Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:02:57 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206202 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #150 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2013, 02:12:47 pm »

(tiếp)

Phản ứng lại chương trình "Regulus" của Hoa Kỳ, ở Liên Xô đã triển khai chương trình bất đối xứng vượt gấp 3 lần về tàu ngầm diesel và 5 lần về tàu ngầm nguyên tử, chương trình tái trang bị tàu ngầm diesel đề án 613 để mang tên lửa hành trình P-5 (đề án 644 và 665 cho sáu tàu) và xây dựng sê-ri 6 tàu ngầm hạt nhân đề án 659 với mỗi chiếc mang được 6 tên lửa. Chỉ mới xây dựng thành công 5 tàu và chúng được sử dụng ở không gian chiến trường Thái Bình Dương. Về đứa con đầu lòng "K-45" của hạm đội tàu ngầm hạt nhân tại Hạm đội Thái Bình Dương người ta đã viết nhiều. Các cuốn sách gây được mối quan tâm đặc biệt là "Tàu ngầm nguyên tử đầu tiên ở vùng Viễn Đông" của R.I.Kalinin và "K-45" tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương. Con người và số phận" của A.V.Konev.

Ở Hoa Kỳ cũng như ở Liên Xô, trong vấn đề phát triển tên lửa chống lại mục tiêu trên bờ, người ta nghiêng về sử dụng tên lửa đạn đạo và sê-ri tàu ngầm nguyên tử đề án 659 đã được chuyển đổi sang phiên bản tàu ngầm phóng ngư lôi. Do đó tại Hạm đội Thái Bình Dương số lượng tàu ngầm ngư lôi thế hệ đầu tiên đã tăng lên đến 10 đơn vị (1 tàu đề án 658T, 4 - đề án 627A và 5 - đề án 659T). Chẳng bao lâu, nhờ có thêm ba tàu ngầm đề án 671V thuộc thế hệ thứ 2, tại Thái Bình Dương đã hình thành "một tá quỷ" («чертова дюжина», ám chỉ con số 13) các tàu ngầm ngư lôi của Liên Xô, một số trong đó đã từng phục vụ ở cả 3 sư đoàn tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương: sư đoàn 45 (Kamchatka), sư đoàn 26 (Primorie) và sư đoàn 28 (Sovetskaya Gavan). Chính là trên đôi vai của họ gánh gánh nặng của cuộc chiến chống lại các tàu ngầm tên lửa của "kẻ thù tiềm năng" (xem bản đồ số 1) và lực lượng săn ngầm bảo vệ các tàu ngầm chiến lược của nó (xem bản đồ số 2) trong khi mà "tá quỷ" thứ 2 gồm 13 tàu ngầm hạt nhân đề án 671RTM chưa kịp cất lên tiếng hát và tình thế trên không gian chiến trường Thái Bình Dương chưa đi vào ổn định.


Bản đồ 2. Các khu vực tuần tra chiến đấu trong không gian chiến trường Thái Bình Dương của các tàu ngầm tên lửa Liên Xô


Họ là những người đầu tiên

Tàu ngầm "K-45" thả neo ngày 02 tháng 10 năm 1960 trong vịnh Pavlovsk, trở thành người sáng lập đơn vị hợp thành đầu tiên của các tàu ngầm hạt nhân thuộc Hạm đội Thái Bình Dương.

Chiến dịch hành quân chiến đấu đầu tiên trong lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương của tàu ngầm nguyên tử diễn ra trong khoảng thời gian từ ngày 5 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7 năm 1962. Người tiên phong thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu là tàu ngầm tên lửa "K-59" đề án 659 dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân A.V.Ganrio. Chỉ huy cấp cao trên tàu trong chiến dịch này là tư lệnh sư đoàn 26, Chuẩn Đô đốc Yu.V.Ivanov. Trưởng ngành kỹ thuật điện ban tác chiến 5 của sư đoàn M.O.Zdorovenin miêu tả về chiến dịch như sau:

"Tàu ngầm đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Khi đi từ biển Nhật Bản vào biển Okhot, tiến ra Thái Bình Dương, thủy thủ đoàn đã kiểm tra hệ thống trang bị đang làm việc, họ thu được kinh nghiệm đi biển ... Trong chiến dịch máy phát tuabin hơi bị rò, nồng độ khí gaz trong lò phản ứng và các khu vực lân cận tăng cao. Phải làm gì, quay trở lại khi mà không hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu của mình, hoặc tiếp tục cuộc hành trình trên biển? Người chỉ huy sư đoàn tập hợp đội ngũ sĩ quan không ở trong phiên trực vào cabin sinh hoạt chung, lắng nghe đề nghị của họ, bắt đầu từ người cấp bậc thấp nhất. Tất cả các sĩ quan từ người trưởng nhóm đên thuyền trưởng tàu ngầm đều nhất trí tiếp tục chuyến đi. Họ ngắt máy phát tuabin hơi hiện tại, và tiếp tục hành quân. Tư lệnh sư đoàn đã hành động một cách sáng suốt, tập hợp được toàn bộ thủy thủ đoàn thành một khối ... Trong lễ tổng kết chuyến hành quân độc lập, thủy thủ đoàn đã được tặng thưởng, thuyền trưởng và kỹ sư máy tàu (trung tá hải quân V.M.Nikitin - chú thích của A.A.Kalinitchenko) được trao tặng huân chương Lenin, trợ lý chính của thuyền trưởng và thuyền phó chính trị - huân chương Sao Đỏ. Cùng trong sắc lệnh này do có thành tích làm chủ vũ khí trang bị mới mà huân chương Sao Đỏ cũng được trao tặng cho thuyền trưởng tàu ngầm "K-45" trung tá hải quân V.G.Belashev và trưởng ngành cơ điện hàng hải quân sự  trung tá hải quân I.E.Brigid".

Tàu ngầm "K-122" ngày 18 tháng 6 năm 1963 lần đầu tiên đến Kamchatka, trở thành người sáng lập sư đoàn tàu ngầm số 45. Con tàu cũng là tàu ngầm đầu tiên được tiến hành hiện đại hóa theo đề án 659T và đến đầu tháng 4 năm 1969 quay trở lại với sư đoàn tàu ngầm số 26.



Chuyến đi biển hoàn toàn tự chủ thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu đầu tiên của "K-151" có triển khai phóng đạn thật tên lửa được A.N.Sidenko nhớ lại như sau - hồi ấy ông là đại diện toàn quyền của cơ quan an ninh KGB:

"Tháng 9 năm 1963 tại Primorye trời đầy nắng và ấm áp lạ thường. Đang là mùa thu vàng. Vào một trong những ngày này, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình "K-151" đề án 659 ra khỏi vịnh Pavlovsk đi làm nhiệm vụ chiến đấu. Cách đây chưa lâu con tàu vừa được đưa vào biên chế Hải quân Xô Viết, tàu ngầm được trang bị ngư lôi và tên lửa hành trình "P-5"... Thủy thủ đoàn của "K-151" dưới sự chỉ huy của trung tá hải quân I.V.Vasilenko đã tiếp nhận chiếc tàu ngầm tại Komsomolsk-na-Amur, thực hiện xong các bài thử nghiệm tại nhà máy và thử nghiệm quốc gia, vượt qua một cách thành công tất cả các bài kiểm tra huấn luyện. Điểm đặc biệt của chiến dịch này nằm ở chỗ lần đầu tiên tại Hạm đội Thái Bình Dương có một tàu ngầm nguyên tử hành quân hoàn toàn độc lập tự chủ khi tiến xuống các vĩ độ phía nam của Thái Bình Dương. Mệnh lệnh tác chiến của bộ chỉ huy dự tính một chuyến di chuyển bí mật trong khu vực làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, tuần tra trên biển trong vòng 30 ngày, xạ kích tên lửa ở biển Bering và di chuyển sang căn cứ đóng quân mới ở Kamchatka. Trong chiến dịch cần phải kiểm tra sự hoạt động của toàn bộ hệ thống lò phản ứng hạt nhân và tổ hợp tên lửa trong điều kiện đi biển khi nhiệt độ nước biển ngoài thân tàu là +28-29 độ. Vấn đề như vậy, về thực chất có cơ sở ở tầm bắn xa và tốc độ bay trung bình của đạn tên lửa tổ hợp "P-5" cũng như sự sẵn sàng chiến đấu của tổ hợp này phụ thuộc đáng kể vào biến động nhiệt độ của không khí và nước biển ngoài thân tàu ... Trong chiến dịch không thiếu những sự cố. Khoảng ngày thứ mười của chuyến đi biển, xảy ra sự giảm áp lực của chất tải nhiệt trong chu trình thứ nhất của thiết bị năng lượng chính. Thanh bảo vệ khẩn cấp của lò phản ứng đã hạ. Tàu ngầm bị thất tốc, và trong các khoang, đặc biệt là trong khoang tuabin và khoang lò phản ứng, mức phóng xạ tăng mạnh. Cần phải ra mệnh lệnh cần thiết cho các nhà vận hành máy, trước hết là chỉ huy ngành tác chiến 5, và tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, đại úy hải quân Aleksei Pshenitchnyi. Họ đã nhanh chóng xác định được điểm "rò" tại máy phát tuabin hơi nước và khắc phục ngay. Hành động một cách  mau lẹ và xuất sắc còn có hạ sỹ quan đội trưởng đội tuabin chuẩn úy hải quân Tregub. Lò phản ứng và tuabin được đưa vào hoạt động trở lại. Trên tàu tiến hành công tác khử nhiễm xạ, ban đêm tàu ngầm nổi lên để thông gió các khoang. Không có ai trong số các thành viên thủy thủ đoàn bị chiếu xạ liều lượng lớn, nhiệm vụ quân sự vẫn tiếp tục được thực hiện. Nguyên nhân tai nạn là thiếu sót trong kết cấu máy phát tuabin hơi, thiết bị này trên các tàu ngầm nguyên tử thế hệ đầu tiên đã bị mất độ kín ngay từ trong các thử nghiệm nhà máy và thử nghiệm quốc gia ... Mặc dù tất cả những khó khăn trên, thủy thủ đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra cho họ. Dẫu chúng tôi về đến căn cứ vào ban đêm, bộ tư lệnh sư đoàn và binh đoàn vẫn ra đón chúng tôi".

Năm 1972, một biên đội tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương lần đầu tiên tham gia vào một cuộc đối đầu với bốn tàu sân bay của Hải quân Mỹ đang tác chiến chống lại nước Việt Nam. Giữa đội hình 4 tàu ngầm tên lửa đề án 675 có tàu ngầm "K-45" đã được hiện đại hóa sang phiên bản tàu ngầm mang vũ khí ngư lôi. Hoa tiêu "K-45" đại úy hải quân Valery Kozhevnikov nhớ lại: "Ngày 08 Tháng 5 sư đoàn tàu ngầm 26 có báo động chiến đấu cho các tàu ngầm đang ở trong lực lượng trực sẵn sàng chiến đấu. Sứ giả chạy đến nhà tôi truyền lệnh triệu tập tôi khi ấy đang nghỉ phép và nhắc tôi khẩn trương đến ngay chỗ tàu ngầm ... Mọi người thường tụ tập trong làng khi không đi đâu xa trong kỳ nghỉ phép. Thay thế cho thuyền trưởng đại tá hải quân Yu.N.Ganzh của chúng tôi để đi thực hiện nhiệm vụ quân sự là trung tá hải quân Evgheny Astashin (thuyền trưởng tàu ngầm "K-59"). Chúng tôi ra khỏi vịnh Pavlovsky lúc  03:00 ngày 11 tháng 5. Khu vực làm nhiệm vụ - Biển "Nam Trung Hoa", đối thủ tiềm năng - các tàu chiến của Hải quân Mỹ ... Từ bản tin trinh sát chúng tôi biết được rằng các tàu sân bay xung kích "Coral Sea", "Kitty Hawk", "Saratoga" đang tiến hành các hoạt động chiến đấu, còn hoạt động từ khu vực cách 170 dặm về phía đông-nam Sài Gòn - tàu sân bay xung kích "Constellation" ... Nhiệm vụ quân sự này diễn ra khá êm ả, không có ý kiến gì đặc biệt về sự làm việc của vũ khí và trang bị kỹ thuật, mặc dù cuộc tập hợp ngắn ngủi, mọi thứ được thực hiện vội vàng, như trong một nước chiếu bí trên bàn cờ. Ngành trưởng ngành tác chiến 5 trung tá hải quân A.I.Trofimov đã đảm bảo cho con tàu đi biển an toàn không có tai nạn ... Ngày 26 tháng 6 năm 1972 "K-45" sau khi kết thúc chuyến đi biển, đã có mặt trong vịnh Pavlosk".

Ngày 1 tháng 6 năm 1983 "K-45" dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng trung tá hải quân A.V.Konev lần đầu tiên đến vũng Postovaia trong vịnh Sovietskaya Gavan, sau khi thành lập sư đoàn tàu ngầm số 28.

Tiểu sử tự thuật A.A.Kalinitchenko



Tôi, Kalinichenko Aleksandr Aleksandrovitch, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1954 tại thành phố Nikolaev trong gia đình quân nhân mặt trận. Dân tộc Ukraina. Khi còn là một đứa trẻ, tôi được rửa tội theo nghi thức Chính thống giáo tại Nhà thờ Thánh Nicholas. Học vấn đại học.

Lúc 3 tuổi, sau khi cha tôi - chuẩn úy hải quân Hạm đội Biển Đen, giải ngũ (thẻ quân nhân cha tôi có ghi - hạ sỹ quan đội trưởng (старшина команды) đội quản lý vận hành thiết bị chỉ huy hỏa lực pháo PK (приборов управления артиллерийским зенитным огнём - ПУАЗО) trên tuần dương hạm), tôi cùng gia đình chuyển đến thành phố Uman, tỉnh Cherkasy. Năm 7 tuổi, tôi đi học lớp 1 tại trường phổ thông Uman № -2 mang tên I.Ya.Franko. Tôi chơi thể thao trong ban bóng rổ của nhà trường. Theo lứa tuổi tôi lần lượt được kết nạp vào đội nhi đồng Tháng Mười và Thiếu niên Tiền phong, trở thành chủ tịch hội đồng phân đội TNTP mang tên chị em Shura và Zoya Kosmodemyanskaia. Là người cầm cờ của đội TNTP và trong thời gian một buổi lễ có mang cờ của đội TNTP do căng thẳng thần kinh vì quá được tín nhiệm, tôi đã bất giác làm dấu thánh giá, kết quả là bị mất tất cả các địa vị xã hội hiện có.

Bắt đầu đời lao động của mình ở tuổi 13 khi làm việc trong kỳ nghỉ hè tại nhà máy chế tạo các sản phẩm đinh tán kim loại Uman. Sau khi tốt nghiệp lớp 8 năm 1969, khi còn chưa là đoàn viên Komsomol, tôi vào học trường dự bị Hải quân Nakhimov Leningrad (đại đội 1, trung đội 3, lớp 13 - trung đội trưởng là thiếu tá hải quân K.Vasilev), tại đó đã học đến năm học thứ 2, thực hiện trách nhiệm lớp trưởng và có cấp bậc chuyên nghiệp "quyền-hạ sĩ" («вице-старшина 2-й статьи»).

Năm 1970, tôi phải lên bàn mổ tại Học viện Quân y Hải quân mang tên S.M.Kirov để loại bỏ các khiếm khuyết theo chỉ tiêu y học nhằm có thể phục vụ trên tàu ngầm. Trong năm học thứ 2 bị giáng chức, tước quyền nghỉ hè và bị gửi đi làm thủy thủ ở trường trung cấp hải quân Hạm đội Baltic. Sau khi được khôi phục quyền học tập, tôi được phục hồi danh hiệu "Nakhimovets" cùng với lệnh không cho học tập tiếp trong nhóm đào tạo bậc đại học hải quân tại căn cứ hải quân Leningrad.

Năm 1971, sau khi tốt nghiệp trường dự bị hải quân Leningrad tôi được nhận thẻ đoàn viên Komsomol và tự nguyện chọn nơi học tập tiếp là Khoa ngư lôi-thủy lôi Trường Cao đẳng Hải quân Hạm đội Thái Bình Dương mang tên S.O.Makarov. Trong thành phần nhóm "con trăn" năm thứ 4-trường Nakhimov tôi đã thực hiện chuyến đi bằng thuyền buồm trên sông Đông, sau đó đến Vladivostok. Tôi bắt đầu học tập trên cương vị trưởng lớp cùng với việc được phong danh hiệu quân sự "học viên chính" («старший курсант») và "hạ sỹ hải quân" («старшина 2-й статьи»). Cũng như tại trường dự bị hải quân Nakhimov, tôi tiếp tục sở thích đi thuyền buồm và có thêm một sở thích mới - lặn.

Ngày 8 tháng 9 năm 1973, tôi kết hôn với nữ sinh viên Đại học Tổng hợp Quốc gia Odessa Zinaida Aleksandrovna Savina, và vì vậy vợ tôi chuyển sang học tiếp tại Vladivostok. Vào cuối tháng 12 năm 1974, tôi bị trục xuất khỏi trường vì vô kỷ luật, bị giáng xuống lảm thủy thủ Hạm đội Thái Bình Dương và gửi đi phục vụ tiếp tại một kíp thủy thủ học việc, còn đầu năm 1975 chuyển đến phục vụ tại kho vũ khí ngư lôi-thủy lôi chính của Hạm đội Thái Bình Dương đặt tại bán đảo Egersheld thành phố Vladivostok. Trong khoảng thời gian phục vụ có kỳ hạn ở khẩu đội ngư lôi 275 của chuẩn úy hải quân Shaikhutdinov tôi đã làm chủ một cách thành công công tác chuẩn bị và bảo dưỡng ngư lôi tác chiến và ngư lôi hơi gaz tập bắn, tôi đã đệ đơn xin hợp lý hóa vài lần và đến ngày 2 tháng 7 năm 1975 tôi được chuyển ngạch dự bị, cùng người vợ đang mang thai - người vừa tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Quốc gia Viễn Đông tôi trở về Uman, nơi cha mẹ chúng tôi cư trú. Sau khi về đến Ukraine, tôi đi tìm việc đầu tiên ở thành phố Odessa, sau đó ở thành phố Illichevsk, tại đây tôi được ghi danh thủy thủ hạng 2 trên tàu kéo biển "Brigadir" thuộc thương cảng Illichevsk. Ngày 18 tháng 8 năm 1975 tôi trở thành cha của cô con gái Galina. Trong thời gian làm việc trên tàu kéo biển "Brigadir" tôi cũng đã đưa ra các đề xuất hợp lý, nâng được mức đánh giá trình độ lên "thủy thủ hạng 1" và theo yêu cầu của giám đóc cảng. cuối năm 1975 đã có lệnh của Cục trưởng Nhà trường Hải quân Liên Xô cho tôi được phục hồi học tập tại năm thứ 4 Trường Cao đẳng Hải quân Hạm đội Thái Bình Dương mang tên S.O.Makarov.

Tháng 2 năm 1976, cùng với vợ, tôi đi đến nơi học tập tại thành phố Vladivostok. Mùa hè cùng năm đó, trong đợt thực tập trên tàu tôi đã làm việc trên các tàu ngầm diesel, thực hiện nhiệm vụ quân sự đầu tiên của mình với tư cách người dự bị thay thế cho đội trưởng đội thợ điện vũ khí ngư lôi của tàu ngầm diesel hạng trung "S-392" đề án 613 trong khu vực biển Hoa Đông (thuyền trưởng - đại úy hải quân Belyakov, sỹ quan chỉ huy cấp cao trên tàu - đại tá hải quân Zakharovsky). Năm 1977, tôi tốt nghiệp trường hải quân hạng xuất sắc và được phong hàm "trung úy" cùng quyền lựa chọn nơi phục vụ. Tôi bắt đầu đời phục vụ của sĩ quan với chức trách chỉ huy ngành ngư lôi-thủy lôi trên tàu ngầm tuần dương mang vũ khí ngư lôi "K-45" đề án 659T (tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên tại Hạm đội Thái Bình Dương), tại đơn vị tàu ngầm nguyên tử lâu đời nhất của hạm đội - sư đoàn tàu ngầm nguyên tử độc lập số 26, đóng quân trong vũng Pavlovsk thuộc vịnh Strelok, vịnh này đến lượt mình lại nằm trong khu mặt nước của vịnh Piotr Đại Đế trên biển Nhật Bản. Đời phục vụ của tôi lần lượt trải qua các cương vị công tác sau:

1977-1979 - trưởng ngành ngư lôi-thủy lôi tàu ngầm nguyên tử phóng lôi "K-45". Trong thời gian phục vụ trên tàu ngầm đã "cứu" được một đầu đạn hạt nhân của đạn ngư lôi với giá NSS khỏi tư lệnh phân hạm đội Phó Đô đốc Belashev (thuyền trưởng đầu tiên của tàu ngầm "K-45"). Quá trình phục vụ trên con tàu này kết thúc bằng việc xạ kích ngư lôi không thành công trong cuộc thi giành giải thưởng của Tổng tư lệnh Hải quân (thuyền trưởng - trung tá hải quân A.Gubin) và chuyển sang một tàu ngầm cùng loại, chuẩn bị cho việc đi biển độc lập.

1979-1981 - trưởng ngành ngư lôi-thủy lôi tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi "K-122" đề án 659T. Đã thực hiện trên tàu ngầm này 2 nhiệm vụ phục vụ chiến đấu (1979 - dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng đại tá hải quân A.Guriev tại biển "Nam Trung Hoa" (Biển Đông), tại đây tôi nhận được quân hàm "thượng úy" và giấy chứng nhận đảng viên dự bị Đảng Cộng sản Liên Xô, đến năm 1980, sau khi nhận thẻ đảng - tôi ở dưới quyền chỉ huy của trung tá hải quân G.Sizov cùng chỉ huy cao cấp trên tàu là tham mưu trưởng sư đoàn tàu ngầm 26 đại tá hải quân G.Zavarukhin, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở biển Philippin, khi kết thúc nhiệm vụ, trong một vụ hỏa hoạn bao trùm khoang kỹ thuật điện vào cuối chuyến hành quân chiến đấu đã có 14 thủy thủ hy sinh).
......
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Tư, 2013, 10:57:28 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #151 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2013, 10:39:59 pm »

(tiếp)

1981-1982 - trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi (PLAT - ПЛАТ) «К-122» (thuyền trưởng – trung tá hải quân V.Vasilishyn, trung tá hải quân G.Garusov). Trong thời gian phục vụ được nâng quân hàm «đại úy hải quân» năm 1982 và tự nguyện chuyển sang tàu ngầm nguyên tử hiện tại «К-42» đề án 627А (thuyền trưởng trung tá hải quân V.Lukiantsev).

1982-1983 - trợ lý thuyền trưởng PLAT "K-42". Trong thời gian phục vụ tại tàu ngầm dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng đại tá hải quân E.I.Travin đã theo dõi thành công trong tư thế chiến đấu một đơn vị xung kích tàu sân bay Hải quân Mỹ đang xuyên phá vào vùng biển Nhật Bản và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu dài ngày trong khu vực hoạt động của các binh đoàn 17 và 8 trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trong chuyến "độc hành" này, theo mệnh lệnh của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương № 0627 ngày 11 tháng 10 năm 1983 tôi đã được phép tự mình điều khiển tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi đề án 627A.

1983-1985 - trợ lý chính PLAT "K-42". Năm 1984, trong điều kiện vắng mặt thuyền trưởng chính thức của tàu ngầm trung tá hải quân A.Ryzhuk, tôi tham gia vào các cuộc tập trận quan trọng của Hải quân Xô Viết, đưa lò phản ứng vào hoạt động và cùng tàu ra khơi từ vị trí đang sửa chữa bảo trì khi mà bức xạ nền tăng cao do sự cố của thiết bị năng lượng chính một bên mạn tàu. Trải qua 2 tháng đào tạo tại khóa 6 VSOOLK của Hải quân Liên Xô theo chuyên ngành "thuyền trưởng tàu ngầm hạng nhất". Tháng 3 năm 1985, tôi được thăng quân hàm "thiếu tá hải quân".

Tháng 9 năm 1985, theo sáng kiến của chủ nhiệm chính trị sư đoàn 26 đại tá hải quân Plyusnin, tôi bị đình chỉ đào tạo một năm tại khóa 6 VSOOLK Hải quân Xô Viết tại Leningrad. Tôi tạm thời thực hiện chức trách trợ lý chính cho chỉ huy trưởng một kíp thủy thủ thay thế của các tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi thế hệ thứ 2 đề án 671V cho đến tháng 12 năm 1985. Trong thời gian này, tôi được gia nhập thủy thủ đoàn phi tuyến của trung tá hải quân E.Lapshin, người vừa đến từ Kamchatka. Ngày 30 tháng 12 năm 1985 tôi trở thành cha của cô con gái thứ hai - Ekaterina.

Tháng 1-2 năm 1986 - trưởng ngành hoa tiêu quân sự PLAT "K-454" đề án 671V (thuyền trưởng - đại tá hải quân N.Bondar), tàu đang được sửa chữa. Trái ngược với quyết định của tổ chức đảng cơ sở, tôi bị Đảng bộ sư đoàn 26 phân hạm đội tàu ngầm số 4 Hạm đội Thái Bình Dương khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô.

Tháng 2 - 7 năm 1986 - trưởng nhóm trinh sát kỹ thuật của tàu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi "K-264" đề án 671RTM mới nhất hiên có ở phân hạm đội (thuyền trưởng - trung tá hải quân I.Rusanov). Tôi đã nhiều lần ra khơi với nhiệm vụ đảm bảo chạy thử nghiệm các tàu ngầm nguyên tử đa nhiệm thế hệ thứ 3 đề án 971 và theo dõi các tàu ngầm hạt nhân chống tàu ngầm của đối thủ tiềm năng trong biển Nhật Bản. Tháng 7, Đảng bộ Hạm đội Thái Bình Dương đã khôi phục cho tôi đảng tịch Đảng Cộng sản Liên Xô.

1986-1989 - trợ lý chỉ huy trưởng thủy thủ đoàn thứ 2 tàu ngầm mang tên lửa chiến lược "K-415" đề án 667A sư đoàn tàu ngầm 21, phân hạm tàu ngầm 4 Hạm đội Thái Bình Dương (thuyền trưởng - trung tá hải quân V.Fedyukovsky). Năm 1987, tôi tốt nghiệp hàm thụ Trường Hàng hải Vladivostok thuộc Bộ Hàng hải Liên Xô chuyên ngành "kỹ thuật viên lái tàu" và nhận bằng chứng nhận hàng hải "hoa tiêu tàu nhỏ" («штурман малого плавания») từ thuyền trưởng hải cảng thương mại Vladivostok. Khi vắng mặt trợ lý chính trong biên chế trong suốt thời gian phục vụ, tôi đã dẫn dắt toàn bộ thủy thủ đoàn một cách đúng đắn, là thành viên thủy thủ đoàn đào tạo chuyển loại đề án 667AU tại Trung tâm Đào tạo Paldisk và với mệnh lệnh №-023 của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương ngày 25 tháng 1 năm 1988, tôi đã được cho phép tự chỉ huy tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược đề án 667AU. Trong giai đoạn thao luyện các bài tập chiến đấu, có thực hành bắn 2 tên lửa đạn đạo R-27U tại trường bắn biển Kamchatka trên tàu ngầm tên lửa chiến lược "K-417" đề án 667AU, tôi đã phát hiện ra các thiếu sót trong ứng dụng tác chiến của vũ khí và mối đe dọa thực sự với người dân lành, và từ đó trở đi hàng năm cho đến cuối đời phục vụ tôi đã chuyển tháng lương thứ 14 của mình cho Quỹ Hòa bình và từ chối đi làm nhiệm vụ quân sự trên con tàu này cùng với thủy thủ đoàn của thuyền trưởng trung tá hải quân V.Fedyukovsky ("giá trị thực" của những nhiệm vụ phục vụ chiến đấu kiểu này trên không gian chiến trường Thái Bình Dương đã được chuẩn đô đốc A.Shtyrov phơi bày và hành vi của tôi không hề gây ra trong tôi bất kỳ sự hối tiếc nào dù nhỏ nhất).

1989-1990 - trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm tên lửa chiến lược "K-434" đề án 667A (thuyền trưởng - trung tá hải quân Yu.Lavrenov). Sau khi cắt khoang tên lửa tại nhà máy "Ngôi Sao" tại Bolshoi Kamen, tàu ngầm (thuyền trưởng G.Lepeshkin) được chuyển vào biên chế tiểu đoàn thu dung tàu (дивизион отстоя) sư đoàn tàu ngầm 26. Trong thời gian này, tôi thực hiện hai chuyến đi dài trên tàu cá RS-300 "Tioplyi" với cương vị trợ lý thứ 3 cho thuyền trưởng và tàu cá cỡ lớn SRTM "Rodino" ở cương vị trợ lí thứ 2 và thứ 3 cho thuyền trưởng, thực hiện trinh sát khu vực Thái Bình Dương phục vụ sư đoàn tàu ngầm chiến lược số 21. Thuyền trưởng hải cảng nghề cá Nakhodka đã trao cho tôi chứng nhận "hoa tiêu viễn dương" («штурман дальнего плавания»).

Theo sắc lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô ngày 30 tháng 5 năm 1990 tôi được chuyển khỏi lực lượng thường trực Quân đội Liên Xô sang ngạch dự bị theo đề án cắt giảm biên chế.

1990-1996 - sống ở thành phố Odessa và làm việc tại Liên hiệp sản xuất chế biến thủy sản Biển Đen "Nam Cực" sau đó là kỹ sư ban tổ chức động viên, tham mưu trưởng binh đoàn phòng thủ dân sự và thuyền trưởng cao cấp-cố vấn về huấn luyện hải quân.

Tháng 3 năm 1991, nửa năm trước sự kiện chính biến 1991, ngừng đóng đảng phí và tự nguyện ra khỏi hàng ngũ Đảng Cộng sản Liên Xô.

Ngày 09 tháng 4 năm 1992 tuyên thệ trung thành với Ukraina.

Vào cuối năm 1993 - đầu năm 1994 là thành viên ủy ban nghiệm thu của Liên hiệp "Nam Cực" và lãnh đạo tiểu ban quân sự về nghiệm thu các tàu nghề cá đóng mới.

Năm 1994, trên cương vị thuyền trưởng cao cấp-cố vấn về huấn luyện hải quân, tôi thực hiện chuyến viễn dương đầu tiên trong lịch sử Hải quân Ukraina trên frigate "Getman Sagaidachny" đề án 1135P (thuyền trưởng - thiếu tá hải quân S.Nastenko, chỉ huy chiến dịch - đại tá hải quân Yu.Shalyt) và đã tham gia vào sự kiện quốc tế "Armada of Freedom" (tại Pháp) vào dịp kỷ niệm 50 năm cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh lên Normandy trong Thế chiến II.

Trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1996, tôi thực hiện chuyến đi đầu tiên của mình trên một chiếc tàu nước ngoài của Hà Lan trong cương vị trợ lý thứ 2 của thuyền trưởng, đồng thời trong thời gian đó, tôi được gọi gia nhập Hải quân Ukraina đảm nhận cương vị thuyền trưởng tàu ngầm diesel trên cơ sở tự nguyện. Ngày 4 tháng 11 năm 1996 cha tôi - Kalinichenko Aleksandr Ivanovitch, qua đời. Do thiếu tàu ngầm trong Hải quân Ukraina, ngày 28 tháng 12 năm 1996, tôi tiếp nhận quyền chỉ huy tàu đổ bộ cỡ lớn "Rovno" đề án 1171.

Tháng 4 năm 1997, tôi được thăng quân hàm "trung tá hải quân".

Ngày 09 tháng 5 năm 1997 tôi tổ chức lễ kéo lá cờ Hải quân Ukraina trên tàu, kết quả là bị công tố viên quân sự truy tố. Tháng 8 năm 1997, tôi từ chối ân xá.

Ngày 08 tháng 12 năm 1997, do việc phân loại lại con tàu sang tàu biển chở hàng khô cỡ lớn cùng với sự thay thế kíp thủy thủ quân sự bằng kíp thủy thủ dân sự, tôi được bổ nhiệm làm thuyền trưởng tàu vận tải quân sự "Rovno".

Từ năm 1997, tôi tham gia hoạt động sáng tác.

Tháng 1 năm 1998, tôi bị tống vào sau song sắt Phòng cách ly điều tra № -1 (СИЗО №-1 - Следственный Изолятор № 1) trong 8 ngày, tôi đã thực hiện "tuyệt thực" («сухую голодовку») để phản đối.

Ngày 01 tháng 8 năm 1998 tôi được chuyển khỏi lực lượng vũ trang Ukraina sang ngạch dự bị vì lý do sức khỏe.

Năm 1998, tôi ứng cử vào hội đồng thành phố Odessa với tư cách đại diện đảng Rukh (Đảng phong trào Nhân dân Ucraina).

1999-2008 đi biển trên các tàu buôn của các chủ tàu nước ngoài trong cương vị hoa tiêu và trợ lý chính cho thuyền trưởng ở các vùng khác nhau của đại dương thế giới. Trong cùng thời gian đó, tôi tham gia vào các sinh hoạt chính trị-xã hội, với tư cách điều phối viên của hiệp hội các tổ chức xã hội của tỉnh Odessa "Ủy ban Bảo vệ Hiến pháp Ucraina-(Kozak)" cho đến khi tổ chức này tự giải tán năm 2006.

Năm 2002, cuối cùng thì vụ kiện tụng của tôi với công tố viên quân sự khu vực phía Nam Ukraina về bảo vệ nhân phẩm, danh dự và uy tín trong công việc cũng được thỏa mãn. Cùng năm này, tôi tranh cử đại biểu nhân dân cho Đảng Đại hội Quốc dân Ukraina trong cùng một khu vực bẩu cử theo lãnh thổ  với S.Kivalov, thường được gọi là "Seriozha-thằng chỉ biết đếm" («Сережа-пидрахуй»). Theo trình tự thẩm tra tư pháp các cấp thứ nhất và cấp thứ hai tôi bị loại khỏi cuộc bầu cử vì lý do thừa các sự kiện trong tiểu sử tự thuật.

Năm 2003, Ủy ban Nhà nước về chứng nhận bằng cấp cho các thuỷ thủ của Ukraina đã công nhận danh hiệu "thuyền trưởng viễn dương", mà thuyền trưởng thương cảng Odessa đã trao cho tôi.

Năm 2004, tôi tham gia công tác tổ chức và tiến hành Hội nghị Quốc tế lần thứ 41 các thủy thủ tàu ngầm ở Odessa.

Trong giai đoạn từ 2005 đến 2006 tôi kết hợp việc trực tiếp điều khiển với công tác giảng dạy kỷ luật lái tàu trong các chuyến đi biển tại trường Cao đẳng Hàng hải Odessa mang tên  A.I.Marinesko.

Năm 2006, khi đang ở Nam Đại Tây Dương, vào dịp kỷ niệm 20 năm thảm họa Chernobyl, Bộ trưởng Quốc phòng Ucraina ra sắc lệnh № -140 ngày 10 tháng 3 năm 2006 phong cho tôi quân hàm "đại tá hải quân".

Năm 2007, tôi trở thành người khởi xướng đề án toàn Ucraina "Vinh danh biển Ukraina" dưới sự bảo trợ của Chủ tịch "Hội hữu nghị các thủy thủ Ukraina" chuẩn đô đốc N.Kostrov.

Ngày 29 tháng 1 năm 2008 tôi lại bị truy tố hình sự vì tham gia vào tổ chức quốc tế dân tộc-yêu nước thể thao-quốc phòng  "Cô dắc Ukraina".

Từ ngày 01 tháng 9 năm 2008 đến 20 tháng 4 năm 2010, tôi học lớp ban ngày khoa Lịch sử Viện Đổi mới và Đào tạo sau đại học của Đại học Tổng hợp Quốc gia Odessa mang tên I.I.Mechnikov, tôi đã bảo vệ tốt nghiệp và nhận bằng chuyên ngành "giáo viên môn lịch sử".

Ngày 15 tháng 9 năm 2008 vụ án hình sự đối với tôi bị chấm dứt vì thiếu bằng chứng.
Từ 2006 đến 2010 tôi là điều phối viên dự án quốc tế "Zvezda Comandor" kỷ niệm 400 năm hạm đội tàu ngầm Ukraina.

Từ ngày 24 tháng 4 năm 2010 đến nay, tôi làm sỹ quan-hướng dẫn viên huấn luyện đội ngũ thủy thủ và chỉ huy tàu khách của Trung tâm Đào tạo chuyên gia vận tải biển (thành phố Odessa).

Tôi nhận được các tặng thưởng như sau:
1. Xô viết Tối cao Liên Xô - huy chương "60 năm lực lượng vũ trang Liên Xô", 1978
2. Bộ Quốc phòng Liên Xô - huy chương "Phục vụ trung thành hạng 3", 1982
3. Bộ Quốc phòng Liên Xô - huy chương " Phục vụ trung thành hạng 2", 1987
4. Xô viết Tối cao Liên Xô - huy chương "70 năm lực lượng vũ trang Liên Xô", 1988
5. Tổng thống Ukraina - huy chương "Bảo vệ Tổ quốc", 2004
6. Hội đồng hàng tỉnh và cơ quan hành chính quốc gia khu vực Lviv - huân chương "Thập tự Dũng cảm» № -1227, 2005
7. Hiệp hội quốc tế thủy thủ tàu ngầm - huy chương "100 năm lực lượng tàu ngầm Nga", 2006
8. Vua Rusi-Ukraina và Quỹ phục sinh Hạm đội Biển Đen Ukraina - huân chương "Ngôi sao Huân tước» № -13, 2006
9. Hội hữu nghị thủy thủ Ukraina - huy chương "Vinh quang biển Ukraina" hạng 1 (hạm đội Cổ đại), hạng 2 (hạm đội của Công tước) và hạng 3 (hạm đội Cô dắc), 2007
10. Tổ chức xã hội các học viên tốt nghiệp trường hải quân Nakhimov - cựu chiến binh Hải quân và phục vụ quốc gia - kỷ niệm chương "Phục vụ Tổ quốc từ thời thơ ấu. 65 năm trường dự bị Hải quân Nakhimov", 2009
11. Hội đồng hàng tỉnh và cơ quan hành chính quốc gia khu vực Ivano-Franko - kỷ niệm chương danh dự "100 năm Stepan Bandera» № -1238, 2010
.......
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2013, 12:08:11 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #152 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2013, 05:11:49 pm »

(tiếp theo post 275# phần 1)

Binh đoàn 17 Hạm đội Thái Bình Dương
 





Ghi chú:
AU (АУ) - автономная система управления
TU (ТУ) - система телеуправления
SN (СН) - система самонаведения
R (Р) - радиокомандные системы
T (T) - телекомандные системы









.......
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Tư, 2013, 11:58:55 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #153 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2013, 01:55:34 am »

(tiếp)

Tàu quét mìn căn cứ "BT-470" đề án 1265

Số xuất xưởng - 908           
 
1978 -1990 – đơn vị 81337, 1990 -1994 – 87151, 1994 -1997 – 81337
 
00.00.1976 - đặt ky tại nhà máy chế tạo tàu thủy Vladisvostok.

00.00.1978 - hạ thủy.

00.00.1978 - bắt đầu thử nghiệm quốc gia.

30.12.1978 - đưa vào biên chế Hạm đội TBD. Quân số thuộc tiểu đoàn tàu quét mìn 81 lữ đoàn tàu quét mìn số 7. Tàu đã có mặt tại căn cứ cơ bản - vũng Razboinik (vịnh Strelok).
 
05.1984 - 08.1985 - nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" trong thành phần lữ đoàn tàu mặt nước 119 binh đoàn 17. Thuyền trưởng đại úy hải quân Оmakhin Yu.А. Nhiệm vụ  phục vụ chiến đấu đã được hoàn thành thắng lợi.

Cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam).  Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu «Vì chuyến hành quân xa».
 
08.1986. - 10.1987 - nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" trong thành phần lữ đoàn tàu mặt nước 119 binh đoàn 17. Thuyền trưởng thượng úy Luniov М.А. Trong thời kỳ phục vụ thượng úy hải quân Gusev S.E. đã thay ông. Nhiệm vụ  phục vụ chiến đấu đã được hoàn thành thắng lợi.

Cảng ghé vào: Cam Ranh (Việt Nam).  Toàn bộ thủy thủ đoàn được thưởng huy hiệu «Vì chuyến hành quân xa».
 
07.1989 - lên dok sửa chữa tại dok nổi PD-45 nhà máy sửa chữa tàu biển số 92 của Hải quân, thành phố Vladivostok, vịnh Diomid.

17-21.041990 - con tàu cùng với tàu quét mìn căn cứ «BТ-347» tham gia trong thành phần nhóm tàu quét mìn КТG № 1 (КТG № 2 – các tàu quét mìn căn cứ «BТ-266», «BТ-327) tiểu đoàn tàu quét mìn 187 tại cuộc tập trận chiến dịch - chiến thuật của Hạm đội TBD trong biển Nhật Bản. Đã hoàn thành các nhiệm vụ đảm bảo chống thủy lôi cho việc triển khai lực lượng của hạm đội, bảo vệ chống thủy lôi gần bờ cho biên đội tàu đổ bộ khi di chuyển, đảm bảo đổ bộ cho lính thủy đánh bộ.

04.1990 - trong khuôn khổ các biện pháp biên chế-tổ chức được tiến hành của Hạm đội TBD, nhằm tái tổ chức phân hạm hỗn hợp Primorie liên quan đến việc giải tán lữ đoàn tàu quét mìn số 7, tàu được chuyển quân số sang tiểu đoàn tàu quét mìn 187 thuộc lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 47. Tàu đã chuyển nơi đóng quân mới tại vũng Paris (đảo Russky)
 
06 - 07.1990 - sửa chữa trên dok nổi PD-54 nhà máy sửa chữa tàu biển số 92 của Hải quân, thành phố Vladivostok, vũng Diomid.
 
06.1991 - 05.1993 - sửa chữa định kỳ và lên dok tại nhà máy sửa chữa tàu biển số 92 của Hải quân, thành phố Vladivostok, vũng Diomid.
 
1991 - theo cách phân loại tàu mới của Hải quân, con tàu được xếp loại tàu hạng 3. Phù hợp với nó, chức trách của thuyền trưởng, trợ lý thuyền trưởng và trưởng ngành điện máy được nâng bậc cao hơn;

26.07.1992 - lễ trọng thể hạ cờ HQ LBCHXHCNXV và kéo cờ thánh Аndreev.

1994 - khi tiến hành các biện pháp tổ chức-biên chế lần lượt của Hạm đội TBD, tiểu đoàn tàu quét mìn 187 trong thành phần lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47 đã bị giải tán. Tàu chuyển sang biên chế tiểu đoàn tàu quét mìn số 81 và chuyển từ vũng Paris về  căn cứ mới tại bến № 2 vũng Аbrek.

30.07.1995 - tham gia (trong hàng ngũ) diễu binh trên biển tại vịnh Аmur, nhân ngày truyền thống Hải quân.

1996 - căn cứ của tiểu đoàn tàu quét mìn 81 được xác định là vũng Маlyi Uliss (thành phố Vladivostok). Tàu chuyển về nơi đóng quân mới.

17.07.1997 - loại khỏi biên chế hạm đội, giải tán thủy thủ đoàn.


Năm 1987, Cam Ranh, "BT-470" tại điểm neo đậu trước khi nhổ neo trở về căn cứ cơ bản (ảnh của trung tá hải quân dự bị S.E.Gusev).


Năm 1987, đảo Bình Ba, kíp thủy thủ "BT-470" trên bãi biển tại đảo Bình Ba (ảnh của trung tá hải quân dự bị S.E.Gusev).


Năm 1987, Cam Ranh, một phần thủy thủ đoàn "BT-470" tại tời kéo (ảnh của trung tá hải quân dự bị S.E.Gusev).


Năm 1987, Cam Ranh, Việt Nam. Trên cánh trái cầu điều hướng. Từ trái sang phải: đội trưởng đội thủy âm chuẩn úy hải quân Grigorovitch, trưởng ngành 1-4-Radar thượng úy Nigmatyazov А.Kh., …?..., thuyền trưởng thượng úy hải quân Gusev S.E., …?... Hàng ngồi trưởng ngành 5 thượng úy Bаdelev V.М (lưu trữ của trung tá hải quân dự bị Gusеv S.E.)
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tư, 2013, 07:20:25 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #154 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2013, 09:19:47 pm »

(tiếp)

MPK "Người đoàn viên TNCS vùng Duyên Hải" đề án 1124 "Albatros" (МПК «Приморский комсомолец» (МПК-221))

Số xuất xưởng - 80; đơn vị quân đội 49284; Ngày truyền thống của con tàu  -  14 tháng Hai.
 
 
08.02.1985 - đặt ky tại nhà máy đóng tàu Khabarovsk mang tên 60 năm Liên bang Xô Viết (А-3126) (tàu đầu đàn đề án 1124М. Tên gọi đầu tiên МPК-200).

11.04.1986 - ghi danh vào biên chế Hạm đội TBD.

29.04.1987 - hạ thủy.
 
11.08.1987 - đổi tên thành МPК "Người đoàn viên TNCS vùng Duyên Hải".

30.12.1987 -  chính thức vào biên chế trang bị.

19.02.1988 - gia nhập quân số tiểu đoàn tàu chống ngầm số 29 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45. Tàu đến căn cứ đóng quân tại vịnh Vladimir (cảng Timofeevka huyện Olghin).
 
00.00.1989 - 00.00.1990 - nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" trong thành phần binh đoàn 17. Thuyền trưởng … … … … Cảng ghé vào Cam Ranh (Việt Nam).  Toàn bộ thủy thủ đoàn được tặng thưởng huy hiệu "Vì chuyến hành quân xа".
 
00.04.1990 - trong khuôn khổ các biện pháp tổ chức-biên chế của Hạm đội TBD nhằm tổ chức lại phân hạm đội hồn hợp Primorie và biên chế lại lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45 thành lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải độc lập 169, tàu gia nhập quân số tiểu đoàn vừa thành lập.
 
15.02.1992 - đổi tên hiệu thành МPК-221
 
26.07.1992 - cử hành trọng thể lễ hạ cờ Hải quân Liên Xô và kéo cờ Thánh Andreev.
 
1994 - trong khi tiến hành các biện pháp tổ chức-biên chế tuần tự của Hạm đội TBD và giải tán lữ đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải độc lập 169, con tàu được chuyển quân số sang tiểu đoàn tàu chống ngầm 11 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47 và chuyển từ vịnh Vladimir tới căn cứ đóng quân mới trong vũng Paris.
 
1996 - nơi đóng quân mới của lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 47 được xác định là vũng Malyi Uliss (thành phố Vladivostok). Tàu di chuyển đến căn cứ mới.
 
1998 - các biện pháp biên chế-tổ chức tuần tự của Hạm đội TBD được thực hiện, kết quả là lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 47 và lữ đoàn tàu cao tốc tên lửa số 165 bị giải tán và trên cơ sở đó thành lập lữ đoàn tàu mặt nước 165. Tàu chuyển sang biên chế tiểu đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 11 lữ đoàn tàu mặt nước 165.


Ngày 31 tháng 7 năm 2005. Vịnh Amur, ngày Hải quân, MPK "Primorsky Komsomolets" diễu hành và thực hiện bài bắn đạn thật RBU-6000 (ảnh của đại tá hải quân Priamushko G.V.).


Việt Nam, Cam Ranh 1989. Thủy thủ đoàn MPK "Người đoàn viên TNCS vùng Duyên Hải" tập hợp đội ngũ buổi sáng (ảnh của đại úy hải quân Lysenko I.N.).
.............
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Tư, 2013, 10:11:38 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #155 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2013, 11:30:43 pm »

(tiếp)

"MPK-81" đề án 1124


27 tháng 7 năm 1982, Vịnh Amur, ngày Hải quân. "MPK-81" diễu qua và bắn đạn thật RBU-6000 (ảnh của trung tá hải quân dự bị Skatchko G.M.).


Năm 1975, đảo Russky. Thủy thủ đoàn trên trường bắn. Thuyền trưởng đang hướng dẫn (ảnh của hạ sỹ hải quân Raghimov M.I.).


12 tháng 5 năm 1986, vũng Paris, bến của tiểu đoàn tàu quét mìn 187. Tiễn MPK-81 đi thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến đấu tại biển "Nam Trung Hoa" (Căn cứ hải quân Cam Ranh) Từ trái sang phải: …?..., …?..., …?..., tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu quét mìn 187 thiếu tá hải quân Polnikov N.I., các người nhà của đội thủy thủ, tham mưu phó lữ đoàn trung tá hải quân Bоrovkov B.N. (ảnh của đại tá hải quân dự bị Аlekseenko V.М.)


7 tháng 11 năm 1986, vịnh Cam Ranh, МPК-81. Trái sang phải hàng ngồi: thuyền phó chính trị đại úy hải quân Dolghikh V.I., thuyền trưởng đại úy hải quân Alekseenko V.М., trưởng ngành 5 thượng úy Ermakov V.I., trợ lý thuyền trưởng thượng úy Mikhailyuk А.V., thủy thủ trưởng chuẩn úy hải quân Ivanov. Hàng đứng, hàng giữa: trưởng ngành radar thượng úy Vasiliev О., đội trưởng radar chuẩn úy hải quân ...?..., trưởng ngành 2 trung úy Маrkidonov А.V., y sỹ chuẩn úy hải quân ...?..., trưởng ngành 3 Nesterenko А.V., ...?... , trưởng ngành 1 thượng úy hải quân Gusev G. Hàng trên: đội trưởng hiệu thính viên chuẩn úy pháo binh Аbrosimov, ...?..., trưởng ngành 4-VTDT thượng úy Letov S.А. (ảnh của đại tá hải quân dự bị Аlekseenko V.М.)


1987. Căn cứ hải quân Cam Ranh, sân tập hợp của binh đoàn 17. Kíp thủy thủ МPК-81 sau khi kiểm tra đội ngũ (ảnh của đại tá hải quân dự bị Аlekseenko V.М.)
..........
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #156 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2013, 09:11:01 pm »

(tiếp)




Bồ nông trên đảo Dakhlak. 1982 (ảnh Viktor Linnikov).


"Orion" cả ngày quần trên đầu chúng tôi trên biển (ảnh Viktor Linnikov).


Trong cabin liên lạc tàu căn cứ nổi "Ivan Kutcherenko" (ảnh Viktor Linnikov).




Chứng nhận đã vượt qua đường Xích Đạo của thần Biển Neptune.


Việt Nam 1984. Trong vịnh Cam Ranh (ảnh Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984. Trong ngày lễ 7 tháng 11 (ảnh của Viktor Linnikov).


Phong cảnh Việt Nam (ảnh Viktor Linnikov).


Phong cảnh Việt Nam (ảnh Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Tàu căn cứ nổi (trạm nổi) cho tàu ngầm "Ivan Kutcherenko" tại cầu tàu số 5 quân cảng Cam Ranh năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Các chiến sỹ tàu ngầm của chúng ta trên mặt boong (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Chiến sỹ tàu ngầm Việt Nam (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Các nghệ sỹ Việt Nam biểu diễn trước các thủy thủ chúng ta (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Các nghệ sỹ Việt Nam biểu diễn trước các thủy thủ chúng ta (ảnh của Viktor Linnikov).


Việt Nam năm 1984 (ảnh của Viktor Linnikov).


Tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-48 đề án 675К tại PMTO Cam Ranh (СHXHCN Việt Nam). Năm 1986. Ảnh trong bộ sưu tập của A.Yakovlev.


Tàu ngầm diesel B-397 đề án 641 tại PMTO Cam Ranh. Tháng 7 năm 1987. Ảnh từ bộ sưu tập của A.Krivoshekov, ảnh do A.Yakovlev cung cấp.


Tàu ngầm diesel B-28 đề án 641 tại PMTO Cam Ranh. Năm 1987. Ảnh từ bộ sưu tập của E.Nosik.


"Đô đốc Oktiabrsky" đề án 1134A neo tại cầu tàu Cam Ranh. Năm 1989.


BPK đề án 1155 "Đô đốc Zakharov" thả neo trong vịnh Cam Ranh năm 1991. Sau khi thi hành nhiệm vụ quân sự trong thành phần binh đoàn số 8 và tham gia bảo đảm thông thương hàng hải trong vịnh Ba Tư, tàu quay về thi hành nhiệm vụ trong thành phần binh đoàn 17 từ tháng 8 năm 1990 đến tháng 2 năm 1991. Các số mạn: 472(trước 1984), 443(1984), 464(1987), 541(1990), 501(1991), 513(1993).


RPKSN K-211 đề án 667BDR "Petropavlovsk-Kamchatka", 28/9/1994 (Ảnh Viktor Linnikov).
.........
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tư, 2013, 09:32:56 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #157 vào lúc: 09 Tháng Tư, 2013, 11:26:26 pm »

(tiếp)


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Chiến dịch trên biển Philippin từ 25.05.1978 - 29.06.1978. ảnh của Ostanin Viatcheslav.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh tháng 4 năm 1979 (ảnh của Volodia Ilin).


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh tháng 4 năm 1979 (ảnh của Druzhkov Vladimir Aleksandrovitch, thợ máy nồi hơi trên BPK "Chapaev" 77-79).


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Hai tiểu đoàn trưởng. Cam Ranh 1979.  


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Những chiếc tàu đầu tiên vào Cam Ranh, tháng 3 năm 1979.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. Một trận bóng đá. Bên trái: kỹ sư ngành 2 thượng úy hải quân Chizhov. người thứ 3 - hoa tiêu BPK "Chapaev" thiếu tá hải quân Salanghin V.I.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979. Thượng úy Taran V.E. chỉ huy đội thợ máy.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1979.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Ngày truyền thống của con tàu. Cam Ranh, tháng 9 năm 1985.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Bãi biển Cam Ranh, năm 1985.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Trên đường đi tìm kẻ đào ngũ. Cam Ranh, năm 1985.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Hiệp 2 trận bóng đá. Cam Ranh, năm 1985.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, 1986.


BPK "Chapaev" đề án 1134A. Cam Ranh, năm mới 1986.
........
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Tư, 2013, 12:17:40 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #158 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2013, 10:53:15 pm »

(tiếp)


PSKR "Kedrov". Cam Ranh 1990. Tàu tuần tra biên phòng "Kedrov" thuộc sư đoàn tàu tuần tra biên phòng số 1 Kamchatka thả neo trong vịnh.


PSKR "Kedrov". Trên đường từ Cam Ranh vào Ấn Độ Dương 1990. Cá mập.


Tàu quét mìn trên biển đề án 266M "MT-200". Cam Ranh 1981.


Tàu quét mìn trên biển đề án 266M "MT-200". Cam Ranh 1981.


Tàu quét mìn trên biển đề án 266M "MT-200". Cam Ranh 1981.


Tàu quét mìn trong cảng đề án 1258 "RT-41". Cam Ranh 1990.


Tàu quét mìn trong cảng "RT-41". Cam Ranh 1990.


Tàu quét mìn trong cảng "RT-41". Cam Ranh 1990.


Tàu quét mìn trong cảng "RT-41". Cam Ranh 1990.
..........
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Tư, 2013, 01:05:00 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #159 vào lúc: 11 Tháng Tư, 2013, 01:04:03 am »

(tiếp)


Báo Sao Đỏ (thuộc Bộ QP LB Nga) ngày 5 tháng 4 năm 2001

Trung úy Natalya Kuzmina.
Đại tá hải quân Nikolai Litkovets.
Ảnh của các tác giả.

Cam Ranh. Ở đây, trong một khu vực nhỏ trên đất Việt Nam tạm thời được nhà nước Nga sử dụng, bố trí một căn cứ đảm bảo hậu cần-kỹ thuật (PMTO). Quanh năm trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng bức với độ ẩm cao, cách xa bờ biển quê nhà hơn 2.500 dặm, các quân nhân Nga đang tận tâm thực hiện nhiệm vụ của mình.



Nhóm đầu tiên trong biên chế PMTO quân số 50 người đến bán đảo Cam Ranh vào tháng 4 năm 1980, và chẳng bao lâu sau hợp đồng về việc xây dựng các công trình mà đất nước chúng ta viện trợ không hoàn lại cho CHXHCN Việt Nam đã được ký kết với phía Việt Nam. Trong giai đoạn 1984-1992, tất cả có khoảng 30 công trình được xây dựng. Vào đầu những năm 90 hầu hết các cầu tàu của hạm đội và các công trình bến cảng đã chuyển sang cho phía Việt Nam sử dụng thường xuyên.


Nghển cổ chờ máy bay

Thập kỷ cuối cùng tại PMTO, như ở đây người ta vẫn đùa, mọi người sống theo kiểu "mỏi mòn chờ giữa các chuyến máy bay". Người ta sống trong mong đợi thư từ, báo chí, những tờ báo được truyền tay nhau đọc đến rách nát. Cùng chiếc máy bay hiếm hoi bây giờ ở miền xa xôi này (trước kia thì 2 chuyến mỗi tháng) một ủy ban đang từ Đất Lớn bay đến. Còn các thành viên phục vụ tại PMTO vẫn tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của mình.  
  
Cùng chỉ huy trưởng căn cứ đại tá hải quân Yuri Eremin chúng tôi đi vòng quanh thị trấn quân sự. Một chi tiết thú vị đập ngay vào mắt - các tầng đầu tiên của hầu hết các ngôi nhà đều không có người ở. Người ít hơn, vậy nên các căn hộ cũng trống vắng. Cắc căn hộ không có chủ nhà bị lũ mối tấn công không thương tiếc. Gỗ không thể chống lại sự xâm nhập của loài côn trùng phàm ăn. Trong ba tháng nó chỉ còn là gỗ mục: các dầm và khung cửa đã bị phá hủy trơ xương.

- Chúng tôi đã quyết định bảo tồn không gian ở: cách ly đường dây dẫn, phá nốt các đoạn gỗ mà mối "ăn dở" chưa hết - Yuri Prokopievitch giải thích. - Dù lo sợ, nhưng chuyện "hỗn loạn" này sẽ không tiếp tục xảy ra. Chúng tôi có thể khôi phục các căn hộ một cách tự chủ không cần sự tham gia của các nhà xây dựng. Và chúng tôi chỉ cần một ít tiền và vật liệu để làm việc đó mà thôi.

Lối vào nhà được sơn cẩn thận. Trên các ngôi nhà đều có các biểu tượng: các phi công vẽ biểu tượng bay của mình, các bác sĩ - sơn biểu tượng của họ. Nhà trẻ không được dự kiến trong biên chế, vì vậy một trong những căn hộ này được người ta biến thành phòng giải trí "Bạch tuộc" cho trẻ em vui chơi. Phòng được trang bị theo đủ các kiểu, các bức tường trang trí bằng các bức tranh trong phim hoạt hình. Và những cuốn sách cùng những món đồ chơi thiếu thốn được phu nhân Đại sứ Nga tại Việt Nam Irina Ivanova thân ái gửi từ Hà Nội vào cho các cháu. Ở đây có 16 công dân Cam Ranh trẻ thơ đang giết thời gian.

Trong một khu "rỗng tuếch" khác người ta tổ chức một câu lạc bộ sĩ quan sang trọng theo tiêu chuẩn địa phương, bằng cách đó giải quyết vấn đề nhàn cư vi bất thiện vào buổi tối. Mọi người tụ tập ở đây đề nghe nhạc "sống", đọc thơ, hoặc đơn giản là ngồi sau một tách cà phê hoặc tách trà thơm phức. Vào các ngày lễ có tổ chức hòa nhạc. Trong tương lai - sẽ khai trương gian chơi bi-a và phòng đọc sách. Chủ tịch câu lạc bộ là thiếu tá hải quân Aleksei Riaguzov, vợ ông là Natalia và nữ trợ lý Veronica Bortnikova làm việc ở trung tâm nghỉ dưỡng độc đáo này trong thời gian riêng của mình.

Bằng nỗ lực chung người ta cải tạo lại các ô đất trống gần khu nhà. Đầu tiên là xây dựng một sân chơi trẻ em, trồng dừa, đặt mua tại các vườn ươm cây Việt Nam giống thông California để trồng dọc các lối đi. Nhưng thế chưa đủ. Người ta xây dựng một đài phun nước nhỏ, làm các quầy hàng xinh đẹp nhỏ nhắn, mắc điện chiếu sáng. Người ta chở cát đỏ từ mỏ về và rải chúng trên những con đường nhỏ. Khi tiếp xúc với nước nó sẽ trở nên đặc chắc, kết quả là ta có một lớp asphalt tạm thời. Bên mái đường sẽ trồng cây xanh, còn tại các ô trống khác người ta xây dựng sân thể thao và sân bóng đá.

Tuy nhiên, PMTO tự cảm thấy mình cô lập, thể hiện ở sự đói thông tin. Hai kênh truyền hình trung ương Nga và việc thiếu báo chí kịp thời không làm tình thế thay đổi. Vậy là người ta đi đến ý tưởng tạo ra một studio truyền hình. Những người tình nguyện có sở hữu máy quay video tiến hành quay phim theo các chủ đề, đạo diễn là vợ của chỉ huy trưởng căn cứ Tatiana Mukhailovna. Một trường quay được trang bị, và từ tháng Mười Hai năm ngoái, mỗi tháng một lần, trên màn hình xanh lam của máy thu hình đã xuất hiện một vi nhét đẹp: "studio truyền hình PMTO Cam Ranh giới thiệu". Ngoài tin tức về đời sống nội bộ đơn vị và các sự kiện liên quan đến Hạm đội Thái Bình Dương, người ta còn phát các phim video mà  xí nghiệp liên doanh "Vietsovpetro" có nhã ý cung cấp.    

Phó Tổng Giám đốc xí nghiệp liên doanh khai thác dầu khí Việt-Nga Fanis Badikov không chỉ là một nhà chuyên môn dầu khí, có học vị tiến sĩ khoa học, ông còn là một con người tuyệt vời, một người đàn ông chân thành, một người yêu nước Nga. Nhờ những nỗ lực của ông mà tại trường phổ thông của PMTO đã khai trương được phòng máy tính trang bị các máy tính đời mới nhất, trường cũng mua được các sách giáo khoa mới.  
  
Các hạng mục của căn cứ nằm rải rác trong toàn bán đảo trên những khoảng cách khá xa nhau, nếu không có phương tiện vận tải thì không thể đi thăm thú được. Tuy nhiên, các máy móc thiết bị đang hỏng dần mà phụ tùng thay thế rất khó kiếm được, rồi sau đó thì đến vấn đề khó khăn về tiền. Trong các trường hợp khẩn cấp thế này người Việt Nam rất sẵn lòng đến giúp một tay - họ sẽ xúm vào đẩy giúp để khởi động chiếc xe Uaz con trông âu sầu cũ rích, họ đảm bảo với chúng tôi về điều đó.
 

PMTO đã "làm việc"    

Tại đây người ta phải chống chội với những điều kiện khí hậu khó khăn, với rắn độc, các bệnh nhiệt đới và tình trạng máy móc thiết bị dần dần hư nát.

... Một cơn lốc mạnh đã phá hủy nhiều trụ kim loại mỏng manh dùng làm trụ tạm đỡ đường cung cấp điện cho thị trấn. Cùng một lúc tất cả các máy điều hòa không khí, các đồ điện gia dụng, bếp điện ngừng làm việc...  
  
Người Việt Nam đề nghị giúp đỡ. Sự trợ giúp ấy mất đến 25 ngàn đô la với thời hạn ít nhất là hai tuần. Sự "xa xỉ" này thì đại tá hải quân Yuri Eremin không thể cho phép mình có được. Ông tập hợp cấp dưới và làm một cuộc tham khảo ý kiến. Cùng ngày, toàn bộ dân số nam (gồm cả các cháu trai-học sinh phổ thông), trang bị xẻng cuốc, hành quân đến nơi tai nạn. Họ phải đào trong đất cát một cái mương sâu một mét và chiều dài 2,5 km.    

Mọi người làm việc vất vả từ sáng sớm đến chiều tối. Mưa nhiệt đới và ánh nắng thiêu đốt không bẻ gãy được tính cách Nga, không làm mọi người sợ hãi. Khi rãnh cáp đã được hoàn tất, nảy sinh một vấn đề mới: kiếm đâu ra loại cáp có đường kính cần thiết? Người ta đã tìm thấy nó ... cách nơi công việc đang diễn ra 5 cây số. Cáp được đào lên và vận chuyển vác vai đến nơi lắp đặt (sau này mới tính ra rằng mỗi m cáp nặng đến 60 kg). Tới ngày thứ chín bản anh hùng ca lao động kết thúc với sự kiện việc cung cấp điện đã được khôi phục lại. Tư lệnh vùng Hải quân Việt Nam đã đích thân đến nơi và bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với hành động của các quân nhân Nga.    



Theo các sỹ quan và nhân viên phục vụ tại PMTO, để thúc đẩy mọi người tham gia vào một nhiệm vụ lớn lao và khó khăn như vậy chỉ có thể là một người đàn ông tính cách rất mạnh mẽ và có uy tín cao, đó là người chỉ huy trưởng căn cứ, đại tá hải quân Yuri Eremin.

Kể từ khi ông được bổ nhiệm, tại đơn vị đã có thay đổi đáng kể trong mối quan hệ giữa mọi người, người ta cảm thấy có sự quan tâm thực sự đối với người lao động. Ông không bao giờ có kiểu xử sự đại khái, mà cố gắng tìm hiểu kỹ lưỡng, lắng nghe ý kiến của đa số, nhưng cũng không ngại đi ngược lại, nếu vấn đề trở nên tồi tệ. Ông vừa nghiêm khắc và vừa mềm dẻo, người ta có thể từ chỗ ông đi ra mà không được hài lòng, nhưng không bao giờ bị xúc phạm. Dựa vào các cấp phó của mình, dựa vào những người cùng chí hướng (mà những người như vậy là đa số), người chỉ huy trưởng căn cứ cố gắng biến cuộc sống cô lập của PMTO trở thành một cuộc sống thú vị và sôi động.    

- Tôi đã có dịp làm việc dưới ba đời chỉ huy trưởng, nhưng sự quan tâm như hiện nay đối với các cư dân của thị trấn, đặc biệt đối với trường học thì chưa bao giờ tôi được thấy - hiệu trưởng trường trung học địa phương Lyudmila Surenovna Chilingaryan nhận xét. - Lũ trẻ cảm thấy sự quan tâm chăm sóc thực sự của bậc cha mẹ từ phía người chỉ huy trưởng.    

Mà người chỉ huy căn cứ vẫn còn một giấc mơ - xây dựng trong thị trấn một nhà nguyện nhỏ. Đã có được sự "đồng ý" từ Bộ chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương và phía Việt Nam. Các đồng nghiệp ủng hộ ý tưởng. Đã gửi thư cho Giáo chủ Moskva và Giáo hội Chính giáo Toàn Nga Aleksey II, yêu cầu gửi đến đây một vị linh mục. Bây giờ mọi người đang chờ đợi trả lời.  

Làm việc ở PMTO là một đội ngũ nhân viên dân sự, như người ta vẫn goi là các chuyên gia được tuyển dụng đặc biệt. Hầu hết trong số họ được phái đến từ các phòng quân vụ của các tỉnh Rostov, Lipetsk và Bryansk. Thật không may, trong số tình nguyện viên được chọn có nhiều người không nằm trong số tốt nhất xét trên cả phương diện phẩm chất đạo đức và chuyên môn. Có khá nhiều trường hợp do vi phạm kỷ luật lao động mà phải gửi trả về nước những vị "khách du lịch" kiểu như vậy. Và đó là những nguồn tài chính không nhỏ đã bị nhà nước ném qua cửa sổ. Bộ chỉ huy PMTO cho rằng việc xem xét lại các vấn đề bổ sung quân số và chuyển nó đến nơi có thẩm quyền ở khu vực Viễn Đông đã thực hiện quá muộn. Thay đổi lộ trình một vấn đề quan trọng như vậy sẽ làm giảm bớt chi phí cho việc đi lại của các chuyên gia từ các vùng phía tây của đất nước, cho phép lựa chọn con người một cách có chất lượng hơn và chịu trách nhiệm về những ứng cử viên được cử đi công tác nước ngoài.    

Ngày hôm nay do sự tắc trách của các phòng quân vụ mà tại thị trấn thừa ra nhiều giáo viên tiểu học, nhưng lại thiếu giáo viên vật lý và một giáo viên toán. Tuy nhiên, nếu trẻ em sau khi đọc sách giáo khoa có thể tự mình nghiên cứu những điều sơ đẳng cơ bản về đối tượng, thì ở đây không có bác sĩ không thể làm được gì. Trong khi đó, tại bệnh viện địa phương chẳng có biên chế bác sĩ phụ khoa và bác sĩ nhi khoa, lại đang còn vấn đề cắt giảm chức trách bác sĩ phẫu thuật thứ hai ...    

Những chuyến ghé thăm hiếm hoi của các tàu chiến Nga, các tàu hậu cần, các chuyến máy bay hãn hữu - tất cả những điều này từ lâu đã dẫn một số người đến ý nghĩ về cái chết sắp xảy ra. Tuy nhiên, năm nay, tình hình bắt đầu có thay đổi. Việc một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương ghé vào cảng, trên đường trở về nhà từ chuyến thăm Ấn Độ, đã phá vỡ cảnh "trì trệ" này. Và, mặc dù đoàn tàu đậu lại một thời gian rất ngắn, chỉ một vài ngày, nhưng PMTO đã "làm việc" ...
........
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Tư, 2013, 06:30:25 am gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM