Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:12:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206211 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #110 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2012, 01:54:30 am »


TRẬN TRÂN CHÂU CẢNG CHƯA ĐƯỢC BIẾT ĐẾN CỦA NGƯỜI XÔ VIẾT






1. Hoàn cảnh xuất phát

Tháng 9 năm 1982. Cao trào của "chiến tranh lạnh" giữa Mỹ và Liên Xô, trong đó cả hai bên đều tìm kiếm mọi cách để đạt được lợi thế trong đối đầu hạt nhân.
Người Mỹ để đáp trả việc Liên Xô triển khai tên lửa tầm trung "SS-20" (theo phân loại của NATO) ở miền Tây nước Nga, đang cố gắng sao cho từ giữa năm 1981 sẽ bố trí tại các nước Tây Âu tên lửa tầm trung mang đầu đạn hạt nhân "Pershing". Chúng có khả năng trong vòng 5-7 phút sẽ bắn trúng tất cả các mục tiêu trên lãnh thổ Liên Xô cho tới dãy Urals. Tất nhiên, mục tiêu chính - Moskva.

Ở các nước Tây Âu đã dấy lên một làn sóng các cuộc biểu tình quy mô lớn phản đối của quần chúng, lo ngại mối đe dọa ngày càng tăng của hành động trả đũa từ phía Liên Xô. Tại Anh, hàng ngàn nhà hoạt động phản kháng đã phong tỏa một thời gian dài căn cứ sẽ được triển khai các bệ phóng tên lửa "Pershing". Về một số mặt nó nhắc ta nhớ tới tình hình hiện nay, liên quan đến kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa (NMD - ПРО) ở các nước Đông Âu (Ba Lan, Cộng hòa Séc, Romania).

Đồng thời, Hải quân Mỹ (các tàu ngầm hạt nhân đa năng mới nhất loại "Los Angeles" và các tàu mặt nước) được trang bị các tên lửa hành trình "Tomahawk" trong phiên bản hầm phóng có tầm bắn 2.500 km, bao gồm cả tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, cũng như quy ước được trang bị đầu đạn chùm (cassette) và đầu nổ khoan phá beton. Loại nói sau có khả năng "vặn vỏ đỗ" đường băng các sân bay, chế ấp hệ thống phòng không, phá hủy các trung tâm chỉ huy quản lý và các căn cứ hải quân của đối phương trên toàn bộ chiều sâu đội hình tác chiến của họ.

Tuy nhiên, nhiệm vụ chính đối mặt trước các lực lượng hải quân Hoa Kỳ, đó là cuộc đấu tranh với các tàu ngầm nguyên tử Xô viết mang tên lửa đạn đạo. Theo phân loại của Liên Xô, chúng được gọi là "tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược", viết tắt - RPKSN (SSBN). Đây là các tàu ngầm đề án 667 và các phiên bản của nó như 667B, 667BD, 667BDR, 667BDRM, chúng nổi bật ở các tên lửa đạn đạo tinh vi hơn, bao gồm cả các tên lửa mang nhiều đầu đạn. Tổng số đến năm 1981, đã đóng được 14 tàu đề án 667BDR, 5 chiếc trong số đó đóng ở các căn cứ thuộc Hạm đội Biển Bắc và 9 - ở Hạm đội Thái Bình Dương.

Đến năm 1982, tình hình đã cho thấy rõ ràng người Mỹ muốn phá vỡ sự cân bằng hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Liên Xô theo hướng có lợi cho họ. Cuộc đấu tranh nóng bỏng được chuyển xuống môi trường ngầm dưới nước, mà trong tương lai, nhờ khoa học gia-chuyên gia phân tích Stephanic, cuộc đấu đó được đặt tên "Chiến tranh chống tàu ngầm chiến lược".

Cuộc chiến đó dự định:
         - đảm bảo phát hiện 100% các tàu ngầm Liên Xô trong không gian rộng lớn của Thái Bình Dương và Đại Tây Dương và trong các căn cứ;
         - định danh các tàu ngầm đó cho đến cả số mạn của tàu dựa trên "chân dung tiếng ồn" - đặc điểm tiếng ồn của chúng, mà đã được thu thập trước đó (giống như dùng dấu vân tay để xác định người phạm tội, về sơ đồ là như nhau);
         - thiết lập việc trực tiếp theo dõi chúng và sẵn sàng tiêu diệt những tàu ngầm Xô viết đó.

Thậm chí đã xem xét các phương án ném bom nguyên tử xuống các khu vực có khả năng tuần tra chiến đấu của các RPKSN Xô viết. Những nhiệm vụ này xuất phát từ định đề cơ bản: "Nếu trong cuộc chiến tranh hạt nhân mà chỉ còn tồn tại dù một tàu ngầm Xô viết mang tên lửa đạn đạo, con tàu đó vẫn có thể gây thiệt hại nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ".

Mối đe dọa lớn thứ hai đối với Mỹ và các đồng minh của nó được xem là các tàu ngầm hạt nhân đa năng Xô viết trang bị tên lửa chống hạm có tầm bắn đến 500 km cùng các loại ngư lôi hiện đại.

Những tàu ngầm đó có nhiệm vụ:
         - chiến đấu chống các tàu ngầm hạt nhân Mỹ mang tên lửa đạn đạo hệ thống "Polaris-Poseidon" lớp "George Washington" và "Ethan Allen" trong các khu vực tuần tra chiến đấu của các tàu ngầm loại này;
         - tấn công tên lửa vào các nhóm tàu sân bay xung kích của Mỹ;
         - cũng như có thể hoạt động thành công trên các tuyến đường biển của Mỹ và các đồng minh (Anh, Nhật Bản, Australia) trên Ấn Độ dương, Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.




SSBN loại George Washington (ảnh trên) và Ethan Allen (ảnh dưới).

Để giải quyết tất cả các nhiệm vụ chiến đấu với các tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, từ cuối những năm 1960 đã bắt đầu triển khai hệ thống thủy âm phát hiện tầm xa độc nhất vô nhị SOSUS (SOSUS - Sound Surveillance System). Hệ thống "SOSUS" bao gồm vài chục ăng-ten thủy âm bố trí dưới đáy Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, và các trạm thu nhận tín hiệu ven bờ biển Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Na Uy, Iceland, Nhật Bản, Bermuda, Bahamas, Antilles, Hawaii, quần đảo Aleutian, quần đảo Marian và đảo Midway. Hệ thống cho phép phát hiện các tàu ngầm qua tiếng ồn của chân vịt và các cơ cấu máy đang làm việc trên tàu tư khoảng cách vài trăm dặm. Các cảm biến thủy âm của hệ thống "SOSUS" kết nối với các trạm thu nhận tín hiệu, bố trí trên các tuyến đường biển có nhiều khả năng triển khai của các tàu ngầm Liên Xô, đã được thiết kế để phát hiện các tàu ngầm đó, phân loại chúng và cung cấp chỉ thị mục tiêu cho máy bay chống ngầm "Orion", cho các tàu ngầm đa mục đích của mình và nhóm tàu hải quân săn tìm-tấn công (KPUG - корабельная поисково-ударная группа) .

Ngoài ra, tại các lối ra khơi ở các căn cứ tàu ngầm Xô viết, luôn luôn có các tàu ngầm hạt nhân đa năng của Mỹ lớp "Los Angeles" trực chiến trên các vị trí tìm kiếm và đánh chặn với hệ thống ăng-ten thủy âm kéo dài "SURTASS" (The Surveillance Towed Array Sonar System).


Sơ đồ minh họa hệ SURTASS (The SURTASS-SLF system could detect nearly silent submarines (Photo courtesy U.S. Navy)).

Tồn tại một vấn đề: các tàu ngầm Mỹ hoạt động êm hơn, có khả năng phát hiện bằng hệ thống thủy âm ở phạm vi xa hơn, có các vũ khí chống ngầm tinh vi hơn, và khả năng cơ động cao hơn. Trong thời điểm đó, hệ vũ khí trên các tàu ngầm hạt nhân đa năng loại "Los Angeles" của Mỹ đang bắt đầu nhận được ngư lôi tự dẫn mới nhất MK-48, có cự ly lớn hơn và độ chính xác xạ kích cao hơn.

Hoạt động hiệp đồng chặt chẽ với hệ thống "SOSUS" và các tàu ngầm đa mục đích, có các máy bay chống ngầm "Orion", xuất kích từ các sân bay đặt ở miền duyên hải các nước NATO, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, trên các đảo thuộc Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Khu vực hoạt động của chúng gần như bao phủ tất cả các mặt nước đại dương và các vùng biển tiếp giáp miềm duyên hải của Liên bang Xô Viết. Để phát hiện các tàu ngầm Liên Xô, đối phương đã sử dụng các phao sonar mới nhất và các thiết bị khác, cho phép theo các trường vật lý khác nhau mà phát hiện ra các đối tượng mục tiêu ngầm dưới nước, bao gồm cả việc đo từ trường.


Tàu Mỹ - USNS Impeccable đi nâng cấp hệ SURTASS towed array và Low Frequency Array. Tàu va chạm với các tàu TQ năm 2008 trên Biển Đông.


Căn cứ hải quân Tam Á (Yulin) trên đào Hải Nam (TQ) và vị trí va chạm với tàu Mỹ cách căn cứ đang xây dựng (năm 2008) chỉ khoảng 75 dặm biển.


Hệ phát hiện-giám sát SURTASS LFA thụ động-chủ động được thiết kế để phát hiện các tàu ngầm và tàu mặt nước ở khoảng cách xa trong cả vùng nước sâu và nước nông.

Hàng ngày, khoảng hai lần trong một ngày đêm, các căn cứ tàu ngầm Liên Xô bị theo dõi bằng cách sử dụng khí tài trinh sát điện tử và quang học trên các vệ tinh do thám, cho phép xác định số lượng và số hiệu các tàu ngầm (theo hình đổ bóng), đang đậu tại cầu cảng trong vịnh.

Bây giờ người ta viết rất nhiều về vấn đề trong cuộc khủng hoảng tên lửa Ca-ri-bê, thế giới đã đứng trên bờ vực cuộc chiến tranh hạt nhân. Tuy nhiên, người ta còn rất ít viết về điều đó, khi mà thế giới cũng đứng trên vực thẳm như vậy trong thời kỳ "chiến tranh chống tàu ngầm chiến lược".


Ví dụ:Ảnh vệ tinh Mỹ năm 2008 chụp căn cứ tàu ngầm Trung Quốc trên đảo Hải Nam phát hiện một SSBN Jin-class (Type 094) tại đây; (A new satellite photo purchased by FAS from DigitalGlobe shows a Chinese Jin-class SSBN at Yulin (Sanya) Naval Base on Hainan Island. Additional piers are outside the left frame of the photo. Click on image for larger photo. North is left.)
........
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Chín, 2012, 10:08:31 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #111 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2012, 05:52:12 pm »

(tiếp)

Một ví dụ. Tác giả những dòng này từng nghe một câu chuyện hấp dẫn của người bạn lâu năm của mình từng phục vụ chiến đấu ở Ấn Độ Dương. Tôi sẽ không nêu tên ông ấy. Thời kỳ đó ông là chỉ huy trưởng một toán OSNAZ (đặc nhiệm, mà đúng hơn là trinh sát kỹ thuật) trên một chiếc tàu ngầm diesel. Ông tốt nghiệp Trường cao đẳng tàu ngầm Hải quân Leningrad mang tên Đoàn Komsomol Lenin và được đào tạo chuyển ngạch ở Trường Cao đẳng VTĐT Hải quân mang tên A.S.Popov tại Peterhof. Sau chiến dịch đến Ấn Độ Dương trở về, tôi đề nghị ông tiếp tục sự nghiệp của mình trong ngành quân báo Hạm đội Thái Bình Dương. Tuy nhiên, ông từ chối, nói rằng muốn trở thành người thủy thủ tàu ngầm thuần túy. Ông đã phục vụ đến cấp trợ lý chính thuyền trưởng RPKSN "K-500".


K-500 đề án 667B, Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương.

Và đây là câu chuyện của ông ấy. RPKSN "K-500" đang trên đường ra khỏi căn cứ tàu ngầm ở Pavlovsk (Primorye), đến khu vực tuần tra chiến đấu ngoài khơi bờ biển phía tây Hoa Kỳ. Ngay sau khi rời khỏi căn cứ trong vịnh Piotr Đại Đế, họ thấy mình đang bị theo dõi bởi một tàu ngầm nước ngoài. Toàn bộ thời gian di chuyển qua Thái Bình Dương sự theo dõi ấy vẫn tiếp tục diễn ra. Các biện pháp sử dụng để cắt đuôi chiếc tàu ngầm theo dõi không hiệu quả. Theo các quy định và hướng dẫn của chúng tôi, điều chủ yếu là sự bí mật của RPKSN trong thời gian phục vụ chiến đấu, do đó đội thủy thủ không vội vàng báo cáo về việc bị theo dõi. Nếu không, điều đó sẽ được đánh giá như một sự phá hỏng nhiệm vụ phục vụ chiến đấu với những hậu quả không tốt. Trong thời gian tuần tra chiến đấu, "K-500", theo chu kỳ nhận được các thông tin từ Cục Chính trị Hạm đội Thái Bình Dương về tình hình trong nước và tại hạm đội, về tiến trình huấn luyện quân sự và chính trị, và những thứ thập cẩm khác. Rất ít tin tức về tình hình trên thế giới.

Một ngày nọ, trắc thủ sonar báo cáo rằng anh ta nghe được âm mở ống phóng ngư lôi của tàu ngầm đang theo dõi và hình như là tiếng trái ngư lôi phóng ra. Trong thực tế, điều đó là sự giả lập. Thuyền trưởng hoảng loạn. Trong cabin của mình, ông thảo luận cùng với trợ lý chính và thuyền phó chính trị. Phải làm gì? Có thể chiến tranh bắt đầu rồi? Có thể phóng ngư lôi vào con tàu đang theo dõi mình không? Người ta thuyết phục anh ta không nên bị kích động. Cuối cùng, "K-500" nổi lên và quay trở về căn cứ một cách nhục nhã. Thế giới trên bờ vực chiến tranh, bởi vì người ta tin rằng việc đánh chìm tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo chiến lược (RPKSN) - là dấu hiệu chính bắt đầu chiến tranh.

Chúng ta phải tôn trong một thực tế là người Mỹ đến lượt họ, đã giải quyết một cách căn cơ triệt để vấn đề an toàn của các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo (SSBN – theo thuật ngữ của chúng ta là PLARB - ПЛАРБ). Hải đoàn SSBN số 15 với 10 tàu ngầm lớp "George Washington" và "Ethan Allen" thuộc hệ thống "Polaris-Poseidon", đóng căn cứ ở vịnh APRA đảo Guam đã bị giải tán. Trinh sát Hải quân Xô Viết và Hạm đội Thái Bình Dương đã thâm nhập nó. Sau đó người Mỹ thành lập hải đoàn SSBN số 17 gồm 8 tàu ngầm lớp "Ohio" thuộc hệ thống "Trident" với tầm bắn của tên lửa đạn đạo lên đến 12 ngàn cây số, đóng căn cứ tại Bangor, bang Washington, ngay trên biên giới với Canada. Bây giờ các SSBN ấy có thể được triển khai từ căn cứ Bangor qua eo biển Juan de Fuca ra Thái Bình Dương để tuần tra chiến đấu, trở nên hầu như không thể phát hiện được bởi lực lượng chống tàu ngầm Xô viết. Những nỗ lực hiếm hoi của Liên Xô và sau đó là các lực lượng chống tàu ngầm của Nga nhằm phát hiện và thiết lập sự theo dõi các SSBN của Mỹ không mang lại thành công.


Tàu ngầm lớp Ohio với các hầm phóng tên lửa đạn đạo.

Tại cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương thậm chí người ta đã xem xét đến phương án triển khai các SSBN Mỹ vào Ấn Độ Dương thông qua eo biển Indonesia để tạo ra một hướng (tấn công) tên lửa-không gian vũ trụ từ phía Nam mới. Dấu hiệu về sự chuẩn bị này đã có tại cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương.

Tính đến các yếu tố này, tới năm 1982 Hoa Kỳ đã thông qua "Chiến lược hải quân Hoa Kỳ" mới và rất chủ động, mà người khởi xướng và cũng là tác giả của nó là viên bộ trưởng trẻ tuổi và đầy tham vọng của Hải quân Hoa Kỳ - Lehman. Nó dự kiến:

         - thiết lập sự theo dõi toàn diện để sẵn sàng tiêu diệt các RPKSN của Liên Xô;

         - giáng đòn tấn công phòng ngừa bằng tên lửa "Tomahawk" lên toàn bộ cơ sở hạ tầng quân sự của đối phương (hệ thống phòng không, các SCH, các căn cứ hải quân, các sân bay căn cứ của không quân hải quân mang tên lửa hành trình, các cụm quân đội, các kho chứa nhiên nguyên liệu, v.v ...);

         - sau các đòn tấn công đầu tiên bằng tên lửa hành trình "Tomahawk", việc chế áp hệ thống PK của đối phương và tiêu diệt các đối tượng chủ yếu của các cuộc tấn công, trước tiên là các căn cứ của các RPKSN Xô viết và các SCH, - giáng đòn tấn công ồ ạt bằng không quân hải quân trên tàu sân bay xuống toàn bộ cơ sở hạ tầng quân sự của đối phương.
    
Nhiệm vụ chính: chiếm lĩnh thế thượng phong trên không trung, trên biển, dưới mặt nước, và hoàn tất các hoạt động quân sự theo các điều khoản có lợi cho Hoa Kỳ. Đồng thời, không loại trừ đổ bộ đường biển thủy quân lục chiến xuống vùng duyên hải của đối phương.


Bộ trưởng Hải quân John Lehman, người khởi xướng chương trình "600 tàu hải quân" dười thời TT Mỹ Reagan và giai đoạn 2003-2004 là một thành viên ủy ban 11/9.

Phản ứng với quyết định của người Mỹ đặt tên lửa "Pershing"ở Tây Âu, lãnh đạo Liên Xô dưới sự lãnh đạo của L.I.Brezhnev, và sau đó là Yu.Andropov đã thực hiện các biện pháp thích hợp. Đã quyết định: gửi đến bờ biển phía Tây nước Mỹ các RPKSN Xô viết có khả năng tấn công hạt nhân vào các mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ, trong đó gồm cả các thành phố. Về điều này Bộ trưởng Hải quân Lehman mỉa mai nhận xét: "Hãy để Liên Xô gửi những con "bò rống " của họ (đó là ông ta nói về những RPKSN đề án 667, có tiếng ồn lớn) đến bờ biển của chúng tôi. Chúng tôi sẽ theo dõi tất cả và sẽ tiêu diệt hết chúng khi cần". Ví dụ về "K-500" cho biết hành động này của họ là hoàn toàn có khả năng.

Vào thời điểm đó, Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô đang ở đỉnh cao sức mạnh chiến đấu của mình. Thành phần biên chế của nó gồm có các lực lượng có thể giải quyết đầy đủ các nhiệm vụ mà một hạm đội hiện đại có thể giải quyết.

Để chiến đấu chống lại các tàu ngầm hạt nhân Mỹ, mà trước hết là với các SSBN trên các vị trí phóng của chúng trong đại dương, để chống lại các tàu ngầm và tàu mặt nước được triển khai trên các tuyến chống ngầm, trong biên chế Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô có các tàu ngầm hạt nhân đa năng thuộc các đề án 671, 671RT và 671RTM. Có trên tàu các tổ hợp vũ khí chống tàu ngầm mới nhất, ngoài ra các tàu ngầm đa năng đó cũng có các tổ hợp khí tài chống hạm hiện đại để phóng tên lửa hành trình chống hạm "Granat" chống lại các tàu sân bay Mỹ.

Trong thành phần Hạm đội Thái Bình Dương còn có cả các tàu ngầm hạt nhân thuần túy mang tên lửa hành trình để chiến đấu chống các tàu sân bay (viết tắt PLARK - SSGN) thuộc các đề án 670-A, 661, 670-M, 675-M, trang bị các tên lửa hành trình "Amethyst", "Malachite", "Bazalt".

Trong khi đó tại Kamchatka, phân hạm đội tàu ngầm số 2 dưới sự chỉ huy của phó đô đốc Baltin, anh hùng Liên bang Xô viết, đang thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các nhóm tàu sân bay xung kích mà thành phần trực tiếp là sư đoàn tàu ngầm chống tàu sân bay (viết tắt là "PAD" - «ПАД» - противоавианосной дивизии подводных лодок). Baltin sau này trở thành Tư lệnh phó thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, sau đó là Tư lệnh Hạm đội Biển Đen, được biết đến bởi nguyên tắc không khoan nhượng của mình trong các bộ phận của Hạm đội Biển Đen. Ai có thể biết thời đó rằng sau này chúng ta sẽ lăn đến đâu?

Ngoài các tàu ngầm hạt nhân đa mục đích mang tên lửa hành trình, nhiệm vụ chính yếu đấu tranh chống lại nhóm xung kích tàu sân bay (AUG) còn được giao cho không quân hải quân mang tên lửa hành trình bao gồm hai sư đoàn máy bay mang tên lửa hành trình TU-16 và Tu-95 đóng ở Primorye (Knevitchi) và Kamchatka (Elizovo). Chúng được lệnh sẽ giáng đòn tấn công quy mô lớn bằng bom-tên lửa vào các nhóm tàu sân bay.

Nhưng sự đau đầu lớn nhất cho người Mỹ là các tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay "Minsk" và "Novorossisk" vừa mới gia nhập hạm đội với các máy bay cất cánh thẳng đứng Yak-38, cũng như tuần dương hạm nguyên tử mang tên lửa đề án 1144 "Frunze" với tổ hợp vũ khí tên lửa tấn công "Granit", có khả năng bắn trúng mục tiêu mặt nước ở khoảng cách đến 500 km.


Tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay lớp Kiev đề án 1143.3 "Novorossisk" năm 1986.

Để tiến hành các chiến dịch đổ bộ quy mô lớn Hạm đội Thái Bình Dương bố trí sư đoàn TQLC số 55. Cũng như còn toàn bộ một sư đoàn tàu đổ bộ, gồm các tàu đổ bộ cỡ lớn "Ivan Rogov". Tiềm năng chiến đấu lớn như vậy của hạm đội đòi hỏi một nguyên tắc sử dụng lực lượng trong tác chiến một cách phù hợp. Đến thời điểm này đã hình thành các binh đoàn hỗn hợp binh chủng cơ động tác chiến cấp chiến dịch-chiến thuật số 10 và số 8 hoạt động tương ứng trong các khu vực của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Hạm đội Thái Bình Dương đã tiến ra không gian các đại dương thế giới.

Hạm đội Thái Bình Dương trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất thực thi chính sách đối ngoại của Liên Xô trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Sự tham gia của các tàu quân sự thuộc Hạm đội Thái Bình Dương trong công tác rà phá bom mìn các hải cảng Bangladesh sau cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan, rà phá mìn tại kênh đào Suez sau cuộc xung đột Ả Rập-Israel, sự có mặt của binh đoàn cơ động số 8 ở Ấn Độ Dương, ngăn chặn cuộc xung đột Iran-Iraq và những việc khác đã nâng cao uy tín quốc tế của Liên Xô trong khu vực.

Để phù hợp với các nhiệm vụ mà Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô phải giải quyết, đã xây dựng một hệ thống trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương, khu vực trách nhiệm của nó trải dài từ miền duyên hải phía tây Hoa Kỳ qua Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, cho đến vùng bờ biển phía đông châu Phi, bao gồm cả vịnh Aden và Biển Đỏ.
..........
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Chín, 2012, 01:57:18 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #112 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2012, 12:26:29 am »

(tiếp)

Trong thành phần hệ thống trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương có:
    - Trinh sát kỹ thuật VTĐT trên bờ gồm 3 đội trinh sát kỹ thuật tại Primorye, Sovetskaya Gavan và Kamchatka, với mạng định hướng vô tuyến phân nhánh trên đảo Iturup, trong vịnh Providenia, Cam Ranh và Aden. Nó kiểm soát toàn bộ dải tần số sóng ngắn và có thể định hướng tất cả các đối tượng mục tiêu từ bờ biển phía Tây Hoa Kỳ cho đến eo biển Malacca ở Ấn Độ Dương.

   - Trinh sát trên biển trong thành phần lữ đoàn tàu trinh sát số 38 - 14 tàu, liên tục hoạt động phục vụ chiến đấu tại bờ biển phía tây nước Mỹ, tại quần đảo Hawaii, trong biển "Nam Trung Hoa" và Ấn Độ Dương. Kể từ năm 1979, trong biên chế lữ đoàn đã có tàu trinh sát chiến lược cỡ lớn chạy bằng năng lượng nguyên tử "Ural", có nhiệm vụ trinh sát các vụ phóng tên lửa đạn đạo của Mỹ tại trường bắn tên lửa phía Tây (từ căn cứ không quân Vandenberg đến khu vực đảo san hô Kwajalein). Ngoài ra, nó còn có nhiệm vụ tiến hành trinh sát các hoạt động triển khai cái gọi là "Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược SDI" của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan.

   - Trinh sát đường không trong biên chế có trung đoàn máy bay trinh sát tầm xa độc lập số 304 của (viết tắt ODRAP - ОДРАП) với các máy bay TU-95 RtS, có khả năng không chỉ phát hiện mục tiêu mặt nước cách xa đến 300 km, mà còn truyền chỉ thị mục tiêu cho các tàu ngầm và tàu mặt nước đến các đối tượng thực sự. Nơi đóng căn cứ - sân bay Khorol (Primorye). Ngoài ra, trong thành phần trung đoàn không quân hỗn hợp số 169 thuộc LLKQHQ của Hạm đội Thái Bình Dương có các máy bay trinh sát TU-16R, đặt căn cứ ở các sân bay Knevitchi (Primorye) và Elizovo (Kamchatka). Trong khu vực gần kề việc tiến hành trinh sát được thực hiện bởi các máy bay-trinh sát An-12RR thuộc trung đoàn không quân vận tải độc lập 593 (OTAP - ОТАП). Nhìn chung, khu vực trinh sát trên không bao phủ từ vùng bờ biển của chúng ta đến đảo Midway.

   - Trinh sát từ không gian vũ trụ. Hệ thống trinh sát không gian vũ trụ "Legenda" được sử dụng rất hiệu quả phục vụ cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương, gồm có các trạm trinh sát radar và trinh sát quang-điện tử trên các vệ tinh do thám. Đôi khi, các dữ liệu thu được từ trinh sát không gian là phương tiện duy nhất cho phép phát hiện ra vị trí của các tàu sân bay Mỹ.
        
Ngoài ra, trong hoạt động còn có trinh sát điệp báo và trinh sát đường biển nhưng giá trị của chúng trong hệ thống trinh sát tổng thể là không đáng kể.

Nhiều năm sau những sự kiện tháng 9 năm 1982, tôi bắt đầu hiểu hệ thống trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương được xây dựng một cách đúng đắn và hữu ích như thế nào. Nó bao gồm ngoài việc lập kế hoạch trinh sát của các chủ nhiệm trinh sát bộ phận, trong đó có cả trinh sát điệp báo, còn có cả SCH độc lập của mình, không nằm trong cấu trúc tổng thể của SCH hạm đội, bởi vì nó có những nhiệm vụ chuyên ngành cụ thể, cũng như một trung tâm thông tin tình báo của hạm đội - là bộ não của ngành quân báo hạm đội. Ngược lại với các đơn vị tương tự của lục quân, dưới quyền Tổng cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô, ngành trinh sát hạm đội giải quyết nhiệm vụ một cách tự thân, trực thuộc Cục Trinh sát Hải quân. Điều này làm cho nó có thể giải quyết được nhiệm vụ của mình một cách tự chủ, không có áp lực từ trên cao. Và không bao giờ ngay cả trong cơn ác mộng, tôi cũng sẽ không mơ ước rằng chúng ta sẽ bị các anh chàng ở Lubyanka quản lý. Nhưng thực tế là ngành tình báo quân sự của nước Nga đã không còn tồn tại trong thế giới của những cải tiến mới nhất của Bộ trưởng Quốc phòng ngài Serdyukov. Tuy nhiên, những lưu ý đó hãy xếp ở bên lề.

Và tất nhiên, trong chất lượng sẵn sàng chiến đấu của Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô, yếu tố con người đóng một vai trò to lớn. Thời đó, hạm đội được dẫn dắt bởi các chuyên gia thực sự:
         - Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương - Đô đốc Vladimir Vasilevitch Sidorov (1981-1986), có kinh nghiệm phong phú trong việc chỉ huy các đơn vị binh chủng khác nhau của hạm đội;
         - Phó Tư lệnh thứ nhất Hạm đội Thái Bình Dương, phó đô đốc Yasakov Nikolai Yakovlevitch (1979-1987), cựu tư lệnh binh đoàn số 8 với tất cả các hậu quả tiếp theo. Một người chỉ huy cứng rắn đến cùng cực, nhưng để đạt được mục tiêu đề ra;
         - Tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương, phó đô đốc Gennady Aleksandrovitch Khvatov, đã trải qua con đường từ một thuyền trưởng tàu ngầm hạt nhân đến tư lệnh phân hạm đội quân sự Kamchatka, sau đó là Tham mưu trưởng Hạm đội Thái Bình Dương. Cuối cùng là Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (1986-1993), được phong hàm đô đốc năm 1987;
         - Và dĩ nhiên, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, Đô đốc Hạm đội Sergei Georghievitch Gorshkov, người đã biến hạm đội Xô viết thành hạm đội đại dương, hạm đội tên lửa-hạt nhân, thách thức quyền bá chủ của Mỹ trên các đại dương của thế giới.

Tôi khi đó còn là một trung úy trẻ phục vụ dưới tàu, đã tự hào vì được phục vụ dưới sự chỉ huy của một Tổng tư lệnh như thế. Cũng như hồi xưa trong những năm chiến tranh và sau chiến tranh, cha tôi, một sĩ quan hải quân Hạm đội Thái Bình Dương đã tự hào được phục vụ dưới sự chỉ huy của Đô đốc Nikolai Gerasimovitch Kuznetsov.

Tháng 9 năm 1982 đã đến trong một hoàn cảnh "chiến tranh lạnh" như vậy, khi mà Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bắt đầu các hoạt động tích cực ở Thái Bình Dương, mà sau này chúng ta đã biết, đó là cuộc tập trận quy mô lớn của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ có tên mã là "Flitekh-82» (Fleetex-82) để thực hiện các mục tiêu của chiến lược hải quân mới của người Mỹ.

Tại sao bài viết này được gọi là "Trận Trân Châu Cảng chưa được biết đến của người Xô Viết"? Đó là bởi vì sự kiện ngày 07 tháng 12 năm 1941 rất giống các sự kiện tháng 9 năm 1982, chỉ có điều sự kiện sau xảy ra trong một kịch bản hiện đại.

2. Cuộc tập trận hải quân của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ "Flitekh-82» (Fleetex-82) (tháng 9 năm 1982)

Bây giờ tôi phải viết ở ngôi thứ nhất, với tư cách người đã tham gia vào các sự kiện đó.

Cần phải nói rằng tới thời gian này cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương đã có văn bản chiến lược hải quân mới của Hoa Kỳ. Các trinh sát viên đã thu được nó cho chúng ta từ các tàu trinh sát đang thực hành trinh sát ở khu vực San Diego bên bờ biển phía tây của nước Mỹ. Cá nhân tôi dịch văn bản này. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi cũng đã không nhận ra thực chất của nó. Không có đủ dữ liệu bổ sung khác về các tính năng của tên lửa hành trình "Tomahawk", việc sử dụng máy bay trên tàu sân bay trong môi trường mới, vai trò và vị trí của các tàu ngầm hạt nhân đa năng được trang bị tên lửa hành trình "Tomahawk", và các thông tin tình báo khác.

Ngoài ra, tình trạng đối đầu của trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương Xô viết và Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã đạt đến đỉnh cao của nó. Các đối tượng chính của cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương – các tàu sân bay Mỹ. Nếu trong ngày, chúng tôi không có dữ liệu về vị trí của các tàu sân bay ở phần Tây Thái Bình Dương, đó sẽ là một thảm họa. Lệnh SSCĐ cao được tuyên bố với tất cả các bộ phận trinh sát vô tuyến ven biển, cảnh báo tất cả các tàu trinh sát trên biển, nâng cấp sẵn sàng cho các phi vụ xuất kích của các máy bay trinh sát TU-95 RtS, sở chỉ huy cơ quan trinh sát được đặt vào chế độ SSCĐ cao.

Cùng lúc đó, Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đã thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo việc triển khai bí mật của nhóm tàu sân bay tấn công từ San Diego sang Tây Thái Bình Dương. Khi đó, người ta coi rằng (sự triển khai) bí mật - là điều kiện chủ yếu tạo tính bất ngờ cho một cuộc tấn công phủ đầu thứ nhất.

Chúng ta hãy nhớ lại năm 1941. Việc đó thể hiện như thế nào. Trước hết: tắt radar của các con tàu trong thời gian có các chuyến bay của các vệ tinh do thám thuộc hệ thống "Legenda" của Liên Xô. Chỉ sử dụng băng sóng cực ngắn UKV để liên lạc giữa các con tàu. Thay đổi tuyến đường biển triển khai nhóm AUG tới phần Tây Thái Bình Dương (hải trình tiêu chuẩn theo cung vòng tròn lớn), và lựa chọn tuyến đường biển phía Nam hoặc phía Bắc. Thực hiện chế độ im lặng vô tuyến. Tạo thông tin sai lạc trên các phương tiện truyền thông đại chúng và các phương pháp ngụy trang và che giấu thông tin khác.

Ngày 11 tháng 9 năm 1982, Thứ Bảy. Hạm đội Thái Bình Dương của chúng tôi vừa hoàn thành tập trận tổng kết hàng năm. Tất cả các tàu đã trở về căn cứ. Đã hoàn thành các bài tập đấu tranh chống nhóm đặc nhiệm tàu sân bay xung kích của kẻ thù ở vùng duyên hải của chúng ta, công tác đảm bảo cho các RPKSN rời căn cứ ra khơi thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, đổ bộ TQLC, phòng thủ bờ biển, v.v...

Tình hình thực tế trong khu vực hạm đội. Những số liệu mới nhất của cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Nhóm tàu sân bay xung kích dẫn đầu là tàu sân bay hạt nhân USS "Enterprise" đã hoàn thành di chuyển từ San Diego đến Trân Châu Cảng và đang tiến hành tiếp nhiên liệu cho các tàu hộ tống, bắt đầu được triển khai ở hướng tây bắc về phía Kamchatka (nói chung đó là điều không bình thường nhưng người ta không chú ý nhiều). Số liệu về nhóm AUG được xác nhận qua trinh sát vệ tinh, trinh sát ven biển và các con tàu trinh sát của chúng tôi, đang tiến hành trinh sát ở khu vực Hawaii.

Đối tượng chính thứ 2 phải trinh sát - tàu sân bay USS "Midway" trong thành phần nhóm tàu sân bay ngày thứ Tư mùng 9 tháng 9 đã rời khỏi căn cứ Yokosuka (Nhật Bản), bị phát hiện bởi tàu trinh sát "Kursograph" của chúng tôi, nhưng đã cắt đuôi theo dõi và theo báo cáo cuối cùng của "Kursograph", nó đã đi theo hướng tây-nam tiến về phía eo biển Malacca.

Ngày thứ hai cũng không thấy "Midway" trên mạng truyền tin vô tuyến. Trinh sát vệ tinh cũng không phát hiện ra nó.

Chuông điện thoại gọi về nhà từ trực ban trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương: "Chủ nhiệm trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương chuẩn đô đốc Maksimenko Yuri Spiridonovitch gọi khẩn cấp anh và nhóm trưởng nhóm 1 trung tâm dữ liệu trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Nhanh chóng có mặt tại Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương, không chậm trễ".


USS Midway ở Tây Thái Bình Dương năm 1974.

Chúng tôi có mặt tại văn phòng của chủ nhiệm trinh sát. ""Midway" ở đâu"? Ngày thứ hai rồi mà chúng ta chưa biết nó ở đâu? Ngay lập tức các anh hãy phân tích tất cả các thông tin tình báo và báo cáo lại cho tôi trong vòng một giờ".

Chúng tôi vào văn phòng nhóm 1 phân tích tình hình cập nhật thuộc trung tâm thông tin trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương. Vào lúc đó tôi làm nhiệm vụ Phó chỉ huy trung tâm thông tin trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương và Chudin - Trưởng nhóm 1. Đánh giá tất cả các báo cáo từ các đơn vị và các tàu trinh sát gửi về, dữ liệu trinh sát vệ tinh. Không thể giả định điều gì khác: tàu sân bay "Midway" hoặc đã vào Ấn Độ Dương hoặc biển Philippine để tập trận. Có thể yên tâm về điều này.

Sau đó, "nhìn lại" khi "bình giá các phi vụ" mới biết trinh sát bờ biển của chúng tôi, vốn giám sát mạng vô tuyến chỉ huy tác chiến của quân đội Mỹ, không chú ý đến thực tế là trong mạng vô tuyến đã ngừng truyền các tín hiệu tập trận chỉ huy chiến đấu. Nghĩa là mạng vô tuyến đã được chuyển mức SSCĐ cao để truyền các mệnh lệnh chiến đấu thực sự.

Chỉ về sau tôi mới cắt nghĩa được một sự thật trong trường đoạn này: "Không thể dựa vào khuôn mẫu. Cần phải đặt trước các phương án tồi tệ nhất. Ví dụ, việc bí mật triển khai nhóm AUG tới bờ biển Primorie hoặc bờ biển Kamchatka. Nếu chúng ta đã sẵn sàng đáp ứng mối đe dọa ấy, nghĩa là chúng ta đã chuẩn bị vũ trang đầy đủ". Sau các sự kiện tháng 9 năm 1982, tôi đã bị thuyết phục tin vào một điều, trong lý thuyết xác suất: "Thà  báo động giả còn hơn bỏ sót mục tiêu". Nhưng đó là sau này. Sau đó đến lượt các chuỗi xuyênthủng, cho phép gọi chúng là "Trân Châu Cảng Xô viết".
........
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Chín, 2012, 02:33:32 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #113 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2012, 06:15:11 pm »

(tiếp)

Cùng ngày, một cặp máy bay trinh sát TU-95 RtS của trung đoàn KQTSTX độc lập 304 cất cánh từ sân bay Khorol bay vào trung tâm Thái Bình Dương để làm rõ vị trí của nhóm AUG "Enterprise". Sau này mới biết, khi bay ngang về phía đông quần đảo Kuril, trắc thủ radar qua cửa sổ máy bay phát hiện ra một cụm đèn, nhưng không cho nó là quan trọng, bởi vì anh ta có nhiệm vụ phát hiện nhóm AUG "Enterprise". Với nhiệm vụ này, các phi công đã thành công. Trong thực tế, họ đã bay qua đầu các tàu chiến của nhóm AUG "Midway", đang bí mật triển khai gần Kamchatka về phía nhóm AUG "Enterprise" để hình thành một đơn vị tàu sân bay tấn công (AUS - авианосное ударное соединение (АУС).


Không đoàn máy bay trên hạm 11 CVW-11 trên USS Enterprise tại Trân Châu Cảng, Hawaii ngày 15 tháng 6 năm 1984.

Vào buổi tối thứ bảy, có báo cáo về các đám cháy trong các doanh trại các trung tâm định hướng vô tuyến của chúng tôi trên đảo Iturup và vịnh Providenie với gián cách thời gian 10 giờ. Điều này gây khó khăn thêm cho công việc của mạng tầm phương vô tuyến của chúng tôi. Tôi không loại trừ rằng việc đó do các toán lực lượng đặc biệt Mỹ «SEAL» (nhóm «những con sư tử biển") gây ra trong lãnh thổ của chúng ta.

12 tháng 9, Chủ Nhật. Buổi sáng theo lệnh của Tổng Tham mưu trưởng Hải quân, từ sân bay Elizovo (Kamchatka) một cặp máy bay trinh sát TU-16R của trung đoàn không quân hỗn hợp 169 LLKQ Hạm đội Thái Bình Dương cất cánh bay đi trinh sát nhóm AUG "Enterprise". Theo báo cáo của họ, họ đã bị các máy bay tiêm kích trên các tàu sân bay ngăn chặn. Và thêm một cú chọc thủng nữa. Trong báo cáo, họ không cho biết loại máy bay chiến đấu nào đã bám sát họ. Sau này theo ảnh chụp mới biết, họ đã bị chặn bởi các máy bay tiêm kích F-4 "Phantom" chỉ duy nhất có trên tàu sân bay" Midway ". Các tàu sân bay còn lại đã chuyển đổi trang bị sang các máy bay tiêm kích kiểu mới F-14 "Tomcat".

Như vậy, chúng tôi đã ở trong tình trạng không rõ nhóm AUG "Midway" đang ở vị trí nào. Và chỉ đến nửa sau ngày Chủ Nhật chúng tôi mới nhận được báo cáo từ nhóm trinh sát kỹ thuật VTĐT ven bờ của chúng tôi tại Kamchatka, cho biết các trạm quan trắc phát hiện sự làm việc của các tàu chiến trên các tần số liên lạc nội bộ hạm đội của nhóm AUG "Midway".

Đó là một cú sốc. Kết quả định vị vô tuyến cho thấy đơn vị tàu sân bay xung kích mới thành lập ("Enterprise" và "Midway"), bao gồm hơn 30 tàu chiến đang cơ động ở khoảng cách 300 dặm về phía đông- nam bán đảo Petropavlovsk-Kamchatskaia và máy bay trên hạm đang tiến hành các phi vụ cách bờ biển của chúng ta 150 km.

Báo cáo khẩn cấp về Bộ Tổng tham mưu Hải quân. Tổng tư lệnh Hải quân đô đốc hạm đội LBXV S.G. Gorshkov ngay lập tức ra quyết định. Khẩn trương phái tàu tuần tra "Storozhevoi", 3 tàu ngầm hạt nhân đa năng đề án 671 RTM đi theo dõi đơn vị tàu sân bay xung kích (AUS), tổ chức trinh sát đường không liên tục, vào cấp SSCĐ cao toàn bộ lực lượng máy bay hải quân mang tên lửa hành trình của Hạm đội Thái Bình Dương, thiết lập hợp đồng chặt chẽ với hệ thống phòng không vùng Viễn Đông, chuyển tất cả các đơn vị và các tàu trinh sát của Hạm đội Thái Bình Dương sang cấp SSCĐ cao nhất.

Đáp trả những hành động xâm lược như vậy của người Mỹ, phía chúng ta đã chuẩn bị cho các máy bay của sư đoàn không quân hải quân trang bị tên lửa hành trình sẵn sàng xuất kích, vào ngày thứ hai phải xác định đòn tấn công tên lửa không-biển xuống đơn vị tàu sân bay xung kích. Đồng thời các tàu ngầm hạt nhân đa năng cũng chuẩn bị sẵn sàng tấn công bằng tên lửa hành trình.

Ngày 13 tháng 9, Thứ Hai. Cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương sẽ xác định vị trí của AUS và chuyển thông tin đó cho sư đoàn máy bay mang tên lửa hành trình của hải quân. Tuy nhiên, tại thời điểm này trên các tàu chiến của đơn vị tàu sân bay Mỹ đang áp dụng chế độ im lặng vô tuyến. Chúng tắt tất cả các hệ thống radar. Chúng tôi cẩn thận nghiên cứu các dữ liệu trinh sát quang điện tử từ vệ tinh trinh sát trên không gian. Không có dữ liệu đáng tin cậy về vị trí của các tàu sân bay. Tuy nhiên máy bay trinh sát biển đã cất cánh từ Kamchatka. Họ bay vào nơi trống rỗng.

Chỉ một ngày sau, vào thứ Ba ngày 14 tháng 9, chúng tôi mới biết theo số liệu của các trạm quan trắc PK trên quần đảo Kuril, rằng đơn vị tàu sân bay xung kích đang cơ động diễn tập ở phía đông đảo Paramushir (quần đảo Kuril), các máy bay hải quân trên tàu sân bay đang tiến hành các chuyến bay.


Máy bay trên hạm thuộc CVW-11 bay trên đầu USS Nimitz.

Sau đó, đã dẫn đường thành công cho tàu tuần tra "Storozhevoi" tiến tới các tàu sân bay (SKR "Storozhevoi" trong thời gian phục vụ của nó đã chịu một tiếng xấu tại Bộ Tổng tư lệnh Hải quân sau các sự kiện nổi tiếng ở Baltic liên quan đến việc con tàu bỏ chạy năm 1975 theo lệnh của thuyền phó chính trị Sablin, người không đồng ý với chính sách của điện Kremlin. Sablin bị xử bắn, thủy thủ đoàn thì bị giải tán, và con tàu đã được chuyển giao từ Baltic sang Kamchatka). Bây giờ con tàu đó đang là chiếc tàu trực tiếp theo dõi AUS. Các tàu ngầm nguyên tử đa năng được phái đi giám sát AUS của Mỹ không hoàn toàn thực hiện được tất cả nhiệm vụ của mình, vì đó là một nhiệm vụ hết sức nặng nề với người thuyền trưởng tàu ngầm. Để không bị phát hiện thấy trong thành phần đội hình đơn vị tàu sân bay xung kích, các thuyền trưởng tàu ngầm phải hết sức nỗ lực.


USS Aspro SSN-648 Sturgeon-class submarine, tham gia Fleetex 82. Ảnh chụp tại Trân Châu Cảng khoảng 1980.

Cuối cùng, đơn vị tàu sân bay xung kích của Mỹ đi về phía đông quần đảo Kuril, nhằm xác định khả năng của lực lượng phòng không Liên Xô trong việc bảo vệ biên giới của mình. Đỉnh điểm của chuyến di chuyển này là việc vi phạm không phận Liên Xô gần dãy đảo đá Malyi Kuril (đảo Tanfilyeva, Anchuchina, Yuri, Polonsky, Đảo Xanh, Shikotan) của các máy bay hải quân trên các tàu sân bay. Hóa ra không quân tiêm kích "trong mọi thời tiết" của chúng ta chỉ là các máy bay tiêm kích lỗi thời MiG-19 và MiG-21, không có khả năng chống lại các máy bay trên hạm của Mỹ như tiêm kích "Phantom" và cường kích "Intruder". Thời tiết không cho phép sử dụng chúng. Sau đó đến bãi nước bọt tiếp theo được nhổ về phía chúng ta, đơn vị tàu sân bay xung kích ("Enterprise", "Midway") thông qua eo biển Tsugaru (Sangarsky) đi vào biển Nhật Bản. Ở đây, tất nhiên, chờ đợi họ là cả một cục các lực lượng đối kháng: sư đoàn không quân hải quân độc lập mang tên lửa hành trình, sư đoàn tàu ngầm nguyên tử đa năng, các tàu sân bay "Minsk" và "Novorossiysk", tàu tuần dương hạt nhân hạng nặng trang bị tên lửa "Frunze". Sau khi các đòn không kích xuống bờ biển Primorye của máy bay trên hạm thực hiện xong, đơn vị tàu sân bay xung kích đã an toàn vượt qua eo biển Triều Tiên vào biển Hoàng Hải. Tại đây kết thúc cuộc tập trận hải quân của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ "Flitekh-82". Hệ thống chỉ huy tác chiến của quân đội Mỹ trở về chế độ cũ. Còn vào lúc này, chúng tôi bắt đầu ngồi phân tích những sai lầm của mình trong các ủy ban đặc biệt. Nhưng kết quả của chúng cho đến tận ngày hôm nay cũng chưa được đưa ra.

3. Những bài học từ trận "Trân Châu Cảng Xô Viết"

Thứ nhất, Hạm đội Thái Bình Dương với tư cách một hạm đội đại dương, hạm đội tên lửa-hạt nhân đã không còn tồn tại. Bây giờ hạm đội đó chỉ còn khả năng chiến đấu chống lại hải tặc Somalia ở Vịnh Aden. Điều này được mô tả như thể đó là công trạng lớn nhất đối với hạm đội.

Thứ hai, khi vào thập kỷ 90 thế kỷ trước, người ta tuyên bố về cải cách quân đội và các cơ hội thương mại để bán các tàu mặt nước và tàu ngầm của chúng tôi, nhiều nhà lãnh đạo quân sự đã vớ bẫm. Người ta đã bán các tàu sân bay "Minsk" và "Novorossiysk" một cách rẻ mạt. Vấn đề phức tạp hơn với các con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tàu tuần dương tên lửa hạng nặng chạy năng lượng nguyên tử "Frunze", và tàu trinh sát cỡ lớn chạy bằng năng lượng nguyên tử "Ural". Chúng là những con tàu không thể bán. Từ lâu chúng đã cần phải thay thế nhiên liệu hạt nhân. Tuy nhiên, không có ai trong chính phủ Nga đứng ra đảm nhận trách nhiệm này. Làm sao có thể giải trừ những con tàu như vậy? Biết làm gì với cái lõi hạt nhân của những con tàu này? Trong hơn 20 năm, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết. Các con tàu thì mục nát dần ở các cầu cảng, như trong ký ức của những năm 80 vinh quang.

Thứ ba, hồi đó là lần đầu tiên tại bờ biển Viễn Đông của nước Nga, đã hoàn thành xây dựng một mô hình chiến dịch tấn công đường không mới của Hải quân Mỹ. Như sau này ta được biết, cuộc tấn công quy mô lớn đầu tiên bằng tên lửa hành trình "Tomahawk" từ năm tàu ngầm hạt nhân đa năng lớp "Los Angeles" đã được xác định từ khoảng cách 1500 km ngoài khơi vùng bờ biển bán đảo Kamchatka. Các mục tiêu chính của cuộc tấn công - sân bay căn cứ của lực lượng không quân hải quân mang tên lửa hành trình ở Elizovo, căn cứ tàu ngầm xô viết trên bán đảo Kamchatka, hệ thống phòng không và SCH lực lượng vũ trang Liên Xô ở Kamchatka. Điều này được thực hiện nhằm đảm bảo giảm tối đa tổn thất cho các máy bay hải quân đóng căn cứ trên các tàu sân bay "Enterprise" và "Midway" khi chúng tấn công từ tuyến xuất phát cách 1.200 km tới Kamchatka. Nó chiếm thời gian khoảng nửa giờ giữa các đợt máy bay tấn công.


USS Los Angeles (SSN-688) hành quân trên biển, sau khi tham gia Fleetex-82, ngày 1 tháng 12 năm 1982.

Khi tại cơ quan trinh sát Hạm đội Thái Bình Dương, chúng tôi nghiên cứu mô hình chiến dịch tấn công đường không này, nhiều thứ mới trở nên rõ ràng. Phải nói thêm rằng sau này, trong chiến dịch quân sự lần thứ nhất chống Iraq "Bão táp sa mạc» («Desert storm») và chiến dịch thứ hai "Tự do cho Iraq” (« Freedom of Iraq »), người Mỹ đã sử dụng chính mô hình này: ban đầu là đòn tấn công bằng tên lửa hành trình "Tomahawk", sau đó đến đòn không kích ồ ạt quy mô lớn của không quân hải quân trên tàu sân bay và không quân chiến thuật vào các mục tiêu của đối phương, và cuối cùng đến chiến dịch mặt đất.

Thứ tư, kết quả cuộc tập trận năm trước "Flitekh-82" đã trở thành động lực cho cuộc tập trận "Flitekh-83" năm sau tích cực hơn, và sau đó là cuộc tập trận "Passex" gần miền duyên hải của chúng ta với sự tham gia của ba nhóm tàu sân bay xung kích, được triển khai từ căn cứ hải quân mới "Bremerton" trên biên giới với Canada và căn cứ San Diego, có các tàu sân bay hạt nhân "Nimitz", "Enterprise", "George Washington", dọc theo quần đảo Aleutian đến tận bán đảo Kamchatka. Nhưng tại thời điểm này, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng đáp trả chúng. Hai tàu trinh sát tốc độ cao, sư đoàn tàu ngầm nguyên tử chống tàu sân bay, sư đoàn không quân hải quân với các máy bay mang tên lửa hành trình không đối hải, lực lượng không quân trinh sát tầm xa và các tàu theo dõi trực tiếp. Đó là lý do tại sao người Mỹ đã không gây được bất ngờ. Nhưng năm 1983 đã mang đến một sự kiện làm căng thẳng tình hình quốc tế liên quan đến chiếc máy bay dân dụng "Boeing 747" của hãng hàng không Hàn Quốc «Korean Air Line 007» («KAL-007") bị máy bay tiêm kích của chúng ta bắn rơi trong khu vực đảo Moneron, phía nam đảo Sakhalin. Thực tế đó là một hành động khiêu khích sau hai cuộc tập trận "Fleetex" và tôi không hề nghi ngờ điều này. Nhưng đó lại là một vấn đề riêng biệt.

Để kết thúc, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là phải hiểu hạm đội hải quân của nước Nga bây giờ như thế nào và tại sao các sĩ quan hải quân Nga lại có đôi mắt buồn như vậy?

Một mặt, khi mà bạn đang phục vụ trong Hải quân, bạn biết rằng đằng sau bạn là quốc gia, bạn đang bảo vệ nó, và nó sẽ không bao giờ phản bội bạn, không lừa gạt bạn và đánh giá cao sự đóng góp của bạn. Khi đó bạn và quốc gia - một thực thể duy nhất.
   
Một mặt khác – hoàn toàn trái ngược. Thật không may, bây giờ - lại đang là điều hoàn toàn trái ngược. Bởi vậy, trường đoạn được mô tả trên trong lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương – nó chỉ đơn giản là "câu chuyện cổ tích của bà Matriona” ngày hôm nay. "Cần phải cho người Mỹ thêm ít bột và tất cả sẽ được giải quyết".

Tôi tin rằng điều đó là không đúng. Điều đó là gì với người Nga, họ sẽ hiểu những gì tôi muốn nói.

CÔ HÊU.
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Chín, 2012, 01:14:34 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #114 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2012, 12:17:23 am »

(tiếp theo post #110)

Cuộc đời trong ống kính tiềm vọng. Ảo ảnh của một thủy thủ tàu ngầm còn sót lại.
Chuẩn đô đốc A.T.Shtyrov.


Tàu ngầm B-37 đề án 641 Hạm đội Biển Bắc

Ngày 11 tháng 1 năm 1962 trong thời gian kiểm tra buổi sáng và vận hành các cơ cấu máy khi tàu ngầm đậu ở cầu tàu thì nổ đạn ngư lôi trong khoang mũi. Nguyên nhân có khả năng nhất của thảm kịch: động cơ điện của tời đứng, bố trí trong tàu ngầm phía trên đạn ngư lôi xếp trên giá đỡ bị ngắn mạch và nóng chảy rơi xuống đầu đạn ngư lôi. Nguyên nhân thứ hai có thể xảy ra: nổ một ngăn ắc quy ngư lôi điện trên giá đỡ do thông gió kém, đồng thời với việc đang làm công tác hàn trong khoang trong thời gian vận hành vốn là sự vi phạm quy trình trắng trợn.

"Thuyền trưởng B-37 trung tá hải quân V.Begeba trong thời gian vận hành máy và xảy ra nổ không hiểu sao lại đang ở trên bến và bận nghe điện thoại. Theo hướng dẫn điều lệnh, ông phải ở trong phòng điều khiển trung tâm. Vào thời điểm vụ nổ ông đã bị xé toạc cả hai chân. Tuy nhiên tòa án quân sự vẫn kết án cựu thuyền trưởng 10 năm tù. Không biết người thuyền trưởng tàn tật liệu có thụ án cho đến mãn hạn không, nhưng vụ nổ cũng làm đắm chiếc tàu ngầm gần đó giết chết toàn bộ 122 thủy thủ tàu ngầm", -  truyền thuyết về sự kiện này suốt ba thập kỷ đã lưu truyền trong giới thủy thủ tàu ngầm tại tất cả các hạm đội xô viết.

Với đoạn trích này đã nảy sinh ít nhất hai ý kiến. Đầu tiên, nếu ngay cả các thuyền trưởng các tàu ngầm sau nhiều thập kỷ cũng không biết đích xác hoàn cảnh của thảm kịch được mô tả và tin tưởng rằng tòa án đã định án 10 năm cho người thuyền trưởng cụt cả hai chân, thì ... đó là có lợi cho các nhà lãnh đạo quân sự cấp cao, nhất là lãnh đạo Hải quân. Bởi lẽ thật là đáng sợ! Thứ hai, cả Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Bộ trưởng Quốc phòng đều yêu cầu thiết lập lại trật tự ở Hạm đội Biển Bắc dưới hình thức cực kỳ khắc nghiệt.



Trật tự bắt đầu lập lại với việc cách chức tư lệnh hạm đội của đô đốc A.T.Chabanenko và đưa thuyền trưởng trung tá hải quân A.S.Begeba ra tòa án quân sự. Tư lệnh mới của Hạm đội Biển Bắc đô đốc V.A.Kasatonov thẳng thừng tuyên bố với chánh án tòa án quân sự Hạm đội Biển Bắc đại tá F.D.Titov rằng, ông sẽ sử dụng bản án nghiêm khắc của tòa án như một "đòn bẩy cho sự củng cố kỷ luật một cách kiên quyết". Cần phải nói cả về tốc độ siêu nhanh mà từ ông ta chiếc đòn bẩy ấy được chuẩn bị. Đó là trong đúng ngày hôm ấy, ngày 11 tháng 1 năm 1962, tại Poliarnyi, một ủy ban nhà nước đã có mặt tại nơi xảy ra tai nạn, đứng đầu là Tổng tư lệnh Hải quân S.G.Gorshkov (trong ủy ban đó có một nhóm nhà khoa học do viện sỹ A.P.Aleksandrov lãnh đạo). Ủy ban đã dừng lại ở 4 trong 22 phương án. Phải nói thêm, kết luận của một ủy ban đầy uy tín này là hãy sẵn sàng... vớt tàu. Sau 3 tháng, 6 tập hồ sơ hình sự đã đến tay Titov, 2 tháng ông đích thân nghiên cứu các tài liệu điều tra sơ bộ, kiểm tra các phần còn lại của con tàu đã được vớt lên, kiểm tra bến tàu, cầu tàu, nói chuyện với các nhân chứng, thêm 8 ngày làm quen với các tài liệu của các hội thẩm nhân dân (là các sĩ quan tàu ngầm). Phiên tòa diễn ra từ 18-22 tháng 6 năm 1962 tại thành phố Polyarnyi. Vào cuối phiên đọc cáo trạng và tranh biện, trong đó Begeba tự bào chữa cho mình mà không cần luật sư, các thẩm phán đã phải hội ý từ 10 giờ đến 22 giờ 40 phút, và ra phán quyết... trắng án. Mặc dù có những tiếng la ó, đấm tay và dậm chân của Kasatonov, có kháng nghị của Viện kiểm sát Severomorsk và những âm mưu bí mật khác, Hội đồng Quân sự Tòa án tối cao Liên Xô đã giữ nguyên bản án đã tuyên của Toà.

Tôi muốn đề cập đến một vài khoảnh khắc. Thuyền trưởng B-37 không phải là đang "ba hoa không biết ở chỗ nào nữa", "vắng mặt do nhu cầu riêng đến 8-9 phút", 10 phút sau đó ông đã đứng trên bến tàu ngay cạnh mạn tàu ngầm, "quan sát quá trình vận hành đối với phần bên ngoài của tàu ngầm", và khi xuất hiện khói ở hàng rào tháp chỉ huy thì ông ngay tức khắc dùng điện thoại bờ báo cáo ban tham mưu về vụ cháy. Sau đó ông đã cố gắng leo qua cửa nắp thượng trên tháp chỉ huy vào tàu, nhưng vụ nổ đã ném ông xuống biển. Công bằng mà nói cũng nên ghi nhận sự buộc tội giả tạo của những nhà báo không hiểu biết về tất cả những việc lộn xộn trên tàu trước khi xảy ra bi kịch. Năm 1961, tàu phục vụ ở tuyến 1 hơn 80 ngày thi hành nhiệm vụ trực ban chiến đấu, ngày 10 tháng 1 năm 1962 vừa mới trả bài sát hạch đầu tiên được điểm "tốt". Và quan trọng nhất - tàu nằm trong kế hoạch phục vụ chiến đấu, và đang chuẩn bị "độc hành" trong một phiên đi chiến dịch đầy đủ. Sự dối trá có cả trong con số người thiệt mạng, một lần nữa nhằm tuyên truyền nâng cao sự kinh hãi suốt nhiều năm sau: không phải 122, mà là 70 thủy thủ tàu ngầm, 59 người của B-37 và 11 người của tàu S-350 đậu cạnh. (Chú thích - V.Novikov).


Begheba Аnatoly Stepanovitch, học viên tốt nghiệp Cao đẳng Hải quân mang tên М.V.Frunze năm 1948. (lưu trữ của S.V.Liubimova), thuyền trưởng B-37 (N.Cherkashin. "Đời sống thường nhật của các thủy thủ tàu ngầm Nga". Мoskva, năm 2000.).

Để công bằng nữa thì cũng cần nhắc lại rằng việc xảy ra tai nạn trên tàu ngầm có từ thời trước đây. Tuy nhiên, dưới thời Stalin việc xử sự với những người đứng đầu có khác nhau. Ví dụ, sau vụ đắm tàu ngầm Hạm đội Thái Bình Dương S-117 tháng 12 năm 1952, tư lệnh hạm đội, chỉ huy lữ đoàn và chủ nhiệm chính trị phải báo cáo gần 8 giờ cho Malenkov, Bulganin, Beria và những người khác, và đồng thời một ủy ban nhà nước đến làm việc ngay tại Sovgavan, và ... sự đàn áp vô cùng khắc nghiệt: cách chức tất cả ba chỉ huy lữ đoàn tàu ngầm, còn lãnh đạo hạm đội bị cảnh cáo. Cũng gần cùng một hậu quả như vậy diễn ra theo kết quả điều tra nguyên nhân và hoàn cảnh dẫn đến cái chết của tàu ngầm S-80 Hạm đội Biển Bắc, bị đắm tháng Giêng năm 1961. Sự thật là Thứ trưởng Quốc phòng Nguyên soái Rokossovsky đã lãnh đạo cuộc điều tra tại chỗ. Vậy thì, vấn đề không chỉ nằm trong hệ thống, mà còn là con người.

Tác giả coi là cần thiết việc lưu ý rằng các vụ hỏa hoạn khẩn cấp kiểu này đã diễn ra trong các hạm đội từ trước kia, nhưng vụ nổ ngư lôi có thể tránh được thông qua những hành động nhanh chóng và khéo léo của tập thể sỹ quan và thuyền viên bằng việc cho nước ngập khoang chứa ngư lôi.

Một ví dụ cho việc này là vụ cháy khoang thuốc nổ của một quả ngư lôi trên tàu ngầm S-221 năm 1961. Lãnh đạo cứu hộ là thuyền trưởng tàu ngầm S-78 bên cạnh, thiếu tá hải quân I.Stikhin, sau khi nhảy qua tàu bị nạn, ông đã ra lệnh xả nước khẩn cấp vào khoang tàu thứ nhất, còn người thay thế thuyền trưởng chính thức là tham mưu trưởng S. đã bỏ chạy khỏi tàu ngầm một cách nhục nhã.

Tàu ngầm diesel mang tên lửa đạn đạo К-129 đề án 629-А

Tàu bị chìm ở Thái Bình Dương cùng toàn bộ thủy thủ đoàn ngày 08 tháng 3 năm 1968 (ngày tính toán) khi đang cơ động đến khu vực tuần tra chiến đấu.

Kịch bản có khả năng nhất của tai nạn này như đã nói phần trước: tàu ngầm đi trong chế độ RDP và khi cải hướng hải trình đã vô tình bị tàu ngầm hạt nhân Mỹ "Swordfish" đang theo dõi nó và đang cơ động rất nguy hiểm đâm phải.

Tàu ngầm "Swordfish» (SSN-579 Swordfish) – là một tàu ngầm nguyên tử đa mục đích, lớp "Skate". Được thiết kế lúc đầu theo đề án tàu ngầm diesel "Tange". Được đưa vào quân số phục vụ từ 1958 đến 1989. Độ choán nước 2360/2848 tấn, chiều dài 81,6 m, chiều rộng 7,6 m, tốc độ đi nổi - 15 hải lý, tốc độ đi ngầm - 20 hải lý, độ sâu lặn tối đa 250 m. Thủy thủ đoàn 84 người. Vũ khí: 6 ống phóng lôi khoang mũi và 2 ống phóng lôi khoang đuôi cỡ 533mm.



Tàu ngầm nguyên tử Mỹ "Swordfish" bị phát hiện trong thời gian tiến hành chiến dịch săn lùng chống ngầm ở vịnh Piotr Đại Đế. Mùa hè 1973.

Tuy nhiên, cần tính đến thực tế là các tàu ngầm ở Kamchatka thời kỳ đó thường lạm dụng chế độ RDP, và điều đó còn được khuyến khích bởi các bộ tư lệnh. Chế độ RDP trong các chuyến hành quân dài ngày trên biển cho phép đội ngũ quân nhân hút thuốc trong khoang động cơ diesel. Mà thuyền trưởng K-129 lại là một người hút thuốc liên tục. Sau khi sự thật về cái chết của một tàu ngầm bị "nổi lên bề mặt" đã có chỉ thị đặc biệt của Tổng tư lệnh Hải quân cho các tàu ngầm đang làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu rằng từ nay về sau nghiêm cấm sử dụng chế độ RDP (trước khi xảy ra thảm họa của K-129 thì yêu cầu là hoàn toàn ngược lại). Những thăng trầm còn lại của thảm kịch đủ để được mô tả trong vô số các ấn phẩm suy đoán "văn học-sự kiện và nhân chứng" về đề tài đó.

Các tài liệu của ủy ban chính phủ nhận xét: "... tiến độ thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã phê duyệt không phải lúc nào cũng được tuân thủ, quyết định sửa đổi kế hoạch được đưa ra đôi khi không linh hoạt, nhiều khi không phân tích thấu đáo tình trạng thực tế của các tàu ngầm, không thường xuyên đảm bảo được thời gian thích hợp để hoàn thành các bài huấn luyện theo giáo án,... trong công tác của cơ quan tham mưu và Cục Chính trị Hạm đội Cờ Đỏ Thái Bình Dương thiếu hàng loạt mối liên lạc và thông tin đa chiều, kết quả là trong việc lập kế hoạch nhiệm vụ phục vụ chiến đấu không có sự tham gia cần thiết của cơ quan chính trị hạm đội, họ không phải lúc nào cũng biết về việc phân công các con tàu đi thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và thời gian huấn luyện của các con tàu đó"*.

Sau nhiều năm, tiếc thay có thể nói rằng, việc phân tích đầy đủ những thiếu sót trong công tác của các cơ quan chỉ huy ở tất cả các cấp - cả trong huấn luyện trước khi đi biển làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, cũng như khi tiến hành các hoạt động tìm kiếm-cứu nạn - vẫn chưa được thực hiện, minh chứng cho điều đó là sự hy sinh của các tàu ngầm nguyên tử "Komsomolets" và "Kursk", và cả sự hy sinh của S-178 cũng là bằng chứng cho nhiều vấn đề trong lương tâm nghề nghiệp của các cơ quan tham mưu. Hay nói cách khác là không thể, sau hàng đống những cụm từ to tát và dài dòng khủng khiếp ẩn giấu khả năng kém cỏi và tính vô trách nhiệm của chính các cơ quan tham mưu. Chỉ cần nhớ rằng giáo trình đào tạo hàng hải (KMP-52 - Курс морской подготовки - КМП-52) suốt ba thập kỷ đã trở thành một di tích bảo tàng trong thời đại của hạm đội tên lửa-hạt nhân, hạm đội tàu sân bay, hạm đội đại dương và các hạm đội khác. Tài liệu mới về đề tài này đã ra đời năm 1985 (năm 1973, tại Hạm đội Thái Bình Dương tàu ngầm nguyên tử trang bị tên lửa hành trình K-56 ban đêm đã đâm phải tàu khảo sát-nghiên cứu khoa học "Viện sĩ hàn lâm Berg", trong hai khoang ngập nước nhiều người hy sinh, bộ tham mưu và hai tư lệnh sư đoàn vẫn còn sống).

* I. Kasatonov. Hạm đội tiến vào đại dương. - Moskva. NXB Ngọn cờ Thánh Andreev, năm 1996, trang 267.

Các thủy thủ hy sinh của tàu ngầm K-129 không liên quan đến cái gọi là thủy thủ đoàn "ẩm ướt", chắc chắn đã bỏ qua một số sai lầm bi thảm, nhưng họ xứng đáng không phải với màn kịch "Yaroslavna sướt mướt", mà xứng đáng với sự kính trọng của quân đội.


Thủy thủ đoàn K-129 trước chiến dịch đi biển cuối cùng. Ở giữa ảnh - trợ lý chính của thuyền trưởng Zhuravin.
........
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Chín, 2012, 05:29:14 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #115 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2012, 06:40:20 pm »

(tiếp)

Tàu ngầm S-178 đề án 613

Ngày 21 tháng 10 năm 1981 tại lối vào eo biển Bosphor Đông (Vladivostok), cách hải đăng trên đảo Skryplev một vài dặm, do va chạm với tàu biển "Tàu đông lạnh-13" mà tàu ngầm S-178 đã bị chìm.

Khi mô tả tai nạn các thủy thủ tàu ngầm-nhà yêu nước và các nhà văn-nhà đi biển ở mọi cấp độ thường tập trung vào chủ nghĩa anh hùng và sự chưa hoàn thiện của lực lượng cứu hộ hải quân và các phương tiện cứu hộ của chính tàu ngầm. Tất cả những điều này đều có thật. Tuy nhiên, họ lại "che khuất" một thực tế khó coi: "con tàu biển "Tàu lạnh-13" mà nhiều người trên đó say rượu và vô kỷ luật không chỉ "ba hoa" trên lối ra của eo biển Bosphor Đông trong vịnh Ussuri, mà còn tạo ra độ lệch dư và độ lệch vô tuyến trong trường bắn biển B-26, nó cơ động theo những luồng lạch biến đổi, mà về nó đáng lẽ SCH  Hạm đội Thái Bình Dương cần phải biết. Việc quan sát tình hình đường biển trên tàu tỏ ra không đạt yêu cầu.

Tàu ngầm S-178 (thuyền trưởng – thiếu tá hải quân V.Marango, có mặt trên tàu – Tham mưu trưởng lữ đoàn tàu ngầm và một bộ phận cơ quan tham mưu lữ đoàn) sau khi thực hiện thành công bài tập số 2 tại trường bắn biển thì đi tiếp trong tư thế nổi trở về căn cứ đồng thời vi phạm quy tắc cắt qua góc trường bắn. Trên cầu điều hướng tàu ngầm, những chàng cướp biển trong lòng đại dương đang trong tâm trạng vui vẻ vì đã đạt điểm thi "xuất sắc" đứng đầy cầu điều hướng hành trình như một đàn quạ, và mải tham gia vào một cuộc "săn biển", làm mất tập trung anh chàng đánh tín hiệu đang phiên trực.

Quan sát tình hình trong tư thế nổi KHÔNG thực hiện; báo động chiến đấu khi vào eo biển cũng KHÔNG. Một trạng thái lâng lâng tương tự của thủy thủ  đoàn, khi mà thời tiết trong sáng, biển êm, cứ kéo dài mãi cho đến khi sống mũi tàu lạnh chỉ còn cách thân tàu ngầm từ 1-1,5 kabelt.



"Tàu lạnh-13" đâm vào mạn trái tàu ngầm ở vùng thuộc khoang động cơ điện. Những người đang đứng trên cầu điều hướng tháp chỉ huy, bao gồm cả thuyền trưởng, bị hất tung xuống biển. Tàu ngầm bị thủng một lỗ lớn trong vỏ bền và nước tràn vào đầy các khoang (không có báo động, và các vách ngăn không đóng lại) đã chìm ngay xuống đáy biển nằm im ở độ sâu 32 mét.

Các hoạt động cứu hộ sau đó đã cho thấy sự phá sản hoàn toàn của công tác cứu hộ-khẩn cấp của hạm đội khi làm việc với chiếc tàu ngầm chìm trong điều kiện "lý tưởng" cho chính mình: chỉ cách căn cứ gần 3 dặm, đáy biển bằng phẳng và nền đất đáy biển rất chắc, chỉ sâu khoảng 30-35 mét, thời tiết êm ả.

Sau bài trả sát hạch số 2 "xuất sắc" của tàu ngầm S-178, người ta mới biết rằng trong các thùng cứu hộ khẩn cấp đặt trong khoang tàu ngầm, ở nơi đã quy định có chứa sô-cô-la, đường, sữa đặc, hình như còn cả khoai tây, các bộ khí tài cứu hộ-cá nhân IDA-51 đã thải, còn bộ khí tài lặn khẩn cấp bên trong là len thô để tránh trộm cắp thì lại bị bỏ lại trong kho ở căn cứ. Kết quả là mọi người trong các khoang bị ngập nước không có phương tiện duy trì sự sống.

Các thủy thủ được cứu thoát lên mặt nước thông qua ống phóng ngư lôi đã thể hiện sự tự thân vận động. Các thủy thủ còn lại trong các khoang, chờ đợi chỉ dẫn của bộ chỉ huy từ trên mặt nước một cách hoài công, và họ đã chết vì bị hạ thân nhiệt và kiệt sức.

Thuyền trưởng tàu ngầm, đang ở trên mặt biển, thể hiện sự hèn nhát và hét lên với tàu lạnh: "Tôi - thuyền trưởng đây! Hãy cứu tôi trước tiên!" Ngược lại, trợ lý chính Kubynin và sỹ quan trưởng ngành cơ điện Zybin dù trong tình trạng nguy kịch vẫn xử sự rất xứng đáng. Nhưng điều này cũng không làm họ thoát được tội đã buông lỏng chức trách, làm thảm kịch thành trầm trọng. Tham mưu trưởng lữ đoàn V.Karavekov, ở lại bên trong chiếc tàu ngầm chìm, thể hiện sự mất hoàn toàn ý chí và đã chết về tinh thần trước khi chết về thể chất.

Cú đâm của tàu lạnh vào mạn tàu ngầm mạnh đến mức nó tách đôi thân bền, và trong khoang mô tơ điện của tàu ngầm, hai thủy thủ bị "gói" trong mạng đường ống và đường dây của khoang, như trong một cái kén. Sau khi vớt tàu lên và đặt tàu ngầm lên dok ở nhà máy, người ta mới có thể tách thân thể họ ra khỏi "cái kén" bằng máy cắt khí.

Thuyền trưởng tàu ngầm bị kết án 10 năm. Trong nhà tù anh ta đã bị các tù nhân nhạo báng một cách cay nghiệt, sau khi họ biết được các thông tin tương ứng từ "ý trên".


Sergei Mikhailovitch Kubynin

Trong quá trình điều tra, các công tố viên viện kiểm sát hạm đội và viện kiểm sát hàng hải đã làm việc chăm chỉ để giảm nhẹ mức độ tội lỗi người "của mình", thổi phồng đổ lỗi cho phía bên kia: ai đâm và đâm ai vào mạn trái thay vì mạn phải và v.v. Trong khi đó, với các thủy thủ tàu ngầm có kinh nghiệm thì ngay từ đầu đã rõ ràng: điều kiện tiên quyết dẫn đến thảm họa được tạo ra từ cả hai bên. Nhưng chiếc tàu ngầm với ban tham mưu lữ đoàn trên tàu - vi phạm ở mức độ lớn hơn. Quy tắc hàng hải thiêng liên cổ xưa đã bị vi phạm: "Nếu trên biển bạn nhìn thấy một con tàu đi về phía mình, hãy coi rằng một thằng ngốc đang điều khiển nó". Trong trường hợp này, chẳng có nguyên tắc nào được áp dụng, bởi vì việc quan sát tình hình trên biển không được bên nào thực hiện, cả trên tàu lạnh lẫn trên tàu ngầm.

Tác giả câu chuyện có quyền về mặt tinh thần để khẳng định dứt khoát, bởi lẽ trong 15 năm đi biển trên các tàu ngầm thuộc đề án này trong cùng một khu vực, đã hàng chục, nếu không phải hàng trăm lần đi qua đi lại một cách an toàn trong khu vực đó cùng với tất cả các loại tàu thuyền ra vào các cảng biển ở Vladivostok trong bão, trong sương mù, và khi mà trên biển tàu thuyền các loại rất đông đúc. Tác giả đã từng phục vụ ở cương vị trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm tại chính lữ đoàn đó và nhớ rõ tất cả các "truyền thống" của đơn vị. Rõ ràng, V.Marango cựu thuyền trưởng thuộc vào thể loại các anh chàng lính thủy nông nổi ở hạm đội mà với họ, số mệnh đã chơi một trò đùa vô cùng tàn nhẫn.


Đám tang của các thủy thủ chết trong tai nạn. Nghĩa trang hàng hải tại Vladivostok. Năm 1981.

Khi nói đến tai nạn đắm tàu ngầm, luôn luôn phát sinh câu hỏi về việc chăm sóc của nhà nước đối với các thân nhân của các thủy thủ chết. Vào cuối thế kỷ 20, mối quan tâm này đã mang tính chất phù du với đậm nét pi-a. Mặc dù dưới thời I.V.Stalin có những phương pháp tiếp cận khác (bí mật, vâng, - vượt quá giới hạn hợp lý), nhưng các giải pháp hoàn toàn có tính con người. Một ví dụ: sau sự cố đắm tàu năm 1952 của tàu ngầm S-117, toàn bộ vợ những thủy thủ tàu ngầm hy sinh đều nhận được một căn hộ ở phần châu Âu của Liên Xô, các bậc cha mẹ - nhận được một khoản trợ cấp (tại thời điểm đó) là tương đối khá. Và hoàn toàn tuyệt vời đối với ngay thời đại chúng ta: "... em gái của thủy thủ Korolev là Koroleva Valentina Stepanovna được nhận một khoản trợ cấp 300 rúp mỗi tháng cho đến khi tốt nghiệp đại học".

YÊU CẦU SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU

Kể từ năm 1965, nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã trở thành phương thức hoạt động chính của lực lượng hải quân, bao gồm cả tàu ngầm. Trong khi ở giai đoạn đầu, việc thực hiện các chiến dịch hành quân phục vụ chiến đấu mang tính lẻ tẻ và về cơ bản nhằm vào hai mục đích - trinh sát không gian chiến trường và phô bày sự hiện diện, - thì sau đó từ năm 1967 đã đưa vào áp dụng một hệ thống sử dụng các tàu ngầm quay vòng theo chu kỳ. Trong một thời gian ngắn hoạt động phục vụ chiến đấu được hình thành trong hình thức cao nhất của việc duy trì sự sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng hải quân. Trong khoảng thời gian từ 1965 đến 2000, các tàu ngầm đã thực hiện 3800 chiến dịch đi biển phục vụ chiến đấu, trong đó: 1300 - của các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược, 900 - tàu ngầm nguyên tử đa năng, 1600 - tàu ngầm diesel, tức là hơn 40%. Thống kê theo các hạm đội: Biển Bắc - 54%, Thái Bình Dương - 40%, Baltic - 5% và Biển Đen - 1%. Thêm vào đó các tàu ngầm Hạm đội Biển Bắc từ giữa năm 1969 bắt đầu các chiến dịch phục vụ chiến đấu ở Địa Trung Hải trong thành phần lữ đoàn và ở tại đấy từ 7 đến 13 tháng (và điều đó kéo theo sự căng thẳng của vấn đề hậu cần nổi - sửa chữa, cung ứng vật chất, tạo điều kiện nghỉ ngơi cho thủy thủ đoàn, v.v.)


Oh, thật không dễ dàng, đời phuc vụ tàu ngầm... - N.Cherkashin. Hải đoàn đen. - Moskva. NXB Kum-Press, 2003.

Đến giữa những năm 197х, trong số 2 100 phương tiện mang vũ khí hạt nhân (có tính chiến lược) thì 26% thuộc Quân chủng Hải quân. Cùng một lúc trong các khu vực tuần tra chiến đấu phía Tây và phía Đông Hoa Kỳ có đến 8 RPKSN (trên cự ly 3 000 km) với thời gian bay tới mục tiêu của tên lửa đạn đạo là 20 phút. Khoảng từng ấy tàu ngầm trong thời gian này đang trên đường di chuyển "tới đó" và "trở lại".
........
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Chín, 2012, 01:54:54 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #116 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2012, 12:18:39 pm »

(tiếp)

Tàu ngầm Liên Xô khi đi chiến dịch thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu phải giải quyết 3 nhiệm vụ, thực chất là các nhiệm vụ chiến lược: tìm kiếm và theo dõi các tàu ngầm nước ngoài, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt chúng (khi khởi đầu chiến tranh, hoặc theo mệnh lệnh); các RPKSN tuần tra chiến đấu trong tư thế sẵn sàng tấn công các mục tiêu mặt đất; săn tìm và theo dõi nhóm xung kích đổ bộ (DUG- ДУГ),  nhóm trinh sát-tấn công (RUG- РУГ) và các biên đội tàu chiến đấu (OBK- ОБК) của lực lượng hải quân NATO nhằm sẵn sàng khai hỏa vũ khí vào các đối tượng đó. Kể từ năm 1965, lực lượng thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đã hơn 1500 lần phát hiện các tàu ngầm hạt nhân nước ngoài, trong đó có 885 trường hợp (60%) là do tàu ngầm phát hiện, và 80% trong số đó – do tàu ngầm diesel. Việc theo dõi giám sát (380 ngày đêm) đạt hiệu quả nhất về độ dài thời gian thực hiện, tất nhiên vẫn thuộc về tàu ngầm hạt nhân.

Nói về độ khắc nghiệt của các trò chơi "mèo vờn chuột" dưới mặt nước là những sự cố va chạm tàu ngầm trong tư thế đi ngầm: từ tháng 12 năm 1967 đến tháng 3 năm 1993 đã ghi nhận 12 vụ va chạm (2 trong số đó là va chạm với tàu ngầm Anh), bao gồm 7 vụ - tại bờ biển của chúng ta và chỉ có 1 vụ - ngoài khơi bờ biển Scotland (căn cứ hải quân Holy Loch). 2 trong 12 vụ xảy ra vào các năm 1992 và năm 1993, tức là sau sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và thắng lợi của nền dân chủ ở Nga. Với một xác suất khá cao, có thể giả định rằng sự hy sinh của những con tàu K-129, K-219 và "Kursk" của chúng ta là kết quả của các vụ va chạm.

Trong những năm 1950-1960 trong số các tàu ngầm ở trong biên chế có ít nhất 60 tàu ngầm phải được duy trì trong lực lượng "thường trực sẵn sàng chiến đấu" (với thời gian chuẩn bị trước khi ra khơi hoạt động chiến đấu: các tàu ngầm trực chiến – 1 giờ, các tàu ngầm đang ở trên các dok và đang sửa chữa thiết bị dẫn đường - 5 ngày). Để so sánh: Hải quân Nhật Bản duy trì sự sẵn sàng chiến đấu của tàu ngầm - 70%, Hải quân Trung Quốc - 30%, Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ - 35%.

Trong thực tế, nếu tại các đơn vị tàu ngầm duy trì được mức độ sẵn sàng chiến đấu như vậy, thì đó là nhờ gắng gượng mà thôi. Lý do chính – căn cứ sửa chữa-thay thế nghèo nàn và hệ thống căn cứ triển khai không đầy đủ.


Biển khơi - chiến trường của số phận.... - N.Cherkashin: Những độ sâu nổi loạn. Các chiến dịch bí mật của các tàu ngầm xô viết trong những năm Chiến tranh Lạnh. - Мoskva: NXB Những ngọn lửa chiều, 2011 г.

Trong thời gian có các cơn bão biển dữ dội những năm 195x-197x phần lớn các tàu ngầm rời các điểm đóng quân đến các khu neo đậu, còn tại các vịnh độc lập thì chúng được đặt nằm xuống nền đáy vịnh. Do cấp sẵn sàng tránh bão № 3, 2 và 1 như thế nên các kíp thủy thủ thường xuyên được giữ trong trạng thái căng thẳng.

Bộ tổng tư lệnh Hải quân trong việc theo đuổi thành phần định lượng các hạm đội đã chi tiêu rất hà tiện những đồng "cô-pếch" cho sự phát triển của các nhà máy sửa chữa tàu biển, các dok sửa chữa, các cầu cảng và các căn cứ kho tàng*. Trong đó lực lượng ngầm nếu so sánh với hạm đội mặt nước lại được ở trong một vị trí ưu tiên đặc quyền đặc lợi.

Tuy nhiên, sự phục hồi mức sẵn sàng về kỹ thuật của các tàu ngầm, đặc biệt là sau những chuyến đi biển dài ngày gặp mưa bão, bị kéo dài thời gian hành quân mà không có chỉ thị cho phép nào lường trước được. Trong những trường hợp này, cục kỹ thuật các hạm đội, phòng kỹ thuật phân hạm đội và ban kỹ thuật các đơn vị phải nỗ lực hết sức nặng nề để duy trì và khôi phục lại trạng thái kỹ thuật cho các con tàu.

Và nếu trong các căn cứ đóng quân theo truyền thống "cũ" (Hạm đội Baltic và Thái Bình Dương), mức sẵn sàng của các tàu ngầm ít nhiều gì cũng duy trì được, thì trong các điểm đóng quân mới xa các nhà máy, vấn đề duy trì mức sẵn sàng kỹ thuật cho các tàu ngầm được giải quyết rất tệ.



* Điều kiện bảo quản, chuẩn bị và nạp cho phương tiện mang các loại vũ khí ngư lôi, tên lửa và mìn, phụ tùng thay thế và các tài sản hàng hải khác là rất khác các điều kiện bảo quản tồn trữ ... đệm lót ủng hoặc bánh mì khô.

Từ đó mà phát sinh mối nguy cơ lớn nhất trong tất cả các mối nguy hiểm của hoạt động ngầm dưới nước - "sức mạnh của thói quen”, bơi với những sai sót "chấp nhận được" và đã quá hạn sửa chữa hoặc thay thế các cơ phận. Tác giả (với tư cách một sỹ quan phân hạm đội Kamchatka chịu trách nhiệm việc duy trì các tiêu chuẩn đã thiết lập về sẵn sàng chiến đấu và chương trình đào tạo cho các tàu ngầm trước khi đi chiến dịch phục vụ chiến đấu) đã nhiều khi gặp phải những hiện tượng như vậy.

Ví dụ, tàu ngầm từ Magadan đến Petropavlovsk-Kamchatskaia để huấn luyện bổ sung và thử nghiệm trước khi đi làm nhiệm vụ. Thanh tra xuống tàu, đi quanh các khoang và hoài nghi mãi mà không nhớ ra thiếu cái gì. Thiếu gì đây? Và đột nhiên nhận ra: máy diesel - không có máy đo tốc độ góc (тахометров)!

- Vậy các anh định bơi thế nào đây?
- Ôi chúng tôi quen rồi, - anh em cơ điện vui vẻ báo cáo. – Chúng tôi nghe tiếng máy diesel để mà "điều chỉnh".
- Rất hay! Họ chuyển chế độ máy diesel theo âm thanh, xác định nhiệt độ của các ổ đỡ trục chân vịt, và tình trạng thời tiết – bằng phương pháp bôi bẩn ngón tay!

Sức mạnh "của thói quen" là như vậy. Sau nhiều năm đòi hỏi khắc nghiệt nhất cũng đã đi vào quá khứ, cùng với các kinh nghiệm quân sự của các thuyền trưởng. Tại các hạm đội đã xuất hiện các yếu tố công tử bột, kiêu ngạo, và từ đó là thái độ không quan tâm đối với con tàu, thủy thủ đoàn, đối với cả các nghĩa vụ thuyền trưởng của mình. Đặc biệt giữa các chùm sao chỉ huy, đó là người thuyền trưởng đã nổi lên với "những cẳng chân lông lá".



Tôi từng gặp người như vậy. Thuyền trưởng một tàu ngầm thuộc lực lượng tàu ngầm Kamchatka, đến từ Hạm đội Biển Đen, trong những năm 196x tại một trong những lần đi sửa chữa ở nhà máy đã khéo xoay xở để xây dựng một nhà tắm tại nơi hầm pháo (артпогреб) đã tháo dỡ với một chìa khóa đánh riêng trong túi cho mình. Người thuyền trưởng ấy trước chuyến di chuyển liên căn cứ Primorye-Kamchatka đã không thể tìm thấy trên bản đồ eo biển Kuril thứ tư (!), mà đi qua eo biển đó là tất cả các loại tàu thuyền đến Kamchatka, Chukotka, và Bắc Băng Dương. Bạn có thể tưởng tượng quan hệ kiểu gì sẽ tồn tại giữa thủy thủ đoàn trên chiếc tàu ngầm đó.

THỐNG KÊ GIẢ TẠO

Hạm đội như một đứa trẻ sơ sinh đã nhiễm đại dịch báo cáo láo của đất nước chẳng khác mấy môi trường đã tạo ra nó. Điều này đặc biệt rõ ràng sau khi loại bỏ vào năm 1957 Bộ trưởng Quốc phòng Nguyên soái Zhukov (và một năm trước đó - Đô đốc N.Kuznetsov). Khắp nơi người ta áp dụng phong cách lãnh đạo "Leninit" (phong cách Khrushchev-Brezhnev).

Xuất hiện một mong muốn làm ra những con tàu "xuất sắc" (đơn vị chiến đấu và phục vụ chiến đấu), với tất cả các dung sai cho phép, những sự nối dài và các công ước. Con tàu không thể xếp đặt là "xuất sắc" vì những thành tựu hoặc các lý do khác, cho dù ta muốn, hãy thoát ra khỏi thiên hà danh dự này: không cho phép có tất cả các số liệu thống kê "được làm đẹp". Thường thì ta thấy rằng các con tàu “xuất sắc” (tàu ngầm cũng vậy) có bên trong thân tàu rất nhiều tệ lậu được che giấu, mà những con tàu tầm thường cũng không mơ thấy. Thường thì cái gọi là "thi đua xã hội chủ nghĩa" chỉ tồn tại trên giấy, bằng cách sử dụng những điển hình khéo léo .



Theo thời gian, theo các lý do tiết kiệm tiền và các nguồn tài nguyên những việc sau đã trở thành phổ biến: tấn công ngư lôi có nghĩa là "ngư lôi bọt", tấn công tên lửa - "phóng điện tử", ra khơi kiểm tra – ra khơi "rút gọn", sự thay thế phụ tùng và cơ cấu máy tổng thành cần thiết – “thủ đoạn” giấy tờ của công vụ theo biên bản kiểm tra.

Một nghịch lý đã được tạo ra: đơn vị tàu ngầm đóng quân cách khá xa cơ quan tham mưu hạm đội, thường có sự sẵn sàng chiến đấu cao hơn so với các đơn vị “cận kề”. Tuy nhiên, việc áp dụng phong cách "Leninnit" (giáo dục-thuyết phục) đã dẫn đến tình huống trong đó người thuyền trưởng trở thành vật tế thần chung cho một núi trách nhiệm cùng một nhúm quyền lực. Trái với tất cả các điều lệnh và quy định quân sự, thuyền trưởng không thể thoát được những kẻ vô lại công khai khi tòa án trả lại chúng (thống kê của tòa án và cơ quan chính trị đòi hỏi tỷ lệ ra tòa cũng như các vụ vi phạm thô bạo kỷ luật quân đội phải thường xuyên hạ thấp và xu hướng ấy phải là không đổi, đòi hỏi một sự cân bằng kiểu jesuistes – cái được coi là "vi phạm thô bạo", cũng như  - “vi phạm không thô bạo").

Kết quả là đã xảy ra cái mà chưa bao giờ có tại hải quân Nga: các sỹ quan xứng đáng được bổ nhiệm lại từ chối việc bổ nhiệm vào cương vị thuyền trưởng các con tàu (trong quá khứ - giới hạn mơ ước cuối cùng của một sĩ quan hải quân – đứng trên cầu điều hướng hành trình, nâng cao cờ hiệu "của mình").

BẢO ĐẢM VẬT CHẤT

Lực lượng tàu ngầm theo truyền thống được coi là bộ phận có đặc quyền tài chính trong hạm đội. Điều này phản ánh trong việc trả lương, cấp nhà ở cho sỹ quan và hạ sỹ quan, và trong việc bố trí thủy thủ đoàn.

Thuyền trưởng tàu ngầm diesel phóng ngư lôi (tàu hạng hai), bậc cao trong bảng kê tài chính, nhận được: lương chức vụ - 170 rúp (tiêu chuẩn năm 1961), phụ cấp quân hàm - từ 60 đến 70 rúp, phụ cấp khi tàu đi "chiến dịch" 30% tổng 2 khoản đầu tiên, phụ cấp binh chủng tàu ngầm - 20% (tàu ngầm nguyên tử - 50%), trừ thuế thu nhập - 13%, trừ đảng phí 3%. Các thủy thủ tàu ngầm tại căn cứ, có điều kiện tương đương miền Bắc, nhận được gấp rưỡi, vùng Cực Bắc lương gấp đôi. Tuy nhiên, trong khi đó các mẹo cân bằng tài chính lại rất phổ biến: các tàu ngầm, chuyển sang các nơi trú quân mùa đông nằm về phía nam Magadan tại các vịnh không đóng băng, lập tức bị trừ các khoản phụ cấp miền Bắc; các tàu ngầm chuyển sang các căn cứ tạm thời tại khu vực miền Bắc, ngược lại, chẳng nhận được khoản phụ cấp nào. Và cứ như vậy đấy.

Trong nhiều năm, tại hạm đội đã tạo nên một hiện tượng thú vị: kể từ cuối Thế chiến II cho đến giữa những năm 195x, các sĩ quan-trưởng ngành tác chiến được bố trí thêm 30 rúp "cho Đun-ka" (tức là, cho cần vụ), các thuyền trưởng - 50 rúp phụ cấp chỉ huy. Tất cả những khoản phụ phí đó dần dần được nâng lên không ngừng bởi Nikita Khrushchev theo trình tự "thể hiện sự chăm sóc của Đảng và Chính phủ cho phúc lợi của nhân dân."



Năm 1957, tại một cuộc họp của Bộ Chính trị, E.Furtseva đã nêu lên để bàn bạc vấn đề bỏ phụ cấp quân hàm ("theo cầu vai"), nhưng biểu hiện cảm động của sự quan tâm "chăm sóc" đến hẹn lại lên này đã bị G.K.Zhukov ngăn chặn (hồi đó còn là Bộ trưởng Quốc phòng).

Chẳng mấy chốc người ta đã "giúp" Zhukov rời khỏi vị trí Bộ trưởng Quốc phòng, nhưng tiền lương quân hàm thì những người lãnh đạo Đảng tiếp tục không động đến.

Trong hơn 40 năm phục vụ, tác giả có nhận xét về tính ổn định tài chính được gìn giữ một cách đáng kinh ngạc: Trung úy – gần 350 rúp, Đô đốc - hơn 400 rúp một ít. Nghĩa là nó xấp xỉ bằng khoản mà một lính thủy tình nguyện Hải quân Mỹ nhận được trong năm đầu tiên phục vụ theo thang lương năm 1975.
.........
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Chín, 2012, 10:36:27 pm gửi bởi qtdc » Logged
lantuyet
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #117 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2012, 03:24:29 pm »

Bác qtdc bỏ vắng topic này lâu quá rồi, đề nghị bác tiếp tục các bài về các chiến dịch của Hải quân Liên xô trước đây cho mọi người được hiểu thêm về những năm tháng hào hùng của Hải quân Xô viết. Trân trọng cám ơn bác qtdc.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #118 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2012, 12:30:06 am »

(tiếp)

ĐIỀU KIỆN SỐNG HÀNG NGÀY

Đặc điểm phục vụ trên các tàu ngầm có một truyền thống là các đơn vị tàu ngầm cũ thường đóng quân ở vùng ngoại ô các thành phố biển lịch sử (Sevastopol, Leningrad, Vladivostok, Riga, v.v.), còn các đơn vị mới được triển khai ở các thị trấn kiểu doanh trại đồn trú.

Trong quá khứ, thật vô cùng khó khăn để có thể tìm thấy việc làm (mà phù hợp nghề nghiệp - gần như không thể) cho các bà vợ các quân nhân tàu ngầm và một cái gì đó thuộc về văn hóa văn minh cho con cái của họ.

Càng xa những năm chiến tranh, càng dần dần biến mất những hiện tượng hàng ngày như thế này: gia đình các sĩ quan chui rúc trên các tàu doanh trại nổi, trong các căn cứ bờ, các khu đất (và đôi khi là những cái hố có mái che). Tuy nhiên, các bà vợ-người Leningrat truyền thống của hải quân thẳng thừng từ chối đi đến những nơi "khỉ ho cò gáy ấy" và thích ở lại nhà mà nhận được tiền phụ cấp của chồng.

Tình hình như vậy đôi khi xuất hiện cả sau này, khi đã có không chỉ các nhà ở riêng, mà còn có cả các CLB Sỹ quan, nhà trẻ, trạm y tế, trường học, hồ bơi, và các đơn vị đồn trú đã có đường giao thông liên lạc trên bộ và trên biển khá đầy đủ. Nhưng điều đó xuất hiện khá lâu về sau, khi hạm đội tàu ngầm hạt nhân đang kỳ phát triển rực rõ đột nhiên chuyển sang quá trình chết từ từ, và sự lãng mạn của phụ nữ biến thành một thứ chủ nghĩa thực dụng trọng thương trường.


Mặt tiền Nhà Sỹ quan ở Severomorsk.

Các sỹ quan độc thân sống trong doanh trại với thủy thủ đoàn.
Thông báo báo động là một vấn đề truyền thống. Trong nước Mẹ Nga bao la rộng lớn, đã từ lâu điện thoại nhà riêng được coi là một thứ xa xỉ. Vì vậy, tín hiệu báo động tại tất cả các thị trấn hải quân và các doanh trại đơn vị đồn trú hải quân, kể từ thời Piotr Đại Đế  được người ta thể hiện bằng cách ném thật mạnh các đôi giày thủy thủ, coi nó như là hình thức thông báo đáng tin cậy nhất.

Đính chính của người biên tập: các độc giả trẻ sẽ thú vị khi được biết một số phát hiện mà các nghiên cứu của Học viện Quân y St.Petersburg đã rút ra: trên các tàu ngầm hiện đại, có khoảng 200 yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến sức khỏe của các thuyền viên, tuổi thọ trung bình của các quân nhân tàu ngầm (nghĩa là các sỹ quan và hạ sỹ quan tàu ngầm hải quân chuyên nghiệp) ngắn hơn 7 năm so với tuổi thọ trung bình của các cư dân Liên Xô - LB Nga.

Và, như một sử gia hải quân đã viết, kết quả của những nỗ lực của các nhà thiết kế, các nhà đóng tàu, các lãnh đạo hải quân và các nhà y học "có thể được đọc thấy trên các thập tự giá cắm trên những ngôi mộ".

CƠ QUAN CHÍNH TRỊ. CÁC THUYỀN PHÓ CHÍNH TRỊ

Do "yêu cầu của Đảng" không ngừng tăng cường sự sẵn sàng chiến đấu và không chỉ chiến đấu, mà còn phải đảm bảo từng bước đạt tới các kết quả mới cao hơn trong lĩnh vực giáo dục đạo đức-tinh thần cho những người bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nên "mã số đạo đức của những người xây dựng chủ nghĩa cộng sản" đã được tuyên truyền thâm nhập vào cơ thể hạm đội bằng những cố gắng như dã tràng xe cát, vì thế các cơ quan chính trị hải quân ở trong tình thế rất khó khăn. Một mặt, nó cần khuấy động phong trào, mặt khác nó phải cung cấp lên cấp trên những số liệu thống kê ngày càng tốt hơn.


Cuộc họp Đảng trên tàu. P.Savushkin.

Cuộc đấu tranh giành danh hiệu con tàu "xuất sắc" đòi hỏi một nghệ thuật chứng minh nhất định - thường khi phải nhắm mắt làm ngơ cho một số "nốt ruồi đen trong quá khứ", không-không thể để len lỏi vào các con tàu tiên tiến các "tập thể nhỏ" (các nhóm nghiện rượu), các vụ ẩu đả, và đôi khi các nhân vật chống Liên Xô. Nhưng, than ôi, "các nốt ruồi đen" sinh ra không phải từ quá khứ mà từ chính hiện tại đang được tô vẽ bây giờ.

Bất kỳ người thuyền trưởng chu đáo nào đều hiểu rõ rằng có một người thuyền phó chính trị tinh tế trên một chiếc tàu ngầm - đó là một thành công lớn. Nghệ thuật của người phó chính trị: nhẹ nhàng nhưng kiên quyết thực thi các chỉ thị của cấp trên trong tập thể thuyền viên, anh ta phải trở thành linh hồn của tất cả cũng như của mỗi người, không cần phải áp lực mà vẫn làm cho các thủy thủ cởi mở lòng mình, không trốn sau lưng người thuyền trưởng và đồng thời thấu suốt cuộc sống đang diễn ra trong các khoang tàu bị cách ly, không đẩy áp lực sang cho thuyền trưởng, không "áp đặt" anh ta. Tất cả những điều này không phải người thuyền phó chính trị nào cũng làm được.

Trong nhiều trường hợp, người cán bộ chính trị chỉ là cái bóng vật vờ trên biển và lăng xăng vô ích trên bờ. Đa số trường hợp, họ chỉ làm công tác tổ chức nghỉ ngơi giải trí sau chiến dịch (cơ sở nghỉ ngơi kiểu "Paratunka", các nhà an dưỡng, bệnh viện, v.v.), sửa chữa các phòng ở doanh trại của thủy thủ đoàn, tham gia lao động cộng sản thứ bảy-chủ nhật tại các trường mẫu giáo và trường học của đơn vị, lao động tại các trại nuôi heo và khu đổ rác trong doanh trại đơn vị đồn trú, trấn an các cuộc "cãi vã gia đình", gặp gỡ các tân binh và những người lính nghĩa vụ sắp giải ngũ. Họ "xổ lòng" trả lời mọi người khi có mặt các loại vũ khí đặc biệt và các nhân viên cơ yếu. Họ là những người lao động trung thực, hoặc như chính họ được gọi, "những người làm công tác chính trị".

Một số người say mê các trò tuyên truyền nhảm nhí, không hiệu quả trong cuộc sống dưới mặt nước, những người khác thì cố gắng uốn nắn các thuyền trưởng và thường không thành công. Những người như vậy không tồn tại được.

Nhưng tất cả đều vò đầu bứt tóc than rằng "bị ép", và rằng không thể - báo lên trên, lên các phòng ban chính trị. Chỉ tố cáo là không đủ. Bởi vì điều đó được tung ra giống như vũ khí boomerang (của thổ dân châu Úc) đập lên đầu ban chỉ huy cũng như hội đồng chính ủy.

Tác giả bày tỏ lòng tưởng nhớ và kính trọng lớn lao đến những cấp phó chính trị binh chủng tàu ngầm như vậy (các "chính ủy" chân chính), như V.Anikin, V.Kaloshin, P.Burlachenko (trong đơn vị tàu ngầm của mình), V.Panin (phân hạm đội Kamchatka).


Đô đốc Vasily Ivanovich Panin. Năm 2001. V.A.Pechatin.
.......
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Mười, 2012, 06:39:24 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #119 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2012, 02:36:11 am »

(flot.com)

Chiến tranh và tuổi thơ. Chuẩn đô đốc Alfred Semenovitch Berzin.


19 tháng 6 năm 1941, tôi tròn 8 tuổi, ba ngày sau cuộc chiến tranh với nước Đức Quốc xã bắt đầu. Khi đó chúng tôi đang sống gần Moskva, thị trấn Rabotchii huyện Krasnogorsk, nhà ga Trikotajnaia. Từ sáng sớm tiếng gầm như sấm sét đã đánh thức cả gia đình chúng tôi, tất cả nhìn ra ngoài cửa sổ, còn tôi chạy ra ngoài và nhìn thấy những chiếc máy bay đang bay về phía Moskva, phía dưới chúng là những đám khói trắng đạn cao xạ bắn lên.

Mới một tuần trước đây, có thông báo của TASS, trấn an cư dân toàn Liên bang về "tin đồn" chiến tranh với nước Đức. Bà tôi đọc báo "Sự thật" vào đêm trước chiến tranh và nói với tôi rằng cuộc chiến tranh với Đức sẽ không xảy ra, nhưng nói thêm: "Bà không tin Hitler đâu cháu ạ".

Buổi sáng hôm đó, qua hệ thống loa tăng âm trên đường phố, chúng tôi nghe được giọng nói thống thiết của Levitan, người phát thanh viên nổi tiếng: "Sáng nay, bằng hành động vô cùng xảo trá, không tuyên bố chiến tranh, nước Đức quốc xã đã tấn công Tổ quốc chúng ta".



Ăn sáng thật nhanh rồi mẹ vội vàng vào nhà máy. Mọi người đều lo âu và bối rối. Đến tối thì biết rằng máy bay Đức không đột kích vào được đến trung tâm, chúng ném bom xuống Krasnaia Presnya, ở đó bắt đầu có các đám cháy. Nhà máy được tuyên bố trở thành xí nghiệp làm việc cho tiền tuyến. Gần cổng ra vào người ta treo một tấm bản đồ Liên bang khá lớn, qua mỗi ngày những lá cờ sẽ đánh dấu tuyến mặt trận. Nhưng rồi tấm bản đồ nhanh chóng bị dỡ đi, bởi vì đà tiến của quân đội Đức sẽ đè nặng lên tâm trạng thất vọng của người dân.

Ngay lập tức quanh Moskva và ở chỗ chúng tôi, xuất hiện các "hang ổ" của các pháo thủ phòng không, bầu trời buổi tối lơ lửng những chiếc khinh khí cầu, xung quanh người ta bắt đầu đào công sự.

Một lần nào đó hồi 1987, tôi đến thăm Thư viện Hải quân, tại đó trong phòng đọc sách tôi nhìn thấy một kệ báo "Pravda" thời kỳ 1933-1941. Những hình ảnh trông thật buồn cười: lúc đầu chúng ta nguyền rủa chủ nghĩa phát xít, sau đó im lặng, tiếp theo thì bắt đầu thán phục sự nghiệp của họ và còn chúc mừng những thành công quân sự của họ nữa chứ. Ngay cả những tờ báo ra ngày 22 tháng 6, cũng không có một lời nào về cuộc xâm lược. Sau đó, ngay lập tức người ta sáng mắt ra và bắt đầu nguyền rủa chúng!

Trong những ngày đầu chiến tranh, người ta cho biết các trận đánh đang diễn ra ở nơi nào, sau đó họ chỉ viết về những trận đánh ác liệt. Vào mùa thu, chúng tôi được biết rằng người Đức đã đến gần Moskva, một số đơn vị xe tăng riêng lẻ thậm chí đã đột phá đến Khimki.

Người Đức chưa ném bom xuống thị trấn Rabotchii của chúng tôi, nơi chỉ có một nhà máy sản xuất bít tất, nhà máy thứ hai thì làm ủng dạ, và chúng tôi như thể đứng bên lề cuộc chiến. Tuy nhiên, mỗi khi có không kích vào Moskva, các trận địa pháo phòng không xung quanh làng bắn tới tấp lên các máy bay, và các mảnh vỏ đạn trút xuống mặt đất như mưa đá. Người già và trẻ em được đưa tới nơi trú ẩn là tầng hầm của một ngôi nhà chưa hoàn thành. Người ta báo động phòng không qua tiếng còi hú đặt trên tháp cứu hỏa, tiếng rít của nó tôi sẽ chẳng bao giờ quên cho đến khi nhắm mắt xuôi tay lìa đời. Theo tiếng còi báo động, bà tôi tay xốc cô em gái 4 tuổi của tôi, còn tôi bên cạnh, xách một túi đồ cần thiết (NZ), tất cả cùng nhau chạy nhanh đến hầm trú ẩn.


Cư dân trong một hầm trú bom tại nơi sinh sống. - Nước Nga qua cặp mắt Margaret Burke-White.

Một lần, khi chúng tôi đang chạy như thế thì các khẩu đội phòng không đã bắn và một mảnh đạn dài 10 cm đã bay sượt qua cổ em gái tôi chỉ trong gang tấc. Tôi nhặt lấy mảnh đạn nhưng phải thả ra ngay vì nó nóng bỏng. Các cậu bé, trong đó có tôi, thường nhặt và sưu tập các mảnh đạn, mà đối với chúng tôi, đó là dấu vết có thể nhìn thấy của cuộc chiến tranh đã bắt đầu.

Mẹ ngủ qua đêm tại nhà máy, bởi lẽ khi có báo động phòng không mẹ phải tham gia đội y tá cứu thương, đội này hiện mới chỉ có một y tá.

Người ta áp dụng một hệ thống tem phiếu và ngay lập tức phải "thắt lưng buộc bụng" vì dự trữ phòng "trường hợp chiến tranh" là không có.

Lãnh đạo nhà máy quyết định gửi trẻ con đi nghỉ hè tại làng Efremovka huyện Yegoryevsky thuộc tỉnh Moskva, cách xa nơi đang bị ném bom, ý định tốt nhưng lại là đường đến địa ngục. Nhà máy dành vài chiếc xe buýt cho trẻ em, trong đó có tôi và em gái, ba người phụ nữ đi kèm, gồm cả Mẹ chúng tôi. Cảnh chia tay của cha mẹ với con em, đến nay vẫn còn hiển hiện trước mắt tôi, đó là những tiếng sụt sùi nức nở vẫn tiếp tục ngay cả trên tàu trong một vài ngày sau.

Và đây là làng Efremovka, nơi chúng tôi được đón nhận rất tốt, người ta xếp chúng tôi ở trong câu lạc bộ, cho ăn 3 bữa một ngày. Mẹ phải quay trở lại nhà máy, và bây giờ đến lượt em gái và tôi khóc nức nở. Rồi đến ngày 01 tháng 9, tôi vào lớp Một ở làng Evremovka. Thời gian này bà tôi đã đến và bắt đầu làm việc trong phòng ăn nhà trẻ của chúng tôi, cùng một người dân địa phương.


Moskva bị bao vây

Trong tháng mười, Moskva bị đe dọa: nhiều doanh nghiệp được sơ tán về phía Đông, nhưng nhà máy "Chiến công Lao Động" của chúng tôi vẫn ở lại. Bí thư Đảng ủy nhà máy Bogachev nói chuyện với mẹ rằng Đảng bộ Thành phố đã để ông lại hoạt động bí mật khi xảy ra "trường hợp cần thiết". Trong huyết quản của mẹ, gen nội (một nhà cách mạng) bắt đầu lên tiếng, và sau khi nói chuyện với bà ngoại, mẹ cũng đã quyết định sẽ tham gia hoạt động "bí mật".

Nhờ số phận mà mọi việc đều suôn sẻ: người Đức bị đánh bại ở gần Moskva, và họ phải rút lui.

Thực tế là không có sự chuẩn bị nào để "hoạt động bí mật". Người ta phát giấy thông hành giả, bố trí phòng tại Tushino, nơi mà hầu như các nhà máy đã được sơ tán hết, và một mật mã liên lạc để "báo cáo tin tức". Mẹ đã thất bại ngay từ những ngày đầu tiên của nghề nghiệp với "sự chuẩn bị" ấy, do tại Tushino nhiều người biết mẹ. Tình trạng "bất hợp pháp" đối với mẹ vẫn còn duy trì cho đến tháng 2 năm 1942.


Ngày 19 tháng 11 năm 1941. Các nữ du kích. Trong khu vực bị quân Đức chiếm đóng ở vùng phụ cận Moskva. Ảnh của M. Bachurin.

Vậy là bà tôi và chúng tôi đã ở lại một mình trong làng, trong khi các phụ huynh khác đã đến và đưa con cái mình về thị trấn Rabotchii. Quân Đức ngày càng tiến gần Moskva. Giờ đây máy bay của họ bắt đầu bay qua làng chúng tôi.
Chúng tôi ra khỏi trường học và nhìn thấy một chiếc máy bay Đức, ở độ cao rất thấp, lướt trên đầu chúng tôi, sau đó nó vòng lại cánh đồng làng, nơi người ta chăn thả đàn gia súc nông trang tập thể và bắt đầu xả súng máy vào những con bò và người chăn bò, nhiều con bò đã bị giết, nhiều con khác bị thương, người chăn bò cũng bị giết chết.

Tuyến đường sắt đi cách làng một cây số, và đúng lúc ấy có một đoàn tàu chở khách chạy qua. Chiếc máy bay vòng trở lại, nó vừa ném bom và xả súng máy xuống đoàn tàu chở khách, hiện đã dừng lại để cho mọi người nhảy ra khỏi các toa xe mà chạy vào rừng tránh máy bay.

Cô giáo của tôi cho phép chúng tôi sống ở nhà cô, thu xếp chỗ ở một hàng hiên kín, nơi đó không có lò sưởi. Chúng tôi không có gì để sống bởi vì Mẹ tôi đã đi hoạt động bí mật. Giám đốc nông trang cho chúng tôi một bao lúa mạch đen, và tôi mang đến xay tại nhà một bạn cùng lớp. Bà tôi chạy vạy xin vỏ khoai tây tại nhà ăn nông trang, mang về nướng chúng trên bếp. Sau đó đến mùa giá lạnh, sống ngoài hàng hiên không thể được nữa, cô giáo cho chúng tôi vào ở trong nhà bếp của mình, ngủ trên ghế dài.

Mặt trận đã rất gần, ngày và đêm đều có thể nghe thấy tiếng nổ của bom và đạn trái phá, ban đêm bầu trời phía Tây sáng rực những quầng lửa đỏ thẫm. Tất cả chúng tôi gầy rộc đi, đầu tôi và em gái đầy rận và những lớp vảy bong tróc do thiếu vitamin, căn bệnh mà hầu như tất cả các trẻ em trong lớp đều bị. Luôn luôn có cảm giác thèm ăn.
Trong làng người ta thành lập một đội kỵ binh và một đơn vị bộ binh. Hoạt động chính - tập đội ngũ. Đêm đêm các cỗ xe chở quan tài đi qua.

Trong suốt mùa đông, chúng tôi chỉ được tắm một lần trong bồn tắm, nước tắm biến màu đen thẫm.

Tôi học rất dễ vì Bà đã dạy tôi đọc khi tôi 6 tuổi. Nhưng viết thì thật khó vì tôi là người thuận tay trái. Khi viết bằng tay trái, tôi thường bôi bẩn chữ viết, vì quản bút gắn ngòi bút thép bị rách nhúng trong lọ mực gây ra. Khi cô giáo ốm, tôi được đưa lên chỗ cô ngồi và tôi đọc truyện Prishvin cho lũ trẻ nghe.

Đội kỵ binh đã đi, để lại một số phụ nữ trong trạng thái kỳ lạ, một trong số họ cố gắng tự mình bỏ thai và chết vì chảy máu, chồng cô ấy còn đang ở mặt trận. Cả làng tiễn đưa cô, những người phụ nữ hát những bài thánh ca cầu nguyện.

Lũ trẻ nài tôi kể chuyện Moskva. Hầu hết chúng chưa bao giờ nhìn thấy tàu điện ngầm, xe điện bánh sắt, xe điện bánh hơi và nhiều thứ khác nữa. Các cô gái đến chỗ Bà tôi và yêu cầu bà đọc thơ cho họ nghe. Sớm hay muộn, tất cả những điều xấu cũng sẽ kết thúc, mùa xuân đến, và sau đó vào hè. Chúng tôi đi vào rừng, nơi hái được cơ man là nấm và ăn no nê cái bụng rỗng.


Bayuskin Stepanovich. "Đi hái nấm về".

Mẹ được "rút khỏi công tác bí mật" và nhanh chóng quay về với chúng tôi. Người ta bổ nhiệm mẹ làm Phó Giám đốc bệnh viện sơ tán Krasnogorsk. Mặt trận cách không xa và khá nhiều thương binh.
Cha tôi không sống với chúng tôi, khi bắt đầu chiến tranh, ông và em trai ông đã tình nguyện ra mặt trận, họ hy sinh gần Smolensk. Mẹ đưa chúng tôi đến thị trấn Krasnogorsk, nơi chúng tôi sống trong một căn hộ công xã. Đối diện là nhà trẻ, nhưng vào thời điểm đó nhà trẻ được sử dụng làm bệnh viện.



Con gấu Misha này đã 75 tuổi. Cha mua nó tặng tôi, Người bị bắt năm 1939, đến cuối năm 1940, ông được phục hồi và trả tự do. Ai đó đã vu khống ông. Tôi gìn giữ nó như một ký ức về người cha của mình.

Tôi bắt đầu học lên lớp hai, cô giáo của chúng tôi là Vera Mikhailovna Nekrasova. Trong lớp tôi có các bạn bè như: Yura Rybakov và Yura Likhachev. Người ta xây dựng ở vùng ngoại ô Krasnogorsk một trại tù binh chiến tranh, tù binh nhanh chóng được đưa đến.

Chúng tôi thu thập các chiến lợi phẩm của chiến tranh: của cả quân ta và quân Đức: vỏ đạn, các mẩu thuốc nổ, giống những mẩu xà phòng, khóa nòng súng trường, lưỡi lê, dao, liều phóng đạn pháo trông như thể sợi mì ống. Chúng tôi tự tay làm các "mồi cháy" nhồi thuốc xám, và chúng tôi đốt nó cạnh gốc cây, qua một khe hẹp, chủ yếu để có được các mụ "phù thủy". Một hôm từ trường học về nhà, tôi thấy Bà ngoại đã ném hết đồ của tôi ra hố rác, tôi lập tức chạy ra đó bới, thu lại đồ chơi, và sau đó cất vào nơi Bà không với tới.

Chúng tôi làm ra một số lượng lớn các sổ tay nhỏ có chứa các hình vẽ, trình bày dưới hình thức phổ biến cấu tạo súng trường, lựu đạn, cách chế tạo cocktail Molotov, cách phá nổ chính xác cầu đường sắt. Hầu hết các chú bé tự mình nghiên cứu những điều này, mà không ai yêu cầu cũng như bắt buộc, bởi chúng tôi muốn tham gia bảo vệ Tổ quốc của chúng tôi.

Mẹ được bổ nhiệm làm biên tập báo nhà máy "Người yêu nước". Nhà máy sản xuất cho mặt trận các thiết bị quang học.


Tranh cổ động thời chiến.
........
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2012, 09:59:38 am gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM