Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:47:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206253 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #90 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2012, 04:47:01 pm »

(tiếp)

Động cơ diesel khi hành trình trong tư thế ngầm hoạt động theo chu trình khép kín với việc sử dụng oxy lỏng và chất hấp thụ hóa học dạng rắn. Ý tưởng của động cơ vay mượn từ đề án "Kreyslauf" của người Đức.

Tàu ngầm thử nghiệm đầu tiên của loạt này được đóng tại nhà máy "Sudomekh" (Leningrad) và gia nhập biên chế Hải quân năm 1953. Việc sử dụng "động cơ duy nhất" cho phép so sánh với tàu ngầm tốt hơn loạt XV trước chiến tranh thì tốc độ bơi ngầm tăng hơn 2 lần, tầm bơi xa - 6 lần.

Tàu ngầm để án 615 có các thông số kỹ-chiến thuật sau đây: độ choán nước - 460/540 m3; chiều sâu làm việc - đến 160 m; thủy thủ đoàn - 30 người; trang bị vũ khí: ống phóng ngư lôi - 4 (cơ số đạn ngư lôi – 8. Trang bị khác giống hệt đề án 613.

Đặc tính cơ bản của tàu ngầm là ở GEU (thiết bị năng lượng chính): thiết bị ba trục với hai máy diesel chính ở 2 mạn hoạt động riêng biệt và một máy giữa phục vụ hành trình kinh tế dài hạn. Máy diesel phát ra trên trục truyền công suất đến 1.800 mã lực. Việc thử nghiệm lâu dài của tàu ngầm thí điểm cho phép đạt tới mức tốc độ tư thế nổi – hơn 17 hải lý, tư thế ngầm – đến 15,5 hải lý.

Vấn đề lớn nhất là oxy lỏng, được đặt trong các "túi" chất dẻo bên ngoài vỏ bền và chịu áp lực nước từ bên ngoài, cực kỳ nguy hiểm do tính dễ bay hơi và dễ cháy nổ khi tiếp xúc với dầu. Để loại trừ vấn đề này đã cải tiến thay thế oxy lỏng sang superoxide natri dạng hạt rắn (NaO2 - Sodium superoxide - надперекись натрия), chất trong khoang tàu.


Anh hùng Liên bang Xô Viết Valentin Evghenevitch Sokolov với vợ và cháu gái (tàu ngầm đề án 615 do ông chỉ huy trong đoạn đường khởi đầu). Odessa. 2006

Việc đóng các tàu ngầm theo đề án điều chỉnh  được thực hiện ở nhà máy "Sudomekh." Tổng số tàu đã đóng xong là 30 đơn vị.

Tuy nhiên, đề án trên trong khai thác sử dụng không thể coi là loại đáng tin cậy vì nguy cơ cháy nổ cao. Tại các hạm đội, các tàu ngầm loại này có biệt danh là "bật lửa" do thường xuyên xảy ra các vụ nổ dẫn đến thương vong. Trong một số vụ như vậy các vách ngăn dính đầy theo nghĩa đen các mảnh thân thể thủy thủ đội động cơ.

Tác giả đã trực tiếp ở trên tàu ngầm đề án này. Khoang động cơ chật hẹp đến mức các thao tác viên buộc phải thực hiện các chức năng của họ tại bàn điều khiển GEU gần như nửa nằm trước các thiết bị. Cuộc đấu tranh sinh tồn trên các tàu ngầm loại này là vô cùng khó khăn.

Các tàu ngầm đi biển hộ tống đoàn công voa. Thường người ta quan sát thấy có trường hợp sau 2-3 giờ ra khơi tàu bỗng mở hết tốc lực "chạy như phải bỏng" về căn cứ và câu trả lời chỉ 1 nghĩa rất rõ ràng: "trên tàu bị cháy".

Tất cả các tàu loại trên đã bị thu hồi làm phế liệu trong những năm 1970 với sự ra đời của các tàu ngầm hạt nhân thế hệ 1.

Tàu ngầm cỡ trung đề án 617 ("Weil")

Đầu tiên ta tóm tắt lịch sử của tàu ngầm với một động cơ duy nhất. Người đầu tiên có thể làm được điều đó trong thực tế là một kỹ sư Nga S.K.Dzhevetsky. Tàu ngầm "Người đưa thư" của ông với một động cơ xăng bốn xi-lanh (2x130 mã lực) được ra đời năm 1908, có độ choán nước 146 tấn, 4 óng ngư lôi 533 mm, tầm bơi xa 350 dặm với tốc độ kinh tế và 28 dặm tốc độ toàn tải, tốc độ tối đa tư thế nổi 11,4 hải lý, tốc độ tối đa tư thế ngầm 6.2 hải lý.. Tàu ngầm tiếp theo khác là R-1 của kỹ sư S.A.Bazilevski ra đời năm 1938. Động cơ REDO của ông (động cơ tái tạo duy nhất có mục đích đặc biệt - РЕДО -регенеративный единый двигатель особого назначения) là động cơ diesel công suất 800 mã lực, làm việc với sự bổ sung oxy trong lượng khí thải ra. Tàu ngầm này khi thử nghiệm đã cho tốc độ bơi ngầm 10 hải lý trong vòng 15 giờ. Tuy nhiên, công việc tiếp theo của đề án bị gián đoạn bởi chiến tranh.


Sergei Аleksandrovitch Bazilevsky, tác giả ý tưởng động cơ REDO (РЕДО). V.S.Dmitrievsky, tác giả thiết kế kết cấu động cơ duy nhất ED-KHLI (ЕД-ХПИ) (hy sinh ngày 23 tháng 11 năm 1942 khi xảy ra vụ cháy trên tàu ngầm).

Từ năm 1939, kỹ sư V.S.Dmitrievsky (OKB-196 thuộc NKVD) đã làm việc trên một dạng động cơ duy nhất khác - ED-KHPI (động cơ duy nhất với chất hấp thụ hóa học là đá vôi). Từ năm 1941, đề án tàu ngầm 95 đã thực hiện các thử nghiệm quy mô lớn ở biển Caspian, và mặc dù hy sinh năm 1942, tàu ngầm M-401 đã tiến hành được 74 chuyến đi biển, vượt qua 2.800 dặm, bao gồm 360 dặm tư thế ngầm. Đề án tàu ngầm tiếp theo với động cơ ED-VVD (ЕД-ВВД - единый двигатель с выхлопом в воду дизельный - động cơ diesel xuất khí thải vào trong nước) đã được thử nghiệm từ 1951 đến 1953 và được thừa nhận đã thất bại, bởi vì vệt bong bóng nước để lại sau tàu làm lộ con tàu.

Tháng 7 năm 1946, theo quyết định của Chính phủ Liên Xô "Về những biện pháp tiếp tục phát triển công việc trong lĩnh vực chế tạo tàu ngầm với một động cơ duy nhất”, SKB-18 bắt đầu thiết kế một đề án tàu ngầm Liên Xô hoàn toàn mới, đề án 617. Vì tôn trọng sự thật lịch sử cần chú ý đến công tác dài hạn và hiệu quả (1945-1947) của Văn phòng Thiết kế Hải quân tại Berlin của L.A.Korshunov và của chi nhánh Văn phòng Thiết kế Hải quân tại thành phố Blankenburg.


Leonid Alekseevitch Korshunov, kỹ sư-đại tá hải quân, chủ nhiệm phòng thiết kế Hải quân tại Berlin. Aleksei Aleksandrovitch Antipin, chủ nhiệm chi nhánh phòng thiết kế Hải quân tại Blankerburge.

Tàu ngầm đề án 617 được đóng năm 1954 tại nhà máy "Sudomekh" một chiếc duy nhất. Tổng công trình sư  - A.A.Antipin.

Để thử nghiệm con tàu được chuyển tới căn cứ hải quân Liepaja (Latvia) và cất giữ trong một khu vực đặc biệt được bảo vệ nghiêm ngặt. Số mạn trên thân tàu không có, tàu đi ra khu vực nước sâu nhất trong biển Baltic chỉ vào ban đêm.

Tàu ngầm có một động cơ duy nhất kiểu "Walter" -  tuabin hơi, hoạt động theo một chu trình khép kín  với việc sử dụng hydro peroxide. Ý tưởng kỹ thuật của động cơ vay mượn từ dòng tàu ngầm Đức XXVI. Một tàu ngầm dòng này V-1407 vào năm 1945 bị đánh chìm bởi thủy thủ đoàn của nó, nhưng được người Anh trục vớt lên, họ xây dựng theo mẫu của nó hai tàu ngầm  "Explorer" và "Excaliber". Hoạt động thử nghiệm của họ đã được tiến hành kèm với rất nhiều vụ cháy nổ và chấm dứt cuối những năm 1960.

Tàu ngầm Liên Xô đề án 617 ("Cá vàng") đã có một đời sống thành công hơn. Tác giả đã có cơ hội vào năm 1955 tham gia vào việc đảm bảo thử nghiệm dưới biển cho "Cá vàng": theo các quan sát có được con tàu đã phát triển tốc độ bơi ngầm dưới nước lên đến 24 hải lý trong cả một thời gian dài.


Tàu ngầm diesel-điện thử nghiệm đề án 617 với một động cơ duy nhất, dựa trên cơ sở thiết bị phát tuabin hơi (PGTU – ПГТУ)

Các số liệu đặc điểm kỹ thuật: độ choán nước tư thế nổi - đến 1500 m3, tốc độ thiết kế tư thế ngầm - 20 hải lý. (Không có bất kỳ tàu ngầm diesel nào trong các hạm đội trên thế giới đạt được tốc độ này). Độ sâu lặn tối đa - 200 m, 6 ống phóng ngư lôi, thủy thủ đoàn 51 người. Năm 1956, trên tàu ngầm này dang ở độ sâu lặn đã xảy ra một đám cháy lớn, thủy thủ đoàn đã hành động một cách nhanh chóng và chính xác - tàu ngầm được cứu thoát và tự mình trở về căn cứ.


Tàu ngầm đề án 613E với thiết bị phụ trợ là các máy phát điện hóa học.

Kinh nghiệm của các hoạt động thử nghiệm thành công trong toàn bộ hoạt động thử nghiệm khai thác tàu ngầm trên đã được chuyển đổi thành một chương trình chế tạo 100 tàu ngầm của đề án này. Nhưng chương trình này đã được chấm dứt bởi sự xuất hiện của các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân.

SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CÁC TÀU NGẦM DIESEL TRONG GIAI ĐOẠN HAI (1957-1965)

Thời kỳ được miêu tả trước hết cần được xem xét từ quan điểm thực tế lịch sử đã diễn ra và đặt nó trong bối cảnh lĩnh vực chính trị-quân sự. Và điểm chính - cố gắng của các nước tư bản hàng đầu thế giới dùng vũ lực ngăn chặn sự lây lan của chủ nghĩa xã hội như một ý thức hệ và một thực thể kinh tế, Hoa Kỳ - muốn khẳng định sự thống trị của nó trên thế giới. Tất cả các dạng xung đột quân sự khác nhau vào những năm 1950 thì có nhiều, nhưng chúng ta quan tâm đến những cuộc xung đột mà trong đó lực lượng hải quân đóng vai trò hàng đầu.

Ví dụ, trong năm 1950 Mỹ và 15 đồng minh đã bước vào cuộc chiến tranh chống lại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên. Nói một cách ngắn gọn về mức độ tham gia của hạm đội trong cuộc chiến này: có sự tham dự của khoảng 800 tàu Mỹ và các đồng minh của họ, bao gồm 20 tàu sân bay, 4 thiết giáp hạm. Bằng đường biển họ đã chuyển đến bán đảo Triều Tiên 5 triệu người, 52 triệu tấn hàng khô và 22 triệu tấn nhiên liệu (sử dụng từ 300-658 tàu vận tải và 82 tàu chiến tại các thời điểm khác nhau). Thực tế sau nói lên sức mạnh kỹ thuật-quân sự của Hoa Kỳ đó là bằng đường hàng không mỗi tháng (trung bình cho giai đoạn 1950-1953) đã chuyển từ Hoa Kỳ đến 7500 người.


Máy bay cất hạ cánh trên hạm F-4U «Corsair» trên tàu sân bay «Boxer». - Ảnh của Hải quân Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953).

Máy bay trên một số nhóm tàu sân bay xung kích đã thực hiện 205 ngàn phi vụ, ném xuống 1,8 triệu tấn đạn dược các loại, các máy bay trực thăng chiến đấu hải quân lần đầu tiên được sử dụng trong chiến đấu. Trong tiến trình chiến tranh, người Mỹ cùng với quân Đồng minh đã thực thi 13 cuộc đổ bộ, gồm 2 hoạt động chiến lược và 1 hoạt động chiến dịch.

Tất nhiên, tất cả những sự kiện này xảy ra mà không có bất kỳ sự kháng cự nào trên đại dương và vùng biển lân cận. Ngoại trừ tại một số khu vực ven biển nơi do vấp mìn mà người Mỹ mất 5 tàu chiến và tàu đảm bảo, còn 73 tàu, bao gồm cả 4 thiết giáp hạm đã bị hư hại. Hỏa lực pháo binh bờ biển bắn hỏng 60 tàu chiến và đánh chìm chỉ 2 tàu chiến. Phải nói rằng Bộ chỉ huy Mỹ đã học được bài học một cách nhanh chóng và ra quyết định mau lẹ. Bởi từ cuối năm 1950 họ đã rút từ số tàu dự trữ đưa vào phục vụ 65 tàu vận tải kiểu "Victory" và tính đến các tàu thuê của tư nhân họ đã đưa biên chế hạm đội vận tải Hải quân tới tháng 8 năm 1951 lên đến 410 đơn vị, đến cuối cuộc chiến -. 658 đơn vị.

Lực lượng quét-thả thủy lôi cũng được khôi phục cương quyết như vậy, trong tháng 1 năm 1951 đã khôi phục lại bộ tư lệnh của lực lượng này, và đến cuối chiến tranh họ đã nhận được 125 tàu mới, còn đến cuối những năm 50, người Mỹ có hơn 200 tàu khu trục quét mìn và tàu quét mìn căn cứ (tìm kiếm, quét và tiêu hủy mìn trong các khu vực duyên hải và vùng biển gần) cùng khoảng 100 tàu dò-quét mìn.

Kết luận cực kỳ quan trọng được rút ra: các tàu sân bay như trước đây vẫn là lực lượng tấn công chủ chốt của hạm đội và có thể là yếu tố quyết định trong chiến tranh ở vùng ven biển (do tính di động cao của các AUG, khả năng cơ động cao và ít bị tổn thương của máy bay trên tàu sân bay so với máy bay ở căn cứ bờ).



Cuộc chiến tranh đã khẳng định khả năng sử dụng máy bay phản lực quân sự phiên bản cất hạ cánh trên tàu sân bay (ngày 03.7.1950 các máy bay phản lực F9F «Panther" từ tàu sân bay «Valley Forge» đã tham gia tấn công Bình Nhưỡng). Ngoài ra vào năm 1950 đã chứng minh được tính khả thi của việc sử dụng vũ khí hạt nhân từ các tàu sân bay (lần đầu tiên 1 máy bay mang 1 quả bom hạt nhân đã cất cánh trên tàu sân bay «Coral Sea» (CVB-43). Kết quả là năm 1952, chính phủ Mỹ quyết định tiếp tục việc xây dựng các tàu sân bay, đã dừng lại sau Chiến tranh thế giới thứ II, vì các cuộc tranh cãi giữa Lực lượng Không quân và Hải quân về hiệu quả của việc sử dụng vũ khí hạt nhân. Đầu tiên là tàu «Forrestal", rồi đến tàu sân bay hạt nhân đầu tiên «Enterprise», được đặt ky ngày 25.02.1958.

Kinh nghiệm lớn thứ hai của việc sử dụng hải quân vào các cuộc xung đột quân sự quy mô lớn trong thời gian này là cuộc xâm lược của Anh, Pháp và Israel chống Ai Cập từ 29.10.1956 - 23.11.1956.

Hạm đội thống nhất của những kẻ xâm lược có trong biên chế 130 tàu, bao gồm cả 7 tàu sân bay, 3 tàu tuần dương, 13 tàu khu trục, 11 tàu đổ bộ, 60 tàu vận tải, và ... 6 tàu ngầm. Trong 751 máy bay của quân Đồng minh - 290 chiếc ở trên các tàu sân bay của các nhóm AUG. Ngày 05 tháng 11 lúc 7:00 giờ, quân đồng minh thả 3000 lính nhảy dù, trong thời gian đó chỉ riêng máy bay trên hạm đã bay hơn 470 phi vụ yểm trợ trực tiếp cho quân đổ bộ. Ngày 06 tháng 11 cuộc đổ bộ thủy quân lục chiến bắt đầu, cùng lúc từ các tàu sân bay "Ocean" và "Teseus" trong vòng 90 phút 22 máy bay trực thăng thực hiện 4 đợt đổ bộ 415 lính thủy quân lục chiến và chuyển giao 22 tấn hàng hóa. Trong hai ngày đêm đã đổ bộ được 22.000 người, còn từ 8 đến 20 tháng 11 họ đổ bộ thêm 25.000 người cùng với trang thiết bị nặng và vũ khí.



Sau "sự phẫn nộ của cộng đồng thế giới" (bao gồm cả Mỹ) ngày 23 tháng 11 những kẻ xâm lược đã bắt đầu rút quân đội của họ. Tổn thất của hạm đội Ai Cập gồm 6 tàu chiến, bao gồm 1 tàu khu trục và 4 tàu phóng lôi. Quân Đồng minh mất 3 tàu chiến và 1 tàu vận tải quân sự.

Tất nhiên, Bộ tư lệnh Hải quân Liên Xô, ban lãnh đạo Liên Xô không thể không nhìn thấy các sự kiện hiện tại và khuynh hướng phát triển nghệ thuật chiến tranh hải quân, xu hướng nhận thức mới mẻ một cách rõ ràng của công cuộc xây dựng lực lượng hải quân của các cường quốc trên thế giới.

Điểm đặc trưng tại thời kỳ thứ hai này gần như trùng hợp với thời điểm khẳng định quyền lực của Nikita Khrushchev, với sự rời khỏi vũ đài quân sự và quyền lực chính trị của nguyên soái Zhukov, đô đốc N.Kuznetsov, và sự đi lên vị trí lãnh đạo Hải quân của đô đốc S.Gorshkov.

Tất nhiên, sự thay đổi ban lãnh đạo chính trị và quân sự có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến tương lai các chương trình tiếp theo của công cuộc xây dựng lực lượng Hải quân, bao gồm cả tàu ngầm. Ưu tiên bây giờ thuộc về hạm đội hạt nhân được xây dựng lại, các tàu mặt nước chở máy bay và mang tên lửa.

Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự áp dụng vào ngành đóng tàu những thành tựu đầu tiên của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật trong lĩnh vực tên lửa hạt nhân, các chương trình không gian, năng lượng hạt nhân và công nghệ điện tử.

Nikita Khrushchev, nhà lãnh đạo quốc gia Xô Viết và độc quyền trong lĩnh vực lãnh đạo Đảng Cộng sản, tin tưởng vô điều kiện vào khả năng của vũ khí hạt nhân và vũ khí tên lửa, ông tin rằng 1 hạm đội tàu mặt nước tốn kém không có gì hơn là một gánh nặng ngân sách quân sự của đất nước, và chỉ có các tàu ngầm (do tính chất tương đối "rẻ" của nó và khả năng tạo ra một mối đe dọa bí mật trên các đại dương Thế giới) mới là một trong các thành tố của lực lượng quân sự quốc gia có thể đảm bảo sự cân bằng của các lực lượng chiến lược trong cuộc đối đầu giữa hai hệ thống.


Khrushev Nikita Sergheevitch lên án chủ nghĩa tư bản từ diễn đàn Liên Hợp Quốc.
.......
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2012, 02:17:21 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #91 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2012, 08:35:56 pm »

(tiếp)

Đây là tuyên bố của ông tại 1 phiên họp của Xô Viết Tối cao Liên Xô ngày 14 tháng 1 năm 1960, " Hạm đội tàu ngầm có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trong khi đó các tàu mặt nước không còn đảm đương được vai trò nó đã có trong quá khứ" (tức là trong cuộc chiến tranh vừa qua - Tác giả).

Sau này trong hồi ký của mình, ông đã viết: "Tôi không nghi ngờ rằng với lực lượng tàu ngầm, chúng ta có thể đánh chìm các tàu sân bay Mỹ, nếu họ (người Mỹ - Tác giả) bắt đầu cuộc chiến tranh ..."

Trong thực tế, thái độ này đã dẫn đến sự đóng băng các chương trình đóng tàu mặt nước, giải trừ quân bị và phá hủy một phần các tàu thuyền mặt nước (nói thêm, cả máy bay chiến đấu), đổi hướng chương trình đào tạo đội ngũ sĩ quan "hạm đội tàu mặt nước" và từ phía bên kia - khuếch trương các chương trình đóng tàu ngầm diesel và tàu ngầm hạt nhân. Rất ít người thấy trước rằng điều ngứa ngáy "sáng tạo" này sẽ dẫn đến chi phí ngân sách lớn.

Đô đốc Tổng tư lệnh Hải quân S.Gorshkov nhìn xa hơn: "Tàu ngầm diesel là loại tàu hoàn hảo và mạnh mẽ, chúng chắc chắn sẽ tìm thấy ứng dụng rộng rãi trong những điều kiện hiện đại. Ngay cả bây giờ, khi chúng ta xem xét tình trạng của ngành công nghiệp đóng tàu ngầm trong ánh sáng của những thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ to lớn, chúng ta phải công nhận vai trò quan trọng của kinh nghiệm xây dựng các tàu ngầm diesel được đóng sau chiến tranh, cho phép giải quyết vô số vấn đề có tính chất khoa học và kỹ thuật trong quá trình chuyển sang xây dựng các tàu ngầm hạt nhân mới", ông đã viết như vậy trong cuốn sách của ông "Sức mạnh trên biển của Quốc gia".



Nhưng hạm đội nguyên tử (và hạm đội tên lửa, hạm đội đa mục đích) xung kích chỉ được "nhìn thấy" trong tương lai gần. Và trong lúc này vai trò của "người bảo vệ lợi ích quốc gia của Liên bang Xô Viết trong các đại dương Thế giới" cần phải được hạm đội tàu ngầm diesel đang hoạt động ở độ sâu lớn thực hiện. Khái niệm này được đáp ứng bởi giai đoạn hai xây dựng các tàu ngầm diesel, chủ yếu là tàu cỡ lớn, tức tàu ngầm viễn dương. Nói cách khác phải "cắt cành theo cách của mình" - tính đến khả năng kinh tế của đất nước và tình trạng tư tưởng khoa học-kỹ thuật.

Trong giai đoạn này, điểm nhấn cơ bản được đặt vào công cuộc xây dựng các tàu ngầm phóng ngư lôi cỡ lớn đề án 641, các tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 651 và tàu ngầm đề án 629 mang tên lửa đạn đạo, cũng như đề án tàu ngầm cỡ trung bình 633 và hiện đại hóa tàu ngầm đề án 613.

Tàu ngầm cỡ lớn đề án 641 («Foxtrot»)

Hầu hết các tàu ngầm đề án trên được đóng tại nhà máy "Sudomekh" (Leningrad) từ năm 1958 và một phần tại nhà máy № 402 (Severodvinsk) vào năm 1962. Chiếc tàu ngầm đầu tiên được đặt ky ngày 03 tháng 10 năm 1956. Tổng số đã đóng được 62 tàu ngầm cho Hải quân Liên Xô và 17 cho các lực lượng hải quân các quốc gia "hữu nghị" (Cuba, Ấn Độ, Libya).
Các tổng công trình sư - E.A.Egorov và Z.A.Deribin.


Tàu ngầm diesel-điện đề án 641.

Các đặc điểm kỹ-chiến thuật chính:
Độ choán nước 1950/2400 m3, độ sâu lặn giới hạn 300 m. Tàu có kết cấu vỏ kép, ba trục.
Động cơ: hành trình trên mặt nước - 3 động cơ diesel 37-D trên các tàu đầu tiên, 42-D - trên các số tàu sau đảm bảo tốc độ đến 16 hải lý; 3 động cơ điện chính PG-102 đảm bảo tốc độ đi ngầm dưới nước là 15,5 hải lý. Thiết bị RDP đảm bảo bơi ở độ sâu kính tiềm vọng với tốc độ 8 hải lý. Nhiên liệu dự trữ 460 tấn (tăng cường) đảm bảo tầm bơi xa đến 20.000 dặm và hành trình tự chủ đến 90 ngày.

Vũ khí: 10 ống phóng ngư lôi (6 ống phóng mũi, 4 ống phóng đuôi), cơ số ngư lôi - 22.
Những điểm mới là: ăng-ten radio kiểu gập "Iva", tăng đáng kể bán kính liên lạc, sonar chủ động-thụ động "Hercules" mạnh hơn thay cho "Tamir-5L", máy bắn ngư lôi tự động mới "Leningrad".

Về bản chất, các tàu ngầm này là sự phát triển tiếp tục của đề án tàu ngầm 611 ("Zulu"), và không phải là "từ mới" trong ngành công nghiệp đóng tàu ngầm.

Mặc dù là lớn nếu so với các tàu ngầm cỡ trung, các tàu ngầm trên lại có tính tiện ích ở rất tồi tệ (năm 1968 trên 2 tàu ngầm đang thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong biển Philippines đã xảy ra 6 cú choáng vì nhiệt và 1 ca tử vong vì "nhiệt" trong số các thuyền viên).



Không đặt mục đích mô tả chi tiết những nỗ lực của ban lãnh đạo Liên Xô sử dụng tàu ngầm như là một "cánh tay nối dài", tôi nghĩ rằng sẽ có ích nếu kể lại tóm tắt các giai đoạn của cái gọi là cuộc khủng hoảng Caribbean. Chiến lược của Tổng thống Mỹ (viên tướng-chiến trường) D.Eisenhower "đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản" tiếp tục sống trong tâm trí và công việc của giới chóp bu chính trị và quân sự Mỹ. Sau khi cuộc đổ bộ quân sự chống Cuba tại "Vịnh Con Lợn" vào năm 1961 bị đập tan, Tổng thống Mỹ J.Kennedy trong tháng 8 năm 1961 thông qua kế hoạch "Operation Mongoose". Có một thực tế chứng tỏ mức độ nghiêm trọng của ý đồ chiến dịch nhằm tiêu diệt chế độ Fidel Castro này, đó là việc gọi 150 000 quân dự bị vào tháng 7 và phong tỏa kinh tế gắt gao Hòn đảo Tự do. Nhiều dấu hiệu trực tiếp và gián tiếp của cuộc xâm lược sắp xảy ra tháng 4 năm 1962 đã được biết đến tại Bộ Tổng tham mưu và Ủy ban Trung ương, do đó ngày 24 tháng 5 năm 1962 Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương đã ra quyết định tổ chức một đội quân Xô Viết đồn trú tại Cuba (chiến dịch "Anadyr"). Tới tháng 10 đã chuyển tới Hòn đảo tự do trên 40 ngàn nhân viên quân sự, 40 bệ phóng tên lửa đạn đạo R-12* và R-14 **, 12 bệ phóng TLPK S-75 (144 đạn tên lửa), 6 máy bay ném bom IL-28, 1 phi đội tiêm kích MiG-21 cũng như các xe tăng, pháo binh dã chiến và pháo phòng không, theo các ước tính khác nhau có khoảng 158 hoặc 162 đầu đạn hạt nhân. Việc chuyên chở được thực hiện bằng 80 tàu của hạm đội Bộ Hàng hải Liên Xô, còn hàng hóa dân sự - bằng các tàu nước ngoài thuê của chủ tàu. Thật khá kỳ lạ là chiến dịch quy mô lớn này diễn ra trước mũi nước Mỹ nhưng cộng đồng tình báo Mỹ vẫn chưa hề biết (họ bận rộn tập trung chuẩn bị cho chiến tranh) cho đến tận giữa tháng Mười.


Quân đội Xô Viết đồn trú tại Cuba. Bản đồ từ tạp chí "Life".

Với việc nhận thức được thực tế là có sự hiện diện của một cụm quân đội Xô Viết hùng mạnh, và quan trọng nhất - tên lửa mang đầu đạn hạt nhân trong vòng bán kính cách Hoa Kỳ 50 dặm, tâm trạng người Mỹ trở nên cực kỳ hoang dại. Kennedy công bố ngày 22 tháng 10 rằng 500 dặm xung quanh Cuba được biến thành "khu vực phong tỏa", ngày 23 tháng 10 đã ban bố mệnh lệnh № 3504 đổi tên thành chiến dịch "cách ly", tức là chỉ cho phép các tàu chở hàng hóa dân sự đi qua; tại Florida 250.000 lính lục quân đã ở trong tư thế sẵn sàng xâm nhập Cuba; 238 tàu Hải quân Mỹ, bao gồm cả 8 tàu sân bay, 2 tàu tuần dương, 118 tàu khu trục, 13 tàu ngầm, 65 tàu đổ bộ và 32 tàu phụ trợ ra khơi đối đầu với các hạm đội của Liên Xô và bảo đảm cho cuộc xâm lược hòn đảo, toàn bộ lực lượng máy bay ném bom chiến lược B-52 «Stratofortress» chuyển sang chế độ tuần tra chiến đấu liên tục, và máy bay ném bom chiến thuật B-47 «Stratojet» được bố trí phân tán đến các sân bay dân sự, các nhóm AUG của người Mỹ xâm nhập các vùng biển Na Uy, Nhật Bản và Okhot.

Hạm đội Xô Viết vào thời điểm đó được đại diện bởi 4 tàu ngầm đề án 641 trong khu vực quần đảo Bahamas, ba trong số họ đã phải nổi lên mặt biển bởi lực lượng chống-tàu ngầm Mỹ sử dụng bom chìm, xả đại bác và súng máy từ trên máy bay; một tàu ngầm - B-88 hoạt động thành công gần Trân Châu Cảng trong khu vực của nhóm AUG nong cốt là tàu sân bay "Constellation", một tàu ngầm B-75 không bị phát hiện hoạt động ngay cạnh căn cứ Mỹ tại Guantanamo. Vâng, thiết bị kỹ thuật có thể không, nhưng các thủy thủ thì có thể.


Tàu ngầm đề án 641.

Nhận thức về nguy cơ đe dọa rõ ràng của buổi khải huyền hạt nhân buộc Khrushchev và Kennedy phải cùng nhau "nhượng bộ", ngày 21 tháng 11 - bãi bỏ phong tỏa và hứa không đụng đến Cuba và rút các tên lửa đạn đạo "Torah" *** và "Jupiter" **** của họ khỏi nước Anh (60 bệ phóng "Tor "), khỏi Thổ Nhĩ Kỳ (15 bệ phóng "Jupiter"), khỏi Italy (30 bệ phóng "Jupiter") và không triển khai chúng ở Nhật Bản. Ngày 12 tháng 12 đã hoàn thành việc rút bộ đội Xô viết với vũ khí tên lửa hạt nhân khỏi Cuba.

Sau cuộc khủng hoảng tên lửa Caribbean đã diễn ra việc hoàn thành theo luật định quá trình chuyển sang học thuyết "thiết lập những cây cầu" hay "nới lỏng chủ nghĩa xã hội từ bên trong" (dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở châu Âu chỉ 30 năm sau đó). Học thuyết này chính thức được Tổng thống L.B.Jonhson chấp nhận tháng 2 năm 1964.

Trong thời hạn 30 năm phục vụ, các tàu ngầm đề án này đã tích cực thực hiện các chiến dịch phục vụ chiến đấu "không bí mật" ở Địa Trung Hải (Hạm đội Biển Bắc) và phần phía tây Ấn Độ Dương, (Hạm đội Thái Bình Dương); một phần trong số chúng sau khi trang bị thêm đã thực hành các chuyến khảo sát lực hấp dẫn ở các vùng phía Bắc và Nam Thái Bình Dương và phía nam Ấn Độ Dương trong các chuyến đi biển dài đến 6-8 tháng. Những tàu ngầm này đã được phong tên của các "vì sao" phù hợp quy định của "chương trình năm địa vật lý quốc tế MGG", như "Địa cầu", "Sao Thổ", "Sirius", v.v...

* R-12 - tầm bắn 2000 km, 1 đầu đạn hạt nhân  = 2.3 Mt.
** R-14 - tầm bắn 3.200-4.500 km, tùy thuộc vào sức mạnh của đầu đạn - hoặc 2.0 Mt, hoặc 2,3 Mt.
*** MRBM "Tor" - tầm bắn xa 3000 km, sức mạnh đầu đạn hạt nhân -1,5 Mt.
**** MRBM "Jupiter" - tầm vắn xa 3.000 km, sức mạnh đầu đạn hạt nhân 1 Mt.

Những điều kiện thật sự khủng khiếp về tính tiện ích ở của những chiếc "Foxtrot" được đóng trong thời kỳ 1958-1962 không tìm được bất kỳ lời giải thích nào khác hơn ngoài cách nhìn của ban lãnh đạo đất nước và lãnh đạo các lực lượng vũ trang với các thủy thủ như đối với một món hàng tiêu dùng.



Các ví dụ: từ 15 Tháng 7 năm 1956 đến 1 tháng 9 năm 1957, 8 tàu ngầm đề án 613 và 611 đã thực hiện di chuyển từ Hạm đội Biển Bắc (thành phố Polyarny) sang Hạm đội Thái Bình Dương (Petropavlovsk), 6 tàu phải quay trở lại vì lý do kỹ thuật. Ngay từ đầu  chiến dịch đã thấy rõ - các thủy thủ đoàn sẽ gặp khó khăn, qua 125 giờ đã đi được 1.100 dặm đến Dikson, ăn hết tất cả bánh mì và uống hết nước ngọt. Từ tháng 9 năm 1956 đến cuối tháng 6 năm 1957 họ trú đông tại cửa sông Kolyma (trong doanh trại đổ nát ở t = -50 ° C, và ... không có hai đô đốc-thủ trưởng - phó tư lệnh N.Basistyi và chỉ huy hải đoàn cơ động EON-66 V.Parkhomenko, họ im lặng bay về Moskva). Để không "buồn chán" các thủy thủ tàu ngầm dùng các thùng chứa dầu ăn chuyển từ sà lan lên tàu vận tải 5.500 tấn than. Nhưng khi đến Petropavlovsk các con tàu phải dừng lại cảng ngoài 10 ngày để vẻ ghê tởm của họ không làm hư hỏng cảnh quan, người ta hoãn chậm lại việc cho người phục vụ có thời hạn ra quân chuyển ngạch dự bị, hoãn nghỉ phép các sỹ quan và hạ sỹ quan. Sau 10 ngày cách ly, Tham mưu trưởng Hải quân Xô Viết đô đốc V.A.Fokin đến thăm các con tàu và tuyên bố rằng các căn hộ cho các anh chưa kịp xây dựng, các anh se đi nghỉ phép tại ... Bre, còn phụ cấp sẽ bị giảm bớt. Cuộc thử nghiệm Bắc Cực đã kết thúc như vậy đấy.


Buồng sinh hoạt chung và buồng ăn cho thủy thủ đoàn, USS "Swordfish" SSN-579, ngày 5 tháng 9 năm 1962.

Một năm sau, các tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc, B-75 và B-80 ở chế độ chuột thí nghiệm đã trở lại bờ biển Brazil. Không có bất kỳ hoạt động của lực lượng chống tàu ngầm nào ở vùng nhiệt đới, nhưng các thủy thủ đoàn đã bị hành xác đến giới hạn tột cùng. Hàng tuần, nhiệt độ trong khoang được giữ ở mức +40 ° C, tất cả các thực phẩm đều đóng hộp, thiếu nước ngọt. Nhưng đó là con tàu "hiện đại viễn dương". Các thủy thủ đã sút mất 10-12 kg trọng lượng. Khi trở về nhà, chỉ huy của B-75 trung tá hải quân M.Malkov tại một hội nghị khoa học đặc biệt về tính tiện ích ở đã thực hiện một báo cáo chi tiết. Ông tin rằng các nhà lãnh đạo hải quân, các nhà khoa học sẽ tôn trọng ý kiến của ông trong việc thiết kế và chế tạo các tàu ngầm thuộc các đề án mới.


Mikhail Kuzmitch Malkov. - N.Cherkashin. Hải đoàn đen. - M.: KUM-PRESS, 2003.

Chắc chắn là không. Trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm B-36 (đề án 641) đã viết trong nhật ký về việc trong chuyến hành quân tới Cuba, nghĩa là sau 1 tháng hành trình, tất cả thịt trong buồng lạnh đều bị thiu, các thủy thủ ba ngày liền bị ngất do nhiệt, và tất cả không trừ ai đều bị lở loét. Một tháng trước khi trở về trên tàu hết sạch bơ, bánh mì đóng hộp và bánh bích-quy, chẳng mấy chốc phải quẳng đi vì bị mốc.

Chính các chiến sỹ tàu ngầm Liên Xô vào năm 1962 đã đi trên các tàu ngầm "mới nhất" kiểu như vậy để giành chiến thắng trước hạm đội Mỹ. Đó không phải là chuyện dễ ăn như xơi món kem trong phòng điều hòa!


Các thành viên của thủy thủ đoàn B-36 thời kỳ cuộc khủng hoảng tên lửa Caribbean: Andreev Anatolii Petrovitch (Trợ lý thuyền trưởng), Mukhtar Azizovitch Aslan (ngành tác chiến 3), Naumov Vladlen Vasilievitch (hoa tiêu).

Tuy nhiên, phần lớn ban lãnh đạo hải quân đã rút ra được kết luận và đã có hành động. Đến năm 1970, vai trò của khoa học đã tăng lên đáng kể. Chỉ ở văn phòng trung ương của Tổng tư lệnh Hải quân đã có 2 bác sỹ và 14 phó tiến sỹ khoa học hải quân làm việc, 16 phó tiến sỹ kỹ thuật và 2 phó tiến sỹ y học, 2 phó tiến sỹ khoa học lịch sử, và 1 phó tiến sỹ khoa học pháp lý.

Tàu ngầm cỡ trung đề án 633 ("Romeo")

Đây là những tàu ngầm thành công nhất trong tất cả các đề án tàu ngầm diesel - một cái gì đó nằm giữa đề án 613 ("Whiskey") và đề án 611 ("Zulu").
Được đóng tại nhà máy "Red Sormovo" từ năm 1958 đến năm 1962 tổng số 20 chiếc (chỉ dành cho Hạm đội Biển Đen và các hạm đội nước ngoài vùng trũng Địa Trung Hải (Ai Cập, Algeria, Syria, và Bulgaria).
Tổng công trình sư - Z.A.Deribin, A.K.Nazarov và E.V.Krylov.

Theo thiết kế của Liên Xô, một số lượng lớn các tàu ngầm loại này đã được đóng tại CHND Trung Hoa, trong đó đóng cho cả các nước khác như Ai Cập và Bắc Triều Tiên (tổng cộng - 120 đơn vị.). Chúng đã gia nhập biên chế hạm đội của bảy quốc gia.

Độ choán nước 1330/1730 m3, độ sâu lặn tối đa 275-300 m, tốc độ cao nhất - 15,5 hải lý tư thế nổi, 13 hải lý tư thế ngầm. Bơi tự chủ - 60 ngày.
.......
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2012, 02:20:35 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #92 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2012, 10:06:56 am »

(tiếp)

Trên tàu ngầm này đã áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật: hệ thống không khí áp suất cao hoàn thiện hơn, cho phép thực hiện thổi khẩn cấp ballast dằn chủ hai đầu con tàu; chân vịt có tiếng ồn thấp đặt trong các phễu đặc biệt; lần đầu tiên trên tàu ngầm có lắp thiết bị khử từ; sử dụng hệ thống điều khiển bắn ngư lôi mới, mà khi làm việc cùng trạm hydroacoustic mới sẽ cho phép thực hiện các cuộc tấn công ngư lôi trong chế độ bám tự động mục tiêu (với các độ sâu lớn) và hành động trong thành phần nhóm chiến thuật.

Một tính năng đặc trưng trong kiến trúc của tàu ngầm này là cấu trúc thượng tầng hình tháp trên mui tàu dùng cho kính thiên văn tiềm vọng và hầm dùng choi RDP, cho phép tăng chiều sâu tiềm vọng lên 10 m, và điều đó tăng đáng kể tính dễ điều khiển của tàu ngầm trong các điều kiện bão biển.

Nói ngắn gọn, trên tàu ngầm đề án này đã triển khai các cải tiến kỹ thuật tạo cơ sở coi đồ án thiết kế trên là một bước đi đáng kể trong lĩnh vực xây dựng các tàu ngầm diesel trang bị ngư lôi.

Đồng thời, kinh nghiệm của các chuyến đi biển dài ngày, gồm cả trong các điều kiện tiếp xúc với các nhóm AUG (авианосная ударная группа) và AMG (авианосная многоцелевая группа), cho thấy khả năng chiến đấu thấp của các đề án 641 và 633. Trước hết, nó thường được giải thích bởi nhu cầu nổi lên để sạc ắc quy, không đủ sức hành trình tư thế ngầm dưới nước để theo dõi các nhóm tàu mặt nước của lực lượng hải quân NATO, và các ngư lôi với tư cách là vũ khí trong những năm đó để tiêu diệt tàu sân bay, tàu tuần dương tên lửa có điều khiển và tàu khu trục tên lửa có điều khiển đã cạn kiệt khả năng tấn công của chúng do mật độ dày đặc của lực lượng phòng thủ chống ngầm trong các khu vực biển gần. Sự hiện diện của vũ khí tên lửa trên tàu ngầm đã trở nên cực kỳ cần thiết và cấp bách.

Tàu ngầm tấn công cỡ lớn đề án 651 ("Juliette")

Tổng cộng có 16 chiếc được đóng ở "Red Sormovo" từ 1963-1969. Tàu ngầm tên lửa hành trình đầu đàn được đóng tại nhà máy đóng tàu Baltic. Tổng công trình sư  - A.S. Kassatsier.

Tàu ngầm diesel cỡ lớn đề án này được xây dựng mới từ đầu làm phương tiện mang tên lửa hành trình tự dẫn P-6 (Tầm bắn - 350 km, trọng lượng 5,6 tấn) và được dự định dùng tấn công mục tiêu mặt nước dạng nhóm (các tàu chiến và tàu vận tải), cũng như các căn cứ hải quân và bến cảng.


Tàu ngầm đề án 651.

Chiếc tàu ngầm trang bị 4 tên lửa hành trình, bố trí trong các khối thùng chứa liền kề thành từng cặp một, khi bắn các thùng chứa được nâng lên một góc +15 °, loạt bắn diễn ra theo hướng mũi tàu. Việc phóng tên lửa – trên tư thế nổi, sẽ được thực hiện sau khi tàu ngầm hoàn thành công tác chuẩn bị pha tiền khởi động cho loạt bắn khi còn ở độ sâu dưới mặt nước.

Một phẩm chất quan trọng của tổ hợp tên lửa là hệ thống điều khiển bắn và dẫn đường cho tên lửa tới mục tiêu, đang ở trong tầm nhìn thấy của các phương tiện quan trắc đo đạc của phương tiện mang-xạ kích (phương pháp lệnh vô tuyến). Khi xạ kích mục tiêu nhóm nó có khả năng bắn trúng một cách chọn lọc đối tượng chính.

Ngoài các thiết bị điều khiển loạt bắn trên tàu, tàu ngầm có thể tiếp nhận hình ảnh radar của nhóm đối phương và chỉ thị mục tiêu từ máy bay trinh sát chúng qua hệ thống "Uspekh".

Các đặc điểm kỹ-chiến thuật chính như sau:
Độ choán nước 3300/3770 m3; độ sâu lặn – tới 400 m. Động cơ hành trình tư thế nổi 1D43 công suất đến 4000 mã lực đảm bảo tốc độ đến 16 hải lý; động cơ hành trình tư thế bơi ngầm MG141 tốc độ đến 17 hải lý. Lần đầu tiên trên tàu ngầm được lắp đặt hệ ắc quy kẽm-bạc.
Một tính năng đặc biệt của kiến trúc vỏ bền thân tàu là khả năng thay thế thiết bị diesel-điện bằng thiết bị điện hạt nhân.



Vũ khí: 4 container chứa tên lửa hành trình P-5C, 5D, P-6; 6 ống phóng ngư lôi tiêu chuẩn cỡ 533 mm (cơ số ngư lôi - 18) và 4 ống phóng ngư lôi đuôi cỡ 400 mm cho phép bắn ngư lôi tự dẫn vào các tàu ngầm của đối phương từ độ sâu đến 250 m

Lần đầu tiên trong lịch sử Hải quân Liên Xô, một tàu ngầm đề án này được trang bị tổ hợp thu nhận dữ liệu chỉ thị mục tiêu từ vệ tinh trinh sát.
Tàu ngầm tên lửa đề án trên từ năm 1968 đã thực hiện thành công nhiệm vụ phục vụ chiến đấu ở vùng biển Tây Ấn Độ Dương.

Tàu ngầm tên lửa (đạn đạo) cỡ lớn đề án 629 ("Golf")

Tổng số từ năm 1958 đến năm 1962 đã đóng được 23 chiếc, trong đó: nhà máy ở Severodvinsk - 16, nhà máy ở Komsomolsk-na-Amur - 7. Tổng công trình sư thiết kế - N.N.Isanin.
Các bộ phận và thiết bị của một chiếc tàu ngầm năm 1958 được chuyển giao cho CHND Trung Hoa. Chiếc tàu ngầm tên lửa này sau đó được sử dụng để xây dựng lực lượng tên lửa hạt nhân của bản thân Hải quân Trung Quốc (với tên lửa đạn đạo có tầm bắn lên đến 800 km).

Tàu ngầm - phương tiện mang tên lửa đạn đạo dạng "Scud" (phiên bản hải quân - R-11FM). Nó được thiết kế để tấn công các căn cứ hải quân, các bến cảng, các trung tâm công nghiệp và hành chính trên bờ biển và nằm sâu trong lãnh thổ đối phương.
Loạt sản xuất đại trà của đề án tàu ngầm 629 có 3 hầm phóng.

Đặc điểm kỹ-chiến thuật chính: độ choán nước 2820/3550 m3, hải trình tự chủ - 70 ngày đêm. Vũ khí: 3 tên lửa đạn đạo R-11FM, 6 ống phóng ngư lôi (4 mũi, 2 đuôi).
Công đoạn chuẩn bị tiền khởi động được thực hiện ở độ sâu dưới mặt nước, trước khi phóng tên lửa tàu ngầm chuyển lên tư thế nổi.
Tàu ngầm tên lửa đề án này có trong biên chế Hạm đội Baltic (4 đơn vị) và là chủ đề lo ngại sâu sắc của các chính trị gia Thụy Điển, và sự suy đoán của giới báo chí.


Tàu ngầm diesel đề án 629A. Tàu ngầm đầu tiên trong nước phóng được tên lửa đạn đạo ở tư thế bơi ngầm.

Một phần các tàu ngầm này được trang bị lại theo đề án 629-A ("Golf -2") với việc phóng trong tư thế ngầm tên lửa R-13FM (Tầm bắn xa - 560 km, phóng đi từ độ sâu 40-50 m). Những tàu ngầm này đã thực hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.



Năm 1968, một trong số các tàu trên (K-129, chỉ huy đại tá hải quân V.Kobzar) đã hy sinh trên vùng Bắc Thái Bình Dương do kết quả một cuộc va chạm trực diện không chủ định trước với một tàu ngầm hạt nhân Mỹ "Swordfish" đang theo dõi nó).


USS "Swordfish" SSN-579 tháng 11 năm 1961.

Trong nỗ lực đạt được sự nâng cao các khả năng tấn công, trên cơ sở công nghệ thực tế đã phát sinh 2 phiên bản:
Đề án 605 phục vụ từ năm 1975 - mang tên lửa đạn đạo R-27K (Tầm bắn xa - 900 km, trọng lượng 13,25 tấn) và hệ thống tự dẫn bắn các mục tiêu biển, hầm chứa tên lửa được đặt thành cặp bên ngoài phần cabin mui. Có 4 ống phóng lôi mũi và 2 ống phóng lôi đuôi.


Tầu ngầm tên lửa cỡ lớn đề án 605

Đề án 601 phục vụ từ năm 1976 - tàu ngầm diesel duy nhất trên thế giới, mang tên lửa đạn đạo tầm liên lục địa R-29 (Tầm bắn xa - 7800 km, trọng lượng 33,3 tấn, phóng được cả tư thế nổi và tư thế ngầm), đã chế tạo 6 chiếc. Nhưng đồng thời lượng choán nước tăng gần gấp rưỡi, tầm hành trình kinh tế tư thế ngầm giảm đi 3 lần. Công cuộc xây dựng và khai thác hoạt động của các tàu ngầm 2 đề án này mang tính chất thử nghiệm và không được phát triển tiếp.


Tàu ngầm tên lửa cỡ lớn đề án 601

Tàu ngầm-lai ghép

Theo cách nói mỉa mai của thủy thủ tàu ngầm - "tàu ngầm-quái thai", đây là những con tàu chuyển đổi trang bị hoặc được đóng trên cơ sở đề án 613 ("Whiskey") và cho ra những phẩm chất chiến đấu rất đáng ngờ.

Tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 644 ("Whiskey xi-lanh đôi")


Tàu ngầm đề án 644 mang tên lửa hành trình P-5

Tổng số đã chuyển đổi trang bị cho 7 tàu ngầm đề án 613 sang thành phương tiện mang tên lửa hành trình P-5.
Tên lửa hành trình P-5 (SSN-3 'Shaddok ") dùng để bắn các mục tiêu trên bờ của đối phương, không điều khiển trong quá trình bay, tầm bắn lên đến 745 km (theo phương vị và khoảng cách). Tên được bố trí trong thùng chứa 2 ống trên boong thượng tầng. Tên lửa được phóng khi tàu ngầm ở trong tư thế nổi.

Các tầu ngầm trên đặt căn cứ tại các Hạm đội Biển Đen, Biển Bắc và Thái Bình Dương. Do chiều cao tâm nghiêng (metacentric) nhỏ trong tư thế nổi, tàu ngầm ở trạng thái cực kỳ nguy hiểm khi nổi lên bề mặt trong thời tiết có bão. Một tàu ngầm của đề án này (S-80) đã gặp nạn bị chìm khi bơi ở chế độ RDP năm 1961.

Tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 665 (Long Beach)

Tổng số đã chuyển đổi trang bị cho 8 tàu ngầm, để mang tên lửa hành trình P-5 ("Shaddok). Vì vẻ ngoài xấu xí, tàu có tên lóng là "con ếch".
Tổng công trình sư thiết kế - B.V.Leontiev. Được đóng tại Leningrad và Sormovo.


Tàu ngầm diesel-điện mang tên lửa hành trình đè án 665. - Sư đoàn tàu ngầm số 16 Hạm đội Biển Bắc (Hạm đội Baltic). Con người, con tàu và sự kiện. St Petersburg: Số đặc biệt nguyệt san "Taifun", năm 2007.

Tàu ngầm đề án này cực kỳ nguy hiểm do tính ổn định ngang nhỏ, đặc biệt là khi nổi lên mặt biển trong thời tiết có bão.
Trong giai đoạn "bùng nổ tên lửa" của Khrushchev người ta đã lên kế hoạch chuyển đổi trang bị cho 75 tàu ngầm đề án 613, tuy nhiên chương trình này đã bị chấm dứt khi xuất hiện các tàu ngầm mang tên lửa hành trình đề án 651 ("Juliette"), cũng như các tàu ngầm hạt nhân đề án 658 ("Echo").
.........
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Tám, 2012, 09:39:56 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #93 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2012, 09:04:41 pm »

(tiếp)

Tàu ngầm-radar đề án 640 ("Kansas Bag")


Tàu ngầm đề án 640

4 con tàu đề án này là các tàu ngầm được chuyển đổi trang bị của đề án 613 ("Whiskey" class).

Các tính năng: có ăng ten gập-mở của radar "Kasatka" để phát hiện các mục tiêu trên không. Để lắp đặt các khối radar, khối ắc quy số 2 được gỡ khỏi tàu ngầm (trong khoang thứ tư). Vì vậy tàu ngầm chỉ có thể ở dưới mặt nước một thời gian ngắn.

Trong thực tế, nó là một trạm radar có khả năng nổi lên, được thiết kế để triển khai ở vị trí trạm tuần tra radar trên các hướng biển bị đe dọa trong một hệ thống phòng không thống nhất của đất nước.

Với việc đưa vào hoạt động radar công suất cao, sau 3-4 giờ tàu ngầm đã xả hết nửa dung lượng ắc quy và phải nạp lại ắc quy trong tư thế nổi. Theo tiếng lóng của thủy thủ tàu ngầm, tàu ngầm-radar được đặt tên là "cái xẻng". Khả năng bơi độc lập chỉ có 10 ngày. Tính ổn định tác chiến của nó rất nhỏ. Việc sử dụng ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân trên tàu ngầm này không được tính đến.

SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CÁC TÀU NGẦM DIESEL TRONG GIAI ĐOẠN THỨ BA (1966-1988)

Sự tụt hậu của Hải quân Liên Xô trước Hải quân Hoa Kỳ và các đối tác quan trọng của họ trong vấn đề phát triển chất lượng kỹ thuật công nghệ hải quân đã tồn tại trước khi bắt đầu thời kỳ này, thì trong giai đoạn sau càng lộ rõ.
Mặc dù Tổng tư lệnh Hải quân đô đốc S.G.Gorshkov nhiều lần nhấn mạnh ý tưởng xây dựng một hạm đội viễn dương cân bằng, trên thực tế vẫn tiếp tục diễn ra cuộc chạy đua về số lượng trong xây dựng tàu hải quân (trong đó có cả tàu ngầm); đồng thời khoa học quân sự ứng dụng và khả năng sản xuất không cho phép đạt đến một mức độ chất lượng cho các đòi hỏi đặt ra.



Các tàu ngầm nguyên tử thế hệ đầu tiên có tiếng ồn lớn, được trang bị các tổ hợp vô tuyến điện tử lỗi thời (trước tiên - hệ thủy âm).
Người Mỹ đã có bước nhảy lớn về chất lượng trong các lĩnh vực:
- hệ thủy âm tần số thấp, sau đó là hệ thủy âm hạ âm (infrasonic);
- xây dựng các tổ hợp phổ quát "tác chiến tầm xa" trong việc phát hiện, phân loại và sử dụng vũ khí tấn công và vũ khí chống tàu ngầm (ngắm bắn, tự dẫn, và sau đó là - vũ khí có độ chính xác);
- áp dụng các công nghệ kỹ thuật đảm bảo  mức tiếng ồn thấp và khả năng cơ động cao (dưới nước) cho các tàu ngầm của họ;
- xây dựng và triển khai hệ thống thủy âm tích hợp hiệu quả phát hiện từ tầm xa các tàu ngầm của chúng ta, bí mật theo dõi và sẵn sàng tiêu diệt họ ở khoảng cách xa, nâng cao việc chống phát hiện cũng như các hành động đáp ứng.



Ngay từ đầu cuộc chạy đua cạnh tranh trong lĩnh vực chế tạo tàu ngầm, người Mỹ đã đi đến kiến trúc thuôn dòng hợp lý "Albakor" cho thân tàu ngầm, và loại bỏ bằng công nghệ tất cả các nguồn tiếng ồn cơ khí và tiếng ồn của dòng chảy rối.

Ngay cả các tàu ngầm diesel "giai đoạn 2" của chúng tôi, cũng như các tàu ngầm hạt nhân thế hệ "thứ nhất, cũng có dạng thân hình thoi truyền thống, công nghệ động cơ và bộ dẫn tiến thấp, do đó bị phát hiện ở khoảng cách lớn, nếu tiếp tục đi ở những tốc độ cao.

Kết quả là ngành công nghiệp đóng tàu ngầm của chúng ta vào lúc bắt đầu thời kỳ "thứ ba" đã "bắt kịp", tức là sao chép hình mẫu.

Trong những điều kiện, khi càng ngày càng giữ ý nghĩa lớn hơn lại không phải là cuộc chiến tranh truyền thống trên mặt nước, mà là cuộc chiến tranh chống tàu ngầm dưới lòng biển sâu, hạm đội tàu ngầm diesel của chúng ta các thời kỳ xây dựng đầu tiên và thời kỳ xây dựng thứ hai sau chiến tranh đã bị tụt hậu trước đòi hỏi của cuộc chiến ấy ở mức độ còn nhiều hơn nữa.



Đặc biệt kể từ khi Bộ chỉ huy tối cao khối NATO vào năm 1968 đã thông qua một điều khoản cho phép tiêu diệt các tàu ngầm Liên Xô bị phát hiện ra và không nổi lên trong vòng bán kính 100 dặm cách các tàu chiến Mỹ. Và tôi phải nói rằng, tới thời gian ấy, trường radar kiểm soát bao quanh tàu sân bay là gần 350 dặm, và trang bị của các máy bay thuộc lực lượng phòng thủ chống ngầm cất hạ cánh trên boong tàu sân bay có các loại bom chìm hạt nhân "Lulu" và "Betty".

Các tàu ngầm diesel-đa mục đích (và do đó các tàu ngầm có chức năng chống tàu ngầm) các đề án 613, 641 và những đề án khác, khi so sánh với các tàu ngầm Mỹ về mức độ tiếng ồn dưới nước, đã trang bị các tổ hợp thủy âm phổ tần số cao, có tầm xa phát hiện nhỏ và tính hiệu quả trong tìm kiếm thấp trong cuộc chiến đấu chống lại các tàu ngầm đối phương. Nói ngắn gọn hơn, trong cuộc đấu tranh giành "loạt bắn đầu tiên" (tấn công phủ đầu trước) có thể sử dụng trong những trường hợp hạn chế (ví dụ, trong các "cuộc phục kích dưới nước"). Trong các điều kiện bằng nhau còn lại, chúng trở thành kém hiệu quả, và đôi khi vô dụng.

Cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1973 (06-25 tháng 10). Ở Địa Trung Hải, Mỹ và Liên Xô đã tập trung các nhóm mạnh nhất thuộc đủ loại lực lượng binh chủng khác nhau trong các hạm đội của mình. Người Mỹ có hơn 120 tàu, bao gồm cả 4 tàu sân bay tấn công, khoảng 8 tàu ngầm nguyên tử đa mục đích, hai tàu sân bay trực thăng tấn công đổ bộ, 20 tàu tuần dương, 40 tàu khu trục và tàu hộ tống, hơn một chục tàu đổ bộ. Binh đoàn Địa Trung Hải của chúng ta tính ra có hơn 100 tàu chiến và tàu phụ trợ, bao gồm cả tàu ngầm nguyên tử. Cả hai nhóm đều ở trong tình trạng sẵn sàng sử dụng vũ khí ngay lập tức, còn thuyền trưởng các tàu ngầm B-130 và B-409 được lệnh tiêu diệt ngay các tàu ngầm đối phương bị phát hiện. Đương nhiên, người ta đã tiến hành phân tích sự tham gia của các tàu ngầm của chúng ta trong "cuộc hôn nhân chó chết" và ra những quyết sách nhất định.

Vì vậy, trong "giai đoạn thứ 3" (1966-1988), các nhà máy của chúng ta đã xây dựng các tàu ngầm diesel đáp ứng được về nguyên tắc các yêu cầu mới: tiếng ồn thấp và khả năng cơ động cao dưới nước, tầm phát hiện xa các tàu ngầm của đối phương, tự động hóa quá trình tấn công "đấu tay đôi" mau lẹ dưới mặt nước.

Trong một mức độ nhất định, các yêu cầu đó được đáp ứng phần nào bởi các tàu ngầm của đề án "chuyển tiếp" 641-B và ở mức độ đáp ứng cao hơn cả là các tàu ngầm đề án 877 ("Varshavyanka").


Tàu ngầm đề án 641B. - Đơn vị tàu ngầm Huân chương Cờ Đỏ Ushakov bậc 1 Hạm đội Biển Bắc, Số đặc biệt nguyệt san Taifun, St Petersburg 2003.

Tàu ngầm chống tàu ngầm cỡ lớn đề án 641B ("Tango")

Được đóng tại nhà máy "Red Sormovo" từ 1972-1982. Tổng số đã đóng 18 đơn vị.
Tổng công trình sư - Z.A.Deribin, Yu.N.Kormilitsyn.

Khi thiết kế, một phần lớn sử dụng lại các giải pháp kỹ thuật của đề án 641 ("Foxtrot"). Về cơ bản các giải pháp mới là: trang bị thủy âm mới, hệ thống thông tin quản lý và điều khiển tác chiến, hệ thống định vị đạo hàng hoàn thiện hơn, đảm bảo cho tàu đi biển và sử dụng vũ khí ở vùng vĩ độ cao. Tàu ngầm loại này chạy êm nhất thời gian đó.

Trên tàu ngầm điều kiện ở đã được cải thiện: phòng sỹ quan là các cabin 2 chỗ, đảm bảo cho tất cả các thuyền viên có chỗ nằm (bao gồm cả 50% các hạ sỹ quan nhóm trưởng và thủy thủ - trong các cabin).

Tôi phải nói rằng trong thời gian ấy nền khoa học và công nghiệp Liên Xô đã nỗ lực tập trung vào việc chế tạo các dạng mẫu mới của vũ khí "bản địa" của tàu ngầm - vũ khí ngư lôi.

Thông số kỹ-chiến thuật các ngư lôi chính, được đưa vào phục vụ trong những năm 195x - 197x của thế kỷ XX



Tàu ngầm cứu hộ cỡ lớn đề án 940 ("Lenok", NATO -"India").

Đã đóng 2 tàu tại nhà máy ở Komsomolsk-na-Amur cho Hạm đội Thái Bình Dương và Hạm đội Biển Bắc.
Những tàu ngầm này được thiết kế để cứu hộ các thủy thủ đoàn các tàu ngầm, bị chìm ở các vùng biển gần. Tàu mang theo 2 thiết bị lặn sâu cứu hộ. Ngoài ra, kết cấu đặc biệt phần mũi đã tính đến việc sử dụng tàu ngầm cứu hộ bằng phương pháp khớp nối cứng "mũi đấu mũi" với tàu ngầm bị chìm để đảm bảo di chuyển không cần buồng cách ly toàn bộ thuyền viên từ tàu bị đắm sang tàu cứu nạn.


Tàu ngầm cứu hộ đề án 940

Độ choán nước 3900/4800 m3, không trang bị vũ khí.
Thật không may, kinh nghiệm thực tế sử dụng tàu ngầm đề án này tại Hạm đội Thái Bình Dương đã cho kết quả đáng ngờ. Đặt căn cứ tại vịnh Ulyss tàu ngầm-cứu nạn năm 1981 trong các điều kiện lý tưởng cho bản thân (khoảng cách 5 dặm đến nơi tàu ngầm S-178 bị đắm, chiều sâu 60 m), nhưng con tàu đã không thể thực hiện khớp nối "tàu ngầm-tàu ngầm" vì lớp nền ở 1 góc của tàu ngầm bị chìm. Kết quả là "tạo điều kiện" cho sự hy sinh của các thủy thủ tàu ngầm, những người đã chờ đợi trong khoang nửa chìm sự kết thúc thao tác kết nối và kiệt sức vì bị hạ thân nhiệt.
........
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2012, 10:44:31 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #94 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2012, 12:40:04 am »

(tiếp)

Tàu ngầm diesel chống tàu ngầm cỡ trung đề án 877 ("Varshavyanka", "Kilo")

Là những tàu ngầm chuyên chống tàu ngầm ("sát thủ-tàu ngầm").
Từ năm 1982, đã đóng được 32 đơn vị cho các hạm đội trong nước và đóng cho hạm đội các nước "hữu nghị" khác là 14 đơn vị (Ấn Độ - 10, Ba Lan - 1, Algeria - 2, Romania - 2 và thực tế giao - 1, Iran - 3, Trung Quốc - 2) . Việc đóng loại tàu này vẫn đang tiếp tục.


Phiên bản xuất khẩu của tàu ngầm "Varshavyanka" đề án 877

Nhà máy sản xuất: Komsomolsk-na-Amur, "Red Sormovo", Admiralty (Saint Petersburg).
Tổng công trình sư - Yu.N.Kormilitsyn (SKB "Rubin").
"Varshavyanka" về bản chất là tàu ngầm diesel hiện đại thế hệ mới. Nó được thiết kế để chống lại tàu ngầm của đối phương (bao gồm cả các tàu ngầm nguyên tử hiện đại) ở các vùng biển bên trong và ngoại vi, các vùng biển lân cận, cũng chiến đấu chống lại các tàu chiến và phương tiện nổi của kẻ thù riêng một cách độc lập cũng như hợp đồng với các lực lượng hải quân khác.
Ít tiếng ồn, có các đặc điểm tốc độ và vận động ưu việt, được trang bị các thiết bị điện tử hiện đại và hệ thống tự động hóa trong quản lý chỉ huy và sử dụng vũ khí. Hầu hết các cơ cấu máy có một lớp phủ hấp thụ dao động và được đặt trên các đệm giảm xóc, các khối-thành tố được bố trí trên các nền chuyên dụng đặc biệt

Các tính năng kỹ-chiến thuật chủ yếu:
Lượng choán nước 2 400/3 000 m3, thân dạng «albakor» (hình giọt nước). Tốc độ toàn tải tư thế ngầm - gần 20 hải lý.
Đặc tính nổi bật của GEU: 2 máy phát diesel 1500 kW, động cơ điện đẩy chính công suất 5 500 sức ngựa trên một trục với chân vịt 6 cánh đường kính lớn.
Vũ khí: 6 ống phóng ngư lôi (cơ số đạn ngư lôi - 12) có cơ chế điều khiển từ xa công tác chuẩn bị bắn và nạp đạn. Các tàu ngầm riêng biệt được trang bị tên lửa phòng không mang vác «Strela-2М» có hộp chứa đạn cho những phát bắn đầu tiên (Кранец первых выстрелов).



Tàu ngầm B-871 "Alrosa" (đề án 877) có bộ dẫn tiến thử nghiệm kiểu lực đẩy phản lực nước (phụt nước) thay vì chân vịt, được đóng tại nhà máy "Red Sormovo" năm 1990, hiện đang ở trong thành phần Hạm đội Biển Đen của Nga. Những thân tàu của 8 tàu đóng sau đề án 877 được tăng thêm hai khoảng dầm, cho phép lắp đặt thiết bị năng lượng mới, cải thiện tính dễ bảo trì sửa chữa. Các nhà thiết kế và chế tạo đã biết cách tăng tuổi thọ của thiết bị thêm hai lần.

Trên cơ sở đề án "nguyên thủy" 877, các tàu ngầm dành cho các nước xã hội chủ nghĩa có thêm các phiên bản sửa đổi 877 E và 877 EKM. Việc đóng các  "e-ka-em-mờ" trong những năm 90 của thế kỷ trước đã cho phép ngành công nghiệp Nga chuyển sang việc chế tạo một phiên bản xuất khẩu được cải tiến hoàn thiện của tàu ngầm đề án 877- đó là đề án 636 (Kilo cải tiến). Cụ thể: hệ thống sonar tiên tiến, máy phát /động cơ điện chính, máy phát điện diesel, động cơ hành trình kinh tế, tổng cộng có 36 đơn vị thiết bị được thiết kế đặc biệt dành riêng cho đề án này (tất cả đều có giảm rung), cho phép đạt tốc độ tối đa 20 hải lý mà tiếng ồn thấp hơn nhiều so với các thế hệ tàu đi trước. Kích thước và khối lượng thay đổi rất ít, chiều dài thân tàu tăng lên 120 cm, lượng choán nước chỉ tăng nhẹ. Hai tàu của đề án này hiện đang ở trong biên chế Hải quân CHND Trung Hoa.


Tàu ngầm diesel-điện đề án 636

Sự phát triển tiếp tục của ngành đóng tàu ngầm phi hạt nhân trong thế kỷ 21 là đề án 636 M (SKB "Rubin", Công ty cổ phần "Nhà máy đóng tàu Admiralty"). Những tàu ngầm phân lớp "Kilo" này có hệ thống thiết bị năng lượng công suất mạnh hơn, ắc quy có thời hạn sử dụng không sạc tăng 2,5 lần cho cùng một công suất, tổ hợp sonar mạnh hơn, kính tiềm vọng có kênh nhìn đêm, máy đo xa theo kênh truyền hình và tia laser, anten kéo phổ sóng siêu dài và sóng ngắn (СДВ и КВ-диапазон), hệ thống dẫn đường quán tính mới nhất. Nhưng đặc tính chủ yếu của đề án tàu ngầm này là sự hiện diện tổ hợp tên lửa ở hai dạng:

Tổ hợp «Club-S» với tên lửa chống hạm 3M-54E (Tầm bắn xa - 220 km ở tốc độ cận âm có sự chuyển sang siêu âm trong vòng 20 dặm cách mục tiêu, trọng lượng đầu đạn 220 kg) và «Club-S» với tên lửa chống hạm 3M-54E1 có tầm bắn xa lên đến 300 km và trọng lượng đầu đạn 300 kg. Hiện nay, đã ký kết các hợp đồng với Trung Quốc, Algeria và Việt Nam đóng 16 tàu ngầm, đang đàm phán với Indonesia để đóng 2 tàu ngầm đề án này. Từ năm 2010, "Nhà máy đóng tàu Admiralty" đã khởi công đóng cho Hải quân Nga tàu ngầm đề án 636,3 "Novorossiysk": độ choán nước tiêu chuẩn - 2.350 m3, độ choán nước tư thế lặn - 3.100 tấn; chiều dài 73,8 m, chiều rộng 9,9 m, mớn nước trung bình - 6,2 m; kết cấu thân 2 vỏ; thiết bị năng lượng: 2 động cơ diesel 150 kW, động cơ điện chính GED - 1x4040 kW, GED / hành trình kinh tế - 1x95 kW, hai nhóm ắc quy; tốc độ tối đa, tư thế nổi-11 hải lý, tư thế ngầm-20 hải lý; Tầm bơi xa trong chế độ RDP-7500 dặm ở tốc độ 7 hải lý, tầm bơi xa tư thế ngầm ở tốc độ 3 hải lý - 400 dặm; trang bị vũ khí: 6 ống phóng lôi 533 (18 đạn ngư lôi hoặc 24 mìn), TLPK có điều khiển (ZUR) - 6 đạn; chiều sâu lặn - 300 m; thời gian bơi độc lập - 45 ngày; thủy thủ đoàn 52 người.


Kormilitsyn Yuri Nikolaevitch

Đề án 677 ("Lada") - thiết kế vào năm 1987 tại SKB MT "Rubin" (tổng công trình sư thiết kế Yu.N.Kormilitsyn), từ năm 1997 bắt đầu đóng tại "Nhà máy đóng tàu Admiralty" ở St Petersburg cho Hải quân Nga tàu ngầm "Saint Petersburg" và cho các đơn hàng xuất khẩu "Amur" ("Amur 950" và "Amur-1650"). Trong việc thực hiện thiết kế chúng tương tự như các tàu ngầm tiền nhiệm đề án 877 và 636, nhưng lần đầu tiên kể từ thập niên 40 của thế kỷ trước, tàu ngầm được xây dựng theo kiến trúc 1 thân duy nhất với sức nổi dự trữ tối thiểu nhằm đảm bảo tính chống chìm trong tư thế nổi, điều đó cho phép giảm lượng choán nước của nó xuống gần 1,3 lần.

Thân tàu bằng thép, đồng trục có vỏ nhẹ, được chia thành 5 khoang và theo chiều cao - 3 tầng sàn, có đuôi ngang hình chữ thập, bánh lái bằng phía trước được đặt trên mui tàu. Tàu có thiết bị khử mặn và hệ thống điều hòa không khí chung trên tàu biển. Việc giảm tiếng ồn được đảm bảo bằng việc sử dụng máy phát điện diesel dòng biến đổi thay vì thiết bị GED dòng không đổi tần số thấp mọi chế độ, và một loạt các biện pháp tổng hợp để giảm mức trị số các trường vật lý. Tổ hợp thủy âm có hiệu suất cao, trong đó có cả ăng-ten sonar kéo, đem lại hy vọng cho việc phát hiện sớm các tàu chiến của đối phương, bao gồm cả tàu ngầm có tiếng ồn thấp.

Việc điều khiển tàu ngầm, vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật được tự động hóa và thực hiện từ các bàn điều hành trên buồng điều khiển trung tâm (GKP). Việc điều khiểm quản lý tất cả các thiết bị vô tuyến điện tử được thực hiện từ hệ thông tin chỉ huy tác chiến (БИУС - BIUS) "Lithium".


Tàu ngầm diesel-điện thế hệ IV đề án 677.

Trang bị vũ khí bao gồm: ngư lôi phổ quát USET-80, UGST; các tên lửa siêu nhanh chống tàu ngầm "Shkval"; các tên lửa hành trình chống hạm "Biriuza» (SS-N-27 Sizzler) thuộc tổ hợp "Club-S". Việc ứng dụng các vũ khí trên thực hiện qua 6 ống phóng ngư lôi 533 mm đằng mũi (cơ số đạn 18 ngư lôi). Chu trình chuẩn bị vũ khí và khai hỏa vũ khí được điều khiển hoàn toàn tự động, sẵn sàng bắn loạt ngư lôi từ 2 ống phóng thường trực sau vài giây, tự động nạp đạn ngư lôi bằng phương pháp cơ giới hóa. Tổng số tàu ngầm đề án 677 ("Lada") đang đóng cho Hải quân Nga là 4 chiếc.

Các tàu ngầm họ "Amur" ("Amur 950" và "Amur-1650") là phiên bản xuất khẩu của tàu ngầm diesel-điện lớp "Lada". Theo quan niệm của các nhà thiết kế và chế tạo, tàu ngầm đề án này có thể làm việc trong bất kỳ khu vực đại dương nào, trừ khu vực có băng bao phủ dày đặc quanh năm.

Việc điều khiển tự động con tàu, cũng như toàn bộ các cơ cấu máy móc và vũ khí có thể làm giảm đáng kể số lượng kíp thủy thủ. Các giải pháp thiết kế cho phép lắp đặt một số loại thiết bị riêng, chẳng hạn như sản phẩm của khách hàng và các nước thứ ba. Các tính năng quan trọng nhất của đề án này là tàu ngầm có thể được trang bị thiết bị sinh năng lượng không phụ thuộc không khí sản phẩm của FGUB «SKB MT" Rubin", NPO "Energyia"*. Việc sử dụng các máy phát điện hóa học cho phép tăng đáng kể thời gian bơi độc lập và tầm bơi xa trong tư thế ngầm. Thiết bị với dự trữ chất phản ứng được đặt trong một module đặc biệt, có thể được kết hợp vào tàu ngầm khi đóng hoặc khi sửa chữa (nâng cấp).

* tàu ngầm đề án 677 có GEU kết hợp trong đó có thiết bị diesel-điện và cả thiết bị năng lượng không phụ thuộc không khí (VNEU - ВНЭУ - воздухонезависимой энергоустановки) có tầm bơi xa liên tục khá lớn trong tư thế ngầm.

Các đặc điểm chính



Cần thêm vào một lợi thế cạnh tranh rất quan trọng của đề án này là:
- khả năng phóng loạt tên lửa chống hạm rất nhanh (t = 2 phút), làm giảm đáng kể tính hiệu quả của khả năng phòng thủ chống tên lửa của đối phương;
- thời hạn khai thác phục vụ giữa các kỳ sửa chữa khá dài, nếu so với các tàu ngầm diesel-điện do phương Tây sản xuất.

Khả năng tấn công các tàu ngầm này được xác định bởi sự có mặt tổ hợp tên lửa độc đáo "Club-S" - 10 bệ phóng phổ quát thẳng đứng với tên lửa chống hạm 3M-54E, hoặc 3M-54E1, hoặc với tên lửa hành trình 3M-14E (mục tiêu trên bờ) được sản xuất bởi OKB "Innovator" (thành phố Ekaterinburg). Hệ thống điều khiển tàu biển phổ quát sản phẩm của Công ty cổ phần "Kontsern "Morinformsystem-Agat"" (Moskva). Để cất giữ và phóng các tên lửa loại này có thể sử dụng ống phóng ngư lôi 533 mm. Tầm bắn xa - lên đến 300 km, độ cao bay 10-20 m, trọng lượng đầu đạn 200-450 kg, tốc độ 0,6-0,8 M, hệ thống dẫn đường kết hợp - quán tính + radar chủ động.

Một loại vũ khí nữa trên "Amur" có thể là tên lửa chống ngầm có điều khiển (PLUR) 91RE1 và 91RTE2. Những tên lửa chống ngầm trên có thể phóng ra từ ống phóng ngư lôi 533 mm ở độ sâu từ 20-150 m, có tầm bắn xa 5-50 km với tốc độ 2-2,5 M, trọng lượng đầu đạn 300 kg. Trong loạt phóng vào một mục tiêu có thể phóng đến 4 đạn tên lửa, pha chuẩn bị tiền khởi động -10 giây.


Bốc xếp đạn thuộc hệ thống tên lửa "Club" trên tàu ngầm.

Có lẽ, có thể công bằng mà coi rằng tàu ngầm «Varshavianka» trong đời phục vụ của nó đã trở thành hình mẫu xuất phát cho việc xây dựng các tàu ngầm mới của các hạm đội tương lai trong thế kỷ 21.

Hiện nay, ngày càng nhiều cơ quan có uy tín về hải quân (trong số đó có cả Mỹ) tin rằng tương lai thuộc về các tàu ngầm hạt nhân và diesel. Tính đến kinh nghiệm quý giá trong đóng tàu, sự phức tạp trong việc khai thác hoạt động thiết bị năng lượng, và đặc biệt là trong việc giải trừ quân bị (việc đó các thủy thủ Hải quân Nga đã gặp phải trong quá trình chuyển đổi và giải trừ trang bị vũ khí cho các con quái vật tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân hiện đại). Khi giải quyết thuần túy các vấn đề trên biển (đấu tranh chống tàu ngầm, tiêu diệt các tàu mặt nước và phương tiện nổi) trong các khu vực hạn chế thì các tàu ngầm diesel hiện đại là không kém hiệu quả mà lại kinh tế hơn ("chi phí hiệu quả", theo định nghĩa của người Mỹ).
........
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tám, 2012, 06:45:01 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #95 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2012, 06:47:36 pm »

(tiếp)

Lịch sử của hạm đội tàu ngầm diesel sẽ không đầy đủ nếu chúng ta ít nhất không kể qua một cách ngắn gọn về các tàu ngầm nhỏ và siêu nhỏ. Những công việc đầu tiên để xây dựng các tàu ngầm siêu nhỏ ở Liên Xô bắt đầu vào giữa những năm 193x tại Leningrad.


Vladimir Ivanovitch Bekauri.

Trong năm 1936 các tổng công trình sư "Ostekhbyuro" (lãnh đạo V.I.Bekauri) F.V.Schukin và A.N.Scheglov đã xây dựng đề án" tàu ngầm tự hành" (APL-«автономной подводной лодки» -АПЛ) "Pygme", mẫu thử được đóng gần như ngay lập tức và cuối năm đó, đã đến thử nghiệm tại Hạm đội Biển Đen. Trong quá trình thử nghiệm đã cho thấy "những khiếm khuyết thiết kế" và công việc tạm ngừng (đã lên kế hoạch đóng loạt 10 chiếc). Thật không may, trong thời gian này nhiều người vô tội đã rơi vào nanh vuốt của Ezhov, gồm cả các công trình sư phòng thiết kế "Ostekhbyuro": năm 1938 cả Bekauri, Shchukin đều bị xử bắn, văn phòng bị giải tán. Số phận của con tàu không ai biết, theo một số báo cáo, nó bị người Đức đánh chìm năm 1944 gần Alupka.

Chỉ còn các dữ liệu rời rạc về đặc điểm kỹ-chiến thuật của "Pygme": độ choán nước - 18,6 tấn, chiều dài 16 m, chiều rộng 2,6 m, tốc độ - 6 hải lý, tầm bơi xa - 290 dặm; độ sâu lặn - 30 m, vũ khí ngư lôi 2x450 mm nằm ngoài vỏ bền và 1 súng 1x7, 62 mm, thủy thủ đoàn 4 người.

Năm 1984, tại phòng thiết kế SMBM "Malakhite" Leningrad, theo đồ án của tổng công trình sư L.V.Chernopyatov đã đặt ky thân tàu (thử nghiệm) đầu tiên của tàu ngầm đề án 865 ("Piranha") với mã MS-520. Tàu gia nhập biên chế hải quân tháng 12 năm 1988 và trước tháng 3 năm 1999 đã đưa vào khai thác thử nghiệm tại lữ đoàn tàu ngầm Liepaja, cùng với chiếc tàu thứ hai của đề án MS-521 (nhập biên chế Hải quân tháng 12 năm 1987).

Công tác khai thác gặp nhiều khó khăn từ bản thân các cơ cấu của tàu ngầm, cũng như với việc sử dụng vũ khí đặc biệt trong chiến đấu và các chiến sỹ người nhái.
Theo những lý do được biết, việc đóng các tàu ngầm lớp này đã ngưng lại, nhưng ... thiết kế và công nghệ phát triển thu được từ nó là không vô ích. Dưới đây là các đề án mới các tàu ngầm cỡ nhỏ kiểu "Piranha":



* Thân - titan + sợi thủy tinh, động cơ phát (DEU)-diesel 160 kW, mô tơ điện 220 mã lực, động cơ điện đẩy 60 kW, chân vịt-bánh lái quay, giảm chấn 2 tầng, kíp thuyền viên - 2 chiến đấu viên + 1 kỹ thuật viên.
** Đề án P-130 dự tính khả năng "đính kèm" các thiết bị.
*** Đề án  P-650 và P-750 dự trù phương án "B" - thêm một khoang với động cơ chu trình khép kín; "E" - khoang có máy phát điện hóa học và các bệ phóng tên lửa hành trình khác nhau.

Trong các nguồn công khai, tác giả không tìm được các đặc điểm của động cơ chu trình khép kín và các loại máy phát điện hóa học hiện đại, cũng như thông tin về việc cung ứng các tàu ngầm các đề án này cho bất kỳ khách hàng nào.


Tàu ngầm cỡ nhỏ đề án 865


Tàu ngầm-phương tiện chở thợ lặn khí tài nhẹ đề án "Triton 2"

Trong giai đoạn được xem xét kể trên, còn xây dựng các loại tàu ngầm khác, thiết kế cho các mục tiêu chuyên sâu (mục đích nghiên cứu và thử nghiệm).

II. CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CÁC TÀU NGẦM TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU

Một thực tế cũng rất quan trọng: với sự khởi đầu công cuộc đóng mới hàng loạt quy mô lớn các tàu ngầm diesel việc làm chủ trang bị khí tài của các thủy thủ đoàn mới chưa được đảm bảo bởi một cơ sở giáo dục vững chắc.

Cũng khá kinh ngạc là sự nghiệp xây dựng ồ ạt, thử nghiệm và phân phối liên không gian chiến trường cho các hạm đội diễn ra mà không có tai nạn nghiêm trọng nào với các tàu ngầm thế hệ đầu tiên. Ở một mức độ lớn, điều này được giải thích bởi thực tế hầu hết các thủy thủ đoàn đã được hình thành từ đội ngũ thuyền viên các tàu ngầm cũ kiểu "Shuka", "Maliutka", và các đề án khác v.v, đã có nhiều kinh nghiệm thực tế trong đào tạo và đảm bảo cho hoạt động an toàn của trang thiết bị kỹ thuật. Đại đa số các thuyền trưởng tàu ngầm mới đã có kinh nghiệm chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Và kinh nghiệm này, đặc biệt là trong quản lý và đấu tranh sinh tồn là các kinh nghiệm đã phải trả giá, nó rất quan trọng và vô cùng quý giá.


Các thủy thủ tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc, nhiều lần đạt thành tích xuất sắc trong thi hành các nhiệm vụ phục vụ chiến đấu (từ trái sang phải): Lữ đoàn trưởng tàu ngầm Anh hùng Liên Xô đại tá hải quân I.A.Kolyshkin, thuyền trưởng tàu ngầm thiếu tá hải quân V.N.Kotelnikov, thuyền trưởng tàu ngầm trung tá hải quân I.I.Fisanovitch, thuyền trưởng tàu ngầm cận vệ Anh hùng Liên Xô đại úy hải quân V.G.Starikov, thuyền trưởng tàu ngầm Anh hùng Liên Xô trung tá hải quân N.A.Lunin (ảnh R. Diament).

Các thủy thủ đoàn các tàu ngầm đã hạ thủy, cũng như khi ra khỏi nhà máy sửa chữa phải thực hiện khối lượng các bài tập 1-A và 2-A.
Bài tập 1-A: "Công tác tổ chức phục vụ và huấn luyện chuẩn bị cho tàu ngầm đi biển"
Bài tập 2-A: "Điều khiển tàu ngầm trong tư thế nổi và tư thế ngầm"
Khi đến gia nhập các đơn vị của hạm đội, các tàu ngầm được xếp vào danh sách dự bị và tiếp theo phải trải qua "Khóa huấn luyện chiến đấu cho các tàu ngầm" («Курса боевой подготовки подводных лодок» - КПЛ) một cách đầy đủ.

Khóa học được chia thành hai giai đoạn: chuẩn bị của tàu ngầm hoạt động tác chiến độc lập và hoạt động tác chiến nhóm:
Bài tập № 1: Tổ chức phục vụ và huấn luyện tàu ngầm đi biển.
Bài tập № 2: Điều khiển tàu ngầm trong tư thế nổi và tư thế ngầm.
Bài tập № 3: Trinh sát ngoài khơi vùng duyên hải của đối phương.
Bài tập № 4: Huấn luyện xạ kích - tấn công ngư lôi (tên lửa), thủy lôi.
Bài tập № 5: Hoạt động nhóm của tàu ngầm (trong đội hình thê đội và các nhóm chiến thuật).

Trong tiến trình sát hạch tuần tự các bài tập ấy, tàu ngầm được đưa vào: chiến dịch (bài tập số 1), tuyến 2 (bài tập số 2), tuyến 1 (bài tập số 3 và 4) và "hạt nhân chiến đấu" (sau khi hoàn thành đầy đủ khối lượng của toàn bộ khóa học). Tàu ngầm thuộc "hạt nhân chiến đấu" sau các cuộc kiểm tra thích hợp sẽ được phép tiếp nhận vũ khí hạt nhân và thực hiện nhiệm vụ trực ban chiến đấu tại các điểm trú quân xa xôi (trên các quân cảng xa), được coi là các hoạt động đáng ghét nhất với các chiến sỹ tàu ngầm.

"Khóa huấn luyện chiến đấu cho các tàu ngầm" về tổng thể rất căng thẳng, nhưng cân bằng tốt được sắp xếp phù hợp vào chiến dịch hàng năm; ở đây xứng đáng được coi là 1 kinh nghiệm tiêu cực của thời kỳ trước chiến tranh, khi mà các "khóa học" đã được kéo dài đến 2 chiến dịch hàng năm (kết quả là tới ngày 22 tháng 6 năm 1941, gần như 1/2 tàu ngầm của Hạm đội Baltic đã không được huấn luyện chuẩn bị cho các hoạt động chiến đấu).


Đài tưởng niệm các thủy thủ tàu ngầm Baltic đã qua đời và còn sống.

Trong quá trình thực hiện bài tập số 1 các thuyền viên nghiên cứu các thiết bị và quy tắc hoạt động của các cơ cấu máy dưới sự giám sát cơ quan huấn luyện của mình, trả bài sát hạch và được cho phép theo thứ tự: trên tàu - tự bảo dưỡng các vị trí chiến đấu của mình, các sĩ quan - tự quản lý các nhóm và các ngành tác chiến, cũng như - tự trực hành trình trong tư thế nổi và tư thế ngầm (các sỹ quan trực và các kỹ sư cơ khí trực).

Thuyền trưởng tàu ngầm khi tham gia chỉ huy có nghĩa vụ ngay lập tức trả bài sát hạch (hoặc xác nhận cho phép) điều khiển độc lập con tàu; các trợ lý chính của thuyền trưởng có nghĩa vụ đạt được sự cho phép này trong quá trình thực hiện khóa huấn luyện chiến đấu. Các thanh niên được gọi tới hạm đội và được dự định cho phục vụ trên tàu ngầm (mà các yêu cầu lựa chọn về mặt y tế rất khắt khe) có nghĩa vụ tham dự khóa đào tạo hàng năm UOPP (đội học tập đi biển trên tàu ngầm - УОПП - учебные отряды подводного плавания), sau đó họ được gửi tới các tàu ngầm với tư cách các học sinh, nơi họ có nghĩa vụ vượt qua kỳ sát hạch kiểm tra khóa đào tạo hai tháng để lấy phép được thi hành nhiệm vụ tại vị trí chiến đấu trong phạm vi "sổ tay số chiến đấu". Theo luật, thế hệ trẻ bước lên tàu ngầm đã có sự huấn luyện trong nhà trường từ các lớp 9-10; các yêu cầu với thủy thủ tàu chiến mặt nước thấp hơn.



Như vậy, sau 4 năm phục vụ một thủy thủ-tàu ngầm trung bình làm chủ được mức độ như sau: năm đầu tiên - chuyên gia hạng 3, năm thứ hai - chuyên gia hạng 2, và năm thứ ba - chuyên gia hạng 1 (trung sỹ hải quân - thủy thủ nghĩa vụ phục vụ quá hạn - mức "lành nghề", mặc dù còn xa mới là tất cả). Hệ thống này được thể chế hóa rất chặt chẽ và hoàn toàn hợp lý. Những sự vi phạm nó về sau này dưới dạng cắt ngắn thời hạn phục vụ còn ba năm và sau đó hai năm, và việc phục vụ hợp đồng cuối cùng dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ các tai nạn và các hiện tượng tiêu cực khác.

Các đặc điểm huấn luyện của chiến sỹ tàu ngầm thời kỳ đó được thể hiện rõ trong việc huấn luyện ngư lôi, công tác đó được tổ chức trong các điều kiện đòi hỏi nghiêm khắc: tàu ngầm tập bắn trong toàn bộ khoa mục bài luyện tập số 4 (mục 4-B - tấn công một tàu độc lập, đi theo hướng thẳng, cho đến bài 4-I - tấn công mục tiêu tốc độ cao được bảo vệ mạnh trên đường di chuyển zik zak) theo một trình tự nghiêm ngặt. Tàu ngầm không được phép chuyển sang các kiểu tấn công phức tạp hơn khi chưa đạt được điểm "tốt" hoặc "xuất sắc". Việc xạ kích chỉ được thực hiện qua các loạt bắn ngư lôi đầy đủ (không phải vô tình người ta đề cập đến bắn ngư lôi "bọt", như sau này việc đó được đưa vào hệ thống).

Vì vậy sự việc thường xảy ra như sau: vào buổi sáng tàu ngầm dỡ các ngư lôi tác chiến ra khỏi ống phóng, xếp 4 ngư lôi thực hành, nhổ neo ra khơi và tấn công "kẻ thù" bằng loạt bắn đầy đủ, sau đó khi trở về căn cứ ngay lập tức khôi phục lại cơ số đạn tác chiến; không cho phép tồn tại bất cứ sự đề cập "sau đó" nào. Tuần tự như vậy mà chu kỳ xử lý dỡ đạn-xếp đạn được lặp đi lặp lại. Tác giả dám đảm bảo: trong tuần lễ có cường độ hoạt động mạnh nhất tàu ngầm đã chuyển tải đạn ngư lôi đến 24-32 quả. Và sự cố khẩn cấp xảy ra với vũ khí gần như là số không!


Xếp đạn ngư lôi lên tàu qua cửa xếp dỡ ngư lôi.

Cuộc tấn công cuối cùng (bài tập chiến đấu 4-I) được đặt trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt: tàu ngầm tấn công phải phát hiện biên đội tàu chiến (OBK) ở phạm vi tối đa, tiếp cận bí mật trong các giới hạn "góc hướng quan trọng", chọc thủng tuyến phòng vệ một cách bí mật, đồng thời bắn trúng bằng ngư lôi tự dẫn 1-2 tàu hộ tống gần nhất rồi tiếp theo tấn công mục tiêu chính (thường là các tàu tuần dương) bằng loạt 4 đạn ngư lôi, đạt được điểm "trúng đích" (trúng mục tiêu) ít nhất hai đạn ngư lôi. Những hành vi vi phạm riêng biệt tính bí mật của cuộc tấn công - bị "kẻ thù" phát hiện ngắn hạn bởi lộ một xung radar hoặc kính tiềm vọng, tàu ngầm bị sonar tàu "địch" phát hiện "trước khi" phóng ngư lôi, hoặc bỏ lỡ loạt bắn - đều dẫn đến điểm đánh giá rất rõ ràng "không đạt".
........
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tám, 2012, 12:35:00 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #96 vào lúc: 05 Tháng Tám, 2012, 10:01:59 pm »

(tiếp)

Một sự khẳng định đặc trưng cho trình tự ấy là cuộc tấn công tổng kết khóa học trong năm 1958 của tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương S-150 (thuyền trưởng thiếu tá hải quân V.Kirienko) vào một biên đội tàu chiến gồm 1 tuần dương hạm và 4 tàu khu trục, đang đi từ Kamchatka vào vịnh Piotr Đại đế. Những người "ra đề" và kiểm tra cuộc tấn công là: chỉ huy binh đoàn tàu mặt nước, chuẩn đô đốc G.Chernobai, tư lệnh các lực lượng tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương, chuẩn đô đốc L.Khiyainen.

Tàu ngầm S-150 (thuyền trưởng bị ốm, thân nhiệt 39 ° C; không vì thế mà được khoan dung) tấn công thành công OBK, tàu trước tiên bắn trúng bằng ngư lôi tự dẫn tàu bảo vệ và tiếp theo bắn trúng tàu tuần dương hai đạn ngư lôi. Nhưng vẫn bị đánh giá "không đạt": trước khi vào "hướng công kích" thuyền trưởng đã giương kính tiềm vọng ngắn hạn và đã bị phát hiện (trong khi cần phải ở chiều sâu không dưới 30 mét). Khi còn trên biển tàu ngầm nhận được điện: "Về căn cứ tôi sẽ làm việc với các anh".

Khi tàu ngầm đến bến, chuẩn đô đốc Khyainen đã kiểm tra hết sức nghiêm khắc: ông bò đúng nghĩa bằng tay khắp các hầm tàu và các ngăn xép, sau đó nhìn các "chiến binh gà mờ dưới nước" một cách ảm đạm, và lầu bầu: "Tôi không trừng phạt các anh chỉ vì tàu sạch sẽ".



Đánh giá tổng kết vẫn là "không đạt". Đó là dấu gạch chéo sổ toẹt khóa huấn luyện quân sự cả năm trời, tàu ngầm từ "sổ đỏ" chuyển sang "sổ đen" và được phép bắn lại (lấy điểm tổng kết) chỉ một năm sau! Trong suốt mùa đông tiếp theo, các cán bộ tham mưu và cán bộ chính trị tại tất cả các hội nghị và phong trào thi đua của hải quân không ngừng "chùi chân" vào con tàu S-150 xấu số và tay thuyền trưởng của nó.

Trước cuộc tấn công thảm họa này, tàu ngầm đã hoàn tất mọi bài tập quân sự với điểm "xuất sắc"; nay tất cả các điểm đó bị hủy bỏ. "Cha Khi" là vậy đấy, theo cách người ta gọi chuẩn đô đốc L.Khiyainen một cách vừa sợ hãi vừa tôn kính trong giới của mình, ông là người đã chiến đấu trên các tàu ngầm của Hạm đội Biển Đen, nơi có những chiến sỹ tàu ngầm dũng cảm thời hậu Stalin.

Kinh nghiệm của "khoa học tấn công và xạ kích" là thứ vô giá, truyền đạt cho các thuyền trưởng thông qua các nhà lý thuyết nổi tiếng-những ngôi sao sáng của khoa chiến thuật hệ đào tạo cao học chỉ huy Hải quân Xô Viết (VOLSOK VMF - ВОЛСОК ВМФ) - Lontsikh và Doronin, họ xứng đáng được nhớ mãi. Một giáo cụ thực sự quý báu và thiết thực cho các thuyền trưởng chỉ huy tàu ngầm, đặc biệt trong các cuộc tấn công "thủy âm" vào mục tiêu được bảo vệ có tốc độ cơ động cao, là bàn đạc Rulyuk (chỉ huy đơn vị, sau này là chuẩn đô đốc), qua nó mà nắm vững nghệ thuật phức tạp của cuộc tấn công thủy âm không chỉ 1 thế hệ thuyền trưởng tàu ngầm diesel. Tuy nhiên, trên các hạm đội khác người ta cũng có các bàn đạc kiểu rulyuk của họ.


Lontsikh Leonard Yakovlevitch ngồi thứ hai từ bên trái sang. Lớp học cho các thuyền trưởng. Leningrad, 1962-1963. Tư liệu trong bộ sưu tập của Kurenkov Viktor Viktorovitch.

Cuộc đấu tranh sinh tồn được thực hiện hàng ngày và không có chuyện làm ăn cẩu thả. Và ở đây một lần nữa kinh nghiệm tàn khốc và không khoan nhượng của các chiến sỹ tàu ngầm thời chiến tranh tỏ ra hữu ích. Hầu như tất cả các thuyền trưởng tàu ngầm trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại vẫn còn là sĩ quan trẻ, nhưng họ đã nếm đủ kinh nghiệm "chiến đấu cho con tàu sống còn" trong những điều kiện nặng nề, đôi khi khó khăn không thể tin được của hoàn cảnh chiến đấu.

Quy tắc vàng là sự thao luyện hàng ngày "các biện pháp trọng yếu", kết quả là mỗi chiến sỹ tàu ngầm biết khoang tàu của mình "còn rõ hơn so với người mẹ ruột thịt", và nhắm mắt lao như viên đạn khắp khoang tàu trong bóng tối như hũ nút.

Trong lúc có các các hoạt động trọng yếu và tập luyện các bài tập cứu nạn khẩn cấp trong các khoang, chỉ huy là trưởng khoang (theo luật, trung sĩ hoặc chuẩn úy hải quân), còn "các ngài sĩ quan" đã hành động trong tư thế các anh "binh nhì" (kể cả thuyền trưởng tàu ngầm).

Giá mà độc giả nhìn thấy bao nhiêu vết xanh và vết bầm tím trên khuôn mặt thuyền trưởng khi tiếng cười của các thủy thủ bật lên! Nhưng tiếng cười và tiếng khúc khích không ác ý: nó không làm suy xuyển, mà củng cố uy tín của thuyền trưởng và sự gắn kết với đội ngũ chỉ huy: thuyền trưởng cũng biết làm những việc mà tôi vẫn làm".

Cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn và tính chống chìm trong tư thế lặn của tàu ngầm diesel thỉnh thoảng diễn ra như thế nào, ta có thể được hiểu khi nhắc lại dưới đây một cảnh tượng diễn ra đã rất lâu tại Hạm đội Thái Bình Dương.

Tháng 8 năm 1959, tàu ngầm S-331 đi ra khu vực nước sâu để kiểm tra thân tàu khi lặn ở chiều sâu làm việc. Đi kèm nó là tàu giám sát - tàu ngầm S-150, mà tác giả câu chuyện chính là trợ lý chính của thuyền trưởng, quan sát được toàn bộ bức tranh diễn ra từ cầu điều hướng trên tàu ngầm của mình.


S-331 bên mạn tàu căn cứ nổi "Phương Bắc". Thông tin Lịch sử.

S-331 đang lặn ở tuyến thứ nhất; không đòi hỏi có bảo hiểm gì đặc biệt (dưới hình thức biên đội tàu của lực lượng cứu hộ). Con tàu duy trì tư thế lặn ở tất cả các độ sâu với bội số là 25-30 mét, kiểm tra sườn phía ngoài, phát tín hiệu mã hóa "chiều sâu... mét, tất cả bình thường", và lặn tiếp. Tàu ngầm-giám sát duy trì vị trí ở tầm tiếp xúc thủy âm và tiếp nhận các tín hiệu mã hóa. Tất cả đã diễn ra trôi chảy.

Nhưng tại độ sâu kiểm tra cuối cùng là 170 mét, tàu ngầm đang lặn không phát tín hiệu. Sau đó đã có gì đó xảy ra, vì thế các quan sát viên từ phía tàu ngầm-giám sát bắt đầu thấy tóc gáy dựng ngược: đột nhiên S-331 gần như bay vút lên mặt biển: toàn bộ thân tàu ngầm chọc lên không trung từ khoang 1 đến khoang 6 (vọt lên đến - 60-65 mét), chỉ còn khoang 7 và bánh lái đuôi và chân vịt vẫn ngập trong nước.

Tàu ngầm bảo hiểm S-150 tiến gần lại và hỏi qua đường điện đàm: "Cần giúp gì không? Có cần móc lai dắt không?" Từ tàu ngầm đang ở tình trạng khẩn cấp người ta trả lời bằng tín hiệu: "Tàu bị ngắt điện, chúng tôi đóng mạch máy diesel sang trục chân vịt, chúng tôi sẽ tự về đến nhà được". Các tàu ngầm khởi hành về căn cứ.

Tàu ngầm lao vụt xuống dưới nước y như vậy, sau đó trồi vọt lên (lần này đến tận khoang số 5), tàu lặn ngược xuống, rồi ló lên trên mặt biển (nhô tháp buồng lái), sau đó lật sang một bên, lấy lại tư thế nổi và chao đảo trên mặt biển. Trên cầu điều hướng nhiều người xuất hiện.

Sao, còn bên trong tàu thế nào? Dưới đây là lời kể của trợ lý chính thuyền trưởng S-331 A.Lutsky (sau này là chuẩn đô đốc):
- Chúng tôi đang lặn theo đúng kế hoạch. Tôi cho rằng, tôi đang đứng dưới cửa nắp phía thấp đã lật ra và theo dõi sườn tháp chỉ huy, tay tôi bám chặt bậc thang thẳng đứng. Và đột nhiên, ở độ sâu 170 mét một tiếng rít như roi quất xé ngang tai, ngay lập tức xuất hiện một đám sương mù đặc quánh. Tàu lao vút lên trên, đập ngực tôi vào bậc thang đứng, và trong chốc lát tôi như thể bị "chẻ đôi" một cách tạm thời. Nhưng trước đó tôi còn kịp nhớ cử chỉ của thuyền trưởng: "Thổi dằn!" Không có khẩu lệnh, mà có cũng vô ích. Sau đó, tôi nhớ không gì nữa, trừ việc đôi chân của tôi lao lên phía trên, chợt tỉnh tôi lại bị giật xuống phía dưới và tôi đã ở vị trí thẳng đứng.


Lutsky Anatoly Nikolaevitch. - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Sau này mới rõ: nắp bịt của một trong các van giữ tháp không khí áp suất thấp trên trần nhà bị bật ra. Đó là sự may mắn của chúng tôi, vì bung nắp nhưng không phải toàn bộ thân van. Luồng nước có độ dày chỉ cần bằng ngón tay ở độ sâu đó có thể phóng xuyên qua cơ thể con người.

Khi thổi dằn khẩn cấp, tàu ngầm lao vụt mũi lên trên với góc chúi gần 90 °. Trong các hố ắc quy tất cả chất điện phân của các ngăn đổ trào, thiết bị bảo vệ trường hợp khẩn cấp làm việc, các đèn tắt phụt... Toàn bộ nhân viên lăn hết vào các vách ngăn. Tuy nhiên, sau này mới biết chẳng ai bị tàn tật. Tất cả các loại hộp, thùng chứa và các thiết bị xách tay đã được chằng giữ chắc chắn theo kiểu hành quân đi biển, điều đó đã cứu thoát nhiều người khỏi thương tích. Tóm lại, công tác tổ chức của thủy thủ đoàn khá cao. Thật may là đã có một "happy end" như vậy.

Đến giữa những năm 195x, và sau này nữa, công tác thao luyện đấu tranh vì sự sinh tồn của con tàu trong những "điều kiện kẻ thù sử dụng vũ khí hạt nhân và vũ khí hóa học" đã trở nên một môn thực hành đặc biệt hợp thời. Cuộc "đấu tranh" này đôi khi mắc phải những hình thức khá kỳ khôi. Mọi việc diễn ra dù có êm nhưng không thiếu chuyện kỳ quặc vốn chỉ tồn tại trong hoạt động thực tế ở nước Nga.

"Bảng chữ cái" chính của thủy thủ được coi là một "Bản cửu chương". Cần phải thuộc lòng nó. Trong quá trình "chiến dịch chống hạt nhân", các sỹ quan thanh tra từ tất cả các bộ tham mưu rải đầy lên tàu như hạt đậu.



Đôi khi kiến thức của những thanh tra viên tỏ ra nghèo nàn hơn câ "bản cửu chương" bất hạnh. Thường thì đó là một trò hề: thanh tra viên có mặt trên tàu, đi kèm sự phục vụ trên tàu, anh ta sải bước trịnh trọng trên boong. Trong phòng dưới, theo thường lệ, họ không xuống. Xem xét vẻ rất quan trọng và có trách nhiệm. Người nhà nước mà! Kìa một mẩu sắt, thế rồi anh ta đột nhiên hích vào một thủy thủ đứng gần nhất: "Bom nguyên tử nổ ngay trên boong mũi! Hành động của anh?"

Hiệu quả của "đầu bài" như vậy luôn rất ấn tượng: thanh tra viên với vẻ đau xót cho quốc gia bước lên cầu tàu vội vã báo cáo cấp trên - "trên tàu này các thuyền viên không được huấn luyện gì!" Còn ban lãnh đạo con tàu (và cả tàu ngầm cũng vậy) làm vẻ mặt vô cùng giận dữ và giơ nắm đấm trước bộ dạng toát mồ hôi của cậu thủy thủ: "U-u, cậu, đ-đồ-h-hậu đậu!"

Bởi lẽ trong Quân đội (tiểu đoàn, đại đội, trung đội) và Hải quân người ta đã ban hành theo một phương thức duy nhất các hướng dẫn về PAZ (ПАЗ - bảo vệ chống vũ khí nguyên tử - противоатомной защите) và PKHZ (ПХЗ - chống vũ khí hóa học - противохимической защите), nên hạm đội (tàu khu trục, tàu quét mìn, tàu ngầm) cũng đều hoạt động theo cùng một phương pháp tiêu chuẩn hóa đồng nhất.

Khoa mục kết thúc, mà do đó là khoa mục quan trọng nhất của bài tập № 2 ("bảo vệ tàu ngầm chống vũ khí nguyên tử và vũ khí hóa học") được đạo diễn theo cùng một kịch bản: tàu ngầm đang đậu tại bến, máy bay kẻ thù công kích đột ngột, thả xuống chiếc tàu ngầm không may hoặc một quả bom hạt nhân, hoặc một thùng hơi độc-luzit. Đáp lại những hành vi đê hèn của kẻ thù trên tàu tuyên bố "báo động hóa học", từ trong thân tàu người ta leo ra khoác đầy các loại máy đo liều lượng phóng xạ, các hộp chất thử phản ứng trinh sát hóa học và vạch phấn "nơi này bị nhiễm".

Theo sau họ trong bộ phòng hóa đầy đủ, vũ trang các chậu gỗ, bàn chải cọ sàn và các cây chổi dài mọi người leo lên các thang sắt như những con cua xấu xí, các nhân viên ODO và DDO (ban khử khí độc cơ bản và bổ sung), họ cẩn thận chà xát bằng nước ngoài mạn "các vị trí bị ô nhiễm".

Thông thường, bố già-thuyền trưởng và trưởng ngành hóa người nghiệm thu bài tập sẽ đứng trên cầu điều hướng (tất nhiên, không có mặt nạ) và hét lên hách dịch: "Này, các anh ở chỗ kia! Đừng có rớt xuống biển!" Đương nhiên có thể di chuyển khỏi cầu tàu, lặn, và rửa sạch tất cả các thứ "nhảm nhí" này. Nhưng sáng kiến trái "phương pháp" và không được khuyến khích.

Việc đào tạo các thuyền trưởng tàu ngầm được thực hiện rất khắc nghiệt. Và điều này, tất nhiên, có ảnh hưởng từ trường học trong thời kỳ chiến tranh. Người sỹ quan được phép điều khiển độc lập và bước vào chỉ huy tàu ngầm, được quyền mang trên ngực phù hiệu "Thuyền trưởng tàu ngầm" - một con "cá măng" cũ mạ bạc có ngôi sao ở giữa. Phù hiệu này được đeo với niềm tự hào đặc biệt và người ta đánh giá nó cao hơn cả các huân chương; nó gợi lên lòng kính trọng của tất cả các thủy thủ.


........
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Tám, 2012, 08:57:59 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #97 vào lúc: 06 Tháng Tám, 2012, 11:39:07 pm »

(tiếp)

Người sỹ quan được bổ nhiệm cương vị trợ lý chính (hay trợ lý) thuyền trưởng tàu ngầm, có nghĩa vụ trong thời hạn 6 tháng phải vượt qua kỳ kiểm tra lý thuyết và thực hành để được quyền điều khiển độc lập con tàu thuộc đề án của mình.

Trong phần lý thuyết ứng cử viên lấy giấy phép cần phải được sát hạch:
- trước trưởng ngành hoa tiêu đơn vị - toàn bộ không gian chiến trường trên biển trong bán kính hoạt động chiến thuật của tàu ngầm: ghi vào trí nhớ kế hoạch của bất kỳ vịnh, và eo biển nào, v.v với tất cả các mối nguy hiểm về đạo hàng, các luồng lạch và các độ sâu; thực hiện kiểm soát công tác đạo hàng với tất cả các loại thủ thuật khéo léo, giải bài toán thiên văn trong thời hạn quy định.

Thông thường trưởng ngành hoa tiêu không bận tâm về những hiểu biết xuất sắc: ông ta đơn giản cầm lấy bản đồ, so sánh và rít lên qua hàm răng nghiến chặt: "Đây này, anh không tránh hòn đá dưới nước này. Anh không biết. Anh cứ đi đi ... ";

- trưởng ngành cơ điện (chỉ huy phó đơn vị phụ trách cơ điện hàng hải): ghi vào trong trí nhớ bất kỳ hệ thống nào của con tàu (mà thường là phức tạp hơn so với bất cứ mạch bán dẫn nào), thực hành tính toán nhanh sự ổn định và dự trữ nổi của con tàu theo các phương án khẩn cấp nước ngập khác nhau vào các khoang tàu và v.v;

- chủ nhiệm trinh sát: lấy từ trong óc ra các số liệu kỹ-chiến thuật của các loại tàu chiến cơ bản của kẻ thù tiềm năng, phân loại phương tiện mang theo các tham số làm việc của hệ thống vô tuyến điện tử của chúng (radar và sonar);

- với các "đầu rồng trưởng ngành" khác - như nhau, cộng thêm chỉ thị và hướng dẫn mới nhất. Sau khi vượt qua phần lý thuyết, ứng cử viên đi sang đơn vị của người khác, được họ sử dụng trong chế độ "nô lệ da đen", đồng thời học tập trên biển khoa học điều khiển con tàu (theo luật, trong bơi tự chủ, với việc thực hiện các nghĩa vụ chính thức hoặc nghĩa vụ kép). Như vậy, các thuyền trưởng đơn vị khác xác nhận phần thực hành bằng sự tô điểm của mình. Và chỉ sau đó đối tượng được thử thách mới có mặt tại lữ đoàn nhà mình, và trình lên vô số giấy tờ có chữ ký "đã qua sát hạch". Giấy phép được tuyên theo mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội.

Nhưng điều đó chưa phải là tất cả: người sỹ quan được gửi đến Hệ đào tạo bổ túc cao cấp sỹ quan Hải quân (VOLSOK VMF) và chỉ sau khi hoàn thành chương trình học tập một năm mới trở thành một thuyền trưởng tàu ngầm có giá trị đầy đủ.



Đó là thời đại khi vị trí "thuyền trưởng tàu ngầm" là một niềm tự hào đặc biệt và là một mục tiêu ấp ủ của mỗi sỹ quan đi tàu.

Thông tin từ người biên tập

Về các chỉ huy Hải quân Xô Viết

Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1938 đã đàn áp hơn 3.000 người. (trong giai đoạn 1933-1937 các trường hải quân đã đào tạo được 3233 thuyền trưởng của Hải Quân Công Nông ), bị xử bắn trong cuộc "thanh trừng vĩ đại" có 6 tư lệnh hạm đội và phân hạm đội, 5 tham mưu trưởng hạm đội, 14 lữ đoàn trưởng và 17 tiểu đoàn trưởng. Kết quả là sự thiếu hụt đội ngũ chỉ huy tới tháng 3 năm 1939 lên tới 30% biên chế chính thức.

Được bổ nhiệm vào tháng 11 năm 1938 làm Dân ủy NKVD, L.P.Beria bắt đầu tẩy sạch khỏi "cơ quan" các nhân vật phản diện (tổng cộng 7.372 người bị đuổi ra khỏi NKVD - 22,9% tổng số cộng tác viên, thành phần lãnh đạo - 3.830 người, tức là 62% ), và sau đó  phóng thích những người vô tội. Tổng số trong những năm 1939-1940 đã phóng thích và phục hồi 837.000 người, bao gồm cả những đô đốc trong tương lai như L.A.Kurnikov, M.A.Krupsky, N.I.Tsvetkov, bác học nổi tiếng A.I.Berg, nhà thiết kế chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên V.N.Peregudov (ngồi trong cùng một xà lim với nguyên soái trong tương lai Rokossovsky), các anh hùng tương lai của Chiến tranh Vệ quốc A.V.Eliseev, N.A.Lunin, G.N.Kholostyakov, B.V.Khoroshkhin và rất-rất nhiều những con người hữu ích khác cho hạm đội.


Khoroshkhin Boris Vladimirovitch

Nhưng! Vào tháng 6 năm 1941 có 28,6% đội ngũ chỉ huy của Hồng quân Công Nông và Hải quân Công Nông là những người trẻ ở độ tuổi dưới 25 và 57% trong độ tuổi 26-35. Và trong số đó có một số lượng hợp lý các thuyền trưởng ở các trình độ khác nhau, được gọi phục vụ gấp trong số các thủy thủ các hạm đội tàu buôn và đánh cá.

Theo tính toán của đại tá hải quân E.P.Sazansky, cựu thuyền trưởng tàu ngầm đề án 641 B-437 và B-146, chi phí đào tạo một thuyền trưởng tàu ngầm diesel trong những năm 60 -80 của thế kỷ trước là:
1. Đào tạo học viên trong trường quân sự (5 năm) - 500 000 rúp.
2. Chi phí một tàu ngầm diesel theo loạt - 3 5000 000 rúp.
3. Nuôi dưỡng tàu trong một tháng - 500.000 rúp, 1 năm - 6 triệu rúp.
4. Chi phí một ngư lôi theo loạt -100 000 rúp.
5. Chi phí 1 tấn nhiên liệu diesel - 800 rúp.
6. Chi phí một lần lên dock - 12 500 rúp. Và để trở thành một thuyền trưởng, bạn phải:
1. Hoàn thành toàn bộ khóa học đào tạo tàu ngầm.
2. Sử dụng 500 tấn nhiên liệu.
3. Hoàn thành 6 lần phóng ngư lôi.
4. Tiến hành đưa tàu của mình lên dok.
5. Nắm vững khoảng 750 tài liệu hướng dẫn.
6. Trải qua tất cả các tổ chức và các cơ quan, đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày và huấn luyện chiến đấu của con tàu.
Giáo dục trong trường quân sự - 500 000 rúp. Chi phí cho tàu ngầm - 35 triệu rúp. Nuôi dưỡng tàu ngầm - 6 triệu rúp. Ngư lôi - 600 000 rúp. Docking - 9 triệu rúp. Nhiên liệu - 400 000 rúp. Tất cả các dạng đảm bảo cho tàu ngầm - 5 triệu rúp.

Tổng số: 56,5 triệu rúp.


Sazansky Evgheny Petrovitch.

Thêm vào đó là chi phí bảo đảm y tế (bao gồm cả nghỉ ngơi-an dưỡng tại các nhà nghỉ) cho người sỹ quan và vợ anh ta, nhà trẻ (trường học) cho con cái họ, căn hộ của sỹ quan và các chi phí bảo đảm không phục vụ chiến đấu. Thế còn thống kê chi phí đảm bảo cho chiến đấu? - Các giờ bay của máy bay chống ngầm và hao mòn tài nguyên của các tàu mặt nước, công tác của SCH và TT thông tin, cơ quan trinh sát (bao gồm cả vệ tinh nhân tạo) và nhiều thứ nữa.

"Và chỉ là - đất nước đang từ giã một cách không xót thương với các thuyền trưởng tàu ngầm". (I. Kasatonov Hạm đội đi ra đại dương - Moskva: NXB Ngọn cờ Thánh Andreev, 1996, trang 214-215.)

Năm tháng trôi qua. Đã đến thời mà các sĩ quan từ chối chỉ huy những con tàu, còn các học viên tốt nghiệp trường quân sự tìm kiếm nơi trú ẩn trong các cơ quan tham mưu, kho tàng, viện nghiên cứu và nói chung ... những văn phòng không bụi bặm. Và hoặc là người ta chạy vào các công ty cổ phần và những nơi "hot" khác.
........
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Tám, 2012, 08:59:18 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #98 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2012, 08:16:34 pm »

Cam Ranh ngày chưa xa lắm đây các bác các bạn ơi:
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #99 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2012, 12:29:05 am »

(tiếp)

CÔNG TÁC HUẤN LUYỆN CÁC TÀU NGẦM ĐỂ HOẠT ĐỘNG TÁC CHIẾN THEO NHÓM

Kinh nghiệm của các cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất và thứ Hai cho thấy các tàu ngầm diesel đơn lẻ với các kíp thủy thủ kinh nghiệm có thể là thứ vũ khí thực sự bí mật và đáng sợ, nhưng theo quy luật, họ đạt các kết quả chiến đấu xuất sắc trong những điều kiện đặc biệt, những điều kiện chiến trường thuận lợi đối với bản thân họ, được gọi là "món quà của trời cho".

Nói ngắn gọn, đó là khi điều động tàu ngầm tới mục tiêu ngon ăn, và đối phương không được tổ chức tốt. Tác giả thấy có thể tái hiện lại số trường đoạn chiến đấu ít được biết, nhưng thú vị trong lịch sử các hạm đội trong nước và nước ngoài.

Khi bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ Nhất, một tàu ngầm cũ của Đức U-9 đã đạt được những kết quả đáng kinh ngạc, đánh chìm ba tàu tuần dương Anh trong một cuộc tấn công. Dưới đây là một tài liệu kỳ lạ, được xuất bản chỉ có một lần ở nước Nga vào năm 1915.



Báo cáo của thuyền trưởng tàu ngầm Đức U-9 đại úy hải quân Otto Weddigen về vụ đánh chìm tuần dương hạm của Anh ở Hoek van Holland gần bờ biển Hà Lan ngày 22/11/1914.

"Tôi đang bơi trên mặt nước, trừ trường hợp khi trên biển xuất hiện tàu, khi đó tôi sẽ lặn ngay, thậm chí không lộ cả kính tiềm vọng.

Lúc 6:10 sáng, tôi thấy một trong các tuần dương hạm lớn của Anh đang ở cách Hoek van Holland 18 dặm; tàu ngầm của tôi rời khỏi căn cứ của mình ngoài 200 dặm khá xa; con tàu của tôi mặc dù là loại cũ, nhưng hoạt động còn rất tốt. Chúng tôi ở dưới nước, chỉ nhô kính tiềm vọng lên 5 foot. Nhưng khi chúng tôi nhìn thấy tàu tuần dương, thì chúng tôi đã hoàn toàn chìm trong nước và tiếp tục di chuyển về hướng các tàu tuần dương để chiếm lĩnh một vị trí giữa chúng sao cho nằm giữa một hình tam giác được hình thành bởi ba tuần dương hạm.

Khi tôi đi lên trở lại, tôi đã ở khoảng cách phóng mìn, nhưng muốn chắc ăn, một lần nữa tôi lại lặn xuống và tiến gần hơn về phía các tàu tuần dương; sau đó tôi lại đi lên, ước lượng khoảng cách, quyết định từ vị trí hiện tại phóng mìn (khoảng cách không được tiết lộ, nhưng có thể giả định nhỏ hơn một dặm nhiều, mặc dù tầm bắn của mìn Đức là 4 dặm -.tác giả).

Khi đó, lặn xuống tầm 12 foot, tôi phóng 1 trái mìn, nó rơi đúng vào thân tàu dưới hầm đạn, vụ nổ hầm tàu đã hoàn tất cái chết của tuần dương hạm (đó là HMS "Aboukir") trong thời gian một vài phút; tàu ngầm cảm nhận được tiếng ồn và rung động truyền tới từ vụ nổ tàu tuần dương; thủy thủ đoàn của nó chứng tỏ rất can đảm, họ đứng ở vị trí các khẩu đại bác cho đến tận khi thân tàu chìm và sẵn sàng bắn, nhưng không kết quả, bởi tôi đã lặn xuống nước, tuy nhiên tôi đã kịp nhận thấy 2 tuần dương hạm mở hết tốc lực tiến tới hỗ trợ cho đồng đội của mình.



Đi xuống độ sâu thích hợp, một lần nữa tôi lại phóng một trái mìn vào chiếc tàu gần nhất trong chúng (HMS "Hogue"); người Anh đã giúp tôi thực hiện nhiệm vụ của tôi; trái mìn rơi trúng "Hogue" nhưng ít thành công hơn lần đầu tiên, bởi vì tàu tuần dương còn nổi trên mặt nước trong khoảng 20 phút, sau đó nghiêng qua và chìm.

Tàu tuần dương thứ ba, khi đó đã đánh giá được hiểm họa mà nó gặp phải, - nó tiếp cận thận trọng theo đường zigzag, vừa đi vừa khai hỏa các cỗ đại bác tốc độ bắn cao, nhưng không thành công, mặc dù một trong những phát trái phá rơi khá gần chúng tôi. Tới khoảng cách gần nhất, tôi phóng về "Cressy" hai trái mìn, tiếp theo là vụ nổ, đội thủy thủ đến phút cuối vẫn đứng bên các cỗ súng, chứng tỏ chủ nghĩa anh hùng truyền thống của các thủy thủ Anh.

Rời khỏi tử địa của các tàu tuần dương, tôi cố gắng thỉnh thoảng xuất hiện trước khu trục hạm của đối phương, để thu hút chúng vào khu vực các tàu tuần dương của Anh bị chìm, và trong bóng hoàng hôn chúng nhìn thấy tôi, cố gắng cất vó tôi, nhưng chúng tôi không sập bẫy, và chẳng bao lâu họ chấm dứt truy đuổi" (Sổ tay tham khảo Hạm đội Đế quốc Nga, nxb Sytin, Petrograd năm 1915).

Từ tài liệu ta thấy rõ ràng U-9 hoạt động trong những điều kiện lý tưởng cho bản thân nó và người Anh tỏ ra bất lực trước mối đe dọa từ dưới nước.
Đồng thời đừng quên rằng trong 351 tàu ngầm Đức đã tham gia những năm chiến tranh 1914-1918, 178 tàu (50%) đã bị đánh chìm.

Chúng ta đã biết rõ cuộc tấn công nổi tiếng của thuyền trưởng K-21 N.Lunin vào thiết giáp hạm Đức "Tirpitz" (1942), của thuyền trưởng S-13 A.Marinesko vào chiếc tàu thủy cỡ lớn của Đức "Wilhelm Gustlov" chở trên boong cả một trường đào tạo thủy thủ tàu ngầm (1945). Nhưng ít người biết về các cuộc tấn công không kém phần nổi tiếng của tàu ngầm Mỹ "Archerfish" (thuyền trưởng J. Wainwright) ngày 23 tháng 11 năm 1944, đánh chìm tàu chiến lớn nhất thời ấy - tàu sân bay Nhật Bản "Shinano" (lượng choán nước 72.000 tấn).



Trong tất cả các trường hợp chiến đấu này, tuy vậy, đi kèm các thủy thủ tàu ngầm dũng cảm là thần May Mắn của họ (tất nhiên, được nhân lên với kỹ năng của những thuyền trưởng tàu ngầm và thủy thủ đoàn).

Đồng thời, các số liệu thống kê quân sự bình quân cho thấy rằng, khi hoạt động trong điều kiện khó khăn và môi trường luôn có sự tăng cường và cải tiến liên tục của hệ thống phòng thủ chống tàu ngầm, những tàu ngầm đơn lẻ chỉ đạt được những kết quả nặng về chiến thuật (không hoạt động tác chiến) và phải hứng chịu những tổn thất nặng nề.

Theo chương trình nghị sự về chiến tranh mà nổi lên vấn đề quy tụ đòn tấn công của một nhóm tàu ngầm. Vì lý do này, trong "Trận chiến giành Đại Tây Dương" bộ chỉ huy Đức trong những năm 1940-1943 đã sử dụng phương pháp "bầy sói" để tập trung các đòn tấn công vào các đoàn tàu xuyên Đại Tây Dương của đối phương. Phương pháp "bầy sói" thực ra khá đơn giản: tàu ngầm đầu tiên phát hiện đoàn công voa đối phương sẽ báo cáo điều này (cho "bố già Doenitz") và chuyển sang giám sát bí mật đoàn tàu, định kỳ thông báo vị trí, hướng và tốc độ. Sở chỉ huy tập hợp về phía đoàn công voa tất cả các tàu ngầm đang ở trong vòng bán kính có thể kịp tăng tốc tiếp cận mục tiêu.

Cùng với bóng tối đang xuống, những chiếc tàu cuối cùng đột nhập vào bên trong đội hình hành quân và trong tư thế nổi chúng hoành hành như lũ sói trong chuồng cừu.

Ví dụ, một trong những "bầy sói" quân số bao gồm 6 chiếc tàu ngầm Đức trong thời gian 17-19 tháng 10 năm 1940 đã đánh chìm 20 tàu trong thành phần các đoàn công voa STS-7 (trong đó có cả các "ách" tàu ngầm nổi tiếng: Kretschmer (U-9) - 7, Frauenheim (U-101) - 8 tàu). Ngay sau cú đầu tiên, "đàn sói" trong khoảng từ 19 đến 20 tháng 10 đã tấn công đoàn công voa NKH-79 và tiêu diệt thêm 12 tàu nữa. Các cuộc tấn công chỉ bị ngừng lại vì đã hết đạn ngư lôi. Tổn thất của tàu ngầm là bằng không. Một phương pháp tương tự như phương pháp "bầy sói" (với một phạm vi và kết quả khiêm tốn hơn nhiều) cũng được các tàu ngầm Mỹ sử dụng trên Thái Bình Dương.



Tuy nhiên, phương pháp được đặt tên 1 cách khéo léo này cũng có nhược điểm lớn: dõi theo sự trao đổi điện vô tuyến nhộn nhịp, kẻ thù đồng thời sẽ đoán ra việc điều động các tàu ngầm hướng tới đoàn công voa; sự xuất hiện radar trên tàu biển làm giảm mạnh khả năng giữ bí mật tiếp cận của những "con sói" về phía các nạn nhân của "bầy sói"; sự xuất hiện của tàu sân bay hộ tống đoàn công voa đã nhanh chóng vô hiệu hóa tính hiệu quả của chiến thuật "bầy sói " (giờ đây đã đến lúc các tàu ngầm thường chịu những tổn thất còn lớn hơn so với các tàu trong đoàn công voa).

Vậy nên trong tháng 5 năm 1943 quân Anh-Mỹ mất 42 tàu ở Đại Tây Dương, nhưng người Đức cũng mất 38 tàu ngầm (trong nửa đầu năm 1942, cứ một tàu ngầm Đức bị đánh chìm thì phải có 210.000 tấn tàu đối phương bị đánh chìm, và đến tháng 5 năm 1943 con số đó chỉ còn là 5.500 tấn).

Trong tháng 6 năm 1943, tại giai đoạn đỉnh điểm của "Cuộc chiến giành Đại Tây Dương", Đức đã đánh chìm 20 tàu và bị mất 21 tàu ngầm, trong tháng 7 với 45 tàu bị đánh chìm họ mất 33 tàu ngầm. Trong tháng 9 và tháng 10, trong số 2468 tàu trong thành phần 64 đoàn công voa vượt Đại Tây Dương, Đức chỉ đánh chìm được 9 tàu và mất 30 tàu ngầm. Nhưng những “U-boat" Đức đã “thu hút về mình” hoạt động của hơn 3.000 tàu và một hạm đội nhiều ngàn máy bay của kẻ địch.

Tiện thể cần lưu ý thích hợp đến những điều sau đây. Trong các nguồn nước ngoài có sự chấp nhận tán dương và khen ngợi sự táo bạo và chủ nghĩa anh hùng của các thủy thủ tàu ngầm Đức. Tuy nhiên, tới giai đoạn 1944-1945, khi các kíp thủy thủ được đào tạo tốt nhất đã chìm theo tàu, trong những điều kiện tổn thất tăng vọt tinh thần chiến đấu của các thủy thủ tàu ngầm Đức đã bị giáng 1 đòn mạnh đến mức không thể hồi phục được; năm 1955 một người Latvia từng phục vụ lâu năm tại căn cứ hải quân Libava (Liepaja) kể rằng vào năm 1944 các thủy thủ trên các tàu ngầm Đức neo đậu tại bến cảng Tosmare đã bỏ trốn vào rừng ra sao và bị bọn SS bắt và xử bắn thế nào.

Chẳng hạn, theo số liệu của nhà báo Đức P.G.Freyer, "tới tháng 7 năm 1944 đã có 836 sỹ quan và thủy thủ hải quân của Hitler bị xử tử. Trong thời kỳ khó khăn chung này, các tòa án quân sự đã kết án tổng cộng 6.850 sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và thủy binh Hải quân Đức *.


* Paul Herbert Freyer. Những con sói biển của  Hitler. / bản dịch từ tiếng Đức của I. Rozanov. - Moskva: nxb Đội Cận vệ Thanh niên, năm 2004, trang 220.

Vì vậy, khi mà trong giai đoạn cuối cùng, cường quốc Xô viết bằng sự nghiệp xây dựng ồ ạt các tàu ngầm diesel đã đề ra 1 yêu cầu rất rõ ràng về cuộc chiến đấu giành quyền thống trị trên các biển và đại dương, thì khi đó trước các lý thuyết gia về nghệ thuật chiến tranh hải quân và bộ chỉ huy hải quân vấn đề đặt ra trong chương trình nghị sự hàng ngày là tập trung các đòn tấn công dưới mặt nước vào kẻ thù trên biển (đoàn công voa và các biên đội tàu chiến). Kinh nghiệm "bầy sói" của người Đức đã được phân tích kỹ càng và loại bỏ.

Đã có sự xuất hiện và hoàn thiện các phương pháp mới:
- thê đội treo (chỉ áp dụng trên các tuyến đường biển ven bờ của kẻ thù; phương pháp này được thử nghiệm chủ yếu trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại tại Hạm đội Biển Bắc);
- thê đội tấn công (khi các tàu ngầm hoạt động ở các vùng biển mở và chỉ huy thê đội thực hiện từ SCH bờ);
- chiến thuật nhóm (với phương pháp kết hợp dẫn đường về phía kẻ thù và hình thành cuộc tấn công hợp đồng theo nhóm).

Để hoạt động trong thê đội tấn công, nhóm tàu ngầm phải được triển khai trước theo trình tự tìm kiếm các tuyến di chuyển có khả năng của đoàn công voa hoặc biên đội tàu chiến của đối phương (theo đội hình dàn hàng ngang, hoặc theo phương vị, ở các khoảng cách xa nhau đến 30 dặm).

Theo mức độ tiếp cận của đoàn công voa và các tàu ngầm, khoảng cách giữa họ thắt dần đến 10 - 6 dặm, và trước khi tấn công các tàu ngầm tập hợp lại "đội hình chiến đấu" (theo luật, hoặc hình "nêm" - в строй «клина» - mũi tên xuôi hoặc "nêm ngược" – «обратного клина» - mũi tên ngược).



Để dẫn đường thê đội tới đối phương người ta dành ra 1 mạng vô tuyến riêng biệt "SCH bờ - tàu ngầm"; để đảm bảo thông tin liên lạc vô tuyến tin cậy đã sử dụng đài phát vô tuyến công suất rất mạnh "Taran" với các ăng-ten có thể đưa lên cao trên khinh khí cầu.

Khía cạnh tích cực của phương pháp:
- có sự im lặng hoàn toàn về mặt vô tuyến của các tàu ngầm trong thê đội;
- có cơ hội cho đòn tấn công tập trung trong một khu vực hẹp hoặc từ các hướng khác nhau, và do đó "nhận về mình" chỉ một phần lực lượng tàu bảo vệ vòng quanh đối tượng bị tấn công.

Sự thành công của việc dẫn đường cho thê đội tàu ngầm nhắm tới đoàn công voa và tấn công được coi là "tiêu chuẩn ", và bằng 30% (tức là 1 trong ba tàu ngầm trong thê đội sẽ tấn công và đánh trúng mục tiêu).

Những nhược điểm của phương pháp:
- tính cồng kềnh và sự ổn định tác chiến kém của hệ thống dẫn đường và chỉ huy tác chiến thê đội; việc dẫn đường cho thê đội được dự trù thực hiện hoặc theo dữ liệu của không quân trinh sát (mà yếu tố này thì tùy thuộc vào thời tiết và có tính ổn định tác chiến yếu khi gặp phải lực lượng phòng không mạnh của đối phương), hoặc theo các thông tin tình báo vô tuyến ven biển (thậm chí còn đáng nghi ngờ hơn: theo lệ thường, đoàn công voa hay tắt vô tuyến đi trong im lặng). Trinh sát vệ tinh trong những năm đó còn chưa có;
- nguy cơ giao cắt các hải trình của các tàu ngầm trong thê đội, và sự tiêu diệt lẫn nhau của họ khi phản-phát hiện ra nhau;
- bán kính hoạt động tương đối nhỏ của công tác chỉ huy quản lý các thê đội trên đại dương.

Để dẫn đường thành công thê đội tàu ngầm đi đến công kích cần phải phát hiện và "nhận dạng" đoàn công voa trong 1 khoảng cách đáng kể, cho phép tiến hành không ít hơn 2-3 lần tổ chức lại đội hình thê đội (ví dụ, ở khoảng cách 2,5-3 ngày hành trình của đoàn công voa).

Cần lưu ý rằng tàu ngầm - đó là một "con thú dữ", ngay lập tức nó sẽ phản công bằng ngư lôi tự dẫn vào bất cứ mục tiêu nào, được phân loại giống như tàu ngầm (cuộc đấu tranh cho loạt bắn đầu tiên). Vì lý do này, người ta cấm các tàu ngầm của thê đội tấn công  công kích vào các mục tiêu bị phát hiện và phân loại là tàu ngầm.

Tuy nhiên, "kẻ thù tiềm năng" (người Mỹ, tất nhiên, không phải là lũ ngốc) đã nhanh chóng tìm thấy liều thuốc giải độc - đội hình phòng thủ bằng tàu chiến được thêm vào các tàu ngầm đi phía trước đoàn công voa. Trong trường hợp này, các tàu ngầm bị phát hiện của thê đội sẽ trở thành đối tượng của sự săn lùng đáp trả, còn trình tự chiến đấu sẽ bị đảo lộn.

Trên thực tế việc thực hiện hoạt động của các tàu ngầm diesel trong các thê đội tấn công có thể hình dung như thế nào sẽ được minh họa rõ ràng trong ví dụ sau đây.

Tháng 9 năm 1964 tại cuộc tập trận của Hạm đội Thái Bình Dương trên vùng phía tây Thái Bình Dương đã triển khai hai thê đội tấn công có quân số 3 tàu ngầm mỗi biên đội (một từ căn cứ Kamchatka, thê đội thứ hai - từ căn cứ chính của hạm đội). Mục tiêu chính ("tàu sân bay của kẻ địch") do tàu tuần dương "Kalinin" đóng giả, bỏ qua sự bảo vệ của các tàu hộ tống cho mình vì bão rất mạnh.



Do điều kiện thời tiết nên máy bay trinh sát không cất cánh được. Trong suốt năm ngày đêm liên tục có bão cấp 7-8 và các tàu ngầm của thê đội đã bị tản mát trên những khoảng cách xa đến mức không ai phát hiện ra ai, ngay cả khi "tàu sân bay" tự nó đi đến những chỗ giả thiết có thê đội.
........
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Tám, 2012, 05:11:16 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM