Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:07:06 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sơ lược về các trận chiến trên thế giới từ năm 1481 TCN cho đến năm 2003  (Đọc 13924 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 10:21:31 am »

Topic này xin giới thiệu sơ lược một số tư liệu về các trận chiến đã diễn ra theo suốt chiều phát triển của lịch sử loài người, từ khi sơ khai cho đến thế giới hiện đại ngày nay.

Topic sẽ được trình bày theo thời gian biểu, thông tin về mỗi trận chiến sẽ được trình bày xen kẽ với thông tin về các vị tướng chỉ huy nổi tiếng của từng thời kỳ. Do trình độ em còn hạn chế nên có gì sơ suất mong các bác giúp đỡ thêm.

Các bài viết do em tham khảo từ 100 câu chuyện chiến tranh thú vị nhất chưa từng kể của Rick Beyer và Bách khoa toàn thư về chiến tranh của Robin Cross.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Giêng, 2012, 07:33:47 pm gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #1 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 10:39:44 am »

Năm 1481 TCN

CHIẾN DỊCH CỦA THUTMOSE ĐỆ TAM

Thời gian : Năm 1481 trước Công Nguyên.

Mục tiêu : Thực hiện chiến dịch để chinh phạt lực lượng nổi dậy ở Sirya và Bắc Palestine, được lãnh đạo bởi Qadest, một thành phố chỉ huy nằm phía trên Orontes.

Mô tả : Vua xứ Qadesh dẫn đầu một liên minh giữa các hoàng tử của Canaan và Sirya đã hành quân về phương nam để ngăn cản sự lấn át của Thutmose ở Megiddo, nằm giữa vùng đồng bằng bờ biển của Palestine và thung lũng Jezreel. Phản công của Thutmose rất cơ động : chỉ trong 9 ngày, trung bình hành quân 16 dặm mỗi ngày, quân đội của ông đã tiếp cận dải Gaza; ba ngày sau ông đã lập một hội đồng tác chiến ở Yehen. Có ba con đường có thể tấn công vào vị trí của quân liên minh : một đường trực tiếp thông qua hẻm núi Aruna, một con đường phía bắc thông qua Djefti và một đường phía nam thông qua Ta'anch. Các chỉ huy người Ai Cập đã hết sức khuyên can không nên chọn con đường thứ nhất bởi nếu làm vậy thì quân đội sẽ phải hành quân theo hàng dọc khi phải đối moặt với đội hình dàn hàng ngang của kẻ thù. Tuy nhiên, Thutmose vẫn quyết định chọn con đường thứ nhất và hạ lệnh dựng trại dọc khe suối Qina.

Vua xứ Qadesh đã bị bất ngờ bởi lòng can đãm của Thutmose. Lực lượng liên minh nằm từ vùng tây bắc của Megiddo cho đến vùng đồng nam gần Ta'anch. Khi trời vừa hừng sáng, Thutmose đã hạ lệnh tấn công. Ông chia quân đội của mình cho ba mặt trận khác nhau, "một để tấn công kẻ thù ở phương bắc, một ở phương nam và một cho mặt trận chính", dưới sự lãnh đạo của chính ông. Mục tiêu của ông là đánh vào những cỗ xe ngựa của quân Sirya nằm bên ngoài Megiddo. Trong trận giao tranh tiếp theo, quân Ai Cập đã tràn qua phia quân đồng minh và đuổi theo họ cho đến tận bờ thanh. Những kẻ chạy trốn đã bỏ lại xe ngựa để leo lên thành. 924 cỗ xe ngựa đã bị bắt giữ, nhưng Thutmose lại bị thất bại trong việc xông vào Megiddo bởi vì quân lính ông đã dừng lại để cướp bóc doanh trại kẻ thù.

Kết quả : Megiddo thất thủ sau 7 tháng.

Quang cảnh Tel Megiddo, Israel ngày nay

THUTMOSE ĐỆ TAM (mất năm 1425 trước Công Nguyên)  là vị pharaoh thứ sáu của triều đại thứ 18. Trong 22 năm đầu cai trị của Thutmose đệ tam, ông đồng trị vì với mẹ kế là pharaoh Hatshepsut. Ông đã được Hatshepsut phong làm võ tướng. Phần lớn tư liệu cho là Thutmose đệ tam ở ngôi 54 năm, từ 24 tháng 4 năm 1479 tới 11 tháng 3 năm 1425 trước Công Nguyên, và đồng trị vì với Hatsheput trong 22 năm đầu. Trong hai năm cuối đời, ông đồng cai trị với vua con Amenhotep đệ nhị. Khi qua đời, ông được chôn cất ở Thung lũng các vị vua. Thutmose đệ tam được đánh giá là một con người độc đoán, là một thiên tài chiến thuật và chiến lược, ông được xem là vị vua - chiến binh vĩ đại nhất, là thống soái kiệt xuất nhất trong lịch sử Ai Cập, người đã khuếch trương thanh thế của đế chế Ai Cập đến mức độ cao nhất. Ông là người có công gầy dựng nên lực lượng Hải quân chinh chiến đầu tiên trong thế giới cổ đại và tiến hành cải cách lực lượng Quân đội Ai Cập cổ đại. Triều đại của ông được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quân sự thế giới. Trong suốt 20 năm, ông đã chỉ huy rất nhiều chiến dịch tấn công vào châu Á, bao gồm một số trận giao tranh ác liệt và một số khác có mục đích khoa trương sức mạnh. Ông thực hiện những chiến dich đó để đối đầu với Mittanni - các chiến binh Ấn - Âu đã chinh phục được miền Bắc Sirya, cũng như các vùng đất chư hầu của quân Canaan, những người đã cai trị những vùng đất thương mại quan trọng của Sirya - Palestine. Những nỗ lực chiến tranh liên tục đã mang về cho ông thành lũy của Megiddo, Qadesh và Archemish, từ đó biến dãy núi Taurus và sông Euphrate thành biên giới phía bắc cho vương quốc của ông. Trong khi đó, các vị tướng của ông cũng thực hiện cuộc chinh phạt Nubia lên đến Thác Nước Lớn thứ 5 của sông Nile. Cuối cùng, lãnh thổ của ông trải dài đến 1.500 dặm (2.414 km) từ bắc chí nam.

Tượng Thutmose đệ tam đặt tại Bảo tàng Luxor, Ai Cập
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Giêng, 2012, 10:28:51 am gửi bởi BOM BI » Logged

daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #2 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 10:53:52 am »

Năm 1481 TCN

CHIẾN DỊCH CỦA THUTMOSE ĐỆ TAM

Thời gian : Năm 1481 trước Công Nguyên.

Mục tiêu : Thực hiện chiến dịch để chinh phạt lực lượng nổi dậy ở Sirya và Bắc Palestine, được lãnh đạo bởi Qadest, một thành phố chỉ huy nằm phía tên Orontes.

Mô tả : Vua xứ Qadesh dẫn đầu một liên minh giữa các hoàng tử của Canaan và Sirya đã hành quân về phương nam để ngăn cản sự lấn át của Thutmose ở Megiddo, nằm giữa vùng đồng bằng bờ biển của Palestine và thung lũng Jezreel. Phản công của Thutmose rất cơ động : chỉ trong 9 ngày, trung bình hành quân 16 dặm mỗi ngày, quân đội của ông đã tiếp cận dải Gaza; ba ngày sau ông đã lập một hội đồng tác chiến ở Yehen. Có ba con đường có thể tấn công vào vị trí của quân liên minh : một đường trực tiếp thông qua hẻm núi Aruna, một con đường phía bắc thông qua Djefti và một đường phía nam thông qua Ta'anch. Ccá chỉ huy người Ai Cập đã hết sức khuyên can không nên chọn con đường thứ nhất bởi nếu làm vậy thì quân đội sẽ phải hành quân theo hàng dọc khi phải đối moặt với đội hìnhd àn hàng ngang của kẻ thù. Tuy nhiên, Thutmose av64n quyết định chọn con đường thứ nhất và hạ lệnh dựng trại dọc khe suối Qina.
1. Ghi rõ nguồn bài viết và sửa lỗi chính tả!

2. Bài mở đầu chủ đề quá ngắn, bắt chặt có thể đánh giá là bài spam!

3. Chủ đề sẽ được chấp nhận nếu bạn BOM BI sử dụng tài liệu đã có tổng hợp thành bài riêng của bạn, không chấp nhận các bài cắt dán (copy&paste) từ các diễn đàn khác hay báo mạng trên internet!
Logged
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #3 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 12:06:11 pm »

Năm 1296 TCN

Sự thanh bình không kéo dài được lâu. Quân Hittite, một lực lượng chiến binh Ấn - Âu còn ghê gớm hơn cả Mitanni, đã hành quân từ pháo đài của họ ở Anatolia xuống và nhanh chóng hủy diệt đế chế người Mitanni đang trên đà suy tàn. Vào giữa thế kỷ 14 trước Công Nguyên, quân Hittite và quân Ai Cập đã có xung đột gay gắt với nhau. Đây là nguyên nhân khiến cho Rameses đệ nhị, một người rất thích tự khẳng định mình, đã đẩy tình trạng căng thẳng giữa hai quốc gia lên đến cực điểm. Sau một loạt các chiến dịch tấn công quyết liệt xuyên qua Syria làm suy yếu lực lượng của hai bên, một bản hiệp ước đã được ký kết (khoảng năm 1283 trước Công Nguyên), xác định biên giới chung là vùng Orontes, miền nam Qadesh.

Quân đội của pharaoh vào thời đó bao gồm lực lượng cận vệ hoàng gia hay "Cảm tử quân của Pharaoh" và bốn nhánh quân tự trị khác. Họ hành quân dưới sự bảo trợ thiêng liêng của của vị thần hộ mệnh cho vùng đất nơi đơn vị đồn trú : Amon của Thebes, Re của Heliopolis, Ptah của Memphis và Seth của Pi - Rameses. Người Ai Cập sẽ nhập ngũ với tư cách là "kẻ bắn phá" hay " những chàng trai vũ lực". Binh lính bắn cung sẽ dàn hàng đứng gần nhau và hỗ trợ cho nhóm bộ binh đánh giáp lá cà, những người sẽ tiến lên với tộc độ nhanh, khiên đeo sau lưng, hai tay hoàn toàn rảnh để sử dụng vũ khi đeo cạnh sườn và giáo mác. Nếu bị tấn công bởi tên thì nhóm lính này sẽ xoay khiên ra đỡ và tốc độ hành quân cũng sẽ chậm lại. Xe ngựa được dùng để hỗ trợ và bảo vệ cho nhóm bộ binh cũng như tăng thêm tính cơ động tầm xa cho mọi hoạt động.

Đế chế Hittite (Màu đỏ) vào thời kì đỉnh cao của sức mạnh khoảng năm 1290 trước Công Nguyên, Biên giới đế chế Ai cập (Màu xanh)

Ngược lại, chiến thuật của của quân Hittite dựa trên công dụng tấn công của những cỗ xe ngựa và sự hỗ trợ của toán bộ binh. Quân đội phong kiến của tầng lơp quý tộc tạo ra những cỗ xe ngựa, còn những thái ấp nằm cách xa nhà vua thì có nghĩa vụ phụng sự. Bộ binh bao gồm những người Hittite bản xứ và lực lượng cận vệ hoàng gia, được trang bị với giáo mác, dao găm và khiên, mặc dùng những người Syria vốn rất thiện chiến trong những trận đánh nhỏ, được trang bị  với lao, gậy cong và cung.

Vào khoảng năm 1200 trước Công Nguyên, tình hình của Vùng Cận Đông cổ đại rất hỗn loạn. Ai Cập phải liên tục hứng chịu những cuộc đột kích của quân Libya và với những làn sóng tấn công đầu tiên của "Quỷ biển", một bộ tộc lang thang, du mục sinh sống bằng nghề cướp bóc. Những tài liệu của Ai Cập ghi lại rằng : "...tất cả các quốc gia đều bị dịch chuyển và ly tán bới chiến tranh. Không vùng đất nào đứng vững trước sức mạnh của nó...điền này thật lãng phí...". Quân Hittite đã cố gây ra cuộc chiến nhưng lại bị tàn phá, cũng như những quốc gia ở vùng Cận Đông. Tuy nhiên, bản thân Ai cập lại sống sót, nhờ vào nỗ lực của Rameses đệ tam, mặc dù đế chế đó không còn nữa.
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Giêng, 2012, 11:17:27 am gửi bởi BOM BI » Logged

daibangden
Trung tá
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #4 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 12:39:09 pm »

Các bài viết do em tham khảo từ 100 câu chuyện chiến tranh thú vị nhất chưa từng kể của Rick Beyer và Bách khoa toàn thư về chiến tranh của Robin Cross.

=> Có nguồn là được rồi Grin. Cố gắng duy trì bài viết để chủ đề không bị chìm nhé Grin
Như bài trả lời số 3 ngay trên thì ngắn quá. Mỗi bài viết (post) cần dài hơn đi bạn. Nếu được từ 1 hoặc 2 trang văn bản (word) và tìm, chèn ảnh minh họa vào thì tốt. Grin
Logged
BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #5 vào lúc: 23 Tháng Giêng, 2012, 08:23:09 pm »

RAMESES ĐỆ NHỊ (khoảng 1304 - 1213 trước Công Nguyên) là pharaoh thứ 3 của Vương triều thứ 19 của Ai Cập. Ông được ghi nhận là một trong những pharaoh vĩ đại, quyền lực và được ca tụng nhiều nhất trong lịch sử Ai Cập cổ đại. Những nhà văn người Hy Lạp cổ đại như Herodotus cho rằng những thành công của ông dẫn tới huyền thoại về Sesostris. Ông còn được nhiều người tin là Pharaong trong cuốn Exodus. Những người thừa kế ông, cũng như những người Ai Cập sau này gọi ông là "Ông tổ vĩ đại" và xem ông như vị cha già của dân tộc.

Ông ra đời gần năm 1303 trước Công Nguyên và ở tuổi 14, ông được vua cha Seti I chọn làm thái tử kế vị. Ông được tin là đã lên ngôi vua khi mới ngoài 20 tuổi và cai trị nước Ai Cập từ năm 1279 đến năm 1213 trước Công Nguyên, tổng cộng là khoảng 66 năm 2 tháng theo Manetho. Ông là người thời xưa duy nhất được tin là sống được đến 99 tuổi, nhưng theo các nghiên cứu hiện nay thì thời điểm ông qua đời khi ông 90 hay 91 tuổi hợp lí hơn. Rameses đệ nhị đã tổ chức đến 14 lễ hội Sed trong triều đại ông - nhiều hơn các pharaoh khác. Sau khi qua đời, ông được chôn ở ngôi mộ tại Thung lũng các vị vua; thi hài ông về sau đã được đưa tới nhà xác hoàng gia nơi nó được tìm thấy năm 1881, và hiện nay ở bảo tàng Turin, Ai Cập.

Tượng Rameses đệ nhị đặt tại Bảo tàng Turin, Italia

CHIẾN DỊCH QADESH

Thời gian : Năm 1296 trước Công Nguyên.

Mục tiêu : Giải quyết câu hỏi đặt ra cho vấn đề nảy sinh giữa Hittite và Ai Cập, rằng quốc gia nào sẽ kiểm soát Syria.

Những con số : Muwatallis, vua của người Hittite, đã kéo quân từ vùng Tiếu Á xuống phương nam, với lực lượng quân đội lên đến 17.000 người. Rameses đệ nhị chỉ huy 20.000 quân, chia thành 4 nhánh, mỗi nhánh bao gồm các toán lính bắn cung, lính dùng giáo và các cỗ xe ngựa.

Mô tả : Rameses hành quân lên phương bắc dọc theo đường bờ biển trong 30 ngày - trung bình 32 dặm mỗi ngày - để đến vùng đất Shabtuna, cách nam Qadesh 38 dặm, nơi có một khúc sông cạn băng qua Orontes. Sau khi cắm trại một đêm ở Shabtuna, Rameses đã băng qua khúc sông, dẫn đầu toán lính Amon của ông. Ở đây, ông bị một bắt gặp bởi một nhóm lính trinh sát của Hittite, đang giả vờ làm những người bỏ trốn khỏi bộ tộc người du cư Shessu. Họ đã lừa cho ông tin rằng Muwatallis đanmg ở Aleppo, trong khi quân đội của Hittite lại thực sự đang đóng bên ngoài Qadesh. Do tin tưởng, Rameses cùng tùy tùng đã cắm trại ở ở vùng tây bắc Qadesh, hy vọng sẽ bao vây được thành phố trước khi quân Hittite đến, trong khi quân đội của ông đang hành quân theo hàng dọc cách đó vài dặm. Trận chiến Qadesh diễn rả ngay sau đó.


Trong khi Rameses chở đợi quân đội của mình, hai tù nhân bỗng khám phá rằng quân đội của kẻ địch đang ở rất gần; Rameses đã rơi vào bẫy. Khi nhánh quân Re hành quân lên phương bắc, Muwatallis đã mang 2.500 cỗ xe ngựa tiến vào sườn núi; nhánh quân đó bị vỡ trận trong sự hoảng loạn, theo sau là Amon. Quân Hittite bao vây doanh trại, nhưng cùng với đoàn tùy tùng của mình, Rameses đã phản công, chống lại kẻ thù và trấn an tinh thần quân đội của mình. Dòng chảy của trận chiến đã đột ngột đổi chiều. Cảm nhận được chiến thắng đang đến gần, lính điều khiển xe ngựa Hittite đã bắt đầu cướp bóc. Tuy nhiên, Rameses đã tập hợp tàn quân của Re và Amon lại rồi tiến hành tận công, với sự hỗ trợ ngẫu nhiên của toán lính đánh thuê ngưới Canaan. Muwatallis hiện giờ đã mang thêm 1.000 cỗ xe ngựa vào chiến trường, nhưng Rameses lại đánh cho họ tháo chạy tán loạn xuyên quan Orontes. Nhóm người và ngựa này còn bị truy đuổi bởi nhánh quân Ptah vừa đến nơi. Khi trời vừia xẩm tối, nhánh quân Seth cũng triển khai xong. Cùng với táon bộ binh của mình, vua Muwatallis đã hoàn toàn bất lực. Ông rút lui về Qadesh.

Kết quả : Vì cả hai bên đều tỏ thái độ hiếu chiến nên không một hiệp ước nào được ký kết. Lực lượng Rameses đã quá yếu đến mức không vây hãm Qadesh nữa, còn Muwatallis thì hài lòng với việc án binh bất động bên trong.


Đền Abu Simbel do Rameses đệ nhị xây dựng  vào thế kỷ 13 trước Công Nguyên để kỷ niệm chiến thắng Qadesh, đền được tạc thẳng vào vách núi
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Giêng, 2012, 12:13:43 pm gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #6 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2012, 01:03:05 pm »

Thế kỷ 14 TCN

TRẬN KASSAS - Cuộc chiến cả hai bên cùng "thắng"

Kassas là cửa khẩu quan trọng phía nam nước Hertidi thời cổ đại. Thế kỷ 14 trước Công Nguyên, nơi đây xảy ra cuộc chiến khốc liệt giữa Ai cập và Hertidi, , lịch sử gọi là trận Kassas.

Trước thế kỷ 14 trước Công Nguyên, giữa Ai cập và Hertidi đã có vài cuộc đụng độ trong việc giành giật ảnh hưởng của mình đối với những nước chư hầu. Ai Cập trong niên đại này do Rameses đệ nhị nắm quyền, một vị pharaoh anh dũng và thiện chiến, được tôn vinh là "con trai của thần Rêh". Rameses quyết tâm chinh phục Hertidi, tiêu diệt hoàn toàn kẻ địch.

Rameses đưa đại quân Ai Cập tấn công vào Hertidi, các nước nhỏ trên đường ông tiến quân nghe tin đều lần lượt đầu hàng, quy thuận. Khi còn trẻ, Rameses rất tự tin vào tài thao lượt quân sự của mình, quyết định chia quân thành hai nhóm. Ông đích thân chỉ huy nhóm chủ lực đi đường bô, nhóm còn lại đi đường biển, từ bờ biển Bắc Ai Cập đi bộ, hai nhánh sẽ gặp nhau tại Kassas thuốc miền nam Hertidi để cùng tấn công vào thành. Lực lượng do Rameses chỉ huy ngày đêm hành quân thần tốc nên nhanh chóng đến được Kassas. Tin tình báo cho biết đaị quân Hertidi vừa đến Apyro, còn cách nơi này hai ngày đường. Rameses vui mừng, ra lệnh cho quân mình cắm trại, đợi ba quân đoàn phí sau đến. Lúc này, quân đi tuần bắt được hai lính trinh sát của Hertidi. Qua thẩm tra, Ai Cập biết được quân Hertidi đang mai phục gần đó, chuẩn bị tấn công bao vây quân Rameses. Rameses nghe xong vô cùng tức giận, liền tập hợp quân để bàn kế sách cũng như cử người đôn đốc quân phía sau tiếp tục hành quân. Cũng chính lúc đó, quân Hertidi trên các chiến xa bất ngờ xông thẳng vào đại doanh của Ai Cập, quân Ai Cập thiếu phòng bị nên trở tay không kịp. Trong tiếng gào thét lẫn tiếng kêu la giết chóc, quân Ai Cập đã anh dũng chiến đấu, dù cho số binh sĩ tử trận ngày càng tăng lên.

Người Hertidi vốn từ lâu nghe đồn Ai Cập vốn là một quốc gia giàu có, nên khi tiến vào doanh trại Ai Cập nhiều binh sĩ Hertidi đã nhào xuống xe tranh giành chiến lợi phẩm. Trong chốc lát đội hình hỗn lạn, bất chợt Rameses xé toạc lều, giơ cao thanh kiếm sắc xông vào quân Hertidi. Sự dũng mãnh của Rameses như kích lệ tinh thần tướng sĩ Ai Cập, quân Ai Cập xông vào tấn công quân Hertidi như vũ bão. Trong thời đểm quan trọng nhất, quân chi viện Ai Cập đến kịp thời, hai bên hợp lực chiến đấu, giáng một đòn mạnh mẽ vào quân Hertidi khiến quân Hertidi phải hốt hoảng rút lui.

Ngày hôm sau, hai bên chính thức dàn trận trên bình nguyên bên ngoài thành Kassas. Qua vài ngày giao chiến, thương vong hai bên nhiều vô kể. Vua Hertidi cử sứ giả đến bàn đình chiến với Rameses. Rameses cũng đang mệt mỏi rã rời, nghe thế lập tức đồng ý. Rameses rút quân về nước, cuộc viễn chinh không thành công trọn vẹn. Người Hertidi đã khiến cho người Ai Cập rút lui, bảo vệ được Kassas, cho rằng mình là người chiến thắng. Rameses rút về Ai Cập, ca ngơi quân Ai Cập đã anh dũng thiện chiến, buộc vua Hertidi phải cầu hòa trước, giành được thắng lợi cuối cùng.

Năm 1260 TCN

CUỘC CHIẾN THÀNH TROY

Quang cảnh thành Troy, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay

Cuộc chiến thành Troy là cuộc chiến sớm nhất được ghi chép trên sách vở văn học phương Tây. "Sử thi Homer" đã ghi chép cuộc chiến này kéo dài 10 năm, cuối cùng đã dành thắng lợi bằng "kế ngựa gỗ"

Theo sử thi Homer, vào khoảng năm 1260 TCN, hoàng tử thứ hai của thành Troy là Paris khi đến thăm Sparta Hy Lạp đã trúng tiếng sét ái tình với hoàng hậu Helen ngay từ lần gặp đầu tiên. Dù cha của Paris là vị vua đáng kính Priam đã phải nỗ lực suốt đời để gìn giữ nền hòa bình mong manh với đế chế Hy Lạp hùng mạnh nhưng hoàng tử Paris đã bỏ ngoài tai tất cả và mang Helen đi. Tình yêu vụng trộm giữa hai người đã châm ngòi cho một cuộc chiến tàn phá cả cuộc sống bình yên của dân tộc. Vua Menelaus của Sparta vô cùng nổi giận, ông cho rằng việc hai người lén lút trốn về Troy là một điều sỉ nhục không thể chấp nhận được. Vì danh dự chung của hoàng tộc, xúc phạm Menelaus đồng nghĩa với việc khiêu khích anh trai của ông Agamennon, vị vua quyền năng xứ Mycenaeans, người đã quy tụ tất cả các bộ tộc Hy Lạp để giành lại hoàng hậu Helen từ tay kẻ thù, nhằm bảo vệ danh dự cho em trai mình.

Thực ra, đó chỉ là cái cớ để Agamennon thỏa mãn lòng tham của mình, mục đích cuối cùng của ông là chiếm lấy thành Troy để nắm quyền kiểm soát Aegean, đảm bảo quyền lực tối cao của đế chế hùng mạnh. Agamennon đã kêu gọi những vị tướng lừng danh lúc đó là Odysseus và Achilles cùng tham gia cuộc chinh phạt thành Troy. Cuộc chinh phạt kéo dài 10 năm. Trong 10 năm đó, hai bên nhiều lần giao chiến, binh sĩ tử thương vô số. Con trai lớn của vua Priam là hoàng tử Hector cũng bị trúng tên chết, xác bị kéo lê vòng quanh bức tường bao bọc thành Troy. Quá thương con, vị vua già tội nghiệp Priam lén đột nhập vào trại lính Hy Lạp cầu xin Achilles trả lại thi hài con trai để tiến hành thủ tục hậu sự. Tôn trọng lời khẩn cầu của vị vua già, Achilles để ông đưa Hector về với Troy. Trong suốt 10 năm, liên quân Hy Lạp vẫn không thể phá được cửa thành kiên cố của Troy, người Troy cũng không thể đẩy lui quân Hy Lạp. Chính trong năm thứ 10 của cuộc chiến, Odysseus đã nghĩ ra một diệu kế.

Vua Priam cầu xin Achilles trả xác Hector

Một buổi sáng sớm nọ, người thành Troy bất chợt phát hiện quân Hy Lạp đã rút hết. Họ đi ra khỏi thành, vui mừng hét lên : "Người Hy Lạp đã đi rồi ! Chiến tranh đã kết thúc !". Lúc này, mọi người phát hiện trên bãi biển có một con ngựa gỗ khổng lồ, trên đế ngựa còn bố trí bánh xe đểy. Người dân và cả nhà vua đến xem, không ai đoán được con ngựa dùng để làm gì. Sau đó, họ đẩy con ngựa vào thành.

Ngựa gỗ thành Troy được phục dựng lại

Thành Troy vừa thoát khỏi chiến tranh nên mở tiệc suốt cả ngày, các tướng sĩ cùng nhân dân trong thành ăn uống no say. Khi màn đêm buông xuống, trên biển bên ngoài thành Troy dày kín sương mù. Hạm đội Agamennon của Hy Lạp nhẹ nhàng tiếp cận thành Troy. Trong thành, một quân nhân Hy Lạp giả dạng giống ăn mày lén lút đến phía dưới ngựa gỗ, gõ nhẹ ba tiếng, Từ dưới bụng ngựa gỗ, Odysseus cùng 100 binh sĩ Hy Lạp nhanh chóng xông ra. Họ đốt lửa trong thành, phát tín hiệu, tiếp đó mở toan cổng thành vốn rất kiên cố không thể phá được. Quân Agamennon tấn công vào thành Troy mà không gặp bất kỳ sự kháng cự nào. Bất chợt vang lên lên tiếng hô hào giết chóc từ bốn hướng, binh sĩ thành Troy đang say giấc vội vàng tỉnh dây ứng chiến. Người Hy Lạp triển khai một trận giết chóc ác liệt, vua cùng tất cả thành viên trong hoàng thất đều bị giết. Thành Troy từng cố thủ kiên cố trong 10 năm đã bị đánh bại bới trí tuệ của Odysseus, xác binh sĩ chất đầy thành, nhân dân trong thành đều bị bắt làm nô lệ. Thật kỳ lạ là thời xưa, sự hy sinh trong chiến tranh dường như là cách duy nhất để lưu danh trong lịch sử như một người anh hùng gan dạ, đáng kính và danh giá (trường hợp của Achilles). Một cái giá quá đắt cho tất cả những người lính cũng như những vị tướng tài ba thời chiến.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Giêng, 2012, 12:28:15 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #7 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2012, 01:46:52 am »

HƯNG VÀ SUY CỦA ĐẾ CHẾ ASSYRIA

Trên tử sàng của mình, Shalmaneser đệ tam xứ Assyrria (859 - 824 trước Công Nguyên) đã để lại sau lưng một vương quốc hoang tàn đang trên đà suy thoái. Bất chấp lòng can đảm của binh lính, những người Assyria vẫn không thể xây dựng một đế chế hùng mạnh sau những cuộc chinh phạt của mình. Chỉ một phạm vi nhỏ là nằm trong quyền kiểm soát tuyệt đối của họ, và những nghĩa vụ ở vùng đất xa xôi đã bắt đầu làm nổi bật những hạn chế cố hữu của đế chế này. Trong 35 năm cầm quyền, Shalmaneser phải tuyển quân cho quân đội ông ít nhất 31 lần. Nội chiến và những cuốc nổi loạn đã tăng lên theo mức độ yếu kém của những vị vua kế vị bất tài. Tất cả những lý do này khiến cho sự ổn định và quyền thống trị của người Assyria đối với vùng Fertile Crescent trở nên ngày một mong manh.

Bản đồ đế chế Assyria và sự bành trướng của nó

Trong bối cảnh hỗn loạn đó thì điều kỳ diệu đã xảy ra, và vận may của quân Assyria đã xuất hiện hết sức ngẫu nhiên. Vào năm 745 trước Công Nguyên, một cuộc nổi loạn ở Nỉmud đã đưa tướng Pulu lên ngai vàn. Pulu, với danh hiệu là Tiglath - Pileser đệ tam (745 - 727 trước Công Nguyên), đã tiếp tục tái cấu trúc bộ máy nhà nước của Assyria để củng cố thêm quyền lực trung tâm và thống nhất những vùng đất đã chinh phục thành một đế chế duy nhất. Bản thân Assyria cũng được tái tổ chức thành những thành bang hơn, trong khi những nước chư hầu lại được sát nhập và chuyển đổi thành những tỉnh ở xa.  Mỗi tỉnh thành như vậy được kiểm soát bởi một quan chức do nhà nước chỉ định. Ngoài ra, hệ thống liên lạc thư tín hiệu quả đã được lập nên, cho phép nhà vua duy trì quyền kiểm soát của mình trên toàn cõi.

Một đội quân luôn sẵn sàng cũng đã được thành lập. Lực lượng này sẽ được củng cố thêm trong thời chiến thông qua các đợt nghĩa vụ quân sự bắt buộc để kêu gọi nhân dân phục vụ quân đội. Cỗ máy chiến tranh của đế chế này được cấu thành từ 4 lực lượng : " Ngự lâm quân", những lính cận vệ bảo vệ hoàng gia - họ có thể là những lính đánh thuê; "Quân thường trực", một lực lượng đông đảo của những quân nhân chuyên nghiệp thuộc các binh chủng xe ngựa, kỵ binh, lính dùng giáo, lính cầm khiên, lính bắn cung và lính ném đá - được duy trì bởi nhà nước, bao gồm cả những đạo quân khác tốt hơn từ những quốc gia đã bị chinh phục (một số thành phần của lực lượng bảo vệ vương quốc); "Lính của vua", những người giữ vùng đất xa của vua và do đó buộc lòng phải phục vụ chiến tranh trong những thời điểm cần kíp; và cuối cùng là "Tuyển quân tổng quát", một đợt tuyển quân ồ ạt từ mọi tầng lớp xã hội trong những thời điểm khủng hoảng quốc gia.

Nhánh quan trọng nhất trong lực lượng quân đội Assyria là những cỗ xe ngựa. Những cỗ xe 4 ngựa kéo được xem là "đòn công kích" đầu tiên để phá vỡ phòng tuyến của kẻ thù, khiến họ hoảng sợ hoặc sụp đổ hệ thống phòng ngự. Ban đầu, mỗi toán như vậy chỉ gồm 3 người, nhưng vào thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, tiêu chuẩn mới đặt ra đã là 4 người được trang bị vũ khí tận răng - một người lái xe ngựa, một lính bắn cung và hai lính dùng giáo kiêm cầm khiên chắn. Cỗ xe ngựa được hỗ trợ sát sao bởi đội kỹ binh, vốn được quân Assyria dùng trong công tác thăm dò và làm sứ giả. Bna đầu, đội kỵ binh hoạt động theo từ nhóm hai người, bao gồm một lính bắn cung và một lính cầm khiên. Lính cầm khiên sẽ nắm dây cương ngựa của lính bắn cung và cho lính bắn cung bằng khiên của mình khi lính bắn cung tác chiến. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên, kỵ binh mới được trang bị với giao và cung, được mặc giáp và cưỡi ngựa có bọc giáp (ngựa được mặc giáp bằng vải mềm), nhờ đó cho phép họ xông thẳng vào trận tuyến của quân thù. Cuộc cách mạng hiệu quả của lính kỵ binh đã làm tăng nhanh tình trạng dư thừa những cỗ chiến xa, mang lại tính hiệu quả kinh tế và linh hoạt về mặt chiến thuật.

Các chiến dịch của quân Assyria diễn ra rất nhanh chóng và tàn nhẫn. Tiglath - Pileser đã chinh phục một cách có hệ thống vương quốc Uartian, Babylonia và vùng Aramaean, cũng như Israel. Những người dân có liên quan bị trục xuất hàng loạt và tái định cư ở những vùng khác của vương quốc. Sự mở rộng đế chế đạt đến cực đỉnh vào nửa đầu thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên. Vào năm 671 trước Công Nguyên, Esarhaddon (681 - 668 trước Công Nguyên) đã dẫn quân tiến vào vùng Hạ Lưu Ai Cập, lật đổ Pharaoh Taharqa và thiết lập đế chế mới của mình tại đây. Tuy nhiên, hai năm sua đó, Taharqa phát động một cuộc chinh phạt Ai Cập, lật đổ thành công đế chế của quân Assyria. Thế nhưng, trên đường đi ông đã qua đời vì bạo bệnh. Con trai ông, Ashurbanipal (668 - 627 trước Công Nguyên) đã giải quyết các vấn đề còn tồn đọng. Với lực lượng hỗ trợ của 22 vị vua các nước chư hầu dọc theo bờ biển vùng Cận Đông, ông đã đánh bại Ai Cập. Đế chế hiện tại mở rộng đến tận vùng Fertile Crescent.

Sự suy yếu của dế chế Assyria đã xuất hiện với một tốc độ nhanh đến bất ngờ. Dưới sự chỉ huy của Ashurbanipal, Ai Cập đã thoát khỏi ách đô hộ của Assyria. Những nười kế vị ông phải đối đầu cùng lúc hai thế lực thù địch mới nổi, quân Babylonia và quân Medes, những kẻ đã tiếp tay cho quá trình suy vong của Assyria. Vào năm 612 trước Công Nguyên, Nineveth đã rơi vào tay của liên minh Babylonia - Medes.

Năm 701 TCN

CHIẾN DỊCH CỦA SENNACHERID Ở PALESTINE

Thời gian : Năm 701 trước Công Nguyên.

Mục tiêu : Vua Assyria, Sennacherib đã kéo quân từ phía tây để dẹp yên quân phiến loạn của các nước chư hầu người Assyria ở Palestine, được chỉ huy bởi vua xứ Judah, Hezekiah.

Mô tả : Dọc theo vùng bờ biển Cận Đông, Sennacherib đã hạ bệ vua của Tyre và nhận các toán quân đầu hàng của những nước nhược tiểu của Ashkelon và Ekron. Với vùng Philistia được bảo đảm, vua Assyria đã hướng đến Judah. Hezekiahđã có sự chuẩn bị từ trước : ông gia cố lực lượng phòng thủ ở Jerusalem. quyết liệt chống trả những thế lực vây hãm nào muốn tiếp cận nguồn nước, va 2cu3ng cố lực lượng lẫn tiếp tế lương thực cho những thành phố trung tâm của Judah; ông còn tìm kiếm sự cứu viện từ nhà cầm quyền Kushite của Ai Cập, Tahraqa. Tuy nhiên, Sennacherib vẫn chiếm được 46 thành trì của Judah và vô số những ngôi làng khác. Quân của ông còn bao vây Lachish và Jerusalem. Judah đã bị thất bại, mặc dù Jerusalem vẫn không bị chiếm giữ. Sennacherib kế đó đã buộc phải chống lại quân Ai Cập đang muốn ngăn cản đường rút lui của ông về phương bắc. Các toán quân đã đụng độ nhau ở vùng đồng bằng của Eltekeh.

Kết quả : Mặc dù Sennacherib đã giành được chiến thắng nhưng quân đội của ông vẫn rút lui một cách khó hiểu.

Lính ném đá Assyria trong cuộc vây hãm Lachish, một phần trong chiến dịch của Sennacherib ở Palestine. Lachish đã thất bại trước quân Assyria vào năm 701 trước Công Nguyên, hình mô tả này được lấy từ cung điện của Sennacherib ở Ninevah
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Giêng, 2012, 03:56:33 pm gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #8 vào lúc: 26 Tháng Giêng, 2012, 08:25:23 pm »

KỲ CÔNG CỦA QUÂN BABYLONIA

Dưới thời Nebuchadnezzar đệ nhị (604 - 562 trước Công Nguyên), người Babylonia đã tạo ra một đế chế hùng mạnh, kiểm soát tất cả những khu vực trước đây vốn thuộc Assyria. Ai Cập vừa mới hồi sinh dưới sự trị vì của các pharaoh Saite đã rất nổ lực để ngăn chặn điều này. Tuy nhiên sau khi thành công trong việc chinh phục Harran và Carchemish, quân Babylonia đã bị đẩy lùi từ Euphrates cho đến tận vùng biên giới. Những nổ lực của quân Babylonia để chinh phục Ai Cập đã không thành công, cả hai bên, theo Biên niên sử Babylonia : "...đã tấn công nhau một cách quyết liệt và để lại những hậu quả tàn phá nặng nề cho cả hai...", trong một trận đánh đẫm máu diễn ra gần pháo đài Migdol ở biên giới Ai Cập. Tuy nhiên, họ đã thành công trong trận Judah vào năm 598, khi Nebuchadnezzar dẫn quân đánh vào Jerusalem sau khi quân Judah tăng cường trang bị vũ khí. Đất nước bị chiếm giữ và vua ở đó, Joholachim, bị đày ải cùng một nhóm nhân sĩ người Judah. Một vị vua bù nhìn được lập ra. Mười năm sau, người Judah lại nổi dậy. Lần này, quân Babylonia đã tàn phá các pháo đài của Judah, còn Jerusalem thì bị san thành bình địa.

Nebuchadnezzar được kế tục bởi ba vị vua khác, những người đã phải cai trị đất nước trong bối cảnh những cuộc nổi dậy nổ ra khắp nơi, cho đến khi Nabonidus tiến hành chính biến và lên ngôi hoàng đế. Vào năm 550 trước Công Nguyên, hoàng tử Ba Tư, Cyrus, đã chinh phục Achmetha (Ecbatana) và kế thừa một vương quốc rộng lớn của quân Medes, kẻ thù của quân Babylonia. Bốn năm sau, ông đánh bại Croesus, vua của Lydia. Vào năm 539 trước Công Nguyên, theo Biên niên sử Babylonia : "...quân của Cyrus tiến vào Babylonia mà không cần phải chiến đấu...". Từ đó đế chế Ba Tư hùng mạnh đã ra đời, một đế chế vĩ đại nhất mà lịch sử vùng Cận Đông đã chứng kiến. Dưới thời Cambyses (530 - 522 trước Công Nguyên) và Darius (522 - 486 trước Công Nguyên), đế chế Ba Tư đã trải dài từ Indus đến Macedonia và từ Caucasus cho đến Ai Cập. Tuy nhiên, thất bại trong nỗ lực chinh phục Hy Lạp của Xerxes đã làm đình trệ quá trình mở mang bờ cõi. Cuối cùng, đế chế này bị lật đổ hoàn toàn bởi Alexander Đại Đế.

CYRUS ĐẠI ĐẾ (khoảng 590 - 529 trước Công Nguyên)


Cyrus Đại Đế là một chiến binh tài ba và dũng cảm, là nhà chỉ huy quân sự có ảnh hưởng nhất trong lịch sử cổ đại. Thế kỷ 6 trước Công Nguyên, từ thủ lĩnh một bộ lạc nhỏ bé, ông đã đánh bại người Medes, Lydia và Babylonia, thống nhất những vùng đất này lập nên một vương quốc lớn nhất trong lịch sử cổ đại - vương quốc Ba Tư, đưa lãnh thổ Ba Tư kéo dài đến tận Địa Trung Hải. Năng lực quản lý đất nước của Cyrus cũng nổi tiếng như tài chinh phục của ông. Chính những bản chất tốt đẹp, sự lương thiện cũng như biết trân trọng giá trị con người đã tạo nên những khác biệt trong con người Cyrus Đại Đế. Đế quốc quân sự hùng mạnh do ông thành lập đã tồn tại phồn vinh suốt hai thế kỷ

Cyrus (tiếng Ba Tư là Kurush) sinh khoảng thời gian 600 - 585 trước Công Nguyên tại tỉnh Persis nay là Fars thuộc miền Tây Nam Iran. Ông xuất thân từ dòng dõi thủ lĩnh địa phương - chư hầu của vua Medes, cha ông là thành viên vương thất Achaemenid Conbisis đệ nhị. Theo ghi chép thần thoại, đặc biệt là trong tác phẩm Hẻodotus, thì thưở nhỏ Cyrus đã bị lạc trong núi sâu, sống nhờ vào sữa của một con sói mẹ, sau này được người chăn cừu nuôi dưỡng. Điều này ít nhiều đã giải thích nguyên nhân ông được đặt tên Cyrus, theo tiếng Ba Tư có nghĩa là "chó con".

Những tài liệu ghi chép chính xác sớm nhất về Cyrus có lẽ bắt đầu từ năm 558 trước Công Nguyên. Vào khoảng năm 558 trước Công Nguyên, Cyrus nối nghiệp cha, trở thành Cambyses đệ nhất, nhà thống trị vương quốc Anshan, một vùng đất chư hầu của vua Medes. Ngay sau khi lên nắm quyền, Cyrus đã phát động cuộc chiến kéo dài ba năm chống lại vua Medes; đến khoảng năm 550 trước Công Nguyên, ông đã đánh bại vua Medes và chiếm được thủ đô.

Trong nhiều lĩnh vực, người dân Medes và Ba Tư vốn có quan hệ mật thiết với nhau, cả hai có cùng nguồn gốc và tiếng nói. Chính vì vậy, Cyrus giữ lại hầu hết các luật lệ cũng như những thủ tục hành chính của người Medes, khiến cho chiến thắng của ông ở Medes mang nhiều ý nghĩa của sự thay đổi triều đại hơn là sự xâm lược của thế lực bên ngoài.

Quan Tổng đốc xứ Judah Zerubbabel đệ trình kế hoạch Jerusalem lên Cyrus Đại Đế.

Ngay sau chiến thắng Medes, Cyrus sớm bộc lộ ham muốn xâm lược và mở rộng lãnh thổ của mình. Năm 546 trước Công Nguyên vương quốc Lydia thuộc vùng Tiểu Á xâm lược Ba Tư. Chính được xâm lược của người Lydia càng củng cố thêm tham vọng chinh phục những vùng đất mới của ông. Và vương quốc Lydia do vua Croesus - một lãnh chúa đấy quyền lực và giàu có thống trị - đã trở thành mục tiêu đầu tiên của ông. Và cuộc chinh phạt của ông đã bắt đầu. Ông dẫn quân đẩy lui quân địch trở về Lydia, hai bên nổ ra cuộc quyết chiến trên bình nguyên Thymbra. Cyrus chỉ huy quân quân đội mình, đang chiếm ưu thế về số lượng, dàn hình phương trận (hình vuông), ở giữa bố trí lính băn cung, để tấn công vào kẻ địch. Lydia cho tản quân, bao vây quân Cyrus, Cyrus cho xuất kỵ binh đồng thời tiêu diệt những đội quân độc lập thiếu chi viện của địch. Vua Lydia buộc phải chấm dứt hành động chống trả, khi rút quân về đến Sardis (gần Izmil của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) đã bị quân Cyrus đuổi kịp, cuộc chinh phạt kế thúc. Cyrus phân phát toàn bộ tài sản của Croesus, đối xử tử tế với các tù binh, xóa bỏ ý định chinh phục của người Lydia, cuối cùng để họ gia nhập vào quân đội của ông.

Mặc dù lãnh thổ của Cyrus rất rộng lớn, cuộc sống giàu có, nhân dân hòa bình và cũng không có bất cứ sự uy hiếp nào về quân sự từ bên ngoài, nhưng Cyrus vẫn khao khát chinh phục được những vùng đất khác. Để thực hiện tham vọng của mình, Cyrus tiếp tục chuyển hướng tấn công sang phía Đông, và trong một loạt những chiến dịch tiếp theo, ông chinh phạt khắp vùng Đông Iran và hợp nhất chúng lại trong vương quốc của mình.

Năm 540 trước Công Nguyên, vương quốc Ba Tư được mở rộng ra từ phía Đông tới sông Ấn của Ấn Độ và Jaxartes (ngày nay là Syrdarya) ở vùng Trung Á. Một trong những mục tiêu lớn nhất của Cyrus trong quá trình bành trướng lãnh thổ là Babylonia - một vương quốc giàu có và nổi tiếng thế giới bởi nó sở hữu những khu vườn treo, một trong những kì quan của thế giới cổ đại. Năm 539 trước Công Nguyên, khi quân đội của Cyrus tiến vào, người Babylonia đã đầu hàng không điều kiện. Khi ấy vương quốc Babylonia gồm cả Syria, Babylone và Palestine, Cyrus đã sáp nhập toàn bộ vùng này vào vương quốc của ông và trở thành chủ nhân của toàn bộ vùng Trung Á, từ khu vực Địa Trung Hải đến Ấn Độ.

Sau khi chiếm được Babylonia, Cyrus đã dành nhiều năm để củng cố địa vị thống trị và tổ chức lại vương quốc khổng lồ của mình, thành quả của các cuộc viễn chinh. Không lâu sau, ông mở rộng sự thống trị từ sa mạc Ai Cập tới biển Đen, miền Đông vương quốc Ba Tư lúc này lấy sông Ấn làm biên giới, tiếp giáp với Ấn Độ; miền Bắc bao gồm biển Aral (hồ nước mặn), biển Caspi và biển Đen; miền Tây kéo dài đến tận Địa Trung Hải, hình thành ở đây một trung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị. Cyrus - người được tôn xưng là "Đại Đế", thích người khác gọi mình là vua nước "Babel", "Sumer" và "Accad" hơn. Sau đó, Cyrus đã dẫn quân đội tới vùng Đông Bắc để chinh phục Massagetae (một bộ tộc du mục sống ở vùng Trung Á, phía Đông biển Caspia). Ba Tư đã giành thắng lợi trong trận chiến này. Nhưng chỉ trong vòng chưa đầy một năm sau, ở trận đánh thứ hai, năm 529 trước Công Nguyên, người Ba Tư đã thua và Cyrus Đại đế khi đó chưa đến 39 tuổi đã tử trận nơi sa trường. Các binh sĩ đã chiến đấu anh dũng để có thể đưa thi hài ông nguyên vẹn trở về Ba Tư nhưng không thành. Theo nhiều tài liệu, chính nữ hoàng Tomyris, thủ lĩnh của người Massagetae, đã ra lệnh chặt đầu Cyrus, sau đó gói vào một tấm da lừa đầy máu.

Họa phẩm của danh họa Peter Paul Rubens - "Nữ vương Tomyris trước cái đầu của vua Cyrus", cho thấy một người lính đến yết kiến Nữ hoàng Tomyris của người Massagetae, dâng cho bà ta cái đầu của Hoàng đế Cyrus Đại Đế, và bỏ nó vào vũng máu. Trong khi Nữ vương Tomyris nhìn chăm chú vào cái đầu của kẻ đã giết chết con trai của bà ta, toàn quân Massagetae vui mừng với chiến thắng. Bên cạnh vị Nữ hoàng có một đám nữ tỳ đứng hầu

Cái chết của Cyrus và cuộc chiến tranh này hoàn toàn không làm nhân dân đế quốc Ba Tư khiếp sợ. Cyrus đã để lại cho người kế vị của mình một đội quân hùng mạnh được huấn luyện bài bản và hệ thống chỉ huy quân sự tuyết vời. Cambyses đệ nhị đã chỉ huy quân Ba Tư đánh bại Massagetae, hàn gắn lại nguyên vẹn thi thể của Cyrus, đưa xác ông về an táng tại Pasargadae, thủ đô của đế quốc Ba Tư. Sau đó, Cambyses đệ nhị xâm lược Ai Cập, liên kết toàn bộ vùng Trung Đông thành một vương quốc duy nhất, tiếp tục duy trì lòng tôn kính của các nước láng giềng đối với đế quốc Ba Tư như thời vua cha.

Có thể nói, Cyrus là người lãnh đạo quân đội đầy tài năng nhưng cũng là một chiến binh đặc biệt. Cyrus đã dựa vào sức mạnh quân sự của mình, liên hợp những lực lượng quân địch chiến bại, thành lập nên đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Theo nhiều tài liệu, Cyrus là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, biết khơi dây lòng nhiệt tình chiến đấu của binh sĩ, sử dụng tài tình chiến thuật lấy ít thắng nhiều. Ông còn thể hiện tài năng tuyệt vời của mình trong việc quản lý lãnh thổ và nhân dân những vùng đất bị ông chinh phục. Ông không thích sự độc ác và tàn nhẫn, những tính cách tạo nên đặc điểm của nhiều nhà xâm lược khác. Ông không bao giờ tử hình hay bắt những tù binh của mình làm nô lệ, thay vào đó ông tôn trọng tín ngưỡng và phong tục của họ. Chẳng hạn khi những người Babylonia xâm lược Judah năm 586 trước Công Nguyên, họ đã lưu đày rất nhiều người dân tới Babylonia. Nhưng 50 năm sau, khi mà Cyrus xâm lược Babylonia, ông đã cho phép những người Do Thái bị bắt ở Babylonia được trở về quê hương Jerusalem của họ. Quyết định của Cyrus về vấn đề này có thể do những động cơ chính trị thúc đẩy, tuy nhiên thật khó có thể  nghi ngờ rằng ông là người thống trị nhân đạo nổi bật nhất trong thời đại của mình. Chính vì vậy những người Hi Lạp luôn coi Cyrus là một người thống trị đáng được ngưỡng mộ dù trong thời gian dài họ coi Ba Tư là đế chế đứng đầu trong việc đe doạ nền độc lập của họ. Cyrus đã hoàn thành nhiệm vụ của ông, thậm chí sau khi ông chết, vương quốc Ba Tư vẫn còn tiếp tục được mở rộng, phồn thịnh và phát triển yên ổn. Trên thực tế, nó được duy trì khoảng hai trăm năm, cho đến khi bị các thế lực quân sự bên ngoài như Alexander Đại đế phân chia đế quốc mới chấm dứt. Mặc dù vây, lãnh thổ rộng lớn của còn sót lại của vương triều Cyrus vẫn tồn tại dưới sự không chế của Ba Tư trong 12 thế kỷ.

Sự nghiệp của Cyrus Đại đế thể hiện một trong những bước ngoặt lớn của lịch sử thế giới. Cyrus Đại Đế được đề cao không chỉ bởi ông chinh phạt nhiều nơi, chiến thắng nhiều trận, đã xâm chiếm nhiều lãnh thổ, mà quan trọng hơn, đế  chế ông lập nên đã làm thay đổi cấu trúc chính trị của thế giới cổ đại. Nền văn minh đầu tiên đã nảy nở ở Sumeria - thuộc Mesopotamia (Lưỡng Hà), vào khoảng năm 3000 trước Công Nguyên. Qua 25 thế kỷ, người Sumeria và rất nhiều người Semetic, những người kế tục họ đã ở tại trung tâm của nền văn minh. Trong thời  gian đó, Mesopotamia đã trở thành một vùng đất giàu có nhất và có những tiến bộ văn hoá nhất trên thế giới (trừ Hi Lạp cũng đạt được trình độ như thê). Nhưng sau chiến thắng của Cyrus, Mesopotamia và Ai Cập không còn là trung tâm của thế giới văn minh, chính trị hay văn hoá nữa.

Đế chế Ba Tư không có ảnh hưởng lớn với lịch sử như La Mã hay Trung Quốc (những đế chế tồn tại lâu đời), nhưng ảnh hưởng của Cyrus đối với lịch sử thế giới lại vô cùng lớn lao. Người ta luôn nghĩ ông đã làm một việc mà nếu ông không làm thì điều đó sẽ không bao giờ xảy ra trong lịch sử. Vào năm 620 trước Công Nguyên (một phần ba thế kỷ trước khi Cyrus được sinh ra), không ai nghĩ rằng trong vòng một thế kỷ tới, thế giới cổ đại sẽ nằm dưới sự thống trị của một bộ tộc không tiếng tăm đến từ phía Tây Nam Iran. Sự lớn mạnh của đế chế Ba Tư không được xem là một trong những sự kiện lịch sử - điều mà tất yếu sẽ xảy ra không sớm thì muộn do những yếu tố kinh tế xã hội và sự vận động của lịch sử đã tiềm tàng từ trước - bởi chính Cyrus là một trong những người hiếm hoi đã tạo nên sự thay đổi tiến trình lịch sử.

Lăng mộ của Cyrus Đại Đế ở Pasargadae.


« Sửa lần cuối: 28 Tháng Giêng, 2012, 02:07:07 am gửi bởi BOM BI » Logged

BOM BI
Thành viên
*
Bài viết: 134


Aya Kito (1962 - 1988)


« Trả lời #9 vào lúc: 30 Tháng Giêng, 2012, 02:53:52 pm »

HOPLITE (BỘ BINH THIẾT GIÁP)

Ban đầu, mọi người có thể ngạc nhiên khi những cuộc chiến tranh ở Hy Lạp được viết lại trong lịch sử lại cho thấy một điều rất đặc biệt. Chúng không chỉ bị áp đảo bởi sự xuất hiện của những đội bộ binh thiết giáp, hay còn gọi là "hoplite", mà điều đó còn được tiếp diễn trong ba thế kỷ sau (650 - 350 trước Công Nguyên). Hy Lạp là một đất nước có nhiều núi, trong khi theo nhận xét của một vị tướng Ba tư, các đội quân hoplite cần một vùng đất bằng phẳng để triển khia đội hình hiệu quả. Ngoài ra, việc phải thường xuyên duy trì đội hình khiến cho một đội quân hoplite trở nên cồng kềnh và thiếu linh hoạt. Hơn nữa, do ácc đội quân hoplite phải biết sử dụng các loại vũ khí một cách điêu luyện nên phần đông dân chúng ở bất kỳ quốc gia nào cũng nhất thiết phải bị loại trừ.

TẠI SAO LẠI LÀ HOPLITE ?

Tuy vậy, tình huống này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân có liên quan đến chính trị - xã hội, địa lý và quân sự. Thứ nhất, một số khu vực đất đai tương đối nhỏ là yếu tố rất quan trọng đối với sự tồn tại của bất kỳ quốc gia àno, bởi lẽ đây là nguồn cung cấp lương thực chính. Dù sớm hay muộn thì một đội quân xâm lược cũng buộc lòng phải đối đầu với các toán hoplite chuyên phòng thủ. Thứ hai, ở rất nhiều quốc gia, quyền hạn trọn vẹn của công dân chỉ được thừa nhận đối với những ai có thể giành chỗ đứng trong hàng ngũ hoplite.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Giêng, 2012, 07:41:51 pm gửi bởi BOM BI » Logged

Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM