếc với giá mỗi chiếc là 2 tỷ đô la Mỹ. Cùng với chính sách này của Nhà trắng họ ưu tiên tận dụng tối đa số máy bay ném bom chiến lược B-52 cho đến khi thời gian hoạt động của chúng đạt được thời gian 80 năm và sau đó sẽ thay thế bằng những máy bay thế hệ mới. Chiếc máy bay B-52 cuối cùng đã được sản xuất tại Mỹ trong những năm 1960. Các máy bay B-52 đã được sử dụng phổ biến ở chiến tranh Nam Tư, sau khi liên quân  đã làm suy yếu được hệ thống phòng không của người Séc Bi.
   Máy bay B-2 đã tham gia chiến dịch không kích cùng sự hỗ trợ của một số máy bay bổ trợ khác và cũng chỉ tham gia khi hệ thống phòng không Nam Tư đã bị chế áp điện tử. Tư lệnh KQ Mỹ tướng Marvin Esmont lý giải rằng rằng, quyết định như vậy là do muốn dảm bảo an toàn tối đa cho các máy bay này, mặc dù trong những hoàn cảnh nhất định thì những máy bay B-2 vẫn có thể “tác chiến độc lập” được.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #35 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 10:06:34 am »

18. VAI TRÒ CỦA KQ TRONG CHIẾN DỊCH NATO
CHỐNG NAM TƯ (THEO ĐÁNH GIÁ CỦA NATO)


   Cuộc xung đột ở Kosovo là đầu tiên trong lịch sử chiến tranh khi chiến thắng đạt được hoàn toàn là nhờ KQ và cũng là lần đầu tiên khi Liên quân, mặc dù vượt trội về sức mạnh kỹ thuật và quân sự nhưng trong một số trường hợp đã không thể tiến hành ném bom trong điều kiện mây mù vì không bắt được mục tiêu và vì không thể nào phát hiện được đối phương trong trận địa ngụy‏ trang.
   Một trong những kết quả quan trọng nhất của cuộc chiến là NATO đã chiến thắng mà không bị mất một người lính nào. Với Mỹ thì điều đó tạo ra sự khích lệ cũng như mối lo ngại. Vì hiện nay khả năng chiến thắng một cuộc chiến mà không bị tổn hao về con người sẽ được tính đến trong các cuộc xung đột quân sự trong tương lai. Xong giới quân sự Mỹ cũng đã không ài lòng trước một thực tế là NATO đã chỉ có thể chiến thắng ngay chính tại Trung tâm Châu Âu khi nhờ vào kỹ thuật công nghệ và sức mạnh của không quân Mỹ.
   Theo ý kiến của một nhân vật cao cấp Mỹ, chiến thắng ở Kosovo có được chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên của hoàn cảnh “Không quân của Liên quân đã thành công trong việc buộc người Séc-bi quay trở về đất của họ mà chỉ mất có hai máy bay (2 phi công kịp nhảy dù và không bị thương). Điều gì sẽ xảy ra nếu người Séc-bi quay súng lại và làm cho Liên quân tổn thất nhiều hơn? Liệu Mỹ có thể duy trì được bao lâu trong trường hợp đó? Chắc chắn sẽ rất nhanh, không lâu được. Và một mình Châu Âu liệu sẽ làm được gì?”. Những ý kiến tương tự, chủ yếu là từ các quan chức quân sự Mỹ cũng xác nhận rằng thế trận hoàn toàn có thể đảo ngược nếu Tổng Thống Nam Tư Slobodan Milošević quyết định dứt khoát hơn.
   Cuộc không kích diễn ra với những quy định chặt chẽ của NATO. Tuy nhiên, một số quy định lại không hoàn toàn phù hợp, theo như thiếu tướng KQ Mỹ Hurry Wellger thì thời gian NATO cần để phi công nhận lệnh công kích vào mục tiêu trong không chiến là “hoàn toàn chấp nhận được” và phù hợp với các khả năng của không quân Liên quân. Nhưng nếu số lượng máy bay tham chiến của Nam Tư lớn hơn thì quy định đó sẽ có thể làm hạn chế các hành động của phi công chiến đấu rất nhiều.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #36 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 10:07:12 am »

Một thực tế là trong quá trình tiến hành các hoạt động quân sự đã không ghi lại được một trương hợp tham gia tấn công nào của lực lượng bộ binh NATO. Điều đó đã khẳng định tính đúng đắn của chiến thuật tiến hành chiến dịch không kích do NATO lựa chọn. Tuy nhiên, khi công kích các mục tiêu mặt đất từ trên không thì thời gian từ khi phát hiện mục tiêu đến thơì điểm công kích lớn hơn so với thời gian cho phép. Theo các nguồn tin khác thì thời gian phản ứng của các phương tiện tấn công có duy trì liên lạc với trung tâm điều hành trên không của NATO ở Viachenza thông qua máy bay chỉ huy, điều khiển và liên lạc trên không E-130 ABCCC dao động trong khoảng vài phút đến 2 giờ đồng hồ. Để rút ngắn thời gian này thì một trong những phương pháp được các chuyên gia đưa ra là, tăng cường trang bị phương tiện tấn công có các hệ thống truyền dữ liệu. Cũng còn có cách thứ hai là dưa vào quá trình quyết định công kích nhiều mức. Theo các chuyên gia, sự cần thiết đảm bảo truyền dữ liệu là bài học chính được rút ra từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Do vậy, nếu không tính rằng, tàu sân bay của các máy bay F-16C/D đậu ở Aviano và giữa những năm 90 đã được hiện đại hoá và các máy bay Châu Âu khác cũng được trang bị như vậy, thì các trang bị truyền tin của KQ Liên quân là không đáp ứng được yêu cầu của cuộc chiến.
   Bước quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề này là tiến hành hiện đại hoá hàng loạt máy bay theo hướng đảm bảo sự trùng khớp của các kính quang học nhìn đêm, hệ thống ngắm bắn–dẫn đường cả ngày lẫn đêm “LUNTERN” và các thùng vũ khí treo ngoài để cho phép thực hiện các chuyến bay huấn luyện và ứng dụng chiến đấu trong mọi thời tiết.
   Ngay từ đầu chiến dịch chống Nam Tư các chiến lược quân sự được xây dựng trong khuôn khổ chặt chẽ của các giải pháp chính trị của NATO. Trở ngại lớn nhất đối với họ là xuất hiện ý định không cho bộ binh tham chiến ngăn chặn đội quân tiến vào Cô-xô-vô. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, điếu đó có thể được đánh giá như lời tuyến bố chính thức đối với Tổng thống Milôsevich hãy ngồi yên trong công sự và chờ đợi cho đến khi NATO thay đổi quan điểm.
Quyết định không cho bộ binh Liên quân tham chiến ngay từ đầu chiến dịch và số lần cất cánh chiến đấu của KQ Liên quân chỉ tăng dần dần cũng bị phê phán. Điều này hoàn toàn trái ngược với chiến lược tiến hành chiến tranh ở vùng Vịnh vì ở đó nhịp độ tấn công đã được đẩy lên cao ngay từ những giờ đầu tiên.
Theo thống kê của NATO trong vòng từ 24 tháng 3 đến 10 tháng 6 KQ Liên quân đã thực hiện 37465 chuyên bay tương ứng với tỷ lệ 486 chuyến/ ngày. Trong số đó có 14006 chuyến bay có tiến hành không kích và chế áp LLPK Nam Tư, trong đó có 10808 chuyến thực hiện công kích. Trong những ngày đầu của CDKK của KQ Liên quân mỗi ngày NATO thực hiện 150 chuyến bay. So sánh có thể thấy: trong vòng 43 ngày chiến tranh vùng Vịnh có 109876 lượt cất cánh với tỷ lệ 2555 lượt/ ngày và trong số đó một nửa là tham gia chiến đấu trung bình 1600 lượt / ngày.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #37 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 10:07:51 am »

Quyết đinh về hạn chế độ cao tối thiểu của các máy bay ở 15000 feet (4575m) trong suốt của cuộc chiến cũng gây ra nhiều tranh cãi. Mặc dù chính nhờ điều này mà các phi công NATO ở Kosovo có thể an toàn khi ở ngoài tầm bắn của tên lửa vác vai và pháo cao xạ của lực lượng phòng không Nam Tư. Nhiều người cho rằng, giới hạn này trong chừng mực đáng kể đã mang tính nghệ thuật và ngăn cản việc triển khai toàn bộ các phương tiện của hệ thống phòng không Nam Tư. Tuy nhiên cũng đã xuất hiện rất nhiều sai xót trong chỉ thị mục tiêu. Sai xót nghiêm trọng nhất là vào trung tuần tháng 4 khi các phi công từ độ cao lớn đã tấn công vào các máy cày và các phương tiện vận tải dân sự đang chở những người An-ba-ni trở về quê hương.
Theo con số của Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Liên quân NATO ở Châu Âu thu được ở tuần cuối của chiến dịch thì không quân NATO đã loại ra khỏi vòng chiến đấu hơn 30% xe bọc thép của Séc-bi bố trí quanh Kosovo. Đến cuối giai đoạn cuộc chiến theo những đánh giá không chính thức thì Liên quân đã tiêu diệt hơn 400 giàn pháo phòng không của Nam Tư, khoảng 270 xe bọc thép, 150 xe tăng và hơn 100 máy bay và loại khỏi vòng chiến đấu từ 5 đến 10 nghìn quân.
Tuy nhiên, theo những nhân chứng sống ở Kosovo thì kết quả thực tế thấp hơn rất nhiều, vì quân đội Séc bi đã sử dụng một số lượng lớn những phương tiện ngụy trang và các mục tiêu giả. Sau đó, NATO đã phải tiến hành đánh giá lại các khả năng của các hệ thống trinh sát và chỉ thị mục tiêu. Trong số những hệ thống đó có cả hệ thống trinh sát điện tử “Tristars” đặt trên máy bay E-8, đài Ra-đa quan sát phụ được hiện đại hoá ASARS-2 với thiết bị tổng hợp đặt trên máy bay U-2 và một loạt các thiết bị bay không người lái được sử dụng chủ yếu bởi Mỹ, Pháp và Đức.
Các máy bay không người lái đặc biệt hiệu quả trong việc thu thập tin ảnh từ các độ cao thấp và vừa. Tổng cộng Liên quân đã mất hơn 20 máy bay không người lái do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có hơn 10 chiếc bị bắn hạ bởi pháo phòng không và tên lửa vác vai. “Bây giờ thì khó có thể nói được thực chất không quân các nước phương Tây sẽ tập trung tài nguyên của mình vào đâu khi xét đến các bài học kinh nghiệm được rút ra và các khả năng mua sắm vũ khí với số lượng cần thiết sau chiến dịch không kích”, một quan chức quân sự đã tiết lộ như vậy. “Các phương án có thể khác nhau từ việc tăng cường các phương tiện tự bảo vệ cho các máy bay chiến đấu đến chuyển các máy bay không người lái thành máy bay chến đấu”.
Theo các chuyên gia thì các quốc gia phương Tây phải sẵn sàng xác định với các vấn đề tổn thất bên trong. Nếu đặt mục tiêu mức tổn thất người tối thiểu (thậm chí không có tổn thất) trong các cuộc không chiến tương lai thì cần phải nhanh chóng mua sắm nhiều vũ khí mới thậm chí cho cả các máy bay không người lái. Một phương án duy nhất đối với những nhà quân sự là thuyết phục những quan chức chính phủ chấp nhận điều đó và đồng thời tăng cường ký kết mua công nghệ và kỹ thuật quân sự mới nhằm đảm bảo duy trì các phương tiện bay để duy trì và tác chiến không quân trực tiếp cô lập vùng hoạt động quân sự từ độ cao thấp và độ cao lớn hơn. Ví dụ, có thể trang bị máy bay NATO các hệ thống cảnh báo về sự tấn công của tên lửa mặt đất được dẫn bằng hồng ngoại có kích thước nhỏ khó phân biệt.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #38 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 10:08:17 am »

Mây mù dày đặc bao phủ phần lớn lãnh thổ Cô-Xô-Vô trong những ngày đầu chiến dịch không kích đã cản trở việc tiến hành tấn công có sử dụng các vũ khí dẫn bằng laze. Trong số 21 ngày xung đột thì chỉ có 8 ngày được coi là “thời tiết thuận lợi” cho các nhiệm vụ chiến đấu còn trong 10 ngày chỉ thực hiện được 50% các chuyến bay chiến đấu. Đến  ngày 11 tháng 4 năm 1999 thì các máy bay “Harrier” GR7 của không quân Hoàng Gia Anh lần đầu tiên đã cắt bom trong điều kiện mây mù. Từ thời điểm đó bắt đầu phải tính đến việc sử dụng các vũ khí không điều khiển trong cuộc xung đột ở Kosovo.
Việc huỷ bỏ số lượng lớn các chuyến bay vì lý do thời tiết đã buộc không quân Mỹ đẩy nhanh chương trình sử dụng liên lạc vệ tinh để dẫn các loại vũ khí và thậm chí còn đặt các máy thu vệ tinh “NAVSTAR” lên một vài loại vũ khí có điều khiển thuộc biên chế thường trực. Thường thì việc lắp đặt máy thu như vậy được thực hiện với bom có điều khiển “Pavey III” (được hiện đại hoá bởi hãng “Ration”) và phiên hiệu của không quân Mỹ có tên là “Modern Pavey” trong trường hợp mất chỉ thị mục tiêu bằng laze đảm bảo xác suất sai số trúng mục tiêu trong phạm vi 13 m. Chương trình thứ hai có xét đến việc lắp các tổ hợp đang phát triển với các máy thu của hệ “NAVSTAR” lên bom hàng không GBU-15 dẫn bằng hồng ngoại hoặc truyền hình trong kế hoạch sản xuất.
Trên cơ sở kinh nghiệm thu được ở Nam Tư, không quân Mỹ đang lập kế hoạch hiện đại một loạt vũ khí khác để bổ xung cho chúng khả năng dẫn theo các tín hiệu hệ “NAVSTAR”. Hiệu quả của hệ thống dẫn như vậy trong cuộc xung đột biểu hiện rõ rệt nhất khi sử dụng bom JDAM của hãng “Boeing” mà lần đầu tiên được thử nghiệm ở Nam Tư trong điều kiện chiến đấu thực tế. Tổ hợp JDAM đang phát triển cho các loại bom rơi tự do trọng lượng từ 227 đến 908 kg ước chừng trị giá 20 đến 25 nghìn USD.
Bởi vì Irắc và Séc-bi đã học được cách khống chế được các loại BCĐK sử dụng hệ dẫn bằng la de bằng cách tạo các đám khói trên các mục tiêu có thể bị tấn công. Người ta tính toán rằng hệ thống dẫn vệ tinh có thể sẽ chống lại được những phương tiện đơn giản như vậy. Một chuyên gia về các vũ khí điều khiển đã nhấn mạnh: “Bây giờ tất cả bắt đầu tìm kiếm các khả năng tạo nhiều đối với hệ thống “NAVSTAR” sao cho không quá đắt và dễ dàng sử dụng.
Không quân hải quân Mỹ đang lập kế hoạch mở rộng các tính năng của vũ khí JDAM bằng cách tăng cự ly hoạt động của nó và lắp đầu tự dẫn để dẫn theo các mục tiêu điểm ở cuối quỹ đạo bay. Với kết quả trợ giúp của tổ hợp JDAM đang phát triển giá thành hạ thì có thể biến các lọai bom không điều thành các loại vũ khí chính xác cao.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
duongthanhvan
Thành viên
*
Bài viết: 471



« Trả lời #39 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2011, 10:14:11 pm »

Khi nhìn thấy những ưu thế của các vũ khí hàng không được dẫn tín hiệu vệ tinh hệ “NAVSTAR”, một số nước thành viên Châu Âu đã đặt hàng mua các vũ khí như vậy. Các điều kiện thời tiết không thuận lợi ở Nam Tư đã làm tăng vai trò của các vũ khí JDAM trong các hoạt động quân sự ở Kosovo lên đáng kể. Ở thời gian đầu của chiến dịch không kích, tại Mỹ mỗi tháng sản xuất 200 tổ hợp JDAM. Vào giữa chiến dịch việc cung cấp loại vũ khí này đột ngột dừng lại để mở rộng cơ sở nhằm tăng công suất sản xuất. Đến tháng 8 thì họ đã đạt được công suất 500 tổ hợp mỗi tháng và trong các giai đoạn tiếp theo cần phải nâng lên 700 tổ hợp/tháng.
Còn một loại vũ khí nữa mà sự thiếu hụt cũng trở nên trầm trọng là tên lửa hành trình AGDM - 86 C (CALCM) do hãng “Boeng” sản xuất. Liên quan đến vấn đề này các nhà quân sự và những người đại diện cho nền công nghiệp đã phải cùng nhau họp bàn để tìm đáp án cho câu hỏilà câu hỏi làm thế nào để giải quyết vấn đề bảo đảm cho quân dội đủ số lượng vũ khí và đạn dược trong các cuộc chiến tương lai. Theo lời của người đại diện hãng “Boeng” thì: “Trong 10 năm gần đây (tính tại thời điểm cuộc chiến) các chuyên gia vũ khí chú ý nhiều đến các phương tiện hỗ trợ, vì thiếu chúng thì không thể sử dụng vũ khí được. Các chuyên gia cũng đưa ra ngân sách cần thiết. Nhưng nếu nhịp độ sử dụng vũ khí tăng gấp 3 lần so với kế hoạch thì các kho dự trữ sẽ rỗng hết” .
Vấn đề là ở chỗ, làm thế nào để chất đầy các kho dự trữ này: tích góp thêm nhiều vũ khí hay hiện đại hoá hạ tầng công nghiệp để mở rộng sản xuất khi cần thiết. Hãng "boeng" đã  chọn giải pháp thứ hai. Với giải pháp này, hãng này đã có thể nhân đôi công suất sản xuất tổ hợp JDAM mỗi tháng bằng cách bổ xung thêm vào dây truyền sản xuất chỉ vẻn vẹn có 4 công nhân.
Một trong những quan chức Mỹ đã không hài lòng về sự phụ thuộc của Châu Âu vào Mỹ trong các vấn đề đảm bảo các phương tiện tấn công và các phương tiện đảm bảo (chủ yếu liên quan đến các thiết bị phục vụ tác chiến điện tử, chỉ huy, truyền lệnh, trinh sát và tiếp dầu) đã tiết lộ rằng: "Châu Âu cần phải tăng cường kho dự trữ vũ khí của mình. Trong thời gian cuộc chiến, những nước không có đủ các loại vũ khí điều khiển đã thúc giục yêu cầu đặt hàng. May mắn là nước Mỹ có đủ khả năng mở rộng sản xuất để đáp ứng yêu cầu đó. Nhưng khả năng của chúng ta sẽ trở về con số không vì các cuộc xung đột tương lai sẽ chộp lấy chúng ta bất cứ lúc nào. Nếu không chuẩn bị  ngay từ bây giờ, thì các bạn đừng tham chiến”.
Logged

...Bắn trúng, đánh rất hay ...
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM