Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:39:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206277 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #100 vào lúc: 08 Tháng Tám, 2012, 10:13:44 pm »

(tiếp)

Trong khi đó, trên tàu tuần dương đã cạn nhiên liệu. Bị đẩy đến cảnh tuyệt vọng, "tàu sân bay" (tàu tuần dương "Kalinin") bắt đầu chuyển các tọa độ thật, hướng thật và tốc độ thật của mình. Và ngay cả trong trường hợp này cũng không có chiếc nào trong số các tàu ngầm của thê đội có thể tìm thấy đối tượng của cuộc tấn công.

Tác giả là thuyền trưởng của một tàu ngầm thuộc thê đội phía nam, chao đảo trong đại dương 3 ngày đêm, khi mà "tàu sân bay" đã kiệt sức, và không còn xứng được hưởng may mắn bị tấn công, nó chán ngán phẩy cả 2 tay mà lê về căn cứ.

Tất nhiên, cảnh kể trên - không phải là hệ thống, có nhiều trường hợp về việc dẫn đường thành công cho thê đội tàu ngầm ở Hạm đội Thái Bình Dương và Hạm đội Biển Bắc. Nhưng nó cho thấy độ phức tạp của ý tưởng cổ điển sử dụng các tàu ngầm để tập trung đòn tấn công khi mà việc chỉ huy chúng được tập trung hóa quá cứng nhắc.

Cũng không kém phần khó khăn trong thực tế là phương pháp sử dụng tàu ngầm trong  các nhóm tấn công chiến thuật.

Người tiên phong trong việc phát triển và làm chủ phương pháp này (vào giữa những năm 195х) là tư lệnh lực lượng dưới mặt nước của Hạm đội Thái Bình Dương chuẩn đô đốc L.Khiyainen, ông là người sáng tác chính bản "Hướng dẫn" tương ứng và đã kiên trì thực hiện và hoàn thiện phương pháp này cho đến đầu những năm 196х.


Khiyainen Lev Petrovitch

Thực chất phương pháp là ở sự cơ động phù hợp không ngừng và bước vào công kích ngư lôi của nhóm chiến thuật gồm 2-3 tàu ngầm cùng loại, được chỉ huy bởi người trưởng nhóm chiến thuật nhờ sự trợ giúp của đường liên lạc âm thanh dưới nước.
 
Bề ngoài đơn giản nhưng phương pháp ấy hóa ra rất khó chỉ huy. Những nhược điểm cơ bản của nó:
- độ bí mật thủy âm thấp trước các tàu ngầm kẻ địch do nhu cầu tăng cường trao đổi các tín hiệu;
- sự đặc biệt phức tạp khi sử dụng ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân;
- sự khó khăn trong việc khôi phục trình tự hành quân hoặc đội hình chiến đấu của nhóm chiến thuật, nếu vì một lý do nào đó đội hình đó bị tản mát.

Тuy thế phương pháp này vẫn tồn tại dai dẳng và  tiếp tục được phát triển trong lý thuyết áp dụng vào chiến đấu các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa hành trình có tầm bắn xa.

Vì các tàu sân bay Mỹ trong giai đoạn sau chiến tranh vẫn được coi 1 cách truyền thống là đối tượng chính và là đối tượng rất đáng mong muốn trước các cuộc tấn công của các tàu ngầm, nên tư duy của các cơ quan tham mưu đã hình thành hình ảnh và cách đào tạo tương ứng cho các thuyền trưởng tàu ngầm, đôi khi rất không phù hợp với khả năng chiến đấu của những chiếc tàu ngầm ấy.

Trong thời kỳ đấu những năm 195x tại các cuộc tập trận tham mưu-chỉ huy trên bản đồ, người ta đã thảo ra những phương pháp lạ lùng nhằm "tiêu diệt" các tàu sân bay, khi các tàu kể vừa kể hành quân rất kỷ luật trong 1 dải hẹp các đường zigzag chậm chạp, chúng ta sẽ nói, từ quần đảo Hawaii vào vịnh Avachinsky, nơi các tàu ngầm xô viết đi lại nhộn nhịp (trên bản đồ thôi, tất nhiên là thế).



Tàu sân bay chính bò gần như thể vào tới cổ họng vịnh Avachinsky, nơi các "ách" dưới mặt nước giáng cho nó một đòn chí mạng. Bản thân tác giả (khi đó còn là một hoa tiêu trẻ) đã tham gia vào các cuộc diễn tập TMCH bằng cách bò dán bụng xuống những tấm bản đồ khổng lồ được dán ghép lại với nhau.

Tuy nhiên cần lưu ý một cách thích hợp đến một vài điểm kỳ quặc trong hệ thống đào tạo chiến thuật và huấn luyện cho các thủy thủ tàu ngầm xô viết: hoặc là sự huênh hoang khinh địch cho kẻ thù là ngu ngốc, hoặc ngược lại, cường điệu không kiềm chế khả năng chiến đấu và phẩm chất chiến đấu của nó, và do đó - làm việc trên sự hù dọa người của mình.

Trong khi đó, "kẻ thù tiềm năng" mạnh mẽ  (và người Mỹ cũng ở trong số đó) không hề thiếu gì các khiếm khuyết lớn trong các kế hoạch về cả mặt tổ chức và kỹ thuật. Điều cực kỳ quan trọng, ngoài những mặt mạnh, hãy tìm ra những mặt yếu của nó và lợi dụng chúng cho đúng cách.

Dưới đây là một vài ví dụ. Tháng 9 năm 1965, khi tại phần phía bắc Biển Nhật Bản, Hạm đội Thái Bình Dương triển khai 1 cuộc tập trận quy mô lớn, tác giả (thời gian đó - thuyền trưởng 1 tàu ngầm) nhận được lệnh cho tàu mình bố trí theo hướng giả, trong khu vực phía bắc eo biển Triều Tiên, với nhiệm vụ thu hút lực lượng Hạm đội 7 Mỹ về phía mình. Trong mệnh lệnh tác chiến, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đô đốc N.Amelko ban cho người chỉ huy tàu ngầm quyền: làm việc trên đài phát vô tuyến bằng những phương pháp khác nhau nhất. Được phép chuyển đi những bức điện vô nghĩa, làm vỡ đầu các anh bạn Yankee siêu trí tuệ.

Và điều đó đã xảy ra. Bộ chỉ huy Hạm đội 7 Mỹ đã điều động một nhóm tàu sân bay mà trong thành phần có cả tàu sân bay chống tàu ngầm "Bennington" cùng 8 tàu hộ tống dò theo những điện tín ba hoa khoác lác của chiếc tàu ngầm, đang hoạt động trong một "tam giác ẩm ướt". Trong suốt 3 ngày đêm, nhóm đã tiến hành tìm kiếm trong khu vực có phương vị của đài vô tuyến nhưng ... không phát hiện ra tàu ngầm.

Vùi mình trong 1 lớp dày đất nền nhão đáy biển như 1 con nòng nọc trong bùn, "chàng Ivan láu cá" đã ghi lại được 1 cách chính xác trên bàn đạc tất cả các phương án tìm kiếm, theo đó các tàu chiến thuộc nhóm tàu sân bay xung kích chống ngầm (APUG) đã khuấy tung nước lên; nổi lưng chừng lên độ sâu kính tiềm vọng, tàu phát hiện ra trong không trung cả một cái chợ đã hình thành từ các radar đang làm việc trên các máy bay cánh cứng và máy bay trực thăng. Còn chiếc tàu ngầm sau khi thả điện tín vào không gian một lần nữa, lại lặn xuống ẩn trong lớp đột biến. Và những sonar của người Mỹ vốn được tán tụng không tóm được nó (chúng tìm kiếm con tàu ở "trên" và "dưới" lớp đột biến này). Cuối cùng, một cơn bão mạnh đang đến đã xua đuổi nhóm xung kích tàu sân bay.



Tháng 7 năm 1963 cũng chiếc tàu ngầm ấy trong khu vực quần đảo Izu (phía đông Nhật Bản) vào ban đêm ở độ sâu kính tiềm vọng, đã đi qua vành đai các tàu bảo vệ tàu sân bay mà không bị phát hiện, đó là đơn vị đặc nhiệm 70.4 APUG của Hạm đội 7 Mỹ (tàu sân bay chống tàu ngầm "Kiearsarge"- CV-33) và trong vòng 40 phút tàu ngầm đã hoàn thành 4 cuộc tấn công ngư lôi giả định vào tàu sân bay và các tàu hộ tống, theo các quy tắc xạ kích ngư lôi thông thường cũng như ngư lôi mang đầu đạn hạt nhân. Người Mỹ đã để chiếc tàu ngầm này qua mặt một cách đáng xấu hổ.


Trên đường đi thu hồi mô đun Faith 7 của trạm vũ trụ Mercury và nhà du hành vũ trụ Gordon Cooper ngày 15 tháng 5 năm 1963. Đây cũng là chiếc tàu Mỹ ngày 7 tháng 3 năm 1960 đã cứu được 4 quân nhân công binh xô viết bị bão trôi dạt trên chiếc sà lan tự hành T-36 suốt 49 ngày đêm và được cả 2 bên tuyên truyền trong những năm 60 thế kỷ 20.

Cảnh trên đã được tôi mô tả trong câu chuyện "Lệnh im lặng vô tuyến và quan sát" («Приказано соблюдать радиомолчание»). Cũng cần lưu ý rằng sự kiện xảy ra chính xác tại khu vực nơi 20 năm trước chiếc tàu ngầm Mỹ "Archerfish" phóng ngư lôi đánh chìm tàu sân bay khổng lồ "Shinano" của Nhật Bản.

SỰ NGHIỆP LÀM CHỦ ĐẠI DƯƠNG THẾ GIỚI VÀ LÀM NHIỆM VỤ CHIẾN ĐẤU CỦA CÁC TÀU NGẦM DIESEL

Trong giai đoạn trước chiến tranh, trong quá trình Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và trong thập kỷ tiếp (trước 1955) về mặt truyền thống người ta cho rằng các tàu ngầm Hải quân Liên Xô không nên vượt ra khỏi các vùng biển xung quanh.

Cuối những năm 195x, truyền thống này đã bị vi phạm: các tàu ngầm xô viết đã xuất hiện trong các khu vực bất ngờ nhất (Địa Trung Hải, Indonesia, eo biển Alaska và vùng biển Bắc Đại Tây Dương), còn trong thời kỳ cuộc khủng hoảng Caribbean năm 1962 - xuất hiện trong vịnh Mexico, điều đó làm Hoa Kỳ và Anh quốc ngạc nhiên và vô cùng lo lắng.



Việc sử dụng các tàu ngầm diesel của Hải quân Liên Xô trong thời kỳ "chiến tranh lạnh" có thể được chia môt cách tưởng tượng thành 1 số giai đoạn kế tiếp nhau (tưởng tưởng, bởi vì tác giả cố tình tránh các số liệu thống kê của các cơ quan tham mưu và lưu trữ bị ý thức hệ hóa, mà chủ yếu dựa trên lời kể của các cựu chiến binh trực tiếp tham gia). Những thời kỳ này có thể cô đọng lại dưới các hình thức sau đây:

a) các tàu ngầm diesel cỡ lớn thế hệ đầu tiên sau chiến tranh rời khỏi các khu vực biển gần truyền thống và phát triển thực sự kỹ năng chiến đấu tới các vùng xa xôi (1955-1957);
b) sử dụng tàu ngầm như là một sự "trợ giúp anh em" đối với các quốc gia thuộc phe "xã hội chủ nghĩa" và "thế giới thứ ba" (1957-1960);
c) sử dụng tàu ngầm đơn lẻ và sử dụng nhóm tàu ngầm để "biểu dương lực lượng" trong cuộc đối đầu giữa hai "phe" (1961-1964);
d) các tàu ngầm thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu không thường xuyên trong các khu vực tác chiến quan trọng của Đại dương Thế giới (1965-1969);
e) các tàu ngầm thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thường trực trong thành phần các binh đoàn tác chiến cơ động theo khu vực của Hải quân Liên Xô (từ 1969);
e) việc tuần tra chiến đấu thường xuyên của các tàu ngầm cỡ lớn mang tên lửa đạn đạo (SLBMs – BRPL - БРПЛ) trong các khu vực riêng biệt của Đại dương Thế giới - như một phương tiện đối đầu hạt nhân chống lại kẻ thù tiềm năng (từ năm 1967 cho đến khi xuất hiện hạm đội tàu ngầm hạt nhân như là một thành tố cấu trúc của lực lượng hạt nhân chiến lược của đất nước);
g) việc sử dụng đơn vị tàu ngầm trong các nghiên cứu khoa học-quân sự Đại dương Thế giới (từ 1968).

Ở giai đoạn đầu tiên các chiến dịch hành quân độc lập của các tàu ngầm xứng đáng để được chúng ta giành cho sự quan tâm đặc biệt.

Tháng 8 năm 1955, tàu ngầm S-145 (thiếu tá hải quân R.Golosov) thực hiện chuyến đi đầu tiên trong lịch sử Hải quân Xô Viết đến biển Nhật Bản với 30 ngày đêm trên hải trình hoàn toàn tự chủ, tàu ở trong tư thế bơi ngầm suốt 100% thời gian đi biển (chạy động cơ điện, và sử dụng chế độ RDP). Thời gian ấy đó là một chiến công rực rỡ của thủy thủ đoàn.


Rudolf Aleksandrovitch Golosov trong bảo tàng phân hạm đội tàu ngầm số 1 trên nền các cờ thưởng thi đua của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô "Vì sự can đảm và lòng dũng cảm trong phục vụ quân đội" ("За мужество и воинскую доблесть").

Trong giai đoạn thứ 2, trong thời kỳ mà đường lối chính trị của ban lãnh đạo tối cao Liên Xô là tích cực tác động để phá vỡ "hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc" và củng cố "phe xã hội chủ nghĩa" anh em, Hải quân Liên Xô vào những năm 196x, đã "bán" cùng với các tàu mặt nước một phần các tàu ngầm diesel (sáu chiếc) cho chế độ Sukarno ở Indonesia; trong đó các thủy thủ đoàn Liên Xô được sử dụng dưới hình thức đội thủy thủ huấn luyện-chuyển giao.

Những chiếc tàu ngầm này ở Surabaya và Jakarta đã nhanh chóng bị đưa vào trạng thái dơ bẩn và không còn khả năng sẵn sàng chiến đấu. Sự sẵn sàng chiến đấu của Hải quân Indonesia được soi rọi chi tiết như sau: sau lễ kéo cờ buổi sáng và kiểm tra tàu ngầm, các thủy thủ tàu ngầm Indonesia lang thang đi làm nghề phụ kiếm sống, còn ca gác-bảo vệ từ bên ngoài thì thu xếp rang cà phê tại cầu tàu. Ca gác nội vụ không có ai. Thuyền trưởng một chiếc tàu ngầm bây giờ đã thuộc sở hữu của Indonesia tuyên bố với các đồng nghiệp xô viết: "Trên thực tế, về mặt tài chính, tôi – là chủ một nhà chứa, và tôi chỉ huy một chiếc tàu ngầm để lấy uy tín chính trị".

Không phải ngẫu nhiên, khi Indonesia bước vào cuộc chiến tranh với thực dân Hà Lan ở Tây Irian (New Guinea), chính phủ Sukarno đã yêu cầu Liên Xô đưa các thủy thủ Liên Xô tham gia chiến sự. Đáng nhớ là trường hợp khi một chiếc tàu ngầm Indonesia, đang ở trên vị trí chiến đấu, phát hiện ra tuần dương hạm của Hà Lan và báo cáo: "Đã phát hiện tuần dương hạm, tôi có thể tấn công bằng ngư lôi, nhưng không thể tấn công vì đạn ngư lôi còn ở trong căn cứ".

Ban lãnh đạo chính trị Liên Xô sẵn sàng đáp ứng vấn đề: các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô đã chiến đấu chống chủ nghĩa đế quốc dưới vỏ bọc các "tình nguyện viên-chiến sỹ quốc tế vô sản". Ngay trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng Caribbean nổi tiếng tháng 10 năm 1962, để đáp ứng  yêu cầu trợ giúp trên tình anh em hữu nghị từ Sukarno, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị UBTU ĐCSLX, hạm đội đã vội vàng chuẩn bị một nhóm 6 tàu ngầm đề án 613 cùng tàu căn cứ nổi "Aykhta" để phái đến Indonesia dưới chiêu bài chuyển giao thêm một nhóm tàu ngầm nữa cho lực lượng hải quân bản địa.


Tàu ngầm đề án 613 dưới cờ Indonesia.
.........
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Tám, 2012, 08:10:13 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #101 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2012, 08:10:42 pm »

(tiếp)

Tại Surabaya người ta đã tiếp nhận các sỹ quan thông tin liên lạc hải quân Indonesia lên tàu ngầm; nhưng việc chỉ huy chiến đấu các con tàu vẫn được thực hiện từ SCH trung ương Hải quân Liên Xô và SCH Hạm đội Thái Bình Dương. Các tàu ngầm tiến vào khu vực được phân công theo lệnh báo động: ví dụ, S-236 ở eo biển Malakka. Theo tín hiệu các bức điện tác chiến được mở, trong đó có mệnh lệnh chiến đấu - "tiến hành chiến tranh dưới nước không hạn chế: tiêu diệt các tàu chiến và tàu vận tải của đối phương để ngăn chặn việc di chuyển các thiết bị và tài sản ra khỏi bờ biển Tây Irian".

Đó là nội dung của sự "trợ giúp hữu nghị trên tinh thần quốc tế vô sản", xuất phát từ đó mà đảo lộn mọi khái niệm về luật hàng hải quốc tế. May mắn thay, cuộc xung đột Hà Lan-Indonesia đã được giải quyết bằng các phương pháp phi quân sự.
Một số thuyền trưởng, đặc biệt là trung tá hải quân A.Protasov, khước từ một vinh dự đáng ngờ như vậy, và đã bị triệu hồi về Liên bang Xô Viết với những "hậu quả về mặt tổ chức" tương ứng.

Vào cuối những năm 195x, khi phe xã hội chủ nghĩa đã được "tăng cường một cách thắng lợi", ban lãnh đạo Liên Xô chuyển tới Albania 1 lữ đoàn tàu ngầm diesel, lần đầu tiên ra một tuyên bố công khai về bước đột phá của các lực lượng hải quân xô viết trong chiến lược toàn cầu. Người đọc có lẽ cũng hiểu rõ rằng vấn đề không phải Albania mà là biển Địa Trung Hải, một trong những khu vực vận tải hàng hải quan trọng nhất của thế giới, được sự quan tâm lớn của ban lãnh đạo tối cao ở Moskva.

Tháng 5 năm 1957, các đại diện Hải quân Liên Xô đã kiểm tra khu vực Viera (bến cảng Pasha Liman) và đảo Sazan vùng duyên hải Albania. Trong tháng 6 cùng năm, một nhóm bốn tàu ngầm diesel đề án 613, cùng với tàu căn cứ nổi "Nemchinov" hoàn thành di chuyển từ Baltisk đi vòng quanh châu Âu tới điểm đóng quân mới. Chuyến hành quân di chuyển 27 ngày đêm của 1 biên đội tàu ngầm dưới cờ tư lệnh lữ đoàn đại tá hải quân S.Egorov diễn ra trong sự kèm cặp liên tục của các tàu chiến và máy bay NATO; thêm vào đó từ phía các kẻ theo dõi còn có một loạt các hành động khiêu khích và những mối đe dọa va chạm nguy hiểm khác nhau. Tuy nhiên, biên đội đã thực hiện thành công chuyến di chuyển tới khu vực vẫn còn hiểm họa về mìn kể từ thời Chiến tranh thế giới thứ Hai (biển Adriatic).


Egorov Sergei Grigorievitch. Vịnh Konyushkova. Tháng 5 năm 1957. Trích lưu trữ của V.V.Bryskin.

Nhưng đối thủ tiềm năng hồi đó không ngủ gật. Đến thời điểm hoàn thành chuyến hành quân di chuyển biên đội tàu ngầm vào Địa Trung Hải, thay vì hai nhóm tàu sân bay xung kích thường trực của Hạm đội 6, Hoa Kỳ đã tập trung tới đây 4 nhóm AUG. Trong tháng 8 biên đội tàu ngầm bắt đầu thường xuyên ra khơi trinh sát các tuyến giao thông hàng hải dẫn tới các eo biển Gibraltar, Malta và Tunis.

Trong tháng 6 năm 1958, từ Baltisk đến vịnh Viera có thêm 1 biên đội tăng cường của lữ đoàn gồm 4 tàu ngầm thuộc cùng một đề án, và vào tháng 8 đến lượt tàu căn cứ nổi "Kotelnikov" của Hạm đội Biển Đen và nhóm thứ ba gồm 4 tàu ngầm từ Baltisk. Như vậy, tại Albania đã triển khai 1 lữ đoàn tàu ngầm tăng cường (12 tàu ngầm, hai tàu căn cứ nổi). Căn cứ của lực lượng trên được che chở bởi 1 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải, 1 lữ đoàn tàu cao tốc phóng lôi, và các đơn vị phòng không Albania, được đảm bảo bởi một nhóm các tàu hậu cần phụ trợ của hạm đội, tàu dok nổi, xưởng sửa chữa tàu biển và căn cứ bờ tạm thời.

Điểm căn cứ này giành được sự quan tâm trọn vẹn của Tổng tư lệnh Hải quân đô đốc hạm đội S.Gorshkov và cấp phó thứ nhất của ông đô đốc hạm đội V.Kasatonov. Nhiều lần tàu tuần dương "Slava" và các tàu chiến khác từ Sevastopol đã tiến ra biển Adriatic để thực hành huấn luyện tấn công ngư lôi cho các tàu ngầm.

Năm 1959, Nikita Khrushchev và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nguyên soái R.Malinovsky đã đến thăm lữ đoàn, họ đã đánh giá rất cao các thủy thủ tàu ngầm. Tuy nhiên, năm 1960 do mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc suy giảm mạnh trên cơ sở sự nhận thức khác nhau về vấn đề "sùng bái cá nhân" (Albania đi theo đường lối của Trung Quốc) lực lượng Hải quân Xô Viết đóng căn cứ ở vịnh Viera, đã trở về căn cứ Baltisk và Hạm đội Biển Đen.


Các thuyền trưởng đề án 613 tại Albania. Phải sang trái: I.B.Komarov, Yu.I.Emelyanov, V.S.Kozlov V.A.Grebenschikov. Vlera, tháng 8 năm 1958.

Nói chung, quan hệ của người Albania với người Nga nổi bật bởi sự thân thiện và ấm áp. Nhưng nó đã thay đổi đáng kể từ khi ban lãnh đạo chính trị tối cao "không chia sẻ chủ nghĩa Mác-Lê-nin": Nikita Khrushchev cáo buộc Enver Hoxha đánh giá thấp vai trò lãnh đạo của đảng ở trong nước và giá trị của phong trào cộng sản thế giới. Kết quả là tại Albania, tư lệnh Hải quân đã bị xử bắn vì hiểu biết quá đơn giản về lý thuyết và thực hành trong vấn đề tình hữu nghị quốc tế vô sản.

Trong giai đoạn thứ ba, nét đặc trưng là sự hoạt động tích cực trong chính sách địa chính trị của Liên Xô tại Trung Đông và khu vực Trung Mỹ, xứng đáng với sự quan tâm đặc biệt về nỗ lực của ban lãnh đạo chính trị Liên Xô nhằm xác định sức mạnh chiến đấu của mình (và mối đe dọa từ phía biển) đối mặt với "phe đế quốc chủ nghĩa".

Trong giai đoạn cuộc chiến tranh giữa Anh-Pháp-Israel với Ai Cập năm 1956 giành quyền chiếm hữu kênh đào Suez, Hải quân Liên Xô đã triển khai một nhóm tàu ngầm diesel từ căn cứ ở Kamchatka tới vùng vịnh Alaska (mà tại sao lại tới đó?).



Dưới đây tôi dẫn ra hồi ức của một trong những người tham gia nói về chiến dịch chưa từng có xét về mức độ nặng nhọc của đại úy hải quân V.Lebedko, sau đó - là chuẩn đô đốc: "Tàu ngầm trực chiến S-178 (thuyền trưởng - thiếu tá hải quân Yu.Sorokin) theo lệnh báo động ngày 6 tháng 11 năm 1956 tiến ra vị trí chiến đấu phía bờ biển tây Hoa Kỳ.

Qua 1 thời gian dài neo đỗ trong trạng thái trực chiến vất vả, một phần các sỹ quan tàu ngầm đã được cử tạm thời đi "khử từ" ở Petropavlovsk-Kamchatsky; tôi được lệnh miệng đi thay thế cho trợ lý chính thuyền trưởng V.Bets (Bản thân tôi đang là trợ lý cho thuyền trưởng 1 con tàu khác, nhưng có quyền điều khiển độc lập tàu ngầm đề án này).

Buổi tối trước ngày lễ, mặc áo vét và áo sơ mi trắng, với một gói "Belomor" bỏ trong túi, đã xoa xà phòng cạo râu sạch sẽ, tôi đến câu lạc bộ doanh trại đồn trú để xem phim. Đột nhiên trên đường đến câu lạc bộ, 1 thủy thủ đuổi kịp tôi: trên chiếc tàu ngầm đang trực chiến đã có lệnh báo động "sẵn sàng chiến đấu". Tôi chạy ra tàu, lắc đầu vì tiếng gầm rú của động cơ diesel.

Trong sự nhốn nháo (lệnh sẵn sàng - một giờ) thay vì quân y sỹ và thuyền phó chính trị chính thức người ta đưa lên tàu ngầm một quân y sỹ tàu bên cạnh và bí thư chi bộ đảng, người do sợ hãi thay vì xách chiếc cặp đựng quần áo lót ra khơi thì lại xách chiếc khác - đựng các tấm thẻ đảng còn trống. Ra đến vịnh Avachinskaia, người ta mở điện tác chiến. Mệnh lệnh chiến đấu khẳng định: đi tiếp tới vịnh Alyaska, tới nút giao thông Hoa Kỳ - Nhật Bản. Nhiệm vụ: sẵn sàng tiêu diệt các tàu vận tải của đối phương.



Về thực chất tinh vi của mệnh lệnh này tôi sẽ không thảo luận (mặc dù nó không rõ ràng ở chỗ, nếu cuộc chiến tranh diễn ra ở khu vực kênh đào Suez, tại sao lại cần đánh chìm tàu vận tải ở Alaska? Hay là cuộc chiến tranh cục bộ đã phát triển thành chiến tranh thế giới). Các thủy thủ tàu ngầm, tất nhiên, còn chưa biết rằng chiến sự trong khu vực kênh đào Suez đã dừng lại vào ngày 05 tháng 11, còn tàu ngầm lao ra khơi theo lệnh báo động ngày 06 Tháng 11.

Vào ngày thứ ba của chiến dịch viên quân y sỹ "xa lạ" (thời gian đó, trên tàu ngầm còn chưa có bác sĩ) báo cáo: nước ngọt dùng trên tàu đã không còn; két nước đã bị thối.

Người ta lấy ý kiến sỹ quan: làm thế nào đây? Hầu hết các sĩ quan ủng hộ việc trở lại căn cứ. Thuyền trưởng hét lên: "Các đồng chí! Vâng, tôi sẽ đi trước khi ra tòa án binh!"

Người ta đi với két nước thối trên tàu. Thời tiết thật khủng khiếp: biển động cấp 8-9, những núi nước 12-15 mét chiều cao; ngay cả ở độ sâu 140 mét tàu vẫn chao đảo 10-15 độ. Khi nổi lên ban đêm để nạp ắc quy, người sỹ quan (thường là trợ lý chính biệt phái) bám vào kim ngắn la bàn từ tính, "bơi" đến chỗ ống nói đàm thoại.

Cửa nắp trên của tháp chỉ huy được chống lên: ở những khoảnh khắc nhất định, khi nó được hé lên, từng khối nước lớn rơi vào phòng điều khiển trung tâm, và các thuyền viên bị nước đẩy nhào vào khoang, nước ép đến tận vách ngăn số 65 của khung ngang vỏ tàu phía đuôi. Trong khoang có vài lần ngắn mạch và cháy bảng phân phối điện chính. Sóng vỗ xé sắt cầu điều hướng, cuối cùng lột tung cả rào chắn mui tàu.

Một đêm, sỹ quan trực của nhìn chằm chằm lên bầu trời giữa những con sóng, hy vọng nhìn thấy thiên thần hộ mệnh và nhìn thấy ngay trên đầu... sống mũi 1 tàu vận tải lớn. Một làn sóng kế tiếp khổng lồ đã cứu con tàu khỏi cú taran không thể đỡ nổi, sóng nâng tàu ngầm lên cao và quăng chiếc tàu vận tải lăn xa xuống dưới.


Ivan Konstantinovitch Aivazovsky. Giữa những con sóng.

Một lần sóng đánh trong thời gian mở tạm thời của nắp trên đài chỉ huy làm biến dạng cổ trục (cửa nắp đó nặng nửa tấn). Từ lúc đó con tàu bơi với tháp chỉ huy bị tràn nước. Các "anh hùng miễn cưỡng" bị sóng giày vò ngày 18 tháng 11 nhận được bức điện:: về căn cứ...»

Tàu ngầm S-178 về tới vịnh Krasheninnikov lúc đêm sâu, thuyền trưởng neo tàu vào cầu bến, trong khi lấy thăng bằng với tháp chỉ huy tơi tả. Không ai trong bộ chỉ huy ra đón con tàu. Nghĩa là người ta đón vào... buổi sáng, khi kéo cờ hải quân trên các tàu ngầm của sư đoàn, người ta đi đi lại lại và lắc đầu: toàn bộ rào chắn quanh tháp chỉ huy đã bị tước ra khỏi vỏ bền.

Thủy thủ đoàn không được ai động viên thăm hỏi - từ tổng tư lệnh cho đến người chỉ huy đơn vị. Về tới chưa? Người toàn vẹn không? Được rồi, không sao. Hãy tiếp tục phục vụ Tổ quốc. Nhưng vì sự thật, người ta thôi cho con tàu trực chiến và gửi nó đi sửa chữa.
..........
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tám, 2012, 03:30:32 pm gửi bởi qtdc » Logged
lantuyet
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #102 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2012, 10:51:12 pm »

Bác qtdc ơi, bác có thể tiếp tục chủ đề này được ko, em nghĩ là có nhiều người đang mong chờ bài viết của bác lắm, nhất là những người đã  từng có thời gian gắn bó với căn cứ CR và những người muốn tìm hiểu thông tin về các chiến dịch của Hải Quân Liên Xô trước đây và Hải Quân Nga hiện nay. Rất mong bác quay trơ lại topic này. Cảm ơn bác nhiều.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #103 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2012, 09:11:47 pm »

(flot.com)


BẢN ÁN CẢNH CÁO NGHIÊM KHẮC VÌ VỤ VA CHẠM VỚI TÀU NGẦM NGUYÊN TỬ MỸ.

B.S. Bagdasarian.


Chuẩn Đô đốc Vilen Vasilevitch Lobodenko kể về bạn cùng lớp, học viên tốt nghiệp trường hải quân Nakhimov Leningrad năm 1948 Boris Surenovitch Bagdasaryan (trích thư gửi nhà chép sử Nikolai Pavlovitch Sokolov).

Sau khi tốt nghiệp trường hải quân mang tên M.V.Frunze, nơi tôi và anh kề vai sát cánh ngồi học với nhau trong bốn năm, đời phục vụ đã tách chúng tôi về các hạm đội khác nhau. Tính đến nguyện vọng của chúng tôi, anh được điều về Hạm đội Biển Đen, còn tôi - Hạm đội Biển Bắc. Cả 2 chúng tôi đề nghị được phục vụ trên các tàu ngầm. Boris đến phục vụ trên tàu ngầm cận vệ "S-33" ...

... Năm 1956, Boris Bagdasarian đã là một thủy thủ tàu ngầm nổi tiếng. Năm 1954, trên cương vị trợ lý chỉ huy tàu ngầm "S-70", anh tham gia vào chuyến đi biển tự lập đầu tiên trên một tàu ngầm diesel tại Biển Đen trong chế độ RDP. Bây giờ rất ít người hình dung được điều kiện đi biển trên một chiếc tàu ngầm diesel ở vùng biển phía nam nóng nực mà không nổi lên mặt nước. Và 30 ngày đêm của chuyến đi biển đầu tiên đã được chính phủ đánh giá cao. Boris nhận được tấm huân chương "Sao Đỏ" đầu tiên. (Theo ý kiến của tôi, anh là người đầu tiên trong số học viên tốt nghiệp khóa chúng tôi nhận được huân chương "Sao Đỏ").

Và tiếp sau tôi, vào năm 1957 anh cũng đến học các lớp bổ túc nâng cao cho các thuyền trưởng tàu ngầm tại Piter (tức St Petersburg), sau khi tốt nghiệp anh được bổ nhiệm vào thủy thủ đoàn của một trong các tàu ngầm nguyên tử đầu tiên được đóng ở vùng Viễn Đông, rồi anh gắn bó quãng đời phục vụ tiếp theo trên tàu hải quân với Hạm đội Thái Bình Dương. Đầu tiên trên cương vị trợ lý chính, còn từ năm 1962, thuyền trưởng các tàu ngầm hạt nhân tại Kamchatka và Primorye. Anh đã nhận được giải thưởng xạ kích tên lửa hành trình chống hạm và thực hiện thành công nhiệm vụ huấn luyện và chiến đấu trong các chuyến đi biển dài ngày, ngang dọc trên Thái Bình Dương.

Ngày 21 tháng 7 năm 1970, khi đang là thuyền trưởng của tàu ngầm hạt nhân "K-108" làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, anh đã  "gặp gỡ" với một tàu ngầm Mỹ, đang theo dõi anh. Kết quả của "cuộc gặp gỡ" này, những người Mỹ cho đến những năm gần đây vẫn tin tưởng sâu sắc rằng chiếc tàu ngầm Liên Xô đã bị đánh chìm bởi cú va chạm. Nhưng thân chiếc tàu ngầm của chúng ta là một thân bền thực sự, và ở nhà mình Boris vẫn còn giữ làm kỷ niệm mảnh vụn kim loại từ "người Mỹ".


Đại tá hải quân Boris Surenovitch Bagdasarian (chỉ huy thủy thủ đoàn tàu ngầm đề án 675). - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt tạp chí Taifun.

Sau khi tốt nghiệp năm 1972 các khóa học tại Học viện Hải quân, Boris Surenovitch, người thủy thủ tàu ngầm lão luyện, bắt đầu phục vụ tại Cục Huấn luyện Chiến đấu Hải quân, tại đó ông đã có đóng góp lớn cho việc xuất bản một loạt các tài liệu chỉ dẫn cho các thuyền trưởng vãn còn hiệu lực cho đến ngày hôm nay ...

Vào cuối năm 1987, tôi cùng Boris Surenovitch nghỉ hưu vì đã đến tuổi và bắt đầu làm việc tại Học viện Bộ Tổng tham mưu, tham gia hơn 10 năm vào quá trình đào tạo tại Khoa Nghệ thuật Tác chiến Hải quân, góp phần đào tạo đội ngũ chỉ huy. Trong thời gian này, tại khoa chúng tôi đã có một số nhân vật đến học tập mà ngày nay họ là các Tư lệnh các hạm đội và cả Tổng tư lệnh Hải quân.

Trong đời phục vụ hải quân Boris được tặng thưởng 3 huân chương "Sao Đỏ" và huân chương "Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên bang CHXHCN Xô Viết". Và tôi đã cố gắng để theo kịp ông, tôi cũng nhận được hai huân chương "Cờ Đỏ" và huân chương "Sao Đỏ", tất nhiên, còn cả nhiều huy chương.

A.F.Mozgovoy. Hai thuyền trưởng của "Chiến tranh Lạnh". - Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt tạp chí Taifun.



Mozgovoi Aleksandr Fedorovitch

Sau khi nhận nhiệm vụ tại Moskva, tại Bộ Tổng tham mưu Hải quân, Boris Surenovitch Bagdasarian thường chỉ mơ thấy đúng một giấc mơ. Đây là cái mà anh ấy vẫn tự kể:
- Trên tàu ngầm K-108 tôi đi xuống dọc theo phố Tverskaia tới quảng trường Manezh. Tôi ngoặt sang dãy Okhotnyi và đuôi tàu chạm vào khách sạn "Quốc gia" ... Rồi đột ngột tôi thức giấc.

Những con người đi găng tay da

Trong trang phục "dân sự" ông trông giống như một nghệ sĩ hơn là một con sói biển già. Boris Surenovitch ăn mặc với một phong cách thanh lich một cách phóng khoáng, vốn là đặc điểm của các đại diện giới ngành nghề sáng tạo. Nhiều cô gái trẻ trên phố tò mò liếc nhìn người đàn ông không còn trẻ này nữa.

Một lần tôi hỏi vợ ông, Larissa Leonidovna Bagdasarian, làm sao mà bà, vốn là cháu gái một sỹ quan trưởng ngành pháo Hạm đội Biển Đen, người mà tại Sevastopol kể từ khi còn trẻ luôn luôn có các sĩ quan hải quân sáng chói bao quanh, sao bà lại chọn một anh trung úy không ai biết đến với cái tên Armenia? Larissa Leonidovna trả lời đơn giản:
- Boris rất đẹp. Không thể không yêu anh ấy.

Boris Surenovitch - một thủy thủ từ thời thơ ấu và là thủy thủ Trời sinh. Năm 1948, ông ở trong số những học viên tốt nghiệp đầu tiên trường hải quân Nakhimov. Đó là nói về họ, các chàng trai áo đen đội mũ không lưỡi trai mà người ta đã viết "Hành khúc Nakhimov", bây giờ dù hiếm hoi, nhưng thỉnh thoảng những âm điệu của nó vẫn vang trên sóng đài phát thanh: "Không gian màu xanh lam. Đất liền sau đuôi tàu ...".



Hồi đó tất cả các đồng nghiệp đều ghen tị với anh. Và con trai của Suren Surabekovitch Bagdasarian, một viên chức có trách nhiệm quản lý bể bơi tây bắc, người đã chết trong cuộc phong tỏa Leningrad, Boris đã may mắn tốt nghiệp cơ sở đào tạo ưu tú này. Anh không chỉ là một học viên giỏi - anh là một tay đánh nhau rất liều lĩnh. Người anh em họ của Bagdasarian, Aleksei Nikolaevitch Khvalko nhớ lại, khi vào ngày nghỉ hè Boris đến thăm người thân tại Moskva, cậu đã không chỉ một hoặc hai lần chứng tỏ phẩm chất chiến đấu của mình. Trong một cuộc đánh nhau với một cậu bé lêu lổng người bản địa, trước sự khoái chí của các cô bé, cậu luôn luôn thắng. Nắm đấm của cậu làm việc không biết thương xót, và khi "kẻ thù" đông hơn, thì xuất hiện thứ "vũ khí tấn công" - một đai lưng da hải quân rộng bản với tấm khóa kim loại nặng trịch, mà anh chàng học viên Nahimovets trẻ làm chủ một cách diệu nghệ.

Sau trường Nakhimov - là con đường thẳng tới Trường Cao đẳng Hải quân mang tên M.V.Frunze, và từ trường hải quân tới hạm đội. Tại đó Boris Bagdasarian không thường xuyên nhìn thấy "không gian xanh", ngoại trừ từ bờ biển hoặc qua thị kính kính tiềm vọng, bởi anh phục vụ trên tàu ngầm.

Vào đầu những năm 195x, hạm đội được bổ sung tàu ngầm diesel mới nhất đề án 613. Không giống như những con tàu tiền nhiệm của chúng, chúng được trang bị thiết bị RDP cho phép tàu ngầm đi ở độ sâu kính tiềm vọng bằng động cơ diesel và đồng thời sạc ắc quy. Tuy nhiên, việc phục vụ trên các "dizelyukha", dù là loại tàu ngầm mới nhất, vẫn còn rất nặng nề và khó khăn.

- Nhiều người, trong số đó có cả các sỹ quan tàu mặt nước đều gọi chúng tôi, các thủy thủ tàu ngầm là các "anh chàng công tử bột" vì thực tế chúng tôi hầu như không bao giờ cởi chiếc găng tay da - Bagdasarian kể lại. Tuy nhiên, những chiếc găng tay da tuyệt nhiên không chỉ là chứng nhân về một loại mốt của công ty thời trang, mặc dù sự thật là yếu tố này cũng có. Đeo găng tay là một thói quen vì các điều kiện phục vụ. Bởi lẽ trên các tàu ngầm diesel từng giọt nước ngọt đều phải tính toán. Trong những chuyến đi biển dài ngày, gần như người ta cấm sử dụng nó cho mục đích vệ sinh. Do đó thói quen tay không được loại bỏ, như vậy tay không chạm vào đồ, do đó không cần rửa tay thêm một lần nữa.

Huân chương Sao Đỏ đầu tiên của Bagdasarian được trao tặng năm 1955 vì đã tham gia một cuộc thử nghiệm độc nhất vô nhị - chuyến đi biển tự lập trong tư thế bơi ngầm dài nhất thời gian ấy.

Tàu ngầm S-70, chỉ huy bởi trung tá hải quân Leonid Rybalko mùa thu 1954 trong 30 ngày đêm liền đã không nổi lên mặt biển. Ắc quy được nạp qua thiết bị RDP. Đó là chuyến đi biển khó khăn cho tất cả, trong đó có người hoa tiêu trẻ - thượng úy Bagdasarian.

- Khi Boris trở về từ chiến dịch, trông anh thật khủng khiếp. - Larisa Bagdasarian nhớ lại. - Thân thể của anh ấy và đặc biệt là đôi chân sưng tấy lên và phủ đầy vết lở loét.
- Đó không chỉ là khổ nạn với tôi, mà là với tất cả các thành viên thủy thủ đoàn - Boris Surenovitch xác định lại. - Trên chiếc tàu ngầm tân tiến nhất vào thời điểm đó người ta chưa nghĩ ra cách tốt nhất bố trí hầm RDP và thiết bị ống thở, thông qua đó mà thông gió cho tàu ngầm trong thời gian sạc ắc quy dưới nước. Các chất khí thải được hút qua RDP rồi chạy ngược trở lại tàu. Mỗi khi chúng tôi thực hiện công việc này, mọi người thở hổn hển và nghẹn họng vì ho. Các cơ quan nhiễm độc, và cơ thể sưng tấy lên. Sau chuyến đi biển của chúng tôi các công trình sư đã áp dụng nhiều thay đổi thiết kế trong hệ thống thông gió. Sau khi hiện đại hóa, trong thời gian tàu đi trong chế độ RDP, việc nhiễm độc nặng khí thải không còn quan sát thấy nữa.

Chuyến đi biển độc lập 30 ngày đêm liền đã được Hải quân Xô Viết tổ chức chắc chắn không chỉ để kiểm tra tính hợp lý của việc đặt thiết bị trượt di động. Hạm đội Xô Viết đang chuẩn bị tiến ra đại dương. Chiếc tàu ngầm hạt nhân đầu tiên của Liên Xô đã được xây dựng. Trong các văn phòng thiết kế đang vẽ ra những nét phác thảo của con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân trong tương lai. Vậy thì vì cái gì mà phải phái những con tàu ngầm diesel thực hiện những chuyến bơi ngầm trong thời hạn chưa từng có như vậy. Mọi người sẽ hành xử ra sao trong những điều kiện bất thường? Họ có thể giữ vững tâm lý không? - Con người đã khắc phục được.

Thợ săn tàu sân bay

Sau khi tốt nghiệp lớp bổ túc cao cấp cho sĩ quan ở Leningrad, Bagdasarian lại được phân về Hạm đội Biển Đen, nhưng người sỹ quan cầu xin đừng gửi anh ta đến "cái hồ nước nóng" ấy nữa, mà hãy gửi tới đại dương. Và lại học tập một lần nữa - tại Obninsk, nơi đào tạo, và cho đến ngày nay vẫn đang đào tạo các kíp thuyền viên tàu ngầm hạt nhân. Gần một năm mặc đồng phục thiếu tá lục quân mà không phải đồng phục thuyền trưởng bậc 3 - thiếu tá hải quân. Màn "giả trang" này được bộ chỉ huy cấp cao đặt ra nhằm giữ bí mật.


Bộ máy lãnh đạo Trung tâm Đào tạo Hải quân ở Opninsk. Thứ ba từ trái sang ở hàng đầu - Chỉ huy trưởng Trung tâm đào tạo, Thiếu tướng lục quân (Chuẩn Đô đốc) L.G.Osipenko. I.I.Pakhomov. Sư đoàn thứ 3. Sư đoàn đầu tiên tại hạm đội. St Petersburg, 2011.

Và đây nơi phục vụ mới - Primorye. Ban tham mưu lữ đoàn tàu ngầm chỉ vừa mới đặt cơ sở trong làng Promyslovka, đường phố chính của làng có một cái tên nghe rất kêu là phố Nhà hát, nằm trong rừng taiga Ussuri. Lữ đoàn trưởng không có thời gian để đón tiếp viên sỹ quan mới đến, đặc biệt bởi vì chiếc tàu ngầm của ông vẫn còn đang được đóng tại Komsomolsk-na-Amur. Bagdasarian thậm chí còn chưa được sắp xếp chỗ nghỉ qua đêm. Anh đã ngủ đêm trên ... cây. Boris Surenovitch là một người đàn ông thành phố sâu sắc, và các tờ báo địa phương ông đã đọc, cho biết rằng tại làng Tinkan, bên cạnh làng Promyslovka, đã xuất hiện những con hổ-ăn thịt người. Đó là lý do tại sao, để không bị cám dỗ bởi số phận, người sĩ quan hải quân can đảm đã leo lên một cái cây, ngồi xuống trên một nhánh cây dày, ôm chặt thân cây bằng đôi tay của mình và ngủ thiếp đi. Sau đó, anh đã tìm hiểu và yêu mến mảnh đất này. Và thường trong các đợt nghỉ phép, anh cùng gia đình của mình ở trong rừng taiga, tại đó Bagdasarian đi săn và bắt cá.

Tàu ngầm hạt nhân đề án 675 (Echo-II theo NATO phân loại) mà trên đó Boris Surenovitch đã thôi đi biển nhiều năm, thuộc về phân lớp tàu tấn công tên lửa. Tổng tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov gọi chúng là "tàu sân bay ngầm", bởi vì mỗi tàu ngầm ngoại trừ ngư lôi, còn mang theo 8 tên lửa hành trình P-6 có các đầu đạn hạt nhân hoặc thông thường, bù đắp một phần sự thiếu thốn máy bay trên tàu sân bay của Hải quân Liên Xô. Trong Hải quân Mỹ chúng được thánh hóa là "sát thủ tàu sân bay", bởi vì chúng được thiết kế chủ yếu để tấn công các các đơn vị hợp thành và các tàu mặt nước lớn, đặc biệt là tàu sân bay.



Nhiều lần Boris Surenovitch, khi đã trở thành thuyền trưởng, phải "làm việc" với tàu sân bay «Midway» của Hạm đội 7 Mỹ. Nhưng thường xuyên hơn cả, "đối tác" của ông là tàu tấn công đổ bộ chở máy bay trực thăng «Tripoli» của Mỹ.

Năm 1968, Bagdasarian "tấn công" thiết giáp hạm Mỹ «New Jersey». Thời đó, Hoa Kỳ đang tiến hành chiến tranh ở Đông Nam Á, họ ném bom Đông Dương một cách tàn bạo, nhưng bản thân họ cũng phải chịu những tổn thất nghiêm trọng về nhân mạng và máy bay do lưới lửa PK của những người yêu nước. Đó là lý do tại sao Lầu Năm Góc quyết định bắn phá duyên hải Việt Nam từ phía biển. Để đạt mục đích này, phù hợp tốt nhất là các cỗ pháo tầm xa trên các thiết giáp hạm cũ, những con tàu nằm trong phương tiện dự trữ của Hải quân Mỹ. Năm 1968, họ mở niêm cất «New Jersey», và con tàu lấy hướng rong ruổi về phía Vịnh Bắc Bộ.

- Tôi bắt gặp con tàu đó gần quần đảo Hawaii, Bagdasarian nói với tôi. - Con tàu mở hết tốc lực nhưng không có tàu bảo vệ hộ tống. Tôi bám chặt theo nó, cẩn thận ẩn dưới lườn chiếc thiết giáp hạm. Máy tàu gầm vang át hết các tiếng động xung quanh. Tôi đoán nó không phát hiện ra tôi. Sau đó, tôi được giao nhiệm vụ thực hiện cuộc tấn công giả định vào «New Jersey». Tình huống - lý tưởng, ngay cả trên thao trường cũng rất hiếm khi có được. Tuân theo tất cả các quy tắc của nghệ thuật tác chiến trên biển, tôi thực hành cơ động và chuẩn bị cho đòn tấn công.
- Và ông đã đánh chìm nó sao?
- Nếu có mệnh lệnh, thì đương nhiên điều đó đã xảy ra. «New Jersey» là một con tàu được bọc thép rất dày, nhưng trúng 8 phát tên lửa của tôi nó sẽ không thể sống sót. Nhưng cuộc tấn công là giả định có điều kiện, dù cho khi ấy chúng tôi đã sẵn sàng để thực hiện bất kỳ mệnh lệnh nào.


........
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Chín, 2012, 07:53:53 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #104 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 12:32:42 pm »

(tiếp)

Một cảnh trên bờ vực lầm lỡ khác đã xảy ra giữa tàu ngầm của Bagdasarian với những tàu chiến Mỹ ở vùng biển Nhật Bản.

- Chúng tôi đi đến thao trường tập bắn. Tôi giương kính tiềm vọng lên và quan sát kỹ lưỡng đường chân trời. Nhìn thấy một dải bọt sủi của một chiếc kính tiềm vọng khác. Nghĩa là tàu ngầm Mỹ. Lập tức các đội viên thủy âm bắt được nó. Chúng tôi bắt đầu chơi trò trốn tìm. Tôi nhận thấy người đồng nghiệp vô danh của tôi hoàn toàn làm chủ tình hình và hành động chiến thuật rất tốt. Anh ta hướng vào bờ - vào phía lãnh hải của chúng tôi. Sự việc xảy ra vào mùa xuân, khi từ những vách đá bờ những dòng nước tan băng cuồn cuộn đổ ra. Tiếng ồn của chúng tạo ra một màn nhiễu khổng lồ đối với sonar.

Nhưng chúng tôi đã không cho phép bỏ qua chiếc tàu ngầm nước ngoài này. Nó vượt qua biên giới vùng lãnh hải, theo pháp luật của chúng tôi, tôi buộc phải dùng mọi phương tiện để ngăn chặn kẻ xâm nhập. Và các nguồn lực của tôi là gì? - Tên lửa và ngư lôi. Tôi ra lệnh: "Mở nắp mũi ống phóng ngư lôi". Tôi giương ăng ten lên khỏi mặt nước và báo cáo với bộ tư lệnh rằng đã sẵn sàng tấn công. Tôi được trả lời: "Đợi đã, chúng tôi sẽ đề nghị Moskva". Vậy là, thói quan liêu đáng nguyền rủa đời đời đã cứu vớt người Mỹ và giải trừ tội lỗi cho linh hồn tôi.

- Thực tế là Boris luôn luôn sẵn sàng mạo hiểm, và người ta không ngừng đuổi theo anh ấy trên đại dương. Cả trên con tàu của mình, cả trên những môi trường khác, - Larissa Bagdasarian buồn bã nhận xét. - Tôi hiếm khi nhìn thấy anh trong ngôi nhà của mình và anh được gọi là "người thuyền trưởng lưu động". Tất cả các huân chương của anh ấy rất đắt giá với anh và với tôi.

Nói ngắn gọn, như nhà văn Aleksandr Malyshkin, "chúng tôi là thủy thủ, chúng tôi là thuyền trưởng - chúng tôi điều khiển những con tàu điên dại".

Năm 1969, Bagdasarian nhận nhiệm vụ mới - Kamchatka, nơi anh tham gia ban chỉ huy tàu ngầm K-108 đề án 675.



Chuyên gia về "Những con bò cái rống"

Bull Balderston - trẻ hơn Bagdasarian chỉ một năm, nhưng con đường của anh ta bước tới cương vị thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân lại khác. Anh ta hoàn toàn chẳng mơ đến bước đường sự nghiệp phục vụ hải quân. Thời trẻ con, anh ta bị mắc một dạng bệnh thấp khớp nặng. Tuy nhiên, anh ta đã chiến thắng bệnh tật và trở thành một vận động viên giỏi. Anh ta yêu thích bơi lội và điền kinh.

Bull nghiên cứu về các loại côn trùng sa mạc tại Đại học Tổng hợp bang Nebraska, khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Bị xâm chiếm bởi cơn triều dâng của lòng yêu nước, anh ta xin gia nhập Hải quân. Nhưng anh ta lại rơi vào một đơn vị làm công tác thanh lý các loại đạn dược lỗi thời. Balderston và vợ anh ta, Irene, cảm thấy công việc quá nguy hiểm, đó là lý do tại sao anh sỹ quan trẻ chuyển đến phục vụ trên một tàu ngầm diesel.

Chiến tranh kết thúc. Bull quyết định hoàn toànrời khỏi hải quân, tiếp tục cống hiến cuộc đời mình cho y học. Thậm chí anh ta còn viết một lá thư xin chuyển ngạch dự bị, nhưng chưa kịp trình thì viên Đô đốc Hyman Rickover con người luôn bất ngờ-khó đoán khuyến cáo Balderston tiếp tục phục vụ trên một chiếc tàu ngầm hạt nhân mới nhất vừa đưa vào biên chế trang bị.



Ở đây cần làm rõ đề nghị này có nghĩa là gì. Nhỏ bé, yếu đuối, nếu không nói là tồi tàn, xuất thân từ một gia đình Do Thái nghèo di cư từ Ba Lan sang Hoa Kỳ, Hyman Rickover là một cơn giông bão và niềm tự hào của Hải quân Mỹ. Ông ta rất xứng đáng mang danh hiệu "cha đỡ đầu" của hạm đội tàu ngầm hạt nhân Mỹ. Rickover thực sự là một "đầu tàu" của ngành đóng tàu tàu ngầm hạt nhân. Ông ta thấu hiểu những chi tiết nhỏ nhất, cãi nhau với các nhà thầu - các tập đoàn hùng mạnh, yêu cầu họ tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật trong việc xây dựng các tàu ngầm.

Ông ta đích thân lựa chọn các thuyền trưởng và sỹ quan cho các con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân. Về những bài test khắc nghiệt của ông ta là cả một huyền thoại. Đô đốc có thể đặt câu hỏi cực kỳ vô lý và lạnh lùng nhìn xem viên sỹ quan có nhanh chóng tìm ra câu trả lời được hay không. Hoặc thậm chí đơn giản thế này: đặt thí sinh ngồi xuống một cái ghế có chân hỏng và khi anh kia ngã lăn ra sàn nhà, ông ta xem phản ứng của nạn nhân thế nào - hoảng hốt hay không? Rickover bị thù ghét và sợ hãi. Nhưng người ta cũng ngưỡng mộ và học hỏi ông ta. Trải qua trường học Rickover có rất nhiều thủy thủ quân sự Mỹ nổi tiếng và các nhà chính trị, chẳng hạn như Tổng thống Mỹ trong tương lai Jimmy Carter.


Đô đốc Hyman Rickover.

Vì vậy, khuyến nghị của Rickover đối với Balderston được tiếp nhận như thể một phần thưởng cao quý, và hơn nữa - như một dấu hiệu từ trên cao. Các đồng nghiệp tin rằng Bull - một ngôi sao đang lên của hạm đội tàu ngầm Mỹ. Anh ta nhanh chóng leo lên các bậc thang phục vụ. Thực ra, trong năm 1968, suýt nữa xảy ra một thất bại. Tàu ngầm hạt nhân "Scorpion" bị chìm ở khu vực quần đảo Azores trong quá trình di chuyển từ căn cứ hải quân Rota (Tây Ban Nha) tới Norfolk. Trong thời gian xây dựng chiếc tàu ngầm này Balderston là một sĩ quan giám sát từ phía Hải quân. Trong quá trình điều tra nguyên nhân của thảm họa Balderston bị thẩm vấn bởi đủ các loại ủy ban, nhưng người ta chẳng tìm thấy lỗi nào từ phía anh ta.

Vào đúng thời điểm đó trung tá hải quân Bull Balderston đang chuẩn bị con tàu "Tautog" (tautog - một loại cá chẽm) cho một chuyến đi biển xa và đầy nguy hiểm. Con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân nguyên tử, biểu trưng của nó là "Silent Vigilance", thừa hưởng tên của một tàu ngầm diesel-điện trong thời gian Thế chiến II của Hải quân Mỹ đã lập kỷ lục về số lượng các trận đánh thắng. Thủy thủ đoàn của nó đã dìm xuống đáy biển 26 tàu vận tải và tàu chiến Nhật Bản, trong đó có hai tàu ngầm.



Tên gọi cũng là nghĩa vụ. Balderston làm tất cả mọi thứ để con tàu của anh ta không đánh mất danh dự của những người tiền nhiệm đã xây đắp nên. Anh ta là một thuyền trưởng khắt khe nhưng không quân phiệt. Theo các đồng nghiệp của anh ta, trên bờ sau giờ làm, thuyền trưởng thích những bữa tiệc thân thiện. Ngoài ra bất kỳ thuyền viên nào cũng có thể túy lúy. Đồng thời Balderston cũng rất quan tâm chăm sóc sức khỏe của mình. Anh ta yêu cầu cà phê không chứa chất caffeine, trước mỗi chuyến ra khơi đi biển, anh ta cho chất đầy lên tàu hồ đào Hy Lạp mà Bull rất thích gặm, bởi vì anh ta tin rằng chúng tăng cường cơ tim và đặc biệt hữu ích cho cơ thể.

Và Balderston còn nổi bật bởi những cử chỉ biểu cảm bất thường. Cặp lông mày rậm của anh ta như thể bay khắp mặt. Rồi thì hoặc nó xếch ngược lên trên trán, lúc lại dường như rơi xuống dưới mũi. Điều này xảy ra mỗi khi thuyền trưởng có chuyện gì không hài lòng hoặc đang rất lo lắng.

Và mối bận tâm thì luôn có đủ ở mọi nơi. "Tautog" xuất phát hành quân về đông bắc Thái Bình Dương - tới bờ biển Xô viết - theo dõi tàu ngầm "Echo-II" để làm rõ các đặc tính kỹ-chiến thuật của "sát thủ tàu sân bay" và các khả năng của vũ khí tên lửa của nó.

Mùa hè năm 1969 "Tautog" lần đầu tiên đến Kamchatka. Ở đó hồi ấy có một trong các tàu ngầm Nga lớp "Echo-II" lúc thì bắn tập lúc thì tiến hành thử nghiệm. Con tàu của Balderston "dính" với nó theo đúng nghĩa đen. Công việc này rất mệt mỏi. Để không làm lộ chính mình, thỉnh thoảng phải tắt tất cả các máy bơm, gồm cả máy bơm dồn nước làm mát lò phản ứng. Tại tốc độ siêu nhỏ, con tàu 4800-tấn phải khó khăn lắm mới duy trì đúng độ sâu. Phiên trực chỉ huy dường như dài vô tận. Balderston đã hoàn thành nhiệm vụ.

Thông qua kính tiềm vọng, anh ta đã quay phim thành công không chỉ chiếc tàu ngầm Nga, mà còn cả việc nó.phóng đạn tên lửa. Các đội viên thủy âm "Tautog" ghi lại được tiếng ồn của "Echo" trong các chế độ khác nhau trên mặt nước cũng như khi bơi ngầm dưới nước.

Nói cho đúng, nhiệm vụ thứ hai thuộc loại không phải nhiệm vụ đặc biệt khó khăn. Tàu ngầm Xô viết chạy bằng năng lượng hạt nhân thế hệ 1 khác hẳn tàu ngầm Mỹ bởi mức tiếng ồn cao, nhưng tàu ngầm đề án 675 về mặt này, nói chung không có đối thủ để so sánh. Tuabin "hát", chân vịt "rít" và thêm vào đó là tiếng ồn thủy động lực học tạo ra trong khu vực ống thoát khí của ống phóng tên lửa hành trình. Tám thiết bị phóng như vậy ăn sâu vào thân tàu, nơi mà khi tốc độ tàu cao làm hình thành nên dòng nước xoáy, và tạo ra âm thanh giống như tiếng gầm. Đó là lý do tại sao các thủy thủ Mỹ đã đặt cho "sát thủ tàu sân bay" một cái tên thứ hai rất nhạo báng - "Những con bò cái rống".

Sau chiến dịch Balderston được trao tặng một trong những phần thưởng quân sự cao nhất - Huân chương "Công trạng" (Medal for Merit). Anh ta trở thành một thợ săn "bò cái rống" được công nhận. Thủy thủ đoàn đánh dấu sự kiện bằng cách đổi tên con tàu không chính thức sang "Tautog khủng khiếp", hoặc viết gọn - "The Terrible T".



Tháng 6 năm sau "The Terrible T" lại bơi qua đại dương đến bán đảo Kamchatka với một nhiệm vụ tương tự.

Larissa cầu nguyện cho sự cứu rỗi của chồng

Trên chiếc tàu ngầm hạt nhân mà đại tá hải quân Bagdasarian chỉ huy trong thời gian phục vụ tại Primorie có một con chuột. Thủy thủ thuần hóa nó và đặt tên cho nó là Masha. Nó sống trong phòng điều khiển trung tâm, nhưng không áp đặt sự hiện diện của nó trước mọi người - thường nó ẩn vào một nơi nào đó trong mạng đường ống và dây dợ. Tuy nhiên, bất cứ khi nào con tàu phải kiểm tra độ kín nước trước khi ra khơi thì con vật luôn xuất hiện. Một khi áp lực trong tàu giảm xuống và vang lên khẩu lệnh "Lắng nghe trong các khoang", con chuột chạy ra khỏi nơi ẩn nấp, ngồi trên hai chân sau, hai chân trước đập đập vào tai mình. Nào, cô nhỏ, hãy chấm dứt trò chơi của mình, màng nhĩ của tôi sẽ nổ tung.



Một lần tàu ngầm chuẩn bị ra khơi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tiếp theo. Đến tiễn con tàu là sư đoàn trưởng, chuẩn đô đốc Vladimir Yakovlevitch Korban. Ông đứng trên bến tàu và nói chuyện với Bagdasaryan, còn trên tàu đang kiểm tra độ kín nước. Cuối cùng trợ lý chính báo cáo: "Tàu ngầm đã sẵn sàng chiến đấu và sẵn sàng hành quân. Masha không thấy đâu cả". Korban không hiểu cụm từ không đúng điều lệnh cuối cùng và yêu cầu giải thích. "Đây là mã đặc biệt của chúng tôi," - Bagdasarian nói ngắn gọn, tâm trạng anh xấu đi rõ rệt.

- Tôi không thể bước vào một chuyến hành quân xa trên một con tàu, mà con chuột duy nhất trên đó đã bỏ chạy. - Bagdasarian giải thích cho tôi. - Cả kíp thủy thủ ngay lập tức nhận ra sự biến mất của Masha và vô cùng bỡ ngỡ. Bởi lẽ ngay cả dấu hiệu về sự đào tẩu của con chuột cũng đã được biết đến. Cần một cái gì đó để hoãn chuyến khởi hành.

Bagdasarian báo cáo đô đốc, không sẵn sàng cho chuyến độc hành, bởi vì người ta chưa chở các bao toit đến cho con tàu. Korban không thích chuyện đó, nhưng ông đã ra lệnh cung cấp tỏi. Quân nhân trên tàu kiên trì tìm kiếm Masha. Nhưng nó đã biến đi đâu đó. Và đây, người ta quẳng bao tỏi bên cầu tàu, mà con chuột vẫn chưa được tìm ra. Lúc ấy Bagdasarian tìm thêm một cái cớ để trì hoãn: anh thông báo với chỉ huy sư đoàn rằng có một khối thịt đông lạnh trong tủ lạnh có nhãn 1939. "Chúng ta sẽ đầu độc toàn bộ kíp thuyền viên trong chiến dịch này", - anh chứng minh cho đô đốc thấy. Korban rất tức giận, gọi ngay người cung ứng, cạo cho anh ta một mẻ và ra lệnh thay thịt ngay.

Bagdasaryan phải chuốc lấy sự khó chịu và bực bội vì làm dừng nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng Boris Surenovitch chịu đựng được. Trong khi đó, người ta một lần nữa kiểm tra độ kín nước của con tàu. Trợ lý chính xuất hiện và vui mừng báo cáo: "Tìm ra Masha rồi và nó đang kéo phong cầm tại chỗ". "Phong cầm gì vậy?" - Vladimir Yakovlevitch hỏi lại.


Chiếc sà lan trôi dạt "T-36" - chiến công của những người con của Liên bang Xô Viết.

Một thời gian ngắn trước khi có các sự kiện đang miêu tả, có một chiếc sà lan với bốn người lính trôi dạt ra Thái Bình Dương và lênh đênh trên sóng một thời gian dài trước khi họ được tàu sân bay Mỹ «Kearsarge» vớt lên.

Những chàng trai bị bỏ đói trong thời gian trải qua thiên "Odysse" bắt buộc đã phải ăn cả ủng và bao da chiếc phong cầm. Câu chuyện đó trở thành một câu nói đùa của những thủy binh Hạm đội Thái Bình Dương khi nói về phong cầm. Tại nốt nhạc tếu này mọi người tản ra rồi tạm biệt. Chiếc tàu ngầm từ từ rời bến. Gần ba tháng sau khi trở lại, Korban vẫn hỏi vè"mã" bí ẩn và Masha. Bagdasarian đặt tất cả mọi thứ ra một cách công khai. Vladimir Yakovlevitch suy nghĩ một phút sau đó nói: "Nếu không có con chuột này, tôi cũng sẽ không ra khơi".

Nhưng chuyến ra khơi này của tàu ngầm K-108 từ căn cứ tại Kamchatka ra thao trường huấn luyện trong vịnh Avachinsky, con tàu mà các thủy thủ, để một lần nữa không nhắc đến số chiến thuật bí mật một cách vô ích, người ta gọi với nhau nó là "Laila đen" – theo màu của thân tàu và để kỷ niệm một bài hát phổ biến trong những năm đó trong đội ngũ các thủy binh Hạm đội Thái Bình Dương, chuyến ra khơi đó không kèm theo bất kỳ điềm báo hiệu tai ương nào. Chuyến ra khơi này đã được lên kế hoạch, được thiết kế, tính toán tất cả mất ba ngày đêm. Một vài ngày sau Bagdasarian sẽ đi đến Leningrad nhập học tại Học viện Hải quân. Rõ ràng: tâm trạng của người sỹ quân đang hứng khởi. Không có dấu hiệu nào báo trước trục trặc. Kíp thủy thủ đi biển nhiều kinh nghiệm lắm rồi. Mọi người đều hiểu nhau khi chỉ mới nói nửa câu. Thời tiết tốt. Họ rời căn cứ ngày 23 tháng 6 năm 1970 và ngay lập tức bắt tay vào nhiệm vụ đào tạo cơ bản: lặn, nổi, cơ động, tiến vào tuyến phóng ngư lôi, v.v .
.........
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2012, 12:03:56 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #105 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2012, 08:32:45 pm »

(tiếp)

- Gần 02:00 giờ ngày hôm sau, khi đang kiểm tra lệnh nhận được từ ban tham mưu trên bờ, dường như người ta đang để cho chúng tôi nghỉ ngơi trong yên lặng, tôi chấp thuận kế hoạch cơ động tiếp theo, - Bagdasarian cho biết. Thực tế là, khi ở trong tư thế bơi ngầm, con tàu phải "quay như chong chóng": sau một thời gian nhất định quay đổi hướng để lần lượt cho phép các đội viên sonar lắng nghe vùng nước phía các góc đuôi tàu ngầm, bởi lẽ tiếng ồn của cơ cấu máy và chân vịt ngăn ta nghe các cung phía lái. Con tàu làm một vòng ngoặt trong khoảng 40 độ để lắng nghe vùng nước bên phải, sau đó đến các vùng bên trái, nhưng hướng tiến chung vẫn không thay đổi. Nhưng lúc đó tôi quyết định để cho thủy thủ đoàn nghỉ ngơi trong khu vực dẫn vào thao trường huấn luyện, bởi vậy sơ đồ cơ động rất đơn giản: định kỳ đổi hướng 90 độ. Nói cách khác, con tàu giống như một vận động viên tại sân vận động, chạy vòng tròn ở độ sâu 40 mét với tốc độ 5 hải lý.



Hồi 5:40 giờ tàu nổi lên chiều sâu kính tiềm vọng. Chân trời - sạch. Anten vô tuyến được giương lên: đến giờ vào phiên liên lạc với bờ. Không ai gửi cho chúng tôi bất cứ mệnh lệnh gì. Chúng tôi lại lặn xuống độ sâu 40 m và lại bắt đầu vòng ngoặt 90 độ. Và bất chợt lúc 5:48 đội viên thủy âm báo cáo rằng nghe thấy tiếng ồn. Anh ta phân loại mục tiêu như là một loại khí tài mô phỏng tàu ngầm. Phương vị mục tiêu nhanh chóng chuyển về phía mũi. 4 phút sau anh ta ngừng lắng nghe đối tượng. Mục tiêu và con tàu của chúng tôi rơi vào vùng bóng tối thủy âm. Rồi hồi 5:54 giờ vang lên một cú va đập...

Khi Boris Surenovitch dẫn câu chuyện của mình đến thời điểm va chạm, anh dừng lại rút ra một điếu thuốc, châm lửa rít, và tiếp tục:
- Cú va đập đánh trúng tàu ngầm chúng tôi ở vị trí cánh ổn định chính. Tàu ngầm ngay lập tức chúc mũi và bắt đầu chìm xuống vực sâu. Mà dưới lườn tàu của chúng tôi - 2000 mét nước. Tôi tuyên bố lệnh báo động khẩn cấp. Tôi ra lệnh thổi cụm ballast chủ đằng mũi – không hề có tác dụng. Tàu ngầm tiếp tục chìm. Tôi ra lệnh: "Kiểm tra trong các khoang". Đáp lại – chỉ là im lặng. Các chàng trai rõ ràng đang bị sốc. Tôi thừa nhận, mình bắt đầu có những nghi ngờ nghiêm trọng về khả năng nổi lên một cách thành công. Cần phải nói qua đường liên lạc những lời mạnh mẽ. Tiếp theo là báo cáo: "Khoang kiểm tra xong, không có hiện tượng gì". Còn đội viên thủy âm báo cáo: "Tôi nghe thấy tiếng ồn xả khí nén". Đến lúc đó, tất nhiên, tôi đã nhận ra tàu mình va chạm với một tàu ngầm khác. Và tiếng ồn của không khí nén được xả là sự chứng nhận cho việc "cô bạn" của chúng tôi hoặc đang nổi lên, hoặc đang chìm xuống cùng một kiểu như chúng tôi.


PLARK đề án 675: Echo-II class

Bagdasarian châm điếu thuốc thứ 2, và sau khi tạm dừng, anh tiếp tục câu chuyện:
- Độ chúi đằng mũi tăng lên rất lớn, đầu tiên 20", và sau đó gần 30". Chỉ huy ngành tác chiến 5 trung tá hải quân Volodia Dybsky lao từ khoang 2 vào phòng điều khiển trung tâm bằng cách bò tay, do cú sốc đôi chân ông từ chối tuân lệnh. Cảm ơn Chúa vì dung dịch điện phân ắc quy không bị trào ra ngoài, may mắn chúng tôi thoát khỏi hỏa hoạn và ngộ độc. Tôi đã muốn ra lệnh "đảo chiều", nghĩa là "đi lùi", còn bản thân mình thì nghĩ: "Đây sẽ là khẩu lệnh cuối cùng của tôi". Với độ chênh mớn dọc lớn đến mức này, rất khó chuyển sang chế độ khác vì đơn giản là các khớp nối không thể ăn khớp để đảm bảo đi lùi, thao tác cơ động đó sẽ không thành công. Và khi đó - chính là kết thúc. Đột nhiên, khi ở khoảng 70 mét, kim đo sâu phập phồng, kim dừng rồi bắt đầu di chuyển theo hướng ngược lại. Từ độ sâu khoảng 25 m, chúng tôi bay lên mặt biển giống như một chiếc nút chai bật tung khỏi chai sâm banh. Mà con tàu đó có độ choán nước đến 5 ngàn tấn rưỡi!

- Bao nhiêu thời gian anh tiếp tục rơi xuống vực thẳm?
- Từ bốn đến năm phút. Nhưng khi ấy chúng có vẻ như vô tận. Tóm lại, chúng tôi đã nổi lên. Chúng tôi cọ sạch cửa nắp. Mặt trời chiếu sáng. Đại dương - như một cái ao: không có gió, hoàn toàn yên tĩnh, tỏa sáng như tấm gương. Xung quanh không có ai và không có gì. Một suy nghĩ đáng sợ lóe lên: "Tôi đã đánh chìm một người anh em-thủy thủ tàu ngầm". Bất cứ anh ta là ai, người của mình hay người nước khác, rất khó để có thể nhận ra. Tai nạn được chúng tôi báo cáo về bờ. Ngay lập tức đội viên thủy âm cũng báo cáo nghe được tiếng ồn chân vịt của một mục tiêu ngầm dưới nước đang bỏ đi về phía đông nam với tốc độ 12 hải lý.



Nghĩa là họ vẫn còn sống. Và đối với chúng tôi đã đến thời gian di chuyển. Tôi ra lệnh: "Cả hai mạn vòng quay nhỏ tiến về phía trước". Đến đây chưa hết chuyện. Đường trục bên phải bị kẹt. Vậy là bằng  một chân vịt bên trái chúng tôi đã đi về đến căn cứ. Mọi việc trôi qua may mắn không có cuộc phiêu lưu nào nữa. Các đồng nghiệp ra đón con tàu thậm chí còn khen: họ nói rằng chưa bao giờ thấy một cảnh neo tàu nào với chỉ một trục chân vịt làm việc mà đẹp như thế, như tôi đã thực hiện hồi đó.
- Nhưng những cảm xúc tích cực ấy, xét toàn diện, không bị giới hạn chứ?
- Những cảm xúc dễ chịu thì không nhiều. Ai đó đã kịp tung tin đồn về thị trấn Rybatchi, rằng tàu đã gặp tai nạn dưới nước. Hãy tưởng tượng tình trạng những người thân của chúng tôi! Sau đó, Larissa cho biết cô ấy đã cầu nguyện cho tôi được cứu rỗi.


"Terrible T" chống lại "Laila đen"

Tháng 1 năm 1991, tờ báo "Chicago Tribune" xuất bản một bài báo giật gân của Christopher Drew, trong đó tham khảo tài liệu các thành viên thủy thủ đoàn "Tautog" báo cáo rằng chiếc tàu ngầm Mỹ này đã đánh chìm một tàu ngầm Nga ngoài khơi bờ biển Kamchatka. Tôi đề nghị Bộ Tổng tham mưu Hải quân làm rõ vấn đề. Ở đó người ta dứt khoát từ chối sự khẳng định về cái chết của chiếc tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của chúng tôi, nhưng xác nhận có vụ va chạm. Sau đó, chúng tôi đã làm quen với Bagdasaryan.

Thời đại của "Chiến tranh Lạnh" đã kết thúc. Boris Surenovitch nảy sinh ý tưởng gặp gỡ thuyền trưởng tàu ngầm Mỹ.

- Tôi không được cấp phép vào nước Mỹ, - anh nhận xét. - Tại Hoa Kỳ, tôi nghĩ rằng, chuyến đi ra nước ngoài sẽ dễ dàng hơn. Tôi mời người thuyền trưởng Mỹ tới thăm chúng tôi tại Moskva. Chúng tôi sẽ gặp nhau, sẽ cùng uống, và sẽ cùng nhớ lại "những ngày đã qua, những trận đánh đã qua, nơi chúng ta cùng nhau so kiếm ..."



Xem ra tất cả có vẻ đơn giản. Liên lạc với Chris Drew và người ta chuyển lời mời của Bagdasarian tới viên chỉ huy "Tautog". Nhưng không có câu trả lời. Về sự cố xảy ra ngoài khơi bờ biển Kamchatka năm 1970 và số phận của người thuyền trưởng chỉ huy "Tautog" đã được Drew nói đến với một vài năm sau này trong cuốn sách của ông "Trò chơi trốn tìm, viết cùng Sherry Sontag. Dưới đây là cái nhìn sự kiện kịch tính này từ phía Mỹ.

Khi đội viên thủy âm "Tautog" phát hiện ra "Black Leyla", ngay lập tức họ xác định rằng con tàu có những hành động khá kỳ lạ. Tàu đi thẳng nghĩa là một đối tượng lý tưởng cho cuộc "đi săn". "Terrible T" bám đuôi tàu ngầm Nga, và để không rời khỏi khu vực bóng tối thủy âm, nó tiếp cận tàu ngầm Nga ở khoảng cách cực ngắn. Thủy thủ Mỹ, như họ nói, "nhảy múa điệu cô-dắc dưới nước" vì tốc độ của cả hai tàu ngầm đều nhỏ, nên đòi hỏi rất nhiều nỗ lực để giữ hướng và độ sâu cho con tàu.

Bull Balderston nhìn chằm chằm vào màn hình sonar, luôn luôn lặp đi lặp lại cùng một từ: "Nó đấy... Nó đấy...". Đồng thời cặp lông mày của anh ta thực hiện những đường pirouettes không thể tưởng tượng được, cho thấy sự căng thẳng và sự khích động tột bực của anh ta. Dấu hiệu trên màn hình hết lúc này sang lúc khác cho thấy khoảng cách giữa 2 con tàu bằng không, nhưng sau đó một lần nữa, khoảng cách giữa các con tàu lại tăng vọt.

Đột nhiên chiếc tàu ngầm Nga bắt đầu nổi lên, sau đó lại lặn xuống, và bỗng dưng dấu hiệu trên màn hình biến mất. Trên "Tautog" người ta không thể xác định "Echo" đang ở chỗ nào, bên phải hoặc bên trái? Và rồi bất ngờ vang lên tiếng một đòn va chạm khủng khiếp. Có cảm giác hai chiếc ô tô đấu đầu nhau khi đang chạy trên đường cao tốc. Chân vịt của "Echo" bắt đầu đánh mạnh vào thân "Tautog" với tiếng nghiến kèn kẹt dữ tợn và tiếng rít khủng khiếp.



Trong phòng điều khiển trung tâm, tách cà phê uống dở bay vèo xuống sàn nhà cùng với bút viết, bút chì, và bất cứ thứ gì có thể rơi được. "Tautog" bị nghiêng ngang 30 độ về mạn phải. Sau đó một sức mạnh khủng khiếp đẩy lùi con tàu và ghì nó xuống vực sâu.



Đội viên thủy âm Paul Waters giật tai nghe khỏi tai. Anh ta cảm thấy màng nhĩ nổ tung vì tiếng ồn khủng khiếp, còn đồng nghiệp của anh - David Lindsay - bị cú đánh ném khỏi ghế bành, và anh ta vừa văng tục, vừa tụt như bay bằng gót chân theo chiếc cầu thang sắt xuống tầng thấp hơn. Theo thông lệ trong trường hợp như vậy, các thủy thủ đóng chặt các cửa vách ngăn. Trong khoang mũi còn lại một mình thủy thủ 18 tuổi Greg Greeley, mới xuống tàu ba tuần lễ trước khi ra khơi. Cậu bé, nói một cách nhẹ nhàng, đã phải trải qua một chục phút khó chịu, khi mà những đồng nghiệp lớn tuổi hơn còn chưa hồi tỉnh và nhớ đến sự tồn tại của cậu.

Độ nghiêng ngang cân bằng dần còn khoảng 10 độ về phía mạn phải. Lindsay đi lên lầu, về vị trí của mình và đeo tai nghe. Anh ta nghe thấy một âm thanh tương tự như khi rang bỏng ngô. "Thân bền tàu ngầm Nga đã bị phá hủy" - anh chàng acoustician đi đến kết luận này, và báo cáo thuyền trưởng.

Balderston ra lệnh mở hết tốc lực lấy hướng đi về Trân Châu Cảng, nhưng con tàu không thể ép tốc độ lên hơn 12 hải lý. Số phận của những người Nga thì không thấy ai nói. Khi tiến hành các chiến dịch bí mật, bộ chỉ huy có lệnh cấm nổi lên ngay cả trong trường hợp xảy ra sự cố, nhưng về tổng thể, điều đó giống như đối diện với cuộc đào thoát cuối cùng ra khỏi nơi xảy ra sự cố.

Về phần "Tautog", do vụ va chạm với "Black Leyla", phần mui tàu bị ảnh hưởng nhiều nhất, đó là nơi lĩnh trọn cú va đập. Trong cuộc chạy trốn khỏi bờ biển nước Nga, các tấm thép tháp mui hết tấm này đến tấm khác bị giật tung ra và đập vào thân tàu với những tiếng gầm vang rền.

Vào ban đêm khi «Тautоg» nổi lên, trông nó thật kinh sợ. Thay vào tháp mui — một kết cấu gì đó, như thể lẫn lộn những mảnh các tông nhàu nát, một trong 2 kính tiềm vọng bị gãy, thiết bị ăng ten cũng hư hỏng méo mó. Cửa nắp tháp mui không thể mở được. Nó bị kẹt bởi mảnh vỡ chân vịt tàu ngầm Nga.
Các thuyền viên chưa bao giờ nhìn thấy thuyền trưởng của mình ê chề như vậy. "Tất cả hết rồi. Than ôi đường sự nghiệp của tôi đã chấm dứt, — anh ta rên rỉ. — Tôi buộc phải quên đi những ngôi sao ". Balderston nói đến ngôi sao đô đốc mà anh ta đang mơ ước.

Vài giọt nước mắt trên đôi giày đầy bụi

"Tautog" bò về đến Trân Châu Cảng ngày 01 tháng 7. Vào ban đêm, tàu được đưa lên dok, và tháp mui méo mó biến dạng được người ta dùng bạt che kín. Tất cả các thành viên của thủy thủ đoàn được người ta yêu cầu ký cam kết không tiết lộ thông tin liên quan đến vụ việc. Người ta lấy ra tất cả các mảnh kim loại Nga to nhỏ kẹt trong thân tàu mà các thủy thủ lấy làm kỷ niệm.

Trái với mong đợi, Balderstona không bị buộc tội vì những gì đã xảy ra. Chỉ có một mệnh lệnh được ban hành, khuyến cáo các thuyền trưởng tàu ngầm khi theo dõi các tàu ngầm của đối phương phải "giữ khoảng cách". Balderston thậm chí còn được đẩy lên cao, được bổ nhiệm làm tư lệnh một đơn vị tàu ngầm, trong đó có "Tautog", nhưng cầu vai đô đốc thì anh ta không bao giờ nhận được. Ngôi sao của anh ta đã xuống và không còn kịp lên nữa. Bảy năm sau, anh ta rời Hải quân và trở thành ... nhà truyền giáo dòng Baptist.

Còn ở phía bên kia của đại dương, các sự kiện diễn tiến theo kịch bản Xô viết "tội ác và trừng phạt": một số đồng chí thuyết phục Bagdasarian yên tâm, rằng đã đến lúc anh mặc quân phục đại lễ đục lỗ đêt đeo huân chương rồi, những người khác thì giữ ý kiến khác. Và, than ôi, những ý kiến sau đã được thời gian chứng minh là đúng. Bắt đầu công cuộc kéo lê giày trước các cấp trên.


Sư đoàn tàu ngầm số 10.

- Hướng vào học viện của tôi đã bị cắt đứt - Boris Surenovitch nói. - Người ta tuyên bố tình trạng không hoàn toàn phù hợp trong công tác phục vụ quân đội. Tuy nhiên, theo thông lệ thời đó, hình phạt cho tai nạn xảy ra vẫn là còn nhẹ. Sau đó, mới đến lượt tra tấn - Đảng ủy đưa ra xem xét trường hợp của tôi. Và anh có biết những loại thủy thủ nào dự họp không: các chủ nhiệm kho hậu cần, và những người chẳng bao giờ đi biển khác. Tư lệnh binh đoàn, chuẩn đô đốc Yakov Ionovitch Krivorutchko biết tính nóng nảy của tôi, trước khi cuộc họp đảng ủy bắt đầu ông ấy cho biết: "Đừng hà tiện. Hãy rỏ một vài giọt nước mắt xuống đôi giày bụi bặm". Tôi thỏa thuận với ông rằng nếu ông vỗ nhẹ vào đầu gối thì tôi phải im lặng, dù người ta nói tôi thế nào. Tôi hành động đúng theo lệnh của người chỉ huy cao cấp, nhưng tôi vẫn bị khiển trách nghiêm khắc ghi lý lịch. Nhưng sau 6 tháng thì tôi được phục hồi. Nhiều năm sau, khi có sự trao đổi các văn bản của đảng, dòng ghi chú đó biến mất khỏi sổ phục vụ của tôi, mặc dù tôi yêu cầu cứ để lại. Bởi sẽ tìm được rất ít những người cộng sản, mà trong cuốn sổ phục vụ của họ người ta đọc được: "Cảnh cáo nghiêm khắc về mặt đảng vì để xảy ra va chạm với tàu ngầm hạt nhân Mỹ trong tư thế bơi ngầm".


Krivorutchko Ionovich Yacov (bên phải) có thể thẳng thắn được liệt vào số những thủy thủ tàu ngầm huyền thoại của Hạm đội Thái Bình Dương, những người chỉ huy mà người ta coi việc được đi biển cùng họ là một vinh dự. - A.Ostrovsky.
...........
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2012, 03:26:04 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #106 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2012, 10:10:55 pm »

(tiếp)



Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình K-108 đề án 675 - "Laila đen" và kíp thủy thủ tại Cam Ranh, tháng 10 năm 1982.

- Tầu ngầm của anh bị thương thế nào? Nó có được các tàu khác trợ giúp gì không?
-Sau khi chúng tôi báo cáo sự cố về bờ, người ta đã phái đến cho chúng tôi một chiếc tàu kéo, nhưng chúng tôi không yêu cầu nó trợ giúp gì cả. Tiện thể nói thêm rằng, người ta đã tổ chức tìm kiếm chiếc tàu mà chúng tôi đụng phải. Tàu chiến và máy bay đã cố gắng để tìm ra chiếc tàu ngầm kia nhưng vô ích. Ngay sau khi về đến căn cứ, phần ngầm của thân con tàu của chúng tôi đã được các thợ lặn khảo sát, và họ đã phát hiện trục truyền lực chân vịt bên phải bị bẻ cong. Và trên dock người ta mới thấy: cú đánh nện thẳng vào thân tàu theo đúng nghĩa đen. Trục truyền này đã cứu con tàu. Khi đó thủy thủ đoàn thậm chí đã tổ chức ăn mừng: "Hãy uống mừng vì trục chân vịt!" (Nói thêm, các thủy thủ “Tautog" cũng đã làm một cuộc ăn mừng tương tự theo nghĩa: ''Hãy nâng cốc vì thép NU-80" - thép mác NU-80 được dùng làm vỏ tàu ngầm). Trên phần vỏ nhẹ có một lỗ lớn: một chiếc xe buýt có thể dễ dàng chui qua. Trên thực tế, nếu "Tautog" cắt vài mét nữa về gần phía trung tâm tàu ngầm, chúng tôi sẽ chẳng thể thoát khỏi tai họa. Tàu ngầm Mỹ, không nghi ngờ gì nữa, đã đâm bị thương vỏ nhẹ và vỏ bền của tàu ngầm chúng tôi.


Lỗ thủng ở thân K-108 sau vụ va chạm với USS "Tautog" SSN-639. Có thể nhìn thấy rõ trục truyền chân vịt phải. – Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu. - St Petersburg, năm 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.

Vật kỷ niệm vụ va chạm với "Tautog" mà Boris Surenovitch còn giữ lại là một mảnh thép nặng của thân tàu - một mảnh vỡ từ vỏ tàu ngầm Mỹ, mắc vào thân tàu ngầm K-108.

- Trong quá trình sửa chữa, chúng tôi tìm thấy rất nhiều miếng sắt Mỹ ở phần đuôi tàu của chúng tôi – Bagdasarian cho biết. - Thật không may, hầu như tất cả các thành viên thủy thủ đoàn đều được các nhân viên KGB yêu cầu nộp lại trước khi tàu ra khỏi nơi sửa chữa. Họ cũng yêu cầu tôi phải giao nộp mẩu thép nước ngoài - Tôi thẳng thừng từ chối. Họ phẩy tay và bỏ đi.

- Kết thúc của câu chuyện này ra sao?
- Mất một tháng sửa chữa, sau đó con tàu được gửi đi thực hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu ở bờ biển California. Như chúng tôi hồi đó thường nói đùa, "hãy tắm rửa bằng máu của kẻ phạm tội." Trước khi ra khơi, tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát trong thủy thủ đoàn: ai từ chối đi với tôi, tôi sẽ để lại trên bờ mà không trách móc gì. Chỉ có một chuẩn úy hải quân từ chối. Tất cả những người còn lại vẫn bày tỏ sự tin tưởng vào thuyền trưởng chỉ huy. Hai tháng làm nhiệm vụ tại khu vực ngoài khơi San Francisco. Người ta cũng xóa bỏ cho tôi mọi hình phạt không phù hợp. Năm sau, họ vẫn gửi tôi đến học ở học viện.
- Nếu tàu của anh hoặc của người Mỹ, hoặc thậm chí cả 2 tàu đều bị chìm, hậu quả gì có thể xảy ra?
- Những hậu quả nghiêm trọng nhất. Ngoài các lò phản ứng hạt nhân, tàu ngầm của chúng tôi, cung tàu ngầm Mỹ theo tôi biết, đều mang theo trên tàu vũ khí hạt nhân. Các lò phản ứng đang ở chế độ hoạt động. Và hoàn toàn có khả năng người ta không tắt được chúng. Khi đó chỉ Thiên Chúa mới biết điều kết thúc là gì, thậm chí còn nhiều hơn những gì tưởng tượng như vậy trong thời đại gian nan của "Chiến tranh Lạnh".

Boris Surenovitch còn nói nhiều về thời đại ấy. Bản thân anh ấy từng "săn lùng" các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Mỹ.



- Tại sao "Black Leyla" và các "chị em" của nó, vốn được thiết kế để dành cho các cuộc tấn công các loại tàu mặt nước lớn, lại được huy động cho cả các chiến dịch chống tàu ngầm?
- Tàu ngầm đề án 675 được lắp đặt hệ thống sonar "Kerch", mới nhất tại thời điểm đó – Bagdasarian cho biết. - Trên thực tế, tổ hợp đó được thiết kế để phát hiện các loại tàu mặt nước, nhưng nó cho thấy đạt kết quả rất tốt trong việc phát hiện các mục tiêu ngầm dưới nước. Theo đặc điểm của mình, nó gần với hệ của Mỹ. Đó là lý do tại sao chúng tôi được huy động tham gia các chiến dịch săn tàu ngầm. Tuy nhiên, do độ ồn cao của các tàu ngầm chúng tôi mà hiệu quả sử dụng tổ hợp này bị giảm đáng kể - phải nhờ đến các loại thủ thuật khác nhau chúng tôi mới hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của mình.

- Chúng là những loại gì?
- Thường xuyên hơn cả, tôi phải theo dõi các tàu ngầm tên lửa hạt nhân Mỹ, đóng quân ở căn cứ Apra tại Guam. Tại đây, chiều sâu lớn và thủy văn phức tạp là những thứ gây khó khăn cho việc phát hiện và theo dõi. Theo mệnh lệnh tác chiến, chúng tôi không được phép tiếp cận tới giới hạn vùng lãnh hải của Hoa Kỳ gần hơn năm dặm. Mà chiều rộng vùng lãnh hải Hoa Kỳ thời đó là 3 dặm. Tổng cộng, chúng tôi đã có 8 dặm. Tuy nhiên, ở khoảng cách xa như vậy để phát hiện tàu ngầm Mỹ ra khơi tuần tra thì thật khó khăn. Tuy nhiên, trong các mệnh lệnh chiến đấu người ta cũng nói rằng chúng tôi cần "xác định" tàu ngầm tên lửa của Mỹ. Nghĩa là, đã có một sự mâu thuẫn giữa những gì chúng ta phải làm, và những gì chúng ta không có quyền làm – cần phải lựa chọn. Tôi hành động như thế này: khi nhận được tin tình báo về việc tàu ngầm Mỹ chuẩn bị ra khơi, tôi phái con tàu của mình đi vào vùng cấm 5 dặm đối với tôi, và trường hợp này tôi lựa chọn ở trong lãnh hải của Hoa Kỳ.


Căn cứ tàu ngầm Mỹ ở APRA. Ảnh vệ tinh.

- Anh vào sâu lãnh hải Mỹ bao xa?
- Một dặm rưỡi.
- Nhưng vậy thì anh đã vi phạm mệnh lệnh!
- Đúng. Tuy nhiên, vi phạm chỉ một mệnh lệnh, chúng tôi lại thực hiện được mệnh lệnh khác quan trọng hơn – Phát hiện tàu ngầm Mỹ.
- Anh có báo cáo bộ tư lệnh về các vi phạm đó không?
- Theo các tài liệu và bản đồ chúng tôi xuất đi, chúng tôi không hề thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm nào. Mà chỉ báo cáo với bộ tư lệnh về nhiệm vụ chính - phát hiện và theo dõi các tàu ngầm Mỹ. Tôi nghĩ rằng bộ tư lệnh có thể đoán ra trò hề của chúng tôi, nhưng quay mặt làm ngơ với nó, vì họ cần báo cáo với thủ trưởng cấp trên của họ về việc thực hiện nhiệm vụ chính, và thủ trưởng sẽ không xoa đầu vỗ về nếu như chúng tôi không thể phát hiện người Mỹ.
- Đó là những chiến dịch mạo hiểm?
- Vâng rất mạo hiểm. Đôi khi tôi cảm thấy mình bạc hết tóc trước cặp mắt các cấp dưới của mình trong phòng điều khiển trung tâm. Nhưng không có gì, mọi sự rồi cũng qua.


Hải cảng APRA, đảo Guam.


Lặp lại mà không lược trích!

Bull Balderston không thể trả lời Bagdasaryan, cũng không nhận lời mời của ông. Người thủy binh Mỹ qua đời vì suy tim vào năm 1984, kết quả của bệnh thấp khớp mang từ thời thơ ấu, và, nhất là, vụ việc xảy ra ngoài khơi bờ biển Kamchatka. Cựu thuyền trưởng USS "Tautog" SSN-639 chắc chắn rằng ông ta đã đánh chìm chiếc tàu ngầm Nga. Nỗi đau đó vẫn được nhà truyền giáo dòng Baptist mang trong mình. Vợ ông và những người thân khác chỉ biết được sự việc xảy ra ở Thái Bình Dương nhiều năm sau khi Balderston đã chết.

Phải nói thêm, Bộ chỉ huy Hải quân Mỹ và các nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu của Hoa Kỳ cũng tin tàu ngầm Nga "Echo-2" đã chìm. Như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird nhớ lại, lúc ông ta báo cáo sự việc cho Tổng thống Richard Nixon, tổng thống giữ một vẻ mặt rất khó hiểu. Việc kìm chế phản ứng của người đứng đầu Nhà Trắng có thể giải thích được. Hai năm trước, người Nga đã mất một tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo kiểu "Golf" tại Thái Bình Dương. Tuy nhiên, Lãnh đạo Sô Viết không bận tâm đến chuyện thông báo cho thế giới biết về sự việc bi thảm đó. Rõ ràng, Nixon đánh giá rằng, tại thời điểm này, điện Kremlin sẽ không làm ầm ĩ. Và ông ta không lầm.


Phản ứng của Moskva - im lặng.

Boris Bagdasarian sống sót thêm so với đối thủ dưới nước của ông mười sáu năm nữa. Ông mất ngày 04 tháng 5 năm 2000 do căn bệnh nghề nghiệp của các thủy thủ tàu ngầm nguyên tử thế hệ 1 – bệnh ung thư.

Cũng là đủ để lật qua tài liệu "Tàu ngầm  Nga. Tàu ngầm hạt nhân. Thế hệ đầu tiên. Lịch sử xây dựng và khai thác 1952-1996 (sổ tay tham khảo khoa học và lịch sử), St Petersburg, năm 1996. tập IV, phần 1.", để ta khẳng định: chiếc tàu ngầm hiếm hoi thoát được tai nạn lò phản ứng hạt nhân. Không thể thoát khỏi cuộc tấn công này là con tàu của Bagdasarian.

Một lần, con tàu mà ông chỉ huy trở về sau một chuyến đi biển thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Theo dự kiến, thủy thủ đoàn sẽ tiến hành kiểm tra tàu và thực hiện sửa chữa nhỏ sau chiến dịch đi biển. Bagdasaryan được báo cáo rằng trong một tuyến ống chính tại khoang lò phản ứng, dường như đã có những vết nứt siêu nhỏ, thông qua đó chất lỏng rỉ ra thành giọt, và chất lỏng này là chất "fonit" ghê gớm. Thuyền trưởng báo cáo lên cấp trên, tại đó người ta hứa sẽ gửi tổ chuyên gia sửa chữa, nhưng mãi không có ai xuất hiện trên tàu.

Bagdasarian một lần nữa báo cáo cấp trên, người ta một lần nữa tiếp tục hứa hẹn, nhưng chuyên gia sửa chữa không thấy đến. Lúc đó Bagdasarian đã làm một động thái tuyệt vọng, theo ý nghĩa đầy đủ của từ này, ông bước vào vũng chất lỏng phóng xạ và ngay lập tức đi kiểm xạ tại bốt kiểm xạ ở đầu ra của căn cứ. Và tại đó bàn chân Bagdasarian "rung chuông báo" rằng có uric. Người ta tuyên bố báo động. Bagdasarian và thủy thủ đoàn của ông - cách ly. Xảy ra một vụ scandal, nhưng vì thế mà đội sửa chữa nhanh chóng được gửi đến.

- Nếu tôi không làm điều đó, thì từ từ rồi cả nhóm sẽ bị nhiễm xạ hết - Boris Surenovitch giải thích lý do cho "trò hề côn đồ" của ông. - Tôi bước chân phải vào vũng chất lỏng, và sau đó “ung thư” chạy lên thận phải của tôi.

Bagdasarian không hiểu sao chắc chắn rằng chính cảnh tượng đó đã sinh ra khối u ác tính. Có thể. Mặc dù những lý do khác dẫn đến sự phát triển bệnh ung thư ở ông đã có đủ.

Ngày 10 Tháng 8 năm 1985 xui khiến ông có mặt tại vịnh Chazhma, nơi tại nhà máy sửa chữa tàu biển xảy ra một vụ nổ trong thời gian nạp liệu lò phản ứng tàu ngầm K-431. 10 người thiệt mạng ngay một lúc. Những cái chết khác, gây ra bởi mini-Chernobyl, sẽ đến trong nhiều năm nữa. Đại diện của Cục huấn luyện chiến đấu Bộ Tổng tham mưu Hải quân Bagdasaryan chịu trách nhiệm về đào tạo các kíp thủy thủ tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân, nói chung ông không bắt buộc phải đi vào địa ngục, nhưng ông có trong danh sách những người đi giải quyết hậu quả vụ tai nạn.


Cùng một bến tàu đó ngày hôm nay - hoàn toàn hoang vu và ký ức ... - "THỰC TẾ ĐEN" trước khi CHERNOBYL. Sergei Smolyannikov. - Thế giới Nga. Ukraine.

Boris Surenovitch không cắt đứt quan hệ với hạm đội cả sau khi nghỉ hưu năm 1988. Đến khi ấy, miễn là bệnh tật không đè gí ông xuống giường, ông vẫn làm việc tại Học viện Bộ Tổng tham mưu, tại đó ông chia sẻ kinh nghiệm và các bí mật nghề nghiệp của mình với các chỉ huy hải quân trong tương lai.

Larissa Leonidovna Bagdasarian sống lâu hơn chồng thêm hơn một năm một chút. Bà đã xây dựng được một đài kỷ niệm chồng tại nghĩa trang Vostriakovskoie rồi mới chết ...

Tôi đã có cơ hội chứng kiến cuộc phỏng vấn của Bagdasarian dành cho người dẫn chương trình "60 Minutes" của đài truyền hình Mỹ CBS Mike Wallace. Cuộc phỏng vấn này xảy ra ở khách sạn "Intourist", chỉ cách hai bước tới khách sạn "Quốc gia" mà Boris Surenovitch trong những giấc mơ vẫn thấy mình chạm đuôi tàu K-108 vào đó.

- Tôi rất tiếc đã không gặp được thuyền trưởng "Tautog", - ông nói. - Tôi luôn luôn tôn trọng các thủy thủ Mỹ, mà chúng tôi đã "chiến đấu" với họ trong nhiều năm. Và tôi luôn nhớ đến thời ấy với niềm tự hào. Nếu tôi được sống lại cuộc đời tôi một lần nữa, tôi chỉ muốn lặp lại nó nguyên xi mà không hề lược trích.



Bagdasarian Boris Surenovitch. Sinh ngày 14 tháng 3 năm 1930 tại Erevan thủ đô nước CHXHCN  Xô Viết Armenia (ASSR).

Giáo dục: Năm 1948, tốt nghiệp lớp 10 trường dự bị Hải quân Nakhimov Leningrad, năm 1952 – tốt nghiệp Cao đẳng Hải quân mang tên Frunze, năm 1959 – Tốt nghiệp Khóa bổ túc cao cấp cho sỹ quan Hải quân (VSOK VMF), năm 1972 – tốt nghiệp khóa dự thính Học viện Hải quân (AKOS VMA).

Phong quân hàm: 5.7.1952 - Trung úy. 21.7.1954 – Thượng úy. 24.08.1956 – Đại úy hải quân, 17.09.1959 – Thiếu tá hải quân, 4.11.1962 – Trung tá hải quân, 21.7.1967 – đại tá hải quân.

Phục vụ quân đội: học sinh Trường dự bị Hải quân Nakhimov Leningrad (đến 1948); học viên Cao đẳng Hải quân mang tên M.V. Frunze (19.08.1948); chỉ huy ngành tác chiến 1 S-33 (5.7.1952); chỉ huy ngành tác chiến 1-4 S-70 Hạm đội Biển Đen (9.3.1953); trợ lý thuyền trưởng S-70 Hạm đội Biển Đen (21.07.1954); trợ lý chính thuyền trưởng S-73 Hạm đội Biển Đen (24.06.1955); học viên dự thính Khóa bổ túc cao cấp cho sỹ quan Hải quân (VSOK VMF) (24.12.1958); trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử Hạm đội Biển Bắc (17.7.1959); trợ lý chính thuyền trưởng K-59 Hạm đội Thái Bình Dương (29.6.1960); thuyền trưởng K-59 sư đoàn tàu ngầm số 26 Hạm đội Thái Bình Dương (5.5.1963); thuyền trưởng K-57 sư đoàn tàu ngầm số 26 Hạm đội Thái Bình Dương (21.1.1967); thuyền trưởng K-108 sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương (29.10.1968); học viên dự thính Học viện Hải quân (AKOS VMA) (19.10.1971); thuộc quyền điều động của Tổng tư lệnh Hải quân (29.7.1972); sĩ quan cao cấp Cục Huấn luyện Chiến đấu Hải quân (14.08.1972). Nghỉ hưu theo lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, 25.11.1987.


Baghdasaryan với "chiến lợi phẩm" ảnh P.Krivtsov. – Cuộc đấu bò trên vực thẳm. Aleksandr Mozgovoi. – “Tạp chí Hàng hải” № 7 năm 1992.

CÔ HÊU.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2012, 11:20:07 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #107 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 12:58:59 am »

(tiếp theo post #103)

Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại.
 Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov.


Nhìn lại kế hoạch, nảy sinh hai câu hỏi.
- Sự cần thiết nào bắt phải đưa tàu ngầm ra vị trí chiến đấu, khi mà chiến tranh cục bộ đang diễn ra ở đầu bên kia địa cầu?
- Làm thế nào lại có thể đưa vào lệnh tác chiến nhiệm vụ chiến đấu cho một tàu ngầm (biển kín) cỡ trung – phải hành động vượt ra ngoài bán kính chiến thuật của con tàu trong khu vực có bão mùa đông khắc nghiệt, không có sự đảm bảo an toàn nào?

Phải nói thêm rằng, chính đây là chiếc tàu ngầm S-178, con tàu đã thực hiện chiến dịch khó nhọc chưa từng có, nhưng 25 năm sau lại bị chìm trong một tình huống vô cùng đơn giản gần Vladivostok vì một vụ va chạm tàu đánh cá.



Các thành viên tham gia chuyến đi biển đã thừa nhận rằng sau khi đi biển được hơn một tuần, người ta lấy ra được từ bản thân mình một chất dịch nhầy màu đen, thoát ra từ bên trong thùng  nước uống đã bốc mùi.

Hoàn toàn không làm giảm nhẹ phẩm chất của kíp thủy thủ S-178 trong cuộc hành quân khó khăn trên, tác giả lưu ý trường hợp khi các tàu ngầm cùng đề án buộc phải hoạt động trong điều kiện có bão hoành hành với các đợt sóng khổng lồ (S-393 khi chiều cao sóng 20 mét, thuyền trưởng V.Kachanov chỉ huy, S -176 khi chiều cao sóng 30 mét, thuyền trưởng Yu.Stepantsev chỉ huy), nhưng những yếu tố này, tuy nhiên, có thời gian tác động ngắn hơn ...

Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Caribbean (tháng 10 năm 1962), khi hai nửa thế giới "nóng tai" theo nghĩa đen, vào đêm trước của Thế chiến 3 (lần này – chiến tranh hạt nhân), ban lãnh đạo Liên Xô đã đưa ra triền khai:
- trong khu vực "Island of Freedom" (Sargasso Sea) – thê đội thứ nhất gồm bốn tàu ngầm diesel Project 641 ("Foxtrot"), vốn không phù hợp hoạt động trong khu vực cận xích đạo.

Một số người hâm mộ những điều tương tự của lịch sử có thể phản đối: "Nhưng U-boat của Đức đã hoạt động ở Vịnh Mexico trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ II, và hơn nữa, hoạt động rất thành công!"

Có, họ đã hành động. Tuy nhiên, thứ nhất, đó là trong một hoàn cảnh lực lượng săn ngầm của Hải quân Mỹ tương đối yếu; thứ hai, họ đã hành động giống như những chiếc tàu lặn (ban đêm – nổi lên mặt biển, ban ngày tùy thuộc vào mức độ rủi ro dự kiến). Tất nhiên, người Đức không bơi trong môi trường êm ái của một khu nghỉ mát.

Các tàu ngầm Liên Xô hoạt động tại các khu vực tập trung quy mô lớn lực lượng Hạm đội 4 Hải quân Hoa Kỳ, theo nghĩa đen là bị đập tơi bời dưới mặt nước. Ba trong số họ đã bị người Mỹ phát hiện, bị truy đuổi liên tục và buộc phải nổi lên mặt biển sạc ắc quy. Như ta biết, sau khi nổi lên trước tàu chiến đối phương thì tàu ngầm - không còn là một tàu chiến nữa, mà chỉ còn là một chiếc bình chứa nổi.


Pr. 641: đang cắt qua vùng nước thù địch. Ảnh chụp từ một máy bay tuần biển của NATO

Rất đặc trưng là nhận xét của các nhà lãnh đạo cao cấp Bộ Quốc phòng Liên Xô khi nghe báo cáo của các thuyền trưởng trở về sau chiến dịch này: Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Nguyên soái A.A.Grechko không thể hiểu "tại sao tàu ngầm lại nổi lên" (ông thực sự tin tưởng rằng đó là các tàu ngầm nguyên tử), và còn ngạc nhiên hơn nữa - tại sao các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô, sau khi nổi lên, không ném lựu đạn cầm tay vào các tàu khu trục và tàu sân bay Mỹ.

Vận động một thời gian dài trong dải cận xích đạo của hải lưu Gulf Stream, các kíp tàu ngầm "bị luộc chín như cua" bên trong thân tàu, không hề có hệ điều hòa không khí và hồi đó thì tuyệt nhiên không. Tuy vậy, một trong các tàu ngầm trên vẫn có thể thoát được cuộc truy đuổi.

Một mệnh lệnh khủng khiếp của Hải quân Xô viết về chiến dịch này đã được ban hành kịp thời cho các nhóm tàu ngầm của Hạm đội Biển Bắc. Thật không may, các thủy thủ tàu ngầm kỳ cựu còn sống sót cho đến nay, rất miễn cưỡng kể lại việc làm vinh quang của họ, vì điều đó gián tiếp chỉ ra kế hoạch mà các bộ tham mưu chiến dịch đã lập và chuẩn bị mắc quá nhiều sai lầm và các thủy thủ tầu ngầm anh hùng cũng mắc phải vô số lỗi.

Tiếp theo thê đội thứ nhất, một thê đội thứ hai được phái đến khu vực khủng hoảng Ca-ri-bê, gồm một nhóm tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo Project 629 ("Golf") có tên lửa chỉ phóng được trong tư thế nổi. Thê đội tàu ngầm này không kịp triển khai trong các khu vực thi hành nhiệm vụ chiến đấu trước khi đến giai đoạn thỏa hiệp của cuộc khủng hoảng, vì vậy các tàu ngầm được điều đến khu chờ (phân tán) của các lực lượng thuộc Hạm đội Biển Bắc, và sau đó trở về căn cứ.


Tàu ngầm đề án 629. Tranh vẽ của I. Pozdnyakov.

Đồng thời, trong không gian chiến trường Thái Bình Dương, tại khu vực đông bắc đảo Honshu của Nhật Bản đang có mặt tàu ngầm S-393 (chỉ huy trung tá hải quân V.Kachanov) với ngư lôi hạt nhân trên tàu. Bí mật vận động đến vị trí trong một cơn bão lớn, tàu đã sẵn sàng bắt đầu chiến đấu trên tuyến đường xuyên đại dương nối Hoa Kỳ-Nhật Bản. May mắn thay, những cái đầu thông minh nào đó đã kịp dừng ý tưởng này lại.

Khi vận động đến vị trí chiến đấu, tàu ngầm đã chứng kiến cái chết của tàu đánh cá Nhật Bản "Hado-Maru", bị đâm bởi một con tàu vận tải khổng lồ của Mỹ; con tàu vận tải kia không dừng lại để giúp con tàu đánh cá đang hấp hối. Sóng phát thanh ven biển Nhật Bản chặn được cho biết : 27 người bị giết chết, không có ai sống sót. Tàu ngầm quay trở lại căn cứ (Sovetskaya Gavan) mà không còn nổi một xô nhiên liệu diesel.

Điều khẳng định của các nhà báo nhàn rỗi (cả Hoa Kỳ và Nga), rằng trong giai đoạn này, từ bờ biển phía đông cũng như phía tây Hoa Kỳ theo nghĩa đen luôn đặc kín các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo hạt nhân (xô viết), nói cho nhẹ nhàng, là không đúng sự thật. Trong những năm ấy, Hải quân Liên Xô chỉ có thể tạo ra các mối đe dọa quân sự từ dưới mặt nước, và ban lãnh đạo chính trị thường thổi phồng vô tội vạ, như nhà lãnh đạo Nikita Khrushchev hồi đó thường hay làm.

Trong giai đoạn hậu Ca-ri-bê (1963-1965) các tàu ngầm diesel đơn lẻ liên tục được triển khai từ các căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương, vượt qua eo biển Triều Tiên được bảo vệ mạnh mẽ, tiến vào khu vực tập trận của Hạm đội 7 Hoa Kỳ (phía đông Nhật Bản) với mục tiêu trinh sát và theo dõi bằng khí tài. Khi bị phát hiện, họ đã bị tàu chiến và các vệ tinh của Mỹ theo dõi truy đuổi trước khi có thể sử dụng vũ khí phòng ngừa.

Từ năm 1965, các tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương được triển khai tại biển Philippine (người Mỹ nói rằng đó là biển "hoàn toàn của mình") theo các nhóm cùng các các tàu căn cứ. Tính từ giai đoạn này, đã sử dụng trong trạng thái văn bản một thuật ngữ mới " hoạt động phục vụ chiến đấu của các lực lượng hải quân trong các khu vực có lợi ích quốc gia của Liên Xô". Chính từ thời điểm đó bắt đầu sự trình diễn trên thực tế cuộc đua tranh giữa hai chiến thuật hải quân - lực lượng chống tàu ngầm của Mỹ và lực lượng tàu ngầm Liên Xô.



Một trong những chuyến ra khơi như thế là chuyến đi của ba tàu ngầm đề án 613 với tàu căn cứ nổi "Ivan Kucherenko", diễn ra tháng 7 năm 1966 (người chỉ huy là tư lệnh binh đoàn tàu ngầm số 6, chuẩn đô đốc E.Medvedev). Tàu Mỹ bu kín biên đội như đàn ruồi, và truy đuổi tàu ngầm một cách liều lĩnh, những chiếc tàu ngầm đang cố gắng lặn để thoát khỏi kẻ thù. Chúng ta phải nhìn thấy, những tên Yankee hoan hỉ quay những chiếc máy ảnh thế nào khi từ chiếc tàu ngầm đã nổi lên, giống như ma quỷ xuất hiện từ địa ngục, các thủy thủ tàu ngầm Liên Xô trong trang phục dùng một lần thời Ivan the Terrible (trong những chiếc quần đùi rách, vốn màu trắng và áo sơ mi lót).

Các thủy thủ tàu ngầm không thể thoát khỏi các sonar Mỹ chĩa vào suốt nhiều ngày đêm và hơn nữa, mặc dù họ tích cực gây ra tất cả các loại nhiễu có thể có và phóng ra các mục tiêu giả, cho đến khi trên tàu căn cứ nổi nghĩ ra một mẹo: vứt xuống biển một khối lượng lớn các hộp đục lỗ chứa các tấm tái sinh không khí tạo ra một thê đội mạnh mẽ trong một hải tầng dày, làm cho  người Mỹ váng đầu bất ngờ khi thấy một chiến thuật man rợ, nhưng hiệu quả đến vậy.

Tiếp theo, khi gánh nặng nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trên các khu vực đại dương do các tàu ngầm hạt nhân đảm nhiệm (khi đó không còn là tàu ngầm mà là tuần dương hạm ngầm), các tàu ngầm diesel chuyển sang đảm trách các vùng biển gần nước nông giáp Trung Quốc - Hoàng Hải và Hoa Đông.

Khi đó, đột nhiên có một vấn đề đặt ra cho các bộ tham mưu cấp cao là việc quay lại với chiến thuật và vũ khí thời Chiến tranh Thế giới thứ II, bởi vì các tàu ngầm hạt nhân và các ngư lôi tầm xa hiện đại và các mìn biển loại mới không áp dụng được ở những khu vực này.
..........
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2012, 04:41:41 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #108 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 06:24:25 pm »

(tiếp)




Trong giai đoạn tiếp đó, bắt đầu từ 1968-1969, nhiệm vụ phục vụ chiến đấu của các tàu ngầm diesel mang một hình thức khác, có tính biểu hiện, thực tế không che giấu: các tàu ngầm vũ khí ngư lôi và tàu ngầm vũ khí tên lửa của Hạm đội Thái Bình Dương thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong thành phần binh đoàn xung kích cơ động số 8 (8-й оперативной эскадры) tại vùng biển Tây Ấn Độ Dương (bám trụ tại vũng cảng đảo Socotra) và các tàu ngầm của các Hạm đội Biển Bắc và Bantic – hoạt động trong thành phần phân hạm đội chiến dịch-chiến thuật số 5 hoạt động ở vùng phía Đông của Địa Trung Hải (với các chuyến di chuyển vòng quanh châu Âu và xuyên qua eo biển Gibraltar). Cần phải nói rằng họ đã phải hoạt động trong điều kiện phản ứng của các lực lượng chống ngầm hải quân NATO là vô cùng mạnh mẽ. Chẳng hạn, năm 1964, theo kiểm kê của tất cả các loại tin tức tình báo, ứng với mỗi tàu ngầm Hạm đội Baltic: S-250 của V.Venediktov và S-187 của A.Semenov đối phương đã huy động vào Địa Trung Hải 23 tàu chiến, 180 máy bay và 265 quân nhân chống ngầm so với mỗi thủy thủ tàu ngầm của chúng ta. Ngay cả khi đang tiến hành cuộc chiến tranh quy mô lớn ở Việt Nam, người Mỹ vẫn có thể đảm bảo một ưu thế tuyệt đối trên không gian chiến trường biển tại châu Âu.

Gần như đồng thời các tàu ngầm diesel – mang tên lửa đạn đạo gắn đầu đạn hạt nhân uy lực lớn cũng tiến hành các chuyến hành quân bí mật ở các vùng phía Bắc của Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nơi họ thực hiện các cuộc tuần tra chiến đấu tại các khu vực mà tầm hoạt động của vũ khí mang trên tàu đạt đến các mục tiêu trên đất liền của Mỹ và NATO. Đây là những tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đề án 629-A ("Golf") với tên lửa đạn đạo phóng được từ dưới mặt nước.

Phát hiện ra mối đe dọa, người Mỹ vội vã triển khai một hệ thống giám sát chống ngầm toàn cầu "SOSUS" *, thành phần quan trọng nhất của nó là các hệ thống hydrophone đáy biển phát hiện và cảnh báo từ xa "Caesar-Artemis", sau đó là hệ thống "Sea-Spider", và phát triển một mạng lưới rộng khắp các sân bay cho máy bay tuần biển tầm xa (máy bay "Orion", "Atlantic" và các loại máy bay khác có hệ thống tự động hóa các công việc phát hiện, theo dõi, tiêu diệt các tàu ngầm đối phương ngay khi khởi đầu chiến tranh).

* Ước tính chi phí thiết kế, xây dựng và triển khai hệ thống "SOSUS" là khoảng $ 200 tỷ USD, còn chi phí cho chương trình phòng thủ tên lửa quốc gia của Mỹ là 500 tỷ USD.


Phương án xây dựng tuyến chống tàu ngầm tại vùng Tây Thái Bình Dương: eo biển Triều Tiên - quần đảo Kuril - quần đảo Aleutian.


Phương án xây dựng tuyến tiền duyên chống tàu ngầm tại Đại Tây Dương: Greenland-Iceland-Vương quốc Anh.

Một phần các chuyến hành quân như vậy của các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo từ năm 1967 được thực hiện từ các căn cứ ở Kamchatka. Trong một chuyến hành quân tháng 3 năm 1968 tàu ngầm K-129 (đại tá hải quân V.Kobzar) đã hy sinh do đòn “taran” của tàu ngầm hạt nhân Mỹ "Swordfish” đang theo dõi K-129.

Kể từ đầu những năm 1970, các hình thức tuần tra chiến đấu như vậy trên các đại dương sẽ không do các tàu ngầm động cơ diesel đảm nhiệm nữa mà thuộc về các tàu ngầm nguyên tử-tuần dương mang tên lửa.

Đồng thời với các dạng chiến dịch và các hình thức phục vụ chiến đấu kể trên, từ năm 1968 các tàu ngầm diesel cỡ lớn riêng lẻ (được trang bị thêm và thường là tàu đề án 641) đã thực hành các chuyến đi biển xa dài ngày với các mục đích khoa học- quân sự, chủ yếu để ghi lại theo hải trình (các thông số) của trường trọng lực của Trái Đất, cũng như để nghiên cứu các hải tầng theo chương trình của Năm Địa vật lý Quốc tế.

Một trong những chiến dịch hành quân đầu tiên là một chiến dịch không thành công năm 1968 của tàu ngầm B-62 (trung tá hải quân B.Charny) ở khu vực phía bắc Thái Bình Dương. Chiến dịch gần như đã kết thúc trong bi kịch: tại phía bắc Hawaii động cơ diesel thứ nhất trên tàu bị hỏng, ngoài khơi bờ biển phía tây Hoa Kỳ hỏng động cơ diesel thứ hai, và động cơ diesel thứ ba hỏng ở phía nam chuỗi đảo Aleutian (động cơ cuối cùng). Tàu ngầm mất khả năng hành trình, ắc quy cạn, bị bão biển mà không ai trợ giúp trong đại dương. Cứu B-62 là một trong những tàu thủy dân sự Liên Xô, tàu dân sự tròng dây thòng lọng theo nghĩa đen vào tháp chiến đấu của tàu ngầm và kéo nó về vịnh Avacha. Thuyền trưởng tàu dân sự tất nhiên không nhận được sự cám ơn của chính quyền (thời ấy tất cả mọi thứ được thực hiện hoàn toàn bởi động cơ yêu nước của các cá nhân).


Tàu ngầm B-62 đề án 611 ZULU-I (tàu thứ 2 trong loạt tàu đề án này) đang thực hiện các thử nghiệm quốc gia (Nhà máy đóng tàu Admiraltei với hạm đội tàu ngầm Nga. St.Petersburg, "Gangut", năm 2003.)

Nguyên nhân của tình trạng khẩn cấp trên là: trình độ tổ chức huấn luyện chuẩn bị thấp cho chuyến đi biển kéo dài trong mùa đông ở các vĩ độ có bão biển thường xuyên và sự bất cẩn trong quá trình hành quân. Trước khi ra đại dương trên B-62 mới nạp được 25% tổng cơ số nhiên liệu toàn phần. Tuy nhiên, cũng nên thừa nhận rằng một trong những điều kiện tiên quyết để xảy ra tai nạn là sự chi li khét tiếng của hạm đội trong việc phân bổ lực lượng và phương tiện hỗ trợ chiến dịch, cũng như tính không đầu óc trong kế hoạch hành quân của cơ quan tham mưu.

Rất thường xuyên, các tàu ngầm được phái đi làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu trong tình trạng "chữa cháy". Phương pháp này đã chấm dứt thế nào, thì chúng ta cũng đã biết, chẳng hạn số phận của tàu ngầm K-219, chúng ta chỉ không biết tất cả các trường hợp trước đây, các thuyền viên im lặng bởi vì họ là người đã chết, các thành viên bộ tham mưu còn sống cũng im lặng như người chết, bởi vì họ không muốn thừa nhận sự nhục nhã của họ. Và đây là một bằng chứng vẫn còn sống thuyền trưởng M.Lipnitsky của tàu ngầm B-59, được cử đi phục vụ chiến đấu năm 1965, – KHỒNG CÓ sửa chữa bình thường theo quy định, mà chỉ chẩn đoán nhanh và sửa chữa chiếu lệ (ППР), không cần đưa tàu lên dok. Trong tổng số 90 ngày chiến dịch có 52 ngày chỉ làm công tác sửa chữa. "Nó không phải là một chiến dịch đi biển mà là một cuộc đấu tranh liên tục để sinh tồn" – thuyền trưởng nhớ lại.

Thiếu cơ sở hạ tầng ven biển theo quy chuẩn (sửa chữa, bảo trì tất cả các loại khí tài vật chất, nghỉ ngời và thay kíp thủy thủ đoàn, v.v.) không cho phép hạm đội tàu ngầm của Liên Xô trong những năm 1960 đạt được hệ số sử dụng trong hoạt động của các RPKSN (tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo chiến lược) thuộc các đề án 629 và 629A lớn hơn 0,25. Trong khi đó, người Mỹ liên tục giữ được hệ số KOI (коэффициент оперативного использования) chỉ thấp hơn 0,7 một chút. Tuy nhiên, chỉ với những tàu ngầm đang ở trên biển thuộc các Hạm đội Biển Bắc và Baltic, cũng đủ để trong một vài phút biến khu vực bờ biển phía đông và phía tây của nước Mỹ trở thành một sa mạc phóng xạ (các tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm R-13 có tầm bắn Dstr = 560 km, R-21 có Dstr = 1420 km).



Trong các chuyến đi biển "gravimetry" (đo trọng trường) cuối cùng người ta sử dụng hai kíp thủy thủ hoán đổi cho nhau bằng cách thuê thêm một tàu chở khách. Một trong những chuyến đi biển này có độ dài sáu tháng vào năm 1974, được thực hiện bởi tàu ngầm B-164 (sỹ quan cao cấp chỉ huy biên đội là đại tá hải quân V.Gridnev, sau này thăng chuẩn đô đốc) với một tàu chở khách "Maria Ulyanova" hải trình : quần đảo Kuril – đảo Midway - Đảo Phục Sinh - phía nam lục địa Nam Cực - khu vực đảo Tasmania - phần phía nam Ấn Độ Dương - đảo Quajaleine - Vladivostok.

Chiến dịch được thực hiện với điểm đánh giá "xuất sắc", không tai nạn, không bị thương hay mất mát về người, dù phần chủ yếu trong hải trình của tàu ngầm diễn ra dọc theo “vĩ tuyến 40 gầm thét” ("Roaring Forties") nổi tiếng. Tổng cộng cho đến năm 1984, các tàu ngầm Liên Xô đã thực hiện hơn 70 chuyến đi đến Bắc Cực, còn đến châu Mỹ - 26.


.........
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Chín, 2012, 09:15:58 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #109 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2012, 10:17:34 pm »

(tiếp)

III. CÁC TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT. CÁC TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VÀ TAI NẠN LỚN

Trong toàn bộ thời gian được mô tả (1947-1988) trong số 495 tàu ngầm trong biên chế đã có 7 tàu ngầm diesel thế hệ sau chiến tranh hy sinh cùng kíp thuyền viên. Tổng số đã đóng được 518 tàu ngầm động cơ diesel và 256 tàu ngầm hạt nhân. Trong số các nạn nhân có:
- 1 tàu ngầm - do lỗi trong thiết kế của đề án;
- 5 tàu ngầm - do kíp thuyền viên hành động sai lầm;
- 1 tàu ngầm - do lỗi lỗi trực tiếp của đội ngũ chỉ huy (tổ chức kém, bỏ bê chức trách của họ) *.

Để so sánh, cũng đáng để ta nhớ lại rằng trong giai đoạn từ 1900 đến 1982 tại tất cả các hạm đội nước ngoài do các vụ tai nạn (trừ thương vong trong chiến đấu của Thế chiến I và Thế chiến II) đã có đến 200 tàu ngầm diesel bị chìm (4 600 người). Đặc biệt, chỉ có 9% trong tổng số các trường hợp trên được coi là "bất khả kháng".

Tôi sẽ không nói về các trường hợp khẩn cấp không dẫn đến mất mát lớn về người (lật tàu ngầm trên dok, cháy trong các khoang, va chạm, v.v.). Nhưng có thể khẳng định chắc chắn là hầu hết trong số đó không xảy ra vì những hoàn cảnh bất ngờ và không thể khắc phục, sự khiếm khuyết trong kỹ thuật công nghệ tàu ngầm, mà vì ngu dốt hoặc do các hành vi sơ suất của các thành viên.

Dưới đây mô tả một số tai nạn riêng của các tàu ngầm diesel không phải theo cách nêu trong các tài liệu chính thức, mà dưới cái nhìn của các đồng nghiệp-thủy thủ tàu ngầm chứng kiến.

* Tổng cộng trong 50 năm hạm đội tàu ngầm Liên Xô đã có hơn 750 sĩ quan, hạ sỹ quan và thủy thủ hy sinh, trong đó 69% trường hợp là tàu ngầm diesel.


Requiem. Tưởng niệm các thủy thủ tàu ngầm thế kỷ XX (Cyril Rivel)

Tàu ngầm S-80 đề án 644

Tàu bị chìm vào mùa đông năm 1961 khi đang hoàn thiện bài tập số 2 trong thao trường huấn luyện chiến đấu của hạm đội Biển Bắc trong thời tiết có bão biển. Tác giả đã đề cập đến việc khó điều khiển của tàu ngầm thuộc đề án này ở độ sâu khả dụng của kính tiềm vọng và sự ổn định kém trong tư thế dương (Позиционное положение – Positionslage – tư thế nửa nổi chỉ nhô phần tháp chiến đấu và cầu điều hướng hành trình của tàu ngầm).


Tàu ngầm Sh-215 của Hạm đội Biển Đen trong tư thế dương. Thời kỳ Thế chiến II.

Tàu ngầm S-80 chìm tại chiều sâu 235 mét với tất cả thủy thủ đoàn. Một vài năm sau phòng cứu hộ-khẩn cấp hạm đội đã trục vớt nó lên. Ủy ban điều tra đã xác lập nguyên nhân thảm họa: băng đóng van phao ống thông khí trời của giếng RDP, đẫn đến sự "không đóng kín" khi tàu ngầm sụt khỏi độ sâu kính tiềm vọng. Ủy ban cũng kết luận rằng người chỉ huy là thuyền trưởng tàu ngầm thiếu tá hải quân A.Sitarchik đã bỏ qua sự vi phạm hướng dẫn cấm bơi ở chế độ RDP trong vùng biển sóng lớn và có đóng băng.

Tuy nhiên, hướng dẫn, cũng như một chiếc lá vả, có thể che chở cho cơ quan tham mưu, đồng thời trong thời gian đó tại các hạm đội người ta mê mẩn một loại "phương pháp" độc đáo khuyến khích về tinh thần cho các thuyền trưởng sử dụng đầy đủ chế độ RDP, được coi là biện pháp "bí mật", là thước đo trình độ huấn luyện và mức trưởng thành về chiến thuật. Và trên S-80 lại là một thuyền trưởng còn thiếu kinh nghiệm, nhưng có xu hướng liều lĩnh.

Đồng thời, có thiếu sót nghiêm trọng trong việc tổ chức điều khiển quản lý tàu ngầm trên biển từ phía các cơ quan tham mưu.

V.Sukhomlinov tư lệnh lữ đoàn khi biết thuyền trưởng tàu ngầm thiếu kinh nghiệm vẫn phái tàu ra khơi mà không có người cố vấn-giám sát. Khi nhận tin báo mất tàu, dường như ông lên cơn “bệnh gấu" và né tránh hoạt động giải cứu-khẩn cấp. Cơ quan tham mưu lực lượng tàu ngầm của hạm đội, nhận được từ SCH Hạm đội Biển Bắc thông tin dự báo thời tiết không thuận lợi, đã "phớt lờ" cảnh báo bão trên biển và không áp dụng các biện pháp thực hiện nghiêm mệnh lệnh của tư lệnh hạm đội khẩn trương cho tàu quay về ngay căn cứ. Sở Chỉ huy của hạm đội, đến lượt mình, không có hành động kiểm soát chặt chẽ việc thực hành mệnh lệnh đã ban bố của tư lệnh hạm đội.


Vịnh Olenia, năm 1969, lễ chôn cất thủy thủ đoàn tàu ngầm diesel "S-80".
.........
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Chín, 2012, 12:31:35 am gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM