10. Sức nổi dư của tàu ngầm (
tiếp)
Nhiệt độ nước biến động từ - 2
oC tới + 30
oC tuỳ theo vĩ độ, mùa trong năm và độ sâu lớp nước. Nước đạt mật độ lớn nhất ở nhiệt độ + 4
oC. Quá ngưỡng nhiệt độ này theo cả chiều tăng lẫn giảm đều khiến mật độ nước giảm xuống ở mức 0,00015 tấn lực/m
3 cho cứ 1 độ tăng giảm của nhiệt độ nước, kéo theo mức dư sức nổi 0,15 tấn lực cho mỗi 1000 m
3 thể tích choán nước của tàu ngầm. Khi tàu ngầm đi từ 1 lớp nước vào lớp nước khác có nhiệt độ cao hơn sẽ tạo ra 1 mức dư sức nổi âm, còn đi vào lớp nước khác có nhiệt độ thấp hơn (nhưng không dưới +4
oC) sẽ tạo ra 1 mức dư sức nổi dương.
Tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng nguyên tử lớp Astute của Anh mô phỏng tuần tra dưới lớp băng trong vùng biển vĩ độ cao (naval-technology.com)

Tại những vĩ độ trung bình trong thời điểm lạnh của năm, nhiệt độ nước biển biến động không đáng kể theo độ sâu. Tại những vĩ độ thấp và trong thời điểm ấm áp của năm ở những vĩ độ trung bình, nhiệt độ nước sẽ giảm đi theo độ sâu. Còn tại những vùng nước vĩ độ cao, lớp nước ấm phía trên tương đối mỏng so với lớp nước lạnh, và sự phân tách giữa chúng được thể hiện khá rõ ràng qua 1 lớp nước đệm mỏng có nhiệt độ và mật độ nước rất chênh lệch. Lớp nước đệm này được gọi là
Lớp đột biến nhiệt (
Слой температурного скачка) hay
Tầng đáy lỏng (
Жидкий грунт).
Nếu tàu ngầm bị thụt xuống sâu với 1 mức trị số tuyệt đối của dư sức nổi âm không đáng kể, thì khi xuống tới lớp đột biến nhiệt có mật độ nước cao hơn, mức dư sức nổi âm này sẽ được khắc phục và tàu ngầm sẽ đạt được trạng thái cân bằng như khi đang nổi trên mặt nước. Vì thế khi đi ngầm tới lớp đột biến nhiệt, tàu ngầm có thể duy trì được trạng thái cân bằng mà không cần phải di chuyển. Điều này có thể giúp tàu ngầm tránh bị lộ diện trước mục tiêu và tiết kiệm được nhiên liệu.
(
còn nữa)