Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 09:14:50 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206186 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #170 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2013, 12:50:32 pm »

(tiếp)

Trung Quốc đang chuẩn bị cho chiến tranh. Năm 1978, Trung Quốc đã thực hiện 583 hành vi khiêu khích đối với Việt Nam, nay trong tháng một và tháng hai năm 1979 số lượng của chúng là 230. Trên nền trao đổi các công hàm ngoại giao và đối thoại của các chính ủy biên phòng, đã có 9 sư đoàn của các quân đoàn lục quân 14, 41 và 42 quân PLA kéo tới biên giới Việt Nam, chiếm lĩnh các vị trí xuất phát để tấn công. Với số quân đội đi ngang qua (trên đường tập hợp lại và trên các thao trường gần đó) người ta đã tiến hành các cuộc tập trận chiến thuật có bắn đạn thật cấp trung đoàn và tiểu đoàn.

Và cần lưu ý rằng các đơn vị hợp thành và cơ sở của quân đội Trung Quốc ngay từ đầu đã không dự kiến khi hoàn thành khóa huấn luyện chiến đấu thì họ sẽ trở về nơi triển khai thường trực. Ngoài ra, trong khu vực biên giới, từ QK Thành Đô đã triển khai đến đây các đơn vị của các quân đoàn lục quân 13 và 50. Tới lúc sắp nổ ra chiến tranh còn có quân đoàn lục quân số 55 tập hợp lại gần biên giới. Bộ đội PLA thuộc các QK giáp giới với Việt Nam được bổ sung quân số theo biên chế thời chiến (thông qua tổng động viên, thông qua di chuyển một số đơn vị nhất định từ sâu trong nội địa đất nước). Thông qua Hoa Kiều (người Trung Quốc chạy tị nạn từ Việt Nam về) tại khu vực biên giới đã hoàn thành bổ sung quân số và triển khai các sư đoàn quân địa phương mới. Số lượng các đơn vị hợp thành như vậy lên đến sáu đơn vị.

Các phân đội mang vác người Hoa Kiều được hình thành. Có điều này là do trong địa hình rừng núi việc sử dụng chuyên chở bằng lực lượng các phân đội ô tô và xe kéo bánh xích bị hạn chế. Tới lúc bắt đầu cuộc chiến tranh, đã hoàn thành việc di chuyển KQ từ QK Nam Kinh về các sân bay quân khu Côn Minh và Quảng Châu. Lực lượng hạm đội Nam Hải đã được phân tán trong các căn cứ hải quân và các điểm căn cứ (bao gồm cả đảo Hải Nam). Trong vùng biên giới 200-km đã thực hiện tăng cường hệ thống phòng không (có tính đến việc triển khai các trận địa TLPK mới và trận địa radar mới). Đã xây dựng các SCH được bảo vệ cẩn mật, các trung tâm TT và đặt các tuyến TTLL. Trang bị các trận địa hỏa lực pháo binh cố định được bảo vệ tránh đòn không kích. Sát trước khi bùng nổ chiến tranh, trong vùng lân cận biên giới với Việt Nam đã ghi nhận các cuộc diễn tập nhiều lượt trên quy mô quân đoàn-sư đoàn. Ngày 08 Tháng Một năm 1979, các các thường dân đã được di tản khỏi mỏm nhô Lào Cai. Để thực hiện nhiệm vụ và kế hoạch các chiến dịch sắp diễn ra, theo quyết định của Hội đồng Quân sự UBTU DCS TQ, đầu tháng hai đã thành lập PDQ Vân Nam (trụ sở BTM đóng ở Nam Kinh), trong thành phần có các lực lượng quân sự của hai QK, cũng như các đơn vị hợp thành và cơ sở chuyển từ bên trong đất nước tới. Trong các QK giáp biên giới với Việt Nam của Trung Quốc đã thành lập các cụm quân xung kích và cụm tàu của hạm đội Nam Hải, gồm có: sư đoàn bộ binh - 22, sư đoàn quân địa phương - 6, 550 xe tăng và xe bọc thép, 480 cỗ pháo và 1260 súng cối hạng nặng (theo các nguồn khác   - xe tăng và pháo tự hành - khoảng 600, pháo dã chiến và súng cối - 4000), máy bay chiến đấu (bao gồm cả không quân hải quân) - 520, tàu chiến và thuyền chiến - 211. Từ kúc khởi đầu các hoạt động quân sự đã có kế hoạch đưa vào tham chiến ngay trong thê đội một là 15 sư đoàn bộ đội BCHT (sư đoàn dã chiến - 9, sư đoàn địa phương quân - 6). Các quân đoàn lục quân số 41 và 42 có đội hình tác chiến nằm trong một thê đội (dự bị có 2 trung đoàn tăng cường), quân đoàn lục quân số 14 - bố trí trong hai thê đội (tại thê đội thứ hai - một sư đoàn). Chờ đợi lệnh là toàn thể thê đội 2 - 11 sư đoàn dã chiến quân. Để đạt được chiến thắng cuối cùng "trước các chỉ huy chiến trường độc lập và các nhóm vũ trang bất hợp pháp", trong tay các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc có cả lực lượng dự bị cơ động - quân đoàn lục quân 50 biên chế gồm ba sư đoàn.

Ngày 14 tháng 2 năm 1979 UBTU DCS TQ đã quyết định phát động cuộc xâm lược Việt Nam, mệnh lệnh vượt biên giới và bắt đầu tấn công đến với bộ đội vào ngày 15 tháng 2. Cũng ngày 15 tháng 2 đó, Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố ý định của mình "trừng phạt" Việt Nam, đó là ngày đầu tiên về mặt hình thức có thể rút khỏi Hiệp ước 30 năm giữa Trung Quốc với Liên Xô. Ngày 16 tháng 2, ông ta tuyên bố cho Moskva biết đã sẵn sàng tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện quy mô lớn của Trung Quốc với Liên Xô. Có đến 1,5 triệu binh sĩ quân đội Trung Quốc tập trung trên biên giới với Liên Xô (đánh giá chung của PLA - 3,6 triệu người). Quân nhân các đơn vị hợp thành và cơ sở ở các QK giáp biên giới với Liên Xô và CHND Mông Cổ được triệu hồi khỏi các kỳ nghỉ phép và công tác. Trong các đơn vị PK thực hiện trực chiến có các khẩu đội chiến đấu tăng cường. Trong các đơn vị dân quân tự vệ người ta đã phát vũ khí bộ binh. Tăng cường bảo vệ tuyến biên giới Trung-Xô. Tiến hành công tác trang bị công trình công binh bổ sung cho các cứ điểm dọc biên giới, tổ chức trực chiến tại đó. Sơ tán một phần người dân địa phương ra khỏi khu vực biên giới.

Cụm bộ đội Việt Nam tại phần phía bắc của đất nước đã được Trung Quốc tìm hiểu khá chính xác và xác định gồm mười sư đoàn bộ binh biên chế thời bình và hai lữ đoàn xe tăng. Trên các bản đồ địa hình, PLA đã định ra vị trí của họ và tất cả 15 trung đoàn bộ đội địa phương. Đã xác định được một cách chi tiết, với độ chính xác cần thiết cho pháo binh bắn phá, các trận địa chiến đấu của 13 trung đoàn bộ binh quân địa phương. Người Trung Quốc đã lên kế hoạch và thời gian dự kiến có mặt của các LL dự bị thuộc BTTM QDNDVN trong thành phần QD 1. Các chỉ huy PLA chờ đợi sự xuất hiện trong khu vực chiến sự của ba sư đoàn bộ binh và một lữ đoàn xe tăng. Nhìn chung, tỷ lệ tổng thể giữa các lực lượng khi bắt đầu của cuộc xung đột nghiêng về phía Trung Quốc, về quân nhân - 3:1, về sư đoàn - 1.8:1, xe tăng và pháo tự hành - 7,6:1, về dã pháo và súng cối 4.5:1, máy bay chiến đấu - 13:1, tàu chiến và thuyền chiến - 5,3:1. Tương quan lực lượng trên các hướng chính - Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai theo số lượng quân nhân - 4,8:1, về xe tăng và pháo tự hành - 7:1, pháo binh -. 12:01 nghiêng về Trung Quốc. Ngày giờ xâm lược thì Trung Quốc có thể xác định rằng đêm trước "D-Day" của ban lãnh đạo Việt Nam -  Phạm Văn Đồng, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và các thành viên văn phòng CP Việt Nam bay tới Phnom Penh để ký hiệp ước hữu nghị giữa Việt Nam và chế độ Heng Samrin.
........
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Bảy, 2013, 01:13:15 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #171 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2013, 02:29:10 pm »

(tiếp)

Chiến tranh

Trong thực tế, cuộc xâm lược bắt đầu vào tối 16 tháng 2, khi một số phân đội trong biên chế các đơn vị hợp thành thế đội đầu tiên, có Hoa Kiều dẫn đường đã thâm nhập trong đêm qua biên giới đến độ sâu 3-6 km và bí mật tiến vào phía sau bộ đội Việt Nam đang chiếm lĩnh tuyến phòng ngự thứ nhất. Ngày 17 tháng 2 năm 1979 từ 3:30 đến 5:20 ở những thời điểm khác nhau bảy sư đoàn PLA sau 30-35 phút pháo bắn chuẩn bị (còn trên hướng Lào Cai không có pháo binh bắn chuẩn bị) đã vượt qua biên giới Việt Nam tại 26 địa điểm trên khắp tuyến biên giới 1460 km. Phà để các phân đội tiền tiêu PLA vượt qua sông Hồng đoạn biên giới được làm bằng bè tre. Cụm quân chính bắt đầu vượt sông lúc 6:00 ngày 17 tháng Hai - trên cầu phao và các ngầm có trang thiết bị đến thời điểm đó. Pháo binh VNA bắn trả rất muộn, chỉ vào lúc 7:00. Hầu hết các tiểu đoàn pháo binh tại thời điểm này không thể bắn được vì một loạt trạm quan trắc pháo binh đã bị kẻ thù đánh chiếm.

Đòn tấn công đầu tiên người Trung Quốc tung ra bằng LL hai sư đoàn từ phía bắc hướng về phía thị xã Cao Bằng dọc theo thung lũng sông Hồng. Đòn tấn công chính gồm LL năm sư đoàn diễn ra từ phía đông bắc hướng đến thành phố Lạng Sơn, từ đấy về Hà Nội chỉ có 141 cây số. Còn một mũi tấn công nữa, mũi bổ trợ, được sử dụng từ phía tây bắc đánh theo hướng thành phố Lai Châu. Những kẻ tấn công phải đối mặt chỉ với một sư đoàn thường trực và một sư đoàn "làm kinh tế" của Quân đội nhân dân Việt Nam (VNA), các đơn vị biên phòng và các lực lượng dân quân tự vệ. Vào lúc bắt đầu, các lực lượng xâm lược có đến 6-7 sư đoàn quân số 75-85 nghìn người, trong một tuần họ tăng lên đến 14 sư đoàn có quân số 120-144 nghìn người, sau đó khi đưa LL dự bị thê đội 2 vào chiến đấu, họ tăng quân số, theo các dữ liệu của Hoa Kỳ, tới 300 nghìn người. Chỉ huy chung các lực lượng xâm lược là tướng Dương Đắc Chí (Phó tư lệnh các lực lượng Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Triều Tiên).  

Giao tranh dữ dội nhất diễn ra trên các hướng Lạng Sơn và Lào Cai, còn từ ngày thứ hai của cuộc xâm lược - là hướng Cao Bằng. Trong quá trình tấn công, lực lượng quân sự Trung Quốc không có một tuyến mặt trận vững chắc mà các sư đoàn và và trung đoàn hành động dọc theo các tuyến đường bộ và đường mòn. Khi hành động trực tiếp dọc theo các con đường chính, TQ chỉ phân bố một lực lượng hạn chế, còn LL chủ yếu được sử dụng để chiếm giữ các khu vực và điểm cao liền kề với đường. Đồng thời họ tổ chức rộng rãi các chiến dịch cục bộ nhằm tiêu diệt tàn quân của đối phương để ngăn chặn sự luồn sâu của quân đội nước này vào trong hậu phương của họ tạo ra các ổ kháng cự. Quân đội Trung Quốc vòng qua các khu định cư lớn, bao vây và dội hỏa lực pháo binh nặng, chủ yếu là của các đơn vị pháo binh quân đoàn và sư đoàn. Trên các đường giao thông họ chiếm các nút chủ chốt, các đoạn đèo thuận lợi, tổ chức phòng thủ và sử dụng các biện pháp tiêu diệt hoặc dồn ép tàn quân VNA hoặc cụm quân VNA bị bao vây vào rừng núi. Các hình thức cơ động cơ bản trong chiến đấu của họ là đi vòng, bọc hậu và sau đó bao vây, cũng như càn quét.

Tại tỉnh Hoàng Liên Sơn có hai sư đoàn Trung Quốc xâm nhập, chúng được hỗ trợ bằng xe tăng và pháo binh, đã mở một cuộc tấn công mạnh mẽ trên khắp tuyến biên giới của tỉnh từ hướng tây bắc đến hướng đông bắc. Ngay khi trời còn tối, trước lúc bình minh ngày 17 tháng Hai, do kết quả của đòn tấn công bất ngờ, các huyện Bát Xát và Mường Khương đã bị đánh chiếm. Sau khi pháo binh bắn chuẩn bị và lắp cầu phao qua sông Hồng và sông nhánh của nó là sông Nậm Thi hội tụ tại Lào Cai, xe tăng Trung Quốc xông vào thành phố. Hỏa lực pháo binh Việt Nam chụp xuống các chuyến phà qua sông và các đại đội pháo binh bắn phá từ lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Lực lượng dân quân bước vào trận đánh khốc liệt với kẻ xâm lược ngay trên các đường phố Lào Cai và các vùng ngoại ô của nó. Giao tranh dữ dội diễn ra tại các đồi Cốc San, Bản Son, Bản Lau và ở các ngã tư đường trong thị trấn Bản Phiệt và trong khu vực Duyên Hai. Trong số 18 xe tăng Trung Quốc bị bỏ lại trong cuộc tấn công vào Mường Khương, có 8 xe đã bị phá hủy cùng với cây cầu. Các nhân viên dân sự Liên Xô và gia đình họ đã được sơ tán khỏi Lào Cai ngày 17 tháng Hai ngay dưới mũi những người lính Trung Quốc đang giật mìn phá nổ trên các đường phố, theo đúng theo nghĩa đen.

Bằng lực lượng một sư đoàn bộ binh, được hỗ trợ bởi xe tăng và pháo binh vào lúc bình minh ngày 17 tháng Hai, những tên xâm lược đã cố gắng chinh phục các điểm cao khống chế trên biên giới của tỉnh Hà Tuyên, tiến ra đường số 2 và đường 13A và tách làm đôi tuyến phòng thủ dọc biên giới Việt Nam, mở rộng bàn đạp, đe dọa ngay lập tức bên sườn 4 tỉnh lân cận - Hoàng Liên Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái và Vĩnh Phú, chặn các đường tiếp cận đến đồng bằng châu thổ sông Hồng, tới Hà Nội thủ đô của nước cộng hòa. Nhưng kế hoạch này đã thất bại bởi các chiến sỹ biên phòng Việt Nam và các chi đội dân quân tự vệ.

Trên hướng Cao Bằng, đối phương tiến hành tấn công bằng 2 sư đoàn tăng cường. Cuộc tấn công của kẻ thù bị đẩy lui trong quá trình diễn ra các trận đánh đẫm máu ngoan cường tại Hòa An, Quảng Hòa, Cao Bằng. Thông tấn xã Việt Nam loan báo rằng tại tỉnh Cao Bằng trên con đường dẫn đến khu vực Hoà An, các phân đội Việt Nam đã giáng đòn phản công bất ngờ vào một đoàn xe Trung Quốc, gồm xe tăng, xe quân sự và các đơn vị bộ binh. Kết quả 13 xe tăng bị phá hủy và 300 quân địch bị tiêu diệt. Những cuốn sổ tay hội thoại Hoa-Việt tìm thấy bên xác lính Trung Quốc bị giết chứng minh cho ta thấy quân xâm lược đã chuẩn bị một thời gian dài. Và chỉ trong ba ngày, từ ngày 17-ngày 19 tháng Hai, người Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 4 tiểu đoàn đối phương, hàng chục xe tăng và xe bọc thép. Chẳng hạn các chiến sỹ tiểu đoàn 1 lực lượng địa phương Cao Bằng chỉ trong ngày 17 tháng 2, đã loại khỏi vòng chiến đấu 2 tiểu đoàn quân Trung Quốc, phá hủy 15 xe tăng. Binh sĩ đại đội 10 tiểu đoàn bộ đội địa phương 9 của tỉnh trong ba ngày đầu tiên  chiến đấu đã ngăn chặn đường di chuyển của các đoàn xe tăng, phá hủy 29 xe chiến đấu của đối phương.

Tại tỉnh Lạng Sơn, đối phương với LL của 2 sư đòan đã triển khai tấn công vào các huyện Đình Lập, Lộc Bình, Văn Lãng và thị trấn Đồng Đăng. Các phân đội Việt Nam đã đánh trả, và trong thời gian từ ngày 17-ngày 20 Tháng Hai, đối phương phải dừng lại ở phía tây đường quốc lộ 1A và 1B.  Các nhân chứng của nhữn trận đánh đầu tiên trên hướng Lạng Sơn là một nhóm các nhà báo có mặt ở Lạng Sơn (cách biên giới 20 km) vào tối ngày 16 tháng 2. Phóng viên AFP mô tả tình hình ngày xâm lược chính xác theo giờ như sau:
  
"... hồi 05.00 theo giờ địa phương thành phố đang ngủ say đột nhiên bị đánh thức bởi âm thanh của hỏa lực pháo binh hạng nặng - đang bắn qua biên giới.
   Một số nhà báo cho biết họ có thể phân biệt tiếng nổ của đạn cối hạng nặng, pháo 105-mm và đạn cối 120-mm.
   Rất khó để hình dung rõ ràng về tình hình, vì chính quyền Việt Nam do cường độ pháo kích của Trung Quốc rất mạnh đã không để cho chúng tôi rời thành phố, nhưng tới 08:30 tiếng đại bác dường như đã gần hơn.
   Hồi 09:45 đại diện chính quyền địa phương cho biết: "quân đội Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công tổng lực trên địa bàn toàn tỉnh. Tất cả các đồn biên phòng đều bị bắn phá bằng pháo hạng nặng". Ông nói thêm: "Trên tuyến chiều dài 250-km đường biên giới giữa tỉnh và Trung Quốc lính bộ binh Trung Quốc đang di chuyển vào lãnh thổ của chúng tôi và cắm cờ Trung Quốc, Đang diễn ra các trận đánh đẫm máu Một số đồn biên phòng do công an và bộ đội biên phòng của chúng tôi bảo vệ đang bị bao vây. Có 100.000 dân thường sống trong các xã biên giới của chúng tôi đang bị đe dọa. Chúng tôi chưa xác định được bất kỳ dữ liệu nào. nhưng sự tổn thất nhân mạng, tất nhiên, là rất lớn. Tiến hành cuộc tiến công này là các đơn vị quân đội thường trực của Trung Quốc. Về phía chúng tôi, trên mặt trận chỉ có các chiến sỹ công an nhân dân, bộ đội biên phòng và các đơn vị quân sự địa phương".
   Tới 11:30 hỏa lực pháo binh lại tiếp tục và diễn ra với cường độ ngày càng tăng. Các tiếng nổ có thể nghe được với gián cách 10-30 giây.
   Tại bệnh viện Lạng Sơn những người bị thương bắt đầu được đưa đến, bác sỹ trưởng cho biết: "Họ được chở về từ Đồng Đăng (cách biên giới một vài cây số). Chúng tôi đã phải dừng trước khi về được đến đây. Chúng tôi dừng lại vì bị bắn quá dữ dội và những trận đánh khốc liệt. Chúng tôi còn để lại đằng sau nhiều người bị thương".
   Hồi 14:30, chúng tôi được phép đi về phía biên giới. Trên đường đi, chúng tôi gặp một vài nhóm dân thường đang đi ra khỏi vùng chiến sự, mang theo đầy đồ đạc. Các ngôi nhà bị bỏ hoang, còn súc vật nuôi được thả hoang trên đồng.
   Tiếng nổ của đạn pháo và tiếng súng tự động nghe ngày càng rõ hơn; đi được 10 cây số, chúng tôi rẽ ra khỏi đường cái đi vào đường mòn trên núi.
   Khi chúng tôi ra đường một lần nữa, đi được 2 km, chúng tôi bị chặn lại bởi một nhóm binh sĩ Việt Nam. Chỉ huy Phạm Hồng Ngọc của họ giải thích, "Chúng tôi đã bị bao vây và rút khỏi vòng vây qua cánh đồng. Lính chính quy quân đội Trung Quốc chỉ cách đây một km. Chúng rất đông".
   ... Tiếng tạch tạch của súng tự động đang xích gần và yêu cầu khẩn thiết của những người Việt Nam đã thuyết phục được chúng tôi trở lại. Lần này trên đường đã có thêm nhiều người chạy nạn, và một số người trong số họ nói rằng, Đồng Đăng đã bị xe tăng Trung Quốc bao vây ".


Mặc dù gặp phải sức đề kháng mạnh, ngày 18 tháng 2, Trung Quốc vẫn chiếm được thành phố Lào Cai và Móng Cái. Các đơn vị Việt Nam gặp phải tổn thất lớn nhất là các đơn vị tập trung xung quanh các thành phố Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái. Đổi lại, trong hai ngày 17 và 18 tháng Hai các chiến sỹ biên phòng Việt Nam, các phân đội bộ đội địa phương trong khu vực và lực lượng dân quân tự vệ đã loại khỏi vòng chiến đấu 3500 binh sĩ của đối phương, gây thiệt hại nặng nề cho 12 tiểu đoàn địch, bắn cháy 80 xe tăng, bắt tù binh hàng chục lính địch và thu giữ một số lượng lớn đạn dược. Trong ba trung tâm tỉnh lỵ định đánh chiếm, kẻ thù chỉ kiểm soát được Lào Cai, mà tại đó các đơn vị độc lập quân đội Việt Nam vẫn tiếp tục chiến đấu và người TQ chỉ tiến được ở một số khu vực riêng biệt đến 15 km, nhưng không phải ở khắp mọi nơi. Tại tỉnh Lai Châu, họ không thể tiến lên được trong toàn bộ cuộc chiến tranh. Tại đó cuộc chiến đấu diễn ra ở các vùng phía bắc gần biên giới. Đơn vị đầu tiên tiếp nhận một trận chiến không cân sức với kẻ thù xâm lược ngày 17 Tháng 2 là đồn biên phòng Pa Nậm Cúm trên đường số 10, họ đã đẩy lùi hàng chục cuộc tấn công, nhưng không rời khỏi vị trí. Bị cắt rời khỏi các đơn vị của mình, các chiến sỹ biên phòng đồn Pa Nậm Cúm đã tổ chức phòng thủ trong ba mươi ngày đêm của cuộc chiến. Ở Lai Châu, những kẻ xâm lược đã mất hơn 10.000 binh lính.

Mặc dù lực lượng hạn chế có sẵn tại biên giới lúc đầu cuộc xâm lược của Trung Quốc, quân đội Việt Nam vẫn tỏ rõ sự kháng cự ngaon cường, gây thiệt hại nặng nề cho quân đội Trung Quốc, và trên thực tế, đã phá vỡ tính toán của họ về một hành động quân sự chớp nhoáng. Thông tin của các bộ tham mưu bộ đội địa phương sáu tỉnh phía bắc của CHXHCN Việt Nam cho thấy, từ những phút đầu tiên trong cuộc xâm lược của Trung Quốc, ở khắp mọi nơi chúng đều gặp sự kháng cự mạnh mẽ. Việc phòng thủ có tính chất khác nhau, vì phụ thuộc nhiều vào vũ khí và đạn dược có tại các huyện. Trên các hướng chính các cỗ pháo đã tiếp đón đối phương, nhưng trên các đường mòn miền núi bộ đội biên phòng và người dân chỉ sử dụng vũ khí BB nhẹ.

Vì các lực lượng địa phương của Việt Nam và lực lượng dân quân thua kém quân Trung Quốc về số lượng và trang thiết bị, họ không tham gia các trận đánh vỗ mặt. Các phân đội trang bị nhẹ Việt Nam, sử dụng các bãi mìn để ngăn chặn các đơn vị thiết giáp Trung Quốc, tiến hành các hoạt động quấy rối, bắn phá quân Trung Quốc từ trên những ngọn đồi bằng súng tự động và súng cối, cũng như tên lửa chống tăng. Khi người Trung Quốc đến gần họ, người Việt Nam biến mất và họ nổ súng từ những ngọn đồi khác. Ưu điểm của chiến thuật này là nó cho phép hạn chế tổn thất của người Việt Nam và gây tổn thất nặng cho những kẻ xâm lược. Các đoàn xe Trung Quốc bị tấn công hỏa lực từ phía trước, hai bên sườn và cả từ phía sau. Các đơn vị đặc biệt của người Trung Quốc cưỡi ngựa để cơ động nhanh, được Hoa Kiều dẫn đường, những người này biết rõ những con đường mòn đã tiến sâu hơn vào lãnh thổ Việt Nam để vu hồi. Ở một số nơi, những toán kỵ binh này đã vào được sau lưng các phân đội Việt Nam.

Tuy nhiên, khi triển khai tấn công dọc theo đường sắt gần Lạng Sơn và Lào Cai, đám quân kỵ binh này lập tức bị hỏa lực súng cối bao bọc. Mặc dù vậy, chiến thuật cơ động của quân đội Trung Quốc gây rất nhiều khó khăn cho tình thế các đơn vị Việt Nam. Ngay ngày 17 tháng Hai, hầu hết các khẩu đội pháo binh của một trung đoàn pháo thuộc một trong các QK của VNA đã nằm trong hậu phương kẻ thù. Ngày 18 Tháng Hai tình trạng tương tự xảy ra với các khẩu đội pháo binh của trung đoàn pháo binh quân khu bên cạnh. Thậm chí dù ở trong vòng vây và hậu phương của các đơn vị Trung Quốc đang tiến công, những người lính Việt Nam đã cho thấy sức kháng cự rất cao và chủ nghĩa anh hùng tập thể khi chiến đấu với kẻ thù xâm lược.

Thực tế là quân đội Trung Quốc đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt được chính người Trung Quốc xác nhận. Báo quân đội Trung Quốc ngày 20 tháng 2 tờ "Tsefansiungpao" phàn nàn: "Nhà cầm quyền Việt Nam đang hành xử quá ngạo mạn. Dựa vào việc đế quốc xã hội-chủ nghĩa Liên Xô đang đứng đằng sau họ, họ điên cuồng chống lại chúng ta". Reuters dẫn lời phóng viên của mình tại Bắc Kinh nói rằng tại Bắc Kinh người ta không bác bỏ tuyên bố của Hà Nội về tổn thất nhân mạng của Trung Quốc kể từ khi cuộc chiến bắt đầu trong năm ngày qua đã vượt quá con số 5000 người.

Cuộc xâm lược của Trung Quốc đã làm phát lộ các thiếu sót nghiêm trọng của bộ chỉ huy Việt Nam. Khi chuẩn bị để đẩy lùi một cuộc xâm lược có thể có, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhầm lẫn về quy mô có thể có của các hoạt động quân sự. Kế hoạch chuẩn bị để đẩy lùi cuộc xâm lược và thực hiện các hoạt động có tính toán đã không được phát triển. Tất cả những vấn đề này được xử lý bằng trình tự hành chính. Về tổng thể, tới khi khởi đầu cuộc xâm lược của kẻ thù, cụm quân đội dự kiến đã được thành lập. Tuy nhiên, một loạt các biện pháp để chuẩn bị cho chiến tranh đã không được thực hiện.
..........
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Bảy, 2013, 09:13:27 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #172 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2013, 06:57:26 pm »

(tiếp)

Chẳng hạn, tuyến phòng thủ đã định hầu như không được trang bị gì về mặt công binh công trình. Không điều gì được thực hiện trong việc tăng cường bổ sung cho cụm quân ở miền Bắc Việt Nam các đơn vị quân thường trực cũng như quân địa phương. Việc chuẩn bị tuyến triển khai và đường tiến quân cho các đội quân dự bị để giáng các đòn phản công khả dĩ cũng không được thực hiện. Các SCH QK nằm cách bộ đội đến 200 km. Tuy nhiên, hệ thống chỉ huy và liên lạc cần thiết không được thành lập. Tuyến phòng thủ của các sư đoàn không được xác định. Các đơn vị hợp thành phòng thủ trên các hướng phân tán với nhau trên một mặt trận rộng 40-60 km và hơn nữa. Các khoảng cách quãng và hai bên sườn giữa các trung đoàn, tiểu đoàn và thậm chí các đại đội không được bao bọc bằng hệ thống hỏa lực và chướng ngại công binh, bãi mìn-vật nổ. Việc cơ động các lực lượng và phương tiện để thiết lập các nút chặn và phục kích trên các tuyến đường vòng tránh của kẻ thù từ hai bên sườn và phía sau không được tính trước. Trong quá trình hoạt động chiến đấu đã phát lộ việc thiếu khả năng tổ chức phòng thủ của bộ chỉ huy VNA trên các hướng quan trọng để đánh trả các lực lượng đối phương, thiếu các kỹ năng cần thiết trong việc sử dụng xe tăng, pháo binh, và tổ chức hiệp đồng giữa chúng với bộ binh.

Ngày 20 tháng 2, quân đội Trung Quốc phát động cuộc tấn công ác liệt nhất vào trận địa của người Việt Nam trên hướng Lạng Sơn. Các sư đoàn của 2 quân đoàn cùng tăng thiết giáp trực thuộc và các đơn vị pháo binh đã đột phá bằng 2 mũi nêm - từ phía tây bắc qua huyện Thông Nông và phía đông bắc qua các huyện Quảng Hòa và Thạch An - tới thành phố Cao Bằng. Kể từ 20 tháng 2, quân đội Trung Quốc đã phát động một cuộc tấn công mới để chiếm các điểm cao khống chế phía nam Đồng Đăng. Bộ đội và cư dân trong tỉnh đã thể hiện sức kháng cự mạnh mẽ chống lại kẻ thù xâm lược và tấn công vào hậu phương của kẻ địch. Giao tranh dữ dội xảy ra tại khu vực điểm cao 409, cũng như tại mốc đánh dấu biên giới số 15, cách sáu km về phía đông bắc Đồng Đăng. Các đơn vị Việt Nam phản công và loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội lính Trung Quốc, đốt cháy 5 xe tăng. Đại đội 10 tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương tỉnh Lạng Sơn đẩy lùi quân xâm lược Trung Quốc tại hai điểm cao Chậu Cảnh và Cây Xanh. Chúng có vị trí khống chế trong khu vực xã Tam Lung tại huyện Văn Lãng và cho phép kiểm soát các con đường gần đó, giữ trong tầm bắn tuyến giao thông dẫn tới Đồng Đăng. Trong 4 ngày đầu tiên của các trận đánh tại tỉnh Lạng Sơn đã có 4 tiểu đoàn bộ binh bị tiêu diệt, hàng chục xe tăng và xe bọc thép của kẻ thù bị phá hủy. Dân quân, bộ đội địa phương Việt Nam và các trinh sát viên dân tộc thiểu số đã đánh trả một cách tự tin các cuộc tấn công trực diện với lực lượng áp đảo của đối phương và đồng thời giáng những đòn vu hồi vào phía sau kẻ thù. Các nhóm quân Trung Quốc dần dần bị chia cắt tại Quốc lộ 3 và 4, kết quả là kẻ xâm lược đã mất trong 12 ngày hơn 4000 binh sĩ và rất nhiều trang bị quân sự.

Kể từ khi cuộc xâm lược bắt đầu, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao cũng đã diễn ra. Việt Nam quay sang Liên Hiệp Quốc yêu cầu lên án sự xâm lược của Trung Quốc, nhưng Việt Nam không cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Liên Xô và Đài Loan cáo buộc Mỹ ủng hộ Trung Quốc, Trung Quốc đến lượt mình cũng đã tiến hành công tác ngoại giao. Mặc dù số lượng binh lính tham gia cuộc xâm lược của quân đội Trung Quốc đang tăng lên, Bộ Ngoại giao Trung Quốc phổ biến trong giới các nhà ngoại giao nước ngoài một phiên bản của họ về cái gọi là "tính chất giới hạn" của các hoạt động quân sự của Trung Quốc tại Việt Nam. Trong tinh thần này, họ đã gặp gỡ với các đại sứ Nhật Bản, Pháp, Đức và các nước thành viên ASEAN. Các hành động tương tự đã được Trung Quốc phát động để cố gắng che đậy quy mô thực sự của cuộc xâm lăng của Trung Quốc và đồng thời chống đỡ làn sóng lên án, đang tăng lên trên toàn thế giới do sự xâm lăng của Trung Quốc.

Trên các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng quân Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tàn sát dã man hàng loạt dân thường Việt Nam, những người không kịp sơ tán vào sâu nội địa nước cộng hòa. Kể từ ngày 17 tháng 2 chiến sự bùng nổ tại xã Thanh Lòa (tỉnh Lạng Sơn), chúng đã đốt gần 100 ngôi nhà và tàn sát tất cả những người không kịp sơ tán - người già, phụ nữ và trẻ em. Trẻ em nhỏ bị xách ngược chân lên và xé làm đôi. Phụ nữ bị đâm vào bụng. Người già bị đánh chết bằng báng súng. Tại xã Bản Lầu xe tăng và bộ binh Trung Quốc đã bắt giữ một xe khách Việt Nam, chở thường dân ra khỏi khu vực chiến sự, và tất cả 30 người đều bị chúng giết chết ngay tại chỗ. Các vụ giết hại dân thường tương tự có đến hàng trăm.

Trong bảy ngày chiến đấu, từ 17-23 tháng Hai theo dữ liệu của VNA, các chiến sĩ Việt Nam đã tiêu diệt 16.000 lính quân đội Trung Quốc, bắn cháy bắn hỏng 160 xe tăng và xe bọc thép, 110 xe ô tô. Trên hướng Móng Cái sau một tuần chiến đấu quân đội Trung Quốc tiến chỉ được 2-4 km, và vào ngày thứ tám đã phải lùi về lãnh thổ của họ. Các cuộc tấn công lặp đi lặp lại đã bị các đơn vị Việt Nam đẩy lùi. Mặc dù tổn thất, người Trung Quốc vẫn từ từ tiếp tục tấn công theo hướng về Hà Nội. Trên hướng Lạng Sơn cuộc tấn công của các đơn vị hợp thành thê đội 1 bị chặn lại và nhiệm vụ trước mắt trên hướng này chỉ được thực hiện vào ngày chiến tranh thứ tám 24 tháng 2 sau khi đã đưa thê đội 2 của quân đoàn vào tham chiến. Ngày 25-27 tháng Hai, người Trung Quốc đưa vào chiến đấu thê đội 2 và lực lượng dự bị của các sư đoàn. Bộ tham mưu các quân đoàn lục quân, đang tấn cong trên các hướng chủ yếu, đã tiến hành các bước cải thiện công tác thông tin liên lạc, chỉ huy bộ đội. Trên hướng Lạng Sơn đã đưa vào tham chiến quân đoàn lục quân số 55 (thiếu 1 sư đoàn BB), trên hướng Lai Châu - sư đoàn 39 quân đoàn lục quân 13.

Ngày 01 tháng 3, Trung Quốc đề nghị Việt Nam đàm phán, hy vọng buộc Hà Nội đi đến giải quyết tranh chấp theo điều kiện riêng của họ. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Việt Nam chỉ nghĩ đến các cuộc đàm phán cũng chưa muốn. Mặc dù từ đấu cuộc chiến, người Trung Quốc tuyên bố về mục tiêu của họ: " Chúng tôi không cần một tất đất nào tại Việt Nam. Tất cả những điều chúng tôi cần - tình hình hòa bình ổn định trên biên giới. Sau khi trừng phạt những kẻ xâm lược, các đơn vị biên phòng của của chúng tôi sẽ trở lại lãnh thổ Trung Quốc và sẽ bảo vệ biên giới của Tổ quốc.", nhưng người Trung Quốc vẫn không dừng lại.    

Sau khi nhận được tiếp viện, kẻ thù đã cố gắng đánh chiếm trung tâm của Lạng Sơn - rất quan trọng về chiến lược đối với họ. Ở khắp mọi nơi, cuộc tấn công của Trung Quốc luôn gặp phải sự kháng cự ác liệt. Ngày 03 tháng 3 VNA báo cáo rằng tại Lạng Sơn người Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 5 xe tăng và 1.100 quân Trung Quốc. Tại phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, một nỗ lực của quân đội Trung Quốc chuyến sang tấn công trên hướng Lộc Bình đã thất bại, tại đây đối phương trong một ngày mất 1370 binh sĩ. Như vậy, trên hướng Lạng Sơn, tại nam Đồng Đăng, trong ba ngày chiến đấu đã có 4.000 binh sĩ địch bị tiêu diệt, 9 xe tăng, 36 pháo và súng cối hạng nặng của địch bị phá hủy. Giao tranh dữ dội diễn ra trên cả các hướng khác. Trong khu vực đèo Khau Chia, các phân đội bộ đội địa phương tỉnh Cao Bằng, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ đã kìm giữ các sư đoàn địch trong vòng 12 ngày, tiêu diệt hơn 4.000 lính và sỹ quan Trung Quốc. Ngày 12 tháng 3 bọn kẻ cướp đã buộc phải rút lui. Nhưng người Trung Quốc đã tìm đường vu hồi. Để thực hiện đi vòng họ sử dụng rộng rãi các đơn vị bộ binh và các phân đội đã qua huấn luyện đặc biệt để hoạt động trong khu vực địa hình khó khăn.

Ví dụ, trong các trận đánh chiếm Cao Bang, một trung đoàn bộ binh của quân đoàn lục quân 42 đã đi trên những con đường núi phía sau lưng quân đội Việt Nam, cắt đường ô tô, chiếm cầu qua sông Hiến (9 km về phía nam thị xã Cao Bằng) và đảm bảo việc tiến quân xa hơn nữa cho các đơn vị của sư đoàn mình. Ví dụ điển hình cho việc vu hồi là việc sử dụng các đơn vị xe tăng bơi trên hướng Lào Cai. Xe tăng bơi trên sông Hồng hơn 15 km (từ Lào Cai đến Thái Nhiên) và tiến vào phía sau quân đội Việt Nam. Vào đầu tháng Ba, người Trung Quốc bằng cách đưa vào tham chiến các thê đội 2 và các đội dự bị của các quân đoàn lục quân thê đội thứ nhất trên mặt trận, đã đạt được thành công trong việc chiếm được các tỉnh lỵ trung tâm ngày 2 tháng Ba (hoặc 25 tháng 2) thị xã Cao Bằng và ngày 04 tháng 3, thị xã Lạng Sơn, và trên các hướng chủ yếu họ tiến được 45 - 50 km tính từ đường biên giới quốc gia. Như vậy, nhiệm vụ tiếp sau của chiến dịch chỉ mới thực hiện được một phần và chỉ đến ngày thứ mười sáu của cuộc chiến. Các điều kiện cơ bản để đạt được thành công trong quân đội Trung Quốc được coi là phải xây dựng được sự vượt trội lớn về hỏa lực và đặc biệt là ưu thế quân số (thường tạo ra sự vượt trội về sinh lực 5-6-lần so với đối phương).

Những thành công mà quân Trung Quốc đạt được có cơ sở là những tính toán sai lầm của bộ chỉ huy quân sự Việt Nam. Các sư đoàn bộ binh chính quy VNA bước vào trận chiến theo từng đơn vị và chỉ ở những hướng mà kẻ thù tiến đến tuyến phòng thủ của các trung đoàn và các khu vực phòng thủ tiểu đoàn. Các trung đoàn còn lại của sư đoàn tiếp tục ở nguyên các khu vực đang chiếm lĩnh hoặc ở các khu vực tập trung, thụ động chờ đợi kẻ thù tiến ra các tuyến phòng thủ của mình. Ngay cả khi gặp mối đe dọa đối phương từ 2 sườn đột phá hoặc vu hồi các khu vực phòng thủ, các trung đoàn này trong giai đoạn ban đầu của cuộc chiến tranh vẫn không được sử dụng để thực hiện các đòn phản công hoặc tăng cường phòng thủ trên các hướng đang bị đe dọa. Các trung đoàn trong sư đoàn và ngay các sư đoàn cũng hành động một cách riêng biệt, sự hiệp đồng giữa họ là không có. Hai bên sườn và các khoảng trống như trước đây vẫn tiếp tục không được bảo vệ. Đối thủ đã tận dụng lợi thế này. Kết quả là, sư đoàn BB 346 bị bao vây ở Cao Bằng, còn sư đoàn BB 345, trung đoàn BB 148 thuộc sư đoàn BB 316 ở phía nam Lào Cai đã bị các đơn vị TQ cắt đứt khỏi tất cả các tuyến đường giao thông. Các chỉ huy quân sự Việt Nam tổ chức rất kém công tác trinh sát địch.

Các chỉ huy và bộ tham mưu không theo dõi hành động của đối phương, không áp dụng các biện pháp đối phó lại ý đồ bao vây đơn vị mình. Kỹ năng sử dụng trong chiến đấu các phương tiện hỏa lực mạnh hiện có như các khẩu đội RS30, các tiểu đoàn pháo 130-mm, ATGM "Maliutka" và MANPADS "Strela-2" còn rất yếu. Hoạt động phản công hiếm khi được sử dụng, khi thực hành lại thiếu tính tổ chức, lực lượng sử dụng rất nhỏ, và không có yểm trợ pháo binh. Chỉ vào cuối tháng Hai tại hướng Lạng Sơn người Việt Nam mới thành lập quân đoàn BB. Kết quả là, tại khu vực này đã cải thiện được công tác tổ chức và tính nhanh nhạy trong chỉ huy bộ đội. Tuy nhiên, quân đoàn như một binh đoàn tác chiến chiến dịch-chiến thuật, chưa thể hiện được mình bằng điều gì.

Mặc dù bộ tư lệnh Trung Quốc đang sử dụng chiến thuật "biển người" và không coi trọng tổn thất tương đối lớn về nhân mạng (2-3 nghìn người một ngày đêm), họ vẫn phải trả giá đắt kể cả cho những thành công nhỏ. Trong chưa đầy mười ngày chiến đấu trên hướng Cao Bằng, các lực lượng dân quân tự vệ và bộ đội địa phương đã loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 10 ngàn binh sĩ Trung Quốc, bắn cháy và bắn hỏng 134 xe tăng, bắt nhiều tù binh. Cần lưu ý rằng trên hướng Cao Bằng người Trung Quốc sử dụng độc lập các đơn vị xe tăng để thực hiện đòn vu hồi sâu. Xe tăng cùng các đội bộ binh đổ bộ trong 2 ngày tiến theo các hướng hội tụ tới khu vực Cao Bằng và bao vây cụm quân đội Việt Nam ở phía Bắc thành phố. Nhưng tiếp sau, xe tăng trên hướng này chỉ được sử dụng như phương tiện hỗ trợ hỏa lực trực tiếp cho bộ binh. Đối với tất cả các phương pháp hoạt động của xe tăng trong địa hình rừng núi, thiệt hại là rất đáng kể. Việc sử dụng xe tăng trong những điều kiện tương tự như vậy, người Trung Quốc đã sớm loại bỏ. Ba ngày diễn ra trận chiến đường phố ở Cao Bằng, quân Trung Quốc đã có 1140 người chết và bị thương.  
..........
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Bảy, 2013, 09:35:03 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #173 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2013, 03:27:18 pm »

(tiếp)

Hơn nữa, Cao Bằng vốn ở trong vòng vây của các lực lượng vượt trội, đã được các chiến sĩ Việt Nam bỏ lại theo mệnh lệnh của bộ chỉ huy, họ chọn cách rút quân mình ra tránh đòn tấn công ồ ạt, như thể để cho đối phương đi qua rồi mới phản công vào hai bên sườn địch. Chẳng hạn, trong một thung lũng nhỏ ở Cao Bằng, người Việt Nam đã tiêu diệt 18 xe tăng lội nước PT-76 Trung Quốc. Trung tướng Đàm Quang Trung cho biết, khi quân du kích bao vậy ở khu vực Cao Bằng một toán 300 quân Trung Quốc, ông đi trên xe BTR-152 lái thẳng đến nơi chúng tập trung, và bằng tiếng Trung Quốc mà ông biết hoàn hảo, ông giao tiếp với nhóm quân bị vây. Chúng lúc đầu tưởng ông là một chỉ huy Trung Quốc, nên xin ông đưa chúng ra khỏi vòng vây. Tuy nhiên, các xạ thủ ngồi trên xe bọc thép, đã nhanh chóng xua tan hy vọng của chúng. Tất cả đều đầu hàng. Trên các khu vực khác, tình hình cũng tương tự, ví như ở trên các dãy núi và các hẻm núi của tỉnh Hoàng Liên Sơn, ngườiTrung Quốc trước khi bắt đầu cuộc rút lui, tổn thất đến 11.000 người chết và bị thương, mất 50 xe tăng, bảy khẩu đội pháo binh, hàng trăm phương tiện vận tải.

Bất chấp sự kháng cự ngoan cường của người Việt Nam, trong khoảng thời gian từ 25 tháng 2 - 5 tháng 3, tốc độ tấn công của người Trung Quốc đã tăng lên đáng kể. Sự hiện diện của LL dự bị quân đông và được huấn luyện kỹ, là cơ sở cho sự thành lập các đơn vị hợp thành mới, bù đắp thiệt hại, và cho phép người Trung Quốc tạo ra ưu thế về sinh lực, giải quyết các nhiệm vụ chiến đấu, bất chấp sự mất mát. Chẳng hạn, khi tấn công thị xã Lạng Sơn, người Trung Quốc đã tiến hành đến 17 đợt tấn công mỗi ngày. Tới ngày 05 tháng 3 năm 1979, quân đội Việt Nam rút lui trên hướng Lạng Sơn đến 30 km, hướng Cao Bằng - đến 55 km tính từ biên giới. Bộ chỉ huy Việt Nam chuyển từ LL dự bị của mình 2 sư đoàn BB để tăng cường phòng thủ trên hướng Lạng Sơn. Các sư đoàn có nhiệm vụ chuẩn bị và chiếm lĩnh tuyến phòng thủ, ngăn chặn kẻ thù phát triển tấn công về phía Hà Nội. Khả năng phát triển này trong ngày 5 tháng 3 năm 1979 là rất thực tế.

Ngày 04 tháng 3 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam gửi tới các binh sĩ và toàn thể đồng bào lời kêu gọi quét sạch bọn xâm lược ra khỏi đất đai quê hương mình, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Tại Hà Nội, đáp lời hiệu triệu, hàng ngàn người bắt đầu xây dựng hầm trú ẩn, đào chiến hào và công sự. Tờ báo "Nhân Dân" ra bài xã luận trên trang nhất, "Cả nước đánh bại kẻ thù xâm lược, mọi người dân - đều là chiến sỹ!". Còn ngày 05 tháng 3 vào hồi 22 giờ Việt Nam đã tuyên bố lệnh tổng động viên. Khi xác định phạm vi của lệnh tổng động viên, Quốc hội Việt Nam dự kiến quy mô đó bao trùm một phạm vi lớn hơn cả số cư dân hạn chế thời kỳ đánh trả cuộc xâm lược của Mỹ. Họ kêu gọi tất cả mọi người, đàn ông từ 16 đến 45 tuổi và phụ nữ từ 18 đến 40 tuổi.

Tại các thành phố, thị xã, các đơn vị tự vệ được thành lập. Ban lãnh đạo các nhà máy xí nghiệp, nông trường quốc doanh và hợp tác xã, cơ quan hành chính và các cơ sở giáo dục có nghĩa vụ bảo vệ vũ trang cho các cơ sở của họ. Trong một hành động khẩn cấp đã diễn ra việc tái triển khai 2 quân đoàn BB từ Cam-pu-chia về khu vực nằm cách Hà Nội 50 km về phía bắc. Việc chuyển quân thực hiện bằng đường sắt, bằng cách này chuyên chở được hơn 8.000 người, pháo binh, đạn dược, vũ khí và trang thiết bị đặc biệt. Trên không trung, kế hoạch là chuyên chở 6 ngàn 750 quân nhân trang bị vũ khí nhẹ từ sân bay Tân Sơn Nhất tới các sân bay Nội Bài và Kep. Nhằm mục đích này, đã huy động tham gia vận chuyển gần như tất cả máy bay vận tải và hàng không dân dụng tại Việt Nam - 14 máy bay. Theo đường biển, kế hoạch là chuyển các xe tăng và xe bọc thép của hai lữ đoàn tăng thiết giáp từ cảng bốc xếp Sihanoukvin (Campuchia) và Sài Gòn tới cảng Hải Phòng. Việc tái triển khai lên kế hoạch thực hiện trong mười ngày. Nhưng trên thực tế, nó chỉ kết thúc sau 25 ngày. Người ta phát hiện ra không chỉ tình trạng tồi tệ của các tuyến đường sắt, mà của cả trang bị kỹ thuật khi vận hành. Hầu như không có bất kỳ sự hỗ trợ và đảm bảo kỹ thuật nào.

Không đạt được mục tiêu chính trị đề ra, và đối mặt với khả năng khởi đầu một cuộc chiến tranh lớn, ngày 5 tháng 3, chính phủ Trung Quốc đã quyết định rút quân khỏi Việt Nam và đã tuyên bố về điều đó. Quyết định này xuất phát từ một loạt yếu tố chính trị và quân sự mà cơ sở của nó là: sự hỗ trợ kiên quyết và chắc chắn cho Hà Nội từ phía Moscow, đòi hỏi chấm dứt ngay lập tức cuộc xâm lược; việc chuẩn bị tiến hành và thực hiện các hành động quân sự của Liên bang Xô Viết tại Viễn Đông; sự bất đồng ý kiến tăng lên trong giới lãnh đạo Bắc Kinh trong quá trình phát triển cuộc xung đột; sự phản đối trên trường quốc tế, sự kháng cự ngoan cường của Quân đội Nhân dân Việt Nam, gây thiệt hại nặng nề cho kẻ xâm lược; sự phơi bày những thiếu sót nghiêm trọng trong việc huấn luyện chiến dịch - chiến thuật cho đội ngũ chỉ huy các lực lượng vũ trang Trung Quốc, trong việc trang bị các loại vũ khí và trang thiết bị quân sự hiện đại, các khó khăn trong công tác hậu cần.

Ngày 5 Tháng Ba Đài phát thanh Hà Nội ra thông cáo, "Thể hiện ý thức tốt đẹp và chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của nhân dân ta, Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố rằng, nếu Trung Quốc, như họ đã thông báo, thực sự rút quân đội của họ ra khỏi lãnh thổ Việt Nam về bên kia đường biên giới lịch sử, có thỏa thuận về việc theo dõi quá trình rút quân, phía Việt Nam có thể bước vào cuộc đàm phán với Trung Quốc về việc khôi phục quan hệ bình thường giữa hai nước .. "  

Ngày 06 tháng 3 Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại câu lạc bộ quốc tế ở Hà Nội một cuộc họp báo về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Đại diện Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam, cho biết: " Chúng tôi biết rằng kế hoạch dài hạn của ban lãnh đạo Bắc Kinh - là sáp nhập Đông Nam Á, thực hành chính sách cưỡng ép, chủ nghĩa bá quyền và bành trướng. Tại sao Trung Quốc công bố việc rút quân khỏi Việt Nam? Có ba lý do chính: Thứ nhất, những tên kẻ cướp Trung Quốc đã chịu một thất bại nghiêm trọng trên các mặt trận tại Việt Nam. Thứ hai, làn sóng quốc tế phản đối cuộc xâm lược của Trung Quốc đang dâng cao và lan rộng. Và thứ ba, ngay tại Trung Quốc cuộc đấu tranh chính trị nội bộ đang tăng lên.
Khi cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đang ở đỉnh cao, lúc đó một số quan chức Washington bắt đầu nhận ra rằng chiến thắng sẽ không đến, Thượng nghị sĩ George Aiken đã đưa ra lời khuyên cho giới cầm quyền: "Hãy thông báo với thế giới rằng Hoa Kỳ đã chiến thắng và rút quân ra khỏi Việt Nam." Họ đã không lắng nghe Aiken, và nhiều lần phải hối tiếc về điều đó ...
Vậy thì, lời khuyên của Thượng nghị sĩ Mỹ rất hữu ích cho Bắc Kinh. Việc rút đạo quân viễn chinh ra khỏi Việt Nam sẽ đi kèm với tiếng kèn tuyên truyền của TQ. Tờ "Nhân dân Nhật báo", ví dụ, đã chúc mừng quân đội có một "chiến thắng lớn". Nhưng toàn thế giới, ngoại trừ người Trung Quốc, đều biết rằng nước CHXHCN Việt Nam, chưa cần đưa vào tham chiến các lực lượng chủ yếu, đã đánh bại lực lượng xung kích của bè lũ Mao-ít.
... kẻ xâm lược Trung Quốc, vượt qua biên giới Việt Nam, đã bị tiêu diệt ".


Ngày 06 Tháng Ba năm 1979 theo lệnh của bộ chỉ huy của mình, quân đội Trung Quốc bắt đầu chậm chạp rút khỏi các vùng lãnh thổ chiếm đóng của CHXHCNVN. Để yểm hộ cho cuộc rút quân của mình, họ đưa các đơn vị dự bị của các sư đoàn và quân đoàn lục quân, tiến phía trước và hai bên sườn, các đơn vị đó sẽ tổ chức phòng thủ tại các nút giao thông, các cầu, phà trên các hướng dễ dàng tiếp cận. Trong một số trường hợp, họ chiếm giữ các điểm cao khống chế, tổ chức tấn công nghi binh thu hút và chuyển đến các tuyến mới. Các hành động như vậy của họ được tiếp tục cho đến khi rút được hoàn toàn các LL chính. Khi rút họ sử dụng rộng rãi màn hỏa lực pháo-cối ngăn chặn ồ ạt, gài mìn các con đường, đánh sập các cây cầu, phá hủy các cơ sở kinh tế quốc dân. Ngày 08 Tháng 3 người Việt Nam thiết lập quyền kiểm soát hoàn toàn Lạng Sơn, tại đây ngày 7 tháng 3 một phát đạn bắn tỉa đã giết chết nhà báo Nhật Bản Isao Takano, ngày 08 Tháng 3, các đơn vị Trung Quốc, khi bỏ lại Sapa và Bản Phiệt, đã tái triển khai và tiếp tục cuộc tấn công.

Tại ban tham mưu bộ đội địa phương, đại tá Hoàng Mạc nói với các phóng viên nước ngoài: " Những hành động của đối phương không giống với hoạt động rút quân. Nó chỉ là sự phân bố lại lực lượng. Có tin tức cho thấy các đơn vị viện binh từ sâu bên trong lãnh thổ Trung Quốc đang tới với họ. Các hành động cướp bóc dân lành trên lãnh thổ Việt Nam bị quân xâm lược chiếm đóng vẫn tiếp diễn. Tại các điểm dân cư Trung Quốc đã và đang đặt mìn. Bệnh viện thị trấn Phố Lu được giải phóng chứa đầy các xác những người chết vì không được chăm sóc, nhân viên y tế bị xử bắn. Chúng tôi đang sẵn sàng đẩy lùi các cuộc tấn công mới có thể xảy ra của bọn xâm lược ... "

Trong thời gian từ ngày 08-ngày 10 tháng 3 người Trung Quốc phát động tấn công ở khu vực Tài Hồ Sìn, Bảo An (tỉnh Cao Bằng), ở khu vực phía tây nam Đồng Đăng (tỉnh Lạng Sơn), trong khu vực đường QL số 7 và đường nối Lào Cai với Cam Đường và Sapa tỉnh Hoàng Liên Sơn. Quân xâm lược chiếm đóng các khu vực mới trên địa bàn tỉnh Hà Tuyên. Đồng thời chúng liên tục giết hại dân lành. Ngày 10 tháng 3 tại xã Hưng Đạo, các pháo thủ người Hoa đã giết chết 43 người Việt Nam. Hầu hết trong số họ là người các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Mán. Hơn một chục xác chết bị ném vào một cái giếng. Những người còn lại bị băm vằm ra từng mảnh. Trong số những người thiệt mạng - có 20 trẻ em và 21 phụ nữ, 2 cụ già. Thực tế là bất chấp tuyên bố rút quân của mình, quân đội Trung Quốc vẫn tiếp tục các hoạt động quân sự của họ tại Việt Nam, chính người Trung Quốc tự khẳng định, khi họ tuyên bố rằng trong các ngày 9 và 10 tháng Ba, quân đội của họ đã "giáng đòn tấn công mạnh mẽ" vào các đơn vị Việt Nam.

Ngược lại, người Việt Nam đã giáng đòn tấn công vào các đơn vị Trung Quốc đang rút đi. Chẳng hạn, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, các đơn vị Việt Nam chặn đánh hai đoàn xe của quân đội Trung Quốc di chuyển theo hướng các đèo Khau Liêu và Bản Đông. Một trong các đoàn xe chở các tài sản ăn cướp tại xã Nà Bao, hơn 300 lính Trung Quốc bị tiêu diệt. Tính toàn bộ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, từ ngày 09-ngày 12 tháng 3, đã có hơn một nghìn quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ngày 13 Tháng 3 quân Trung Quốc vi phạm biên giới Việt Nam tại một số điểm trên hướng Khau Giang lấn vào lãnh thổ Việt Nam. Tại tỉnh Cao Bằng, chúng phát động tấn công vào khu vực Tài Hồ Sìn và Nà Bao. Ngày 13 tháng 3, Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ thành phố Lào Cai, thị xã Cao Bằng, Bát Xát và Mường Khương. Quân đội Trung Quốc tập trung cách Lào Cai khoảng sáu km. Trên hướng Lạng Sơn quân đội Trung Quốc rút về bên kia đường biên giới theo hướng đông, đông bắc và phía bắc thị trấn Lộc Bình. Quân xâm lược đã rút khỏi thị trấn Đồng Đăng. Ngày 16 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc chính thức tuyên bố hoàn thành việc rút quân đội của mình khỏi Việt Nam.
........
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Bảy, 2013, 02:07:05 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #174 vào lúc: 09 Tháng Bảy, 2013, 09:29:58 pm »

(tiếp)

Vì các lý do chính trị, với mục đích làm cho cuộc xâm lược có tính chất của một cuộc xung đột vũ trang biên giới, các hoạt động chiến tranh của PLA chỉ tiến hành bằng lực lượng lục quân. Mặc dù Bộ chỉ huy Trung Quốc trước chiến tranh đã thành lập một nhóm không quân mạnh có 700 máy bay (J-6, J-7 và A-5), đóng căn cứ tại các sân bay biên giới Nam Ninh, Debao, Quảng Nam và Mông Tự. Không quân Trung Quốc từ cuối tháng Giêng đã thực hiện các chuyến bay trong các khu vực trực chiến, nằm gần biên giới Việt Nam mà không vi phạm không phận,họ đã tiến hành đến 40 phi vụ trong một ngày đêm trước khi nổ ra cuộc xâm lược, và trung bình 200 phi vụ một ngày đêm trong giai đoạn chiến tranh. Máy bay trinh sát thực hiện do thám các khu vực hoạt động chiến đấu và khu vực lãnh thổ biên giới của Việt Nam đến độ sâu 15 km tính từ đường chiến tuyến giữa các bên. Chính trị, tất nhiên, đóng một vai trò nhất định, nhưng số lượng giới hạn các phi vụ (không nhiều hơn 4000 mỗi tháng) được xác định phần lớn bởi chất lượng hệ thống phòng không của Việt Nam, và tóc độ tăng cường đáng kinh ngạc của cụm không quân Liên Xô tại Mông Cổ.

Cuộc xâm lược đã chuyển thành sự phá sản của cỗ máy chiến tranh Trung Quốc - 300 nghìn người Trung Quốc, được trang bị vũ khí hạng nặng, bị kiềm chế không phải bởi quân đội Việt Nam, mà là bởi bộ đội biên phòng, công an nhân dân và lực lượng dân quân các tỉnh biên giới. Trong 30 ngày xung đột, người Trung Quốc tiến xa nhất được khoảng 80 km. Theo số liệu của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, tổn thất của các lực lượng Trung Quốc trong khoảng thời gian tiến hành các hoạt động quân sự từ 17 Tháng Hai - 18 tháng 3 năm 1979 là 62.500 người (trong tuần đầu tiên của chiến tranh thiệt hại tổng cộng 16.000, tới 27 tháng 2 - 27.000, tới ngày 05 tháng 3 - 45 nghìn), ba trung đoàn và 18 tiểu đoàn địch bị tiêu diệt hoàn toàn, phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng và xe bọc thép, 115 pháo và súng cối. Người Trung Quốc đánh giá tổn thất của họ là 15 nghìn người.

Theo số liệu phía Việt Nam, ở tỉnh Lai Châu, những kẻ xâm lược đã thiệt mạng hơn mười nghìn binh lính, tới ngày 18 tháng 3, trên địa bàn tỉnh Hoàng Liên Sơn đã có 11.500 binh lính và sĩ quan bị tiêu diệt, 255 xe quân sự bị phá hủy, trong đó có 66 xe tăng và xe bọc thép. Trong suốt 30 ngày chiến tranh tại tỉnh Cao Bằng người Việt Nam đã tiêu diệt được 18.000 lính và sĩ quan, loại khỏi vòng chiến đấu 7 tiểu đoàn địch, phá hủy 134 xe tăng và xe bọc thép; ở tỉnh Lạng Sơn, trong 30 ngày chiến tranh, có 19.000 lính và sĩ quan địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, 127 xe quân sự bị bắn cháy bắn hỏng, trong đó có 78 xe tăng, phá hủy 95 pháo và súng cối. Hầu như ở tất cả mọi nơi, quân Trung Quốc đều phải chịu các thiệt hại vật chất do các đơn vị dân quân tự vệ địa phương gây ra cho chúng, bởi vì các lực lượng vũ trang thường trực VNA đến khu vực chiến sự chỉ vào giai đoạn cuối của cuộc xung đột. Không quân Việt Nam, mà kinh nghiệm chiến đấu được chuẩn bị tốt hơn so với Trung Quốc cũng không hoạt động.

Kết quả của cuộc xâm lược theo số liệu của Trung Quốc, chỉ trong tuần đầu tiên của cuộc chiến tranh, phía Việt Nam mất 10.000 người. Còn tổng cộng theo một đánh giá của học giả Trung Quốc hiện đại, tổn thất của Việt Nam vào khoảng 20.000 người chết và bị thương, tại 6 tỉnh Việt Nam có 45.000 ngôi nhà bị phá hủy tại nông thôn, hơn 600 nghìn mét vuông không gian ở tại các thành phố thị xã thị trấn trực thuộc tỉnh bị phá hủy. Có 350.000 người bị mất nhà cửa. Bị phá hủy còn có 32 trường dạy nghề, 900 trường phổ thông: 180.000 học sinh không được đến lớp. Tài sản của 428 bệnh viện, trung tâm y tế và nhà thuốc đã bị cướp phá.

Chỉ tính riêng trong bốn huyện ở tỉnh Lạng Sơn mà quân đội Trung Quốc đã tiến qua, kết quả của cuộc xâm lược như sau: 24 xí nghiệp, 25 bệnh viện, 72 trường mẫu giáo và nhà trẻ, 30 trường học, 115 km đường giao thông và 17 km đường sắt, 57 cây cầu, 22 trạm biến áp, 402 ngàn mét vuông nhà ở bị phá hủy. Tại các tỉnh bị bị xâm lược có 164 làng Việt Nam bị xóa sạch khỏi mặt đất, 25 hầm mỏ bị phá hủy, 55 trong 68 xí nghiệp công nghiệp đã bị tấn công.

Chịu thiệt hại nặng là các mỏ quan trọng về mặt kinh tế, tại đó người ta sản xuất apatit và thiếc, bị phá hủy có các nhà máy dệt may tại Lào Cai, nhà máy dầu hồi ở Lạng Sơn, gần như toàn bộ mạng lưới giao thông ở khu vực phía bắc Việt Nam mất năng lực vận tải, các cây cầu, các công trình thuỷ lợi, 10 trạm thuỷ điện và trạm bơm lớn bị hư hỏng; mạng đường sắt bị đặt mìn phá nổ 90 km. Người Trung Quốc phá hủy hoặc cướp đi theo 500 xe ô tô, 20.000 con trâu, ngựa, bò, đốt cháy 34 khu rừng, dẫn đến làm hư hại nặng hàng ngàn ha rừng ở Lai Châu, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.
 
Liên Xô tham gia trong việc chấm dứt cuộc xung đột


Đại tướng G.Obaturov và vợ tại Việt Nam.

Ngay sau khi bắt đầu cuộc xâm lược của Trung Quốc, Liên Xô tuyên bố một cách rõ ràng về sự ủng hộ của mình đối với nhân dân Việt Nam và sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ của mình, tuân thủ theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ngày 03 tháng 11 năm 1978. Ngày 19 tháng 2 đã công bố bản "Tuyên bố của Chính phủ Xô Viết" số 1, trong đó có đoạn: "... Nhân dân Việt Nam anh hùng, đang trở thành nạn nhân của một cuộc xâm lược mới, có khả năng tự đứng vững, và lần này, đặc biệt họ có những người bạn tin cậy. Liên bang Xô Viết sẽ thực hiện các nghĩa vụ được quy định bởi Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam.
                 Những ai đang hoạch định chính sách ở Bắc Kinh nên dừng lại trong khi chưa quá muộn ...
                 Liên bang Xô Viết cương quyết đòi hỏi chấm dứt cuộc xâm lăng và rút ngay lập tức quân đội Trung Quốc ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ... "


Kể từ đầu cuộc xung đột Bộ chỉ huy Xô Viết ngay lập tức tiến hành bổ sung các bức ảnh vệ tinh và trinh sát điện tử nhằm giám sát chiến trường. Họ đã chụp ảnh những gì đang xảy ra, chặn bắt tất cả các bức xạ điện từ trong không trung, đặc biệt là các báo cáo và mệnh lệnh mà bộ chỉ huy đối phương trao đổi. Để đảm bảo giám sát tình báo một khu vực phức tạp như bán đảo Đông Dương và theo dõi sát sự di chuyển LL KQ và HQ của đối phương, Không quân Xô viết đã phái đến vịnh Bắc Bộ một số máy bay trinh sát điện tử Tu-95 được trang bị các thiết bị giám sát điện tử hiện đại nhất.

Các chuyên gia Liên Xô đang có mặt tại Việt Nam, ngay lập tức bắt tay vào các hoạt động quân sự cùng với người Việt Nam. Để bổ sung cho họ, bắt đầu tập hợp LL tiếp viện từ Liên Xô. Cầu không vận Liên Xô-Việt Nam được thành lập. Ngày 19 tháng 2 năm 1979, một nhóm 20 cố vấn và các chuyên gia về các quân binh chủng, dẫn đầu bởi đại tướng Gennady Ivanovitch Obaturov, đã đến Hà Nội, nhằm giúp quân đội Việt Nam trong tình hình khó khăn.

Nhanh chóng tiếp nhận công việc từ Trưởng nhóm chuyên gia PK trung tướng M.Vorobiev, G.Obaturov làm quen với báo cáo của Tổng Tham mưu trưởng VNA Lê Trọng Tấn và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng về tình hình ở tiền tuyến. Mặc dù có sự phản đối của Bộ chỉ huy Việt Nam, Obaturov đòi hỏi một chuyến xe lên thị sát mặt trận. Lo ngại của phía Việt Nam không phải là vô căn cứ - trong khu vực Lạng Sơn đoàn xe của các cố vấn đã bị phục kích. Họ thoát được chỉ nhờ phép màu. Sau chuyến đi vào khu chiến, họ đã thuyết phục người đứng đầu Việt Nam Lê Duẩn bắt đầu cho rút một quân đoàn BB từ Campuchia về hướng Lạng Sơn, đưa lên đấy tiểu đoàn pháo phản lực BM-21 mới thành lập trên cơ sở đơn hàng quân sự của Liên Xô mới cung cấp, huy động một loạt các đơn vị hợp thành và cơ sở, rút sư đoàn bộ binh 346 ra khỏi vòng vây, sư đoàn này đang chiến đấu trong hậu phương địch. Không phải tất cả các khuyến nghị của các cố vấn của chúng ta đều được phía Việt Nam sử dụng. Dù có chậm trễ, quân đoàn BB 2 bắt đầu được chuyển từ Kampuchea về. Trung đoàn pháo phản lục BM-21 thuộc dự bị Bộ TTL chỉ được đưa vào trận địa ngày 05 tháng 3 năm 1979 và đứng yên ở đó cho đến ngày 24 tháng 3, mà không bắn được một phát nào, nó đã quay trở lại căn cứ triển khai thường xuyên.


Cầu hàng không Xô-Việt năm 1979.

Điều kiện phục vụ của các cố vấn Liên Xô trở nên dã chiến hơn. " Điện chiếu sáng chỉ có trong một lúc ngắn trong một thời gian nhất định - vợ của một trong các cố vấn nhớ lại. - Tất cả mọi thứ trong tủ lạnh đều không dùng được, do đó, các sản phẩm được sử dụng chủ yếu là dạng đồ hộp.
Điều kiện mất vệ sinh thật khủng khiếp, nước phải lọc qua một miếng gạc và bông còn rau phải xử lý một cách cẩn thận bằng thuốc tím. Chúng tôi ngủ dưới một màn chống muỗi đặc biệt. Các bức tường của ngôi nhà bị ẩm ướt, và đủ các loại côn trùng khác nhau bay và bò khắp nơi: muỗi, kiến, mối, gián, tắc kè, thằn lằn. Một lần tỉnh dậy, chúng tôi thấy treo phía trên giường là một thảm và lắc lư và dày đặc những con kiến rất lớn, kích thước cỡ ngón tay ".

Góp phần vào chiến thắng có một số chuyên gia Liên Xô. Các phi công phi đội vận tải "AN-12" đã thực hiện tái triển khai một quân đoàn bộ binh từ Kampuchea về hướng Lạng Sơn. Chẳng hạn trong tháng 2 năm 1979, phi hành đoàn thuộc một trung đoàn KQ vận tải độc lập (doanh trại đồn trú Primorye ở Vladivostok) của đại úy Bargan trên máy bay An-12 thực hiện nhiệm vụ của chính phủ làm công tác vận chuyển các thiết bị quân sự tới Việt Nam và Lào. Họ phải làm việc gần như trong điều kiện chiến đấu, với điều kiện thời tiết bất lợi, thiếu điều kiện đảm bảo sân bay và vô tuyến điện tử. Mặc dù tất cả những khó khăn, phi hành đoàn đã giải quyết thành công tất cả các nhiệm vụ và được trao tặng thưởng của Nhà nước. Các nhân viên TTLL của Trưởng Đoàn Cố vấn Quân sự, quân số khoảng 120 người đã ở đây từ tháng 8 năm 1978, và có 68 người được chuyển đến bổ sung sau khi cuộc xung đột bắt đầu, đảm bảo TTLL cho các cố vấn của chúng ta, trong đó cả tại khu vực chiến sự. Trong tháng Ba, đoàn cố vấn quân sự Liên Xô đã chịu tổn thất, trong khi hạ cánh tại Đà Nẵng, một máy bay vận tải AN-24 của Việt Nam bị rơi và 6 phi công - huấn luyện viên, dẫn đầu bởi Thiếu tướng KQ Malykh đã hy sinh.

Ngoài các nỗ lực quân sự, Liên Xô cũng đã thực hiện các hành động ngăn chặn chiến tranh với sự lôi kéo Liên Hiệp Quốc tham gia, các đại diện của Liên Xô đã đặt vấn đề lên án Trung Quốc là kẻ thù xâm lược, nhưng vì chính sách của các nước phương Tây, hành động của người Trung Quốc đã không bị kết án.

Ngày 22 Tháng Hai tùy viên quân sự Liên Xô tại Việt Nam, đại tá N.A.Trarkov đe dọa người Trung Quốc "Liên bang Xô Viết sẽ làm các nghĩa vụ của mình theo hiệp ước với Việt Nam", nhưng trong khi cuộc xung đột còn nằm trong giới hạn, Liên Xô không muốn thổi bùng lên một cuộc chiến lớn. Báo "Time" trong tháng Ba năm 1979 đã viết: " Miễn là quân đội Việt Nam còn đứng vững, Liên Xô sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh trên mặt trận tuyên truyền. Điều nguy hiểm là nếu Bắc Kinh đi xa hơn nữa, tấn công Hà Nội và Hải Phòng, hoặc quyết định vẫn giữ sự hiện diện của quân đội nước này trong lãnh thổ Việt Nam, Liên Xô, không muốn biểu thị sự yếu đuối và do dự, sẽ can dự vào cuộc xung đột. Liên Xô sẽ hành động thế nào trong trường hợp này? Theo ý kiến các chuyên gia, khoảng không cho chúng là rất lớn. Liên Xô có thể còn tăng thêm các gói cung cấp thiết bị quân sự cho Việt Nam, gửi tới Việt Nam một số lượng lớn cố vấn, và thậm chí cả các hành động quân sự trực tiếp. Viễn cảnh hành động của Liên Xô trên biên giới 4500-km với CHND Trung Hoa nguy hiểm hơn rất nhiều, dọc theo tuyến này hiện đang triển khai 44 sư đoàn Liên Xô. Quân đội Liên Xô có thể xuất hiện trên các đồng bằng phủ tuyết Tân Cương, nhưng nhiều khả năng là Mãn Châu - trung tâm của ngành công nghiệp nặng Trung Quốc. Các chuyên gia gọi các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ở Lobnor như là một mục tiêu của "ngày phán xử" (mục tiêu này được ưu tiên hơn trong con mắt của giới quân sự Liên Xô) ".
.......
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Bảy, 2013, 07:32:11 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #175 vào lúc: 10 Tháng Bảy, 2013, 11:13:14 pm »

(tiếp)

Khi cuối tháng Hai - đầu tháng Ba, quân đội Trung Quốc tập trung nỗ lực chiếm Lạng Sơn, từ đó mở ra tuyến đường ngắn nhất tới Hà Nội, Liên Xô thông báo về sự sẵn sàng của mình can thiệp vào cuộc xung đột. Ngày 2 tháng 3 đã công bố "Tuyên bố của Chính phủ Liên Xô" thứ hai, trong đó nói, "Cuộc xâm lược của Trung Quốc chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn tiếp tục mở rộng ...
                  ... Liên bang Xô Viết xét thấy cần thiết tuyên bố một cách chắc chắn rằng:  hành động của Trung Quốc khiến những người đang thực sự quan tâm đến việc đảm bảo an ninh của các dân tộc, duy trì hòa bình không thể thờ ơ.
                  Quân đội Trung Quốc cần phải ngay lập tức rút ra khỏi lãnh thổ Việt Nam ..."


Người Trung Quốc được khẳng định rằng nếu quân đội của họ không rút ngay khỏi Việt Nam, họ sẽ phải chiến đấu trên hai mặt trận. Tổng Bí thư UBTU Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev, ngày 02 tháng 3, cho biết: "Không ai cần phải nghi ngờ gì: Liên bang Xô Viết tin tưởng Hiệp ước hữu nghị và hợp tác đã và đang liên kết hai đất nước chúng tôi ".

Tuyên bố của Liên Xô được củng cố bởi những lực lượng thực sự. Các đơn vị tên lửa Liên Xô, các sư đoàn Xô Viết đóng trên biên giới Xô-Trung được chuyển trạng thái SSCD № 1. Cụm quân có trong thành phần của nó 250 nghìn người với sự yểm trợ của không quân, bắt đầu tập trung dọc biên giới. Nhưng đùa với Trung Quốc khi chơi các biện pháp nửa chừng và các bước đi hời hợt, đó là điều không thể có về nguyên tắc, còn trong tình hình hiện nay khi cuộc xâm lược Việt Nam đã bắt đầu, đây là con đường không còn lối thoát khác. Moskva đã quyết định hành động, như người ta nói, không đơn giản hóa và không nhân nhượng. Các trung đoàn KQ chiến đấu từ Ukraine và Belarus được chuyển về các sân bay ở Mông Cổ. Ở đây không nói đến hàng chục máy bay rút ra từ các đơn vị thường trực SSCD riêng biệt với các phi công được đào tạo tốt nhất, mà là nói về những trung đoàn KQ nguyên vẹn với biên chế đầy đủ. Bảo trì và tiếp nhiên liệu trong trường hợp này do các đơn vị của 5 quân khu tiến hành. Cùng với các trung đoàn KQ chiến đấu còn có KQ vận tải và các phân đội bảo trì kỹ thuật-phục vụ sân bay. Tại những thời điểm riêng trong không trung cùng một lúc có mười trung đoàn không quân chiến thuật. Việc tái triển khai các đơn vị hợp thành và cơ sở của các quân binh chủng khác không kém quy mô hơn. Trong những điều kiện khí hậu và điều kiện tự nhiên khó khăn, họ đã hành quân qua một khoảng cách rất lớn từ Siberia đến Mông Cổ (trên 2 nghìn km). Trong đó, bộ đội triển khai đến bằng đường sắt, đường bộ, đường không. Đặc biệt, một sư đoàn đổ bộ đường không từ Tula được được máy bay vận tải quân sự chuyển đến khu vực Chita qua khoảng cách 5,5 nghìn km bằng một chuyến bay chỉ trong hai ngày. Để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh có thể, người ta đã xem xét phát triển các vẫn đề tổ chức phòng thủ, đẩy lùi cuộc xâm lược của kẻ thù, giáng đòn đáp trả và tổ chức phản công. Theo mệnh lệnh của Tổng tư lệnh KQ đã bắt đầu sơn ngụy trang máy bay chiến đấu. Các phi công nhớ lại: " Chúng tôi bắt đầu từ MiG-23, sơn trực tiếp trong đơn vị. Những màu sắc được lựa chọn phù hợp với cảnh quan châu Á: màu cát, màu nâu nhạt, màu xanh lục-xám-sáng, gần với màu cỏ úa ". Sau khi bùng nổ chiến sự, để bảo vệ tuyến xe lửa Transiba tại Viễn Đông trước các hành động có thể của người Trung Quốc, đã tái lập lại đoàn xe lửa bọc thép.


Cụm QD Liên Xô tại Mông Cổ và các Quân khu Bắc Kinh và QK Thẩm Dương giáp giới với cụm, cuối những năm 196x-đầu 7x.

Cựu chiến binh Trung Quốc Michzhou Hay nhớ lại: " Để giúp Việt Nam, quân đội Xô Viết đã bắt đầu tập trung dọc theo biên giới Mãn Châu, đe dọa xâm lược, nếu Trung Quốc không ngay lập tức rút khỏi Việt Nam. Khi đó đang là năm thứ hai trong cuộc đời phục vụ của tôi tại trung đoàn 5 của QK Thẩm Dương. Chúng tôi đóng quân ở rặng núi Khingan Lớn. Chúng tôi quyết định rút hầu hết các đơn vị của mình về sau dãy núi, để chúng không bị tổn thương quá dễ. Chúng tôi được thông báo rằng đối diện với chúng tôi là 25 sư đoàn bộ binh cơ giới của Liên Xô, quân số khoảng 250 ngàn người có không quân yểm trợ, và chúng tôi được yêu cầu cầm cự được trước cuộc xâm lược của họ ít nhất 24 giờ trước khi quân tiếp viện của TDQ dã chiến 23 từ mỏ khí đốt Đại Khánh tới. Chúng tôi có tổng cộng 12 nghìn người và thậm chí còn cả một mạng lưới các đường hầm dưới đất và các công sự, được xây dựng trong 20 năm qua.
Theo tin đồn, bộ tư lệnh không tin vào khả năng chúng tôi có thể giữ được 24 giờ khi xảy ra cuộc xâm lược của Liên Xô trong trường hợp một cuộc tấn công ba chiều của máy bay, xe tăng và bộ binh. Bởi vì thế nên chúng tôi đã dạy cho thường dân chiến thuật chiến tranh du kích và sử dụng vật liệu nổ và bom mìn có cơ cấu hẹn giờ. May mắn thay, cuộc xâm lăng của Liên Xô không xảy ra, vì người Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam sau 9 ngày chiến đấu ".
Tuy nhiên, Trung Quốc đã cố gắng biểu dương sức mạnh của họ. Chỉ trong vài ngày, 3 máy bay Trung Quốc bay với tốc độ tối đa từ sâu trong lục địa ra, chúng đến gần biên giới duyên hải tới khoảng 500 m tại ga Khasan, rồi tăng gấp độ cao bay ngược trở lại, mô phỏng một cuộc tấn công. Mỗi chiếc trong số đó có thể mang theo đầu đạn hạt nhân, và ở tốc độ đó, từ chiều cao đó, đầu đạn hạt nhân này có thể bay tới tận Vladivostok đang ở trong tầm nhìn. Trong không trung, cũng như mười năm trước đây, đầy hơi thở chiến tranh. Hầu như mỗi người lính đều tin rằng nó sẽ sớm bắt đầu.

Trong khoảng thời gian từ ngày 12-26 tháng 3 năm 1979 với mục đích tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc vì cuộc xâm lược của nó đối với Việt Nam, ở các QK biên giới phía Đông Liên Xô và ở Mông Cổ đã tiến hành nhiều cuộc diễn tập quân sự. Tổng cộng tham gia có hai mươi sư đoàn BCHT và sư đoàn không quân. Tổng quân số tập trận hơn 200 nghìn người, hơn 2,6 nghìn xe tăng, khoảng 900 máy bay. Những cuộc diễn tập quân sự lớn nhất ở Mông Cổ, có sự tham gia của sáu sư đoàn xe tăng và bộ binh cơ giới (ba trong số đó bổ sung đến Mông Cổ từ Siberia và Transbaikal), hai lữ đoàn, ba sư đoàn không quân, cũng như các đơn vị hợp thành và cơ sở tăng cường. Các bên tập trận phân ra "quân Bắc" và "quân Nam". Để yểm trợ lục quân đẩy lùi cuộc xâm lược của kẻ thù và trong quá trình tiến quân, cũng như yểm trợ khi tấn công đánh trả trong quá trình các trận đánh tao ngộ, đã huy động 3 sư đoàn không quân biên chế đầy đủ, hai trung đoàn trực thăng và 2 trung đoàn KQ trinh sát. Với sự có mặt của các trung đoàn không quân từ các QK phía tây, các bài diễn tập thực sự trở thành một bài tập trận không quân song phương với việc ứng dụng thực tế các vũ khí thông thường trên phạm vi thao trường. Trong thời gian tập trận đã thực hiện 2987 phi vụ với 2834 giờ bay. Nhưng bề ngoài các hoạt động diễn tập được thực hiện ở biên giới phía đông bắc Trung Quốc trông cũng rất ấn tượng. Tổng cộng, chỉ tính các trung đoàn xe tăng (gần 100 xe tăng mỗi trung đoàn) cũng đã huy động 12 trung đoàn vào sự kiện này. Đó là cả một hạm đội thiết giáp (theo biên chế và quân số chiến đấu - tương đương hai TDQ xe tăng thời Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại), về mặt lý thuyết có thể trong vài ngày đêm sẽ tiến tới các khu vực trung tâm Trung Quốc. Và nó không thể không làm Bắc Kinh lo ngại.

Đừng nghĩ rằng "giá của vấn đề" đối với Moskva là không đáng kể. Thứ nhất khi di chuyển một khối lượng cực lớn xe máy kỹ thuật và con người như vậy, không thể tránh được tổn thất nhân mạng. Chẳng hạn, cuối tháng Hai, một phần sư đoàn dù 106 đổ bộ cách biên giới Mông Cổ-Trung Quốc một vài mét trong gió bão. Gió đạt tốc độ 40 mét một giây, do đó hơn mười người thiệt mạng và bị thương. Cuộc đổ bộ các lực lượng chính của sư đoàn đang chờ đợi trên các sân bay Transbaikal đã phải hủy bỏ. Khi cất cánh trong lúc diễn tập vào tháng 3 trên một máy bay MiG-21bis, đại úy biên đội trưởng Vladimir Samoilov đã hy sinh. Ngoài ra hao mòn trang thiết bị vật chất rất lớn. Đặc biệt, khi tham gia các cuộc diễn tập có đến 2.600 xe tăng. Mỗi chiếc bơm bổ sung một tấn nhiên liệu, mà trong điều kiện hành quân thuận lợi chỉ đủ đi có 400-450 km. Tiêu thụ nhiên liệu trực tiếp trong quá trình "hoạt động chiến đấu" tăng thêm 30%. Số dặm hành trình trung bình của xe tăng tính trên một đơn vị xe máy trong sự kiện này là hơn một ngàn rưởi cây số. Không khó khăn gì ta sẽ tính toán ra phải có bao nhiêu chi phí để chuyển từng ấy trang bị tăng thiết giáp. Cộng thêm vào đó là 13 nghìn đơn vị xe ô tô với số dặm trung bình 1.400 km và số máy bay đã nói ở trên. Dự trữ nhiên liệu được Bộ Quốc phòng khôi phục lại trong hai năm. Chi phí đưa quân đội trở lại điểm đóng quân thường trực cao đến mức hai sư đoàn BB cơ giới của quân khu Transbaikal, theo quyết định của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, được để lại Mông Cổ. Xây dựng và trang bị cơ sở cho họ ở đó còn rẻ hơn so với đưa họ trở lại chỗ cũ.

Cùng với điều này, những cuộc diễn tập nghiêm túc như vậy đã cho các bộ chỉ huy, các ban tham mưu một kinh nghiệm thực tế không thể thiếu và rất hiếm gặp trong các điều kiện hiện đại, khi thực sự chỉ huy một số lượng rất lớn các đơn vị hợp thành và cơ sở, các loại tàu thuyền, thực hiện những nhiệm vụ đặt ra cho họ, cũng như cho phép kiểm chứng những tính toán tham mưu tác chiến qua các hoạt động thực tiễn của bộ đội. Tuy nhiên, trong quá trình diễn tập đã phát hiện ra những sai sót rất nghiêm trọng, bị ẩn đi trong thời bình sau bức màn của các hoạt động hàng ngày của bộ đội. Số lượng bình quân ngày của các xe ô tô và xe máy tăng thiết giáp không làm việc lên đến 2% biên chế, cao hơn đáng kể so với chỉ tiêu quy định thời bấy giờ. Quán quân không thể tranh cãi về số các vụ việc trang bị xe máy kỹ thuật hỏng hóc là BTR-60. Chiếc xe này rất khó sử dụng, yêu cầu kíp lái và đội ngũ sửa chữa phải được đào tạo rất nghiêm túc. Thật khó mà mong đợi kết quả tốt khi ngồi sau tay lái chiếc xe vận tải bọc thép là người lính nghĩa vụ chỉ có kinh nghiệm lái GAZ-51. Trong 36 giờ, anh ta có một cuộc hành quân dài đến 2000 km. Sự làm việc chung đồng bộ của hai động cơ, hai hộp truyền động và các cụm ly hợp của BTR-60 đòi hỏi phải được điều phối rất chính xác, với nó không phải bất kỳ người sỹ quan nào tốt nghiệp trường đào tạo sỹ quan BCHT cấp phân đội ra, cũng có thể xử lý được. Vì vậy, có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên với những kỷ lục đặc biệt do BTR-60 thiết lập. Trong suốt các cuộc hành quân vô tận, có đến 30% xe vận tải bọc thép bị hư hỏng. Không phải ngẫu nhiên mà trong những năm sắp tới sau này tại Afghanistan, xe thiết giáp vận tải chạy diesel BTR-80, ngay cả cho đến ngày nay, vẫn được coi là một trong những chiếc xe tốt nhất trong loại xe này.

Cùng với điều này, khi đó đã thấy rõ nhược điểm rất lớn trên mọi cấp độ của các phương tiện sơ tán, công tác bảo trì kỹ thuật và sửa chữa. Nổi bật là sự thiếu vắng một cách phi lý các chuyên gia-thợ sửa chữa. Năm 1979 để tăng cường công tác kỹ thuật cho một sư đoàn được điều chuyển từ Siberia đến, đã buộc phải điều động hơn 50 máy kéo K-700 của nền kinh tế quốc dân và triển khai tất cả các xưởng sửa chữa quân sự. Tuy nhiên, cuối cùng thì các tiểu đoàn sửa chữa của các sư đoàn chỉ có mặt tại khu vực tập trận 5-6 ngày sau khi bắt đầu "các hoạt động chiến đấu" và không thể có bất kỳ sự tham gia nào vào việc chuẩn bị và sửa chữa trang bị kỹ thuật. Việc loại bỏ các sai sót phát hiện ra theo quyết định ở cấp rất cao đã phải mất ba năm hoạt động liên tiếp sau đó của Bộ Quốc phòng và BTTM.
Rất nhiều người, khi đánh giá kết quả cuộc xâm lăng của Trung Quốc, cùng với việc cho rằng quân đội Trung Quốc về mặt quân sự đã cho thấy sự yếu kém của kẻ xâm lược, thì đồng thời cũng nói về chiến thắng ngoại giao của Trung Quốc đối với Liên Xô. Tuồng như Liên Xô không thể giúp đỡ đồng minh, khi thể hiện mình chỉ là một "con gấu giấy Bắc cực", điều khẳng định này là đáng ngờ và chỉ dựa trên lập luận rằng Liên bang Xô Viết đã không tấn công trực tiếp vào Trung Quốc. Và rằng mục tiêu có thể đạt được bằng các biện pháp đơn giản hơn mà đã không được đưa vào xem xét. Tuy nhiên, chính lập trường trước sau như một của Liên Xô, cùng với sự kiên cường của người Việt Nam cuối cùng đã buộc người Trung Quốc phải dừng lại, thậm chí không đạt được mục tiêu của họ. Quân đội Việt Nam vẫn không rút khỏi Campuchia, việc loại bỏ các dải thân Liên Xô trên bản đồ biên giới phía nam của TQ đã không thành công, hơn thế nữa, sự hiện diện của Việt Nam tại Campuchia và Lào lại còn gia tăng, giống như số lượng quân đội trên biên giới Việt Nam-Trung Quốc. Ngoài ra, Việt Nam còn thực hiện một loạt hành động trên mặt trận ngoại giao. Ngày 15 tháng Ba năm 1979 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố một bản ghi nhớ về biên giới Trung Quốc-Việt Nam, điều 9 bản ghi nhớ này lần đầu tiên trực tiếp lên án việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa hồi tháng 1 năm 1974. Còn Liên Xô do kết quả cuộc phiêu lưu của Trung Quốc đã mở rộng sự hiện diện của mình trong khu vực, sau khi xây dựng được một số căn cứ và hỗ trợ đáng kể cho các đồng minh mới của mình. Chỉ trong giai đoạn 1979-1982, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Lào và Campuchia đạt đến 100 triệu USD.
.........
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Bảy, 2013, 01:27:01 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #176 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2013, 01:27:43 am »

(tiếp)

Hạm đội Thái Bình Dương và chiến tranh

Hạm đội Thái Bình Dương (Tư lệnh là đô đốc Vladimir Petrovitch Maslov, Tham mưu trưởng là phó đô đốc Yaroslav Maksimovitch Kudelkin, Chủ nhiệm Chính trị Hạm đội Thái Bình Dương phó đô đốc V.D.Sabaneev) cũng không còn đứng bên lề sự kiện mà đã tham gia đóng góp. Sau khi bắt đầu nổ ra chiến sự ở biên giới Việt Nam, trên các con tàu của hạm đội người ta công bố: "Quân đội Trung Quốc bắt đầu các hoạt động quân sự chống lại nước Việt Nam thân thiện với chúng ta. Nhớ đến cuộc xung đột trên đảo Damansky, chúng ta không thể đảm bảo rằng vũ khí của bọn quân phiệt Trung Quốc sẽ không chĩa sang phía biên giới của chúng ta. Các sự kiện phát triển tiếp theo tại Việt Nam có thể yêu cầu sự tham gia của hạm đội chúng ta vào sự nghiệp giúp đỡ nhân dân Việt Nam thân thiện. Trên các tàu từ nay tuyên bố lệnh sẵn sàng chiến đấu ". Trên các con tàu, cũng như trong cả nước đã có các cuộc biểu tình lên án cuộc xâm lược của Trung Quốc. Các thủy thủ tàu tuần dương tên lửa "Vladivostok" vừa trở về từ một chuyến đi biển dài, căm phẫn lên án cuộc xâm lược của Trung Quốc và ủng hộ tuyên bố của chính phủ Liên Xô, đồng thời họ cho biết sẽ duy trì mức sẵn sàng chiến đấu cao để thực hiện bất kỳ mệnh lệnh nào của chính phủ. Chẳng mấy chốc họ đã có cơ hội để chứng minh điều này bằng việc làm thực tế, vào đầu tháng Ba tàu "Vladivostok" đã ra khơi đi chiến dịch. Tổng cộng có khoảng 50 tàu của Hạm đội Thái Bình Dương, trong đó có ít nhất sáu tàu ngầm đã được hạm đội triển khai sau khi cuộc xung đột nổ ra cho đến khi nó kết thúc. Trong tháng 2-tháng 3 năm 1979, đã thực hiện triển khai trung đoàn 390 thuộc Sư Đoàn TQLC 55 theo biên chế thời chiến do cuộc xâm lăng của Trung Quốc chống Việt Nam. Đã tiến hành một cuộc diễn tập chiến thuật trên biên giới với Trung Quốc, có đổ bộ TQLC và tổ chức một số cuộc tập trận chiến thuật cấp tiểu đoàn có bắn đạn thật.

Các tàu của Hạm đội Thái Bình Dương đang phục vụ chiến đấu trong các khu vực then chốt của Biển Hoa Đông và Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã giám sát các tàu của Hải quân Trung Quốc trong số các tàu khác. Về số lượng, hải quân Trung Quốc vào năm 1979 trội hơn đáng kể so với nhiều hạm đội. Quân số của nó vào khoảng 300.000 người, trong đó có 38.000 lính thủy quân lục chiến, về biên chế tàu: 75 tàu ngầm, 11 tàu khu trục, 65 tàu tuần tra, 70 tàu cao tốc tên lửa, 715 tàu cao tốc và tàu quét mìn khác, 494 tàu đổ bộ và 700 máy bay chiến đấu của hạm đội. Đồng thời phần lớn các tàu đều đã cũ, hơn nữa, nhiều tàu đang neo đậu không sử dụng được vì thiếu phụ tùng thay thế. Một vài con số ấn tượng - có thể liệt vào loại tàu lớn nhiều hơn hoặc ít hơn một cách có điều kiện 494 tàu đổ bộ, nhưng trong đó chỉ có 15 tàu đổ bộ-xe tăng, 14 tàu đổ bộ cỡ trung và 15 tàu vận tải chở quân. 450 chiếc còn lại - xuồng đổ bộ cao tốc. Trong các loại tàu mặt nước chỉ có 7 tàu khu trục tên lửa có thể tạm phân loại là hiện đại. Bộ tư lệnh hải quân Trung Quốc bằng sức mình cố gắng hoàn thiện hạm đội. Sau 5 năm, quân số của nó đã gần như tăng gấp đôi. Điều này diễn ra bằng cách tăng cường lực lượng tàu mặt nước và tàu ngầm của ba hạm đội cơ động: hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải. Kết quả là tại Hạm đội Bắc Hải, ranh giới mở rộng từ cửa sông Yalu đến Liên Vân Cảng, tới năm 1979 đã có khoảng 150 tàu, các căn cứ chính Thanh Đảo và Lữ Thuận đang được hiện đại hóa. Hạm đội Đông Hải được tăng cường đáng kể lên đến 500 tàu, các đường biên của nó là Liên Vân Cảng ở phía bắc và Triều Dương ở phía nam, với các căn cứ chính Thượng Hải và Trấn Giang. Hạm đội Nam Hải có số lượng 200 tàu, căn cứ chính của nó là Trạm Giang, ranh giới của nó trải rộng về phía bắc đến Triều Dương và tới lãnh hải Việt Nam ở phía nam. Sự tập trung số lượng lớn nhất các tàu vào hạm đội Đông Hải cho phép cơ động lực lượng tự do hơn, tùy thuộc vào việc Bắc Kinh có ý định gây tình hình căng thẳng tại khu vực nào. chẳng hạn, liên quan đến các hành động khiêu khích vũ trang láo xược chống lại Việt Nam và thổi phồng yêu sách chủ quyền với các đảo ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nhiều tàu hải quân của Trung Quốc đã tập trung tại các cảng phía nam của đất nước này và ở đảo Hải Nam.

Trung Quốc thường sử dụng hạm đội quân sự và thương mại vào các hành động khiêu khích chống lại Việt Nam. Từ 1975 đến 1977 tàu Trung Quốc đã 1.500 lần xâm phạm lãnh hải của Việt Nam. Dưới đây là một số sự cố trước chiến tranh. Mùa hè năm 1978, Trung Quốc đã gửi tới Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh hai tàu thủy chở khách để đón khỏi Việt Nam những Hoa Kiều giàu có. Họ "vội vàng" đến nỗi, thậm chí "quên" cả xin phép ghé vào cảng của Việt Nam. Các ngày 10, 15 và 23 tháng Tám năm 1978 cơ quan an ninh của Bắc Kinh đã cho một lực lượng hàng trăm tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam trong khu vực các đảo của các tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên, ngăn cản công việc bình thường của ngư dân Việt Nam và đe dọa an ninh của Việt Nam. Ngày 08 tháng Một năm 1979 vào lúc 3:00 giờ sáng một sà lan có động cơ trọng tải 40 tấn của Trung Quốc đã đi sâu vào lãnh hải Việt Nam tại khu vực đảo Trà Cổ huyện Móng Cái. Bộ đội biên phòng Việt Nam yêu cầu người Trung Quốc lập tức phải rời khỏi lãnh hải Việt Nam. Đáp lại, nhiều phát súng vang lên. Một vài giờ sau hai tàu chiến Trung Quốc có mặt hội quân với chiếc sà lan.

Đương nhiên Hạm đội Thái Bình Dương không thể đứng ngoài. Ngay từ tháng Sáu năm 1978 sau sự cố biên phòng trên biên giới Việt Nam và Trung Quốc, một đơn vị hợp thành lớn của Liên Xô bao gồm hai tàu tuần dương và hai tàu khu trục đã tiến hành một cuộc diễn tập ở eo biển Bashi giữa đảo Đài Loan và Philippines. Vào tháng Giêng-tháng Hai năm 1979 tàu tuần dương Liên Xô "Vladivostok" (trung tá hải quân Yu.Balashov) cùng một tàu khu trục trở về sau khi hoàn thành nhiệm vụ quân sự tại Ấn Độ Dương, đã ở lại khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) để biểu thị sự ủng hộ của Liên Xô cho Việt Nam, khi có thông tin rằng Trung Quốc chuẩn bị "trừng phạt" người Việt Nam. Sau khi có thông tin Trung Quốc sắp "trừng phạt" Việt Nam, các tàu của Hạm đội Thái Bình Dương đã được điều động đến Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Ngày 23 tháng 1 tàu tuần tra đề án 159A "SKR-46", tàu quét mìn trên biển đề án 266M "Tral" (đại úy hải quân Zabekin R.V., chỉ huy cao cấp trên tàu là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu quét mìn 646 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải số 45, thiếu tá hải quân Kharlampovitch V.V,) và tàu chở dầu "Ilim" đã đến gần đảo Hải Nam (CHND Trung Hoa). Tại đó đã có các tàu trinh sát Liên Xô (RZK) giám sát tình hình. Ngày 17 tháng 2 khi cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam nổ ra, BPK đề án 1134A "Vasily Chapaev" (chỉ huy Eduard Gheorghievitch Znakhurenko) đã đến tham gia cùng nhóm tàu này, trên đó đặt bộ tham mưu lữ đoàn cơ động số 22 của Hạm đội Thái Bình Dương (chỉ huy lữ đoàn là đại tá hải quân D.N.Cherivaty, tham mưu trưởng bộ tham mưu chiến dịch V.A.Peterkov). Các tàu ở lại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), để thể hiện sự hỗ trợ cho Việt Nam của Liên Xô. Tàu quét mìn "Tral" và "SKR -46" đảm bảo sự ổn định trong chiến đấu cho tàu trinh sát cỡ trung SRZK "Kursograph" tại Vịnh Bắc Bộ (4 chiến dịch hành quân). Sau khi chiến tranh bắt đầu, có các tàu đổ bộ cỡ lớn BDK, tàu ngầm nguyên tử đến tham gia chi đội tàu chiến trên, đã tổ chức tăng cường cho bộ tham mưu binh đoàn cơ động số 22, điều động đến - các trưởng ngành thủy lôi, trưởng ngành pháo hạm, trưởng ngành máy tàu. Tới cuối tháng Hai, ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã có 13 tàu chiến của Liên Xô và họ đợi một nhóm mới tàu chiến đang đến, dẫn đầu là tuần dương hạm "Đô đốc Senyavin".

Glukhov Vladimir Efimovitch - trung tá hải quân, nhà hải dương học của Hải quân Xô Viết, - nhớ lại: "Tôi đang là tham mưu trưởng tiểu đoàn và được bổ nhiệm làm chỉ huy chuyến đi của các con tàu của chúng ta tới Việt Nam. Chúng tôi được chuẩn bị cho chuyến đi trong một ngày, sau năm ngày chúng tôi đã vào cảng Đà Nẵng. Nhiệm vụ của chúng tôi là khẩn trương đảm bảo các điều kiện cho các tàu chiến Liên Xô ghé vào các cảng Việt Nam. Chúng tôi đo độ sâu, xác định luồng vào, dòng chảy và các vấn đề khác. Thậm chí chúng tôi kiểm tra cả các cầu cảng hiện có. Sau đó chúng tôi đi đến bán đảo Kam Ranh, nơi sẽ xây dựng một căn cứ của Hải quân Liên Xô. Chúng tôi làm việc quần quật cả tháng, vừa chờ đợi một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương tới đây. Gió rất mạnh, trời nóng bức đến không thể chịu đựng nổi. Biển ấm. Các chàng trai-thủy thủ tàu ngầm nói với tôi rằng họ cảm thấy giống như ở trong một nồi nước sôi. Tôi cho rằng, nhờ các hành động kịp thời của Hải quân chúng ta, chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam đã trở thành một sự kiện quân sự không lớn ".

Các con tàu của chúng tôi đã sẵn sàng không chỉ hỗ trợ Việt Nam bằng các hoạt động có tính biểu dương. Tham mưu trưởng Bộ tham mưu binh đoàn tác chiến cơ động số 22 V.A.Peterkov nhớ lại: "Đang ở trong vùng nước nông vịnh Bắc Bộ, chúng tôi không tiến sâu vào trong vịnh vì sợ bẫy thủy lôi từ các xuồng Trung Quốc, một lần sau khi phát hiện ra một biên đội tàu chiến Trung Quốc kiểu tàu tuần tra đề án 50 gồm 5 chiếc, chúng tôi nghi ngờ chúng rải thủy lôi, chúng tôi báo cáo về bộ tham mưu binh đoàn, nhưng lệnh cho chúng tôi triển khai tác chiến quét mìn không tới. Đơn vị hợp thành tàu chiến Xô Viết ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đến tháng 4 năm 1979. Kết quả các hành động của họ là hạm đội Nam Hải CHND Trung Hoa đã không tham gia vào cuộc tấn công Việt Nam, nó bao gồm vài chục tàu tuần tra SKR đề án 50 và tàu chống ngầm PLK đề án 122, các xuồng còn lại trang bị súng máy và súng phóng lựu. Trên các sân bay có ba mươi chiếc IL-28. Một vài lần những chiếc máy bay đó đã thực hiện những động tác nhằm vào chúng tôi để ném bom chính xác ". Các con tàu đều chuẩn bị sẵn sàng trước những tình huống phát triển xấu nhất. Như Glukhov V.E. khẳng định: " Nếu Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh chiến tranh, các con tàu của chúng tôi sẽ vào Vịnh Bắc Bộ. Và ở đó ... ở đó chúng tôi có thể đã phóng tên lửa. Cảm ơn Chúa vì điều này đã không xảy ra ".

Trung Quốc đã không quyết định sử dụng lực lượng hải quân của mình xâm lược Việt Nam vì có sự hiện diện của các tàu chiến Liên Xô. Tuy nhiên, từ ngày 17 tháng 2, ngay khi mới bắt đầu cuộc chiến trên đất liền, trong vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện các tàu Trung Quốc-vi phạm. Đội tàu của họ có những nhiệm vụ hoàn toàn xác định do Bộ Tổng tham mưu Quân đội Trung Quốc giao. Đó là - trinh sát sự phòng vệ bờ biển, xác định số lượng và đặc điểm của các lực lượng trên đất liền Việt Nam, đang nằm trong thành phần dự bị của BTTL, LLKQ và Hải quân tại tỉnh ven biển Quảng Ninh, đổ bộ các nhóm phá hoại và khiêu khích, bắt liên lạc với các điệp viên nằm vùng, xác định nơi triển khai đổ bộ. Đội thám tử gồm các trinh sát viên chuyên nghiệp và các tình báo viên quân sự, nằm trong số các "dân quân miền biển" tuyển dụng ở vùng bờ biển Quảng Đông và đảo Hải Nam từ số ngư dân, cũng như các cựu Hoa Kiều biết các đảo ngầm của Việt Nam.

Với các tàu cỡ nhỏ thì hải quân Việt nam tự mình đối phó được. Chứng kiến một trong những sự kiện chiến đấu này là nhà báo quốc tế V.N.Skvortsov sau khi thực hiện một chuyến đi trên xuồng tuần tra cao tốc số 17 (thuyền trưởng trung úy Đồng Xuân Tụ, chỉ huy chuyến hành quân là tiểu đoàn phó đại úy Lê Hữu Lộc) thuộc lữ đoàn tàu chiến 172, thời điểm cuối tháng 2 năm 1979. "Các dãy đảo đã hết, biển rộng mở ra trước mắt chúng tôi. Ngay lập tức còi báo động chiến đấu hú vang. Từ cầu điều hướng đài chỉ huy có thể nhìn rõ tháp pháo bọc thép của các cỗ pháo tốc độ bắn nhanh đang quay thế nào. Tàu tăng tốc độ, hướng tới chỗ có đám tàu thuyền đang cụm lại phía xa. Thủy thủ đánh tín hiệu nhường tôi chiếc ống nhòm một phút. Trong ống kính nhìn thấy rõ trên cột buồm chiếc thuyền vận tải là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng Việt Nam.
   ... Chiếc thuyền hai cột buồm hạ cánh buồm màu nâu xuống và tăng vòng quay động cơ rất mạnh của nó lên toàn phần, chạy ngoằn ngoèo giữa các hòn đảo. Nó xả ra xung quanh những vòi nước phun màu đen. Xung quanh đều là đá ngầm, đạn pháo chạm đáy. Lớp gỗ bay lả tả ra khỏi mạn và cột buồm: xạ thủ súng máy nã đạn vào con tàu đang chạy trốn thục mạng giữa những tiếng nổ.
   "17" đã sẵn sàng húc thẳng vào chiếc thuyền buồm, vì vậy người ta hãm động cơ trên tàu. Tốc độ của kẻ đào tẩu chưa giảm, và họ đã đẩy khẩu súng máy đặt ở buồng lái xuống biển. Đạn súng tự động bay thành từng vệt từ phía đối diện lại, vô hình với chúng tôi, họ còn vứt xuống đáy biển một cái gì đó. Nhưng từ phía chiếc tàu tuần tra cỡ nhỏ, các xạ thủ súng tự động Việt Nam đã xả đạn kín mặt chiếc thuyền vi phạm. Một thợ lặn đeo mặt nạ cao su và chân vịt lặn: sẵn sàng kiểm tra "món đồ" ném  dưới đáy. Trên lớp sơn véc-ni mặt thuyền những vết sước màu máu đỏ rực lên vì vết đạn bắn, đạn làm trầy xước lóp gỗ màu gụ. Từ hai mạn thuyền gỗ bị tách phả ra mùi phoi bào tươi.
   Từ đảo ngầm một chiếc tàu tuần tra khác phóng ra để trợ chiến cho "17" nếu chiếc thuyền buồm kia có đồng bọn yểm trợ. Thủy thủ đánh tín hiệu ở trên hai cầu điều hướng vẫy những lá cờ đuôi nheo màu đỏ.
   Trên chiếc thuyền đột nhiên cột buồm đổ sụp có lẽ bị mảnh đạn pháo phạt gãy. Nó kéo cả xuống nước mớ quần áo lót treo trên dây neo buồm. Bốn người ở phía đuôi thuyền tay giơ lên túm lấy nó. Trên những cái bụng để trần rung rinh bùa hộ mệnh làm bằng răng cá mập.
   Nói chuyện với những tên cướp biển chẳng để làm gì. "Thú vui" tương tụ không cần đặt câu hỏi thừa là đưa lên bờ giao cho Phòng Trinh sát Bộ tham mưu Hải quân. Ở đó họ sẽ làm việc với chúng. Chiếc thuyền được người ta móc cáp kéo. Bắt tàu thuyền vi phạm, đuổi các tàu Trung Quốc ra khỏi lãnh hải Việt Nam thì chuyến đi biển nào tiểu đoàn cũng phải làm. Công việc này, theo lời các thủy thủ, không khó. Tuy nhiên, xem các hành động khéo léo của đội thủy thủ trên tàu ruần tra "17", không khó khăn gì ta có thể hình dung được họ sẽ xử lý ra sao trong tình hình phức tạp hơn ".


Hai BDK Liên Xô cùng phối hợp với các tàu "LST -2" và "LST -1" Việt Nam (tàu đổ bộ chiến lợi phẩm của Mỹ) tham gia chuyển xe tăng và xe bọc thép của 2 lữ đoàn xe tăng từ cảng bốc hàng Sihanoukvin (ở Campuchia) và Sài Gòn về Hải Phòng. Thời tiết xấu trên biển đã dẫn đến việc chuyến đi từ Sài Gòn tới Hải Phòng mất đến cả một tuần. Một lần người Việt Nam đề nghị cùng với binh lính cho họ bốc lên BDK cả những chú heo sống. Lữ đoàn trưởng đại tá hải quân Cherivaty D.N. cấm làm dơ dáy các con tàu Liên Xô.
........
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Bảy, 2013, 03:48:44 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #177 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2013, 03:44:33 pm »

(tiếp)


Tàu tuần tra SKR "Letutchi" đề án 1135 tại cầu cảng Cam Ranh, tháng 9 năm 1979.

Các con tàu của chúng tôi đảm bảo cho chuyến đi an toàn và đưa hàng hóa đến cảng Đà Nẵng của Việt Nam, tất cả hàng quân sự từ Liên Xô được chở tới đây, vì cảng Hải Phòng nằm cách mặt trận chỉ 100-250 km, và nằm sâu trong Vịnh Bắc Bộ, trong khu vực hoạt động của không quân Trung Quốc, điều đó gây ra một số khó khăn nhất định. Kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột cho đến cuối tháng Ba, đã vận chuyển bằng đường biển đến hơn 400 xe tăng, xe chiến đấu bộ binh và xe bọc thép chuyển quân, 400 cỗ pháo và súng cối, 50 dàn RS30 "Grad", hơn 100 dàn vũ khí PK, 400 hệ thống TLPK mang vác và một ngàn đạn tên lửa cho các tổ hợp đó, 800 súng phóng lựu chống tăng cầm tay, 20 máy bay chiến đấu. Chúng tôi cũng cung cấp các máy móc kỹ thuật chuyên ngành và trang thiết bị để sửa chữa xe bọc thép, xe ô tô, và vũ khí. Số lượng khổng lồ các trang thiết bị và vũ khí này được phân phối và chuyển cho Việt Nam gần như chỉ trong vòng một tháng. Chúng ta cần lưu ý rằng tất cả các trang bị kỹ thuật đã được chuyển giao trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Nó được các ủy ban quan trọng nhất kiểm tra, các chuyên gia trực tiếp khai thác trang bị và và có nhiều kinh nghiệm sử dụng trang bị đã được điều động đến chuẩn bị cho nó. Vì vậy, xe máy trang bị kỹ thuật từ phương tiện vận tải đưa thẳng xuống, không cần chuẩn bị bổ sung có thể bước ngay vào chiến đấu.

Mặc dù có những khó khăn nảy sinh, hai phần ba số hàng hóa được cung cấp cho Việt Nam bằng đường biển, đã qua cảng Hải Phòng. Đây là một cơ sở cảng biển lớn sử dụng hơn 7000 người lao động. Để hoạt động của cảng hiệu quả hơn, vài năm trước cuộc xung đột, với sự giúp đỡ của Liên Xô cùng sự tham gia của các chuyên gia Liên Xô cảng Hải Phòng đã được hiện đại hóa. Chẳng hạn vào năm 1978, đã đưa vào sử dụng các dãy nhà kho, tân trang lại bến tàu, đặt bốn giàn cần cẩu, cải thiện hệ thống báo hiệu, trải bê tông nhựa các đường vào cảng. Chiến sự không làm giảm lưu lượng hàng hóa lưu thông qua cảng, trong giai đoạn này tại cảng Hải Phòng luôn có 5-6 tàu Liên Xô bốc dỡ hàng hóa dân sự. Ngày 24 tháng 2 tại cảng Hải Phòng đã tổ chức một cuộc mít tinh đông đảo, có sự tham dự của các thủy thủ Liên Xô, những người chuyên chở các hàng hoá kinh tế có giá trị cho Việt Nam. Tại cuộc mít tinh trên, thuyền phó thứ nhất tàu hàng "Tin tức" S.A.Zolotnikov đã lên phát biểu. Thủy thủ tàu hàng đã ký thỏa ước XHCN với các công nhân cảng Hải Phòng. Tới ngày 27 tháng 2 dự kiến sẽ hoàn thành dỡ xong toàn bộ hàng trên tàu. Tuy nhiên, Hải Phòng cũng là một thành phố ở tuyến đầu. Chứng kiến các sự kiện, nhà báo quốc tế V.N.Skvortsov nhìn Hải Phòng như sau: " Hải Phòng nghiêm trang và ảm đạm thấy rõ trong những ngày chiến tranh. Trong một công viên gần một nhà thờ Hồi giáo được xây dựng khi xưa bởi các thương nhân tơ lụa Pakistan, có đặt những cỗ súng phòng không. Trên tháp chuông xám-vàng của nhà thờ Dòng Tên lờ mờ hiện ra những quan trắc viên. Ống nhòm của họ phản chiếu những vệt chói sắc nét. Nhiều thủy thủ đeo súng tự động đi tuần tra. Trong cảng tại những bến tàu buôn, hình dáng im lìm dữ tợn của những con tàu chiến hòa lẫn cùng mặt nước xám ".

Khi tàu dỡ hàng nảy sinh khó khăn vì hầu hết công nhân xếp dỡ trong cảng là người dân tộc Hoa, trước lúc bắt đầu cuộc xâm lược theo lệnh gọi của Bắc Kinh họ đã rời bỏ nơi làm việc của họ, dẫn đến sự dồn ứ các tàu chở hàng ở các cảng Việt Nam. Vấn đề xảy ra đã được giải quyết khi có các chuyên gia từ Liên Xô đến. Ngày 19 tháng 3 năm 1979, một  nhóm lớn hơn 150 công nhân cảng, các kỹ sư và chuyên gia từ Vladivostok, Nakhodka, Korsakov và Vanino, dẫn đầu là Chủ nhiệm cảng Nakhodka G.I.Pikus đáp tàu hàng "Olga Androvskaya" (thuyền trưởng V.Scherbacheny) đã có mặt tại Hải Phòng. Các máy móc trang bị kỹ thuật được đưa đến Việt Nam trên tàu gồm: xe tải và máy hút vật tư dạng hạt, hơn 200 khay hàng phổ dụng, các trang thiết bị mang tải khác nhau, dây chão. Cuộc mít tinh vừa mới kết thúc, các chuyên gia Liên Xô bắt tay ngay vào làm việc. Đội công nhân cảng đầu tiên trực sản xuất là đội của cảng Vanina do V.Sevryukov dẫn đầu. Ngày làm việc thường kéo dài 12 giờ. Trong tháng Ba tại Hải Phòng, giữa những tàu hàng khác của Liên Xô đang được bốc dỡ như tàu "Gheorghy Chicherin", "Valery Mezhlauk", "Bela Kun" có một loạt tàu của các nước xã hội chủ nghĩa khác - Ba Lan, Đông Đức và Bulgaria. Tại cảng Hải Phòng và Sài Gòn trong 99 ngày làm việc, các công nhân cảng của Liên Xô đã xử lý được 26 tàu và hơn 100.000 tấn hàng hóa. Tại Hải Phòng với sự hỗ trợ của họ đã xử lý 79,1 nghìn tấn hàng, dỡ 14 nghìn tấn hàng trên phương tiện đường sắt, bốc xong hàng 16 tàu. Tại Sài Gòn - 25,7 nghìn tấn và 13 tàu. Tiết kiệm thời gian neo đậu được hơn bốn ngàn năm trăm giờ tàu. Và hiệu quả kinh tế chỉ tính việc xử lý các tàu Liên Xô đã vượt trên 550 ngàn rúp. Khi tàu "Olga Androvskaya" rời Sài Gòn, nó tặng lại miễn phí tất cả các xe máy trang bị kỹ thuật, trên bến cảng không còn một chiếc tàu nào còn hàng. Tờ báo "Nhân Dân" đã viết: "Trong suốt thời gian các công nhân cảng và chuyên gia Liên Xô làm việc tại cảng Hải Phòng, người lao động Việt Nam đã học hỏi được rất nhiều ở họ về tính tổ chức và kỷ luật. Sự hợp tác lao động chung giữa các công nhân bến cảng Việt Nam và Liên Xô đã trở thành một trường học độc đáo về nghề nghiệp cho các công nhân cảng Việt Nam. Trên các cơ sở kinh nghiệm Xô Viết, trong tháng 5 năm 1979 tại cảng Hải Phòng sẽ tiến hành cải tổ toàn bộ quá trình xử lý hàng và tổ chức quản lý kinh tế ". Theo nghị định của Chủ tich nước CHXHCNVN, 4 cảng đã gửi sứ giả đến giúp đỡ họ - Vladivostok, Nakhodka, Vanino, Korsakov, đã được trao tặng huân chương "Hữu Nghị".


USS Constellation (CV-64) hành quân trên biển với Không đoàn máy bay trên tàu sân bay số 9 (Carrier Air Wing Nine (CVW-9)) đang bố trí trên tàu, khoảng tháng 5 năm 1979, thời gian gần cuối của đợt triển khai lần thứ 11 của "Connie" đến Tây Thái Bình Dương (Westpac). Đợt triển khai này dự kiến ​kết thúc vào tháng Ba, nhưng được mở rộng để phản ứng lại cuộc khủng hoảng chính trị tại Yemen. CVW-9 bao gồm các máy bay Tomcat F-14A, A-7E Corsair II, "Kẻ xâm nhập" A-6E Intruder và KA-6D, S-3A Viking, E-2C Hawkeyes, EA-6B Prowlers, RF-8G Thập tự chinh và SH-3H Sea King.

Ngoài Trung Quốc, người Mỹ cũng là một vấn đề. Sau khi chiến tranh bùng nổ ngoài việc thực hiện trinh sát vệ tinh, người Mỹ gửi tới căn cứ không quân chiến lược ở Okinawa (Nhật Bản), một số máy bay Grumman E-2C Hawkeye. Được thiết kế và chế tạo đặc biệt để tiến hành giám sát điện tử, những chiếc máy bay này theo dõi chặt chẽ động thái của hạm đội Liên Xô, đánh chặn tất cả các bức xạ điện từ của các phương tiện TTLL và radar của hạm đội. Phân tích và giải mã những bức xạ này sẽ cho Hoa Kỳ thấy bức tranh thực sự của các ý định hoạt động của Liên Xô. Cuộc chiến tranh Trung-Việt đã cho Mỹ một cơ hội độc đáo để thử nghiệm trong thế giới thực hệ thống chỉ huy, kiểm soát và thông tin liên lạc của họ, dựa vào đó mà áp dụng đòn tấn công khả dĩ của lực lượng hạt nhân Hoa Kỳ. Trước sự ngạc nhiên và kinh hoàng của mình, Tổng thống Carter nhận ra rằng toàn bộ hệ thống của Mỹ hiện giờ rất dễ bị tổn thương trước vũ khí không gian mới của Liên Xô.

Lẽ tự nhiên hạm đội Mỹ không thể bỏ qua khu vực xung đột. Đơn vị hợp thành tàu sân bay xung kích dẫn đầu là tàu sân bay «Constellation» (CV-64), trực chiến gần các bờ biển vùng Đông Nam Á từ ngày 6 tháng 12 năm 1978, trong đơn vị này có các tuần dương hạm «Leany» (CG 16), khu trục hạm «Morton» (DD 948), tàu vận tải «Takelma» (ATF 113). Ngày 25 tháng 2 đơn vị xung kích tàu sân bay do tàu sân bay «Constellation» (CV-64) dẫn đầu đã triển khai gần bờ biển Việt Nam trong vùng biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), với mục đích như chính phủ Mỹ tuyên bố là để kiểm soát tình hình. Để giữ chúng cách xa khu vực chiến sự quy mô lớn, các tàu ngầm diesel của chúng ta đã chặn đường tiếp cận của các tàu chiến Mỹ. Một phần các tàu ngầm này còn ẩn dưới mặt nước, còn một phần hiên ngang triển khai trong tư thế nổi. Thần kinh của các thủy thủ của chúng ta tỏ ra vững chắc hơn - người Mỹ quyết định không vượt qua tuyến chướng ngại trên biển này. Ngày 6 tháng 3 nhóm AUG do tàu sân bay «Constellation» cầm đầu đã rời đi khu vực vịnh Aden, nơi đó cuộc xung đột giữa 2 miền Nam và Bắc Yemen đang sôi sục.

Nhiều tàu đã sẵn sàng ra khơi. Vào tháng Giêng - tháng Hai năm 1979 tàu quét mìn trên biển "Paravan" tiến hành sửa chữa trên dok tại dok nổi nhà máy sửa chữa đóng tàu hải quân 92 (Vladivostok, vịnh Diomid). Với việc ra khỏi dok sau ngày 19 tháng Hai do cuộc xâm lăng của Trung Quốc chống Việt Nam đã bắt đầu, con tàu được giao nhiệm vụ chuẩn bị đi phục vụ chiến đấu ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Công tác chuẩn bị diễn ra đến trước ngày 10 tháng 3 ngay bên tường bến nhà máy 92. Trong tháng Ba, con tàu đã di chuyển từ vịnh Diomid sang vịnh Abrek, neo tại bến tàu số 3 để chờ quyết định của bộ chỉ huy ra khơi thực hiện nhiệm vụ quân sự. Đồng thời từ vịnh Abrek MT "Yakor" (thuyền trưởng Bulgakov N.Ya., tiểu đoàn tàu quét mìn 186 lữ đoàn tàu quét mìn số 7) đã ra khơi thực hiện nhiệm vụ quân sự ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nhưng sau một vài ngày đã phải quay về từ eo biển Triều Tiên. Tàu đi thực hiện nhiệm vụ quân sự trong khi chỉ một động cơ chính làm việc. Công tác phục hồi được tiến hành đối với động cơ chính bị hỏng. Tuy nhiên việc sửa chữa động cơ đã không đạt kết quả. Con tàu đi đến eo biển Triều Tiên rồi sau đó trở về căn cứ. Quyết định cho MT "Paravan" ra khơi thực hiện nhiệm vụ quân sự không được bộ chỉ huy ban hành. Tháng Ba năm 1979 đơn vị hợp thành các tàu chiến Liên Xô trong khu vực xung đột đã có 30 tàu. Các con tàu ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) cho đến tháng 4 năm 1979. Trong thành phần của đơn vị có: tuần dương hạm chỉ huy "Đô đốc Senyavin" (tháng hai-tháng năm), tuần dương hạm tên lửa "Đô đốc Fokin" (trung tá hải quân A.Samofal), các tàu chống ngầm cỡ lớn BPK "Vasily Chapaev" (trung tá hải quân E.G.Znakhurenko, từ ngày 17 tháng 2), "Sposobnyi", "Stroghi", khu trục hạm "Vozbudennyi" (trung tá hải quân N.Ivanov), tàu tuấn tra SKR "Raziatsi", "SKR-46" (tháng Một-tháng Tư), MT "Tral" (từ tháng một-tháng tư (tiểu đoàn tàu quét mìn 646 lữ đoàn bảo vệ lãnh hải số 45 (vịnh Vladimir)) và các tàu khác. Vì lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng trong khi thực hiện nhiệm vụ, 36 thủy thủ của binh đoàn thuộc Hạm đội Thái Bình Dương đã được trao tặng các phần thưởng nhà nước, trừ bộ tham mưu lữ đoàn cơ động số 22 Hạm đội Thái Bình Dương. Tại sao như thế thì tham mưu trưởng bộ tham mưu dã chiến của binh đoàn 22 V.A.Peterkov nhớ lại: "Danh sách đã đưa ra, nhưng tại lữ đoàn 202 chủ nhiệm chính trị lữ đoàn và tham mưu trưởng đã cho vào trong nó cả bản thân mình vốn là người gần gũi với Việt Nam và không đi. Thực ra người ta đã đưa vào lữ đoàn trưởng đại tá hải quân D.N.Cherivatyi. Vì việc này ông đã nói CÁM ƠN NHIỀU với chủ nhiệm chính trị bằng những lời không tiện in ra ".

Cùng với các tàu mặt nước của Hạm đội Thái Bình Dương, trong khu vực đối đầu còn có các tàu ngầm hoạt động. Vào đầu tháng hai, khi thấy rõ khả năng xảy ra chiến tranh đã trở nên rất cao, các tàu ngầm của chúng ta bắt đầu được triển khai. Thuyền trưởng tàu ngầm diesel "B-88" Fedor Ivanovitch Gnatusin nhớ lại:"Vào đầu năm 1979, chúng tôi được thư giãn - tàu đang nằm sửa chữa định kỳ trong nhà máy, khi cuộc chiến tranh không thể hiểu nổi giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa châu Á nổ ra. Nhưng một tuần sau đó, người ta đưa chúng tôi ra biển. Việc giao nhiệm vụ rất nhanh, bốc thủy lôi và ngư lôi tác chiến, còn một tuần - chất tải và lèn vào các khoang chật chội hàng tấn tấm tái sinh không khí, ZIP, thực phẩm, trang thiết bị của toán trinh sát biệt phái ... Chúng tôi đi vào cuộc chiến. Tại Vladivostok, Nakhodka, Odessa các đoàn lữ hành được chất hàng viện trợ quân sự cho quốc gia châu Á nhỏ bé. Vào ngày mai ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) chúng tôi có thể gặp những chiếc thuyền buồm và xuồng máy-cảm tử của họ, những chiếc tàu pháo và xuồng cao tốc phóng lôi và các tàu khu trục của "những người anh em vĩnh viễn", các tàu thuyền của Liên Xô, các tàu tuần tra và khu trục hạm cùng một đề án sẽ tham gia chiến đấu với họ. Còn chúng tôi, những thủy thủ tàu ngầm, sẽ gặp phải hỏa lực và thanh kiếm của Hải quân Trung Quốc trên những con đường tiếp cận khả dĩ tới bờ biển Việt Nam. Chúng tôi không chỉ có một mình. Chỉ từ Uliss đã có 6 tàu đi tới bờ biển Việt Nam. Còn cả Konyushko, Avangard, Rakushka, Sovgavan, Magadan và Bitchevo. Lực lượng chúng tôi rất nhiều và tất cả chúng tôi mặc áo lót thủy thủ!". Hầu hết các tàu ngầm diesel được đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu và hoàn toàn sẵn sàng ra khơi. Ban chỉ huy lữ đoàn tàu ngầm độc lập 90 (Sovgavan, cảng Zavet Ilitch) đã chọn ra hai tàu ngầm tốt nhất để đi làm nhiệm vụ ở bờ biển Việt Nam, một trong số đó là "S-145" đề án 613. Có mặt ở lữ đoàn 19 (thành phố Vladivostok), nạp ngư lôi đầu đạn hạt nhân, sau đó tàu xuất bến và ở trong tình trạng sẵn sàng № 1 ngoài khơi bờ biển Nhật Bản, cho đến khi có lệnh trở về.


Kíp thủy thủ "S-145" đề án 613, 613V xếp đội ngũ theo điều lệnh trên mặt boong. Ảnh chụp sau 1977.

Năm 1979 tàu thực hiện nhiệm vụ có mặt trong khu vực xung đột Trung - Việt cùng tàu ngầm S-93. Tàu ngầm S-145 đã đến lữ đoàn tàu ngầm số 19 nạp ngư lôi có đầu đạn hạt nhân, sau đó ra khơi, và ở trong trạng thái sắn sàng chiến đấu số 1.


Các con tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân cũng không nằm ngoài lề. Trong tháng 1 năm 1979 PLARK đề án 670 "K-201" (điều khiển tàu là thủy thủ đoàn 305 dưới sự lãnh đạo của trung tá hải quân A.F.Kopiev, người chỉ huy thứ hai đại tá hải quân A.A.Shikov) đang ở trong thành phần sư đoàn tàu ngầm số 10 phân hạm đội tàu ngầm số 2, đã rời căn cứ - Viluchinsk (vịnh Krasheninnikov, bán đảo Kamchatka). Tình hình trong khu vực thi hành nhiệm vụ quân sự, đặc trưng bởi sự đối đầu chính trị gay gắt của 2 quốc gia xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam. Khi chiến sự bắt đầu vào tháng Hai, tàu ngầm đã một thời gian ở trong một khu vực của biển Philippine, chặn lối vào Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) từ phía đại dương - eo biển Bashi.

Về việc triển khai sớm các tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương trên các tuyến hải trình có khả năng nhóm AUG từ bờ biển phía tây nước Mỹ đi qua để vào khu vực xung đột quân sự thấy rõ, có thể đánh giá theo một tiêu chí riêng. Với sự xuất hiện trong khu vực tìm kiếm tại một nơi cách xa Kamchatka bằng một chuyến đi hàng chục ngày đêm, thuyền trưởng "K-201" nhận được một bức điện xoay vòng với các yếu tố dẫn đường ban đầu nhằm tới nhóm AUG, phát đi từ SCH Hạm đội Thái Bình Dương. Bức điện đó không chỉ đến với "K-201". Trong đó có tọa độ AUG và mệnh lệnh: "Khi phát hiện ra AUG hãy bắt đầu việc theo dõi ngay". Triển khai gần "K-201" trong khu vực là tàu ngầm nguyên tử "K-66" đề án 659T thuộc sư đoàn tàu ngầm 26 từ Primorye tới dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng trung tá hải quân Sizov Gennady Mikhailovitch.
........
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2013, 02:56:17 am gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #178 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2013, 02:29:57 pm »

(tiếp)


PLARK "К-201" đề án 670. Neo tàu vào bến sau khi trở về từ khu vực thi hành nhiệm vụ quân sự. Vịnh Krasheninnikov, tháng 3 năm 1979. Hàng thứ nhất: thủy thủ trưởng chuẩn úy hải quân А.I.Isaev. Hàng thứ 2 (trái sang phải): trung tá hải quân А.F.Коpiev, người chỉ huy thứ 2 — đại tá hải quân А.А.Shikov, thuyền phó chính trị đại tá hải quân А.М.Sarnitsky, trợ lý chính cho thuyền trưởng Е.P.Мiakishev (ảnh do А.F.Коpiev cung cấp)...

Trích từ : "Sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội Thái Bình Dương. Con người, sự kiện, con tàu." - St Petersburg, 2005. Số đặc biệt nguyệt san Taifun.


Sau vài ngày ở trong khu vực đầu tiên và có được thông tin tình báo đáng tin cậy về việc nhóm AUG tiến vào khu vực quần đảo Nhật Bản, tàu ngầm nguyên tử "K-201" theo lệnh của SCH Hạm đội Thái Bình Dương di chuyển sang khu vực phía đông đảo Okinawa. Tháng Ba năm 1979 "K-201" hoàn thành chuyến đi thực hiện nhiệm vụ quân sự dài 67 ngày đêm và trở về vịnh Krasheninnikov (Kamchatka). Vì nhiệm vụ quân sự trùng hợp với các sự kiện Việt-Trung, thủy thủ đoàn đã được tặng thưởng, trong đó thuyền trưởng được trao tặng huân chương Sao Đỏ.

Không phải tất cả mọi thứ đều diễn ra trôi chảy. Năm 1979. tàu ngầm nguyên tử "K-122" (đại tá hải quân A.Gurevich) đề án 659T của sư đoàn tàu ngầm 26 từ Primorye tới thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), đã bỏ lỡ tàu sân bay " Constellation" chỉ vì giãn cách chỉ thị mục tiêu từ SCH lên đến sáu giờ.


Thủy thủ đoàn thứ 2 của K-455 trên OIS "Baikal" năm 1979.

Cuộc xung đột còn ảnh hưởng gián tiếp đến các tàu ngầm đang thực hiện chuyến đi chuyển đổi liên hạm đội về Hạm đội Thái Bình Dương. Ngày 21-23 tháng Một năm 1979 các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa đạn đạo chiến lược đề án 667BDR "K-455" (đại tá hải quân Tolstolytkin I.A.) và "K-490" (đại tá hải quân Kuznetsov V.M.) từ Hạm đội Biển Bắc đi sang Hạm đội Thái Bình Dương, để đảm bảo cho chuyến di chuyển Hạm đội Cờ Đỏ Biển Bắc đã phân công tàu khảo sát đại dương OIS "Baikal" đề án 1537 (thuyền trưởng thiếu tá hải quân Bochinsky G., chỉ huy cao cấp đại tá hải quân Klimov P.L.), trên tàu phải có thủy thủ đoàn thứ hai của "K-455" (đại tá hải quân Chefonov I.G.). Chỉ huy biên đội tàu là tư lệnh sư đoàn tàu ngầm số 13, Chuẩn Đô đốc A.I.Pavlov. Ngày 01 tháng 2 khi đi ngang qua Gibraltar, OIS "Baikal" cùng với thủy thủ đoàn của đại tá hải quân Chefonov gặp tàu sân bay "Minsk", xuất phát từ Sevastopol đang đi đến cảng đăng ký mới - Vladivostok. Tại Nam Đại Tây Dương, "Minsk" ngoặt trái và đi vòng qua châu Phi, qua Ấn Độ Dương để đến Vladivostok. Các tàu ngầm cùng với OIS "Baikal" tiếp tục di chuyển tới cực nam của Nam Mỹ thì họ bắt được tin tức về cuộc xung đột. Ngày 17 tháng Hai các con tàu nhận được điện từ Bộ tham mưu Hạm đội Biển Bắc thông báo về cuộc tấn công Việt Nam của Trung Quốc vì quần đảo đang tranh chấp Trường Sa. Ngày 18 tháng 2 chính phủ Liên Xô đã phát thông báo chính thức, bản chất là: "Chúng tôi sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình với Việt Nam". Ngày 19 tháng 2 hồi 17:30 sỹ quan chỉ huy cao cấp trên "Baikal" đại tá hải quân Klimov P.L. ra lệnh: "Chỉ huy của OIS "Baikal" thiếu tá hải quân Bochinsky G. và chỉ huy thủy thủ đoàn thứ hai K-455 đại tá hải quân Chefonov I.G. theo lệnh tôi hãy sẵn sàng cho việc bắt đầu các hoạt động chiến đấu ... Dựa trên quyết định của mình để đặt kế hoạch chuẩn bị cho OIS "Baikal" cùng với thủy thủ đoàn tàu ngầm tuần dương tên lửa chiến lược đang ở trên tàu đưa con tàu chuyển sang tình trạng SSCD cao ". Quyết định của mình và các mệnh lệnh đã ban hành của Klimov P.L được báo cáo về SCH Trung ương Hải quân Liên Xô bằng một bức điện mã hóa. Ngày 21 tháng 2 điện trả lời có chữ ký của Tổng tham mưu trưởng Hải quân Đô đốc G.M.Yegorov đến với tàu "Baikal": "Nhiệm vụ chính của anh không phải là các hoạt động chiến đấu, mà là dẫn đường an toàn cho các tàu ngầm tuần dương mang tên lửa chiến lược RPK SN. Hãy báo cáo về cuộc gặp với RPK SN, tình trạng của chúng và giai đoạn đầu hành trình ... ". Tại đây, sự tham gia của các con tàu vào cuộc xung đột đã kết thúc.  

Aleksandr Rozin


Sơ đồ di chuyển của K-455, K-490 và OIS "Baikal" năm 1979.

Tham khảo:
  Glukhov V. "Tôi tin vào sự hồi sinh của hạm đội!" "Zvezda-ONLINE» 2001/07/27.  
  Demidov M.V. "Tiểu luận về lịch sử Hạm đội Thái Bình Dương." Tạp chí "Taifun» № 3 năm 1999. trang 13.
  Ilinsky M.M. "Đông Dương. Tro tàn của bốn cuộc chiến tranh (1939 1979) ".
  Kozlov V. "Chiến tranh ngầm dưới nước. Chân trời của cuộc xung đột lớn giữa các siêu cường". M. Yauza, Eksmo, 2005. trang 214-222.
  "Tin tức hàng ngày" (Vladivostok) 28.07.2000. "Người ta đã đánh chìm "Enterprise" như thế nào.
  Litkovets N., Kuzmina N. "Chuyện thường ngày tại PMTO "Kam Ranh"'. Tạp chí " Bộ sưu tập Biển» № 10 năm 2001. trang 45-47.
  Potchtarev A. "... Và tất cả hoa tại Việt Nam". Báo "Sao Đỏ" 16.01.2001. trang 2.
  V. Filatov "Ngọn cờ của tình Hữu Nghị trên cảng Hải Phòng". Báo "Sao Đỏ" ngày 29.03.1979.
  "Sao Đỏ" 20/02/1979, 1979/03/03., 1979/11/03, 1979/11/05.
  "Sao Đỏ" 14/07/1988.
  Tạp chí "Hạm đội Biển» № 11, năm 1979. trang 10.
  Bruce Elleman "Quan hệ Xô-Trung và cuộc xung đột Trung-Việt Tháng Hai 1979"
  "Hải quân CHÂU ÂU trong thời đại của Chiến tranh Lạnh, trên trang web http://ppe.pearsoned-ema.com/marketing/Sp/Fakenham/0%20582%2050613%201/08ch08.pdf
  Hervé Coutau-Bégarie "Sức mạnh trên biển của Liên Xô" trên trang web http://www.stratisc.org/SSP_6.htm
  "Cuộc chiến của những người anh em nổi giận", tạp chí "Time" 5 tháng Ba 1979 từ trang web http://www.damanski-zhenbao.ru/files/vietnam-06-rus.doc
  Từ trang web VIF-2 NE forum, http://vif2ne.ru/nvk/forum/0/0.htm
  Từ trang web http://www.47br-ovra.com/morskoi-tralshchik-proekta-266m-paravan
  Từ trang web http://www.heritage.org/Research/AsiaandthePacific/asb8.cfm
  Từ trang web HTTP :/ / www . UNU . edu / unupress / unupbooks / 80 a 04 e / 80 04 E 0 B htm .
  Từ trang web http://www.ussconstellation.org/constellation_awards.html
  Từ trang web http://www.newsru.com/arch/world/13nov2003/kamra.html
  Từ trang web http://www.solantamity.com/Extraneous/Crisis.htm
  Từ trang web http://www.airwar.ru/enc/spy/tu95rc.html
  Từ trang web http://www.zeka.ru/mil_bases/facts/camranh_about/print.html
  Từ trang web http://www.heritage.org/Research/AsiaandthePacific/asb8.cfm
  Từ trang web http://cg-18.com/Command_History_1979/
  Từ trang web http://www.globalsecurity.org/military/library/report/1987/TLH.htm
.........
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Bảy, 2013, 09:52:17 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #179 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2013, 12:20:54 am »

(tiếp)

Về sự hợp tác kỹ thuật quân sự với nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

Yu.P.Prishchepo

Tạp chí "Vũ khí và trang bị kỹ thuật" số 02 năm 2005 (Техника и вооружение 2005 02)

(trích)

   Về vấn đề HTKTQS giữa Liên Xô và Việt Nam việc viết và kể, có vẻ như đã rất nhiều. Tuy nhiên, còn nhiều chi tiết và các vấn đề cụ thể cho đến ngày nay vẫn còn ít được biết đến. Một số trong chúng sẽ được "chi tiết hóa" dưới đây qua hồi ức của Yu.P.Prishchepo.
   Về tác giả. Thiếu tướng đã nghỉ hưu Prishchepo Yuri Porfirievitch. Ông làm việc trong hệ thống HTKTQS từ năm 1965 trên cương vị một sĩ quan cao cấp, trưởng ban, trưởng phòng tác chiến Tổng cục Kỹ thuật, phó chủ nhiệm TCKT, là Phó Cố vấn về các vấn đề kinh tế của Đại sứ quán Liên Xô - đại diện đặc mệnh toàn quyền TCKT UBQG về HTKT với nước ngoài (GTU GKES) tại Cộng hòa Dân chủ Somali. Hiện nay, Yuri Porfirievitch là Phó giám đốc Viện Sinh thái và Tiến hóa, Viện Hàn lâm khoa học Nga, thành viên của Ủy ban Điều phối Trung tâm Nhiệt đới.



Làm việc trên trang bị kỹ thuật hàng không quân sự (Su-27) tại Trung tâm NCKHKT Nhiệt đới, CHXHCN Việt Nam.

..........


Về căn cứ Cam Ranh

Đây chính là lúc để suy nghĩ về công việc của TCKT (GTU- ГТУ) với Việt Nam trong vấn đề xây dựng các công trình "chìa khóa trao tay". Việt Nam không phải là nước đầu tiên tại đó GTU thực hiện loại hình hợp tác này. Xin lỗi các bạn. Đất nước đầu tiên như vậy là SDR (SDR - Cộng hòa Dân chủ Somali - СДР (Сомалийская Демократическая Республика)). Tại đây trên thực tế đã thành lập Liên hiệp xí nghiệp xây dựng Xô Viết và tất cả các công việc được các chuyên gia Liên Xô - các nhà xây dựng quân sự - thực hiện. Đồng Chủ nhiệm của LHXN này là một sĩ quan Somalia đã tốt nghiệp Học viện Công binh của chúng tôi hạng ưu tú, và cùng với anh ta, tất cả các vấn đề kỹ thuật đều dễ dàng được giải quyết. Tại đó GTU đã làm chủ các nguyên tắc tổ chức công việc khi xây dựng công trình "chìa khóa trao tay". Tại đó người ta hiểu ra rằng cái nền giáo dục trung học phải là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các loại công nhân xây dựng. GTU thời đó đã đặt hàng tất cả các loại xe máy và máy móc cho việc xây dựng hai sân bay, đã gửi tới các trang bị kỹ thuật khai thác đá cùng các thợ máy, các chuyên gia nổ mìn xô viết, các máy nghiền đá của chúng tôi, các máy đào máy xúc, và tất nhiên, các xe tải chở nặng.


Cất cánh, nhìn từ trên cao đường băng sân bay Xô Viết tại Berbera, Somalia, năm 2010. Chiều dài đường băng 4140 m, được Liên bang Xô Viết xây dựng cho lực lượng KQHQ đầu những năm 197x. Tại Berbera có căn cứ HQ của Liên Xô (1964-1978). Hiện Berbera thuộc Somaliland - nước cộng hòa tự xưng trên lãnh thổ Somalia.

Năm 1976, chúng tôi đã hoàn thành xây dựng sân bay ở Berbera. Đó là một sân bay xuất chúng với kích thước kỷ lục về chiều rộng và chiều dài của các đường băng CHC, tính cho việc sử dụng máy bay Tu-95, những chiếc máy bay cần phải tuần tra trên khắp hành tinh, đối trọng lại với kẻ thù tiềm năng chiến lược của chúng ta thời ấy (và ngay cả bây giờ đối với tôi). Tại đó cũng có bến cảng cho tàu mặt nước và tàu ngầm. Còn có hai công trình hoàn toàn mới so với kinh nghiệm xây dựng của tôi tại Berbera - trạm bunker không có cầu tàu và một trạm khử muối trên cơ sở các nguyên tố trao đổi ion - người ta bổ sung tổ hợp này. Tất cả cùng được gọi là trạm đảm bảo vật chất-kỹ thuật. Nhưng nó tồn tại không lâu với chúng tôi. Trong năm 1977, chúng tôi, có nghĩa là các chuyên gia quân sự Liên Xô, do các mâu thuẫn chính trị giữa đất nước chúng tôi, Somalia và Ethiopia, đã bị buộc phải rút ngay lập tức khỏi SDR, sau khi đã kịp tháo dỡ và mang đi khỏi căn cứ các trang thiết bị đặc biệt. Nhưng "nơi đất thánh không bao giờ hoang vắng". Thay vào đó, người Mỹ đến thế chân chúng ta, và tôi rất hài lòng, khi đọc trên tạp chí "Newsweek", thấy họ đánh giá cao kết cấu đường băng và chất lượng xây dựng tại Berbera. Tuy nhiên, hiện nay ở đó chẳng hề dành cho chúng tôi hoặc người Mỹ, hoặc Somalia.

Đó là một chút lịch sử GTU, để ta quay lại với Việt Nam. Vì xây dựng theo các điều kiện tổng thầu ("chìa khóa trao tay") thì GTU đã rất nổi tiếng ở Iraq và Libya. Nhưng ở Việt Nam, hai công trình rất mạnh - PMTO tại bán đảo Cam Ranh và Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Khoa học và Thử nghiệm Nhiệt đới - cũng được xây dựng theo các điều kiện tổng thầu, và công trình đầu tiên trong số đó đã được xây dựng thành công. Công trình thứ hai đã được hoàn thành phần còn lại dựa vào nguồn tài chính của Việt Nam và đến nay vẫn hoạt động bình thường.


Một khu vực bố trí radar cảnh giới P-12, do Liên Xô chế tạo, của quân đội Somalia năm 1983 tại sân bay Berbera. Ảnh chụp trong thời gian diễn tập GIÓ ĐÔNGG 83, giai đoạn đổ bộ lực lượng tác chiến thủy bộ trong cuộc tập trận SAO SÁNG 83.

Sau đó, vào năm 1978 tôi tham gia vào việc tái thiết ngành công nghiệp quốc phòng của Việt Nam. Đó là một câu chuyện hoàn toàn khác. Đứng về phía Việt Nam chống Mỹ không chỉ có chúng tôi (tức là Liên Xô). Còn có những quốc gia thân thiện khác của phe xã hội chủ nghĩa. Ví dụ, Đông Đức đã xây dựng ở phía Bắc Việt Nam một nhà máy sản xuất khí tài quang học quân sự (kính ngắm, kính thiên văn, ống nhòm, vv.). Nhà máy này ngay từ đầu đã tìm thấy nguồn cát thạch anh tuyệt đẹp để nấu thủy tinh quang học, và mọi việc còn lại là cong việc của các kỹ thuật viên các nhà máy "Carl Zeiss", "Iena". Nhưng không ai trong số các chuyên gia của chúng tôi, ít nhất là trong GTU GKES, không biết rằng Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất vũ khí bộ binh, đạn dược, các thành phần gây nổ, kíp nổ, ngòi nổ, dây dẫn nổ, súng cối, mìn, RPG và đạn lõm cho RPG. Tất cả đều là các mẫu của Liên Xô trước đây được Liên Xô chuyển giao cho Trung Quốc. Và công nghệ cũng là của chúng ta, nhưng rất cũ. Nhưng tất cả mọi thứ đã làm việc và sẽ làm việc nếu như không có mâu thuẫn lâu đời giữa Việt Nam và Trung Quốc, dựa trên các tranh chấp từ xa xưa về lãnh thổ các vùng biên giới.

Sau khi đánh bại người Mỹ, tất cả trở về với các vấn đề trong nước, kết quả việc đó là đột nhiên nổ ra cuộc chiến tranh giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa tại khu vực biên giới phía bắc Việt Nam. Tất nhiên, Trung Quốc ngay lập tức ngừng cung cấp tài liệu và các thiết bị thành phần cho các nhà máy QP này. Vậy ai là người sẽ giúp Việt Nam? Tất nhiên, chính là GTU, nhưng không phải tự bản thân nó, mà với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô và các Bộ, ngành công nghiệp quốc phòng. Tất cả các nhà máy đã được kiểm tra và ở mỗi nơi sẽ có một biện pháp cụ thể được áp dụng. Các mẫu mã mô hình mới và các công nghệ mới đã được chuyển giao, các vật tư tiêu hao cần thiết được đặt hàng. Trong quá trình kiểm tra ban đầu các nhà máy kiểu "Trung Quốc", chúng tôi cũng đã có cơ hội xem xét một số nhà máy được người Mỹ xây dựng ở miền Nam Việt Nam phục vụ nhu cầu của quân đội của họ. Tao cho tôi ấn tượng mạnh là nhà máy sửa chữa ô tô và các mẫu trang bị thông thường của Mỹ. Người ta nhập vào nhà máy xác khí tài cũ, tháo dỡ nó thành các bộ phận và các chi tiết, hoặc được hoặc phục hồi, hoặc nấu chảy. Và sau đó diễn ra quá trình lắp ráp trên dây chuyền từ các chi tiết thông thường đã phục hồi thành chiếc xe ô tô mới. Kết quả ta có một chiếc xe gần như mới hoàn toàn.

Chúng tôi cũng đã đến thăm các nhà máy sửa chữa tàu biển cũ của Hoa Kỳ (sau này chúng tôi bổ sung trang bị cho nhà máy này để sửa chữa tàu phụ trợ và hậu cần của Hải quân Liên Xô), và nhà máy sửa chữa trang bị hàng không, cơ sở hạ tầng của chúng có ích cho công tác tổ chức sửa chữa các máy bay MiG của chúng tôi. Trên đường từ Bắc vào Nam, nhóm của chúng tôi đã ghé vào bán đảo Cam Ranh. Đó không phải là chuyện ghé thăm cho vui, mà tất nhiên người ta có ý đưa chúng tôi vào đó để tìm hiểu khả năng sử dụng các công trình của căn cứ Mỹ phục vụ cho quân đội CHXHCN Việt Nam.


Hồ Bạch Hổ (Tiger lake). Ảnh Peter A.Byrd.

Bây giờ ta đi chi tiết một chút về Kam Ranh. Cam Ranh - là một bán đảo dài, một bờ (phía nam) của nó gần như tiếp giáp với đất liền. Một eo đất hẹp và một ngõ thắt đầm lầy để đi qua, bán đảo có thể được coi gần như một hòn đảo. Và nó được người Mỹ lựa chọn để xây dựng căn cứ của họ cùng kiểu như căn cứ chúng ta có ở Berbera. Trên một số phương diện tất nhiên nó trội hơn hẳn căn cứ của chúng ta, nhất là ở chỗ nó có hai đường băng. Tuy nhiên, người Việt Nam từ miền Bắc tấn công vào miền Nam quá nhanh làm cho họ chưa hoàn thành đường băng thứ hai. Nhưng tất cả mọi thứ còn lại đều được thực hiện với quy mô của người Mỹ. Đường ô tô bằng bê tông, các dãy nhà ở nhỏ cho sỹ quan, doanh trại cho quân lính và thủy thủ, đường cấp nước mà họ đã tháo dỡ và kịp mang đi theo, cũng như các nhà máy điện. Khá ngang nhiên, ở trung tâm của hòn đảo trên bờ một cái hồ nội đảo họ xây dựng một công trình gọi là "nhà nghỉ của Johnson". Đây là một biệt thự sang trọng, có một tháp nhảy cầu năm mét để lặn và nhào lộn, sân tennis, sân golf, v.v. Nghĩa là, họ nghĩ rằng họ sẽ ở đó mãi mãi.

Chúng tôi xem xét các con đường thường xuyên phủ cát do những cơn gió liên tục thổi mang đến, phần gốc của cầu tàu nổi đã bị phá hủy một phần, dãy nhà của sỹ quan đã bị cướp phá hết đồ mộc và mái lợp, phần còn lại của đường cấp nước và cấp nhiên liệu đã bị tháo dỡ. Sân bay chưa hoàn thành. Một đường băng, thực tế vẫn hoạt động, người ta vẫn cất cánh và hạ cánh trên đó. Nhưng người Mỹ đã đem đi tất cả các thiết bị mặt đất của sân bay, và đường băng chỉ phục vụ để hạ cánh bằng mắt thường các máy bay hạng nhẹ, mà những khí tài bay như vậy thì người Việt Nam không có, và bây giờ vẫn chưa có. Cái mà có thể làm việc được đó là những bãi biển tuyệt đẹp. Chúng tôi có thể đánh giá nó trên thực tế trong vài giờ ngắn ngủi ở trên bán đảo. Rất dễ dàng để đến với nó và cũng rất dễ dàng bỏ đi một cách nhanh chóng và nghĩ để mà không nghĩ rằng mình sẽ phải đến bán đảo này tham gia vào xây dựng một công trình rất quan trọng.

Các quyết định của các cơ quan cấp trên của chúng tôi là ngắn gọn và mạnh mẽ. Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Liên Xô đã ký một thỏa thuận với Việt Nam về việc sử dụng Kam Ranh vào việc triển khai tạm thời các tàu chiến và máy bay của Hải quân Liên Xô. Còn Tổng cục Kỹ thuật UBHTKT với NN cùng với Bộ Quốc phòng Liên Xô: a) xác định tập các công trình cần thiết, và do đó, xác định khối lượng công việc và chi phí trang bị bổ sung cho bán đảo với mục đích đã nêu ở trên, và b) tiến hành nghiên cứu dự án kinh tế-kỹ thuật khả thi, tức là, nói theo ngôn ngũ hiện nay, làm kế hoạch kinh doanh, và c) kiến nghị với Chính phủ Liên Xô về phương pháp xây dựng, chi phí, các tính toán với phía Việt Nam, và sau khi nhận quyết định thì tiến hành đàm phán và ký một thỏa thuận kỹ thuật với phía Việt Nam về việc xây dựng trên bán đảo Cam Ranh. Cuộc tranh luận kéo dài về việc sẽ đặt tên đối tượng này thế nào, đối tượng mà cần phải bao gồm hàng chục hạng mục có chức năng riêng biệt, cuối cùng thì họ quyết định - căn cứ đảm bảo vật chất-kỹ thuật (PMTO).
..........
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Bảy, 2013, 09:59:11 am gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM