Người lính - Ký ức cuộc đời và ngã rẽ
Không có lý giải!
Anh trai thứ hai trong gia đình tôi sinh năm 1953. Đa phần tuổi thơ cùa anh sống trong trường học sinh miền nam . Mãi tới khi hết cấp 2 anh mới về sống với gia đình. Anh tốt nghiệp cấp 3 vào loại giỏi. Anh không chọn con đường ra nước ngoài du học mà tình nguyện gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam khi tròn 16 tuổi.
Trước khi đơn vị anh điều vào mặt trận phiá nam, anh được về phép thăm nhà . Trong đôi mắt trẻ thơ của đưá bé 10 tuổi như tôi ngày đó, ngoài hình ảnh của Bố trong bộ quân phục màu xanh mỗi khi về phép khiến tôi mê mẩn, bây giờ còn có hình dáng “ rất lính” của anh trai. Buổi tối bốn anh em bỏ phản đòi ngủ chung một giường với anh . (bà Ngoại tôi mắng, con gái bắt đầu lớn rồi không được ngủ chung với các anh em trai, tôi “ trả treo” bà là tôi cũng là “ con trai”). Buổi sáng việc đầu tiên của ngày đầu phép là anh “ dạy “ mấy đưá em cách xếp chăn màn như trong quân đội. ( Nhờ anh, cái nếp thức dậy xếp gọn chăn màn như quân đội, sau này khi cả 4 anh em chúng tôi, khi nhập ngũ trong những ngày tháng ở quân trường đã không cần “ học” mà vẫn xếp chăn gọn đẹp và nhanh hơn bất cứ ai). Những ngày phép của anh trôi nhanh. Nhưng ký ức về anh trong tôi thì vẫn tưởng như mới vưà hôm qua.
Ngày anh trai thứ ba của chúng tôi lên đường nhập ngũ, cũng là ngày gia đình tôi nhận được tin anh bị thương ở chiến dịch đường Chín Nam Lào. Nghe nói anh bị thương rất nặng, ngoài một số mảnh đạn đã được lấy ra trong người anh, thần kinh anh bị trấn thương tới mức lúc tỉnh lúc điên, Bố tôi sau này kể lại: đa phần anh điều trị và sống trong khoa thần kinh của trại điều dưỡng quân đội vì thế mà anh không muốn ai thăm nom anh cả. Anh cứ ở trại điều dưỡng cho tới ngày anh nhận thẻ thương binh và quyết định phục viên. Sau này khi anh mất, một vài người bạn đồng đội của anh mới kể lại rằng những cơn “điên” của anh hay của những người đồng đội anh ngày ấy thi thoảng xuất hiện là do các anh là người sống sót duy nhất trong đại đội anh (đợt bổ sung quân cho chiến dịch đường 9 Nam Lào) ngày đó.
Trở lại đời thường của anh, với mức thẻ thương binh là 5/6 . Với những “ chiến tích” quá khứ hào hùng ngày đó, anh có một công việc ổn định và mức lương rất khá . Tuy nhiên công việc này của anh không tồn tại được lâu. Anh rất hay “ lên cơn” , khi lên cơn thì anh uống rượu, khi rượu vào anh khóc và khi đã quá say thì anh hay cởi hết quần áo và năm lăn ra đó bất kể nơi đó là đâu. Mọi người đều “ ghét” anh lúc đó, vì anh có cái may mắn hơn đồng đội khác khi trở về, có một chỗ làm nhiều người mơ ước đến thế mà anh không lo làm ăn, sống như anh người đời gọi là “bê tha” bởi chiều đến hết giờ làm thì anh đi “ nhậu “ . Thuở ấy, lúc đó không ai lúc đó biết những biểu hiện của anh xuất phát là bởi cụm chữ “ di chứng chiến tranh” . Người đời chỉ “ cho rằng” sự sống sót trở về là may mắn, bởi may mắn cho nên phải biết chí thú làm ăn . Những tưởng anh sẽ có một đời sống “ một mình” mãi thế . Có bao nhiêu tiền lương thì anh “ cân đối” đồng thì mang về cho Mẹ, đồng thì thỉnh thoảng cho các em, đồng thì chia cho ai đó khó khăn cần anh giúp và còn lại thì đi nhậu với bạn bè. Nhưng rồi cũng có người thương yêu mà “ lấy anh” . Có lần tôi hỏi chị dâu vì sao lấy anh? Chị nói khi anh không say, khi anh bình thường anh rất hiền, rất trách nhiệm và tỉ mỉ trong nhiều chuyện. Rồi anh có con. Hai cô con gái được sinh cách nhau 2 năm. Đây là thời gian có lẽ là đẹp nhất trong cuộc sống đời thường của anh vì anh không hề “ say” bao giờ. Lại tưởng, “ bước ngoặc” có mái ấm gia đình, có con của anh sau nhiều năm tháng trở về này sẽ có một kết cục bình an và hanh phúc . Nhưng không phải... Một ngày anh đã gặp lại một người bạn đồng đội cùng tiểu đoàn anh ngày đó ở bến xe Miền đông.( lúc đó bến xe chưa rời ra gần chân cầu Bình Triệu). Chị dâu tôi kể lại : Thật không thể có gì diễn tả được sự vui mừng của anh tôi lúc đó. Anh mời người bạn về nhà làm cơm và mời cả những người thân trong gia đình đến ăn bữa cơm “ họp mặt” vui cùng anh đã gặp được đồng đội của mình ở đời thường. Bữa cơm hôm đó mọi người thì ăn còn anh và người bạn thì “ uống” . Họ nhau cùng “ôn lại” những kỷ niệm chiến trường của mình. Có thể do rượu, có thể do ký ức chiến trường đang trở về trong sự hồi tưởng của họ. Họ hết cười lại khóc. hết hát lại trầm ngâm. Những ly rượu đế cứ thế mà …nâng lên, ly thì vì người bạn này, vì người bạn khác… những người đã nằm xuống … Rượu, nước mắt, và “ quá khứ” được hoà trộn lẫn nhau. Buổi sáng đó chỉ còn lại khung cảnh những chai, những ly lăn lóc bên cạnh hai người đồng đội đang “ôm” nhau ngủ. Anh tôi không đi làm. Sau bữa cơm “ nhậu” thân mật với người bạn đồng đội cùng chiến trường ấy thì vài ngày sau, người bạn anh trở ra Bắc còn anh trở lại với công việc đời thường của mình. Cũng chính từ những ngày đó, cuộc sống gia đình anh không còn êm ấm như trước. Anh trai tôi đến với bước ngoặt thứ hai. Những cơn “ thần kinh không ổn định” của anh xuất hiện anh không uống rượu và anh cũng không đi làm, anh chỉ trùm chăn nằm im một góc giường, con anh cũng không bế, không chơi, anh không trò chuyện với bất cứ ai. Anh rơi vào “ trầm cảm” đôi lúc cười một mình, đôi khi khóc rưng rức, đôi khi lảm nhảm một mình. Không ai biết trong đầu anh lúc đó đã có những điều gì đang xuất hiện. Những cơn đau đến với thể xác, đến với cái đầu của anh nhiều hơn lên Và rồi, chuyện gì đến đã phải đến, anh mất việc làm. (Nhiều người lúc đó nói là tại anh, tại anh có một công việc là mơ ước của nhiều người lúc đó mà không lo chí thú làm ăn, tại anh không có ý chí của một “ người lính” không biết vượt qua chính bản thân mình). Rồi vợ anh cũng không thể sống với những cơn điên thất thường của anh. Chị chỉ biết ôm con khóc và " mách Mẹ" . Lúc anh không bị rơi vào những “ hồi tưởng” , anh nói anh cần ly dị vợ. Mẹ tôi đồng ý, Mẹ cũng không muốn anh “ hành hạ” hai đưa cháu nội của bà và trẻ con hàng xóm bằng những cảnh anh bắt tụi nhỏ đứng xếp hàng “điểm quân” rồi làu bàu “ sao quân số còn ít thế? Sao tôi hô “ xung phong” mà các đồng chí không xông lên. Chị dâu tôi ôm hai cháu ra Bắc về quê ở Ninh Bình. Anh bán nhà chia tiền cho vợ, gửi ra cho người bạn đồng đội ngoài Bắc một ít và anh bỏ đi đâu đó một thời gian, sau đấy anh về ở với mẹ.
Những ngày sống với mẹ ngoài những “ cơn điên” riêng tư của anh xuất hiện không ai hiểu nổi, mỗi khi thời tiết thay đổi anh hen “ rụt cổ”... Đôi khi anh coi mẹ là “ giặc” và anh đuổi Mẹ để đánh. Mẹ tôi nói: tâm thần bất ổn thế có thể do nó nhớ con, do không có công việc làm chỉ sống bằng tiền thương binh, do " nó" bệnh ". Mẹ gọi chị dâu tôi mang cháu trở vào. Chị dâu tôi lại ôm hai con trở lại Sg sống cùng nhà với mẹ và anh tôi. Chị trở về với công việc của chị đi làm nuôi chồng và nuôi con ( anh tôi thường xuyên trở bệnh nên khi anh tỉnh cũng không cơ quan nhà nước nào dám nhận anh làm việc) . Tuy thế, ngoài những lúc bất bình thường của chứng bệnh “ thần kinh” thì những khi không trở bệnh anh lại là người cha chăm con rất tốt. Anh dạy các con anh học .(nghe một số các chị học trường anh hồi đó kể lại thuở đi học anh học rất giỏi các môn khoa học tự nhiên) nên chuyện anh “ dạy con” học các môn theo chương trình là chuyện bình thường. Cũng lại những tưởng tất cả sẽ bình lặng như thế . Nhưng, cũng không phải. Qua người bạn cũ trước đây, anh gặp lại một số đồng đội cùng tiểu đoàn anh đã " thoát chết" thuở ấy. Mỗi người mỗi cảnh đời. Các “ mảnh đời” của các anh lính thời 1971-1972 có “ may mắn” còn sống ấy đều không bình thường. Toàn bộ các anh là thương binh với các hạng “ nặng” như nhau. Đã là thương binh và đã cũng là “ sống sót” trong cuộc chiến đó, tinh thần của tất các các anh đều cũng như nhau. Họ có những “ cơn điên” trong hồi ức và cũng đều không có công việc làm không ổn định. Không ai nhìn vào họ có thể nghĩ rằng: quá khứ họ là những thanh niên đẹp trai, thông minh và đầy nhiệt huyết . Đổi lại, ngoài đồng lương binh lúc đó họ không có một thu nhập nào khác. Với mức lương đó để “ nuôi” chính họ còn không đủ huống chi còn vợ, còn con cái. Các cháu con anh tôi đi học đều được nhận sự hỗ trợ học bổng dành cho học sinh gia đình nghèo của báo Tuổi Trẻ. Anh tôi với vật chất khó khăn, cơ thể không khoẻ, tinh thần ốm yếu nay nhớ mai quên. Lúc rất yêu con, lúc thì chửi con không có lý do. Cuộc sống bức bối đó khiến cho đôi lúc cô con gái lớn của anh sinh năm 1982 đã thốt lời “ trách Bố” vào những lúc anh tỉnh táo - sao ngày đó Bố không đi học nước ngoài lại tình nguyện đi Bộ đội làm gì để bây giờ khổ thế.” Anh chỉ cười hiền lành và giải thích chung chung. Con gái anh nói “ những điều Bố nói báo chí đăng đầy không thuyết phục được con đâu”. Anh lại trả lời con gái đơn giản nhưng đầy đủ ý nghĩa: Truyền thống gia đình mình là thế. Vâng, anh tôi nói không sai. Mẹ nói, Mẹ sinh anh ra khi Mẹ đang là chiến sĩ của trường Sĩ quan lục quân tạiTrung Quốc. Anh lớn trên trong “ ngôi trường” quanh anh là những chiến sĩ và sĩ quan của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày ấy. ( không ít thì nhiều có thể ngoài dòng máu truyền thống gia đình đang chảy trong anh, anh còn được hít thở bầu không khí trong lành ấm áp khi đó, ngoài các bảo mẫu bế anh, anh còn được các chú chiến sĩ dưới quyền của Bố bồng ẵm). Đúng, chẳng ai có thể “ bắt” anh đi lính cả. Và cũng chẳng ai sẽ cho anh ra mặt trận nếu anh không tình nguyện. Sau này, có nhiều khi chứng kiến anh “ lên cơn” trong đầu tôi cũng xuất hiện hàng loạt những: “ giá mà’, “ phải chi” ngày đó, giá mà anh không tình nguyện đi lính, phải chi anh cứ sang nước ngoài học như anh Cả. Biết đâu cuộc đời anh sẽ qua một hướng khác? Hay nếu như anh đăng lính với lý lịch gia đình như thế, nhưng anh không tình nguyện ra mặt trận, anh sẽ không bị thương , anh sẽ không phải đối mặt với đạn bom, không có chứng kiến đồng đội anh ngã xuống quá nhiều, anh sẽ không phải là người “ may mắn “ còn lại. “ Giá như” vậy, thì cuộc đời anh sẽ có khác đi không? “ ngã rẽ cuộc đời anh” sẽ khác đi chăng?. Tôi đã không thể có câu trả lời cho chính mình lúc ấy. (Chỉ có sau này, khi tôi cùng các em tôi lần lượt nhập ngũ. Tôi mới hiểu được rằng dòng máu được gọi là “truyền thống” vốn dĩ đã ở sẵn trong bất cứ mỗi con người chứ không phải cá nhân ai) . Những cơn bệnh của anh ngày đó bỗng ngày một nhiều khiến gia đình tôi “ sợ” anh. Mọi người đều mệt mỏi cùng anh.( chỉ kỳ lạ một điều là buổi tối anh không lên cơn. Có thể như Mẹ tôi nói do “khí trời khi chiều đến đêm buông” không khí mát dịu hơn) . Để tránh cho các con anh nhìn quá nhiều những hình ảnh không tốt về anh, Mẹ tôi không thể ôm anh trọn trong vòng tay của bà, nhưng Mẹ cũng không thể đưa anh vào nhà thương điên như người khác. Mẹ sợ rằng vào nhà thương điên khi anh tỉnh anh sẽ tủi thân, nhưng Mẹ cũng không đủ khoẻ để mà giữ anh mỗi khi lên cơn . Mẹ tôi đành " gửi gắm" bằng cách nhờ công an hàng ngày vào 8h sáng mời anh xuống Phường ngồi "đọc báo". Trong suy nghĩ của Mẹ là “ nếu anh tôi có lên cơn điên thì sẽ có nhiều người giữ anh lại” . Mà có thể, khi đó suy nghĩ của Mẹ là đúng. Bởi từ những lúc đó cộng với các loại thuốc của bác sĩ cho anh uống, anh không lên cơn hàng ngày mà chỉ là thi thoảng. Ngày tôi từ nước ngoài trở về thăm Mẹ, Mẹ nói “ nó ngồi dưới CA Phường chứ đâu” . Tôi xuống đó thăm anh vì chưa đến giờ anh được về nhà. Hình ảnh tôi nhìn thấy là 3 người CA đang ôm ghì giữ lấy anh mình. Anh vẫn đang hò hét” sao các đồng chí giữ tôi, địch sau lưng đồng chí kià, quay lại bắn nó đi”. Người ta không cho tôi vào lúc đó. Khi tôi được vào thì một trung úy CA nói với tôi : Anh chị ngủ rồi. Anh âý thường lên những cơn “ quậy phá” kiểu thế đó. Hết cơn anh chị hiền lành dễ thương lắm. Tôi đã nói Bác (ý nói Mẹ tôi) cho anh ấy vào nhà thương điên đi mà bà cụ không muốn. Những lúc chúng tôi rảnh thì còn đỡ. Những lúc chúng tôi có “án” thật là vất vả cho chúng tôi” .Rồi dần dần anh tôi cũng bớt lên cơn. Mẹ không cần phải nhờ CA phường giúp đỡ. Anh cũng không phải xuống “ trình diện” Phường nữa. Thi thoảng buổi tối anh lên cơn, anh coi Mẹ là giặc anh không “đấm đá ‘loạn xạ mà anh chỉ “ chửi” sau đó anh ngủ . Sáng ra chuyện xảy ra buổi tối anh không hề nhớ .
Có lẽ, trước khi lià trần người ta bỗng trở nên minh mẫn chăng? Tôi không biết , tôi chỉ biết rằng những ngày đó Mẹ và em trai tôi kể lại: Anh không còn lên điên bất thường nữa, không còn những tiếng “ xung phong” trong giấc ngủ. Buổi sáng anh đi bộ xuống cửa hàng em tôi cách nhà Mẹ tôi 3 cây số chỉ để xin một ly café đá, vài điếu thuốc , anh trò chuyện vài câu, ngồi nhìn thiên hạ mua mua bán bán rồi anh lại đi bộ về nhà Mẹ. Thực tế, thời gian đó anh hiền lành hẳn, mọi người trong nhà để yên, nói năng nhẹ nhàng với anh . Thậm chí anh có bỗng “ cáu “ lên thì anh vẫn nhận được những sự ủng hộ cho cái “ cáu” vô lý đó. Đời sống anh trai tôi êm ả lạ thường.
Anh không đi làm, phần phụ giúp các con anh ăn học do tôi bắt đầu tự nguyện chu cấp. Tôi không còn ở gần anh nữa, khi tôi lập gia đình riêng và công việc ổn định tôi được cử làm đại diện cho một Cty trực thuộc VKHVN và đa phần tôi sống ở nước ngoài. Tôi cũng không trò chuyện với anh nhiều như trước đây để cảm nhận được những biến cố xảy ra trong tinh thần anh. Tôi chỉ nhớ, ngày đó khi trò chuyện với các bác sĩ ở nước ngoài nơi tôi sống, phác họa ra bệnh tình anh để mua thuốc gửi về cho anh, thì Bs giải thích : chẳng có loại thuốc nào chữa cho những “ di chứng tinh thần trong chiến tranh cả. Đối với một số người thì sẽ có xuất hiện nhẹ rồi người ta sẽ vượt qua. Nhưng đối với một số người khi dấu ấn của chiến tranh quá sâu sắc, thì những người đó sẽ không trở về sự bình thường được nữa. Anh tôi ngoài những thương tật là những mảnh đạn mang trong người đã được lấy ra, Thì tiếng súng, tiếng bom đạn ngày ấy còn làm anh nghễnh ngãng một bên tai. (đáng tiếc rằng cũng chỉ là sau này khi anh đã mất chúng tôi mới hiểu điều đó). Còn khi đó tất cả đều “ sợ” anh. Sợ người lính trở về với những cơn “điên bất kỳ” như anh. Thậm chí, các con anh dù yêu thương Bố bao nhiêu cũng đôi khi phải thốt lên câu nói với tôi rằng “ cô ơi, sao lúc đó Bố con không mất đi để bà Nội nhận bằng LS , Bố sống mà người không ra người thế này.” Tôi chỉ còn biết động viên “ăn nói vớ vẩn, Bố con mà Ls thì bây giờ đang ngồi sau nải chuối ngắm gà khoả thân rồi, làm gì có các con ngồi đây mà nói” . Trong đầu tôi lại những “ giá như” giá như anh tôi điên hẳn thì có phải dễ xử lý hay không? Anh điên không ra điên, tỉnh không ra tỉnh. Trong những cơn mơ của một người lính bệnh đôi khi nằm co quắp trên giường miệng vẫn lẩm bẩm “ xung phong” “ góc trái đó bắn đi” …
( còn tiếp)