Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 04:53:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206327 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #60 vào lúc: 03 Tháng Bảy, 2012, 10:01:43 am »

(tiếp)

Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu

Trong giai đoạn từ 1977 đến 1982 các thủy thủ đoàn đã thực hiện 24 chiến dịch đi biển độc lập (thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu).

Các tàu ngầm của sư đoàn tàu ngầm số 10 thực hiện phục vụ chiến đấu ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, các biển Bering, Okhot, Philippine, Chukotka, Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).

Trong quá trình thi hành các chiến dịch phục vụ chiến đấu đã đặt ra các nhiệm vụ tìm kiếm và theo dõi các SSBN, bảo vệ từ xa các RPKSN (tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo), tìm kiếm và theo dõi các nhóm tàu sân bay xung kích, các biên đội tàu chiến và các tàu mặt nước đi lẻ của kẻ thù tiềm năng.


К-325 đề án 670. đảo Dakhlak, 23 tháng 2 năm 1985. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Khi thực hiện các chiến dịch phục vụ chiến đấu tại Ấn Độ Dương, việc đi biển của tàu ngầm diễn ra trong các điều kiện khí hậu có nhiệt độ nước biển cao, độ ẩm không khí cao, tách biệt với gia đình và xa cách với các niềm vui cơ bản của cuộc sống gia đình, trong sự căng thẳng lâu dài về tâm lý và thể chất.

Trong giai đoạn giữa các kỳ hành quân đi biển, chúng tôi tiến hành sửa chữa các phương tiện vật chất bằng sức của chính mình tại các điểm căn cứ cơ động. Các điểm như vậy có ở Aden, tại đó tàu ngầm được đưa lên các trụ đỡ; tại đảo Dahlak, nơi các thuyền viên sống trong tòa nhà vốn là nhà tù trước đây của Ý, tại vịnh Cam Ranh, nơi người ta có thể sửa chữa được một số việc. Sau những chuyến hành quân này, mọi người đều sút cân, và tất nhiên, suy giảm sức khỏe. Phần vật chất của tàu ngầm trong các điều kiện tương tự như thế bị giảm tuổi thọ rất mạnh, và thậm chí cả khi chỉ neo đậu thì tài nguyên động cơ cũng bị tiêu tốn, bởi lẽ vị trí đóng quân rất nghèo nàn về phương diện đảm bảo kỹ thuật. Dù ở trong những điều kiện như trên, tất cả các tàu ngầm đều hoàn thành nhiệm vụ đặt ra cho chúng trong thời hạn đã định.

Bằng việc mô tả hai chiến dịch phục vụ chiến đấu như thế dưới đây, một thực hiện ở biển Philippine, một thực hiện ở khu vực các biển Chukotka và biển Bering, tôi muốn các bạn hãy để tâm theo dõi.

Chiến dịch phục vụ chiến đấu của К-108

Ngày 21 tháng 1 năm 1977. Tàu ngầm К-108 đã sẵn sàng ra khơi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Đến tiễn con tàu, sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm số 10 chuẩn đô đốc А.N.Lutsky và chủ nhiệm chính trị trung tá hải quân V.М.Pogrebenykh đã phát biểu trước thủy thủ đoàn và trao nhiệm vụ cho họ. Sau đó một chút tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 phó đô đốc B.I.Gromov và thành viên HĐQS – chủ nhiệm chính trị I.A.Katchenkov đã đến. Phó đô đốc B.I.Gromov hỏi tôi về sức khỏe và tinh thần thủy thủ đoàn, sau đó ông chỉ dẫn về các biện pháp an toàn và về việc kiểm tra xác định vị trí của tàu ngầm, ông nói đùa: "Để  xem ở đó cậu có đâm đầu mắc kẹt vào một cái đảo hay rặng san hô nào đấy không! Cậu hãy nhớ Khvatov đã suýt nữa mắc kẹt ở Okinawa thế nào”. Tôi hứa rằng mọi việc sẽ diễn ra bình thường.



Và chúng tôi bắt đầu di chuyển theo sau tàu phá băng "Sadko". Theo lệnh của thuyền trưởng tàu ngầm, người ta lần lượt nâng các thùng phóng, một số thuyền viên ngành tác chiến 2 do thiếu tá hải quân A.P.Babich chỉ huy đi lên boong trên, tại đó diễn ra việc nối các cụm xích khởi động trong thùng phóng. Ban đêm, xung quanh là băng đá, nhiệt độ nước bằng không. Tôi lo lắng, như thể có ai đó bị trượt chân và rơi xuống biển. Trưởng ngành tác chiến 2 thiếu tá hải quân Babich được biệt phái hành quân trên K-108. Các chỉ huy cũ của ngành tác chiến 2 trung tá hải quân Nagornyi ngày 10 tháng Giêng đã nộp một báo cáo xin chuyển ngạch dự bị, trong đó anh ta viết rằng các cơ quan đảng đã ép các thuyền viên thực hiện những yêu cầu hình thức, rằng trong các cơ quan đảng đã diễn ra các yêu cầu có dụng ý xấu xa khác nhau, nhưng phần cuối báo cáo viết rằng anh sẵn sàng đi biển thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Anh ta đã nhanh chóng bị khai trừ đảng và bị cách chức.


Vịnh Avachinsky trong băng giá. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Vịnh Krasheninnikov và vịnh Avachinsky đang bị đóng băng, băng tại lối ra, băng dọc theo bờ biển và vịnh Sarannaia. Thuyền trưởng tàu ngầm muốn bật radar, nhưng tôi khuyên anh ta không làm điều đó để đảm bảo bí mật cho chuyến xuất phát. Tàu phá băng "Sadko" dẫn chúng tôi đến điểm lặn, chúng tôi lặn xuống và bắt đầu di chuyển vào khu vực làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Trong mệnh lệnh chiến đầu đặt ra cho chúng tôi trong chiến dịch này có nhiệm vụ tìm kiếm và theo dõi các SSBN Mỹ. Chuyến đi đến khu vực tìm kiếm và theo dõi, chúng tôi đã mất 15 ngày, tốc độ di chuyển 10 hải lý, chừng ấy thời gian để quay về, thời gian trực tiếp săn tìm chỉ còn 14 ngày. Tính đến thời gian các phiên liên lại và xác định vị trí tàu ngầm, chúng tôi phải tuân theo tốc độ 12 hải lý, loại tốc độ không đảm bảo cho tàu ngầm đề án 675 giữ nổi bí mật. Được biết các thuyền trưởng tàu ngầm Hải quân Hoa Kỳ gọi đề án này trong các tài liệu của họ là "ECHO-2" (nói riêng - "mụ bò rống"). Khi so sánh tiếng ồn của các tàu ngầm của chúng ta và các SSBN Mỹ, chúng ta có thể kết luận rằng lợi thế thuộc về các tàu Mỹ. Tương tự cũng có thể nói như vậy về phạm vi phát hiện của hệ thống sonar. Vậy là, trước chúng tôi đã đặt ra một nhiệm vụ không thể thực hiện nổi.


Tàu ngầm nguyên tử đề án 675 - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Ngày 22 tháng 1 lúc 05 giờ14 phút, chúng tôi nổi lên vào phiên liên lạc và xác định vị trí. Chúng tôi xác định vị trí theo đèn hiệu vô tuyến. Trong thực tế, xác định vị trí chỉ có trưởng ngành tác chiến 1 thiếu tá hải quân Chirkov, trong khi những người khác (trưởng nhóm đạo hàng điện tử trung úy Kutyavin, thuyền trưởng tàu ngầm hoặc trợ lý chính) không tham gia trong quá trình này, mặc dù họ cần phải làm như vậy. Kết quả của phép xác định đầu tiên đã cảnh báo tôi. Sau khi kiểm tra tất cả các công việc đã làm để xác định vị trí và phân tích nó, tôi đi đến kết luận rằng chỉ huy ngành tác chiến 1, thiếu tá hải quân Chirkov đã bỏ qua rất nhiều sai số, và anh ta có một số lỗ hổng trong kiến thức. Từ lúc đó, tôi tự mình gánh trách nhiệm hoa tiêu trưởng cho chuyến di chuyển này. Tất nhiên, tôi không thông báo việc này cho ai, vì nói chung nó là trách nhiệm của sỹ quan chỉ huy cấp cao trong chuyến đi. Tôi ấn định rằng tôi sẽ thay thế thuyền trưởng để nghỉ ngơi từ 06,00 giờ đến 13,00 giờ.

Trong những ngày đầu tiên máy đo sâu bằng tiếng dội và máy làm lạnh phía đuôi tàu bị hỏng, sau đó người ta mới đưa được chúng vào hoạt động trở lại. Sự siêng năng và tầm nhìn xa từ phía thủy thủ đoàn không thấy thể hiện.

Thuyền trưởng tàu ngầm đặt một thủy thủ học việc vào sau bàn điều khiển bánh lái ngang, còn thủy thủ trưởng bỏ đi về khoang số 10. Người ta bắt đầu cho tàu nổi lên độ sâu 40 m, còn cậu thủy thủ trẻ lại đẩy độ chúi 5 ° khi tàu nổi lên, dẫn đến việc rơi thùng chứa nước và rượu, không được gắn chặt cho đúng, kết quả tất cả đổ lênh láng trên sàn tàu gần cửa vào hố ắc quy.

Đi cùng tôi trong chiến dịch này là một ban tham mưu nhỏ: thiếu tá hải quân Bosyi ngành cơ điện hang hải sư đoàn và thiếu tá hải quân Smyslov thuộc ban chính trị sư đoàn.

Ngày 24 tháng 1 tại phiên liên lạc, chúng tôi xác định vị trí theo các ngôi sao. Việc tổ chức huấn luyện, lấy chiều cao thiên thể và giải quyết bài toán thiên văn học ở tầm thủy thủ đoàn tàu ngầm đang sửa chữa. Chirkov chỉ được huấn luyện trong các khu vực huấn luyện chiến đấu. Từ cuộc trò chuyện với anh ta mới phát lộ ra rằng anh ta kết hôn sớm và trở thành người cha trong gia đình từ năm học thứ 2 tại trường hải quân. Anh nói với tôi: "Đầu óc tôi rối mù chuyện gia đình và trẻ em." Ngày 25 tháng 1, tôi tìm thấy một sai lầm trong việc xác định vị trí tàu ngầm đến 50 dặm do lỗi làm việc của Chirkov.



Khi tôi phục vụ trên tàu ngầm, thường người ta xác định vị trí theo thiên thể. Trước tiên trên quả địa cầu gắn tinh tú phải tìm những ngôi sao cần thiết, xác định độ cao và góc phương vị của chúng. Người ta chuẩn bị MAE (niên giám thiên văn hàng hải, bảng tính sẵn hàng hải, các bản mẫu - морской астрономический ежегодник, морские таблицы, бланки). Tàu ngầm nổi lên trong thời điểm có thể nhìn thấy đường chân trời và các ngôi sao. Sau đó, trên các tàu ngầm hạt nhân mới xuất hiện hệ thống "Lira", trong hệ thống có con quay hồi chuyển đường chân trời, tàu chỉ cần nổi lên ở độ sâu kính tiềm vọng.

Sau đó, xuất hiện kính lục phân vô tuyến (радиосекстан). Bây giờ tất cả những điều này là không cần thiết, người ta xác định vị trí theo hệ thống vệ tinh. Đời chảy trôi và mọi thứ đã thay đổi. Đó là quả địa cầu và kính lục phân mà tôi đã tặng một trường học gần nhà.
.......
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Bảy, 2012, 07:22:16 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #61 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2012, 06:23:51 pm »

(tiếp)

Trợ lý chính cho thuyền trưởng thiếu tá hải quân Taras Lavrentievich Moskalenko sinh ra ở Ukraine trong gia đình có nhiều người bị câm điếc. Cha anh là một thợ đóng giày, ông có hai người phụ tá. Taras lên đến 3,5 tuổi vẫn không nói được, sau đó những người phụ tá cha đã dạy dỗ anh. Moskalenko là một người đàn ông tốt, nhưng trình độ kiến thức chung của anh khá thấp, còn về khoa mục hoa tiêu anh được huấn luyện khá tồi.

Trung úy Kutyavin trưởng nhóm đạo hàng điện tử là một đứa trẻ mồ côi từ năm 14 tuổi, cha anh chết trong một tai nạn, mẹ anh chết bệnh, và anh được chị gái nuôi dưỡng. Về khoa mục hoa tiêu anh cũng bị huấn luyện kém. Trước đây không ai quan tâm điều đó. Rõ ràng, công tác kiểm tra được tiến hành theo kiểu hình thức: người ta giữ nguyên tắc không vạch áo cho người xem lưng. Trên nguyên lý, đó là thuộc về vấn đề đào tạo bồi dưỡng cán bộ, và trong tương lai tiếp theo tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ vấn đề trên.

Ngày 30 Tháng 1 diễn ra một cuộc báo động khẩn cấp. Trong khoang thứ 8 có một bộ lọc máy bơm cung cấp nước để làm mát trục truyền lực. Trong bộ lọc này có một đường ren bị thối gây ra tắc nghẽn, loại trừ nút cổ chai này thì nước bắt đầu chảy vào khoang. Trong khoang, người ta không bối rối và họ đã vá lỗ rò lại.

Ngày 01 Tháng 2 Chirkov "xác định" vị trí bằng cách gây ra sai số tăng tới 20 dặm. Dưới sự lãnh đạo của Chirkov đã 17 lần người ta đo chiều cao của mặt trời và các ngôi sao, giải các bài toán thiên văn, nhưng kết quả của chúng không thể sử dụng được bởi vì các lỗi bỏ qua quá lớn.

Ngày 4 tháng 2 lúc 16:00 giờ chúng tôi chiếm lĩnh khu vực tìm kiếm và bắt đầu tìm kiếm các SSBN của Mỹ.


Tàu đầu tiên lớp Ethan Allen.

Ngày 21 tháng 2 đã kết thúc việc tìm kiếm và chúng tôi bắt đầu di chuyển về căn cứ mà không tìm thấy SSBN.

Ngày 24 tháng 2 chúng tôi đi về nhà trên độ sâu 100 m với tốc độ 12 hải lý. Trực chỉ huy tàu ngầm là thuyền trưởng trung tá hải quân A.G.Smirnov. bánh lái nhỏ phương ngang phía đuôi bị hỏng, người ta phải tiến hành sửa chữa.

Smirnov rời khỏi phòng trung tâm, đi xem phim trong khoang số 1 và để trực thay mình đại diện ngành cơ điện hang hải sư đoàn thiếu tá hải quân G.A.Bosyi. Anh này cũng đi sang khoang 2 uống trà. Tôi cảm thấy bằng trực giác một cái gì đó, và đôi chân đưa tôi đến phòng điều khiển trung tâm. Tôi phát hiện tại chỗ thuyền trưởng đã bỏ vị trí, để lại quyền kiểm soát con tàu cho những người không có quyền tự mình điều khiển. Tôi ra đề: "Các bánh lái ngang kẹt ở vị trí 10 độ khi đang lặn." Smirnov bổ vào phòng trung tâm, và tôi bày tỏ với anh ta tất cả những gì mà tôi nghĩ về chuyện này. Tôi nghĩ anh ta hiểu tôi.

Ngày 27 tháng 2 lúc 04.30 giờ, tôi đột nhiên tỉnh dậy vì một cuộc trò chuyện rất khẽ của hai thủy thủ học việc nói về chuyện nước có thể rò vào khoang từ chỗ nào. Tiếp theo tôi hành động một cách hoàn toàn tự động. Tôi choàng dậy và bay ra khỏi cabin vào khoang. Nước phun từ nhà vệ sinh lên, toàn bộ sàn tầng 1 ngập 20 cm, dưới sàn – hố ắc quy. Tôi vội vã lao bổ lên trên về phía thiết bị liên lạc nội bộ và nhìn thấy hai thủy thủ đã nói về một chuyện gì đó từ phòng điều khiển trung tâm. Các cửa vách ngăn từ phòng trung tâm sang khoang thứ 2 để mở và cài móc, đó là một vi phạm trắng trợn. Tôi tuyên bố báo động khẩn cấp và hai giây sau có mặt trong phòng điều khiển trung tâm. Tàu ngầm tăng tốc độ và bắt đầu nổi lên độ sâu 40 m.

Như sau này được biết, nguyên nhân là do nước chảy qua một van không đóng kín từ mạng thoát nước vào sitec chứa nước bẩn số 2, nước đầy sitec và tiếp đó thông qua hệ thống thông gió của sitec bắt đầu chảy vào khoang. Người trực phát hiện ra dòng nước chảy, và thay vì tuyên bố báo động khẩn cấp lại gọi điện về phòng trung tâm báo cáo sự việc. Trong phòng trung tâm, trung sĩ đội trưởng đội thủy thủ hầm tàu nhận báo cáo và phái chuyên gia tới khoang số 2, mà không báo cáo thuyền trưởng, và cũng không tuyên bố báo động khẩn cấp.

Tôi phải nói rằng nếu nước biển tràn vào hố ắc quy, điều đó có thể dẫn đến hỏa hoạn, sinh ra hơi clo, làm chết người.

Chirkov tiếp tục phạm những sai lầm thô thiển. Quan trọng nhất là anh ta không có kiến thức vững chắc về chuyên môn của mình.



Ngày 02 tháng 3, chúng tôi nhận được một bức điện, trong đó người ta trao cho chúng tôi một khu vực trên đường tới Kamchatka, diện tích 30 x 30 dặm, nơi chúng tôi phải ở lại và chờ đợi để được hướng dẫn thêm. Trên các lối vào vịnh Avachinsky và ở trong vịnh băng đóng rất dày. Phương tiện tái sinh không khí và bánh mì chỉ còn đủ năm ngày, thức ăn còn 20 ngày.

Trong chuyến hành quân, tôi đã kịp nói chuyện với hầu hết các sĩ quan. Nhìn chung, đội ngũ sĩ quan gây được ấn tượng tốt đẹp. Chỉ huy tiểu đoàn 1 thiếu tá hải quân A.A.Skorikov cho thấy mình là một nhà kỹ thuật tuyệt vời, phương tiện vật chất anh phụ trách làm việc tốt, anh kể về sự tham gia của mình trong chiến dịch ở thung lũng Geysers, lãnh đạo bởi tham mưu trưởng binh đoàn đại tá hải quân R.A.Golosov. Về sau A.A.Skorikov được bổ nhiệm làm chỉ huy ngành tác chiến 5 trên tàu ngầm K-204, con tàu đó đã thực hiện một nhiệm vụ phục vụ chiến đấu (thời gian 181 ngày) trên Ấn Độ Dương vào năm 1982, tại đó anh đã chứng tỏ mình một cách tốt đẹp nhất trong một tình huống khẩn cấp rất phức tạp. Nhờ sự can đảm, kiến thức và kinh nghiệm của anh, tàu ngầm đã hoàn thành thắng lợi chiến dịch hành quân đó.

Ngày 05 Tháng Ba bức điện tiếp theo chuyển tới kèm theo sự thay đổi khu vực chờ và lệnh thao luyện bài tập L-2. Trong kính tiềm vọng người ta phát hiện ra các tảng băng trôi.

Ngày 15 tháng 3, chúng tôi đã 10 ngày thao luyện bài tập L-2, và "đốt" nhiên liệu hạt nhân. Cuối cùng, chúng tôi nhận được 1 bức điện trong đó người ta lệnh cho chúng tôi xác định vị trí bằng cách chính xác nhất, lặn xuống độ sâu 40 mét, sau đó đi tiếp tới điểm phía tây mũi Hải Đăng, nơi 1 tàu phá băng sẽ chờ đợi chúng tôi, chiếc tàu đó sẽ cho tàu ngầm lệnh nổi lên theo "Omega". Tôi và chỉ huy tàu ngầm tin rằng "Omega" đặt trên tàu phá băng, nhưng sau này mới biết đó là một trạm định hướng âm trên bờ. Không có tài liệu nào hướng dẫn cách tổ chức liên lạc với trạm đó trên tàu ngầm. Chirkov và Kutyavin xác định vị trí sai lệch 17 dặm, điều này tôi phát hiện ra sau khi lặn. Nếu chúng tôi theo dữ liệu của họ, không biết tất cả sẽ kết thúc ra sao, rất có thể sẽ có ngay một thảm họa. Tôi xác định vị trí theo  đèn hiệu vô tuyến và trực quan bởi ba đỉnh đồi trọc (ba ngọn núi lửa), sau đó chúng tôi bắt đầu di chuyển đến điểm được giao, đồng thời kiểm soát vị trí của mình theo độ sâu. Khi đến gần điểm hẹn, chúng tôi tìm thấy một hố nước trong lớp băng và nổi lên với tốc độ bằng không. Thuyền trường cọ sạch cửa nắp thượng tháp chỉ huy và leo lên cầu điều hướng, tôi trèo lên sau anh ta. Xung quanh là cả một biển băng dày đặc, trên mặt boong một lớp băng đặc cao đến hai mét hơn. Tàu phá băng và tàu kéo đi đến chỗ chúng tôi, rẽ đường đưa chúng tôi xuyên trong biển băng, sau đó họ bắt đầu dắt chúng tôi về căn cứ. Trước lối vào cầu cảng, chúng tôi phá băng gạt khỏi mặt boong. Ngày 17 tháng 3 tàu đã neo xong tại cầu cảng.

Chiến dịch phục vụ chiến đấu của K-212

Một chiến dịch đi biển khác phức tạp hơn diễn ra ở vùng biển Chukotka và biển Bering. Trong thời điểm của các sự kiện được mô tả, các tàu ngầm nguyên tử đề án  670 từ Biển Bắc bắt đầu gia nhập đội hình Hạm đội Thái Bình Dương (xem bảng 5). Năm 1979 bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương lên kế hoạch hai hoạt động ở vùng biển Chukotka: đón K-320, con tàu phải hoàn thành chuyến di chuyển từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương, và chuyến hành quân đầu tiên trong lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương của 1 tàu ngầm nguyên tử đề án 670 (K-212, chỉ huy bởi thuyền trưởng trung tá hải quân A.A.Gusev) ở vùng biển Chukotka dưới lớp băng cho đến tận vĩ tuyến 76 độ Bắc.


Tàu ngầm đề án 670 "Skat".

Bắt đầu việc huấn luyện và chuẩn bị cho K-212 đi chiến dịch. Thủy thủ đoàn tàu ngầm thao luyện hoàn thiện toàn bộ 1 khóa học đầy đủ các bài tập huấn luyện chiến đấu, tất cả các loại dự trữ vật chất được nạp đến 100%, đạn dược bao gồm cả 2 ngư lôi đặc biệt dùng để phá nổ băng tạo ra một lỗ nước hổng trong lớp băng dày (khi cần nổi thật nhanh lên mặt biển trong các trường hợp khẩn cấp).

Bộ chỉ huy làm việc tỉ mỉ, nghiên cứu hải trình cho chuyến đi. Ngay trước khi xuất phát, K-212 trải qua một cuộc kiểm tra của bộ tham mưu sư đoàn và phân hạm đội.

Việc nghiên cứu tuyến đường biển theo sách hướng dẫn thủy văn – đạo hàng cho thấy rằng chuyến đi biển sẽ diễn ra trong hoàn cảnh khó khăn. Hầu hết các đoạn đường đi, phía trên đầu chúng tôi là lớp băng hai năm (độ dày của băng không ít hơn 2m, có chiều cao phần nổi của băng lớn, tảng băng có bề mặt bằng phẳng), hoặc các tảng băng trôi Bắc Cực (băng hình thành đã nhiều năm, dày hơn 2,5 m hoặc hơn nữa, có địa hình bề mặt dạng đồi núi, tại mặt vỡ có màu xanh lam). Chờ đón chúng tôi trong một số khu vực riêng biệt của Bắc Cực còn có những núi băng trôi rất đặc biệt, các đảo băng dày 70-80 m, có độ cao nhô lên trên mực nước biển đến 12 m.
.........
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Bảy, 2012, 10:06:53 pm gửi bởi daibangden » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #62 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2012, 11:43:01 pm »

(tiếp theo post #390 trang 40 phần 1)


Chỉ huy PMTO 1998-1999: đại tá Larionov V.V.


Bên cạnh nhà tắm hơi kiểu Nga.


Mùa thu 1989. Doanh trại của Trung tâm truyền tin trong thị tứ PMTO.


1985. Các thành viên của Trung tâm truyền tin.


1988. Các thành viên của Trung tâm truyền tin.


1984. Chú cẩu mang từ Nga sang tháng 8 năm 1983.


1980. Buổi đầu xây dựng nơi đặt máy, dùng bất cứ thứ vật liệu gì chặt được.


M.G. Zakharenko, tư lệnh hạm đội TBD kiểm tra và nghe báo cáo tại chỗ. Trái tim của Cam Ranh - trạm phát điện.


1999. Nguyên trạm trưởng truyền tin nay là chỉ huy trưởng PMTO.


1999. Đoàn Bộ TTM Hải quân dẫn đầu bởi trung tướng V.A.Ainbund, phó TTL hải quân phụ trách xây dựng và quản lý nhà đất, sau khi kết thúc làm việc tại Cam Ranh. Đi thăm thành phố Nha Trang.


1989-1990. Trạm truyền tin "Clubochek".
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #63 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2012, 06:37:59 pm »

(tiếp)

Sư đoàn tàu ngầm số 10 (1976 - 1982). Chuẩn đô đốc A.S.Berzin.


Để chuẩn bị cho cuộc hành quân, chúng tôi đã nghiên cứu kinh nghiệm thu được trong quá trình di chuyển các tàu ngầm nguyên tử từ Hạm đội Biển Bắc sang Hạm đội Thái Bình Dương. Trong trường hợp hỏa hoạn, nước biển tràn vào tàu hoặc xuất hiện mối nguy hiểm phóng xạ, tàu ngầm không thể ngay lập tức nổi lên mặt biển bởi vì trên đầu nó là một lớp vỏ băng và để nổi lên cần phải tìm được hố băng tan. Nếu trong vòng vài phút hoặc thậm chí vài giây mà không tìm được hố nước như thế thì con tàu sẽ chết. Vì lý do này việc bơi ngầm dưới lớp băng luôn gắn liền với những hiểm họa xác định. Không phải ngẫu nhiên vì hoàn thành thắng lợi chuyến hành quân di chuyển từ biển Barentsev sang Thái Bình Dương dưới những lớp băng của Bắc Băng Dương, mà người ta trao tặng cho các thuyền trưởng tàu ngầm danh hiệu Anh hùng Liên Xô, và các thuyền viên còn lại được tặng thưởng các huân chương, huy chương, các quà tặng đắt tiền và bằng chứng nhận.

Để đảm bảo hoạt động của tàu ngầm, người ta đã dành riêng ra các tàu phá băng  "Ivan Susanin" và "Litke", tàu nghiên cứu hải văn "Anadyr" và tàu kéo biển MB-147. Trách nhiệm chỉ huy cao cấp trong chiến dịch này thì người ta phân công tôi. Bộ tham mưu chiến dịch cùng người đứng đầu, cấp phó của tôi, đại tá hải quân N.V.Anokhin, được bố trí trên tàu phá băng "Ivan Susanin".



Ngày chủ nhật 26 Tháng 8, lúc 5,00 giờ K-212 khởi hành rời cầu cảng. Suốt ngày chúng tôi đi đến điểm lặn với tốc độ 4 hải lý trong tư thế nổi. Kế hoạch được Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương lập ra như vậy để nhằm cho K-212 và một tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo (RPKSN - РПКСН) vừa hoàn thành một chuyến hành quân di chuyển, có thể tránh xa  nhau một cách an toàn.

Trong thời gian ngày 27 tháng 8, tàu ngầm nhiều lần nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng thực hiện các phiên liên lạc với bờ và xác định vị trí. Tại mỗi đợt nổi lên, đài trinh sát VTĐT đều phát hiện có sự làm việc của trạm radar tìm kiếm trên máy bay chống ngầm "Orion" của Hải quân Mỹ. Điều này chứng tỏ chúng tôi đang bị theo dõi: việc di chuyển trong tư thế nổi không phải vô tình. Hơn nữa, trong khu vực của chúng tôi người Mỹ đã tắt các trạm dẫn đường thụ động "LORAN C",  để gây những khó khăn nhất định cho các hoa tiêu tàu ngầm khi họ xác định vị trí của mình trong những điều kiện thời tiết bất lợi. Đã có những hư hỏng trang thiết bị đầu tiên: cháy máy bơm điện làm mát các thiết bị phụ trợ (khắc phục thành công.)

Ngày 28 tháng 8 chúng tôi đi qua đảo Bering và đảo Mednyi, bỏ lại chúng về phía bên trái, còn phía bên phải là đảo Attu. Phù hợp với kế hoạch chuyến di chuyển đã phê duyệt, chúng tôi đi với tốc độ 15 hải lý. Với vận tốc này chắc chắn chúng tôi sẽ bị hệ thống SOSUS giám sát.

Ngày 29 tháng 8 đã tới. Mỗi phiên nổi lên liên lạc với bờ, qua kính tiềm vọng đều quan sát thấy sương mù và mây cấp 10, hoàn toàn loại trừ khả năng xác định vị trí của tàu ngầm theo các thiên thể. Tôi tìm thấy một sai lầm trong trong tính toán xác định vị trí của đội hoa tiêu lên đến 10 dặm. Cùng với thuyền trưởng tàu ngầm chúng tôi áp dụng các biện pháp tổ chức và giáo dục.

Thứ năm, ngày 30 tháng Tám chúng tôi đi qua đường đẳng sâu 100 m, tàu nổi lên tại điểm đã định và tiếp tục di chuyển trong tư thế nổi. Sóng ngắn nhưng dữ dội đập mạnh bên mạn phải con tàu, mây cấp 10. Chúng tôi tiếp tục đi tới điểm gặp gỡ với tàu kéo biển MB-147. Đài VTĐ tìm kiếm phát hiện ra sự làm việc của radar định vị dẫn đường của tàu kéo và sau 30 phút chúng tôi nhìn thấy tàu kéo bằng mắt thường. Trao đổi tín hiệu với MB-147 xong, chúng tôi xếp thành một hàng dọc (tàu kéo đi đầu) và tiếp tục hành trình.

K-212 đến vịnh Providenie vào ngày 31 tháng 8, tầm nhìn vào bờ rất tồi. Dự kiến ngày hôm sau chúng tôi vượt qua mũi Dezhnev.



Ngày 01 tháng 9 chúng tôi vượt qua eo biển Bering. Trong kính tiềm vọng đã nhìn thấy tượng đài kỷ niệm S.Dezhnev. Đó là bờ biển phía cực đông của đất nước chúng ta, phía bên phải chìm trong khói mù - Alaska. Chúng tôi đi dọc theo biên giới Mỹ-Liên Xô. Lần đầu tiên vào năm 1648, một đoàn thám hiểm dẫn đầu bởi người Cossack Semyon Dezhnev và thương gia Fedot Alekseev khi ra khỏi cửa sông Kolyma đã đi vòng qua mũi Dezhnev từ phía biển.

Ngày 02 tháng 9 chúng tôi đi vào biển Chukotka. Thời tiết đẹp như thể được đặt hàng: biển – sóng cấp 1, trời không gió, từ buổi sáng ánh nắng soi rạng rỡ, nhưng đến giờ ăn trưa mây đã phủ kín không gian, chỉ phía đường chân trời mây tạo ra một dải đất liền tưởng tượng, các núi băng và những hình dạng thần kỳ. Ngày mai chúng tôi sẽ đi đến đảo Vrangel và đảo Harald. Đảo Vrangel đã quen thuộc từ lâu với những người Chuvats, họ nhìn thấy nó rất rõ ràng khi thời tiết tốt và bầu trời trong trẻo từ khu vực mũi Yakan. Trên bờ biển phía tây của một hòn đảo gần mũi Thomas người ta đã tìm thấy những dấu vết của một làng định cư của người Chuvats hồi thế kỷ XVIII. Lần đầu tiên hòn đảo được nhà hải văn học F.P.Vrangel đưa lên bản đồ một cách tương đối chính xác vào năm 1823 xuất phát từ những lời kể của người Chuvats. Trên thực tế sự tồn tại của hòn đảo đầu tiên được khẳng định bởi nhà thám hiểm hải dương người Mỹ T.Long năm 1867. Tên ông được đặt cho eo biển giữa đảo Vrangel và đất liền. Đảo Harald nằm cách đảo Vranghel 35 km, được khám phá năm 1849 bởi con tàu Anh «Harald», đảo được người ta đặt tên theo tên con tàu để ghi nhớ sự kiện này.

Ngày 03 tháng 9 chúng tôi đi qua đảo Harald. Bắt đầu gặp những núi băng đơn độc giống như những con tàu nhỏ. Băng trên mặt vỡ của núi băng có sắc xanh lam của nước biển. Thời tiết ủng hộ chúng tôi: biển – sóng cấp 1 hoặc 2, nhiệt độ không khí từ -1đến -5 ° C. Chúng tôi nhận được từ bộ tham mưu chiến dịch của mình tọa độ điểm gặp gỡ và các số liệu về biên giới của biển băng.

Ngày 04 tháng chín với sự trợ giúp của radar định vị đã tìm thấy biên đội tàu của chúng tôi đang ở bên phía rìa biển băng. Đã thiết lập được liên lạc vô tuyến với tàu phá băng "Ivan Susanin". Nửa giờ sau chúng tôi phát hiện thấy bằng mắt thường: - tàu nghiên cứu hải văn "Anadyr” đang thả neo, tàu phá băng" Litke" – đang thả trôi, tàu phá băng "Ivan Susanin" đang đứng yên trong biển băng.



Qua đài vô tuyến, tôi liên lạc được với đại tá hải quân N.V.Anokhin, người đứng đầu bộ tham mưu chiến dịch hành quân. Tình hình đã sáng tỏ: trên tàu "Litke" trục truyền bên phải bị gãy nứt; để không rơi mất chân vịt thủy thủ đoàn đang phải tiến hành các hoạt động lặn khắc phục tương ứng. Bốn đèn hiệu thủy âm được bật lên. Dự kiến tàu ngầm K-320 sẽ nổi vào ngày 05 tháng 9 lúc 22,00 giờ.

Sau khi đàm thoại, K-212 tiến gần đến rìa biển băng. Băng còn xốp, bị xói lở, nhưng chúng tôi cũng gặp các tảng băng rất lớn. Phía sau chúng tôi, có thể nhìn thấy một vài con hải mã và những chú gấu Bắc cực, những động vật không hề biết sợ sệt con người cũng như những con tàu biển.

Ngày 05 tháng 9, chúng tôi ở vị trí cách 20 dặm về phía nam tàu phá băng "Ivan Susanin", chờ đón K-320 đến gần và nổi lên. Máy bay chống ngầm "Orion" của Hải quân Mỹ bay đến và bắt đầu lượn vòng ở độ cao thấp quanh tàu chúng tôi. Từ “Ivan Susanin" có báo cáo tàu ngầm K-320 đã nổi lên và được tàu kéo biển MB-147 dẫn dắt đang bắt đầu di chuyển về phía chúng tôi. Một vài phút sau chúng tôi phát hiện ra họ, và họ giảm dần tốc độ tiến gần lại đến khoảng cách liên lạc được bằng giọng nói thông thường.

Chúng tôi bắt đầu trò chuyện sau khi chúc mừng thủy thủ đoàn vừa hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ. Сhỉ huy cao cấp trên tàu là Anh hùng Liên Xô chuẩn đô đốc E.D.Chernov. Ông kể rằng ở chỗ ông mọi thứ đều ổn, họ nổi lên tại một hố băng tan có vị trí cách rìa biển băng 200 dặm, băng ở hố nước băng tan có độ dày 20 cm, độ dày của băng cho đến rìa biển băng là khoảng từ - 5-7 m. Tiếng các vụ nổ mà tàu phá băng "Ivan Susanin" tạo ra họ đã nghe thấy từ khoảng cách 44 dặm, còn tín hiệu đèn hiệu thủy âm họ đã quan sát thấy từ khoảng cách 20 dặm.


K-320 trong thời gian di chuyển sang Hạm đội Thái Bình Dương, W = 85 độ Bắc, tháng 8 năm 1979. Trong số các chiến sỹ tàu ngầm đang ở trong hàng đứng có trưởng ngành tác chiến 3 B.Leonov, trưởng ngành tác chiến 2 A.Saltykov, trợ lý thuyền trưởng A.I.Terenov. Trong số hàng đứng người thứ ba từ trái sang là S.G.Lysenko (học viên tốt nghiệp trường dự bị hải quân Nakhimov Leningrad khóa 1970). Ảnh do đại tá hải quân A.I.Terenov cung cấp.
........
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Bảy, 2012, 05:21:06 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #64 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2012, 02:11:59 pm »

(tiếp)

Chúng tôi chúc họ lên đường may mắn, và K-320 bắt đầu di chuyển theo đội hình “vệt rẽ nước” theo sau tàu kéo biển MB-147 về nơi đóng quân.

Sau khi xin phép trực ban tác chiến Hạm đội Thái Bình Dương cho bơi ngầm huấn luyện dưới băng, chúng tôi chờ trả lời, và làm công tác chuẩn bị lặn. Chúng tôi sử dụng ống không khí áp suất trung bình từ còi điện để thoát bọt khi nổi lên không hành trình trong hố băng tan để định hướng.

Câu trả lời từ trực ban tác chiến hạm đội đã tới: "Bắt đầu luyện tập đi biển từ 21,00 giờ ngày 05 Tháng 9".

Thảo luận với đại tá hải quân N.V.Anokhin các vấn đề cần thiết xong, chúng tôi chúc nhau mọi sự tốt lành rồi đi ngầm về hướng Bắc của đèn hiệu thủy âm (MO-2).

Theo chỉ dẫn của máy đo độ dày băng và vệt hướng dẫn của máy dò mìn để phát hiện các tảng băng, độ sâu đi ngầm của con tàu để ở mức 50 m, tốc độ 7 hải lý. Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến những tảng băng độc lập dày đến 10 mét, chìm lơ lửng ở độ sâu 60 m.

Ban đêm, chúng tôi di chuyển ngầm dưới biển băng, tất cả mọi thứ trở về bình thường, cuộc sống vẫn tiếp tục trình tự của nó.

Đã sang ngày 6 tháng 9. Kể từ khi lặn, thường xuyên chúng tôi quan sát được các vụ nổ từ tàu phá băng “Ivan Susanin". Vào lúc 02,00 giờ chúng tôi quay về hướng ngược lại.

Sau khi nghe thấy sự làm việc của MO-1 và MO-2, xác định vị trí tàu ngầm: khoảng cách đến ngọn hải đăng - 16 dặm. Đã xác định điểm nổi lên phía sau đuôi tàu phá băng "Ivan Susanin" một khoảng ba dặm. Vào đúng thời gian nổi lên đã định, chúng tôi dùng radar đo khoảng cách đến tàu phá băng - 3 dặm.

Chúng tôi báo cáo Sở Chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương về nhiệm vụ đã hoàn thành và xin phép hành quân tiếp hai ngày. Sau giờ ăn trưa thời tiết xấu đi: gió tăng tốc lên 15 m / s, biển – sóng cấp 5, mây – cấp 10. Chúng tôi đi tiếp đến khu vực bao quát bởi MO-4, còn “Ivan Susanin" đi vào biển băng.

Lúc 13,59 giờ, trên tàu ngầm hệ thống bảo vệ khẩn cấp bị kích hoạt vì những hành động ngu ngốc của chỉ huy trưởng nhóm điều khiển từ xa lò phản ứng. Chuyện này nhanh chóng được khắc phục, và Thiết bị Năng lượng Chính (ГЭУ) lại tiếp tục làm việc trong chế độ bình thường.


К-212 sau khi nổi lên trong biển băng. - St Petersbourg 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Mặc dù thời tiết xấu một lần nữa máy bay săn ngầm "Orion" của người Mỹ lại bay đến và bắt đầu thực hiện các đường bay thấp sát sạt trên đầu chúng tôi một cách canh chừng suốt ba giờ. Đến chiều tối một bức điện vô tuyến gửi tới từ tư lệnh hạm đội: cho phép chúng tôi được bơi ngầm dưới băng từ 02,00 giờ ngày 7 tháng 9 đến 02,00 giờ ngày 09 Tháng 9. Biển động cấp 5, trời mưa, sức gió đến 17 m / s.

Ngày 07 tháng 9, chúng tôi chuyển một bức điện về Sở chỉ huy báo cáo bắt đầu chiến dịch và thực hiện lặn xuống dưới mặt nước. Độ sâu - 40, 50, 70, 100 m. Thực hành trực ban liên tục trên kính tiềm vọng, người quan sát tình hình ở vị trí trong hầm tàu, từ đó liên tục có các báo cáo: "Tối, tối, sáng". "Sáng" – có nghĩa là giữa biển băng có chỗ nước hoàn toàn chưa đóng băng hoặc chỉ có một lớp băng mỏng còn non.

Chúng tôi đi tiếp mãi về phía bắc, biển băng trên đầu của chúng tôi có độ dày từ 2-7 m. Chúng tôi đã đi qua kinh tuyến 76, bắt đầu tuần tra trong khu vực №1. Chúng tôi tìm kiếm hố băng tan để nổi lên và điện báo cáo về SCH.

Ngày 08 Tháng 9 chúng tôi quay về hướng 180", đi tiếp vào khu vực đang có mặt các con tàu của chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm hố băng tan. Cuối cùng cũng đã tìm thấy một hố băng tan chiều dài khoảng 4 kabelt. Chúng tôi xác định kích thước của nó - 9x4,5 kabelt. Tính đến dòng chảy chúng tôi dừng ở điểm tính toán bằng bộ ổn định chiều sâu, không hành trình, và bắt đầu chậm chạp nổi lên độ sâu kính tiềm vọng.

Báo cáo từ hầm tàu: "Không có băng". Chúng tôi cho thổi khí vào nhóm giữa của các sitec dằn chủ, tàu nổi dần lên đến độ sâu 5 m. Kính tiềm vọng được nâng lên: mặt trời rực rỡ, bầu trời xanh thắm, xung quanh tất cả là biển băng, tàu ngầm đang ở giữa hố băng tan. Băng giá xung quanh hố băng tan bị phá vỡ, độ dày lớp băng của chúng lên đến 1,5-2 m, xen kẹp giữa chúng là lớp băng non có độ dày mỏng 1-10 cm

Một phần các thuyền viên đã leo lên cầu điều hướng tháp chỉ huy. Một sự yên tĩnh và im lặng màu trắng toát. Chúng tôi nhìn thấy bên mạn tàu một con hải mã, nó tò mò nhìn ngắm chúng tôi, sau đó chui xuống nhào lộn dưới thân tàu ngầm, rồi lại nổi lên phía mạn tàu bên kia và tiếp tục sự quan sát của nó.

Lúc 13,20 giờ, tàu lặn xuống trong hố băng tan, tiếp tục di chuyển về phía biên đội tàu nổi. Tiếng các vụ nổ phá băng chúng tôi nghe thấy từ khoảng cách 42 dặm, còn nghe thấy MO-1 – từ khoảng cách 26 dặm.

Việc nổi lên tại điểm đã chỉ định xảy ra hồi 2.00 giờ ngày 09 tháng 9. Biên đội tàu nổi và K-212 trong đội hình hàng dọc bắt đầu di chuyển về điểm đóng quân. Sau đó tôi chuyển sang ở trên tàu phá băng "Ivan Susanin".


K-212 tiếp tục thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu sau chuyến di chuyển đi xuyên ngầm dưới lớp băng Bắc Cực. – Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

K-212 lặn xuống trong biển Bering, tiếp tục đi tới khu vực thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và trở về khi kết thúc chiến dịch một tháng sau. Đồng thời ngày 17 tháng 9, biên đội tàu nổi đã về đến Petropavlovsk-Kamchatsky.


Lễ đón trọng thể thủy thủ đoàn K-212 đến gia nhập đơn vị tàu ngầm mới. Sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm số 10 đại tá hải quân A.S.Berzin chúc mừng thuyền trưởng trung tá hải quân A.A.Gusev và trao chiếc chìa khóa biểu tượng của Kamchatka. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Các chiến dịch đi biển tiếp theo, các bài huấn luyện và thực hành xạ kích đang chờ đợi chúng tôi. Câu cách ngôn công thức của Hải quân "Hình phạt cho những người vô tội và phần thưởng cho những kẻ không xứng đáng" trong trường hợp này có vẻ không hiệu lực – đơn giản là nó đã quên chúng tôi.

Các tàu ngầm của chúng tôi cũng tiến hành trực ban chiến đấu, khi đậu tại bến tàu trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu một giờ trước chuyến ra khơi. Một số thuyền trưởng phải được dạy dỗ tinh thần có trách nhiệm đối với nhiệm vụ trực chiến này bằng các phương pháp đặc biệt. Ví dụ, tàu ngầm K-204 (đại tá hải quân E.V.Orsagosh) bước vào thời kỳ trực chiến. Hai ngày sau khi tàu ngầm bước vào trực chiến, tôi đến bộ tham mưu vào lúc 04,00 giờ, tại đó tôi tuyên bố báo động chiến đấu tập đối với bộ tham mưu và K-204.

Tất cả các sỹ quan bộ tham mưu đã có mặt và ngay lập tức được phái đi kiểm tra K-204. Tại K-204 đã phát hiện những thiếu sót sau đây: bảy người vắng mặt, quần áo sử dụng một lần trên tàu ngầm không có, không đủ 1,5 tấn bột mì và một loạt các loại thực phẩm khác.

Thuyền trưởng tàu ngầm rơi vào trạng thái hoàn toàn lẫn lộn và hoảng hốt. Cuối cùng không thể kiềm chế được bản thân mình, tôi nói với anh ta: "Bây giờ anh đã biết chính xác thế nào là ngày 22 Tháng Sáu năm 1941 vào đúng 04.00 giờ sáng hay chưa? Sự sẵn sàng của anh cho chiến tranh là thế này đây. Anh đã có cả một giờ để chuẩn bị sẵn sàng cho tàu ra khơi, vậy thực tế anh cần bao nhiêu thời gian để có thể ra khơi?!" Sau đó anh ta bắt đầu cho báo động tập suốt ngày, nhanh chóng loại bỏ các yếu kém, và khi cần thiết, tàu ngầm sẵn sàng ra khơi tại thời điểm đã định.


Trao tặng bánh ga tô làm trên tàu cho thuyền trưởng K-204 trung tá hải quân E.V.Orsagosh trong ngày sinh nhật của ông (phía sau thuyền trưởng - thuyền phó chính trị trung tá hải quân G.I.Samonchik). Tháng 4 năm 1982, Ấn Độ Dương, buồng điều khiển trung tâm của tàu ngầm nguyên tử (ảnh do A.F.Kopiev cung cấp). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Công tác huấn luyện chiến đấu

Để duy trì sư đoàn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao như vậy, khi mà hầu như hàng năm có từ 40% đến 50% tàu ngầm (1978 - năm tàu ngầm, 1979 - năm tàu ngầm, 1980 - sáu tàu ngầm, 1981 - bốn tàu ngầm, 1982 - hai tàu ngầm) đang đi làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, điều cần thiết là phải tổ chức huấn luyện chiến đấu chuyên sâu với cường độ cao cả trong căn cứ và trên biển, bao gồm hoàn thiện các khoa mục huấn luyện hàng năm, cũng như thực hiện các cuộc xạ kích ngư lôi và tên lửa, đòi hỏi ở bộ tham mưu sư đoàn những nỗ lực tối đa và công tác tổ chức thực hiện rõ ràng chính xác. Hàng năm, mỗi thủy thủ đoàn tàu ngầm phải thao luyện hoàn thiện các môn học: L-1, L-2, L-3 và SL. Khoa mục L-3, ngoài các yếu tố khác, còn bao gồm các bài xạ kích ngư lôi và tên lửa. Ví dụ, khi có 10 thủy thủ đoàn, cơ quan tham mưu và bộ chỉ huy sư đoàn cần phải hàng năm tổ chức đến 120 bài huấn luyện cho các tàu ngầm, trong đó 80 bài cần thực hiện ngoài biển. Người ta đã thực hiện đến 50 cuộc xạ kích ngư lôi và 10 cuộc xạ kích tên lửa, một phần trong số đó diễn ra với việc phóng đạn tên lửa thực sự.

Một số cuộc diễn tập chiến thuật được tiến hành với yêu cầu đảm bảo to lớn của các tàu mặt nước và lực lượng không quân hải quân. Tất cả cần được lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện một cách trung thực. Khó khăn nhất là tổ chức huấn luyện cho các tàu đề án 675MK sau khi sửa chữa hiện đại hóa ở Primorie và di chuyển căn cứ về Kamchatka. Lý do chính là mức độ huấn luyện yếu kém của các thuyền viên, thiếu kinh nghiệm đi biển, các khuyết tật ẩn giấu trong các bộ phận vật chất, bộ máy nhân sự kém chất lượng.

Dưới đây tôi dẫn ra một số cảnh huấn luyện tàu ngầm ở Primorie để phục vụ cho chuyến di chuyển chúng sang Kamchatka.

Khi đến Primorye, tôi thấy K-204 và K-116 đang đậu tại bến cảng căn cứ của sư đoàn tàu ngầm số 26. Chúng tôi ra biển trên K-204, tại đó chúng tôi thao luyện bài tập L-2, sau đó trở về căn cứ, bài tập L-2 được điểm đánh giá “tốt". Thuyền trưởng tàu ngầm đại tá hải quân A.A.Chernyshev làm tôi rất hứng thú khi ở ngoài khơi, anh chỉ huy tàu ngầm một cách tự tin và thành thạo.



Ngày hôm sau, chúng tôi chấm bài tập L-1 của K-116 điểm "tốt". Sau đó, trên tàu ngầm này người ta bắt đầu bật hệ thống máy năng lượng chính (GEU) để đi tiếp hoàn thiện bài tập L-2. Khi đưa GEU vào hoạt động đã phát hiện thiết bị bốc hơi bị lỗi, ổ trục tua-bin bên phải bắt đầu bị nóng lên, bánh lái ngang không làm việc.

Sau khi loại bỏ những sai sót trên, lúc 08.00 giờ tàu ngầm rời bến. Thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân Yu.G.Shestak điều khiển tàu ngầm thiếu chắc chắn. Trong điều kiện hiện tại của cầu tàu №2, tàu ngầm phải ra khỏi vịnh giữa các đê chắn sóng bằng cách đi lùi. Thuyền trưởng không chỉ huy tàu một cách đúng đắn, tàu ngầm ở giữa vịnh đảo hàng trình kế, và trong tư thế như vậy lao vào phía đê chắn sóng. Trong tình hình đó thuyền trưởng hoàn toàn mất bình tĩnh – thêm một phút nữa thôi - sẽ xảy ra một tai nạn đạo hàng.

Tôi lấy quyền chỉ huy tàu ngầm, điều đó được ghi trong sổ nhật ký hàng hải. Nhanh chóng thả neo, neo đã bám, tàu ngầm dừng lại cách đê chắn sóng khoảng 100 mét, tôi đảo chiều động cơ xoay mũi tàu quay ra, nhanh chóng nhổ neo và đi ra khỏi vịnh bằng động cơ điện giữa các đê chắn sóng. Đi biển với cương vị chỉ huy cao cấp trên tàu ngầm cũ sau khi sửa chữa cũng tương tự như hoạt động của người phi công thử nghiệm. Chúng tôi bắt đầu thực hành bài tập L-2 trong khu vực huấn luyện chiến đấu. Ở đầu lối ra tại độ sâu 50 m có tiếng gõ máy bơm chu trình tuabin mạn phải. Chuyển lên tư thế nổi,chúng tôi cho mở họng bơm và nhìn thấy một tấm ván 2 dày cm và một miếng cao su. Chiếc máy bơm đã nghiền nát một phần miếng ván gỗ. Nghĩa là các công nhân thường làm việc như thế và rất hay để sót đồ trong tuyến chu trình. Để lấy được miếng ván ra đã tốn mất vài giờ.

Cuối cùng, họ cũng làm xong bài tập L-2 và nhận được điểm đánh giá "tốt", sau đó tàu ngầm di chuyển theo tuyến đường thủy ven biển về căn cứ theo sau tàu hộ tống, lần này đó là một tàu quét mìn. Tôi bước lên cầu điều hướng: tầm nhìn 40-50 m, sương mù dày đặc. Tôi yêu cầu các trắc thủ radar báo cáo tình hình, họ báo cáo có đến 15 mục tiêu. Sestak một lần nữa cho thấy sự thiếu cẩn trọng:  anh không tuyên bố báo động chiến đấu, chỉ huy nhóm đạo hàng điện tử trung úy Eskov trực hoa tiêu, đài thông tin chỉ huy tác chiến (BIP) không làm việc. Tôi đã phải nhắc nhở anh ấy những biện pháp anh cần phải áp dụng, nhắc anh nhớ lại vụ va chạm của K-56 với tàu nghiên cứu biển "Akademik Berg".


Đài tưởng niệm các thủy thủ tàu ngầm tại thành phố Fokino.
...........
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Bảy, 2012, 07:19:32 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #65 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2012, 12:23:45 am »

(tiếp)

Sau đó bắt đầu chuyến hành quân di chuyển căn cứ về Kamchatka. Trên các lối vào eo biển La Perouse, chúng tôi gặp phải một cơn bão. Gần như tất cả các thủy thủ say sóng, thay vì bữa ăn trưa thì trợ lý thuyền trưởng mang lại cho tôi một miếng xúc xích và cá dầy sấy. Khi đến gần Kamen Opasnosty xảy ra một tình huống nguy hiểm như sau: thuyền trưởng tàu ngầm và chỉ huy ngành tác chiến 1 bị say sóng, dòng chảy có tốc độ hơn 6 hải lý, tàu ngầm lao về phía ghềnh đá Kamen Opasnosty. Trong tình hình như vậy một lần nữa tôi phải giành quyền chỉ huy tàu ngầm cho mình: tôi ra lệnh hoa tiêu lên cầu điều hướng, chuyển hướng 40" cho tàu thả trôi và tăng tốc độ của con tàu - các biện pháp đã thực hiện cho phép tránh được mối nguy hiểm. Phần còn lại chuyến hành quân di chuyển diễn ra êm đẹp, và đúng thời gian đã định chúng tôi đã thả neo trong vịnh Krasheninnikov.

Khi chúng tôi về đến căn cứ, tư lệnh sư đoàn ngay lập tức cử tôi ra khơi với chức trách chỉ huy cao cấp trên K-10 (với thủy thủ đoàn 273) trong chương trình hoạt động sau khi lên dok sửa chữa. Chúng tôi đi về phía mũi Kozak và bắt đầu điều chỉnh chênh mớn. Trong khi tàu ngầm đang điều chỉnh chênh mớn, tàu trôi về phía cửa sông Avacha, chỉ huy ngành tác chiến 1 thiếu tá hải quân Chirkov không kiểm soát vị trí tàu ngầm, và chỉ sau khi tôi đã ra mệnh lệnh xác định vị trí thì anh ta mới làm việc này. Tàu chỉ còn cách bờ có 8 kabelt. Tôi báo cáo tư lệnh sư đoàn về kết quả của chiến dịch hành quân chiến đấu (trường hợp của Chirkov) mà không được quan tâm, thuyền trưởng tàu ngầm chỉ đề nghị "giáo dục và dạy dỗ" Chirkov. Và một lần nữa, tôi được cử đi huấn luyện chuẩn bị cho K-204 tại Primorie.

Người ta đưa tôi đến sân bay vào buổi sáng sớm. Mưa, tuyết lất phất, bầu trời u ám chìm trong mây dày đặc. Mặc dù thời tiết xấu, máy bay vẫn cất cánh và chẳng mấy chốc đã hạ cánh tại Vladivostok, nơi xe ô tô đang chờ tôi. Vịnh Pavlovsky đây rồi. K-204 đang đậu tại bến tàu đầu tiên. Chúng tôi ra biển vào ban đêm. thuyền trưởng trung tá hải quân Anatoly Chernyshev nói với tôi về tình hình công việc: đã bốn tháng tàu ngầm không đi biển, chủ yếu chuyển neo từ bến này sang bến khác, thủy thủ đoàn đã đánh mất kỹ năng hàng hải.


Trung tá hải quân Anatoly Chernyshev (giai đoạn 1973-1975 – thuyền trưởng tàu ngầm đề án 675MK K-175, giai đoạn 1975-1981 – thuyền trưởng tàu ngầm đề án 675MK K-204). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Rất nhanh chóng tôi bắt gặp ngay điều này trong thực tế. Khi chúng tôi đến khu vực huấn luyện chiến đấu, tôi bước vào cabin hoa tiêu và thấy trưởng ngành tác chiến 1 đại úy hải quân Bashkirov đang say rượu. Thuyền trưởng tàu ngầm nói với tôi rằng Bashkirov là một người nghiện rượu và mong muốn anh ta được chữa khỏi bệnh, nhưng anh ta cứ uống rượu đều đều. Bộ chỉ huy sư đoàn tàu ngầm 26 thực sự không quan tâm đến K-204.

Thuyền phó chính trị quay sang cầu cứu chủ nhiệm chính trị sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Bychkov, anh ta khẩn nài bộ tham mưu và bộ phận chính trị sư đoàn để mắt đến tàu ngầm của họ. Anh ta được trả lời: "Cậu đã nhận được những sỹ quan hải quân! Cậu lại muốn nhận những điều tệ hại! Cậu muốn gì? Hãy ngồi xuống và đừng lộn xộn, hãy làm công tác đảng-công tác chính trị của cậu đi. Để thuyền trưởng của cậu đặt vấn đề với sư đoàn trưởng đại tá hải quân Khvatov". Phó Tư lệnh thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, Phó Đô đốc E.N.Spiridonov bày tỏ rõ ràng quan điểm của mình qua điện thoại với G.A.Khvatov: "Đồng chí Khvatov, tôi thấy tàu ngầm K-204 không cần thiết với các anh và dường như cũng chẳng cần cho hải quân". Tiếp theo sau, đã có những hướng dẫn về việc chuẩn bị cho tàu ngầm thực hiện hành quân di chuyển căn cứ tới Kamchatka (Tôi đã chứng kiến cuộc trò chuyện này).


Emil Nikolaevitch Spiridonov. I.N.Dementiev. CON ĐƯỜNG VINH QUANG CỦA ĐÔ ĐỐC E.N.SPIRIDONOV. Kỷ niệm 85 năm ngày sinh. - Lịch sử ngành hoa tiêu.

Ngày đầu tiên của chuyến đi biển cho thấy thủy thủ đoàn đã đánh mất rất nhiều kỹ năng sau ba tháng đứng im ở cầu tàu. Chỉ vừa mới hoàn tất việc điều chỉnh độ thăng bằng chênh mớn dọc, đã thấy có tín hiệu báo động khí hydro vượt quá mức cho phép (2,5%). Hóa ra khi tàu đang sửa chữa, việc trực ban thực hiện rất tệ, hệ thống thông gió cho ắc quy bị lắp ráp không đúng. Kể từ khi ra khơi hệ thống thông tin liên lạc phát sinh trục trặc liên tục. Bức điện đầu tiên chỉ được truyền đi ở lần thứ 6, bức điện thứ 2 thì ở lần thứ 3, bức điện thứ 3 thì đến lần thứ 27 vẫn không kết quả. Thường xuyên trong buồng điều khiển trung tâm là cảnh ba hoa xích tốc và chửi thề. Thuyền trưởng ra lệnh cho trưởng ngành tác chiến  5 đóng mạch máy phát, anh kia trả lời: "Tôi sẽ không làm đâu". Các mệnh lệnh không được thực hiện và không được kiểm tra giám sát. Lò phản ứng mạn thứ 2 mãi chúng tôi vẫn không thể cho chạy được do thiết bị bay hơi làm việc kém, nước ăn còn 6 tấn và đang có xu hướng giảm.

Đi biển với thủy thủ đoàn ít được rèn luyện là vô cùng khó khăn, nó đòi hỏi phải chịu đựng được sự căng thảng cực lớn về thể chất và tinh thần. Vào thời điểm đó, kíp thủy thủ của K-204 là hiện thân của bộ ba trứ danh trong ngụ ngôn Krylov "Thiên nga, tôm càng và cá măng”. Chúng tôi bơi ở độ sâu kính tiềm vọng khi tầm nhìn là 80 kab.Quan sát qua kính tiềm vọng trợ lý chính của thuyền trưởng phát hiện ra một chiếc thuyền buồm Nhật Bản, anh ta đã ra lệnh cho trắc thủ radar mở phiên trực radar và đo khoảng cách đến chiếc thuyền buồm.

Trắc thủ radar đo và báo cáo khoảng cách là 40 kabelt. Tôi đã đi đến chỗ kính tiềm vọng và thấy rằng đã có điều gì đó sai, bởi vì chiếc thuyền buồm Nhật Bản chỉ ở cách chúng tôi một khoảng cách không lớn. Tôi lệnh cho trắc thủ radar tìm hiểu và sau đó họ phát hiện được mục tiêu thứ hai, khoảng cách là 10 kabelt. Như vậy,rõ ràng rằng trợ lý chính của thuyền trưởng và trắc thủ radar không chú ý theo dõi và đã bỏ qua sự xích gần rất nguy hiểm với mục tiêu.

Tại thời điểm này radar đã được tắt và bắt đầu một cuộc tranh cãi giữa người chỉ huy ngành tác chiến 5 và ngành trưởng VTĐT xem ai là người có lỗi. Nhờ áp dụng các biện pháp đúng đắn mà trật tự được phục hồi, và chúng tôi may mắn tránh xa khỏi chiếc thuyền buồm Nhật Bản. Đã tìm ra những điều khó chịu khác nữa: bên trong kính tiềm vọng vấy đầy vết sơn và mồ hôi, làm cho việc quan sát trở thành cực kỳ khó khăn.


Tàu ngầm nguyên tử đề án 675MK trên đường ra khơi tới khu vực huấn luyện chiến đấu. Khoảng 1980. Từ trái sang phải: tư lệnh sư đoàn, Chuẩn Đô đốc A.S.Berzin, thuyền trưởng  K-204 đại tá hải quân A.A.Chernyshev, phó trưởng ngành cơ điện sư đoàn trung tá hải quân I.N.Mikhalevsky. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Chúng tôi tiếp cận khu vực, mà chúng tôi được lệnh chiếm lĩnh. Bức điện báo cáo về việc chiếm lĩnh khu vực đã định được phát đi 13 lần - không có tín hiệu báo nhận. Thay vào đó, từ trực ban tác chiến hạm đội có điện đến: "Hãy báo cáo vị trí hiện tại và hoạt động của anh ". Tôi hiểu rằng do mất liên lạc với chúng tôi nên sỹ quan trực ban tác chiến của hạm đội rất lo lắng và từ nay về sau chúng ta phải hành động một cách nhanh chóng và hiệu quả để thiết lập liên lạc bằng bất kỳ phương tiện nào. Tôi ra lệnh ngay lập tức tiến về mũi Titov, và thông qua trạm quan trắc ở đó chuyển điện báo cáo về trực ban tác chiến hạm đội. Cách 10 dặm, chúng tôi bắt đầu đánh tín hiệu gọi trạm quan trắc bằng đèn chiếu, trạm hồi đáp, nhưng sau đó lại không trả lời cuộc gọi của chúng tôi. Hai giờ sau chúng tôi liên lạc băng VHF được với trạm quan trắc mũi Titov và một tàu tuần tra nào đó. Thông qua họ chúng tôi chuyển được điện báo cáo mình đang ở khu vực mũi Titov, cho tàu thả trôi và khắc phục sự cố thiết bị thông tin liên lạc.

Mười giờ, các nhà khai thác vô tuyến đã tìm ra chỗ hư hỏng, và cuối cùng báo cáo về việc khắc phục lỗi. Điện tín đã gửi được cho trực ban tác chiến hạm đội – nhưng vẫn không thấy có tín hiệu báo nhận. Chuyển điện tiếp thêm 10 lần, cũng không có báo nhận. Đi biển như vậy không thể tiếp tục, tôi quyết định cho tàu về căn cứ. Qua trạm quan sát mũi Povorotny chúng tôi đã điện báo cho trực ban tác chiến hạm đội biết mình đang đi về căn cứ do trục trặc của thiết bị thông tin liên lạc. Trong thời gian này người sỹ quan trưởng ngành tác chiến 1 đại úy hải quân Bashkirov say đến nỗi bất động hoàn toàn,người ta mang anh ta vào buồng con quay hồi chuyển và cho anh ta nằm ngủ.


Mũi Povorotnyi.

Sau khi sửa chữa xong thiết bị thông tin liên lạc, chúng tôi lại ra biển tiến hành xạ kích ngư lôi, đợt xạ kích đã được thực hiện thành công. Tàu ngầm đề án 659 K-66 tiến đến gần chúng tôi (thuyền trưởng – trung tá hải quân G.M.Sizov, chỉ huy cao cấp trên tàu là tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân Yu.M.Samoylov, người mà năm 1976 đã thay thế tôi trên cương vị này sau khi tốt nghiệp học viện). Samoilov được bổ nhiệm thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm K-94 vào năm 1973, khi con tàu bắt đầu được sửa chữa tại nhà máy chữa tàu biển tại cảng Bolshoi Kamen, còn năm 1974 ông theo học tại học viện, điều đó có nghĩa là, ông là người thuyền trưởng tàu ngầm mà không bơi biển, không neo đậu, không xạ kích. Bây giờ, ông ấy đang dạy dỗ các sỹ quan thuyền trưởng phải biết cách đi biển như thế nào. Bởi vì tàu ngầm của chúng tôi là người thực hiện bài tập mà K-66 làm công tác đảm bảo cho chúng tôi, nên qua sóng VHF tôi đưa ra chỉ dẫn và đặt nhiệm vụ cho thuyền trưởng K-66 Sizov.

Một vài phút sau, trên băng VHF Samoilov gọi tôi, và tôi bắt đầu được "dạy":  "... Chúng ta đang làm mất thời gian, tôi có kinh nghiệm trong việc thực hiện các bài tập ở khu vực này, ý kiến của tôi là ...". Tôi kiên quyết nói với anh ta rằng anh ta ngay lập tức hãy tiến hành các hành động cụ thể đã hướng dẫn. Anh ta phản ứng: "... Nào, chúng ta không hiểu nhau rồi ...".

Bài tập được thực hiện tốt, và đạn ngư lôi ngay lập tức được người ta tìm thấy và vớt lên. Theo điều kiện của cuộc xạ kích thì thiết bị gây nhiễu tự hành phải phóng nhiễu trong tư thế nổi. K-66 bắt đầu cơ động theo cách mà nó liên tục tạo ra các tình huống nguy hiểm. Đáp lại lệnh của tôi, tàu thả trôi không phản ứng. Samoilov ba hoa trên băng sóng VHF và cản trở công việc. Có ấn tượng rằng chiếc tàu ngầm đó không có ai điều khiển. Sau đó, tôi đã viết vào sổ nhật ký của mình rằng Samoilov là một con người nguy hiểm, và sớm hay muộn anh ta sẽ tạo ra không tai nạn này thì thảm họa kia. Về sau một chút, Samoilov trở thành người chỉ huy sư đoàn tàu ngầm 26 và nỗi sợ hãi của tôi đã được xác nhận.
.......
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Bảy, 2012, 12:16:47 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #66 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2012, 07:21:09 pm »

(tiếp)



Tàu ngầm đầu đàn đề án 659 "K-45" gia nhập biên chế trang bị của Hải quân Xô Viết vào năm 1961. Vũ khí chính - 6 tên lửa hành trình.

K-45 (thuyền trưởng – trung tá hải quân A.V.Konev, chỉ huy cao cấp trên tàu – đại tá hải quân Yu.M.Samoylov), thuộc quân số sư đoàn tàu ngầm 45, ra khơi để thực hành lặn sâu trong khu vực vịnh Cá Voi. Đó là chuyến ra khơi đầu tiên của  thuyền trưởng trung tá hải quân A.V.Konev. Trên các lối vào khu vực người ta phát hiện ra sự tập trung của rất nhiều tàu thuyền đánh cá đang trong mùa đánh bắt cá trích. Trực ban tác chiến Hạm đội Thái Bình Dương ra lệnh thả neo trong vịnh Cá Voi cho đến sáng, sau đó đi tiếp vào khu vực lặn sâu. Samoilov ra lệnh cho Konev đi tiếp vào vịnh Cá Voi xuyên qua nhóm tàu đánh cá bằng cách tìm kiếm các vùng trống giữa các con tàu. Konev đề nghị đi vòng tránh các thuyền buồm đó theo hướng ra biển. Đáp lại Samoilov nói với Konev: "Mọi người đều đã đi như vậy ... chúng ta cũng sẽ đi như thế".

Samoilov lệnh phải giữ tốc độ 12 hải lý, điều tỏ ra không khả thi trong tình huống này. Họ bắt đầu tiếp cận một nhóm lớn tàu đánh cá tiếp theo, Konev đề nghị: "Cho giảm tốc độ xuống 6 hải lý". Samoilov: "Hãy đi qua một tàu, sau đó hẵng giảm". Ngay từ đầu chuyến ra biển Samoilov đã ra lệnh cho Konev rằng tất cả các thay đổi về hướng và tốc độ chỉ được thực hiện khi ông ta cho phép. Đúng lúc đó tàu đánh cá và bảo quản đông lạnh cỡ lớn BMRT "Novokachalinsk" (Большой морозильный рыболовецкий траулер - БМРТ) bắt đầu rút lui khỏi nhóm tàu đánh cá đang thả trôi, khoảng cách từ tàu ngầm đến nó là 15 kabelt. Trên nền các ánh đèn của các tàu đánh cá, từ K-45 người ta nhận ra động tác cơ động này của BMRT quá muộn. Khi nhìn thấy ánh đèn màu đỏ bên mạn tàu, người ta đảo chiều tiến nhưng tàu ngầm theo quán tính đâm vào đúng phần giữa của BMRT, làm thủng phần mạn tàu đánh cá, bản thân tàu ngầm thì bị xoắn phần mũi thuộc vỏ nhẹ. Không có ai trong số các thuyền viên trên tàu ngầm và BMRT bị thương. Samoilov bị cách tuột chức vụ và cho chuyển ngạch dự bị. Đó là phí tổn của một chính sách cán bộ thô thiển.


Konev Aleksandr Vasilevitch, phó đô đốc đã nghỉ hưu, cựu chiến binh thủy thủ tàu ngầm, thành phố Vladivostok. Những bước đi đầu tiên của sư đoàn tàu ngầm 26 Hạm đội TBD.

Ngày 31 tháng 8 năm 1977 có mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng gửi đến về việc bổ nhiệm tôi làm tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 10.

Chúng tôi đang chuẩn bị cho đợt xạ kích tên lửa, các tàu phải bắn đợt này là K-201 với thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 (trung tá A.F.Kopiev) và K-10 với thủy thủ đoàn tàu ngầm số 273 (trung tá hải quân A.G.Smirnov). Đợt tập bắn đã diễn ra thành công, đạn tên lửa lao trúng mục tiêu.

Ngày 07 tháng 9 năm 1977 tôi được thông báo ở Sovietskaya Gavan trên một tàu ngầm của sư đoàn bên cạnh xảy ra một vụ tai nạn vũ khí tên lửa. Khi bốc xếp một tên lửa đạn đạo thì xảy ra rò rỉ nhiên liệu, từ chỗ rò chất oxy hóa, một chất độc cực mạnh, bắt đầu chảy ra. Trong bốn ngày liền, tại đó người ta phải áp dụng các biện pháp khắc phục mà chưa đạt kết quả. Không có thương vong nhân mạng.

Trong cùng ngày hôm ấy, chúng tôi đã đón được K-429, con tàu đã thực hiện chuyến hành quân di chuyển căn cứ từ Hạm đội Biển Bắc xuyên ngầm dưới lớp băng của Bắc Băng Dương. Chiếc tàu ngầm nổi lên ở một điểm phía bắc eo biển Bering, đi trên con tàu phá băng đến đón là tham mưu trưởng của tôi, đại tá hải quân O.A.Krestovsky. Thuyền trưởng của K-429 là đại tá hải quân Valentin Tikhonovitch Kozlov, sau chuyến hành quân di chuyển được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Chỉ huy cao cấp của chuyến di chuyển này là Phó tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 1 Chuẩn Đô đốc E.D.Chernov.


Chuẩn đô đốc Kozlov Valentin Tikhonovich. Phó Đô đốc Evgeny Dmitrievitch Chernov.

Bay đến đón tiếp các thủy binh Biển Bắc là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.P.Maslov, đồng thời còn có mặt bí thư tỉnh ủy Kamchatka đồng chí Kachin. Ngay sau khi tàu neo đậu xong, Maslov, Kachin, Katchenkov và tôi lập tức xuống tàu ngầm. Đi qua các khoang, chúng tôi để ý thấy tàu đang ở trong tình trạng tốt. Đô đốc V.P.Maslov tập hợp các thuyền viên trong khoang thứ 2 (trong phòng ăn), nói về tình hình quân sự và chính trị phức tạp trong khu vực Hạm đội Thái Bình Dương, giao nhiệm vụ cho thủy thủ đoàn và cám ơn mọi người vì chuyển hành quân di chuyển thành công. Sau đó, trên sân lễ của đơn vị đã tổ chức một cuộc mít tinh, toàn bộ phân hạm đội xếp thành đội ngũ, tiếp theo là các bài phát biểu, người ta trao cho thuyền trưởng tàu ngầm "chìa khóa của Kamchatka” (kích thước hơn một mét), bánh mì và muối, kết thúc mít tinh là các cuộc diễu hành trang nghiêm qua lễ đài. Sau đó có một bữa ăn trưa không rượu bia trên tàu doanh trại nổi PKZ -32.

Ngày 11 tháng 9 được biết chiếc tàu ngầm bị tai nạn tên lửa từ cảng Sovietskaya Gavan được tàu kéo đưa vào vịnh Avachinsky, tại đó trên kinh tuyến vịnh Bechevinskaya, đậu bên cạnh chiếc tàu ngầm này là hai tàu mặt nước có nhiệm vụ bảo vệ và hỗ trợ cho nó. Tại một thời điểm khi vụ nổ xảy ra, phần đầu tên lửa từ tầng thứ 2 bay ra khỏi container rồi rơi xuống điểm cách tàu ngầm một quãng. Ngày 15 tháng 9 tàu ngầm bị tai nạn tên lửa lại được đưa vào cầu cảng trong hải cảng Sovietskaya Gavan.

Một tuần lễ tập huấn-hành quân tại Hạm đội Thái Bình Dương trôi qua. Các tàu ngầm của sư đoàn tàu ngầm số 10 không ra khơi, các thủy thủ đoàn tham gia thiết lập lại trật tự. Ngày 18 tháng 9 từ Vladivostok, trợ lý Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc V.Ya.Korban cùng 40 sỹ quan bay đến phân hạm đội tàu ngầm số 2, tới chỗ chúng tôi kiểm tra tình trạng các tàu ngầm.

"Cuộc thảm sát các hài nhi" bắt đầu với sư đoàn chúng tôi. K-10 với thủy thủ đoàn tàu ngầm 273 phải đi biển vào ngày 19 tháng 9, và đây người ta kiểm tra nó, cho điểm đánh giá "không đạt". Tất nhiên việc kiểm tra có một khuynh hướng nhất định do vụ tai nạn tên lửa vừa qua, nhưng cơ bản các đánh giá là chính xác. Chuẩn Đô đốc V.Ya.Korban trong một cuộc trò chuyện riêng tư đã nói với tôi: "Đừng tin bất cứ ai, xung quanh đều một lũ gian lận, cậu phải kiểm tra kỹ tất cả". Và cứ mỗi ngày tôi lại càng bị thuyết phục bởi điều ông nói.


Ngày 09 tháng 2 năm 1981 trên các trang báo chí của cơ quan trung ương Bộ Quốc phòng Liên Xô, tờ "Sao Đỏ", cũng như trên các trang báo thuộc Hạm đội Thái Bình Dương, tờ "Trực chiến" và các tờ báo nội bộ số lượng ấn bản nhỏ của phân hạm đội xuất hiện cáo phó ...

Ngày 24 tháng 9 có cuộc họp hội đồng quân sự phân hạm đội tàu ngầm số 2, đến tham dự có Phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, Phó Đô đốc E.N.Spiridonov. Vấn đề chính là tai nạn vũ khí tên lửa. Đặc biệt bị khiển trách nặng là tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm số 25 đại tá hải quân O.A.Erofeev và chủ nhiệm chính trị của cùng sư đoàn đó đại tá hải quân Mikhailenko (vụ tai nạn tên lửa xảy ra ở chỗ họ), phó đô đốc Spiridonov cho họ biết: "Nếu sau ba tháng không thiết lập lại tình thế đúng đắn tại sư đoàn, tôi sẽ quẳng các anh xuống địa ngục". Bị khiển trách còn có trưởng ngành vũ khí tên lửa phân hạm đội số 2 trung tá hải quân Revenkov, người đã gắng bào chữa. Spiridonov nói với anh ta: "Nếu tình trạng công tác chuẩn bị vũ khí tên lửa không được cải thiện, tôi sẽ chuyển anh xuống tàu ngầm làm chỉ huy phân đội".

Đầu đạn của tên lửa hạt nhân đã được tìm thấy và đưa về cảng Sovietskaya Gavan.

Từ 12 tháng 11 - 2 tháng 12, tôi ở Primorie, nơi có hai tàu ngầm của chúng tôi K-204 và K-175 đang ở đó. Tôi phải tham gia việc chuẩn bị và điều hành việc tập bắn tên lửa trên tàu ngầm K-175. Tàu đã phóng hai đạn tên lửa, cả hai đều bắn trúng mục tiêu.

Tôi sẽ mô tả một trong những cuộc tập trận sát hạch chiến thuật tại sư đoàn chúng tôi. Buổi sáng tôi dẫn dắt K-48, K-108, K-175 và K-429 ngoài biển, những tàu ngầm này bắt đầu triển khai trong khu vực tập trận, còn buổi chiều tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 phó đô đốc B.I.Gromov cùng một phần ban tham mưu của mình và tôi chuyển sang tàu khu trục "Vliachennyi", sau đó bắt đầu hành quân đến khu vực tập trận.


Tàu khu trục đề án 56 trên biển.

Tàu khu trục đóng vai biên đội tàu chiến (OBK) Hoa Kỳ. Toàn bộ ban tham mưu sư đoàn tàu ngầm số 10 cũng ra biển trên các tàu ngầm để theo dõi và hỗ trợ họ trong cuộc tập trận. Tại lối ra, tàu ngầm K-429 (trên tàu là thủy thủ đoàn số 305 -chỉ huy – trung tá hải quân A.F.Kopiev) phát hiện ra chúng tôi, tàu ngầm bám theo OBK, báo cáo về sở chỉ huy bờ và thông báo trên mạng hiệp đồng chiến thuật các tàu ngầm về tình trạng vị trí của OBK cùng các yếu tố chuyển động của chúng. Các tàu ngầm còn lại xếp thành đội hình chiến đấu, theo dõi OBK bằng khí tài của mình và theo lệnh mà thực hành đòn tấn công tên lửa.

Vào cuối cuộc diến tập, trên tàu K-429 do một lỗi mà thiết bị kéo cứu nạn khẩn cấp (ABU - аварийное буксирное устройство - АБУ) bị ảnh hưởng và dây cáp của nó tuột bung ra trên toàn bộ chiều dài. Người chỉ huy tàu ngầm thông báo: "Tôi không thể lặn, tôi bị hỏng ABU". Chuyên gia cứu nạn khi mã hóa bức điện đã bỏ sót chữ cái "U" đi cùng chữ ABU, thành ra chữ AB, tức là trên bờ người ta nhận được một bức điện theo dạng như sau: "Tôi không thể lặn, tôi có vấn đề về AB". AB - có nghĩa là ắc quy. Trên bờ suy nghĩ, "Chuyện gì ở đó vậy? Nổ? Cháy?" Cuối cùng rồi người ta cũng hiểu ra.
..........
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Bảy, 2012, 08:44:10 am gửi bởi daibangden » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #67 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2012, 12:03:44 am »

(tiếp)

Sau khi kết thúc cuộc tập trận sát hạch chiến thuật chúng tôi bắt đầu thực hành phóng tên lửa P-6. K-48 (trung tá hải quân V.I.Rovensky) là tàu đầu tiên phóng đạn. Người ta cho phép tàu ngầm phóng nhưng tên lửa không khởi động thành công. Cho phép phóng lần thứ hai, đạn tên lửa đã bay đi – rơi trúng bia mục tiêu. Tàu bắn thứ hai là K-108 (đại tá hải quân V.L.Ratnikov). Tàu ngầm được phép bắn và đạn tên lửa bay ra – lao trực tiếp trúng bia mục tiêu. Sau đó, chúng tôi trở về căn cứ.

Sau cuộc kiểm tra đầu tiên sư đoàn tàu ngầm số 10 của Thanh tra Bộ Quốc phòng, chúng tôi được chỉ thị rằng từ nay về sau việc bắn tên lửa sẽ tiến hành trên mục tiêu di động, mà tại thời điểm đó trong Hải quân còn chưa thực hiện, nhưng "cái khó sẽ ló cái khôn".

Sau đó K-178 đề án 658 (trung tá hải quân Galko) tiến hành tập trận với mục tiêu được kéo di động. Tôi được bổ nhiệm làm người lãnh đạo cuộc diễn tập này, và phải ở trên tàu ngầm K-178. Chúng tôi rời căn cứ đến vịnh Sarannaia, thả treo tại đó và chờ đợi tàu kéo bia mục tiêu, buổi chiều bia được kéo đến bởi chỉ huy tiểu đoàn tàu cứu hộ độc lập (tiểu đoàn 438) phân hạm đội tàu quân sự Kamchatka, chuẩn đô đốc A.N.Lutsky.


K-178 đề án 658 ra khơi luyện tập với mục tiêu kéo. – Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Với sự giúp sức của tàu phóng lôi người ta dắt cáp kéo sang tàu ngầm và bắt đầu kéo mục tiêu vào khu vực lặn, ở đó họ lặn xuống và bắt đầu kéo mục tiêu trong tư thế chìm ở các độ sâu khác nhau: 40, 50 và 60 m, cũng như ở các tốc độ khác nhau, nhưng không quá 7,5 hải lý, vì sợ rằng mục tiêu sẽ bị phá hỏng.

Các khu vực huấn luyện chiến đấu, mà trong đó các tàu ngầm của chúng tôi thực hành thao luyện các bài tập của mình, cùng một lúc là khu vực đánh bắt cá, mà hầu như luôn luôn có mặt các loại tàu đánh cá. Điều đó đôi khi cũng gây ra sự cố và tôi sẽ cố gắng chỉ ra trong ví dụ sau đây diễn ra từ thực tế cuộc sống.

Khi ra khơi trong các hoạt động tiền chiến dịch trên tàu ngầm K-43 cùng thủy thủ đoàn 305 (trung tá hải quân V.F.Doroghin), chúng tôi đi qua tuyến đường đo đạc tham số tư thế nổi, xác định độ lệch xong rồi tàu di chuyển tiếp đến khu vực lặn sâu, nơi đó K-429 đang chờ sẵn chúng tôi, trên tàu có phó tư lệnh sư đoàn đại tá hải quân V.T.Kozlov. Chếch về phía Bắc, cách chúng tôi khoảng 10 dặm, có chừng 50 tàu thuyền đánh cá.

Chúng tôi bắt đầu lặn sâu. Đã 56 phút lặn trôi qua, chợt chúng tôi nghe thấy tiếng một cú đập mạnh vào thân tàu, độ sâu lặn đang là 100 m. Sau đó thủy thủ trưởng báo cáo có hiện tượng thất tốc: từ 6,5 hải lý giảm xuống 3,5 hải lý. Tôi hiểu rằng tàu ngầm đã mắc vào lưới quét, biến thành một chú cá bị tàu đánh cá kéo. Tôi yêu cầu K-429 báo cáo tình hình qua đường liên lạc bằng thủy âm ngầm dưới nước . Chúng tôi được trả lời: trong khu vực tàu ngầm của chúng tôi có 2 tàu đánh cá và một tàu trong số đó báo cáo về căn cứ bờ của mình rằng họ đã bắt được "một cái gì đó" và "một cái gì đó" đang kéo họ tới một hướng mà họ chưa biết.  

K-43 giảm tốc độ và chuyển lên độ sâu 50 mét. Không giương kính tiềm vọng và vừa quan sát qua kính tiềm vọng từ hầm tàu theo cách giống như khi nổi lên trong biển băng, chúng tôi cho tàu ngầm từ từ đi lên. Không ngừng quan sát các tàu đánh cá qua hệ thống sonar, chúng tôi cho thả ba phao khí để xác định  vị trí của mình. Tàu đã nổi lên, chúng tôi kiểm tra đường chân trời qua kính tiềm vọng: bên trái hướng 45", ở khoảng cách 150 m có 1 tàu đánh cá, bên phải hướng 90", ở khoảng cách 6 kabelt có 1 tàu nữa. Chúng tôi cho thổi ballast chủ, đội thủy thủ neo đậu trèo lên mặt boong. Cuối cùng chúng tôi đã thoát được khỏi đường dây cáp lưới quét, mà chiếc tàu seiner đánh cá đang dùng tời kéo lên boong tàu mình. Trường hợp tương tự cũng xảy ra với một tàu ngầm tuần dương chiến lược mang tên lửa đạn đạo (RPKSN) của sư đoàn tàu ngầm số 8.


K-201 ra khơi thao luyện và trả bài kiểm tra khoa mục huấn luyện, năm 1984. Trong khoang chắn buồng bền trên tháp chỉ huy tàu ngầm (trái sang phải): trợ lý thuyền trưởng thiếu tá hải quân S.A.Shevchenko, thuyền trưởng tàu ngầm đại tá hải quân B.G.Blednov, tư lệnh sư đoàn đại tá hải quân N.N.Alkaev (ảnh do N.N.Alkaev cung cấp). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Khi lập kế hoạch tập bắn tên lửa đôi khi cũng xảy ra chuyện nọ chuyện kia, tôi sẽ chỉ ra trong ví dụ sau. Tôi ra biển chỉ huy tập bắn ngư lôi cho K-201 (trung tá hải quân B.G.Blednov), cuộc xạ kích thành công. Vào buổi chiều khi về tới căn cứ, người ta báo cáo tôi rằng, tại phân hạm đội tàu quân sự Kamchatka theo lệnh của chuẩn đô đốc tư lệnh G.A.Khvatov, họ từ chối (tham gia) thực hiện các cuộc xạ kích tên lửa trong kế hoạch, các cuộc xạ kích này đã được chúng tôi chuẩn bị hai tháng nay. Chuyện đó đã được họ báo cáo lên bộ tham mưu hạm đội.

Tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương, Phó Đô đốc R.A.Golosov ra lệnh cho G.A.Khvatov cung cấp vật chất đảm bảo cho các cuộc xạ kích tên lửa. Khvatov ngay lập tức gọi điện thoại cho Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, Đô đốc Sidorov, và nói: "Tư lệnh đã ra chỉ thị tiết kiệm nhiên liệu, vậy tư lệnh hãy quyết định có chia sẻ nguồn đảm bảo cho cho các cuộc xạ kích tên lửa của sư đoàn tàu ngầm 10 hay không”. Sidorov trả lời: "Anh hãy thỏa thuận với Pavlov". Tôi hỏi tham mưu trưởng phân hạm Kamchatka G.F Avdokhin về quyết định tiếp theo và nhận được câu trả lời: "Tôi chẳng biết gì cả".

Ngày hôm sau lúc 11,00 giờ G.F.Avdokhin gọi điện đến thông báo rằng cần có người đến phân hạm Kamchatka (KBF-КВФ)lập kế hoạch bắn tập tên lửa, mặc dù đây là chức năng của bộ tham mưu phân hạm đội. Làm gì đây? Tôi đi xe U oát đến bộ tham mưu KVF với trưởng ngành tên lửa sư đoàn chúng tôi trung tá hải quân Kasko. Chúng tôi đã tới nơi, đã lên kế hoạch các hoạt động và đã thảo luận tất cả các vấn đề. Mãi chiều tối, chúng tôi mới trở về nhà.

Sau một ngày đêm chúng tôi xây dựng xong bản hướng dẫn về xạ kích tên lửa tại văn phòng của tôi. K-201 (trung tá hải quân B.G.Blednov) cần phải bắn một đạn tên lửa vào mục tiêu cố định còn K-320 (trung tá hải quân N.V.Anikin) cần phải bắn bốn đạn tên lửa vào mục tiêu di động, mục tiêu này sẽ được kéo bởi K-178 ở tư thế bơi ngầm.

Sáng sớm, đi trên một tàu phóng lôi chúng tôi đến vịnh Ilitchev, tại đó chúng tôi lên tàu tuần tra "Storozhevyi" và ra khơi.


SKR "Storozhevyi" đề án 1135.

Tôi hướng dẫn các bài tập chiến thuật và xạ kích tên lửa. Chúng tôi bắt đầu tập luyện, các tàu ngầm trong tư thế lặn thực hành theo dõi OBK (SKR "Storozhevyi"), một giờ sau khi bắt đầu buổi tập, trực ban tác chiến KVF chuyển cho tôi một bức điện: "cho tàu ngầm nổi lên ngay lập tức, áp dụng các biện pháp đưa tàu ngầm nổi lên mặt biển, bởi vì một tàu ngầm nguyên tử của sư đoàn tàu ngầm số 45 đang trở về căn cứ sau khi hoàn thành chiến dịch phục vụ chiến đấu". Thuyền trưởng chiếc tàu ngầm này được trực ban tác chiến ra lệnh nổi lên hành trình trên mặt nước, nhưng thuyền trưởng không hiểu vì lý do nào đó vẫn tiếp tục đi ngầm. Sau khi thực hiện tất cả các biện pháp tôi đã chuyển được lệnh cho K-212 và K-320 nổi lên mặt biển, mệnh lệnh này đã được hoàn thành. Sau hai giờ, người sĩ quan trực ban tác chiến cho phép cuộc tập luyện tiến hành tiếp tục, và chúng tôi đã thực hiện tiếp.

Trên SKR "Storozhevyi" chúng tôi đến khu vực bố trí trận địa hỏa lực, tại đó chúng tôi gặp K-201. Tôi được trực ban tác chiến cho biết toàn bộ các lực lượng đã được triển khai. Đúng giờ quy định K-201 thực hành xạ kích và đạn phóng trúng trực tiếp mục tiêu. Máy bay-quan sát báo cáo trong khu vực bia mục tiêu có tàu ngầm nguyên tử Hải quân Hoa Kỳ đang ở trên chiều sâu kính tiềm vọng quan sát cuộc xạ kích của chúng tôi. Trực ban tác chiến không tiếp nhận báo cáo đó một cách nghiêm túc. Bắt đầu chuẩn bị cho đợt xạ kích của K-320. Người ta truyền lệnh cho K-178: "Chuẩn bị cho kéo bia mục tiêu". Thuyền trưởng K-178, rõ ràng đã quên mất bản hướng dẫn và các tài liệu đang nằm trong tay anh ta. K-178 lặn xuống theo mệnh lệnh nói trên và bắt đầu kéo bia mục tiêu, quên cả việc báo cáo hành động lặn của nó. Chúng tôi rơi vào trạng thái vô cùng căng thẳng, đặc biệt là khi đường liên lạc với tàu ngầm không thiết lập được.
........
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Bảy, 2012, 10:52:13 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #68 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2012, 11:19:19 am »

(tiếp)



Phóng tên lửa chống hạm "Amethyst" từ tàu ngầm đề án 670. Tên lửa đi lên từ độ sâu dưới mặt nước biển.

Tôi ra lệnh cho máy bay báo cáo xem K-178 đang làm gì, nó trả lời đang quan sát bia mục tiêu còn K-178 không phát hiện ra. Tôi giải thích toàn bộ tình hình cho phi công và yêu cầu một lần nữa quan sát bia mục tiêu ở độ cao thấp. Máy bay hạ sát xuống mặt biển kiểm tra và báo cáo: "K-178 không thấy". Chỉ khi đó tôi mới hiểu K-178 đang bắt đầu kéo bia mục tiêu ở tư thế bơi ngầm, và sau đó đã cho phép K-320 khởi động quá trình phóng tên lửa . Ba đạn tên lửa đã phóng đi thành công và rơi trúng mục tiêu, quả đạn thứ tư bay ra khỏi container rồi ngay lập tức rơi xuống nước và chìm luôn. K-201 nhận điểm xạ kích tên lửa "xuất sắc", còn K-320 được điểm "tốt."


Hoàn thành việc thực hiện thao tác cơ động “dốc gù”. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - Saint-Petersbourg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Thông thường trong mùa đông vì các điều kiện băng giá phức tạp nên không thể thực hiện bắn ngư lôi tại khu vực huấn luyện chiến đấu. Vậy nhưng vào tháng Hai, tôi vẫn ra biển trên K-134 hướng dẫn bắn ngư lôi. Toàn bộ vịnh Avachinsky đóng băng, bắn ngư lôi là chuyện không thể. Đô đốc Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương V.P.Maslov cho phép thực hiện tất cả các cuộc xạ kích ngư lôi bằng ngư lôi bọt (ngư lôi-đần, chàng-bong bóng: торпеда-дура, пузырь-молодец) mà chúng tôi đã thực hiện thành công.

Tôi không nhớ được bất kỳ một hoạt động tập huấn chỉ huy nào được tiến hành bởi các bộ tham mưu cấp cao hơn mà mang lại được một chút lợi ích. Các cuộc họp về chuyên đề đảm bảo độ bí mật cho các tàu ngầm đã diễn ra nhiều, và bộ chỉ huy phân hạm đội, bộ chỉ huy sư đoàn chăm chú lắng nghe, lãnh đạo tất cả các cuộc hội họp đó là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.P.Maslov. Nhưng về việc giữ bí mật các hành động của tàu ngầm tại các cuộc họp này thì tôi chẳng nghe thấy điều gì mới: đổ một chiếc ly không chứa gì qua lưới lọc. Sau đó chúng tôi chuyển sang nghe tư lệnh phân hạm đội. Người đầu tiên đọc báo cáo là tư lệnh phân hạm tàu ngầm số 2 phó đô đốc B.I.Gromov, ông liệt kê một số nguyên nhân cản trở việc tổ chức huấn luyện chiến đấu và đảm bảo sẵn sàng chiến đấu cho các tàu ngầm

Maslov nhận xét: "Những quả trứng gây khó cho chàng vũ công tồi". Tiếp theo, cấp phó của tôi phụ trách ngành cơ điện hảng hải đại tá hải quân Baklashov bị người ta hỏi về tiếng ồn. Anh ta đáp: Tại nhà máy "Zvezda" không có phòng thí nghiệm về tiếng ồn". Maslov: "Anh hỏi ai mà biết?" Baklashov: "Tôi đã nói chuyện với Dolgov giám đốc nhà máy". Maslov: "Nhưng tôi nghĩ anh đã hỏi cô thư ký của Dolgov, cô ta không nói cho bất cứ ai biết đâu".

Tiếp theo tất cả vẫn cùng một kiểu chán phè. Mọi người bắt đầu nghe TMT phân hạm đội Kamchatka chuẩn đô đốc G.F.Avdokhin. Người ta đề nghị ông đọc tên theo họ các thuyền trưởng tàu ngầm và các trợ lý chính của thuyền trưởng cho đến giờ vẫn chưa thi được lấy bằng điều khiển tàu ngầm độc lập, ông ấy liệt kê ra. Sau đó người ta bắt đầu đặt câu hỏi với Katchenkov. Maslov: “Có bao nhiêu tàu ngầm đang sửa chữa ở Primorye ? " - Không biết. "Có bao nhiêu tàu ngầm ở sư đoàn tàu ngầm số 45?" - Không biết. "Chính xác cá nhân anh đã làm những gì để góp phần nâng cao kỷ luật quân đội và cải thiện chất lượng trực ban-canh gác?" - Katchenkov: "Vấn đề này tôi được báo cáo ...". Maslov: "Ồ không, tôi hỏi chính xác những gì cá nhân anh đã tự làm cơ?" - Im lặng. Sau đó Maslov ra lệnh cho Katchenkov và Gromov hãy cho biết đặc điểm tích cách của các đơn vị trưởng, thuyền trưởng và các chủ nhiệm chính trị, Katchenkov không thể nói được điều gì thực sự có ý nghĩa về các chủ nhiệm chính trị của mình, ông ấy chỉ nói được những điều nhảm nhí.


Bố trí bên trong tàu ngầm nguyên tử đề án 667-B. 1 - ống phóng ngư lôi 533 mm và 400 mm đằng mũi, 2 – đạn ngư lôi dự trữ, 3 – cửa bốc xếp đạn ngư lôi vào tàu, 4 – anten hệ thống sonar "Kerch", 5 - ắc quy, 6 - thiết bị nổi-cứu hộ, 7 – khu chắn của buồng bền, 8 - cột kéo xếp kính tiềm vọng và ăng-ten, 9 - phòng điều khiển trung tâm, 10 – hầm chứa (phóng) tên lửa đạn đạo R-29, 11 - cửa nắp hầm tên lửa trên cấu trúc boong thượng, 12 – khoang đặt lò phản ứng, 13 - khoang GTZA, 14 – trục chân vịt đẩy, 15 - chân vịt đẩy, 16 – cánh đuôi đứng, 17 – vỏ bền, 18 – vỏ nhẹ. - Site "ATRINA» • SSBN đề án 667-B "Murena» • Delta-I class.

Tối ngày 29 Tháng Bảy năm 1978 trong khu vực tiến hành lặn sâu, hai tàu ngầm nguyên tử của sư đoàn tàu ngầm số 25 đâm vào nhau, cả hai đều là tàu ngầm tuần dương chiến lược. K-477 đang thực hành lặn sâu, chỉ huy cao cấp trên tàu là phó tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 chuẩn đô đốc A.N.Lutsky. K-171 là tàu đảm bảo công tác lặn sâu chỉ huy cấp cao trên tàu là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm 25 chuẩn đô đốc V.V.Privalov. Trước khi nổi lên, người ta đã bỏ qua các hành vi vi phạm của cả 2 tàu ngầm góp phần gây ra vụ va chạm của chúng. K-477 đâm phần mũi vào đáy K-171, kết quả cả hai đều bị các vết thương khác nhau, chỉ có thể loại bỏ tại nhà máy. Sự vụ đồi hỏi phải cho tàu lên dock nổi. Một tàu ngầm tuần dương chiến lược cần phải bước vào trực ban chiến đấu, tàu kia đi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Tất cả những điều này, tất nhiên, đã bị phá sản.

Trong thời tôi còn phục vụ, người ta dành nhiều sự quan tâm cho việc đi biển trong các nhóm chiến thuật. Ví dụ, cùng với K-320 và K-201, chúng tôi đã hoàn thiện các yếu tố bơi tàu trong nhóm chiến thuật. Thanh tra Bộ Quốc phòng đã chỉ ra rằng trong sư đoàn chúng tôi việc cần làm là hoàn thiện các hành động trong nhóm chiến thuật, và tôi thuyết phục bộ tham mưu và các thuyền trưởng tàu ngầm tin vào điều đó. Chúng tôi bắt đầu thực hiện liên lạc trong mạng hợp đồng chiến thuật. Nếu có dù chỉ một tàu ngầm nguyên tử của chúng tôi ra khơi, các tàu ngầm còn đậu ở bến tàu sẽ mở máy thu trực ban trong mạng hợp đồng chiến thuật. Từ biển, tàu ngầm chuyền điện tín về bờ và bức điện ấy được lặp lại trong mạng hợp đồng chiến thuật. K-320 và K-201 bắt đầu bơi chung và thực hành liên lạc thủy âm ngầm dưới nước. Ở tốc độ 6 hải lý đã đạt được những kết quả sau: 10 dặm: liên lạc điện thoại, 13 dặm: liên lạc mã hóa. Tiếp theo bắt đầu tập luyện và hoàn thiện các yếu tố cơ động chung tại tốc độ 6 hải lý và 18 hải lý.


Neo tàu vào cầu cảng sau khi K-201 trở về từ chiến dịch đi biển thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vịnh Krasheninnikov, tháng 3 năm 1979. Hàng đầu: thủy thủ trưởng chuẩn úy hải quân A.I.Isaev. Hàng thứ hai (từ trái sang phải): trung tá hải quân A.F.Kopiev, thuyền trưởng thứ hai - đại tá hải quân A.A.Shikov, thuyền phó chính trị, đại tá hải quân A.M.Sarnitsky, trợ lý chính cho thuyền trưởng E.P.Myakishev (ảnh của A.F.Kopiev cung cấp). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Người ta thực hành xác định khoảng cách đến mục tiêu bằng phương pháp tam giác đạc. Khi xác định vị trí tiếp theo họ nhận được một sai số 8,5 dặm, vượt quá tất cả các tiêu chuẩn. Tôi phải nói rằng, trên tàu ngầm, hoa tiêu thứ 2 là người được biệt phái công tác, thiếu tá hải quân Chirkov (thời điểm này tôi tạm bỏ qua). Vâng, đó là Chirkov của thủy thủ đoàn tàu ngầm số 273, mà tôi đã cùng họ đi biển thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, người ta vẫn tiếp tục dạy dỗ anh ta ... Vì sai số này mà tôi bắt đầu tìm hiểu, và, tất nhiên, Chirkov, làm "hài lòng" tôi bởi sự thiếu hoàn toàn kiến thức về tính toán dòng chảy.

Các cuộc kiểm tra sư đoàn của thanh tra Bộ Quốc phòng

Ngày 05 Tháng 9 năm 1978 đoàn thanh tra của Bộ Quốc phòng đến với thành phần như sau : Phó Đô đốc A.M.Gontaev. Chuẩn Đô đốc I.I.Karachev, Chuẩn Đô đốc V.N.Chernavin và cùng với họ là một nhóm sĩ quan.

Phó Đô đốc A.M.Gontaev nghe báo cáo của tư lệnh phân hạm tàu ngầm số 2 Phó Đô đốc Gromov và chủ nhiệm chính trị - Ủy viên Hội đồng quân sự chuẩn đô đốc Katchenkov, sau đó thông báo cho họ kế hoạch kiểm tra. Cần phải kiểm tra sư đoàn tàu ngầm số 8 và số 10. Họ bắt đầu bằng việc kiểm tra các khẩu đội tác chiến hạm (KBR - КБР) trên tàu ngầm. Ba khẩu đội của các tàu được gửi đi kiểm tra: K-429 (đại tá hải quân V.T.Kozlov), thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 (trung tá hải quân A.F.Kopiev) và K-175 (trung tá hải quân A.A.Krylov). Phó Đô đốc A.M.Gontaev và Chuẩn Đô đốc I.I.Karachev kiểm tra các khẩu đội. K-429 kiểm tra đầu tiên trên thiết bị huấn luyện mô phỏng "Brest". Nhiệm vụ là tấn công nhóm tàu sân bay xung kích có tốp tàu sân bay xung kích chống ngầm làm nhiệm vụ phòng thủ chống ngầm đi kèm (AUG có APUG PLO), đồng thời cần phải tấn công bằng ngư lôi tàu sân bay đổ bộ chở máy bay trực thăng, còn tấn công tàu sân bay xung kích bằng tên lửa "Amethyst". Trước khi thực hiện các bài tập, toàn bộ thành viên của khẩu đội tác chiến hạm phải trả lời các câu hỏi chuyên ngành và mỗi câu đều được cho điểm đánh giá. Trong quá trình thực hiện các bài tập trên thiết bị huấn luyện mô phỏng, KBR của K-429 được đánh giá "đạt", điểm mà khi thanh tra là hoàn toàn thỏa mãn.


Cờ tặng của Bộ Quốc phòng năm 1977 cho K-429.

Tiếp theo người ta kiểm tra KBR thuộc thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305 (trung tá hải quân A.F.Kopiev). Thực hiện các bài tập tương tự, thủy thủ đoàn tàu ngầm này hành động tự tin hơn và bằng ý chí quyết tâm cao hơn, kết quả họ được điểm đánh giá "tốt". Sau đó người ta kiểm tra KBR thuộc thủy thủ đoàn tàu ngầm trên K-175 (trung tá hải quân A.A.Krylov) và K-10 (trung tá hải quân V.N.Medvedev), ở đây đã xảy ra một chướng ngại lớn, họ bị đánh giá điểm "không đạt", không phải vì họ thiếu kiến thức và kỹ năng, mà do sự hoảng hốt trước các quan chức cấp cao và sự hồi hộp lo lắng không cần thiết. Sau đó người ta cho họ cơ hội để làm lại, và họ được đánh giá điểm "đạt yêu cầu."
.........
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2012, 12:36:32 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #69 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2012, 06:48:46 pm »

(tiếp)

Ngày 06 tháng 9 kiểm tra các KBR, kiểm tra huấn luyện thể chất và làm việc với các thành viên trên K-134 và K-204. Điểm đánh giá đều tích cực.

Ngày 8 tháng 9 kiểm tra việc đào tạo bồi dưỡng lý luận Marxcist-Leninist trên К-10 и К-175. Điểm đánh giá đều tích cực.

Đầu giờ buổi chiều toàn thể phân hạm đội đón K-212 (trung tá hải quân A.A.Gusev) và K-325 (trung tá hải quân V.P.Lushin), những người vừa đến từ Hạm đội Biển Bắc, sau khi thực hiện chuyến di chuyển trong đội hình một nhóm chiến thuật dưới lớp băng của Bắc Băng Dương. Chỉ huy nhóm chiến thuật là tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 1 chuẩn đô đốc R.A.Golosov, đảm nhiệm cương vị chỉ huy cao cấp trên tàu ngầm kia là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 11 đại tá hải quân E.A.Tomko. Người ta tổ chức mít tinh, bàn giao chìa khóa tượng trưng của Kamchatka, bánh mì với muối, và heo quay. Đoàn thanh tra Bộ Quốc phòng tiếp tục công tác kiểm tra.


Egor Andreevitch Tomko

Để tham gia tập trận sát hạch chiến thuật, đoàn Thanh tra đã chỉ định ba tàu ngầm (K-10, K 201 và K-429), tiếp theo các tàu ngầm này cần phải thực hành phóng đạn thật tên lửa. Ngày 10 tháng 9 tại phân hạm đội đã tuyên bố lệnh triệu tập khẩn, sau đó toàn phân hạm chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu đầy đủ. Các tàu ngầm của chúng tôi đầu tiên đi ra khơi đến khu vực đã định, tới các các điểm triển khai phân tán, tất cả được thực hiện kịp thời gian và không có gì sơ suất.

Trước khi diễn tập chiến thuật, tôi đã lập kế hoạch cho tàu ngầm K-429 làm nhiệm vụ theo dõi, nhưng thuyền trưởng đại tá hải quân V.T.Kozlov yêu cầu tôi không đặt nhiệm vụ theo dõi cho anh, bởi vì anh được huấn luyện rất tồi về việc này. Sau đó, tôi trao nhiệm vụ trên cho K-201 (với thủy thủ đoàn tàu ngầm số 305), thuyền trưởng trung tá hải quân A.F.Kopiev xác nhận rằng ông sẽ hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ngày 14 cuộc tập trận chiến thuật đã được tổ chức. Tôi đi biển trên trên K-201 với cương vị chỉ huy nhóm xung kích. Trong hầu hết thời gian các bài tập trận, K-201 đã theo dõi thành công OBK và truyền điện tín vào bờ và vào mạng hợp đồng chiến thuật, thuyền trưởng trung tá hải quân A.F.Kopiev đã làm sống lại niềm hy vọng của tôi. Tất cả mọi thứ đều tốt đẹp, nếu như K-201 không chịu một thất bại bất ngờ: bộ lọc xử lý cơ học nước chu trình 2 bị thủng miếng đệm và nước bắt đầu chảy ra khỏi chu trình thứ 2 vào hầm tàu. Bắt buộc phải ngắt lò phản ứng, nổi lên mặt biển, loại bỏ lỗi và khởi động lại GEU, thời gian mất khoảng ba giờ. Chúng tôi không thể bắt kịp OBK nữa. Tất cả ba tàu ngầm đều thực hiện đòn tấn công tên lửa giả định theo các số liệu của các phương tiện quan sát và tính toán của bản thân mình.

Sau đó chúng tôi tiến hành phóng đạn thật tên lửa. Các tàu ngầm đã phóng đạn xong, K-429 (điểm "xuất sắc"), K-201 (điểm "tốt"). Cuộc xạ kích cuối cùng của K-10 diễn ra một giờ trước khi mặt trời lặn, nhưng bỗng xuất hiện hai tàu đánh cá Hàn Quốc, những chiếc tàu này phải rút khỏi khu vực tập bắn, cuộc xạ kích chậm lại một giờ, nghĩa là đạn bắn đi gần như trong bóng tối. Không thể làm như vậy, vì máy bay quan sát không nhìn thấy được kết cục tên lửa có bắn trúng mục tiêu hay không. Phi công báo cáo rằng đạn tên lửa dường như không bay tới bia mục tiêu, nhưng anh ta không khẳng định chính xác. Sau đó một tàu kéo đi đến gần mục tiêu, nhưng do bóng tối nên không thể xem xét được điều gì.


Thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử "K-10" đề án 675 đại tá hải quân Valery Nikolaevitch Medvedev và vợ ông Tatiana Sergeyevna.

Những báo cáo gần đúng và không chắc chắn trên được chuyển lên Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Đô đốc V.P.Maslov và Nguyên soái-Thanh tra Bộ Quốc phòng K.S.Moskalenko. Tư lệnh phân hạm đội tàu ngầm số 2 nài nỉ cho tiến hành bắn lại. Vào ban đêm, tôi phải đi đến khách sạn gặp Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương và báo cáo tình hình. Tư lệnh lắng nghe tôi và ông đã cấm thực hiện các cuộc bắn lại.

Ngày 17 tháng 9 bia mục tiêu được kéo về căn cứ. Đại tá hải quân Timchuk từ bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương và tôi cùng với các sỹ quan thanh tra khác đến kiểm tra bia mục tiêu, tại đây ngay lập tức chúng tôi phát hiện ra mảnh vỡ của một điện cực lưới, và trên sàn boong có các chi tiết và mảnh vỡ của đạn tên lửa. Một biên bản được soạn thảo. Sau khi Phó Đô đốc A.M.Gontaev và Phó Đô đốc B.I.Gromov từ biển trở về, tôi báo cáo tình hình với họ, và chúng tôi đi tàu cao tốc đến chỗ neo đậu bia mục tiêu. Ở đó, tôi chỉ ra nơi đạn rơi và xuất trình biên bản cùng các mảnh vỡ và các chi tiết của tên lửa.

Sau đó, Phó Đô đốc A.M.Gontaev gọi tôi và hỏi: "Người của các anh không lén bỏ vào bia mục tiêu những mảnh vỡ và chi tiết này đấy chứ?" Cá nhân tôi hiểu câu hỏi như sau: cậu không lừa dối đấy chứ? Vì vậy, tôi trả lời: "Tôi không phải một kẻ dối trá! Không ai và không có gì được lén bỏ vào". Cuối cùng, cuộc xạ kích của K-10 được đánh giá là "đạt yêu cầu". Khi bắn ngư lôi, các tàu ngầm thực hiện là K-429, K-10, và K-175, các thủy thủ đoàn tàu ngầm được điểm đánh giá "tốt".

Cần phải nói một vài lời về Phó đô đốc A.M.Gontaev. Bình tĩnh, lịch sự, thông minh, lịch thiệp, can đảm, phát triển toàn diện, công bằng. Nguyên soái K.S.Moskalenko ném cho ông một bức điện kiểu như: "Đồng chí Gontaev, họ đang lừa và nói dối, chỉ có đồng chí là không thấy gì". Mặc dù vậy, Phó đô đốc Gontaev có đủ can đảm phân tích chi tiết cuộc xạ kích và đánh giá nó khách quan, điều mà ở thời ấy là một sự kiện hiếm hoi. Hầu hết người ta sống theo nguyên tắc "thủ trưởng dạy gì em ạ?" ("чего изволите").


Gontaev Aleksei Mikhailovitch. - Trên biển và trên đất liền. A.L.Lifshits, St Petersburg, 2005-2007.
........
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2012, 07:30:37 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM