Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:25:49 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206116 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #80 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2012, 01:18:10 am »

(tiếp)

Sự độc đáo của tàu ngầm nguyên tử đề án 705 (705K) là ở thiết bị năng lượng chính GEU. Về nó chúng ta có thể nói hàng giờ, nhưng tôi sẽ chỉ nói điều chủ yếu.

Như ta đã biết, thiết bị năng lượng hạt nhân hoạt động với chất mang nhiệt kim loại lỏng chu trình 1. So với lò phản ứng nước-nước (VVR), nó có một loạt ưu thế đáng kể.

Nhiệt độ sôi cao của chất mang nhiệt tạo khả năng làm giảm áp lực làm việc trong chu trình 1 và làm tăng đáng kể nhiệt độ tại cửa ra của lò phản ứng. Trong thực tế áp lực của chu trình 1 chỉ được tạo ra bởi độ chênh lệch tại các máy bơm (ЦНПК). Điều này làm tăng độ tin cậy của thiết bị năng lượng chính, làm giảm độ dày của chu trình 1, còn sau đó, làm giảm đáng kể trọng lượng và kích thước của toàn bộ hệ thống.

Sự gia tăng nhiệt độ tại cửa ra lò phản ứng đã tạo ra khả năng có được các thông số hơi cao và hiệu suất nhiệt cao, giảm kích thước của các máy phát điện hơi nước. Áp lực nhỏ hơn của chu trình 1 so với áp lực hơi chu trình 2 ngăn ngừa việc tụt áp do trường hợp hợp kim hoạt tính bị rò rỉ trong các máy phát điện hơi nước. Chính qua đó mà tạo thuận lợi cho cuộc đấu tranh sinh tồn của tàu ngầm trong trường hợp bức xạ nguy hiểm.

Tất cả mọi thứ ở chỗ chúng tôi đều đã xảy ra, máy phát hơi "chảy" và hợp kim "đổ" vào khoang, nhưng trong chu trình 2 không hề tụt áp. Vâng, sự khởi động vận hành thiết bị năng lượng chính với lò VVR đơn giản là vô ước (và việc ngắt lò cũng như vậy): chúng tôi "khởi động" trong thời gian một giờ, còn khi mà các thành viên ngành tác chiến 5 làm việc tốt - thậm chí có thể nhỏ hơn, và đã nhiều lần làm ngạc nhiên những người xung quanh bằng việc khởi hành rời cầu cảng nhanh.

Điểm đánh giá tốt nhất thể hiện kỹ năng của thủy thủ đoàn - đó là khi đã đưa được thiết bị năng lượng chính vào hoạt động, nhổ dây neo, rời bến và lấy hướng ra khỏi căn cứ, làm xong tất cả những việc ấy - chỉ trong một giờ. Thực tế đã đạt được như vậy, tuy nhiên, không phải tất cả mọi con tàu đều làm được, nhưng đã có.

Và trong chiến thuật hoạt động điều đó rất cần thiết để nhanh chóng phân tán lực lượng tránh đòn tấn công. Vì vậy, trong trình tự ra khỏi căn cứ, theo quy định, các tàu ngầm của chúng tôi xuất phát đầu tiên. Tàu ngầm nguyên tử của chúng tôi không cần bước chuyển đặc biệt sang thiết lập các tham số cao hơn của GEU khi tăng tốc độ tàu, như trên các tàu ngầm sử dụng lò phản ứng VVR.

Một lần tại các bài diễn tập, tôi làm trung gian trên một tàu ngầm nguyên tử có lò VVR, thuyền trưởng của nó phát hiện ra một tàu ngầm nước ngoài trong khu vực của chúng tôi, và bắt đầu bám theo. Gã "nước ngoài" nhận ra rằng mình đã bị phát hiện, anh ta mở hết tốc lực và cố dứt đuôi.
- Mikhalytch! Hãy tăng tốc lên 30, nó sẽ không thoát đâu! - Tôi kêu lên thích thú.
- Đồ quỷ! Chỉ có 20 thôi - thuyền trưởng cau có lẩm bẩm.

Và tôi cũng vung tay lên, sau khi nhớ đến các thông số... Chúng tôi, các thuyền trưởng - "các nhà chỉ huy cỗ máy tự động", đã quen với một tâm lý chỉ huy khác ...
Trên các "cỗ máy tự động" của chúng tôi hệ thống sonar không đơn giản. Phạm vi năng lượng của các chế độ, tất nhiên vẫn kém hơn của các tổ hợp về sau, nhưng chính bản thân các chế độ cũng nhiều hơn - trên các tàu ngầm khác một số chế độ trong số đó cho đến nay cũng vẫn chưa có.

Có lẽ không phải lúc nào các chế độ bổ sung này cũng làm việc tốt, nhưng khi có các chuyên gia thủy âm xuất sắc như Oleg Leonidovitch Davidenko, tôi "không biết thế nào là khổ". Không chỉ là một kỹ sư vô tuyến điện tử bẩm sinh, ông còn biết khéo léo tìm ra bất kỳ mục tiêu nào trong mớ hỗn độn âm thanh của biển. Tạo khả năng cho điều này là kiến thức tích lũy được sử dụng lần đầu tiên về mục tiêu trong tiếng ồn, cái được gọi là "tiếp xúc của thiết bị", khi tiếng ồn của mục tiêu còn chưa nghe thấy, mà dấu vết mục tiêu đã có trên màn hình. Sau đó điều này đã được thực hiện ở các tổ hợp sonar khác.

Việc làm chủ một tàu ngầm nguyên tử có mức độ tự động hóa cao và phức tạp, tất nhiên, là nhiệm vụ không hề dễ dàng. Không phải tất cả trong thực tế đều được như dự định, không phải tất cả các hướng dẫn khai thác các hệ thống và cơ cấu đều đáp ứng được thực tế cuộc sống.
.........
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Bảy, 2012, 11:46:09 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #81 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2012, 03:27:00 pm »

(tiếp)



Tôi nhớ lại trong những chiến dịch đi biển đầu tiên chúng tôi "đốt cháy" ổ đỡ động cơ điện tốc độ cao như thế nào. Việc thay thế chúng khi ở trên biển là cả một quá trình rất tốn kém thời gian, nhưng chúng tôi đã làm được. Thậm chí còn dũng cảm báo cáo khi về đến căn cứ rằng chúng tôi đã thay thế các ổ đỡ trên 10 động cơ trong những điều kiện chật chội không thể chịu được. Nhưng rồi chúng tôi sớm nhận ra tốt hơn là "thấm" mỡ theo chu kỳ nhất định, như trước kia, còn hơn là chuốc khổ đau trên biển. Mà các hướng dẫn sử dụng cho biết khi ở trên biển - không cần bảo dưỡng chúng. Chuyện như vậy cũng xảy ra với tổ hợp ngư lôi-tên lửa và một số hệ thống khác.

Sự không phù hợp giữa lý thuyết và thực hành bắt buộc tất cả các thuyền viên phải suy nghĩ và dự đoán các trường hợp khẩn cấp - chế độ "dao động đa hài chờ", như đôi khi chúng tôi vẫn hay cười, và thường là "cười ra nước mắt".

Một lần trong biển mùa đông đang có bão, trên tàu chúng tôi xảy ra 1 tình huống khẩn cấp nặng nề với GEU - mất nguồn nước cấp, còn thiết bị bay hơi ban đầu đã không hoàn thành nhiệm vụ bổ sung, - các chuyên gia ngành tác chiến 5 đã tìm ra 1 giải pháp thông minh, nhưng đi ngược lại hướng dẫn sử dụng. Là thuyền trưởng chỉ huy, tôi đã quyết định hành động "theo lý trí", theo kiến nghị của các chuyên gia, phù hợp với tình hình.

Chúng tôi đã khắc phục được tai nạn, nhưng còn nhiệm vụ - lần duy nhất trong đời tôi đã không hoàn thành, chúng tôi quay trở về căn cứ trong trạng thái bơi nổi. Chuyện đã xảy ra ở đây! .. Ủy ban của Hạm đội xử lý chúng tôi nghiêm khắc: hành động sai, không tuân thủ hướng dẫn sử dụng, các thuyền viên ngu ngốc và vô trách nhiệm, v.v. Tất cả các chuyên gia và ban chỉ huy tàu ngầm đã bị trừng phạt, nhưng người ta cũng triệu tập đại diện giới khoa học và ngành công nghiệp để phân tích và kết luận. Ý kiến của họ cũng rất chia rẽ, kết quả là tôi phải kêu lên "Các Anh, những cái đầu rỗng tuyếch (tất nhiên là không phải), suốt ba tháng ngồi trong phòng ấm áp phân tích, vậy mà không thể có nổi 1 ý kiến thống nhất, còn tôi nước lên tới cổ trên cầu điều hướng chỉ có 2 ngày để ra quyết định", rồi tôi đóng sầm cửa lại.

Thật xấu hổ: hóa ra để trở thành anh hùng, phải hành động theo hướng dẫn, làm thiệt hại đến con tàu và tính mạng con người... Còn ở đây chúng tôi đã trở về kịp thời bằng hành trình của chính mình, tất cả đều còn sống ... Sự thật thì Sasha Reshetnev đã được chúng tôi giữ chân cho anh lộn đầu xuống để anh vặn một con ốc bằng một tay (nếu không thì không thểcnf cách khác, vị trí đặt ốc không với tới được), chiếc cờ lê như một con dao cắt đã cắt ngang hàm răng cửa (thậm chí đã đề nghị tặng huy chương "người anh hùng đến nay đang tìm kiếm").

Nửa năm sau những thay đổi cho hướng dẫn sử dụng mới tới nơi: hãy hành động như chúng tôi đã hành động trong những tình huống tương tự ...

Những ví dụ như vậy tôi có thể trích dẫn hàng chục. Chuyện trên được nhớ lại bởi vì R.A.Shmakov đáng kính trong bài của mình đã viết: Tàu ngầm đã "vượt trước thời đại của nó nhiều thập kỷ. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên khi với nhiều chuyên gia, các nhà thử nghiệm, đội ngũ sỹ quan chiến sỹ Hải quân Liên Xô, việc làm chủ và khai thác sử dụng con tàu là vấn đề vô cùng khó khăn". Và ông ấy đã không nói thêm: vâng, khó khăn thì có, nhưng sỹ quan chiến sỹ hạm đội đã thành công trong việc làm chủ con tàu, đã thực hiện hàng chục chiến dịch thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trên đại dương, dưới biển băng Bắc Cực, đã hoàn thành tất cả các nhiệm vụ chiến đấu mà bộ chỉ huy cấp trên đặt ra.

Trên những chiếc tàu này, chúng tôi đã vượt qua hàng chục ngàn dặm, hàng ngày hàng đêm chạy ngầm dưới nước - trong bao nhiêu năm đã qua! Chỉ tính riêng tôi trong 5 năm cuối cùng trước khi rời đi nhận nhiệm vụ mới, đã có tổng cộng 3 năm hành trình trong lòng biển.

Con tàu đầu đàn K-123 của chúng tôi, mà tôi bắt đầu câu chuyện với nó và là thuyền trưởng chỉ huy trong một phần thời gian quân ngũ, đã được đưa ra khỏi biên chế phục vụ của Hạm đội Biển Bắc tháng 8 năm 1996 (nó được hạ thủy, theo tôi nhớ, ngày 09 Tháng 4 năm 1976).

20 năm, bất chấp mọi khó khăn, "đề án của chúng tôi" đã phục vụ Tổ quốc!
Tôi tự hào vì phần lớn đời phục vụ của tôi, từ một kỹ sư trưởng nhóm đến khi làm thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm, đều diễn ra trên những con tàu được tự động hóa tổng hợp thuộc đề án 705 (705K), tôi tự hào rằng Tổ quốc đã tin cậy trao cho tôi chiếc chiến hạm có mãnh lực đáng sợ này, và còn tự hào hơn nữa vì tất cả những con người đã cùng tôi phục vụ, cùng tôi đi biển, và làm chủ trang bị vũ khí mới.

Đó là một kíp sỹ quan thuyền viên chân chính, bao gồm cả các hạ sỹ quan quân nhân chuyên nghiệp có tâm lý của sỹ quan, các chuyên gia, những con người trong mọi tình huống đều hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, khắc phục bất kỳ tình huống khẩn cấp nào.

Từng ấy năm tồn tại của đơn vị, trong những điều kiện khai thác sử dụng khắc nghiệt, trên những con tàu "tự động hóa" chúng tôi vẫn không bị tổn thất bất kỳ người lính nào trong thực tế cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn của con tàu. Điều ấy đã đạt được trong cuộc đấu tranh với hỏa hoạn, với nước, với sự rò hơi nước lớn, bị nghiêng ngang, chúi dọc, bị lăn xuống đáy biển sâu, kẹt các bánh lái khác nhau, môi trường xấu đi do bức xạ hạt nhân cực kỳ nguy hiểm.

Chúng tôi chỉ bị mất một người trong đơn vị, khi ở trên đại dương - trợ lý thuyền trưởng K-463 thiếu tá hải quân Igor Alekseevitch Gorelov, một người đàn ông hiếm có. Nhưng không phải vì các sai sót trong thiết kế, mà bởi sự ngu ngốc của bản thân, vì sai lầm trong việc điều khiển tàu. Mãi mãi chúng tôi nhớ đến anh!

Hạm đội đã trải qua một thời điểm khó khăn, nhưng tôi tin vào các nhà thiết kế, ngành công nghiệp, các thủy thủ của chúng ta, tôi tin rằng trong tương lai sẽ xuất hiện một con tàu có hệ thống điều khiển tự động phức hợp và sử dụng chất mang nhiệt kim loại lỏng, có các đặc tính cơ động và tốc độ của "đề án 705", có cơ số đạn dược của "đề án 945" và chiều sâu lặn của "đề án 685" thuộc đơn vị chúng tôi.

Tôi muốn kết thúc câu chuyện bằng những câu thơ, được thuyền phó chính trị Yuri Konstantinovitch Buzin viết trên biển, tặng cho thủy thủ đoàn của chúng tôi, trong chiến dịch phục vụ chiến đấu năm 1984:
Hãy cho mệt mỏi trĩu nặng tâm hồn,
Giờ chia tay biển sao đầy cay đắng ...
Trong nóng, trong gió, trong giá băng
Vang mãi về chúng ta: "Vì những ai đang còn trên đại dương!"
Hãy tự hào bởi bằng ý thức cao cả,
Bạn hiến đời mình cho nghĩa vụ đàn ông.
Và bạn sẽ bồi hồi nhớ lại,
Sóng lớn đại dương vùi dập thân tàu.
Ngôi nhà của ta là con tàu thân thương,
Trên tàu quanh ta ai cũng là bạn tốt.
Con tàu kéo và chiếc mũ chào mào...
Những cánh tay vững vàng, sáng tạo...
Nghề nghiệp chúng ta - người lính tàu ngầm,
Lao động khổ sai, rủi ro, và hãy nhớ -
Là lính tàu ngầm để không có chiến tranh!

PS:
Aleksandr Bogatyrev sinh ngày 26 tháng 6 năm 1945 tại huyện Tsarevka Shkotovo khu Primorie. Năm 1963, ông tốt nghiệp Trường Hải quân Nakhimov 13 (Leningrad) cũng trong năm 1963 vào học trường cao đẳng tàu ngầm hải quân và năm 1966 được chuyển sang trường Cao đẳng Hải quân Frunze, nơi ông tốt nghiệp năm 1968. Năm 1978 ông tốt nghiệp Trường Bổ túc cao cấp chuyên ngành cho sỹ quan hải quân số 6 (Leningrad), năm 1987 - tốt nghiệp Học viện Hải quân mang tên N.G.Kuznetsov (tốt nghiệp vắng mặt), trong các năm 1988 và 1990. - tốt nghiệp khóa học viện cho đội ngũ sỹ quan thuộc Hải quân Xô Viết. Được phong chuẩn đô đốc ngày 07 tháng 2 năm 2001.

Bước đường sự nghiệp: học viên Cao đẳng tàu ngầm Hải quân (06.1963-10.1966 - ВВМУ подводного плавания); học viên Cao đẳng Hải quân Frunze (10.1966-06.1968 - ВВМУ им.М.В.Фрунзе); kỹ sư nhóm khí tài đạo hàng điện tử thủy thủ đoàn kỹ thuật tàu ngầm đề án 705 Hạm đội Biển Bắc (01.07.1973-03.1973); trợ lý thuyền trưởng K-123 (03.1973-11.1977); học viên thỉnh giảng VSOK Hải quân khóa 6 (11.1977-07.1977 - 6-х ВСОК ВМФ), trợ lý chính thuyền trưởng K-463 Hạm đội Biển Bắc (07.1978-08.1979), trợ lý chính cho thuyền trưởng K-123 Hạm đội Biển Bắc (08.1979 - 11.1981), thuyền trưởng K-123 sư đoàn tàu ngầm số 6 Hạm đội Biển Bắc (11.1981-02.1983), chỉ huy trưởng thủy thủ đoàn tàu ngầm đề án 705 Hạm đội Biển Bắc (02.1983-12.1985); phó tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 6 Hạm đội Biển Bắc (12.1985-10.1988); Phó tư lệnh binh đoàn cơ động số 7 Hạm đội Biển Bắc (10.1988 - 01.1997) Phó Hiệu trưởng Trường Bổ túc Cao cấp chuyên ngành sỹ quan Hải quân (ВСОК ВМФ - ДОПОЛНИТЕЛЬНОГО ПРОФЕССИОНАЛЬНОГО ОБРАЗОВАНИЯ "ВЫСШИЕ СПЕЦИЛЬНЫЕ ОФИЦЕРСКИЕ КЛАССЫ ВОЕННО-МОРСКОГО ФЛОТА") - Trưởng khoa thuyền trưởng (1997).


CÔ HÊU.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Bảy, 2012, 06:27:35 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #82 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2012, 11:04:35 am »


Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại. Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov.



«THUYỀN TRƯỞNG KHÔNG THỂ THOÁI THÁC THI HÀNH NHIỆM VỤ, trừ khi tình hình thực tế thay đổi nhiều đến mức làm cho nhiệm vụ đề ra mất ý nghĩa của nó».
Điều lệ tàu chiến Hải quân Liên Xô điều số 146. «Nghĩa vụ của người thuyền trưởng tàu hải quân»

"Platon là bạn của tôi, nhưng sự thật còn quý giá hơn".

Socrates

Mở đầu

Tháng Ba năm 1994 trong "gian hoàng gia" nhà ga xe lửa Belarus tại Moskva, nhà xuất bản sách quân sự-ái quốc "Ngọn cờ thánh Andrei", một nhà xuất bản còn trẻ, nhưng tích cực lách qua khu rừng rậm kinh tế thị trường cạnh tranh đã sắp xếp một show quảng cáo, hay được gọi là "trình diễn".

Tại buổi thuyết trình có mặt các nhân vật "đã quen biết" trong tiến trình lịch sử, các nhân vật ít được biết đến và cả chưa được biết đến với công chúng độc giả. Tổng số có đến 200 người.

Trong số nhân vật "nổi tiếng" có: Cựu Tổng tư lệnh Hải quân Xô Viết đô đốc hạm đội V.Chernavin, Tổng tham mưu trưởng đương nhiệm Hải quân Nga V.Selivanov, phi hành gia hai lần Anh hùng Liên Xô V.Sevastyanov, Maria con gái của nguyên soái lừng danh Zhukov, các nhà văn Nga V.Karpov, V.Soloukhin, nhà văn-nhà chính luận Yu.Vlasov, đạo diễn điện ảnh-nhà chính luận S.Govorukhin, đạo diễn điện ảnh S.Bondarchuk, chủ tịch Hội liên hiệp giới quý tộc Nga công tước A.Golitsyn, nhà văn-thủy thủ N.Cherkashin và nhiều người khác nữa.

Những người "nổi tiếng" khác: thư ký-báo chí (các tu sĩ) của các tổng giám mục các giáo phận St Petersburg và Ioanna Ladoga, Pitirim Volokolamsk, các con trai của nhà văn lớn L.Leonov và họa sỹ lớn D.Polenov. Những người nói là "không được khỏe", nhưng chào mừng cuộc họp đáng kính trên: vợ nhà văn V.Pikul (vì sức khỏe kém của bà), tướng-cầm cờ trong lễ duyệt binh Ngày Chiến Thắng V.Varennikov (do đang "nghỉ ngơi" trong nhà cải tạo, gọi thông tục là "Sự im lặng của thủy thủ "), nguyên soái S.Akhromeev (bận ra  nghĩa trang Troekurov).

Trong số các nhân vật ít được biết đến có các vị tướng và đô đốc "trong ngạch dự bị và đã nghỉ hưu", các diễn viên và ca sĩ, các ataman Cossack, các doanh nhân của  "nước Nga mới", cũng như những nhân vật muốn "ở lại trong bóng tối".

Nói ngắn gọn, "các nhà ái quốc-các nhà quốc gia", các nhà giám hộ cho sự hồi sinh (khỏe mạnh, tất nhiên) của nước Nga vĩ đại.

Ở đó tất cả các loại "đỏ" (N.Andreeva), "hồng" (Zyuganov), "nâu" (A.Barkashov), "vàng" (Vladimir Zhirinovsky) và "xanh" (E.Gaidar) đều không có.

Trong cảnh trình diễn ồn ào các nhà tu hành ăn cũng không tồi hơn giáo dân; Maria Zhukova đáng yêu nói vào micro, trong khi các nhà chính trị radikaldemik ngày nay đang "đổ nước bẩn" vào người cha-anh hùng của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại; cựu tổng tư lênh Hải quân Chernavin đọc một đoạn trích từ "chương trình-hủy diệt" của Giám đốc đầu tiên của Cục Tình báo Trung ương Mỹ Allen Dulles; người nổi tiếng Soloukhin, chép cặp môi no nê và khẽ nấc lên, đọc bài thơ mới của ông, trong đó nói thật rõ ràng là trên toàn nước Nga - chỉ là những ngôi mộ, mộ và mộ; một giọng soprano nổi tiếng khóc nức nở nỗi đau buồn về nước Nga đang chết; đạo diễn Govorukhin kể một số kỷ niệm vụ nổ súng tháng 10 năm 1993.

- Và điều này sẽ kết thúc rất tồi tệ, - một trong những người "không uống" cắp dưới nách một vật phẳng và có cặp mắt sắc sảo nhận xét .
- Nhưng tại sao? - Với sự ngây thơ bốc mùi men rượu, một người khách phản đối lại ông ta và ghé sát vào vật phẳng ông ta cắp dưới nách.

Cuối cùng, trong số những người chưa được biết bước đến micro đẩy vào người ông già vạm vỡ trong bộ quần áo hàng thông dụng.
- Này ... giới thiệu ai thế? - người không uống hỏi.
- Ông ta hả? Đó là con voi ma mút của hạm đội tàu ngầm, - người khách mau miệng giải thích.
- A-aa!



Dưới đây sẽ kể lại những trích đoạn trong thời kỳ tồn tại của "con ma mút của hạm đội tàu ngầm" - từ thời kỳ "băng giá" (thời Stalin) cho đến thời nay thời của trận hồng thủy "dân chủ" và tăng trưởng như bão táp của "giá trị con người nói chung". Từ 1951-1997 - gần một nửa thế kỷ. Trong lịch sử nhân loại - một tia lửa trong đống lửa, trong lịch sử cá nhân - toàn bộ một cuộc đời.

Bút danh của tác giả - Sungariets (Sun), với mục đích này ông ngang nhiên lấy tên lóng điệp viên của Boris Poyarkov (tình báo viên Liên Xô, làm việc trong các năm 1938-1941 trong sự "nâng đỡ" của tình báo Nhật Bản ở Mãn Châu, cố gắng tìm lối thoát tới tư lệnh Tập đoàn quân Cờ Đỏ độc lập Viễn Đông V.Blucher). Bị tuyển mộ bởi cơ quan của Kenji Doihara, Sungariets vẫn còn làm phiền các nhân viên Bộ Tổng tham mưu Nhật Bản, nhưng sau đó biến mất vào lãng quên (hoặc vì những cánh tay nối dài của các cơ quan bí mật Nhật Bản, hoặc trong các phòng tra tấn của NKVD). Cái tên này nay đã bị lãng quên.

Trong những phút thổ lộ cảm xúc hiếm hoi, nhiều người nghe đặt một câu hỏi thiêng liêng: "Tại sao anh không cho chúng tôi biết về tất cả những điều này?"
Trong thực tế, tại sao? Những năm tháng qua đi, nhiều "bí mật" đã được thời gian cho phép ...

Những ghi chép thực sự này là một cố gắng yếu ớt để soi sáng một số lĩnh vực trước đây chưa được biết đến, kể về cuộc sống hải quân, không tô điểm kiểu chính trị "đời thường hóa và anh hùng hóa" cuộc đời phục vụ và không bị cắt xén bởi những "kẻ cướp bằng ngòi bút" hiện đại.
1996.

LỜI NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP


Biên tập viên, cựu chiến binh đại tá hải quân Novikov Valery Sergheevitch tại buổi giới thiệu cuốn sách.

Bạn thân mến! Độc giả kính mến! Nếu bạn đang giữ trong tay cuốn sách này, nghĩa là bạn quan tâm đến lịch sử của Đất Nước và số phận của những người phục vụ nó. Các tác phẩm trong bộ sưu tập này liên quan đến nhiều thể loại khác nhau và thời kỳ khác nhau của của lịch sử thế kỷ XX. Cá nhân tác giả cũng là hiện tượng đặc biệt trong giới viết về biển của đất nước ta. Ngược lại với những người khổng lồ đã được công nhận như  K.M.Stanyukovitch, L.S.Sobolev, V.V.Vishnevsky, A.T.Shtyrov không có dòng dõi quý tộc, và do đó không có nền tảng giáo dục cơ bản chung. Ông đạt được tất cả bằng trí óc của mình, bằng "cái bướu" và đôi tay, ông đã viết khi còn đang phục vụ, và không chỉ là một "nhân chứng" của những sự kiện được miêu tả, mà còn nữa! - bằng nhiều năm tham gia trực tiếp, trên các cương vị chỉ huy có đầy đủ trách nhiệm với hành động của mình. Ông không học tại các học viện và các trường đại học văn học, các bạn cùng lớp tại Bộ Tổng tham mưu cũng không "chứng kiến" tài năng văn học của ông. Sự chủ quan có thể có trong trình bày và đánh giá được xác định không bởi quan điểm và ý kiến của chính quyền, mà bằng công việc ông đã làm và kết quả của những công việc này. Đó là lý do tại sao tên của cuốn sách được gọi như vậy, cái nhìn về cuộc sống, công việc và con người thông qua ... thiết bị phóng đại quang học của tàu ngầm.

Về các giá trị nghệ thuật trong sáng tạo của A.T.Shtyrov thực tế cho biết có nhiều lần các nhà làm phim Nga đề nghị làm những bộ phim theo các tác phẩm của ông, bao gồm cả phim nghệ thuật. Nhưng!..., không hề có "vụ lợi" ở nhà văn cũng như các nhà làm phim. Tuy nhiên, giải thưởng "Con dao găm vàng" và Bằng Danh dự của Hiệp hội các nhà báo Nga vẫn tô điểm cho tiểu sử nghệ thuật của người thủy thủ có mái tóc màu xám bạc. Sự công nhận vinh quang sáng tạo của tác giả còn là các phần thưởng khá kỳ lạ: huy hiệu của Tổng cục Tình báo Bộ TTM Các Lực lượng Vũ trang Liên Xô "Con Dơi" (vì sự thật về các chiến dịch đặc biệt của CIA Mỹ) và phù hiệu vàng "Thuyền trưởng tàu ngầm" (từ một nhóm người hâm mộ muốn giấu tên).

Người biên tập đã tính đến những lời chỉ trích và đề nghị xây dựng của độc giả, tác giả đã vui lòng đồng ý bổ sung các xuất bản phẩm được công bố trước đó bằng các tài liệu thực tế sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn bản chất của các sự kiện được mô tả. Cùng phục vụ một mục đích - để cảm nhận "mùi" của một thời đại đã qua - đó là các tài liệu đồ họa, bao gồm ảnh trong kho lưu trữ cá nhân của tác giả và lưu trữ của các bạn bè thủy thủ tàu ngầm của ông. Người đọc không vô tình chắc chắn sẽ nghe thấy một nốt nhạc hoài cổ. Vâng, trong những ngày đó, các thủ trưởng và hoàn cảnh đều rất khó khăn, mà thù hận lại lớn và vô cùng khắc nghiệt (vì các tai nạn và do mất tàu, người ta không chỉ cách chức, mà còn mang ra tòa án binh xử án và xử bắn), có cả những kẻ đểu cáng, kẻ mị dân và những kẻ nhàn cư vi bất thiện-luồn lách đi lên; có cả điều kiện sống khủng khiếp của các thủy thủ và gia đình họ. Cùng phục vụ với nó tuy nhiên lại có những con người mà đại đa số là người lương thiện, trung thực, vị tha, khiêm tốn, và không hề lớn tiếng, lặng lẽ hoàn thành nghĩa vụ của mình. Mặc dù tính chất tự truyện rõ ràng, cuốn sách này không phải nói về tác giả, mà nói về họ, những người phục vụ trung thực của Tổ quốc vĩ đại, đặc biệt là khi họ trở nên ngày càng ít hơn. Cuốn sách chờ sự phán xét của bạn, hỡi bạn đọc yêu quý.
..........
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Bảy, 2012, 01:35:58 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #83 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2012, 11:05:20 am »

(tiếp)

VÀI LỜI VỀ TÁC GIẢ



Anatoly Tikhonovitch Shtyrov sinh ngày 6 tháng 3 năm 1929 tại thành phố Petrovsk tỉnh Saratov, mồ côi cha từ sớm và đã trải qua cảnh cùng cực khủng khiếp của những năm chiến tranh. Nổi bật bởi lòng ham mê hiếm có với sách, từ năm 6 tuổi đã đọc báo cho các nông dân địa phương nghe (văn bản nhiều đoạn đến giờ ông còn nhớ). Tập tọng làm thơ từ năm lớp 4.

Theo mệnh lệnh của I.V.Stalin vào năm 1944, trên cả nước đã mở các trường dự bị hải quân, và Anatoly đã lọt vào một trong số đó - trường Gorky. Ở đó bằng phương pháp "tự tạo" ông đã tự học để đọc thông thạo tiếng Pháp. Năm 1947, ông lọt vào mắt xanh của "tổ chức" và vì "tư duy tự do trong thơ ca và tình cảm chống Liên Xô" mà bị khai trừ khỏi Đoàn Komsomol. Mạnh mẽ và đáng sợ nhất là điều 58 khét tiếng, nhưng ... cũng tìm được những người thông minh - ông được ân xá do tuổi còn trẻ và thành tích hiếm có. Bài học kinh nghiệm đã thấm, tài năng văn học được giấu kỹ và giấu lâu.

Tốt nghiệp trường dự bị ông nhập học và năm 1951 tốt nghiệp trường Cao đẳng Hải quân mang tên Đô đốc Makarov. Đời phục vụ bắt đầu tại một đơn vị tàu ngầm ở Kamchatka, còn tổng cộng tại Hạm đội Thái Bình Dương ông đã phục vụ gần 40 năm. Một nửa trong số thời gian đó - trên các tàu ngầm diesel, bao gồm 8 năm làm thuyền trưởng.

Đối với các độc giả trẻ tuổi cần phải nói rằng giai đoạn lịch sử đó là giai đoạn khắc nghiệt nhất của Chiến tranh Lạnh, giai đoạn mà nước ta không có bất kỳ lợi thế kỹ thuật-quân sự nào. Tác giả đã thực hiện một số lượng lớn các chiến dịch trinh sát và phục vụ chiến đấu ở các khu vực khác nhau của không gian chiến trường Thái Bình Dương, nhiều lần rơi vào và thoát ra thành công khỏi các tình huống cực đoan, gần kề thảm họa. Đó là lý do tại sao người biên tập thấy cần thiết đưa vào cuốn sách này, quan điểm của các chuyên gia có thẩm quyền về các sự kiện trong hoạt động phục vụ của tác giả.

Trong cái gọi là cuộc khủng hoảng tên lửa Caribean (1962), ông là thuyền trưởng tàu ngầm thứ hai tham gia vào một chiến dịch quân sự phức tạp tại bờ biển phía đông Nhật Bản (trong điều kiện có bão biển lớn trong mùa thu đông và sự không xác định về mặt quân sự). Năm 1963, ông là thuyền trưởng tàu ngầm thực hiện chuyến đi đến khu vực tập trận của các lực lượng Hạm đội 7 Hải quân Mỹ, một số các chi tiết của chiến dịch này được mô tả trong câu chuyện "Lệnh tắt vô tuyến và quan sát". Năm 1969, ông đột nhiên bước lên cương vị "chỉ huy cao cấp" trên một chiếc tàu ngầm thực hiện chiến dịch trinh sát Hải quân Trung Quốc (câu chuyện "Những chiếc máy kéo ngầm dưới nước").



Các xu hướng, mà chính xác hơn là khả năng phân tích, tính độc đáo trong suy nghĩ và tính độc đáo trong các quyết định đã dẫn A.T.Shtyrov đến với ngành quân báo, ban đầu là ở binh đoàn tàu ngầm, sau đó trong Phòng Quân báo Hạm đội TBD. Ông có sáng kiến phát triển một cuốn sổ tay cho các thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm diesel, trước đây khá nổi tiếng và bây giờ đã bị lãng quên "ABC cho thủy thủ tàu ngầm".

Ông đã phát triển các nguyên tắc của việc sử dụng tàu ngầm tác chiến trong khu vực nước nông ven biển (khi ấy "kẻ thù №1" được coi là Trung Quốc), mà trong diễn tập quân sự hai bên của các bộ tham mưu cấp cao đã gây nên phản ứng nhiều tai tiếng của các đô đốc và tướng lĩnh.

Gần 10 năm là sĩ quan đầu đàn trong hệ thống tình báo hải quân tại các bộ tham mưu cấp chiến dịch-chiến lược. Do tính cứng đầu cứng cổ và "không vâng lời cơ quan cấp trên" đã bị đẩy ra khỏi hệ thống tình báo, sau đó ông tham gia lên kế hoạch các chiến dịch quân sự của hạm đội (Phòng Tác chiến Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương, chủ nhiệm tác chiến phân hạm đội Kamchatka thuộc Hạm đội Thái Bình Dương).

Do hoạt động tích cực phát hiện các ý đồ và hàng loạt chiến dịch bí mật của CIA và DIA Mỹ trên không gian chiến trường Thái Bình Dương ("Jennifer", "Ivy Bells" và những chiến dịch khác), ông trở thành đối tượng chú ý của tình báo nước ngoài, điều này được thừa nhận khi ông làm khách đến thăm đảo Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) gần 20 năm sau đó. Ông được trao tặng phù hiệu danh dự "Thuyền trưởng tàu ngầm Hải quân Đài Loan".

Do chiều sâu kiến thức về "các kẻ thù tiềm năng trong thời gian chiến tranh lạnh" và khả năng trình bày rất ngắn gọn và hình thành các đánh giá rõ ràng về chúng, mà nhiều lần đã được nguyên soái V.Kulikov nhận xét; theo yêu cầu cá nhân của đích danh nguyên soái Akhromeev (khi đó là Tổng tham mưu trưởng), ông đã được trao tặng quân hàm "chuẩn đô đốc" mà không có bất kỳ "các cẳng tay lông lá" nào và cũng chẳng hề có văn bằng tốt nghiệp học viện.

Anatoly Tikhonovitch kết thúc đường phục vụ của mình trên cương vị Phó trưởng phòng Hải quân Bộ Tổng chỉ huy hướng Tây-Nam ở Chisinau năm 1989. Ông đã có những nỗ lực tuyệt vời nhằm duy trì sự sẵn sàng chiến đấu và sức cơ động của Hạm đội Biển Đen (bao gồm không gian chiến trường Địa Trung Hải), đã cố gắng không thành công nhằm "giáo dục" các tướng lĩnh lục quân về các vấn đề hợp đồng các quân binh chủng khác nhau trên các không gian chiến trường biển và ven biển. Ông buộc phải chuyển về Moskva vào năm 1993 do chính sách khủng bố (cả về thể xác) của bọn phát xít Rumani đã lên nắm quyền ở Moldova.

Tại tất cả các nơi công tác và trên tất cả các cương vị công tác ông luôn giữ được uy tín đặc biệt trước cấp dưới và các đồng nghiệp, và hầu như luôn luôn gây ra sự cảnh giác và không ưa của cấp trên trực tiếp. Tất cả chỉ bởi một lý do – uy tín lớn, tính thẳng thắn và sự trung thực. Vì vậy trong giới sĩ quan hải quân ông có biệt danh: Đô đốc lưỡi cày, Khủng long của hạm đội tàu ngầm, người Mohicans cuối cùng. Vì vậy, các "thánh tích" phần thưởng của ông không đặc biệt ấn tượng: chỉ có ba huân chương và một số huy chương "cát" và huy chương nhân lễ kỷ niệm.



Tuy nhiên, cộng đồng hải quân đã gắn thêm cho ông “Chiếc dao găm vàng", phù hiệu "Thuyền trưởng tàu ngầm" và "Con Dơi", "Thập tự Bizertsky" và huân chương Stalin. Các đồng hương thì trao tặng ông danh hiệu Công dân Danh dự thành phố Petrovsk.

Trong cuộc sống cá nhân của tác giả có rất nhiều khó khăn, không chỉ vì khi còn là học viên đã không may đi yêu một người đẹp Ucraina, mặc dù “cơn lũ” vùng Viễn Đông, nhưng là một người phụ nữ đầy đủ tư chất và phẩm hạnh, và quan trọng nhất – một nhà địa chất! ("Hành trình đến Kolyma"). Họ đã sống như thế đấy: ông ở trên biển, còn bà trên hiện trường thăm dò. Hai người con trai một kỹ sư-nhà xây dựng, 2 cháu gái và 1 cháu trai, 1 chắt trai và 1 chắt gái.

Khi sức khỏe cho phép, Anatoly Tikhonovitch tích cực hoạt động trong các tổ chức cựu chiến binh, gặp gỡ với giới trẻ trong hải quân, cộng tác với các phương tiện truyền thông đại chúng quân đội và tránh xa những gã Bohemia trong giới văn học và các cựu chiến binh-đô đốc "nhiều công lao".

Các nhà chỉ huy hải quân có tiếng đã nói về ông như sau:



Phó đô đốc V.Kruglyakov, tư lệnh binh đoàn tác chiến số 8 hoạt động ở Ấn Độ Dương (1980): "Những người như Shtyrov, chính là xương sống để duy trì hạm đội ..."



Đô đốc V.Sidorov, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (1982): "Trong thời gian phục vụ tại Hạm đội Baltic và Hạm đội Thái Bình Dương đi qua trước mắt tôi có hàng ngàn sĩ quan hải quân, nhưng người có thiên bẩm phân tích như vậy tôi chưa hề thấy ..."



Đô đốc E.Spiridonov, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (trước khi ông qua đời vào năm 1982): "Bạn không biết. Còn anh ta luôn biết! "



Phó đô đốc V.Fyodorov, Chủ nhiệm Trinh sát Hải quân (1996): "Đó là một huyền thoại sống."


Chuẩn đô đốc Boris Tsarev và đại tá hải quân Anatoly Varotchkin

Không phải người nổi tiếng, nhưng có uy tín và hiểu biết: chuẩn đô đốc B.Tsarev tư lệnh lữ đoàn tàu ngầm Feodosia và Sevastopol (1976-1986), phó tư lệnh Hạm đội Biển Đen (1991-1995): "Anh ấy nổi bật ở phương pháp tiếp cận sáng tạo để giải quyết mọi nhiệm vụ, sự phân tích rất sâu sắc, lòng yêu lao động hiếm có, tính cực kỳ chuẩn xác và tính độc đáo của giải pháp. Người khởi xướng và tổ chức các hoạt động săn tìm tàu ngầm nước ngoài trên các tuyến đường biển triển khai các tàu ngầm nguyên tử tuần dương chiến lược của Hạm đội Thái Bình Dương bằng mọi lực lượng khác nhau".



Trung tá hải quân D.Paramonov (thuyền trưởng B-871 Alrosa, 2003-2007 - 2 giải thưởng của Tổng tư lệnh Hải quân): "Nghiêm khắc, thông minh, công bằng. Cảm ơn ông".



Đại tá hải quân A.Astapov (thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình "Tomsk", anh hùng nước Nga): "Một thủy thủ tàu ngầm tài năng, và hơn thế, một nhà thơ và nhà văn. Cầu Chúa ban cho ông sức khỏe! Để viết nhiều hơn và lâu hơn nữa".

Trung tá hải quân V.Zhdanov (ngành trưởng ngành tác chiến 3 các tàu ngầm phóng lôi và tàu ngầm tên lửa của Hạm đội Biển Bắc): "Rất con người, rất tài năng. Những Pokrovsky và người khác sẽ được an nghỉ. Chưa ai viết về các thủy thủ tàu ngầm như vậy".
..........
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Bảy, 2012, 05:08:36 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #84 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2012, 06:37:29 pm »

(tiếp)

Và đây là những nhân vật hoàn toàn dân sự:

Công dân Hoa Kỳ V.M.Tomich - từ một gia đình sỹ quan-kiều dân bạch vệ (1994): "Có thể làm những việc như thế chỉ có những thuỷ thủ người Nga! Cám ơn tác giả"- sau khi đọc câu chuyện "Lệnh: tắt vô tuyến và im lặng quan sát".

A.O.Novoselov - cựu nhân viên PNO "Yakutalmaz", đã nghỉ hưu (2006): "Những cuốn sách rất hay, rất hữu ích cho những người trẻ tuổi ngày nay. Cần phải đưa lên TV".

Tác giả và người biên tập bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến mọi người, vì nhờ sự hỗ trợ về tình thần và kỹ thuật của họ mà các cuốn sách được xuất bản: E.N.Veshkina, V.B.Svetlakova, A.N.Kvatch, A.G.Korovina, N.V.Novikova. Và đặc biệt cám ơn I.K.Demyanov, S.V.Bokov đã hỗ trợ tài chính, lòng nhẫn nại tuyệt vời và sự kiên trì trong quá trình chuẩn bị và xuất bản bộ sưu tập này.



GIỚI THIỆU

Với sự chấm dứt Thế chiến II (đối với chúng ta - Chiến tranh Vệ quốc Vĩ Đại), khi các đồng minh trước đây chuyển sang các cực của cuộc đối đầu toàn cầu, đã lộ ra 2 học thuyết biển - học thuyết biển của Mỹ, nhằm đảm bảo sự thống trị trên đại dương Thế giới và các vùng chiến lược quan trọng của nó bằng việc duy trì và phát triển sức mạnh hải quân, và học thuyết biển Liên Xô nhằm xây dựng một hạm đội mới hùng mạnh như một quân chủng độc lập thuộc Các Lực lượng Vũ trang có khả năng đảm bảo việc phòng thủ sâu trên các không gian chiến trường biển liền kề, và sau đó - bảo đảm việc phổ biến bất kỳ khi nào các lợi ích quốc gia của một cường quốc lục địa trên các đại dương của thế giới.

Kinh nghiệm của Đức Quốc xã (mà kinh nghiệm của kẻ thù - cũng là kinh nghiệm) đã chỉ ra rằng sự sáng tạo lực lượng tàu ngầm hùng mạnh là biện pháp nhanh chóng nhất và tương đối "rẻ" để loại bỏ trạng thái bất lực trên biển của quốc gia.

Trong số 820 tàu ngầm "Kriegsmarine" tham gia trực tiếp vào chiến sự, 718 chiếc đã bị phá hủy. Chỉ riêng các tàu ngầm Đức đã đánh chìm các tàu vận tải có tổng lượng choán nước 14,5 triệu tấn tổng trọng tải đăng ký (Брутто-регистровая-тонна - Gross registered tonnage). Vai trò của tàu ngầm trong Thế chiến II được các nhà nước hùng mạnh về kinh tế đánh giá cao, bản thân Hoa Kỳ vào năm 1945 ngoài các thiết giáp hạm và các tàu sân bay còn có đến 236 tàu ngầm đang phục vụ, Nhật Bản -162 tàu ngầm (bị mất 130 tàu ngầm trong các trận chiến), nước Anh trong chiến tranh đã bị mất 80 tàu ngầm.

Vì lý do này, trong quá trình khôi phục nền kinh tế quốc dân bị phá hủy trong các khu vực bị chiếm đóng, chính phủ Liên Xô bắt đầu thực hiện một chương trình biển mới, hợp phần đầu tiên trong đó là đóng một số lượng lớn các tàu ngầm chạy bằng diesel.

Trong thập kỷ đầu tiên (đến trước 1956), song song, và thậm chí đi trước việc xây dựng hạm đội tàu mặt nước, đã đóng được hơn 300 tàu ngầm diesel, chủ yếu là tàu ngầm cỡ "trung bình" (cỡ biển). Lực lượng tàu ngầm này, xuất hiện trong giai đoạn đầu của "chiến tranh lạnh" trở thành xương sống của hạm đội, trên cơ sở đó đảm bảo việc tiếp tục phát triển của Hạm đội Hải quân như là một tổng thể, và sau đó là sự phát triển tàu ngầm hạt nhân như là hợp phần quan trọng nhất của hạm đội đại dương.


Những con ngựa thồ của Chiến tranh Lạnh. - N.Cherkashin. "Đời sống hàng ngày của các thủy thủ tàu ngầm Nga". Мoskva.2000.

Ấn phẩm này dự định đưa ra trong một phạm vi hẹp sự soi sáng một phần "cuộc sống" của hạm đội tàu ngầm diesel trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh.

Hướng tới các độc giả, trước hết tới các các thế hệ thủy thủ quân sự ngày nay vẫn còn sống và đã ra đi, giới thanh niên Nga thế kỷ 21, những người yêu mến lịch sử của nước ta, quan tâm đến kinh nghiệm của tổ tiên, tác giả đã xét đến các đặc điểm trình bày tài liệu nói đến sau đây. Ấn phẩm này không phải là một tài liệu nghiên cứu thuần túy kiểu lưu trữ-lịch sử cho một giới chuyên gia chọn lọc quan tâm, ngược lại, nó được xây dựng theo hình thức một câu chuyện kể sinh động. Với một điều kiện tiên quyết: nội dung của nó không có tham vọng bao quát 100% chủ đề, nhưng nó được trình ra mà không có sự giả mạo lịch sử, không có vẻ anh hùng màu mè và son phấn chính trị. Nó được trình bày như nó đã được nhìn qua đôi mắt của các thủy thủ tàu ngầm diesel giữa thế kỷ 20, và "được cảm thấy bằng bàn tay của chính mình".

Trong quá trình chuẩn bị ký sự này đã sử dụng một phần các ấn phẩm trong nước và nước ngoài (Mỹ) về xây dựng và phát triển hạm đội tàu ngầm động cơ diesel của Liên Xô trong thời kỳ sau chiến tranh, cũng như trong thế kỷ 21 - theo kiểu trích đoạn.

Mục đích việc thuyết trình - lấp đầy khoảng trống gần 40 năm tuổi (hoặc sự chân không về thông tin) trong lịch sử Hạm đội Hải quân thời Chiến tranh Lạnh.
Những động lực - nhắc nhở xã hội về những hoạt động về mặt lịch sử "còn trong bóng tối" của thế hệ tàu ngầm diesel, dù tốt dù xấu, nhưng đã trung thành thực hiện nghĩa vụ quân nhân của họ trước Tổ quốc.

Những lý do - rất nhiều ấn phẩm về chủ đề hải quân theo khunh hướng đặc biệt, dưới vỏ bọc "bí mật", và sau đó theo sức ì của tư tưởng đã làm mờ đi đề tài này.

Và nếu về hạm đội tàu ngầm nguyên tử người ta đã viết không ít, thì về hạm đội tàu ngầm động cơ diesel - hầu như chưa có gì. Trong thời kỳ hậu Stalin, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh lạnh và sự đối đầu khắc nghiệt giữa hai hệ thống, các "nhà lãnh đạo và thủ trưởng" của chúng tôi là các bậc thầy về giữ bí mật tất cả mọi thứ.



Đôi khi sự việc đi thái quá đến chỗ kỳ cục. Ví dụ, trong các trường hải quân một thời gian dài sách giáo khoa môn học "Khí tượng Thủy văn biển" đã được bảo mật theo "lệnh cấp trên". Trong các buổi lên lớp riêng rẽ, các giáo viên có năng khiếu hài hước đã hướng dẫn học viên như sau:
"Các đồng chí học viên. Sách giáo khoa là sách mật, hãy chú ý điều đó! Dù chỉ mất dẫu một trang ... các anh hãy tự hiểu ... Nhưng nếu, muốn Chúa cứu giúp, hãy để ý - chính cuốn sách của tác giả này và nhà xuất bản này hiện được bán tại hiệu sách KOGIZ trên phố Lenin".

Và đôi mắt của ông nói rõ: "Phần còn lại - thủ đoạn kỹ thuật, nhưng tôi sẽ không nói cho các anh biết đâu ..." Tàu ngầm bắt đầu đóng mới và thủy thủ đoàn được thành lập sẽ trở thành "đơn vị quân đội", khi đặt ky tàu sẽ lấy số "xuất xưởng", còn khi hạ thủy thì là số "chiến thuật"; khi có mặt tại hạm đội là số "mạn" (định kỳ được thay thế), số này khi ra khơi đi chiến dịch thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu sẽ được sơn lại.

Trong các sự kiện ở hạm đội (hoạt động Đảng, hội nghị, v.v.), nó được gọi tên là "thủy thủ đoàn, chỉ huy là đồng chí Pindiurkin, còn phó chính trị đơn vị là đồng chí Babashkin". Trong các ấn phẩm quân đội và hải quân nó đặc trưng bởi "đơn vị En Nờ tại đó đồng chí Pê phục vụ". Và để kệ không giải thích, hoàn toàn dành cho bản năng Nga có thể đoán ra người ta đang nói về ai.

Nên nói thêm rằng, người Mỹ và thậm chí cả người Nhật Bản (những bậc thầy về sự xảo quyệt quân sự) đã từ bỏ hình thức bảo mật này, bởi vì nó chỉ làm khó hiểu chính mình, nhưng không hề đối với tình báo nước ngoài.

Ngư lôi (cũng như mìn và tên lửa) của chúng tôi được gọi là "sản phẩm". Tôi nhớ lại rất nhiều trường hợp, khi mà trong quá trình xạ kích, tàu ngầm bị mất đạn ngư lôi thực hành đã phóng ra và không thể tìm thấy. Bắt đầu một cuộc tìm kiếm lâu dài và mệt mỏi.



Xuất hiện máy bay tuần tra biển của Mỹ ("Neptune" hoặc "Orion"), và khi chân thành muốn giúp đỡ những người đang đau khổ, các chàng Yankees la lên trong elektromegafon: "Này người Nga. Trái ngư lôi, mà không hiểu sao các bạn gọi là sản phẩm, đang nằm cách các bạn theo phương vị... " mà bằng tiếng Nga hẳn hoi, xin nói thêm như vậy.

Trong các cơ quan tham mưu hạm đội đã từ lâu người ta đưa vào trong hệ thống một việc: nếu anh muốn triệt để kiểm tra hạm đội của mình và con tàu bên cạnh, đừng chui vào bộ phận bí mật, mà hãy cầm trong tay mình cuốn sổ tra cứu "Janes fighting ships" ("Các hạm đội chiến đấu trên thế giới") và tìm các trang có liên quan. Xin nói thêm, cuốn sổ tay hướng dẫn này đã được bán, và đang được bán tại các kiosk của tất cả các căn cứ và các cảng nước ngoài.



Trong Hải quân Hoa Kỳ có một hệ thống đơn giản: con tàu được chỉ định một tên gọi và một số mạn không đổi. Và nếu có một người mẹ yêu thương con bất kỳ nào đó có ý định gửi 1 lá thư âu yếm cho đứa con trai nhỏ thân yêu của mình, bà ấy sẽ không bị vỡ đầu bởi tất cả các loại "đơn vị quân sự", còn việc ghi ngoài phong bì đơn giản chỉ là USS "Lind-McCormick", "Trung úy James K.Patrik". Bạn hãy tin thư sẽ tìm được đúng địa chỉ tại bất kỳ điểm nào trên đại dương Thế giới.

Có cần phải nói không, rằng trong hoàn cảnh siêu bí mật tổng thể ngay cả chúng tôi, các thủy thủ tàu ngầm, cũng ít được biết về kết quả của các chiến dịch của chính các đồng chí của mình, các tai nạn và các thảm họa tại các hạm đội hoặc thậm chí ngay ở các đơn vị lân cận. Nói ngắn gọn, tất cả mọi thứ trên thực tế, thu nhận được chẳng qua nhờ kinh nghiệm.

Thêm vào đó là "thông tin sai lạc" của các "học giả" mũ cao áo dài và các "sử gia" và "chính luận gia" đầu cơ thị trường của giai đoạn bùng nổ tự do và dân chủ.

Hoàn cảnh là như thế, nó che giấu và bóp méo lịch sử của thế hệ tàu và những con người này, theo lệ thường, là các chuyên gia trong lĩnh vực của họ, và trong thời của mình - các "bánh răng" quan trọng trong sức mạnh phòng thủ của hạm đội và quốc gia xét về tổng thể.

Nhưng ... chúng ta hãy trở về định đề hợp mốt hiện nay: "Không ai bị lãng quên, không có gì bị quên lãng". Không nên lãng quên.

Vì vậy, tôi cố gắng viết về chúng, những chiếc tàu ngầm động cơ diesel và thủy thủ tàu ngầm diesel. Viết những gì trong ký ức về các cựu thủ trưởng, thuyền trưởng và các đồng đội.
.......
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Bảy, 2012, 10:25:47 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #85 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2012, 11:54:15 pm »

(tiếp)

I.TÌNH TRẠNG LỰC LƯỢNG TÀU NGẦM HẢI QUÂN NĂM 1945 VÀ CÁC VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA NÓ

Hạm đội Hải quân Liên Xô cũ bước ra từ chiến tranh thế giới thứ II vào năm 1945 là đáng kể, còn lực lượng tàu ngầm, đặc biệt là trên không gian chiến trường phía Tây thì rất yếu.

Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Hải quân có trong đội hình phục vụ 211 tàu ngầm (trong đó 85 ở Thái Bình Dương). Trong những năm chiến tranh trên không gian chiến trường phía tây họ đã mất 98 tàu ngầm (77% lực lượng chiến đấu, bao gồm 47 tàu ngầm tại vùng biển Baltic, Biển Đen - 28, Biển Bắc - 23).


"M-201" ở Polyarny ...

Trong các năm chiến tranh các hạm đội (cả thời kỳ là Hạm đội Biển Bắc, còn từ năm 1944 cả Hạm đội Baltic) chỉ được tăng cường tàu ngầm lớp "M" được đóng mới tại các "vùng hẻo lánh" của đất nước (chủ yếu là - Sormovo) - tất cả đóng được 58 tàu ngầm; Hạm đội Biển Bắc còn được bổ sung tàu từ các chuyến di chuyển liên-đại dương một đơn vị tàu ngầm lớp "S" từ không gian chiến trường Thái Bình Dương (hành quân di chuyển sang 5 tàu ngầm, bị chìm 1), cũng như chuyển giao một đơn vị tàu ngầm Hải quân Anh (3 tàu). Trong cuộc chiến tranh với Nhật Bản, Hạm đội Thái Bình Dương còn bị mất một tàu ngầm (L-19), hy sinh tháng Tám năm 1945 trong eo biển La Perouse, có lẽ do vấp mìn.

Tới mốc 9 tháng 5 năm 1945 các hạm đội có: Baltic - 32 chiếc, Biển Bắc - 22 chiếc, Biển Đen - 28 chiếc tàu ngầm, nhưng hầu hết trong số đó không còn khả năng chiến đấu do thiệt hại không thể phục hồi và sự hao mòn quá mức của phần vật chất (vào cuối năm 1944, hoàn toàn sẵn sàng chiến đầu có: tại biển Baltic - 9 tàu ngầm, Biển Đen - 13 tàu ngầm). Căn cứ sửa chữa-phục hồi, đặc biệt tại các hạm đội Baltic và Biển Đen, nằm trong tình trạng rất nguy kịch. Lý do thì mọi người đều biết.

Và nếu trong thời kỳ đầu chiến tranh (1941-1943), các tàu ngầm của Hải quân Liên Xô có phẩm chất chiến đấu không thua kém tàu ngầm Đức, thì trong các giai đoạn tiếp theo do không có nâng cấp các cơ cấu hiện có, chúng rõ ràng đã bắt đầu tụt hậu so với các tàu ngầm của Đức quốc xã và so với cả tàu ngầm của "đồng minh" Mỹ (lúc đó đã triển khai các chương trình lớn xây dựng mới tàu ngầm và thực hiện một bước nhảy vọt về chất lượng theo xu hướng này).


Ngư lôi G7 đang được nạp lên tàu ngầm Đức Quốc xã U-94 trong chiến tranh Thế giới II.

Sự tụt hậu thể hiện trước hết về trang bị các công cụ vô tuyến điện tử mới (tàu ngầm Mỹ từ năm 1943 đã có đài radar tiềm vọng ngắm bắn, tàu ngầm Đức - từ 1944 đã có thiết bị radar tìm kiếm, tàu ngầm nước ta không hề có những thứ đó). Các tàu ngầm Đức loạt cuối còn có hệ thống "snorkels" (đảm bảo cho sự làm việc của động cơ diesel dưới nước), sử dụng ngư lôi tiêu âm, tàu của chúng ta không được trang bị các vũ khí như vậy.


Ống thở của động cơ diesel bố trí gần kính tiềm vọng tàu ngầm U-3008

Chiều sâu lặn, tốc độ bơi tư thế ngầm của các tàu ngầm chúng ta không còn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của chiến tranh.

Vấn đề có tính nguyên lý trong sự phát triển chiến thuật của các tàu ngầm "Kriegsmarine", tất nhiên, là việc sử dụng nhóm các tàu ngầm vào cuộc tấn công đoàn công voa - cái gọi là chiến thuật "Đàn Sói" (số đơn vị trong "đàn" lên đến một tá), và việc xây dựng các tàu ngầm-chở dầu chuyên dụng ("những con bò sữa"). Tàu ngầm kiểu XIV có khả năng đến các vùng sâu vùng xa của các đại dương để tiếp dầu cho 5-7 tàu ngầm, cũng như tiếp đạn ngư lôi và đạn pháo binh. Năm 1944, người Đức đã đặt cho tàu ngầm U-798 kiểu XVII K loại động cơ diesel "Kreyslauf" (động cơ, có khả năng hoạt động theo chu trình khép kín, nghĩa là không cần lấy ôxy trong khí quyển).


Nạp đạn cho dàn phóng bom nhiều nòng «Hedzhehog» trên khu trục hạm «Zhivutchi» (trước 1940 là «Fairfax», trước 1944 là «Richmond»). Khu trục hạm này thuộc kiểu «Town» được người Mỹ đóng năm 1917, vào tháng 8 năm 1944 được chuyển giao cho Hạm đội Biển Bắc sử dụng tạm thời từ tay người Anh và tính vào sự bồi thường chiến phí với người Ý.

Cần kể thêm 1 loại vũ khí chống tàu ngầm mới - "Hedzhehog" và "Squid" (thiết bị phóng bom phản lực nhiều nòng), cũng như sự thiếu vắng các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô, thậm chí thiếu những thủy thủ có kinh nghiệm dù nhỏ chống lại các tàu sân bay, ví dụ như tàu sân bay tấn công và tàu sân bay chống tàu ngầm (vào tháng 9 năm 1945, Mỹ đã có trong biên chế Hải quân tất cả 77 tàu sân bay).

Vì vậy trong tinh thần cạnh tranh rõ rệt, trong cuộc đối đầu tiếp theo của các cựu "đồng minh" (Mỹ, Anh và phía bên kia là Liên Xô), trước chính phủ Liên Xô và Bộ chỉ huy tối cao lực lượng Hải quân vào cuối cuộc chiến đã đặt ra các vấn đề - không phải là xây dựng lại cái có trước chiến tranh, mà xây dựng mới một hạm đội hùng mạnh (bao gồm cả lực lượng tàu ngầm), có khả năng đảm bảo trong tương lai gần, việc phòng thủ chiều sâu trong các vùng biển lân cận, và trong tương lai - phổ biến các lợi ích quốc gia trong các đại dương Thế giới.

27 Tháng 7 năm 1945, khi phát triển khái niệm đã được đề ra, J. Stalin nói: "Nhân dân Liên Xô muốn có một lực lượng hải quân của chính mình đủ lớn và hùng mạnh hơn. Nhân dân chúng tôi sẽ có các tàu chiến mới và các căn cứ mới".


I.S.Yumashev, A.N.Kosygin, I.V.Stalin, A.N.Poskrebyshev và đô đốc F.S.Oktyabrsky trên tuần dương hạm "Molotov". 11 tháng 9 năm 1947.

Quá trình phục hưng và tăng cường lực lượng cho hạm đội, tất nhiên đòi hỏi đất nước đã bị chiến tranh tàn phá kiệt quệ phải có định hướng phân bổ các nguồn tài nguyên khổng lồ và những nỗ lực to lớn. Bài phát biểu "nổi tiếng", thực chất - 1 bài phát biểu khiêu khích của Winston Churchill tại Fulton (Mỹ), ngày 6 tháng 3 năm 1947, có mặt Tổng thống Mỹ H.Truman, người tuyên bố bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh chống lại "ách độc tài cộng sản" chỉ là sự trình bày chính thức cho Chiến tranh Lạnh, một loại chất xúc tác trong quá trình triển khai cuộc chạy đua vũ trang mới.

Bởi tới giai đoạn đó các nhà lãnh đạo Liên Xô đã từ lâu biết đến các mưu toan của Mỹ và Anh xây dựng trong mùa xuân năm 1945 các đơn vị chiến đấu chống Liên bang Xô Viết từ số tù binh quân sự Đức và các cựu quân nhân Quân đội Giải phóng Nga của Vlasov, biết Biên bản ghi nhớ №329 của chính phủ Mỹ ngày 04 tháng 9 năm 1945, ra lệnh cho Bộ Chiến tranh lựa chọn 20 mục tiêu quan trọng nhất ở Liên Xô để ném bom hạt nhân chiến lược (nếu tới tháng 8 năm 1945 Mỹ có hai đầu đạn nguyên tử sẵn sàng chiến đấu, thì tới đầu năm 1946 họ đã có gần 200).
.......
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2012, 01:19:30 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #86 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2012, 12:02:21 pm »

(tiếp)

Đó là lý do tại sao vào giữa năm 1948 xuất hiện kế hoạch "Chariotir" của Mỹ, tính theo hai giai đoạn: giai đoạn 1 (30 ngày - 133 quả bom nguyên tử trên 70 thành phố của Liên Xô) và Giai đoạn 2 (trong hai năm - thêm 200 bom nguyên tử và 250 ngàn tấn chất nổ thông thường). Sau đó, đến kế hoạch cho "Fleetwood", còn bộ tham mưu Không lực Hoa Kỳ cho ra đời kế hoạch tác chiến của mình SAK EVP1-49 trình Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS) ngày 21 Tháng 12 năm 1948. Kế hoạch đó đề xuất bắt đầu chiến tranh với Liên Xô trước ngày 01 Tháng 4 năm 1949, vì theo tính toán của họ, Liên Xô có thể chế tạo xong bom nguyên tử của nó không sớm hơn quãng những năm 1952-1955. Trong tháng 7 năm 1948, chính phủ Công Đảng Anh đã "bật đèn xanh" cho việc triển khai trên lãnh thổ đất nước mình 60 máy bay ném bom B-29 mang vũ khí hạt nhân. Đến cuối những năm 195x, Mỹ đã có hơn 3.400 căn cứ ở nước ngoài.


Mỹ đã lập kế hoạch thế nào để chinh phục và "dân chủ hóa" Liên Xô.

Theo tuyên bố của các quan chức quân sự phương Tây "phần then chốt trong các kế hoạch của Stalin là sự tăng tốc nhanh chóng sản xuất ra tất cả các loại vũ khí, ông ấy cho rằng cuộc xung đột giữa nước Nga Xô Viết và phương Tây sẽ diễn ra trong 10-15 năm tới. Trong thời gian này, Liên Xô sẽ tích lũy được ưu thế quân sự" (ông cho rằng các ngành công nghiệp quân sự của Mỹ và Anh sẽ nhanh chóng chuyển sang sản xuất các sản phẩm của thời bình). Kinh nghiệm của Đức quốc xã (và kinh nghiệm này xứng đáng được quan tâm) cho thấy việc xây dựng lực lượng tàu ngầm hùng mạnh là biện pháp nhanh nhất và "có giá rẻ" nhằm tăng sức mạnh hải quân của quốc gia. Theo đánh giá của Ch.Nimitz Đô đốc Tổng tư lệnh Hải quân Mỹ (1946), "Tàu ngầm trong quá trình chiến tranh trên Thái Bình Dương chính là chi phí sinh lời nhất của lực lượng hải quân Mỹ".


USS_Archerfish (SS-311), năm 1944 đã đánh chìm tàu sân bay Shinano của Nhật bằng 6 đạn ngư lôi tại tọa độ 32°0′B 137°0′Đ.

Ngay từ cuối chiến tranh, Stalin đã ra lệnh cho các chuyên gia hải quân chuẩn bị một kế hoạch mười năm (đến 1956) đóng tàu hải quân, các hợp phần chính trong số đó phải là lực lượng tàu sân bay-thiết giáp hạm (линейно-авианосные; battlecarrier) hùng mạnh và tàu ngầm. Tất nhiên đã có thông tin xác định về phạm vi của "Cuộc chiến khổng lồ giành Đại Tây Dương" giữa Anh, Mỹ và phía bên kia - nước Đức, nên Stalin đã suy nghĩ bằng các khái niệm quy mô lớn "trên đất liền, trên trời và trên biển".

Như ta đã biết, Đức quốc xã khi khởi đầu Chiến tranh thế giới thứ Hai (01.09.1939) trong đội ngũ của họ có tất cả 57 tàu ngầm (61 tàu còn đang đóng dở), nhưng trong quá trình chiến tranh đã đóng được 1131 tàu ngầm. "Fuehrer của dân tộc Đức" A. Hitler và đoàn tùy tùng của ông ta trong giai đoạn quan trọng của "Trận chiến giành Đại Tây Dương" ngày càng nghiêng theo sự khẳng định của Đại đô đốc (Großadmiral) K.Denitz rằng trận chiến này, nhất định sẽ chiến thắng, nếu nước Đức có thể tập trung cùng một lúc trong các khu vực hàng hải của đối phương không ít hơn 300 tàu ngầm.

Stalin (theo tin đồn trong giới thẩm quyền) có ý đồ đóng 3.000 tàu ngầm; tiếp theo con số này giảm xuống dưới 1200. Những "ý đồ" như thế đã nhiều lần được điều chỉnh giảm dần nhằm phát triển các đề án tàu ngầm mới chất lượng cao.

Trong mọi trường hợp, đề xuất mà Bộ TTM Hải quân trình bày trong năm 1945, đã được xem xét và phê duyệt trong dạng rút gọn, chuyển đổi thành kế hoạch mười năm đóng tàu quân sự, chương trình dự kiến đến 1.1.1956 trong biên chế Hải quân, trừ các lực lượng tàu mặt nước lớn (thiết giáp hạm, tàu sân bay, tàu tuần dương và tàu khu trục ), sẽ có 500 tàu ngầm diesel (loại lớn - 168, loại trung bình - 204, loại nhỏ - 123).

Dù sao, trong giai đoạn 1945-1947 Hải quân Liên Xô đã nhận được 10 (trong số 30 phải được chia và 165 dự định đánh chìm) tàu ngầm hạm đội Đức (bao gồm 4 tàu ngầm loại sê ri IXC, 4 tàu ngầm cỡ trung VIIC và một tàu ngầm loại nhỏ sê ri XXIII), ngoài ra còn "mua" công nghệ tàu ngầm mới nhất sê ri XXVI với một động cơ Walter duy nhất, cũng như được bồi thường chiến phí 8 bộ phận tàu ngầm sê ri XXI.

Phù hợp với Hiệp định Potsdam năm 1945, khi phân chia của các hạm đội Đức và Ý, Liên Xô tuyên bố lấy một phần ba biên chế tàu còn lại của chúng; phía Liên Xô trong cuộc bàn cãi việc phân chia chiến lợi phẩm (các đô đốc N.Kuznetsov, G.Levchenko) chỉ khai thác được 1 phần đòi hỏi của mình.


Tại hội nghị Postdam. Giữa — Nguyên soái Liên Xô G.К.Zhukov và Đô đốc Hạm đội Liên bang Xô Viết N.G.Kuznetsov. 1945.

Từ biên chế lực lượng hải quân nước ngoài trong giai đoạn 1946-1955 mà Hải quân Liên Xô đã nhận được 11 tàu ngầm: một tàu ngầm "Lembit" (của Estonia cũ), hai tàu ngầm Anh (trả về Anh vào năm 1950), 3 tàu ngầm Rumani (các tàu ngầm thả thủy lôi "Rekuinul" và "Marsuinul" - chúng được loại bỏ làm phế liệu năm 1950, tàu ngầm "Delfinul" - chuyển giao cho Hải quân CHND Rumani vào năm 1951), 5 tàu ngầm nhỏ của Ý, được loại bỏ làm phế liệu năm 1955.

Trong danh sách này người ta chỉ quan tâm các tàu ngầm Đức mới sê ri XXI, những ý tưởng kỹ thuật chính của nó được vay mượn bởi cả người Anh, người Mỹ, và các tổng công trình sư thiết kế của Liên Xô, cũng như một loạt các tàu ngầm thử nghiệm sê ri XXVI với động cơ chu trình kín kiểu "Walter".

Năm 1955, tác giả (khi đó là sĩ quan trên tàu ngầm S-170 đề án 613) đã có cơ hội lên thăm chiến lợi phẩm tàu ngầm Đức sê ri XXI (nhà máy "Sudomekh", Leningrad). Sự quan tâm của các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô với chiếc tàu ngầm này là thành thực.


U-Boot Type XXI in Detail.

Ngay cả khi xem xét ngắn hạn, cũng thấy rõ rằng một số lớn các ý tưởng thiết kế và cải tiến kỹ thuật khi phát triển các tàu ngầm đề án 613 của chúng ta được lấy từ sê ri XXI của người Đức.

Hãy nhớ những điều sau. Thực tế các hệ thống lặn và nổi lên, khí áp cao đều như nhau. Khác: tất cả các đường ống dẫn được chế tạo bằng sắt và đưa ra ngoài vỏ bền, từ đó tạo ra hiệu ứng "không gian thoáng". Nhưng vì thế nên ta thấy rõ ràng những chiếc tàu ngầm này trước kia được thiết kế cho "vòng đời ngắn", không bao gồm chi phí sửa chữa vận hành quy mô (lớn, trung bình, v.v.). Động cơ hành trình tư thế nổi 2 MAN-M6 với công suất 2 ngàn mã lực gợi nhớ đáng kể đến động cơ diesel 37-D của chúng ta (kiến trúc, máy móc và thiết bị điều khiển), ngoại trừ - chúng thuộc loại "thực hiện mở", ít tiếng ồn khi làm việc, minh chứng cho công nghệ thực hiện của họ rất cao. Động cơ diesel của chúng ta có tiếng ồn đến nỗi tiếng gầm của chúng, đặc biệt khi sạc ắc quy, đôi khi cách khoảng 20 dặm vẫn nghe được.

Máy nén diesel "Junkers" là bản sao chính xác máy nén DK-2 của chúng ta (hay đúng hơn, việc sao chép này là từ mẫu đầu tiên), gyrocompass "Anshiuts" với hệ thống treo điện từ của yếu tố cảm biến hồi chuyển nổi bật ở sự tương đồng với "Kurs-3" của chúng ta (trên tàu ngầm Liên Xô đóng trước chiến tranh thường sử dụng gyrocompasses hiệu GU- 4 với hệ cáp treo rotor của con quay hồi chuyển, rất nguy hiểm trong trường hợp có sự thúc đẩy bất đối xứng lên con quay hồi chuyển).

Dễ thấy nhất là những ý tưởng kỹ thuật riêng, chưa có trong thiết kế các tàu ngầm của chúng ta. Đặc biệt, các tàu ngầm Đức sê ri XXI có trong khoang thứ nhất một thiết bị tự động nạp đạn vào các ống phóng ngư lôi (nạp tất cả 6 ống phóng chỉ đòi hỏi 15 phút).



Dự trữ nổi của nó là 18% (tàu ngầm của chúng ta 28-30%), do đó ngay cả trong tư thế hành trình tuần dương các tàu ngầm sê ri XXI trông như nửa chìm, như thể sẵn sàng "lặn xuống nước". Trong khi đó, tiêu chuẩn chiến thuật về lặn khẩn (từ tư thế tuần dương sang tư thế lặn xuống chiều sâu tiềm vọng) trên tàu của người Đức và trên tàu của chúng ta là như nhau - 45 giây.
........
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Bảy, 2012, 08:12:24 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #87 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2012, 04:37:04 pm »

(tiếp)

Trên các tàu ngầm sê ri XXI trong các khoang ở có hệ thống cabin cho sỹ quan và hạ sỹ quan, mà thủy thủ tàu ngầm của chúng tôi chỉ có thể mơ ước. Thật thú vị là trên các tàu ngầm Đức không có chính trị viên về mặt chính thức, nhưng trợ lý chính của thuyền trưởng tàu ngầm kiêm nhiệm chức trách của sĩ quan Gestapo.

Với sự quan tâm rất lớn chúng tôi, các thủy thủ tàu ngầm - "khách tham quan”, đã nghiên cứu các thiết bị và hệ thống riêng biệt, bao gồm:
- hệ thống "snorkel" (phục vụ cho động cơ diesel làm việc dưới nước), những sự khác biệt về thiết kế của nó so với hệ thống RDP của chúng tôi;
- thiết bị tính toán thiên văn–địa cầu, đơn giản hóa và giảm nhẹ công tác tính toán tọa độ của tàu ngầm theo sự quan sát các thiên thể trên bầu trời (trên những chiếc tàu ngầm của chúng tôi, thiết bị tính toán tương tự như vậy là máy tính "Vega" phải gần 10 năm sau mới có).

Chúng tôi thấy rõ ràng, xét trên nhiều điểm mới về kỹ thuật, các công trình sư thiết kế người Đức đã vượt trước tư tưởng trong nước của chúng ta.

Theo ý kiến của chúng tôi, đó là những điểm sau: hệ thống bắn ngư lôi không tạo bọt, thiết bị phóng nhiễu chống radar của đối phương ("đám mây khí"), thiết bị nén (xung hóa) điện vô tuyến trên kênh liên lạc “tàu ngầm - bờ", và những điểm khác nữa.

Đồng thời, người Đức (những bậc thầy vĩ đại về phương diện đổi mới kỹ thuật) trong những năm chiến tranh đã thụt lùi vô vọng trước người Anh và người Mỹ trong lĩnh vực radar. Có lẽ vì thế mà các nhà phát triển của chúng tôi đã phải tìm đường đi của mình trong hướng này.

Trên các tàu ngầm Mỹ thời kỳ Thế chiến II đã đưa vào sử dụng thành công hệ thống điều hòa không khí (hệ thống vi khí hậu); trên các tàu ngầm của chúng ta, các máy điều hòa không khí cầm tay kiểu "ghép mảnh" chỉ xuất hiện 20 năm sau đó (điều tạo ra những khó khăn không thể tưởng tượng được cho đội ngũ thuyền viên khi các tàu ngầm diesel Liên Xô bắt đầu hoạt động trong các khu vực cận xích đạo). Trên những con tàu của Đức sự "xa xỉ" này cũng không có.


Tàu ngầm «Mingo”, 17.6.1945. Radar phòng không SS phiên bản những năm sau này đã thay thế ăng-ten hình chữ nhật SD hình bầu dục lớn, như thể hiển trên hình. Ăng-ten nâng-hạ bây giờ được sử dụng cho liên lạc đường dài và thay thế ăng-ten thanh, vốn trước đó được sử dụng để lặp SD. – Sách “Tàu ngầm Mỹ từ đầu thế kỷ XX đến Chiến tranh Thế giới thứ II. L.B.Kascheev.

Hoàn toàn không làm mất đi giá trị của các công trình sư thiết kế và các nhà đóng tàu của chúng ta, những người đã đề xuất nhiều ý tưởng và các giải pháp kỹ thuật độc đáo của mình, chúng ta phải thừa nhận rằng trong những năm học ở trường phổ thông họ cũng biết "ghi danh trong số những học sinh xuất sắc". Tuy nhiên, để khẳng định điều đó trong thời đại "đấu tranh của các quyền ưu tiên với những kẻ theo chủ nghĩa thế giới không cội rễ" ít nhất cũng không an toàn.

Tàu ngầm Mỹ thời kỳ đó về thực chất chúng tôi không biết, còn trong những năm đối đầu sau đó thì các đặc tính kỹ-chiến thuật của chúng, nếu chúng trở nên nổi tiếng, luôn được cố gấng hạ thấp hoặc che dấu cẩn thận.

Khi cố gắng soi sáng toàn diện các chương trình đóng tàu đầu tiên sau chiến tranh (ít nhất là một phần "tàu ngầm"), bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng sẽ phải đối mặt với sự cực kỳ rối rắm của vấn đề. Các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự cấp cao thời kỳ đó không có ý kiến đồng nhất, chặt chẽ về phương hướng và quy mô của chương trình, điều đó rốt cuộc đã ảnh hưởng đến phần “tàu ngầm", hợp phần này mất một thời gian ở trạng thái "con ghẻ".

Dân ủy Hải quân, và sau đó là Bộ trưởng Hải quân, đô đốc N.G.Kuznetsov, người phó của ông đô đốc L.M.Galler và tư lệnh Hạm đội Biển Bắc (sau này - Tổng tham mưu trưởng Hải quân) đô đốc A.G.Golovko - tất cả đều xuất thân từ lính tàu mặt nước – họ bảo vệ sự cần thiết phải xây dựng một hạm đội tàu mặt nước hùng mạnh (thiết giáp hạm, tàu sân bay, tuần dương hạm và khu trục hạm). Stalin nghiêng về phía các tuần dương hạm hạng nặng. Phó Tư lệnh Tối cao (sau này là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, nguyên soái G.K.Zhukov chiếm một vị trí rất tiêu cực: chúng ta cần xe tăng (rất nhiều xe tăng!), chứ không phải là những chiếc tàu "tốn kém và vô dụng".


G.Zhukov và N.Kuznetsov.

Tiện thể cần lưu ý rằng "cuộc chiến tranh vô hình của các tướng lĩnh và các đô đốc” («война лампасов и нашивок») vẫn còn tiếp tục rất lâu cho đến tận trước khi quân đội sụp đổ cùng với Liên bang Xô Viết.

Nhưng! Tại giai đoạn lịch sử này tính kinh tế đã chiến thắng - hay đúng hơn, sự lựa chọn theo tiêu chí "chi phí - hiệu quả". Nền kinh tế Liên Xô không thể gồng mình trong một thời gian ngắn để xây dựng một hạm đội các tàu sân bay, thiết giáp hạm và tuần dương hạm, dẫu chỉ là tiệm cận từ xa tới hàng chục tàu thuộc các lớp này, những tàu chiến mà Mỹ và Anh đã có. Hãy biết lượng sức mình: chi phí xây dựng (Kế hoạch đóng tàu hải quân 1946-1955) của 4 tàu tuần dương hạng nặng đề án 82 và 30 tàu tuần dương hạng nhẹ đề án 68 bis là 13,80 tỷ rúp, còn chi phí xây dựng 25 tàu ngầm đề án 611, 204 tàu ngầm đề án 613 và 123 tàu ngầm nhỏ, tức là 352 tàu các loại, lên đến 8,04 tỷ rúp. Ngoài ra trình độ công nghệ và lực lượng hiện có cho phép “nướng tàu như nướng bánh tráng".

Điểm nhấn trong các cuộc tranh luận học thuật "xây dựng cái gì?" là việc quay sang phía I.V. Stalin ngày 20 tháng 11 năm 1951 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Hải quân, Ủy viên Tổng Hội đồng quân sự Hải quân, Ủy viên BCHTU Đảng Cộng sản Liên Xô đô đốc S.E.Zakharov. Con át chủ bài trong trò chơi này là lời xác nhận một thực tế rõ ràng: "trong vòng 5 năm qua, Hải quân đã không nhận được bất kỳ tàu ngầm nào được đóng mới sau chiến tranh mà tiếp cận được về dữ liệu kỹ-chiến thuật với các yêu cầu hiện đại".


Đô đốc Zakharov Semion Egorovitch.

Sau bức thư của S.E.Zakharov đầu năm 1952 tiếp đến quyết định của Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao và Hội đồng Bộ trưởng về sự sửa đổi căn bản chương trình đóng tàu ngầm. Cuối cùng, chương trình đóng tàu ngầm đầu tiên dự kiến (trong một hình thức có phần tóm tắt) sẽ xây dựng một lực lượng tàu ngầm lớn (tàu ngầm cỡ lớn - 40, cỡ trung bình - 200, cỡ nhỏ - 125). Stalin lên tiếng rõ ràng, phản đối số lượng lớn các đề án. Trong các giai đoạn tiếp theo, điều kiện này bị vi phạm, nó hoàn toàn không tạo ra khả năng xây dựng một hạm đội tinh gọn (như người ta thường nói - "cân bằng hóa") có sức sẵn sàng chiến đấu cao, được đảm bảo toàn diện, và điều đó dẫn đến sự phân tán các nguồn lực lớn.

Trong thời kỳ hậu Stalin việc thực hiện chương trình đóng tàu bị ảnh hưởng nhiều bởi sự thù địch truyền thống của G.K.Zhukov với hạm đội và chủ yếu là các quyết định duy ý chí không mạch lạc của Nikita Khrushchev (Bí thư thứ nhất Uỷ ban Trung ương ĐCSLX và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng). Khi nỗ lực "giảm giá" nội dung hạm đội trong các điều kiện ưu tiên các chương trình tên lửa hạt nhân, Khrushchev đã cắt giảm việc đóng tàu và chuẩn bị đội ngũ cán bộ cho hạm đội tàu mặt nước (vì nó mà ông có được "tình yêu" đặc biệt của các thủy thủ quân sự), bằng cách đó gián tiếp bật "đèn xanh" cho công cuộc xây dựng tàu ngầm, tất nhiên là tàu ngầm diesel : tàu ngầm hạt nhân khi đó còn ở "buổi bình minh" phôi thai.

Cái chết của thiết giáp hạm "Novorossisk" năm 1955, là động lực ban đầu cho quá trình này. Rõ ràng, không phải vô ý mà trong chuyến thăm bằng đưởng biển tới nước Anh (1956), Nikita Khrushchev đã đề nghị người Anh mua tàu tuần dương mới nhất "Ordzhonikidze" tại thời điểm ấy, con tàu là đối tượng quan tâm ráo riết của các cơ quan tình báo hải quân nước ngoài.

Tổng cộng, theo mệnh lệnh của các nhà dân chủ-giả hiệu (Sắc lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ngày 25 tháng 3 năm 1958) đã chuyển sang phế liệu 240 tàu thuyền hải quân, gồm có 6 khu trục hạm, 12 tàu ngầm, 7 tàu đổ bộ, 30 tàu quét mìn, 89 tàu chở dầu, cũng như 24 thiết giáp hạm chưa hoàn thành, các tuần dương hạm hạng nặng đề án 82, tuần dương hạm hạng nhẹ đề án 68 bis, hơn 370 tàu chuyển sang niêm cất. Từ cú đánh đó hạm đội và ngành đóng tàu hải quân một thời gian dài không thể phục hồi.

Việc thực hiện chương trình đóng tàu lớn (phần tàu ngầm diesel) được thực hiện theo các thời kỳ (xem bảng dưới).

Ghi chú. Tên trong dấu ngoặc kép - theo thuật ngữ của Hải quân Mỹ và NATO.

CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CÁC TÀU NGẦM DIESEL CỦA HẢI QUÂN XÔ VIẾT (phân theo thời kỳ)

..........
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Tám, 2012, 09:08:10 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #88 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2012, 09:37:39 pm »

(tiếp)

HẠM ĐỘI TÀU NGẦM DIESEL TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CỦA CHIẾN TRANH LẠNH (1947-1956)

Trong giai đoạn "đầu tiên" kể trên trong 1chương trình lớn, Hải quân Liên Xô đã phát động công cuộc xây dựng ồ ạt các tàu ngầm diesel thuộc ba đề án lớn - 611, 613 và 615.
Do đề án 613 là "đầu đàn" và lớn nhất, tác giả sẽ đặc biệt dừng lại ở đề án này một cách chi tiết hơn, còn các đề án khác (và tiếp theo) chỉ làm rõ các đặc tính chính của chúng.

Tàu ngầm cỡ trung đề án 613 (lớp "Whiskey")

Giới thiệu tóm tắt: các tàu ngầm cỡ trung xây dựng trước chiến tranh thuộc các đề án "TS" và "S" cuối những năm 1930 thực tế đã đạt đến giới hạn nâng cấp, và vào năm 1939 người ta đã thảo ra nhiệm vụ thiết kế kỹ thuật cho đồ án thiết kế tàu ngầm lượng choán nươc 500-600 tấn, năm 1942 phòng thiết kế SKB-18 đã phát triển 1 đề án phác thảo tàu ngầm 770 và 820 tấn. Sau khi trục vớt 1 tàu ngầm Đức U-250 bị đắm, Dân ủy nhân dân  Hải quân N.G.Kuznetsov đã quyết định chấm dứt làm việc theo đồ án thiết kế đã bắt đầu và "vào năm 1945 bắt tay vào thiết kế một loại tàu ngầm độ choán nước cỡ trung bình và trình lên tôi xem xét". Năm 1946, sau khi bản đồ án nghiên cứu được phê duyệt thiết kế phác thảo, thì từ năm 1947 SKB-18 bắt tay làm đồ án kỹ thuật.


Tàu ngầm đề án 613 - tàu ngầm đề án đầu tiên sau chiến tranh.

Được xây dựng tại các nhà máy "Red Sormovo" (Gorky, Nizhny Novgorod) từ năm 1950, "Marty" (Nikolaev, Ukraine) từ năm 1952, "Baltic" (Leningrad, St Petersburg) từ năm 1955, № 199 (Komsomolsk-na-Amur) từ năm 1954. Các tổng công trình sư - đại tá hải quân V.N.Peregudov, Ya.E.Evgrafov (1946-1950) và Z.A.Deribin (từ 1950)


Vladimir Peregudov, năm 1950. Yacob Evgrafovitch Evgrafov, tổng công trình sư thiết kế tàu ngầm đề án 613 (1946-1950), Zosim Aleksandrovitch Deribin, tổng công trình sư thiết kế đề án tàu ngầm 613 (từ 1950), đề án 641.

Tàu ngầm đầu đàn gia nhập biên chế Hải quân tháng 12 năm 1951. Chi phí tàu ngầm này, là chi phí tàu ngầm "rẻ" nhất: tàu đầu đàn - 70 triệu rúp, các tàu sản xuất hàng loạt - 17 triệu rúp (giá của năm 1950, khi tiền lương trung bình hàng tháng của công nhân lành nghề ở trần 200 rúp tính chuyển đổi sang cải cách tiền tệ năm 1961).

Nhiệm vụ chiến thuật của tàu ngầm đề án này là: hoạt động trên các tuyến đường biển, tiêu diệt các tàu chiến và tàu vận tải, hoạt động gần các căn cứ của kẻ thù và các khu vực biển gần đó, và tiếp theo - chiến đấu chống lại các tàu ngầm của đối phương.

Sự phát triển của các phương tiện chiến đấu chống tàu ngầm đòi hỏi cải thiện phẩm chất tác chiến của các tàu ngầm mới. Những hoàn cảnh này buộc phải tính đến những bài học của chiến tranh, kinh nghiệm của ngành đóng tàu ngầm trong và ngoài nước, đặc biệt là Đức.



Bố trí bên trong  tàu ngầm diesel đề án 613: 1 - ống phóng ngư lôi 533 mm; 2 - phao điện thoại báo tình huống khẩn cấp; 3 - động cơ điện hành trình chế độ tiết kiệm PG-103; 4 - các bình khí nén; 5 - động cơ diesel 37D; 6 - pháo 57 mm CM-24-ZIF (đã bỏ); 7 - cửa xả khí động cơ 37D; 8 - Antenna đài trinh sát vô tuyến "VAN"; 9 - Antenna đài trinh sát VTDT "Nakat"; 10 - Kính tiềm vọng tấn công; 11 - la bàn từ tính GON-23M; 12 - pháo  25-mm 2M-8 (gỡ bỏ); 13 - cabin 4 chỗ sỹ quan; 14 - Ắc quy 46SU; 15 - bánh lái ngang; 16 - sonar "Tamir-5L; 17 - hầm xích; 18 - sitec điều chỉnh chênh mớn dọc; 19 - sitec chứa nước ngọt; 20 - sitec thay thế ngư lôi (khi bắn); 21 - sitec chứa nhiên liệu bên trong vỏ bèn của tàu; 22 - kính tiềm vọng phòng không (thiên đỉnh); 23 - hầm chứa không khí trục RDP nâng-thả được; 24 - ăng-ten radar "Flag"; 25 - buồng ở thủy thủ trưởng; 26 - máy nén diesel DK-2; 27 - sitec chứa nhiên liệu bên ngoài vỏ bền; 28 - động cơ điện đẩy chân vịt PG-101; 29, 39, 40, 41, 42 - các sitec dằn chủ; 30 - bánh lái đứng; 31 - chân vịt; 32 - bộ ổn định; 33 - máy nén chạy điện tạo không khí áp suất cao; 34 - cabin radar; 35 - la bàn chính; 36 - cabin đôi sỹ quan; 37 - ngư lôi 533 mm dự trữ; 38 - bình khí nén bắn ngư lôi.

Các cải tiến kỹ thuật, so với tàu ngầm trước chiến tranh, thể hiện trên loại tàu ngầm này là:

- liên kết lắp ráp bằng mối hàn vỏ bền và vỏ nhẹ, thực hiện bằng thép không gỉ mới SKHL-4 (СХЛ-4) có giới hạn chảy cao (nghĩa là độ đàn hồi cũng cao), thực hiện các ngăn ắc quy dưới dạng các hình số "8" dựng đứng, cho phép tăng đáng kể thể tích có ích bên trong vỏ bền của tàu (các loạt tàu ngầm trước chiến tranh có thân tàu gắn bằng đinh tán);
- sử dụng thiết bị RDP (vận hành động cơ diesel dưới nước), cho phép tiến hành những chuyến đi dài và nạp bổ sung ắc quy ở độ sâu kính tiềm vọng;
- hệ thống bắn ngư lôi không tạo bọt (GS-30, và sau đó GS-70);
- lắp đặt các thiết bị radar "Flag" quét vòng, đài định hướng âm mới (TSPS) "Phoenix" và sonar (GAS) "Tamir-5L", hiện đại về mặt chiến thuật;
- áp dụng hệ thống tái sinh không khí mới (RDU sử dụng tấm oxy cô đặc), được đưa vào sử dụng từ năm 1951;
- hệ thống điều chỉnh độ chênh mớn không gây ồn (dùng không khí);
- loại các van thông biển Kingston khỏi sitec dằn chủ (trừ nhóm giữa), để giảm đáng kể thời gian lặn khẩn cấp;
- áp dụng rộng rãi hệ giảm chấn cho các cơ cấu máy móc;
- sử dụng hệ thống thủy lực chung của tàu thủy (loạt tàu ngầm trước chiến tranh sử dụng hệ thống không khí, ngụy trang mình trước sự bám đuổi của hệ thống phòng thủ chống tàu ngầm (PLO);
- lắp đặt bầu che sonar chuyên dụng tại phần cánh đuôi ổn định ngang, làm tăng đáng kể chất lượng thủy động lực học của thân tàu.


Tàu ngầm S-277 ở trạng thái có thể đã được trang bị lại với bầu che GAS MG-25 "Yakhta" (ảnh từ bộ lưu trữ của Ilya Kurganov).

Tàu ngầm được đảm bảo: tính chống chìm trong tư thế nổi khi nước ngập bất kỳ khoang nào, cũng như khả nămg nổi lên khẩn cấp từ độ sâu đang làm việc bằng cách thổi khí nén áp suất cao trực tiếp vào ballast chủ (áp suất khí lên tới 200 atm).

Các tàu ngầm đề án 613 thuộc loại lớn nhất nếu so với các tàu ngầm nước ngoài thuộc phân lớp "trung bình" (biển), và có các đặc điểm kỹ-chiến thuật như sau:

Độ choán nước: tư thế nổi - 1050, tư thế lặn - 1340 m3 (dự trữ nổi 27,8%).
Chiều sâu lặn: làm việc - 170, tối đa - 200, nghiêm trọng - 240, phá hủy - 280 m (để so sánh, tàu ngầm tham gia trong chiến tranh có độ sâu lặn 80-90 m, còn tàu ngầm Đức mới nhất - 100-150 m).

Hai động cơ hành trình tư thế nổi (động cơ diesel Kolomna 37-D, công suất mỗi chiếc 2000 mã lực - hp) đảm bảo tốc độ đến 18 hải lý; hai cụm ắc quy và hai động cơ điện chính PG-101 1350 mã lực đảm bảo tốc độ đi ngầm dưới nước tới 14 hải lý (cao hơn gần gấp 2 lần so với tàu ngầm cũ); hai động cơ hành trình chế độ kinh tế (các động cơ "lén"), PG-103 đảm bảo phạm vi đi biển tư thế ngầm tối đa đến 350 dặm với tốc độ 2,8 hải lý.
Kíp thủy thủ - 56 người (trong đó có 11 sĩ quan).
Thời gian bơi tự lập (hành trình không phải tiếp tế bổ sung vật chất): theo đặc điểm kỹ thuật - 30 (thực tế đã lên đến 40) ngày.

Vũ khí: a) ngư lôi - 4 ống phóng phía mũi và 2 ống phóng ngư lôi phía đuôi tàu, cơ số đạn ngư lôi - 12 (hoặc nếu mang mìn - 22 trái). Việc bước vào tấn công ngư lôi được đảm bảo bởi thiết bị phóng ngư lôi tự động TAS-L2 kiểu-bánh răng-hình nón, với việc nạp tự động từ xa dữ liệu hiện tại vào đạn ngư lôi: góc mở, góc ngoặt hướng tới mục tiêu, những điểm tự bản thân nó có sự mới lạ;
b) pháo - 1 súng tự động hai nòng 22 mm tại bệ súng phần mũi tàu; một súng 2x57 mm bán tự động gắn trên sân phía đuôi (trên những chiếc tàu ngầm đầu tiên của loạt này - 1 súng 1 nòng 100 mm/57 cal).


Tàu ngầm đề án 613 WHISKEY-II với pháo tự động đằng mũi 2M-8, Baltic, những năm 1950 (ảnh N.G.Maslovatyi, Tàu ngầm đề án 613 "Con tàu và chiến trận, St-Petersburg, 2002)

Tiếp theo, đầu tiên người ta bỏ pháo đuôi rồi sau đó bỏ pháo mũi còn kiến trúc thân tàu được lấy dạng thuôn dòng;
- thiết bị RDP (động cơ diesel làm việc dưới nước), trước đây thực hiện trên một hầm kéo xếp di động hút khí và thải khí qua sử dụng. Tiếp theo, bây giờ đường ống dẫn khí RDP được dẫn ra một hình "nấm" cố định dạng khe hở tại phần đuôi của mui tàu (ограждение рубки). Thiết bị đảm bảo cho tàu tốc độ 5-6 hải lý ở độ sâu 7-8 m khi biển sóng cấp 5-6, nhưng nó đòi hỏi phải có tài nghệ lớn để điều khiển bộ ổn định bánh lái phương ngang và sự quan tâm đặc biệt đến công tác trực hành trình để tránh sụp xuống độ sâu đầy rẫy những hiểm họa diệt vong của con tàu;
- đài radar "Flag" quét vòng và trạm tìm kiếm "Anker" dựa trên các ăng-ten kéo-xếp di động đảm bảo: định hướng đạo hàng ở khoảng cách đến 40 dặm, phát hiện các loại tàu mặt nước - lên đến 10 dặm, phát hiện sự làm việc của các radar "nước ngoài" - ở khoảng cách lên đến 30 dặm;
- đài radar định hướng âm thụ động "Phoenix" trên nền tảng cơ sở thủy âm tốt, sonar thụ động-chủ động tần số cao có ăng-ten xoay "Tamir-5L" đảm bảo: phát hiện các tàu mặt nước ở khoảng 100-120 kabelt, phát hiện tiếng ồn của các tàu ngầm diesel khi chạy động cơ điện - đến 5-6 kabelt (tàu ngầm nguyên tử khi chạy GTZA - 25-30 kabelt), thông tin liên lạc thủy âm - đến 60 kabelt;
- liên lạc vô tuyến đảm bảo: trên hướng "tàu ngầm-bờ" sử dụng thiết bị tác động cực nhanh “Akula” thông qua ăng-ten kéo xếp di động VAN; trên hướng truyền dẫn vô tuyến “bờ-tàu ngầm” sử dụng truyền dẫn sóng dài trong tư thế bơi ngầm.

Các đổi mới kỹ thuật là: tổ chức 3 khoang "sinh tồn" (1, 3 và 7) với các thiết bị tạo khả năng đảm bảo cho đội ngũ thuyền viên thoát khỏi tàu ngầm đang chìm bằng phương pháp giải nén (thông qua cửa nắp tháp chỉ huy hoặc ống phóng ngư lôi) từ độ sâu đến 100 m (thực tế - 60 m).

Trong giai đoạn 1951-1957 đã đóng xong 236 tàu ngầm đề án này. Ngoài ra, các bộ phận và các bán thành phẩm của 21 tàu ngầm cũng được gửi đến CHND Trung Hoa để lắp ráp thành phẩm tại nhà máy đóng tàu Trung Quốc. Trong những năm tiếp theo, đã đóng tiếp được 75 tàu ngầm với các đặc điểm chi tiết chuyên ngành hẹp khác nhau (các đề án 640, 644, 665 và những đề án khác).


Tàu ngầm đề án 613 trên biển (Hạm đội Thái Bình Dương)

Sê ri tàu ngầm này đã lập một "kỷ lục" trong lịch sử tất cả các hạm đội hải quân trên thế giới. Trong "cơn sốt ngành đóng tàu", một số nhà chiến lược cầm quyền riêng rẽ đã nghĩ đến việc tăng số lượng tàu ngầm hạ thủy lên đến 1200. Trong  giai đoạn "cao trào" căng thẳng nhất thời 1954-1956 riêng nhà máy hùng mạnh nhất “Red Sormovo", lần đầu tiên áp dụng phương pháp lắp ráp các phân đoạn thân tàu với "nhân" của các khoang bằng các cơ cấu máy và phụ tùng, đã hạ thủy 35-40 tàu ngầm mỗi năm, còn trong chế độ và đã buộc chế độ tăng cường có thể đưa công suất lên đến 150 tàu ngầm mỗi năm (theo các nguồn khác, có thể lên đến 300). Tổng số tàu ngầm được đóng ở nhà máy "Red Sormovo” là 146, sau đó chuyển hướng năng lực đóng tàu sang cho các đề án tàu ngầm khác.

Trong giai đoạn 2 của chương trình (1957-1965) một phần các tàu ngầm đã đóng của đề án này (43 trong 236) được chuyển giao cho các lực lượng hải quân quốc gia "hữu nghị" thuộc "phe xã hội chủ nghĩa" hoặc "thế giới thứ 3" (Ba Lan, Bulgaria, Albania, Ai Cập và Indonesia), một phần được nâng cấp hiện đại hóa sang đề án 613-V nhằm tăng thời gian đi biển độc lập lên 1,5 lần. Hai tàu ngầm đã được trang bị lại dành cho Bộ Nghề Cá và được biết đến dưới các tên gọi "Severyanka" và "Slavianka".

Tàu ngầm đề án này chứng tỏ phẩm chất kỹ thuật khá tin cậy và có sức sinh tồn tốt: 40 năm phục vụ trong biên chế các hạm đội tàu ngầm đề án này chỉ bị mất duy nhất 1 tàu - S-178 vào năm 1981, và nguyên nhân do sơ suất của kíp thủy thủ, mà không phải vì lỗi thiết kế và chế tạo, với họ người ta phải nói những lời vô cùng cám ơn riêng.

Nào, Vanka, hãy đứng dậy.

Sau khi hoàn thành công đoạn lắp ráp phân xưởng tại nhà máy "Sormovo Đỏ", các tàu ngầm được chuyển đi trên phương tiện vận tải chuyên dụng (trong phiên bản đã sẵn sàng về kỹ thuật) và khi hạ thủy được "thả" bằng dầm đỡ xuống nước, tàu chìm hẳn xuống dưới mặt nước rồi lại nổi lên trong tư thế "Vanka-vstanka” (“Vanka hãy đứng dậy”).


Pháo đài hải quân vinh quang "Sormovo Đỏ"

Sau khi kiểm tra và hoàn tất trang bị, các tàu ngầm nằm trên các khoang-dok vận tải (còn vào dịp lũ mùa xuân - "bó thành cặp”) được kéo trên sông Volga xuống cảng Astrakhan, từ đó tự băng qua biển Caspian tới căn cứ thử nghiệm của nhà máy ở Baku (Azerbaijan).

Với việc hoàn thành chương trình thử nghiệm căng thẳng của nhà máy và quốc gia tại Baku, các tàu ngầm thực hiện chuyến đi sang cảng Astrakhan, tại đây chúng lại được cẩu lên khoang dok, được ngụy trang cẩn thận, rồi kéo lên phía bắc trên sông Volga, trên hệ thống kênh Mariinsky và đi tiếp: hoặc theo kênh Belomor-Baltic tới Hạm đội Biển Bắc, hoặc theo hồ Ladoga và sông Neva – tới Hạm đội Baltic. Từ đó mà ta thấy được "tầm nhìn xa thiên tài" của Piotr Đại đế và Stalin.

Ở giai đoạn này, các thông báo liên lạc từ bờ được ngừng lại, các chiến sỹ tàu ngầm hiên ngang chỉ được nhìn Đất Mẹ Nga từ dưới tấm bạt che. Khi đã tới phương Bắc, các tàu ngầm có ý định chuyển giao cho Hạm đội Thái Bình Dương sẽ đậu ở các bến tàu, nơi chúng được hàn tấm "áo băng" và lắp các chân vịt gang phá băng. Sau đó, các con tàu trong thành phần đoàn caravan Bắc Cực đi theo tàu phá băng thành đoàn thám hiểm có mục đích đặc biệt (EON) tới vịnh Providenie và biển Bering rồi tiếp tục đến Petropavlovsk-Kamchatsky. Tùy thuộc vào điều kiện băng giá, một số đoàn caravan tạm dừng dịp nghỉ đông tại Tiksi, một số "trượt qua" vì việc tìm đường đi đến cả năm trời. Tất nhiên, tất cả các chuyến di chuyển đó xảy ra trong những điều kiện xa vời với điều kiện của những chuyến du lịch.

Do loạt tàu đóng sớm nhất và số lượng lớn nhất này là cơ sở thiết kế xuất phát cho việc xây dựng các tàu ngầm diesel các đề án khác "tươi mới" hơn, điều thích hợp là soi tỏ những yếu tố không kém phần quan trọng, như yếu tố tiện ích ở cho con người và đảm bảo sinh hoạt thường ngày cho thủy thủ đoàn tàu ngầm. Trong những năm đó, người ta đang tuyên truyền khẩu hiệu "tất cả vì lợi ích của con người".

Nhược điểm chính của tàu ngầm đề án 613 là tính tiện ích ở khá nghèo nàn; điều đó đặc biệt quan trọng khi mà các tàu ngầm đã được lên kế hoạch từ trước sẽ hoạt động ở các vùng xa xôi trên không gian chiến trường phương Bắc và Viễn Đông, xuât phát từ các vịnh biển hoang vu và các bến cảng xa xôi.



Chỉ có thuyền trưởng tàu ngầm, thuyền phó chính trị của ông và trưởng ngành tác chiến 5 có cabin-hộp bút kích thước 1,7x0,8 m (và khoảng cách giữa chúng); các sĩ quan còn lại ẩn mình trên các divan nhỏ và các lưng ghế lật. Cá nhân các thủy thủ ("số hiệu chiến đấu") nói chung không có chỗ chính thức để nghỉ ngơi.
.......
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Tám, 2012, 12:38:08 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #89 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2012, 03:44:32 pm »

(tiếp)

Vấn đề phát sinh đặc biệt khi phải bố trí dư người trên tàu (bộ chỉ huy đơn vị, sỹ quan ban tham mưu, cán bộ các phòng ban chính trị, những người làm việc đôi trên cùng vị trí và các thủy thủ học việc). Đã có những mệnh lệnh nghiêm ngặt cấm số lượng người đi trên tàu vượt quá 10% biên chế thủy thủ đoàn.

Điều kiện vi khí hậu vẫn còn tồn tại nhiều điều xa mong muốn. Phương tiện thanh lọc hóa học không khí (tái sinh) không hiệu quả, và có nguy cơ cháy nổ cao. Thiếu điều hòa không khí trong khoang tàu (trên những con tàu ngầm Mỹ điều hòa không khí hoạt động một cách an toàn kể từ đầu những năm 1940) dẫn đến sự héo mòn vì nhiệt độ và làm suy yếu sức khỏe của các thuyền viên. Điều này thực dễ hiểu: con tàu được thiết kế để hoạt động trong các vùng biển lân cận tương đối lạnh. Và những vấn đề này thể hiện rõ nét ngay lập tức khi các tàu ngầm diesel đi xa vượt ra ngoài giới hạn các khu vực hoạt động tác chiến định trước của nó và bắt đầu hoạt động tại các khu vực cận xích đạo (ví dụ, trong khu vực hải lưu Gulf Stream và Kuroshio).

Khi đi biển trong mùa đông tại các vùng biển "bản địa" xung quanh, trong các khoang ngư lôi hai đầu mút tàu sự cách ly nhiệt thân tàu được bao phủ bằng băng, còn ở các vùng biển phía Nam, nhiệt độ môi trường xung quanh trong các khoang "lạnh" nhất lên tới +50-55 ° C ở độ ẩm 90-95%. Trong bầu không khí của "nhà tắm hơi" và "không khí mục rữa" những chiến sỹ tàu ngầm dũng cảm đã bơi một thời gian dài và thực hiện nhiệm vụ huấn luyện và nhiệm vụ chiến đấu.


Kết cấu một số mui tàu ngầm xây dựng dựa trên đề án 613

Công tác chăm sóc y tế không đáp ứng các điều kiện cuộc sống thường nhật và làm việc của kíp thuyền viên. Các sỹ quan quân y trên tàu (trong giai đoạn ban đầu, tương tự như với các tàu ngầm thời kỳ trước chiến tranh - y sỹ, sau đó bác sĩ phẫu thuật có trình độ học viện quân y) không hề có cabin riêng, không có nơi điều trị cho thuyền viên bị bệnh. Tất cả "tài sản" nghề nghiệp của họ đóng gói trong vali phẫu thuật và hộp thuốc gắn ở mỗi khoang. Để phẫu thuật (chấn thương và bụng) người ta phải sử dụng bàn ăn trưa trong cabin-sinh hoạt chung (thường trong thời gian phẫu thuật tàu ngầm lặn sâu xuống, còn khi không có khả năng lặn - bàn phẫu thuật được cố định theo kiểu "trong bão tố"). "Theo luật đểu cáng" hầu như tất cả các ca mổ ruột thừa xảy ra trong các điều kiện trên biển, chứ không phải trong căn cứ. Tất cả những điều này dẫn đến tỷ lệ ốm đau cao của các thuyền viên (chủ yếu là dưới các dạng bệnh phong hàn-bệnh phổi, bệnh ngoài da-exzema và chấn thương).

Nhưng tất cả những "than phiền về sinh hoạt thường nhật" không thể đến được các nhà thiết kế: các tàu ngầm mới nhất được thiết kế phù hợp với các yêu cầu kỹ-chiến thuật trên một bán kính hạn chế, còn các tàu ngầm diesel cỡ trung bình phù hợp với chính sách địa chính trị của quốc gia đã đi ra khoảng không gian hoạt động của các đại dương thế giới. Sự khác biệt rất lớn. Cần phải công bằng - tính tiện ích ở trên các tàu ngầm Đức cũng không tốt hơn. Còn yêu cầu sạch sẽ - tệ hơn. Vì chính sự công bằng đó, cần lưu ý rằng tàu ngầm Mỹ đến cuối năm 1944, ngoài điều hòa không khí trong khoang còn có các máy tự động pha cà phê, lò nướng bánh ... máy sản xuất kem (3-4 loại).



Tàu ngầm cỡ trung đề án 613 có khả năng điều khiển tốt và ít tiếng ồn trong tư thế bơi ngầm, đạt các tính năng hàng hải tốt trong tư thế đi nổi (hành trình tuần dương). Trong điều kiện có bão, các tàu ngầm này "chiến thắng" tương đối tốt trên biển đang có sóng cấp 6-7, trên đại dương sóng cao 10-12 đôi khi đến 15 mét, tuy nhiên khi sóng xô tới, những khối lượng nước khổng lồ ập xuống cầu điều hướng tháp chỉ huy, đe dọa phá hủy và nhấn chìm xuống nước các thuyền viên. Có những trường hợp khi bão quá mạnh đã "quét sạch" đúng nghĩa mui tàu, và khi về tới căn cứ những thuyền trưởng can trường ra lệnh neo bến, đồng thời họ chui ra khỏi cửa nắp tháp chỉ huy giống hệt những chú ngỗng chui ra khỏi giỏ. Để tránh cái chết cho sỹ quan trực hành trình tầng thượng nên trong các điều kiện ở nhà máy người ta hàn đường ray cứng để gắn các dây đai an toàn (mượn từ các thuyền viên tàu cứu hỏa).

Các tàu ngầm "cắt" sóng trên "mõm cắt", tiếp nhận vào mình toàn bộ sức nặng của đòn đánh, đặc biệt là trong các biển có sóng dốc và ngắn: các biển Barentsev, Chukotka, Bering và Okhot.

Tàu điều khiển kém khi bơi trong biển có bão ở chế độ RDP gặp sóng tới và đặc biệt là các đợt sóng dồn nhau liên tiếp. Sau cái chết của tàu ngầm đại dương K-129 năm 1968, đã có mệnh lệnh của Tổng tư lệnh Hải quân cấm chế độ RDP với các tàu ngầm đang thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu.

Trong khi thời hạn phục vụ theo kế hoạch là 20-25 năm, các tàu ngầm đề án 613 đã ở trong đội ngũ đến 30-35 năm, sau đó đưa vào bảo quản. Năm 1991 trong quân số bảo quản đã có đến 45 đơn vị, sau đó hầu hết trong số chúng được bán ra nước ngoài làm phế liệu.

Cần lưu ý rằng chính những chiếc tàu ngầm ấy là trường học thực tế để huấn luyện và đào tạo đội ngũ sĩ quan chỉ huy tàu ngầm của hầu như tất cả sê ri tiếp theo, tàu ngầm diesel cũng như tàu ngầm hạt nhân thế hệ 1 và 2.


Phó đô đốc Anatoly Antonovitch Rulyuk

Từ ngày 30 tháng 12 năm 1961 lữ đoàn tàu ngầm số 50 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của chuẩn đô đốc Yu.Rulyuk (6 tàu ngầm dự án 613) được đưa vào Indonesia, trong tháng 8 năm 1962 tàu ngầm S-292 và S-236 đã được triển khai trên các vị trí chiến đấu với nhiệm vụ tiêu diệt các tàu và phương tiện nổi của Hà Lan. Sau 5 ngày tiến ra chiếm lĩnh vị trí, các con tàu được trả về cảng Bitung sau đó đến Surabaya, nơi họ tiếp tục đào tạo các thủy thủ đoàn Indonesia. Một năm sau khi bắt đầu "cuộc thám hiểm", sau khi chuyển giao các tàu ngầm cho Hải quân Indonesia, những chiến sỹ tàu ngầm của chúng ta đáp tàu "Vladivostok" trở về Tổ quốc.

Theo vô số phát biểu của các sỹ quan các tàu ngầm nguyên tử tuần dương, các thuyền trưởng-tàu ngầm diesel ("những con bò rừng") là các nhân vật có uy tín không thể chối trước các thế hệ trẻ các thuyền trưởng "tàu ngầm nguyên tử" (như các chiến sỹ tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc vẫn thích tự diễn tả về mình).

Bản sửa đổi đề án 613 dưới tên mã 644 đã trở thành tàu ngầm mang tên lửa hành trình đầu tiên, và tàu ngầm S-144 (đề án 613 nguyên bản) vào tháng 10 năm 1957 tại trường bắn thử nghiệm Novaya Zemlya đã tiến hành xạ kích tác chiến đạn ngư lôi T-5 mang đầu đạn hạt nhân đầu tiên.

Tàu ngầm cỡ lớn đề án 611 (Zulu)

Được xây dựng trong các năm 1952-1955 tại các nhà máy đóng tàu biển - nhà máy "Sudomekh" (Leningrad) và Molotovsk (Severodvinsk). Tổng số tàu đã đóng 28 chiếc. Tổng công trình sư thiết kế - S.A.Egorov.

Đây là các tàu ngầm cỡ lớn đầu tiên kể từ sau Chiến tranh Thế giới II của Hải quân Liên Xô.

Việc thiết kế chúng bắt đầu ngay sau chiến tranh; phần nào vay mượn các ý tưởng kỹ thuật từ các tàu ngầm Đức sê ri XXI; về tổng thể, các giải pháp kỹ thuật khác khá ít so với đề án 613 (lắp khung ngang cứng từ bên ngoài, mui tàu với cầu điều hướng đài chỉ huy hành trình được đóng kín và bảo vệ tránh sóng tràn một cách chuyên dụng, vỏ nhẹ của tàu trở nên thuôn dòng thủy động học hơn, 3 chân vịt).


S.А.Egorov, tổng công trình sư tàu ngầm các đề án 611, 641. Tàu ngầm đề án 611.

Tàu ngầm đề án 611 ("Zulu") có độ choán nước 1900/2350 m3, ba trục diesel-điện lắp đặt trong cùng một sơ đồ: máy diesel 37-D - động cơ điện PG-101 - trục truyền động - chân vịt đẩy. Tốc độ tư thế nổi lên đến 18, tốc độ đi ngầm -16 hải lý. (Khi cả 3 trục truyền đồng thời làm việc). Hành trình tự chủ - 60 ngày (75 ngày - trong thực tế). Tầm bơi xa tư thế nổi khi ở tốc độ kinh tế 9,2 hải lý - 22 ngàn dặm, tư thế ngầm tốc độ 5 hải lý - 440 km. 6 ống phóng ngư lôi mũi cùng 4 ống phóng ngư lôi đuôi với cơ số 12 đạn ngư lôi. Nhờ các đặc điểm cấu trúc và đặc tính khối lượng-kích thước, đề án này vào năm 1955 đã được lựa chọn để lắp đặt thiết bị phóng tên lửa đạn đạo (ПУ БР).


Bảng kỷ niệm S.P.Коroliov, đặt tại xí nghiệp Sevmash. Tên lửa đạn đạo chế tạo trong nước đầu tiên đặt trên tàu hải quân R-11FМ.


Sơ đồ bố trí tên lửa đạn đạo trên tàu ngầm đề án 611.

Một trong những tàu ngầm trên được trang bị lại để trở thành con tàu mang tên lửa đạn đạo đầu tiên trên thế giới R-11 FM với tầm bay xa đến 350 km (nguyên mẫu tên lửa lục quân "Scud"). Sự kiện phóng tên lửa đạn đạo từ tàu ngầm đầu tiên trên thế giới đã diễn ra ngày 16 tháng 9 năm 1955 từ tàu ngầm B-67 Hạm đội Biển Bắc, dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng thiếu tá hải quân F.I.Kozlov. Sau đó, trên cơ sở đề án V 611, đã xây dựng đề án chỉnh lý AV 611. Lần phóng tên lửa hành trình đầu tiên là tháng 10 năm 1957 – thủy thủ đoàn tàu ngầm B-64 đề án 611-P (thuyền trưởng V.A.Evdokimov), lần phóng đầu tiên tên lửa đạn đạo từ tư thế bơi ngầm dưới mặt nước diễn ra ngày 10 tháng 9 năm 1960 - Tàu ngầm B-67 (Thuyền trưởng – V.K.Korobov).



Việc phóng thành công tên lửa từ trên biển, dường như "khiêu khích" Hải quân Mỹ từ bỏ tên lửa "Regulus" và thúc đẩy các nhà phát triển đẩy nhanh chương trình "Polaris." Năm tàu ngầm đề án 611-AV (thuật ngữ của NATO "Zulu-5 ') được xây dựng như là vật mang tên lửa đạn đạo hạt nhân R-11 FM và có hai hầm phóng theo phương thẳng đứng bố trí trong phần mui tàu. Bốn tàu ngầm khác được chuyển đổi trang bị để phục vụ chương trình nghiên cứu hải dương học MGG (Năm Địa vật lý Quốc tế) và được đặt tên công khai "Lira", "Mars", "Vega" và "Orion".


Năm 1979. Ấn Độ Dương. Thay đổi kíp thủy thủ tàu ngầm B-90 Hạm đội Thái Bình Dương (đề án 611) từ tàu nghiên cứu hải dương OIS Leonid Sobolev.

Các tàu ngầm mang ngư lôi (không chuyển đổi trang bị) của sê ri này về cơ bản không phải là phân lớp thành công trong quá trình thực hiện chương trình đóng tàu vì vậy sau đó đã bị "gạt ra" cho một đề án triển vọng hứa hẹn hơn là đề án 641 ("Foxtrot").

Tuy nhiên, phân lớp này đã đóng góp công sức của nó vào lịch sử hạm đội tàu ngầm diesel đại dương của Liên bang Xô Viết. Ví dụ, tàu ngầm B-72 từ ngày 27/11/1958 đến 25/03/1959 đã thực hiện chiến dịch hành quân từ Petropavlovsk-Kamchatsky đến Nam Cực (vĩ tuyến 60 ° Nam). Thủy thủ đoàn, chỉ huy bởi thuyền trưởng thiếu tá hải quân R.A.Golosov và nhóm các nhà nghiên cứu khoa học Liên Xô trong 120 ngày đi biển đã thực hiện thành công các nhiệm vụ được giao (trong đó có 232 lần lặn trên hải trình 20 ngàn dặm không có tai nạn). Cũng trong năm 1958, hai tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc B-75 và B-80 đã thực hiện một chuyến đi biển 75 ngày dọc theo Iceland, Canada và Hoa Kỳ tới bờ biển Brazil (cắt qua đường xích đạo). Từ tháng 10 năm 1959 đến Tháng 3 năm 1960, nhóm tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc đề án 611 B-90 của P.T.Zenchenko và B-88 của N.A.Myshkin  (chỉ huy cao cấp trong chuyến đi là đại tá hải quân B.A.Veshtort) trong sự đảm bảo của tàu quét mìn "Mikhail Kalinin" và tàu chở dầu "Vilyuisk" đã đi tới Kamchatka xuyên qua Đại Tây Dương đi vòng quanh châu Phi, qua Ấn Độ Dương – đi vòng quanh Úc (23.000 dặm trong 150 ngày). Đó là chuyến đi biển đầu tiên và duy nhất có hành trình liên đại dương của các tàu ngầm vòng quanh nước Úc. Kết quả của những chiến dịch đi biển trên đã cho phép khai thác những thông tin giá trị về chế độ hàng hải, về khả năng chống tàu ngầm của hải quân các nước NATO, và, tất nhiên - đưa ra được những khuyến nghị cho các nhà thiết kế và chế tạo các đề án tàu ngầm mới, bao gồm cả tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân.

Đến năm 1990, tất cả các tàu ngầm đề án 611 đã được chuyển sang làm phế liệu.

Tàu ngầm cỡ nhỏ đề án 615 (Quebec)


Abram Samuilovich Kassatsier. Tàu ngầm đề án 615 tại căn cứ.

Được thiết kế dành riêng cho hoạt động chiến đấu trong các khu vực ven biển thuộc Biển Baltic và Biển Đen.

Tổng công trình sư - A.S.Kassatsier. Trong quá trình phát triển đề án này, các kỹ sư tiếp tục công việc bắt đầu trước chiến tranh, trên cơ sở tàu ngầm thử nghiệm đề án 95.
..........
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Tám, 2012, 12:03:52 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM