Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 12:44:40 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: ALFA - Đội đặc nhiệm siêu mật Nga  (Đọc 76211 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #40 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 07:48:14 am »

Đêm trôi qua yên tĩnh. Sáng hôm sau chúng tôi chuyển địa điểm, suốt một ngày một đêm sau đó phải lưu lại trong một trại lính Afghamstan. Sau đó chuyển đến nhà khách chính phủ nằm phía sau lâu đài Dar-ul-aman ở ngoại ô Cabul. Trước đây khu này dành cho các vị khách nước ngoài cấp cao. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A. N. Coxưgin rất thích nghỉ ở đây. Nhưng Sergin và Izotov không ưa ngôi biệt thự. Họ báo cáo sứ quán và lập tức bị quát cho một trận: sao các anh lại khó tính thế, điều kiện hết chê như vậy mà còn kêu ca nỗi gì... Quả thực tiện nghi thì không chê được, nhưng đội bảo vệ không yên tâm vì biệt thự nằm dưới chân núi, không xa bản làng. Từ trên khu làng nhìn xuống toà biệt thự hiện rõ như trên lòng bàn tay. Mà chẳng biết đâu lại có kẻ thích nhìn qua kính ngắm của một khẩu súng! Sergin đã viện lí do đó ra để tranh cãi với các đại diện cơ quan tình báo, song nỗi lo ngại của anh chỉ khiến cấp trên bực bội: họ nói các anh vừa chân ướt chân ráo đến đã lên mặt dạy đời. Biết làm sao, lệnh là lệnh. Đành phải tổ chức hệ thống bảo vệ, đặt trạm gác. Nhưng không thể dừng cuộc sống. Chúng tôi quyết định tổ chức đón năm mới. Mọi người kiếm chai sâm banh, bày bàn tiệc. Đồng hồ sắp chỉ mười hai giờ, mọi người chuẩn bị nâng cốc tiễn năm cũ, đột nhiên Babrac cho gọi Izotov. Izotov đi ra, mọi người đành phải chờ. Một lát anh quay về, nâng cốc lên và mỉm cười nói:

- Babrac Carmal chúc mừng năm mới.

Chưa kịp cạn chén, từ bóng tối băng giá bên ngoài cửa sổ một tràng tiểu liên vang lên khô khốc. Đội trưởng tuần tra nhạy vào: “Trong làng bắn sang!". Chúng tôi phải lấy thêm lính dù hỗ trợ, lục soát quanh biệt thự nhưng không phát hiện thấy gì. Đêm vắng và lạnh buốt. Chúng tôi đặt thêm trạm gác cạnh tháp nước đầu làng. Tất cả lại vào bàn. Giờ giao thừa đã qua, đành uống rượu đuổi theo vậy. Lại có tiếng súng, lại báo động. Chúng tôi bố trí phòng ngự vòng tròn. Ánh lửa đầu nòng lóe lên ngay cạnh tháp nước. Ai đó nổ súng bừa bãi bắn trả, lính dù trên xe bọc thép cũng nã pháo. Về sau mới biết một lính gác bên ta bắn trả vào làng. Từ tòa biệt thự chúng tôi nhìn thấy ánh lửa đạn, nên vội tưới đạn vào đó. Rất may anh ta kịp núp nên thoát chết. Đêm năm mới ấy chúng tôi không được trở lại bàn tiệc mà phải vào làng càn quét.


Babrac Carmal và các thành viên Hội đồng Cách mạng nằm lại tòa biệt thự một tuần nữa. Gần như không ai đi khỏi đây. Thường là mọi người đến. Babrac Carmal, lúc này là Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng dân chủ nhân dân Afghanistan, Chủ tịch Hội đồng Cách mạng, Thủ tướng và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang nước Cộng hòa dân chủ Afghanistan, đã chủ trì cuộc họp báo đầu tiên. Sau khi chuyển đến lâu đài Arc, các nhân viên đặc nhiệm "A” bắt đầu vất vả hàng ngày với công tác bảo vệ và giữ an ninh cho Babrac. Họ không rời vị trí bảo vệ bên trong, túc trực phòng khách và phòng nghỉ. Xung quanh lâu đài đặt các trạm gác của lính dù, bên ngoài địa phận lâu đài là vòng bảo vệ của đội cận vệ quốc gia. Tại các cửa ra vào lâu đài đều có đội viên “Zenit" chốt. Khi có việc ra ngoài, vị lãnh đạo nhà nước tối cao được mười một vệ sĩ hộ tống. Izotov đi trước dẹp đường. Một chiếc "Mercedes" bọc thép do Anatoli Gresisnicov lái chở Babrac, các xe khác theo sau. Mỗi lần Babrac đi, lực lượng bảo vệ được huy động tối đa. Giao thông đường phố Cabul trên thực tế hoàn toàn mất kiểm soát, cảnh sát không được biết lộ trình của đoàn xe nguyên thủ, dẫu có biết cũng chưa chắc đã giúp được gì. Thủ đô đông người, xe tăng, xe bọc thép, xe chở lính chạy đầy đường. Izotov nhớ chuyến ra ngoài đầu tiên của Babrac: "Tôi ngồi đằng trước hò hét với đám xe tăng, thò nắm đấm ra dọa dẫm. Chẳng còn cách nào khác. Người ta nhìn thấy nhưng ngoảnh mặt đi. Không lẽ lại nhảy xuống nói cho từng người biết đây là xe nguyên thủ quốc gia. Sau này chúng tôi đặt các trạm gác trên suốt lộ trình. Nhưng không nên quá hi vọng vào họ, mà chỉ nên trông vào bản thân". Tôi muốn nhấn mạnh những chuyện này, bởi vì mấy năm sau, khi một phóng viên Liên Xô hỏi: Với tư cách nhà lãnh đạo một quốc gia có chủ quyền, ông Carmal có thấy bất tiện khi lâu đài (nghĩa là cả bản thân ông) luôn bị đội bảo vệ đặc biệt của KGB giám sát? Ông ta đã trả lời: "Tôi nhiều lần nổi giận vì chuyện này". Nhưng các chỉ huy của đội bảo vệ đặc biệt lại có ý kiến khác.


Sergin:

- Quan hệ giữa chúng tôi và Babrac rất tốt, hoàn toàn không giống quan hệ giữa lực lượng an ninh với người được bảo vệ. Nói đúng ra, nó giống tình cảm của những người bạn chiến đấu. Chúng tôi luôn sát cánh bên ông những lúc gay go nhất. Ngày 14 tháng mười hai năm 1979, khi có báo động, chúng tôi gần như phải bế từng người ra khỏi hầm, đưa lên máy bay. Tháng hai năm sau, có bạo loạn trong thành phố - xe tô bị đốt cháy, đại sứ quán Liên Xô bị nã đạn, có mấy công dân ta bị bắn chết phe đối lập tập hợp được hàng nghìn người dưới cờ xanh Hồi giáo tiến về lâu đài Arc, chúng tôi đã sẵn sàng hi sinh thân mình để bảo vệ Babrac. Ngày kỉ niệm cách mạng Xaur, sau lưng Carmal trên lễ đài là Volodia Taraxenco của chúng tôi. Trường hợp có kẻ ám sát, nhiệm vụ của Taraxenco là dùng thân mình che cho Babrac. Carmal thấy, biết hết mọi chuyện và đối lại anh em bằng nhiệt tình và sự hàm ơn. Ngày 23 tháng hai là sinh nhật Izotov. Tôi nhớ cả Hội đồng Cách mạng đã đến chúc mừng: đủ cả Babrac, Anahita, Nur và Guliabzoi. Có lần, khi Anahita ở nước ngoài trở về, Izotov thay mặt anh em ra tận sân bay đón. Anh mang theo bó hoa hồng to, nhưng không dám lại gần Anahita, đứng gần bà toàn các nhà lãnh đạo cấp nhà nước và đại sứ Tabeev. Tóm lại, đang diễn ra nghi lễ chính thức. Bỗng Anahita nhìn thấy Izotov trong đám đông, bà gạt Tabeev ra và gọi lớn: "Iura!" rồi chạy lại chỗ anh. Hôm sau chúng tôi bị tướtlg Ivanov gọi lên xạc cho một trận.

- Sao anh ta dám đến đó?

Thiết nghĩ, nếu chỉ là lính cảnh vệ làm thuê, họ đã chẳng đối xử với chúng tôi nhiệt tình và nể trọng như vậy. Không nên quên là đội dự kiến bay sang đây công tác chỉ một tuần, và mang theo lương thực và quần áo cho thời hạn đó. Ở nhà chúng tôi có rất nhiều việc. Golovatov học trường Đại học Thể dục Thể thao, anh đang lo phát sốt với kì thi quốc gia; người khác thì bận rộn với bài vở ở trường Cao đẳng An ninh; và còn khối việc khác nữa... Anh em đều có gia đình, vợ con ở Moxcva. Chúng tôi không thuộc Cục IX của KGB, không là các chuyên gia bảo vệ lãnh tụ. Tôi đã gọi điện cho tướng Bestrastnov, đã viết báo cáo yêu cầu cử người sang thay thế. Ngày về đã mấy lần được ấn định. Nhưng tất cả đều bị hoãn vì yêu cầu của Babrac. Lần cuối là vào tháng hai. Anh em đã xếp vali, mua đồ lưu niệm đã chia tay nhưng tình hình lại căng thẳng. Carmal dứt khoát từ chối trả đội về Liên Xô. Người ta lại đề nghị ở lại đến tháng năm. Hết tháng năm, chúng tôi vẫn phải thực hiện nhiệm vụ không chút dễ dàng của mình. Ngày 30 tháng sáu người ta tổ chức tiệc chia tay, có đại sứ Tabeev, tướng Ivanov tới dự cùng mười một anh em chúng tôi và gần hết ban lãnh đạo cấp cao Afghanistan. Ngày mồng 1 tháng bảy chúng tôi rời Cabul.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #41 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 07:50:16 am »

Iuri Izotov:
- Mười một người chúng tôi đều sẵn sàng lấy thân mình che cho Babrae. Riêng tôi có thể nói đã luôn ở vị trí dễ dàng nhảy ra chắn cho Babrac ngay trong tích tắc Trong những hoàn cảnh khẩn cấp, sử dụng vũ khí là việc phức tạp nên phải thường xuyên giữ khoảng cách gần nhất với ông. Tôi nghĩ mình đã làm được điều này. Một lần Babrac đến dự cuộc họp đảng ở nhà hát. Trước đấy đã có lời cảnh báo về một vụ khủng bố. Che anh thử tưởng tượng mà xem? Tất nhiên, đội cận vệ cũng được báo động, còn chúng tôi đích thân ngồi trong hội trường kiểm soát tình hình. Cuộc họp bắt đầu. Babrac đang đi lên lễ đài thì đèn phụt tắt. Tôi đoán lựu đạn sẽ nổ tiếp liền. Nhưng, thật may là chuyện đó không xảy ra. Chúng tôi vây quanh che chắn và đưa ông ra sau cánh gà. Tất nhiên còn nhiều tình huống căng thẳng khác. Trong một cuộn diễu hành chào mừng ngày cách mạng ở phía đối diện lễ đài, trên nóc một ngôi nhà bỗng nhiên xuất hiện nhiều người có vũ khí. Chúng tôi vây lấy Babrac. Thần kinh căng thẳng tột độ. Hóa ra là sáng kiến của đội cận vệ quốc gia. Viên chỉ huy quên thông báo cho chúng tôi. Đội của họ vừa thành lập từ những thành viên tích cực trong đảng; nói chung chưa được đào tạo gì cả. Có lần Carmal đề nghị tôi giúp đỡ tập huấn cho đội. Ông tin chúng tôi hơn bất cứ người Afghanistan nào.


Những ý kiến trái ngược. Vậy sự thật là đâu? Chúng tôi không kết luận mà chỉ nêu vài sự kiện, bạn đọc tự sẽ có chính kiến của mình...

Khi đơn vị của Sergin trở về, có vẻ thiên anh hùng ca Afghanistan của đội đặc nhiệm "A" đã kết thúc. Công việc ở nhà bộn bề - thế vận hội Olympic Moxcva khai mạc, kí ức về vụ quân khủng bố Palestin bắt cóc và tàn sát dã man đội tuyển đấu vật Israel ở Munich còn tươi rói. Liên Xô nhất định không để xảy ra điều tương tự. Về đến Moxcva hôm trước, hôm sau tướng Bestrastnov, cục trưởng Cục VII đã gọi đội Sergin đến. Ông cảm ơn họ đã hoàn thành nhiệm vụ rồi nói:

- Các con trai thân mến, hãy về nghỉ ngơi một ngày, mồng 4 tháng bảy tập trung bảo vệ an ninh thế vận hội.


Bảy tháng đi xa. Một ngày với gia đình rồi vào doanh trại. Không có sự lựa chọn khác. Đội chống khủng bố lại vào trận.

Romanov ngồi lặng, choáng váng. Bức thư nặc danh. Một bức thư nặc danh bẩn thỉu. Tướng Bestrastnov đọc to từng đoạn. Trời ơi, còn tội lỗi nhớp nhúa nào mà người ta không gán cho anh nứa: trộm cướp, ăn cắp, tội để Carpukhin và Berlev trấn lột người chết rồi chia cho anh; còn anh, tất nhiên là che đậy những chuyện xấu xa đó.

- Thế đấy, - Bestrastnov buồn rầu nhét lá thư vào phong bì.

Nếu anh bạn võ sĩ quyền Anh Glev Tolxticov nhìn thấy Romanov lúc này, hẳn anh ta sẽ nói: "Nốc ao. Misa đã đo ván". Romanov cố trấn tĩnh, sao có thể vậy chứ. Anh luôn luôn bị đánh. Đời đã tàn bạo với anh không chỉ một lần. Nhưng lần này lại khác: một cú đánh của kẻ cướp, đánh lén. Anh đã linh tính, đã cảm thấy từ trước, quỷ tha ma bắt... Sau chuyến công tác Afghanistan, cuộc sống đã có nhiều thay đổi. Trong đội xuất hiện những con người gắn bó bởi cuộc chiến tranh, bởi chiến trận và cái chết của các đồng đội. Thế thì sao? Họ có đòi ân huệ, đồi xử đặc biệt, hay lợi lộc gì cho bản thân đâu? Không và không bao giờ có chuyện đó. Trong huấn luyện, trong học tập họ luôn đi đầu, giữ nghiêm kí luật, những lời chỉ trích rõ ràng không đem lại niềm vui. Ai mà vui được trước cái yêu sách kì quặc bắt nộp những bộ quần áo thể thao rách bươm và đẫm máu sau trận đánh. Họ đã quẳng sạch những bộ đồ đen đủi đó ở Cabul. Đến mức ấy nữa. Hóa ra đó là tài sản quốc gia. Vậy thì để người ta trở lại Cabul mà lấy về. Nhưng chuyện không dừng ở chỉ trích, mà nghiêm trọng hơn nhiều. Có người không thể chịu nổi ý nghĩ rằng, Mikhail Romanov đang từ thân phận một thiếu tá bình thường bỗng chốc thành Anh hùng Liên Xô. Họ đã đánh lâu đài, đã chiếm... Còn sau đó? Đấy, cái về sau mới thật thú vị - nào là lục lọi xác chết, cưỡng đoạt, trộm cướp. Một cách công khai. Và Romanov, là chí huy mà nhắm mắt làm ngơ. Có nghĩa anh ta cũng là tòng phạm. Với những chuyện như vậy anh ta có còn là anh hùng nữa không? Không những không thể khen thưởng mà phải đem ra tòa ấy chứ. “Ra tòa ư? - Romanov cười khẩy với cái ý nghĩ điên rồ thoáng qua này, - Có lẽ đó là giải pháp tối ưu chăng? Romanov đã há miệng mắc quai rồi".

- Mikhail, cậu đừng có dựng bờm lên như vậy, - Bestrastnov nói. - Tôi chẳng tin lời nào ở đây cả.

Ông gõ gõ vào phong bì khẳng định. Romanov chua chát lắc đầu.

- Andropov cũng không tin. - Vị tướng nói tiếp - ông ấy đã lệnh phải tìm cho ra tác giả bức thư. Đã chỉ định dự thẩm viên rồi. Xong việc ở đây cậu ghé qua bên họ một chút.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #42 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 07:53:20 am »

Romanov rời văn phòng tướng Bestrastnov. Anh không muốn gặp bất kì ai trên đời. Giá biến được khỏi đây, vào rừng tai ga hay một hoang mạc nào đó. "Kẻ nào có thể dựng chuyện này cho mình nhỉ?”. Anh điểm tên, nhớ lại những khuôn mặt. Không thể nghi cho ai. Thật kinh khủng. Cùng nhau ra trận cùng vào chỗ chết. Anh nhớ hình ảnh Valeri Emưsev ngã chúi mặt vào một góc tường, cánh tay cụt đẫm máu cuốn băng, nhờ Liosa Baiev đạn găm thủng cổ, Pasa Climov trên cáng cứu thương. Không không thể là họ, nhưng bức thư nặc danh có thật. Có người đã viết. Andropov, các phó chủ tịch, Bestrastnov đã đọc nghĩa là các đơn vị khác trong ủy ban an ninh cũng biết chuyện. Có nhiều loại người khác nhau. Những người ở cạnh anh thì hiểu sự thật còn những người khác thì sao? Một số người đã lảng tránh, không dám bắt tay. Còn phải nói: kẻ cướp mà! Cuối cùng Romanov tìm thấy cái văn phòng đó. Nào, bây giờ sẽ là hỏi cung đây. Dù Bestrastnov nói hình như có một ban thanh tra đã được thành lập tìm tác giả bức thư nặc danh kia nhưng Romanov hiểu trước tiên anh phải tự bào chữa được. Thế còn kẻ nặc danh kia? Hắn ở đâu là ai? Có tìm ra không? Anh gõ cửa phòng bước vào. Ngồi ở bàn là một người đàn ông cau có. Ông ta gật đầu:

- Mời ngồi! - Rồi rút trong ngăn bàn ra một tập giấy, Thiếu tá Romanov Mikhail Mikhailovich...

Từ lâu không ai gọi anh trịnh trọng như vậy. Lần cuối cùng là khi tướng Drozdov từ lâu đài báo cáo về Moxcva. Ông nói thiếu tá..., đủ họ tên và phụ danh, chỉ huy đội... đã phụ trách, đã lo liệu, là tấm gương cho anh em. Quả thật tên họ anh đã vang lên trong một hoàn cảnh khác, gắn với danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô viết. “Ở đất nước chúng ta khoảng cách từ anh hùng đến tội phạm thật ngắn!” - Romanov nghĩ.

- Chuyện này chẳng ra làm sao cả, anh Mikhail Mikhailovich ạ, - viên dự thẩm tỏ ra thông cảm, - nhưng làm thế nào được...

- Vâng, tôi hiểu, tôi làm việc ở Uỷ ban an ninh không phải năm đầu tiên.

- Thôi được, anh hãy nhớ xem làm sao trong túi Balasov lại có năm nghìn afghani (tiền Afghanistan)? Có chuyện như vậy, anh biết không? Tác giả bức thư cũng biết.

Bao nhiêu người biết nhỉ - ba, bốn... chắc chỉ năm người là cùng. Mặc dù anh không hề giấu. Anh nhận tiền ở đại sứ quán cho toàn đội, có biên nhận hẳn hoi và đưa Balasov giữ. Họ chưa dùng đến, chẳng có lúc nào mà tiều. Người ta tìm thấy chúng còn mới nguyên, cả một tập, trong bộ đồ bẩn, đẫm máu của Balasov. Balasov quên bẵng. Sau trận đánh anh quẳng áo quần và không nhớ đến món tiền. Dù đó là tiền xương máu, được cấp để chi dùng, không phải đi ăn cắp hay ăn cướp mà có. Nhưng tiếng đồn lan khắp, rằng đã phát hiện nhiều sấp tiền nhét đầy các túi bộ quân phục. Viên dự thẩm ghi chép gì đó trong tập hồ sơ rồi hỏi:

- Mikhail Mikhailovich, anh bay từ Afghamstan về sân bay Vnucovo, đúng không?

- Đúng?

Điều này anh nhớ rõ. Khi máy bay sắp hạ cánh, anh tỉnh lài, cơn đau khủng khiếp đã dịu. Có lẽ nhờ mũi tiền của cô y tá khi đang bay. Đúng là anh đang nằm như vua trên đi văng thì bị cáng lên máy bay, chỗ ngồi không có nói gì đến nằm. Romanov ngạc nhiên người chật ních trong khoang máy bay, mà toàn nhân viên uỷ ban an ninh. "Ở đâu ra lắm vậy? Họ làm gì khi bốn chục chiến sĩ của anh và Xemenov tấn công hai trăm lính cận vệ của Amin?" "Xem kìa Mi sa, thế mà anh bảo không có người để huy động đi tấn công Clev Tolxticov đặt cáng xuống và nói. Những người ngồi ở đi văng inl lặng đứng lên.

- Có nghĩa là Vnucovo? - viên dự thẩm hỏi lại. Romanov xác nhận.

- Lúc ấy anh bị đau à?

- Tôi bị sỏi thận.

- Thế từ sân bay anh có rẽ về nhà không?

Lá thư viết người của anh mang đồ trang sức quí về nhà giấu... Romanov tức điên, nghẹn cả cổ.

- Có mang, - Romanov thì thầm, - mấy cái quần hôi thối, dính máu về thay. Nhà tôi cạnh sân bay. Còn vàng bạc, kim cương thì tôi quẳng đi tiệt...

Viên dự thẩm không hỏi gì thêm nữa. Ông ta thả anh đi yên lành. Thế cũng cảm ơn Romanov bỏ về nhà nghỉ ngoại ô. Cố quên mọi chuyện, anh vớ búa, rìu đinh làm mấy việc nhưng một tiếng sau đã ra hiên nhà ngồi nhớ Afghanistan, lâu đài Amin và trận đánh... Anh nhớ lúc chạy trên cầu thang, một quả lựu đạn rơi dưới anh, một phụ nữ kêu thất thanh: "Amin! Amin!". Izotov báo cáo qua máy bộ đàm: "Nhân vật chính chết rồi!”. Anh nhớ họ bước ra ngoài lâu đài hút thuốc. Berlev và Carpukhin quyết định kéo xác chết ra khỏi thang máy. Họ đặt nó xuống sàn, lấy giấy tờ trong túi người chết ra. "Tôi đoán là thẻ đảng, - Berlev chìa cho Carpukhin quyển sổ mỏng. Carpukhin mở ra. Chữ Arập loằng viết bằng bút mực. Nửa tiếng trước, nếu còn ngoằng viên đạn, chủ nhân tấm thẻ chắc đã bắn hạ Carpukhin như con gà gô rồi. Nhưng số phận đã che chở viên đại úy Romanov thấy Berlev và Carpukhin đang ngắm nghía tấm thẻ, anh định lại gần xem nhưng có người giật áo ngăn lại. Romanov ngoảnh lại. Trước mặt anh là người đàn ông chừng năm mươi tuổi, có thể hơn, mặc quân phục hàm trung sĩ. Mặt ông đỏ bừng tức giận, còn đôi mắt, đến bây giờ anh vẫn nhớ - đôi mắt lạnh băng, lóe lên nhưng tia giận dừ. Romanov nhớ ra đó là một nhân viên ban đặc biệt của KGB. Có lần anh đã đi nhờ xe ông ta. Nhưng ông ta cần gì ở đây nhỉ?

- Đồng chí thiếu tá, người của anh đang làm gì vậy?

- Họ vừa ra khỏi trận đánh...

- Điều đó không có ý nghĩa gì? Họ đang ăn cướp. Tôi đã thấy họ lần mò túi quần áo của người chết.
Đến đây "nhân vật đặc biệt" gào vào bóng tối khi nghe giọng nói của ai đó.

- Đừng động vào, không được động vào cái gì cả ? Mọi thứ ở đây đều bị tẩm độc đấy.

- Nghe này, làm gì mà ông gào lên vậy? - Romanov mệt mỏi thì thào. - Để họ yên. Chúng tôi không cần tiền afghani. Chúng tôi còn nhặt được cả bọc nữ trang trong lâu đài. Cả một bọc, hiểu chưa? Anh muốn tôi nộp cho anh hay mang trả lại. Còn bây giờ thì biến cho nhanh kẻo mang họa đấy.

“Nhân viên đặc biệt" mắt lạnh nhìn quanh, rồi lảng.

“Không lẽ là thằng tha đê tiện đó?" - Romanov băn khoăn. - Có thể lắm nhưng cứ thử chứng minh xem!". Anh tự giày vò suốt một ngày đêm; sáng thứ hai anh gọi điện cho tướng Bestrastnov xin gặp. Romanov bước vào và đặt trước mặt viên tướng nắm đấm cửa nhỏ bằng đồng anh đã nhặt sau trận đánh trong lâu đài. Cục trưởng ngước lên hỏi:

- Cái gì vậy?

- Đây là vật báu tôi mang ở đó về...
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #43 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 07:54:27 am »

Romanov trở lại trụ sở đội đặc nhiệm. Bây giờ anh hiểu cần rời đơn vị. Nhưng đi đâu? Hay về cơ quan cũ? Ở đó ai cũng biết anh, nhớ anh. Thật tiếc, tất nhiên. Nhưng không tập thể nào thân thiết và gần gũi với anh hơn "Alfa". Anh đã tốn bao công sức, đổ bao mồ hôi đào luyện các chiến sĩ. Sự thực là khắp thế giới chưa có đội đặc nhiệm chống khủng bố nào phải thực hiện những nhiệm vụ như đội của anh. Đại sứ Liên Xô ở Afghanistan Tabeev nói gì về chuyện này nhỉ? Anh còn nhớ chuyện trong bệnh viện sau trận đánh. Bên phải anh là Xerioja Golov với chín vết thương, bên trái anh là Colia Svasco. Anh nằm giữa quằn quại vì đau thận. Trong cơn đau nghe có tiếng xì xào: "Đại sứ, đại sứ...". Anh mở mắt, Tabeev cúi bên anh hỏi: "Con có thấy ta không, con trai?" - "Có". - "Có nghe tiếng ta nói không?" “Có" - "Cảm ơn con và các chàng trai của con. Mọi việc rất gọn ghẽ. Không cơ quan tình báo thế giới nào biết về lực lượng tiến hành chiến dịch. Các con sẽ được nhận huân chương, huy chương. Nhưng không phải điều đó là quan trọng. Điều chủ yếu trong đời các con đã có thể hoàn thành. Con hãy nhớ điều ta nói...".


Nhiều năm trôi qua. Đã có nhiều biến cố trong số phận của thiếu tá an anh quốc gia Romanov và các đồng đội cấp dưới của anh. Đã thay đổi cả quan điểm về vấn đề Afghanistan. Chỉ có một điều không bao giờ thay đổi, một điều mãi mãi thiêng liêng: đó là máu đã đổ trên các bậc cầu thang ở lâu đài.


Lời tiên đoán của viên đại sứ về chuyện huân chương đã thành sự thật. Người ta xem xét, cân nhắc, tráo đi tráo lại danh sách cán bộ được đề nghị khen thưởng rất lâu. Lúc đầu có bảy người được đề nghị tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô là Boiarinov, Cozlov, Carpukhin, Romanov, Golov, Xemenov và Poliacov. Bức thư nặc danh đã loại Romanov ra khỏi danh sách. Ban thanh tra do Chủ tịch ủy ban An ninh Quốc gia I. V. Andropov chỉ định không tìm ra kẻ ác ý nhưng cũng đã trả lại sự trong sạch cho Romanov. Nhưng phong Anh hùng thì không. Đội trưởng "Zenit" Iacov Xemenov cũng bị bật khỏi danh sách "anh hùng" sang "Cờ đỏ”. Ngày 28 tháng tư năm 1980 Chủ tịch Đoàn Xô Viết Tối cao Liên Xô ban hành sắc lệnh phong Anh hùng Liên Xô vì thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt của chính phủ Liên xô, vì tinh thần dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng được thể hiện trong khi làm nhiệm vụ cho Boiarinov Grigon Ivanovich (truy tặng), Victor Carpụkhin, Cozlov Evald Grigorievieh. Huân chương Sao vàng số N11431 được trao cho gia đình đại tá Boiarinov. Ông là người mãi mãi được lưu danh trong lịch sử chúng ta như vị anh hùng đầu tiên của chiến tranh Afghanistan. Carpukhin và Cozlov nhận ngôi Sao vàng ở điện Cremli ngày 21 tháng năm năm 1980 do Cuznexov, Phó chủ tịch thứ nhất Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô tự tay trao tặng. Đồng thời huân chương Lenin cũng sẽ được trao cho Romanov, Golov và Poliacov. Lễ trao cử hành ở Cremli thật cầu kỳ. Trước hết đối với những người được nhận huân chương. Anh em đội “Alfa” vẫn nói đùa là hồi hộp không kém lúc tấn công lâu đài. Họ được hướng dẫn đến mệt lả người trước buổi lễ: không được bắt tay, không được hỏi, không được ôm hôn. Cũng còn may là người ta không cấm thở. Tại sao lại rắc rối vậy. Hóa ra là đích thân Tổng bí thư Brejznev sẽ trao huân chương. Buổi lễ đã bị hoãn đi hoãn lại mấy lần phút cuối lại có thông báo là Tổng bí thư sẽ không dự. Người thay thế là Cuznexov. Họ lại được hướng dẫn thủ tục đón tiếp kiểu khác, vì ông già hơn sếp Brejnev. Cốt để anh em không bắt tay quá mạnh làm đau ông cụ.


Ngày 21 tháng năm đã đến. Năm chiến sĩ ưu tú tập trung ở điện Cremli. Các anh để áo ngoài tại phòng gửi áo ở phòng chờ, một phụ nữ trung niên mỉm cười đón tiếp ân cần như bà chủ nhà. Họ nhìn quanh. Yên tĩnh, long trọng. Trên các bàn đặt nước hoa quả, thuốc lá. Họ nhìn vào hội trường, chẳng có ai. Không phải chờ lâu, đúng giờ đã định, họ được mời vào hội trường vẫn còn vắng chỉ có mấy chiếc ghế, một bàn to, bốn chân chạm trổ mạ vàng. Cạnh bàn là micro: Cuznexov chúc mừng, trao huân chương: những ngôi Sao vàng. Người nhận theo thông lệ, ngỏ lời cám ơn Đảng và Chính phủ. Victor Carpukhin vì hồi hộp nên quên cả nói những lời đã chuẩn bị từ trước. Người ta cho anh lên phát biểu lần nữa. Khi anh bướt lên, ai đó nói đùa là chiến đấu thì giỏi thế, mà nói lại dát. Sau buổi lễ mọi người đi ra phòng nghỉ: "Chúng mình chụp ảnh chứ?" - Cozlov gợi ý "Không nên đi đâu” - Phó chủ tịch Uỷ ban An ninh Lejeneeov đi cùng họ nói khẽ như ra lệnh. Nhưng dù sao, vào ngày như thế này họ đã quyết định cưỡng lời cấp trên và chụp được mấy kiểu.
Những bức ảnh Lejeneeov khuyên không nên chụp không ai trong số họ nhận được, còn những bức ảnh chụp cùng Cuznexov thì đến tay, nhưng phải sau mấy năm. Georgadze thư kí Chủ tịch Đoàn Xô Viết Tối cao trầm trồ:

- Chà, chà, các chàng trai, quả là các tay tráng sĩ, giá được cạn với các bạn một li sâm banh nhỉ. Huân chương oách thế mà! Nhưng xin lỗi, - ông ta vung tay tỏ vẻ bối rối - Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao không có tiền. Tiền đã chi hết cho tiếp các đại sứ và những tiệc chiêu đãi khác.

- Không sao, - Golov an ủi. - Chúng tôi cũng đoán vậy nên có mang theo một ít.

Anh đã định nói: “Chúng tôi có mang theo, vì biết các người là bọn keo... rồi". Georgadze đi rồi, chỉ còn lại toàn người của mình, hai Phó Chủ tịch ủy ban An ninh là Lejenecov và Kirpichenco cho phép mỗi người cạn một li vodca. Nhưng dặn cấm hở cho ai chuyện này: “Cứ việc bịa đủ mọi chuyện về việc được khen thưởng, trừ sự thật. Đây là bí mật quốc gia".


Không muốn uống vụng xó nhà chén rượu đáng được hưởng, anh em đặt tiệc ở nhà hàng "Pasa". Họ đến nơi lúc 5 giờ, đúng giờ giải lao của cửa hàng. Không được vào. Thôi thì hút thuốc đợi vậy. Khách kéo đến đông dần, đám thanh mền đứng ngoài cửa ồn ào, một đám cưới đi tới trên những chiếc "Volga" đen. Đến giờ mở cửa. Họ kéo vào gửi áo khoác. Một người đeo ngôi Sao vàng trên ve áo, người thứ hai rồi thứ ba đeo huân chương Lenin. Đám thanh niên im lặng, há miệng ngạc nhiên. Mấy ông già ở phòng gửi áo bám lấy hỏi: "Các cháu, các cháu kiếm đâu ra huân chương mà nhiều vậy? Từ đâu ra vậy hả các con trai?". Mọi người xúm xung quanh, chỉ trỏ, thán phục, mắt sáng lên, cô dâu mới cũng chạy đến đòi sờ huân chương. Hóa ra nhân dân đón các anh hùng không như những quan chức bệ vệ mặc lễ phục đen của điện Cremli. Thật nồng nhiệt, thiện tâm, chân thành.


Các anh hùng lên tầng hai. Để không phải trả lời những câu hỏi không cần thiết của dân chúng, họ tháo huân chương ra. Anh nhân viên Colia ra đón. Họ yêu cầu một bữa tiệc không đứng ồn ào, không người ngoài, không quảng cáo. Cứ nói chúng tôi là bạn bè, những người bình thường, một người từ Angola về, người thì... tóm lại họ làm Colia mụ cả đầu. Anh này bày bàn xong đi ra. Nhưng truyền thống vẫn là truyền thống. Anh em rót rượu, thả huân, huy chương vào cốc. Tất cả đứng lên. Vừa lúc Colia mang thức ăn bước vào. Anh ta sửng sốt. Sát bên nhau, hai mươi chàng trai đang "rửa” huân chương “Vì lòng dũng cảm”, còn ở một bàn năm người với hai ngôi sao anh hùng và ba huân chương Lenin. Đất nước kỳ diệu! Họ mời Colia: "Hãy nâng cốc cùng, vì chúng tôi vừa từ cõi chết trở về". Colia uống một hơi, im lặng úp cốc xuống bàn, không hỏi một câu. Bữa tiệc "gia đình” kết thúc ở đây. Colia kéo thêm một anh bạn. “Xin lỗi, tôi với anh bạn này làm việc ở đây đã mười lăm năm nhưng chưa bao giờ thấy cảnh như thế này". - "Không sao bạn là bạn, hãy ngồi xuống, rót rượu ra?". Ngay lúc ấy người phụ trách nhà hàng, một cựu nhân viên Trekis, nhẹ nhàng bước vào với ba nhân viên nữa. Họ được rỉ tai là có các anh hùng trong nhà hàng. Chỉ huy dàn nhạc xuất hiện. Muốn chơi nhạc cho các anh hùng thực thụ.

- Các bạn rất dễ thương, - nhạc công mỉm cười. - Các bạn hãy ra lệnh, vì các bạn chúng tôi sẵn sàng phục vụ.

- Lệnh liếc gì, nhạc trưởng! Tuỳ ý ông chọn đấy! - Romanov đáp.

Dàn nhạc mở đầu bài hát đang thịnh hành: "Ta đã nếm nhựa bạch dương trong vườn xuân...". Các anh hùng ngồi trong nhà hàng nghe bài hát. Tự dưng họ thấy buồn và tủi thân: việc gì phải giấu huân chương? Họ quay ra phòng lớn. Tất cả khách hàng đứng dậy bắt tay chúc mừng, mời cùng ngồi. Tâm hồn các chiến sĩ như được sưởi ấm. Dàn nhạc vẫn chơi, chơi mãi, chơi cho họ, cho các anh hùng. Một buổi tối không bao giờ quên. Cuối buổi, một người đàn ông nhỏ bé đến ngồi cạnh. Ông ta chếnh choáng say nhưng vui vẻ: "Mừng các bạn, chúc mừng! - ông nói to. - Tôi có cảm giác các anh vừa hoàn thành một công việc hệ trọng". Ông làm một hơi cạn và bực bội ném cốc: “Còn tôi cày mãi cày mãi mà chẳng vớ được gì?". Cozlov buồn cười hỏi lại: "Ông cày ở đâu?”. Người đàn ông tì ngực vào bàn, nhìn quanh, giọng khàn khàn bí mật: "KGB?". Quanh bàn các anh hùng rung lên vì tiếng cười rộ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #44 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2012, 07:55:06 am »

Các anh hùng của cuộc chiến Afghanistan ở đất nước chúng ta không thiếu sự tôn trọng và luôn được quan tâm chú ý. Đất nước biết và yêu mến. Họ được lựa chọn vào các chức vụ cao của nhà nước và chính phủ, phụ trách các tổ chức xã hội. Báo chí nói đến, điện ảnh, truyền hình làm phim, trong sách của các tác giả uy tín nhất, những anh hùng từ Afghanistan luôn chiếm vị trí xứng đáng. Chỉ cần nêu ra đây một vài tên tuổi cũng đủ biết rằng, cho đến bây giờ, sau nhiều năm trôi quan tên tuổi họ vẫn được người đời nhắc đến: Alecxandr Ruxcoi, Pavel Gratrev, Boris Gromov, Ruxlan Ansev, Valeri Otrirov. Trong số hơn hai trăm nghìn cán bộ chiến sĩ được khen thưởng thuộc Lực lượng quân Liên Xô ở Afghanistan có 67 người được phong Anh hùng Liên Xô (hai mươi bốn người đã hi sinh). Bộ Nội vụ có đại tá Mikhail Ixacov được phong danh hiệu này. Có tin rằng KGB đệ trình danh sách đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng mười ba người. Nhưng có phải tất cả đều được chấp thuận hay không thì không rõ. Thậm chí về những người đã trở thành anh hùng người ta cũng im lặng suốt một thời gian rất dài. Trong hồ sơ cá nhân, bên cạnh tên họ có dòng ghi chú: "Không công bố với báo chí". Dù vậy tên của vị anh hùng đầu tiên cũng lọt ra các trang báo. Thực ra Anh hùng Liên Xô, đại tá Boiarinov được mô tả hơi dữ dằn. Báo chí viết ông quát tháo và chửi rủa sĩ quan dưới quyền ầm ĩ trong trận tấn công dinh thự. Có cảm giác ông không biết làm gì khác hơn ngoài việc trút lên đầu cấp dưới những lời chửi rủa bất nhã. Làm sao có thể tha thứ cho cái kẻ vô lương tâm và ác ý tung tin nhảm nhí như vậy được.


Chúng tôi tin những người cầm bút sau này nhắc sẽ, phải tự đặt cho mình câu hỏi tại sao mấy kẻ chỉ biết luôn mồm chửi bậy, hò hét, phét lác lại có thể hoàn thành nhiệm vụ phức tạp có một không hai chớp nhoáng chính xác và ít tổn thất về người đến như vậy. Nhưng thật tiếc phải thừa nhận rằng các hồ sơ tài liệu của chúng ta không nhắc nhiều đến vị anh hùng đầu tiên này, nếu có nói thì lại cũng là dẫn ý tay tác giả chẳng ai biết làm như đã tận mắt tận tai nghe Boiarinov quát tháo chửi bới trong trận đánh vậy. Làm sao chúng ta có thể không trân trọng lịch sử của chính mình, chấp nhận điều không thể là để một con người trung thực, anh hùng nhân chính bị vu khống. Trong một cuốn sách về chiến tranh Afghanistan có những dòng đọc mà ngạc nhiên: "Nếu không tính những người đã nhận Sao vàng vì có công đánh chiếm lâu đài Amin (có những người như thế) thì anh hùng kế tiếp trong số những người còn sống phải là sĩ quan quân dù Sergei Cozlov”. Những lời vô lí: tại sao lại không tính những người đã nhận ngôi sao anh hùng do chiến công đánh phiếm dinh thự của Amin? Đúng, đã có những người như vậy. Hay đạn bắn vào họ bằng cao su? Hay máu và sinh mạng của các đội viên "Zenit” và "Grom" không có giá? Không khó nhận một điều là chỉ huy chung là cả các sĩ quan KGB và sĩ quan dù. Trong cuộc tấn công lâu đài Dar-ul-aman, họ đã sát cánh kề vai với những chiếc BMP và BTR, không ai nấp lưng ai. Vậy tại sao lại chỉ kể người này, mà bỏ qua người kia? Có lẽ vì thế mà đến nay chúng ta không biết đại tá Grigori Boiarinov thực tế là người thế nào? Nhưng điều đó cần. Đã đến lúc phải đưa tên tuổi ông vào biên niên sử cuộc chiến tranh của chúng ta. Hãy dành cho ông vị trí xứng đáng...


Grigori Boiarinov là đứa con của thời đại mình. Ông sinh năm 1922, 17 tuổi tình nguyện vào lính. Tốt nghiệp trường sĩ quan lục quân Xverdlov năm 1941, nhận hàm thiếu úy, chức vụ đầu tiên ngoài mặt trận là chỉ huy trung đội súng cối. Số phận đã đưa ông lên mặt trận Tây Bắc. Ở đây ông qua trận thử lửa đầu tiên, lần đầu được thưởng huy chương “Vì lòng dũng cảm". Từ ngày ra đời, huy chương "Vì lòng dũng cảm" được đánh giá đặc biệt cao. Huy chương nào chả là huy chương, nhưng thật khó nói; tại sao huy chương này có uy tín như vậy, có thể vì nó có hình chữ thập Georgi vốn ở trên tấm huân chương dành cho những người lính dũng cảm từ thời Nga hoàng Sau cách mạng huân chương chữ thập Georgi không được dùng, nhưng lại ra đời huy chương "Vì lòng dũng cảm", nó trở nên phổ biến và được yêu quý trong Hồng quân. Thiếu úy Grigori Boiarinov được tặng thưởng huy chương này do đã cùng trung đội tiêu diệt một đại đội bộ binh phát xít. Cha của anh, ông Ivan còn vui gấp đôi khi biết tin này vì dưới thời Nga hoàng ông cũng đã được thưởng huân chương chữ thập Georgi. Tháng mười hai năm 1941 Boiarinov được chuyển sang trung đoàn khu trục ở mặt trận Tây Bắc; ngày 1 tháng hai năm 1942 biệt phái sang trung đoàn biên phòng của Bộ Dân ủy Nội vụ. Không rõ vì sao Boiarinov được đưa sang biên phòng. Trên mặt trận, một người lính, một sĩ quan đặc biệt phải tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, anh ta không tự mình là chủ mình - anh ta sẽ đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì để chiến đấu tiêu diệt quân phát xít. Ngày nay tên gọi đội quân của Bộ Dân uỷ thường khiến người ta nghĩ đến những đội đặc biệt chuyên tra tấn và xử bắn "kẻ thù” của chính quyền Xô Viết, đưa diện cần trấn áp đi đày. Nhưng biên chế của cơ quan này còn có các nhóm tình báo - phá hoại hoạt động sâu trong hậu phương của đối phương, họ trở thành nòng cốt của các đội du kích trong mạng lưới các tổ chức du kích, thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt ở bên kia chiến tuyến. Đó là công việc mà Boiarinov đảm nhiệm trong hơn hai năm rưỡi ở các mặt trận Tây Bắc, Leningrad và mặt trận thứ hai Pribaltich. ông phụ trách trường chuyên đào tạo xạ thủ bắn tỉa, huấn luyện biệt kích, bản thân nhiều lần đã chỉ huy các cuộc vượt chiến tuyến. Trong một chiến dịch, đội đặc nhiệm dưới sự chỉ huy của ông đã diệt gọn chỉ huy sở một sư đoàn quân Italia. Boiarinov được thưởng huân chương chiến công Cờ Đỏ. Các cựu chiến binh còn nhớ huân chương này quý giá thế nào vào năm 1942. Chiến tranh kết thúc, Boiarinov giữ cương vị tham mưu trưởng ở Bộ Tư lệnh Quân quản Biên phòng. Những năm sau đó ông phục vụ ở đơn vị biên phòng 106 thuộc Quân khu biên phòng Tây - Bắc. Tại đây đã xảy ra câu chuyện mãi mãi đi vào lịch sử của quân khu. Trên một chiếc máy bay nhỏ, Boiarinov truy đuổi ba kẻ xâm phạm biên giới... Chuyện không hề đặc biệt, nếu đó không phải là loại máy bay nhỏ chỉ có một chỗ ngồi dành cho phi công. Boiarinov đã buộc phải leo lên cánh máy bay ra lệnh bay. Chiếc máy bay hạ cánh xuống mặt vịnh Phần Lan đóng băng. Ông truy đuổi bọn này thêm mấy cây số nữa. Đến bờ, chúng nấp sau các mỏm đá bắn ra. Boiarinov dùng súng trường bắn trả, không để bọn gián điệp tẩu thoát qua biên giới. Sau đó đơn vị đến kịp, mấy kẻ đột nhập đầu hàng. Năm 1948, Boiarinov được cử đi theo học Học viện Quân sự thuộc Bộ An ninh Quốc gia Liên Xô. Tốt nghiệp xuất sắc, ông được giữ lại làm giảng viên học viện. Mấy năm sau, ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ tại Học viện Quân sự mang tên M. V. Frunze với đề tài về chiến thuật hoạt động du kích. Đề tài nghiên cứu của Boiarinov là những điều ông biết từ thực tế và đã được kiểm nghiệm trong điều kiện chiến đấu. Tờ Người Phrunze của Học viện ra ngày 14 tháng mười một năm 1959 viết về luận án Boiarinov: "Điều đặc biệt đáng chú ý và có giá trị của luận án là ở chỗ nó lần đầu tiên phân tích một cách khoa học các phương pháp tiến hành công tác huấn luyện tổ chức trong các đơn vị du kích, các nhiệm vụ biện pháp và các phương tiện sử dụng trong hoạt động tình báo và chiến đấu, về tổ chức phối hợp hành động với quân chủ lực. Vấn đề trình bày có độ sâu rộng do tác giả là người đã trực tiếp tham gia hoạt động trong các đơn vị du kích những năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại định giá được toàn diện những thành công và thất bại của từng chiến dịch, nắm khá bao quát nhiều vấn đề về tổ chức và tiến hành chiến tranh du kích. Luận án có nhiều đúc kết thú vị và có cơ sở khoa học". Sau đó Boiarinov trở thành giảng viên trường Cao đẳng Cờ đỏ mang tên Ph. E. Dzerjinski. Lúc này ông đã đủ điều kiện giảng dạy tốt là kiến thức khoa học kinh nghiệm thực tế phong phú. Boiarinov công tác ở đây mười tám năm. Suốt thời gian này ông viết nhiều công trình khoa học, phụ trách một phân khoa chuyên môn. Học trò của ông có nhiều, chính từ đó ông đã thành lập đội đặc nhiệm "Zenit" đầu tiên, là chi huy đội, sau đó sang Afghanistan năm 1979. Ông trở về vào tháng chín rồi lại quay sang đó vào tháng mười hai. ông hoàn toàn có thể ở phía sau, không ở hàng đầu xông vào lâu đài, không vào điểm lửa đó. Ông có thể, nhưng không làm vậy. Các học trò tự hào về ông. Cũng có kẻ trách ông già rồi còn xông pha nơi lửa đạn. Biết đáp lại sao đây? Câu trả lời tốt nhất có lẽ là chính cuộc đời Boiarinov. Một chiến sĩ viết thơ tưởng niệm. "Vĩnh biệt thấy, vĩnh biệt cha. Chúng con sẽ nhớ mãi về Người như một Anh hùng!". Mong kí ức tươi sáng về các anh hùng sẽ còn mãi.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #45 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2012, 12:21:46 pm »

Chương IV
CUỘC CHIẾN CHỐNG KHÔNG TẶC


Trích hồ sơ "ALFA".

Những năm 70 đã đi vào lịch sử. Trong mười năm đó, theo số liệu của các tổ chức quốc tế thế giới có 8.114 vụ khủng bố. Hàng nghìn người trở thành vật hi sinh cho sự lộng hành bạo lực của lũ kẻ cướp. Nhưng hành tinh xanh của chúng ta vẫn chưa biết những năm 80 đang tới sẽ là những năm tàn khốc khôn lường. Và con tính mở màn: chỉ năm năm đầu từ 1980 đến hết 1985 số lượng vụ khủng bố tăng gấp đôi. Những năm tiếp theo con số tiếp tục tăng: 1986 - 774 vụ, 1987 - 832 vụ, 1988 - 856 vụ... Năm 1980 diễn ra các chiến dịch giải phóng con tin lớn. Tháng tư năm đó đội đặc nhiệm “Deltal” của Mỹ do đại tá Charles Becvit chỉ huy thực hiện nhiệm vụ giải thoát con tin ở Teheran. Tiếp là chiến dịch thất bại hoàn toàn. Tám máy bay lên thẳng cất cánh từ hàng không mẫu hạm “Nimits" trên vịnh Peexich chỉ có sáu máy bay đến địa điểm tập kết mang mật hiệu “Sa mạc - I". Một trong sáu chiếc bị hỏng máy. Với số máy bay còn lại Becvit không dám tiếp tục chiến dịch. Ông mô tả đoạn kết thảm kịch diễn ra trên sa mạc cách thủ đô Iran về phía đông nam 200 dặm như sau: "... Chúng tôi đang bay về nhà. Có lệnh kiểm tra trang bị và rời ngay máy bay lên thẳng. Đội “Delta” bắt đầu chất đồ lên máy bay. Tôi đi từ máy bay này sang máy bay khác, đếm số người đang lên khoang từng máy bay, rồi vội vã lên chiếc đầu đội hình. 2h 40', mấy phi công khởi động làm nóng động cơ máy bay. Lốc bụi nổi lên mù mịt, tầm nhìn gần đến 0. Giữa các đợt gió, tôi bỗng nhìn thấy một chiếc EC - 130 vừa mới cất mình đã lật nghiêng sang trái. Có tiếng nổ. Một quả cầu lửa xanh sáng trong trời đêm. Bình chứa nhiên liệu của nó nổ. Thì ra một máy bay đang lăn bánh đến tiếp nhiên liệu bị đâm bởi chiếc EC - 130 mà nhóm "Blue" vừa mới leo lên. Tôi chạy vội đến nhưng chỉ tới được rìa đường. Nóng, không thể đến gần chiếc máy bay. Lửa bốc cao khoảng 100 đến 150 mét. Vũ khí đạn dược có thể nổ bất cứ lúc nào. Tôi chợt nghĩ tới thiếu tá Fish và đội "Blue". May quá, lát sau có báo cáo là họ kịp thoát ra được vào những phút cuối. Nhìn qua ngọn lửa có thể thấy chiếc máy bay lên thẳng đâm vào khoang chở hàng của máy bay tiếp dầu làm nó bốc cháy.


- Phải làm gì với mấy máy bay còn lại? - Kill hỏi tôi.

- Phá đi!

Tôi quay lại máy bay của mình, thấy các phi công chạy đến. Họ vừa leo lên khoang, thang đã rút, cửa sập lại. Chiếc máy bay cất mình lên đảo nửa vòng. Đây là chiếc thứ ba bay lên. Hai chiếc đang cháy nốt dữ dội. Gần 3 giờ sáng. Sau thời gian 4h 46’ ở trên mặt đất, đội "Delta" rời "Sa mạc - I". Khi mặt trời tên, chúng tôi đã đang bay trên vịnh Oman. Chiến dịch kết thúc thất bại hoàn toàn. Hao tổn rất nhiều thời gian, thần kinh, mồ hôi công sức, nhưng tất cả trở nên vô ích. Chúng tôi đã mất tám chàng trai dũng cảm tuyệt vời. Đất nước chúng tôi lâm vào một vị thế phức tạp”.


Mười hai ngày sau sự kiện trên, đội chống khủng bố "Pagoda" của lực lượng đặc biệt tinh nhuệ SAS (Anh) đột nhập đại sứ quán Iran tại Lon don. Trận đánh diễn ra chỉ mấy phút. Năm trong sáu tên khủng bố bị bắn chết, mười chín con tin được cứu, đưa ra ngoài bình yên vô sự. Về sau, trong bài phát biểu tại Hạ Nghị viện, bà Margaret Thatcher nói: "Cuộc tấn công cho người Anh niềm tự hào dân tộc". Tất cả các sự kiện nói đây, cả các hành động khủng bố, cả hoạt động chống khủng bố nói lên một điều rằng: thế giới đang bước vào kỉ nguyên của sự mở rộng chưa từng thấy của khủng bố, của bạo lực và cuộc chiến chống nạn dịch đó. Những biến cố thời kì đầu của thập kí mới ấy là lời cảnh báo đặc biệt cho nhân loại. Người Xô Viết lo lắng theo dõi các sự kiện ngày dồn dập trên thế giới. Liên Xô không bao giờ có cảm tình với bọn khủng bố, không tuyên bố ủng hộ bất kì tổ chức khủng bố nào. Đó là những điều chưa xảy ra trong lịch sử quốc gia của chúng tôi. Chúng tôi kịch liệt lên án tất cả các tổ chức, các nhóm khủng bố, dù dưới tên gọi nào, "Lữ đoàn đỏ" ở Tây Âu hay "Hồng Quân" ở Nhật Bản, dù với mục tiêu nào. Hành động khủng bố luôn ở ngoài vòng pháp luật trên đất nước chúng tôi. Nhưng trong chính sách đối ngoại của Liên Xô cũng tồn tại một luật không thành văn. Bộ Ngoại giao Liên Xô thực sự không có phản ứng trước các hành động khủng bố chống lại công dân Liên Xô làm việc ở nước ngoài. Cứ như không tồn tại những hành động tương tự. Và nếu Mỹ rùm beng về vụ bắt cóc, dù chỉ một công dân Mỹ, đe dọa áp dụng sức mạnh quân sự thì ngược lại, Moxcva thường im lặng trước các sự kiện đau buồn này. Đã có những vụ bắt cóc và thậm chí là giết hại công dân của chúng tôi như vậy. Có bao người không được trở về tổ quốc hoặc trở về quan tài kẽm, có bao đồng bào của chúng tôi đã là nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố, tiếc thay đến nay người ta không sao xác định được, bởi thời ấy k ông ai làm cái việc thống kê khủng khiếp ấy. Chỉ đến năm 1985, sự việc các công dân Liên Xô - nhân viên của sứ quán và cơ quan đại diện thương mại ở Beirut (Lebanon) bị bắt cóc nhanh chóng trở thành vụ tai tiếng khắp thế giới, Liên Xô mới lên tiếng phản đối việc bắt giữ công dân của mình và cử phái viên đặc biệt đến Lebanon và Syria để giải quyết số phận con tin. Nhưng vấn đề tất nhiên không chỉ ở phản ứng chính thức của các cấp chính quyền. Số phận các con tin đã được nhiều người biết đến, cả nước xúc động, lo lắng. Cũng trong năm 1985 còn xảy ra vài vụ khủng bố nhằm vào công dân Liên Xô và các cơ quan đại diện chính thức của Liên Xô. Bom nổ trước trụ sở cơ quan đại diện "Intourism" ở Beirut; một nhân viên sứ quán Liên Xô bị cướp xe hơi; một lái xe tên A. Levtrenco làm việc cho công ti xây lắp bị bắt làm con tin tại Libya; ở Cộng hòa Arập Yemen một quả lựu đạn nổ trong địa phận đại sứ quán Liên Xô khiến em bé con một nhân viên đại sứ quán bị thương; ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Yemen một kẻ khủng bố có vũ trang tấn công căn hộ của chuyên gia quân sự Liên Xô M. Xmirnov khiến ông này bị thương nặng; tại Cộng hòa Liên bang Đức - một quả bom nổ trước cửa cơ quan đại diện "Aeroflot" ở Hamburg. Danh sách các cuộc khủng bố vẫn còn dài. Phải đau xót thú nhận rằng, các cuộc khủng bố ngày càng có xu hướng tăng lên. Lối thoát nào để ra khỏi tình huống phức tạp này? Câu trả lời có vẻ như rõ ràng và đơn giản: nhà nước đưa công dân đến nơi xa xôi trên thế giới phải có trách nhiệm bảo đảm an toàn, trường hợp xảy ra điều bất trắc cần đem hết khả năng giải thoát cho họ. Lý thuyết là vậy, nhưng chúng ta phải là người thực tế vì hành động khủng bố đôi khi xảy ra ở những đất nước xa xôi, hoặc có quan hệ thù địch với chúng ta. Không nên quên trong nhiều trường hợp các nhà ngoại giao cũng bất lực. Khi đó chỉ còn biện pháp can thiệp quân sự. Tất nhiên, chúng tôi không nói đến việc sử dụng sức mạnh quân sự với quy mô lớn, mà chỉ nói đến lực lượng đặc nhiệm chống khủng bố. Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Thất bại trong chiến dịch giải phóng con tin mang tên "Móng vuốt đại bàng" ở Teheran của đội "Delta" Mỹ là một minh chứng cụ thể. Đại tá Becvit, một sĩ quan có kinh nghiệm, một chuyên gia có đẳng cấp trong lĩnh vực của mình đã phản ứng đầu tiên trước tin về việc sử dụng đội "Delta" trong một chiến dịch tương tự: "Trong đầu tôi không hề có ý nghĩ về khả năng tiến hành một chiến dịch giải cứu con tin. Hơn nữa, cứ suy luận một cách logic, thì ý định này có vẻ mạo hiểm. Khoảng cách từ nước ta đến Iran rất lớn, lại phải bay trong không phận Iran gần một nghìn dặm mới đến nơi hạ cánh, và cuối cùng tấn công vào cơ sở được bảo vệ chắc chắn như đại sứ quán nằm giữa trung tâm một thành phố bốn triệu dân có thái độ thù địch với chúng ta . Thật khó tưởng tượng một tình thế nào phức tạp hơn thế. Tại Sở chỉ huy phối hợp tôi nghe được mấy đề xuất ngu xuẩn. Một số người cho rằng quân ta có thể nhảy dù xuống, như khách du lịch, theo xe vào đại sứ quán?". Thực tế đã chứng tỏ nỗi lo lắng của Becvit là có cơ sở. Tuy nhiên lịch sử cuộc chiến chống khủng bố đã có nhiều chiến dịch thắng lợi, được thực hiện với trình độ nghiệp vụ rất cao. Trong đó có thể kể đến vụ giải thoát con tin ở sân bay Mogadisu do đội đặc nhiệm GSG-9 của Tây Đức thực hiện diễn ra chỉ trong bảy giây. Các nhân viên đặc nhiệm GSG-9 đã gắn vào cửa máy bay một cuộn băng gây nổ đặc biệt chuyên dùng tách các tầng tên lửa. Thiết bị nổ, cửa máy bay bật ra, đội đặc nhiệm xông vào bên trong máy bay và ném lựu đạn gây lóa mắt và chói tai. Bọn khủng bố choáng váng, tạm thời tê liệt, và khoảnh khắc đó đã đủ cho đội đặc nhiệm vô hiệu hóa chúng.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2012, 12:22:22 pm »

Chiến dịch giải thoát con tin do đội "Commandos" của Israel thực hiện tại sân bay Antebb (Uganda) có thể được coi là độc nhất vô nhị. Vào chiến dịch, một nhóm nhân viên tình báo MOSSAD được tung vào Uganda với trách nhiệm giữ liên lạc vô tuyến điện với cơ quan tình báo Israel. Họ hỏi han tình hình qua các con tin được bọn khủng bố phóng thích rất tỉ mỉ. Để ngụy trang cho chiến dịch, trong các cuộc điện thoại với nước Pháp, họ luôn nhấn mạnh Israel sẵn sàng đàm phán với bọn khủng bố vì tin bọn khủng bố có khả năng nghe lén thấy. Trong ngày triển khai chiến dịch, đội "Commandos" bay từ Tel-Aviv đến Kenia. Ban đêm một máy bay gắn thiết bị đặc biệt dùng vô hiệu hóa hệ thống rada sân bay hạ cánh xuống Antebb. Trong trận đánh chớp nhoáng, đội chống khủng bố đã chiếm được nhà ga để máy bay nơi bọn bắt cóc giam con tin. Chiến dịch kéo dài 53 phút, kế hoạch là 55 phút. Bọn khủng bố bị tiêu diệt hoàn toàn. Đội "Commandos" mất một người, chín mươi con tin có ba người bị chết.


Những chuyện nêu trên là vinh quang thuộc về người khác. Chúng ta ghen tị vì Israel, Đức, Anh có các đội đặc nhiệm trình độ cao như vậy. Còn ở nước ta thì sao? Các phương tiện thông tin đại chúng quen khen ngợi phương Tây, nói rằng họ lại đi trước chúng ta. Điều này khó có thể kiểm chứng vì không ai tổ chức thi giành giải "đội đặc nhiệm siêu hành tinh", và việc tranh ngôi xếp hạng chỉ là vô bổ. Và các chiến dịch đội chống khủng bố "Alfa” thực hiện thành công có lẽ là điều minh xác nhất cho trình độ nghiệp vụ tuyệt vời của họ không cần bất cứ cuộc thi nào.


Năm 1981. Tại Xarapul (Cộng hòa tự trị xã hội chủ nghĩa Udrmut), vô hiệu hóa hai tên khủng bố trang bị súng tiểu liên bắt cóc 25 học sinh trường trung học làm con tin.

Năm 1983. Giải thoát máy bay TU- 134 với năm mươi bảy hành khách bên trong tại Tbilixi.

Năm 1986. Hai nhân viên quân sự ở Upha cướp chiến TU- 134. Tính mạng bảy mươi sáu hành khách bị đe dọa. Đội đặc nhiệm tấn công, bắn chết một tên khủng bố, tên kia bị thương. Con tin bình yên vô sự.

Năm 1988. Một nhóm tội phạm do tên cầm đầu Iaksians Tbilixi dùng trẻ em để yêu sách: con tin là các học sinh lớp 4. Suốt cuộc đấu chọi tâm lí dai dẳng, nhờ hành động khéo léo và dũng cảm của các chiến sĩ đội đặc nhiệm "A", toàn bộ học sinh đã được cứu thoát. Nhưng tên khủng bố bay sang được Israel nhưng lại bị dẫn độ trở về.

Năm 1988 (tháng tư). Vụ tấn công máy bay bị cướp ở Vag. Tên khủng bố bị vô hiệu hóa, con tin được cứu thoát.

Năm 1989 (tháng năm). Chiến dịch ở Saravo cứu thoát bảy con tin gồm cả trẻ nhỏ. Bọn khủng bố kháng cự bị tiêu diệt hoàn toàn.

Năm 1990 (tháng tám). Dẹp băng cướp vũ trang "Xám" ở Erevan. Sau cuộc đấu súng, ba tên cướp bị bắn chết, hai tên bị thương, sáu tên bị bắt giữ. Tại Xukhumi, giải phóng phòng biệt giam bị các tội phạm có vũ trang chiếm.

Năm 1990 (cũng tháng tám). Dẹp yên vụ bắt cóc máy bay hành khách TU-134 ở Taskent.


Đó là bảng thành tích chiến đấu của đặc nhiệm "Alfa" trong mười năm qua. Điều đặc biệt láng lưu ý là các chiến dịch đều kết thúc thắng lợi. Trong số con tin vẫn có người thiệt mạng, bị thương, nhưng điều đó đều xảy ra trước khi đội chống khủng bố vào cuộc. Trong vụ ở Tbilixi, máy bay đang trên không trung thì bọn cướp đột nhiên xông vào buồng lái, xả súng bắn chết hai phi công, một nữ tiếp viên và hai hành khách. Khi đội đặc nhiệm vào cuộc, không mất thêm nạn nhân nào, bọn tội phạm bị vô hiệu hóa. Tại Upha, ngay từ phút đầu cướp máy bay, tên khủng bố đã giết một hành khách. Hắn bị bắn hạ sau đó.


Đó là tình hình Liên Xô. Còn thế giới chấn động với những con số kinh hoàng: hàng chục, hàng trăm cái chết trong các vụ khủng bố, một phần do trình độ nghiệp vụ thấp kém của các cơ quan đặc nhiệm. Tháng mười một năm 1985, chiến dịch giải cứu con tin trên thiếc Boeing-737 của hãng hàng không Ai Cập tại sân bay "Valetta" (Manta) đã để hơn sáu mươi người hi sinh. Tháng năm năm 1986, tại phi trường Colombo một quả bom phát nổ, hai mươi người chết, bốn mươi mốt người bị thương. Tháng chín năm 1986, tại sân bay Karachi, trong cuộc tấn công một máy bay bị cướp, mười bốn hành khách và thành viên phi hành đoàn bị bắn chết, chín mươi tám người bị thương...


Nhưng chúng ta sẽ quay lại với những năm đầu thập niên 80, khi cả thế giới ngập trong làn sóng mới của nạn khủng bố toàn cầu. Liên Xô không là ngoại lệ và đã có những biện pháp kiên quyết về vấn đề này.
Ngày 17 tháng mười hai năm 1981, đội đặc nhiệm "A" được lệnh báo động...
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2012, 12:23:19 pm »

Hồ sơ đặc biệt KGB. Tuyệt mật. 01 bản.

"Ngày 17 tháng mười hai năm 1981. 13h 30'. Thành phố Xarapul. Nước cộng hòa Xô Viết tự trị Udmurt. Hai nhân viên quân sự đơn vị 13977, binh nhì Melinieov A.G. - năm sinh 1962, Colpacbaev A. K. - năm sinh 1960, đoàn viên thanh niên cộng sản, đã bỏ gác, mang theo hai tiểu liên Kalasnicov và 120 viên đạn đến trường trung học số 12 bắt làm con tin 25 học sinh lớp 10. Bọn này yêu cầu được cấp hộ chiếu và visa xuất cảnh, đòi được đưa sang nước Mỹ hay bất cứ nước tư bản nào khác bằng máy bay. Chúng đe dọa bắn chết con tin nếu các yêu cầu không được đáp ứng. Một đơn vị đặc nhiệm thuộc Cục VII được cử đến Xarapul. Thượng tướng Chebricov V. M., Phó chủ tịch KGB trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Đội đặc nhiệm có mặt ở nơi có sự cố lúc 0h 30"


... "Xarapul" là chiến dịch chống khủng bố đầu tiên sau chiến tranh Afghanistan. Các nhân viên đặc nhiệm "A" thường nhớ lại chiến dịch này với cảm giác của những người đàn ông vững vàng, dày dạn kinh nghiệm hồi tưởng bước chập chững đầu đời của mình. Đội "Alfa" sẽ phát triển số lượng, sẽ tích lũy nhiều kinh nghiệm, sẽ vũ trang bằng những phương pháp và cách thức đấu tranh tiên tiến chống chủ nghĩa khủng bố học tập từ các đội đặc nhiệm xuất sắc ở nước ngoài. Nhưng đó là chuyện của mấy năm sau... Còn vào tháng mười hai năm 1986, lệnh báo động chiến đấu toàn đội. Anh em chuẩn bị và lên đường. Số đạn dược mang theo thừa đủ để đánh nhau cả tháng... Khi trở về họ lấy làm ngạc nhiên vì đã mang theo quá nhiều như vậy trong khi thực tế đã không tốn một viên đạn nào. Nhưng làm sao trước diễn biến sự việc cơ chứ! Về sau, kinh nghiệm mới làm anh em sáng mắt ra và biết rằng nhiệm vụ chủ yếu của họ không phải là bắn thật nhiều. Bọn khủng bố bao giờ cũng sử dụng con tin làm lá chắn sống cho mình, cả trong các vụ cướp máy bay hay bất kì vụ cướp nào khác. Chẳng hạn tên Iaksians và đồng bọn của hắn đã đẩy trẻ em ra trước họng súng? Có họa điên mới bắn khi ấy. Do vậy vũ khí cần nhất ở đây phải là sự tác động tâm lí và những tính toán phối hợp chính xác. Qua phương tiện thông tin đại chúng, có nhà lãnh đạo cấp cao đã phát biểu cho rằng người ta đều có thể có lúc nhầm lẫn. Đội đặc nhiệm chống khủng bố không có quyền này. Mỗi sai lầm của họ có giá trả bằng máu, bằng sinh mạng con người. Sự kiện Thế vận hội Olympie năm 1972 với những sai lầm của đội đặc nhiệm GSG-9 chính là ví dụ minh chứng cho kết luận đó Tạp chí Paris - Match viết về sự kiện này như sau:


"… Cảnh sát Đức hi vọng đêm tối sẽ là đồng minh của họ. Làng Olympic tĩnh lặng. Cái yên lặng chết chóc: hồi cuối vở bi kịch sắp đến. Một chiếc xe bus mini hiệu "Volksvagen" xanh đen đỗ trước khu nhà của đoàn Israel. Bọn khủng bố Palestine từ chối không nhận xe, chê quá nhỏ, ngồi trong không thể tự vệ. Một chiếc xe quân sự khác được đưa đến. Tên khủng bố Palestine chăm chú xem xét. Sau đó chín con tin tay trói quặt sau lưng bị đẩy lên xe dưới họng súng. Xe lăn bánh đến địa điểm đã định ở phía tây làng Olympic, nơi có ba chiếc trực thăng nổ máy chờ sẵn. Một cái bẫy đã dăng sẵn trong sân bay. Nhân viên đặc nhiệm với chó nghiệp vụ đi cùng đã phong toả đường băng. Những nơi khuất có các xạ thủ bắn tỉa ngón tay sẵn sàng trên cò súng. Khi có đèn tín hiệu ở máy bay lên thẳng xé màn đêm, các đèn pha xe BTR phòng không sẽ đồng thời bật sáng... Bi kịch diễn ra chớp nhoáng. Hai tên khủng bố ra khỏi máy bay lên thẳng tiến về chiếc "Boeing” để thăm dò. Đột nhiên đèn máy bay lên thẳng sáng. Có phải là tín hiệu không nhỉ? Cánh sát quét đèn pha trên đường băng. Cuộc đọ súng bắt đầu. Một quả lựu đạn nổ trong chiếc máy bay lên thẳng. Tên khủng bố đã giật kíp kết liễu đời mình và giết chết các con tin hắn đang quản. Súng bắn khắp nơi. Bốn người Israel khách chân tay bị trói nhận một loạt tiểu liên bắn gần như gí sát người. Hết sức bất ngờ, đến mức không ai trong số họ có thậm chí là một cử chỉ phản ứng tự vệ. Mọi sự kết thúc. Thất bại hoàn toàn. Mười tám giờ căng thẳng chấm dứt trong máu. Trong nỗi căm thù và cảm giác xấu hổ".


Tấn bi kịch làm náo động thế giới. Tại Tel - Aviv, học sinh trung học tập trung biểu tình trước tòa đại sứ quán Đức. Đại sứ Đức Giexco fon Puttcameir gọi tấn bi kịch xảy ra ở Munich là "những ngày nhục nhã” của đất nước. Nước Mỹ như lên cơn sốt. Trước hàng rào sắt của đại sứ quán Đức ở Washington, William Perl - thủ lĩnh "Liên đoàn bảo vệ người Do Thái" dẫn đầu đoàn biểu tình: "Chúng tôi buộc tội chính phủ Đức cẩu thả gây ra tội ác. Chính phủ Đức phải chịu trách nhiệm trước tấn thảm kịch này!”. Những tiếng thét giận dữ chấn động Nghị viện Đức. Nước Đức đã trả giá đắt cho một chiến dịch thất bại".


Chúng ta thật vui mừng và tự hào mà nói rằng trong lịch sử đội đặc nhiệm "Alfa" chưa hề có những vết nhơ như vậy. Và Xarapul là thành công lớn đầu tiên của đội. Tất cả con tin đều được giải thoát, còn bọn khủng bố đầu hàng, đội đặc nhiệm không tốn một viên đạn. Nhiều năm sau một tờ báo trung ương đưa tin: “Sự kiện ở Udmurd lúc đó được nhắc đến rất nhiều...“. Hôm ấy, tại một trường phổ thông, tiết học cuối cùng sắp hết, có hai gã lính mang súng xông vào lớp 10 “B" tuyên bố: "Chúng mày là con tin chúng mày sẽ được thả nếu người ta đưa máy bay cho chúng tao bay ra nước ngoài...”. Suốt tối, suốt đêm hôm đó lặp đi lặp lại bài giảng kinh khủng đó. Hàng trăm người không thể chợp mắt: đó là các em học sinh các cha mẹ, nhân viên cảnh sát, nhân viên KGB và bên quân đội. Một số ý kiến từ phía quân đội đề nghị chiếm lớp học xe tăng tấn công. Nhưng sức mạnh không làm nên chiến thắng, mà là trí tuệ và phép tính chính xác. Trưởng phòng an ninh quận, đại úy Vladimir Orekhov đề nghị được làm con tin thay cho các em học sinh, sau đó tìm cách dàn xếp với bọn tội phạm. Cựu chủ tịch KGB của nước Cộng hoà Tự trị Udmurd là V. Deunev kể: "Orekhov suốt đêm tìm cách tiếp xúc với bọn khủng bố để thương lượng trong khi bọn cướp ngón tay đặt sẵn trên cò súng. Điều gì giúp anh chịu đựng một áp lực căng thẳng quá sức người như vậy? Dĩ nhiên là trí tuệ. Và cả sự rèn luyện thể lực phi thường nữa”. Tất cả những điều đó đều rất đúng. Đã có một nhân viên an ninh quốc gia, đại úy Orekhov và hàng chục người khác chiến đấu để giải thoát các em học sinh. Nhưng người ta lại không nhắc tên những người đã đến hiện trường vụ bắt cóc lúc 0h30' đêm 18 tháng mười hai, và lúc 5h 28' đã tước vũ khí của bọn tội phạm. Họ là ai vậy? Sao không có lời nào tiết lộ điều này? Cũng cần nói thêm đây là một cung cách rất vô li của giới truyền thông nước ta đối với các vấn đề liên quan đến đội đặc nhiệm "Alfa", và nó được duy trì khá lâu mãi đến sau này. Không chỉ các nhà báo có lỗi, lỗi này chủ yếu thuộc về ban lãnh đạo KGB vì họ có chủ trương đặt đội trong vòng bí mật tuyệt đối. Điều này là có thể hiểu được vì thực ra cũng không cần quảng cáo cho đội. Nhưng dù sao cũng nên có sự dung hoà để bí mật không bị tiết lộ và cũng không để cho những anh hùng với bao chiến công như vậy không được ai biết đến. Hơn nữa, nếu biết có tồn tại một đội đặc nhiệm hùng mạnh như vậy, hẳn ý định gây tội ác của bọn tội phạm có thể chùn lại chăng? Điều ấy thật là quan trọng. Trên thực tế, đội không hề được nhắc đến. Hai tên khủng bố Melinicov và Colpaebaev bỏ trạm gác đột nhập trường học. Chúng đã sắp đặt kế hoạch điềm nhiên nói là được cử đến tìm những trái mìn chống tăng hình như các em học sinh đào được và đang cất giấu đâu đó. Người gác cổng cả tin cho phép chúng vào trường. Lên đến tầng hai, bọn chúng xông vào lớp học. Colpaebaev bắn một loạt đạn lên trần nhà, tuyên bố cả lớp bị bắt làm con tin: hai mươi lăm học sinh và một cô giáo. Đó là lúc 13h30'. Bắt đầu cuộc chiến mười sáu tiếng đồng hồ vì mạng sống của lũ trẻ. Các chuyên gia tâm lí đánh giá khoảng thời gian nửa hay một tiếng đầu tiên rất quan trọng. Người tiếp xúc ban đầu với bọn khủng bố cần biết ổn định tình hình, thương lượng lập tức và trấn an chúng. Trong các phút đầu đó, tinh thần những tên tội phạm hết sức căng thẳng, rất dễ bị kích động nguy hiểm cho tính mạng con tin. Công lao của đại úy Vladimir Orekhov, người có đủ trình độ nghiệp vụ để mở đầu cuộc đàm phán với Melinicov và Colpacbaev là rất lớn. Anh đã tỏ ra hiểu và có sự cảm thông nhất định với bọn cướp, trò chuyện khiến chúng tin cậy, không đe dọa, không thô lỗ. Đồng thời cũng cứng rắn, không dao động khi phải quyết định. Với yêu cầu được bay sang Mỹ hoặc một nước tư bản nào đó, anh nói ngay việc này hoàn toàn không đơn giản, cần phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết, làm hộ chiếu xuất cảnh. Tiếp đó, Melinicov và Colpacbaev buột phải bận bịu viết bản khai và các thứ giấy tờ khác, trả lời phỏng vấn. Bằng cách đó người ta đã tranh thủ được thời gian, tìm hiểu thêm thông tin về bọn tội phạm đang nắm trong tay các vũ khí nóng. Khu vực xảy ra vụ bắt cóc con tin được một trung đoàn quân cảnh vệ giám sát còn lớp học và các con đường dẫn tới đó bị nhân viên tác chiến KGB và Bộ Nội vụ ở địa phương bao vây. Đại úy Orekhov thuyết phục được bọn khủng bố trước hết thả các em nữ sinh và cô giáo, sau đó thả thêm một số em khác. Cả lớp chỉ còn bảy cậu bé trong tay bọn tội phạm. 0h30' đội "Alfa" có mặt ở Xarapul. Họ đã làm một cuộc hành quân chớp nhoáng vào ban đêm theo con đường đóng băng trơn như mỡ từ sân bay Igiev đến. Trên đường đi họ vượt chiếc ôtô bus chở đội cảnh sát đặc biệt thuộc Bộ Nội vụ đang trên đường lao tới nơi xảy ra biến cố.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Năm, 2012, 12:28:57 pm gửi bởi nhinrathegioi » Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #48 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2012, 12:24:30 pm »

Sergei Goncharov, phó chỉ huy đội “Alfa" kể.

- Khi chúng tôi đến, cảm tưởng như cả thành phố không ngủ. Dân chúng lũ lượt kéo đến ngôi trường. Một vòng người chật ních quây cổng trường, cảnh sát khó khăn lắm mới ngăn được họ. Tôi cùng đồng chí chỉ huy đội là Zaixev bước vào phòng của ban tham mưu "tình trạng khẩn cấp" nằm ở tầng một ngôi trường. Số tướng lĩnh đông đến ngạc nhiên. Có mặt thứ trưởng Bộ Nội vụ Liên xô, các tướng lĩnh từ quân khu, từ Ijevxc đến. Tất cả đều cố gắng tham gia giải quyết. Nhưng họ không có kinh nghiệm tiến hành một chiến dịch như vậy bởi vì đây là một trong những vụ bắt cóc có vũ trang đầu tiên ở nước ta. Trong lúc ban tham mưu bàn bạc tìm giải pháp, người đứng đầu cơ quan an ninh sở tại là đại úy Orekhov đàm phán với bọn khủng bố. Chúng tôi yêu cầu cung cấp tin. Đại uý kể vắn tắt, báo trong lớp học còn bảy con tin anh đang thuyết phục bọn khủng bố tin rằng chúng sẽ được cấp hộ chiếu xuất cảnh. Hai tên tội phạm không muốn nhượng bộ. Chúng tôi lên kế hoạch chốt người vào các điểm quan trọng mặc áo giáp chống đạn mũ sắt, vũ khí. Suốt gần bốn tiếng đồng hồ với mũ sắt trên đầu, đến lúc bỏ ra, có cảm giác như mình không còn đầu nữa. Trường vắng, yên lặng đi trong hành lang các mảnh titan trên áo chống đạn chạm nhau lạch cạch, giầy nghiến ken két. Đành phải cởi giầy, mang bít tất mà đi.


Đêm khuya, ai nấy đều mệt mỏi. Bỗng cánh cửa bật mở. Chúng tôi nâng súng lên. Bọn cướp cho phép một cậu bé đi vệ sinh. Chúng tôi đưa em về ban chỉ huy hỏi vị trí ngồi của hai tên tội phạm. Chúng ngồi sau bàn giáo viên, súng chĩa vào con tin. Chúng tôi yêu cầu em trở lại lớp học và nói với bọn khủng bố là trong trường vẫn yên ắng.


Valeri Boscov, nhân viên đội đặc nhiệm “A”:

- Cuộc đàm phán khó khăn và kéo dài khá lâu đã kết thúc thắng lợi. Để đổi lấy hộ chiếu xuất cảnh, bọn khủng bố phải thả hết nốt con tin là bảy em học sinh. Kết quả chỉ còn hai tên tội phạm trong lớp. Anh em quan sát thấy một tên vung tay tuyệt vọng và hiểu chúng đã nhận ra phép tính sai lầm của mình. Nói tóm lại chúng tôi đã qua mặt chúng trong ván bài này.

Sergei Cuvưlin, nhân viên đội đặc nhiệm “A”:

- Chúng tôi đã sẵn sàng tấn công. Bỗng cánh cửa bật mở, Melinicov tay ôm súng bước ra. Tôi tiến lại gần hỏi:

- Anh cần gì?

- Tôi cần gặp đại uý Orekhov...

Tôi ngoái đầu nhìn, Zaixev đứng gần đó. Anh lắc đầu im lặng: không gọi.

- Orekhov đi rồi.

- Không, tôi yêu cầu gặp đại úy...

Tôi bước lại gần hơn, cố nói bình tĩnh:

- Đề nghị bỏ súng xuống.

Hắn còn lầu bầu cái gì đó, tôi nhắc lại:

- Bỏ súng xuống.

Melinicov bỏ súng xuống thật rồi lủi vào lớp đóng sập cửa lại. Đúng lúc đó Gontrarov và Zotov từ chỗ ẩn nấp chạy ra lao đến cửa. Có lẽ vì hồi hộp họ lại đẩy ngược cánh cửa vào trong. Nhưng đối với bọn khủng bố thì đây cũng là một cú sốc. Khi chúng tôi lao vào, Melinicov đứng sau cánh cửa, mặt tái mét, còn Colpacbaev kề khẩu súng lên vai, cười gằn giận dữ. Không rõ hắn ta định bắn hay chỉ dọa, lập tức khẩu súng bị đánh bật văng ra xa. Trong nháy mắt gã này đã nằm úp mặt xuống sàn nhà, tay tra trong còng. Mọi việc kết thúc, không xảy ra điều đáng tiếc nào. Mặc dù lúc đó hoàn toàn có thể cho hắn xơi một viên đạn.


Trận đánh chống khủng bố đầu tiên của đội "Alfa" đã kết thúc tốt đẹp. Không máu chảy, không tiếng súng. Chúng tôi đã thành công, bọn khủng bố còn trẻ, chưa có kinh nghiệm, yếu tâm lí. Nhưng món quà như thế sau này các chiến sĩ đội đặc nhiệm không còn được số phận dâng tặng nữa. Họ sẽ phải chạm trán mặt đối mặt với bọn tội phạm điên cuồng sành sỏi trơ tráo.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Năm, 2012, 12:25:27 pm »

Kĩ năng tác chiến của đội viên "Alfa" thật đáng kinh ngạc. Nhiều người đã thử kiểm tra các chiến sĩ. Nhưng hầu như họ đều phải hổ thẹn, không phải chỉ vì bố trí một cuộc kiểm tra chưa có tiền lệ rất khó khăn mà còn vì các tiêu chuẩn đánh giá áp dụng cho các nhân viên KGB bình thường không phù hợp với họ. Chẳng hạn đánh giá với việc đột nhập máy bay trong nửa phút là giỏi hay kém? Những cán bộ thâm niên trong KGB nhưng không nắm được đặc thù công tác của đội, có lẽ sẽ rất thán phục. Nhưng như vậy hoá ra không đáng thán phục chút nào. Ông Charles Becvit nhấn mạnh: "Nếu một sinh viên đại học Mỹ ngủ gật trong giờ văn học Anh, anh ta sẽ bị điểm dưới trung bình trong kì thi. Còn nếu học viên đặc nhiệm "Delta" ngủ gật trong giờ học về tác chiến tấn công, về sau chắc chắn sẽ nhận một viên đạn vào trán". Chúng tôi không muốn kể về những chuẩn mực, những trắc nghiệm bình thường đối với nhân viên của đội. Những con số, dù rất cụ thể rõ ràng không nói hết cấp độ nghiệp vụ của họ. Các sự việc thực có sức thuyết phục hơn. Chẳng hạn, từ khoảng cách 100 mét, một tay thiện xạ “Alfa" bắn thủng đồng năm xu chắc chắn gây ấn tượng mạnh. Với những con dao phóng qua khung cửa sổ từ khoảng cách 30 mét, hay phát súng cực nhanh bắn bằng súng ngắn “Macarov”, "Steskin" và các loại khác ở mọi tư thế đứng, nằm, ngã, nằm sấp, nằm ngửa còn ấn tượng hơn nhiều. Chúng ta tất nhiên đều biết bọn khủng bố ngày nay không đơn độc trong hành vi gây tội ác, không được đào tạo, và cũng rất biết sáng tạo những cách thức tàn bạo để đạt mục đích của mình. Và một người đơn độc không thể chiến thắng, cần có cả tập thể đoàn kết, phối hợp ăn ý dù chỉ với một cái liếc mắt, cả khi không nói nửa lời. "Alfa" đã đạt đến trình độ này chưa? Đó là câu hỏi các cấp lãnh đạo nhiều lần đã đặt ra với họ. Đôi khi cố ý, đôi khi vô tình. Một lần tại sân bay, chứng kiến "Alfa" tập trên máy bay, cục trưởng KGB khu vực Moxcva đã tranh luận và đánh cuộc với chỉ huy đội: nếu vị tướng nghe thấy hoặc qua cửa sổ máy bay nhìn thấy các chiến sĩ tiềm nhập máy bay thì "Alfa" thua cuộc. Vị tướng là người dày dạn kinh nghiệm, ông tin là mình thắng; làm sao lại không nghe được tiếng lạo xạo ngoài máy bay và không thấy thân máy bay khẽ rung chứ. Chắc chắn ngon ăn, ông sẽ bóp mũi cánh chống khủng bố này cho xem. Được, đánh cuộc thì đánh cuộc. Ông cùng với chỉ huy đội đặc nhiệm ngồi vào khoang hành khách chọn lấy cho mình một chỗ thuận tiện rồi ngồi im, dỏng tai lắng nghe. Ngồi yên một lúc, cảm thấy bất tiện, ông khơi mào câu chuyện. Người nói đi, người nói lại, thời gian trôi đi, tướng quân liếc đồng hồ, đùa: "Quân của anh ngủ rồi kìa?”. Bỗng nhiên, trong chớp mắt, khoang hành khách đang vắng tanh bỗng đầy người. Họ mặc đồng phục, mũ sắt, súng tiểu liên, súng lục. Một chớp nổ lóa mắt, một tiếng quát khô khốc: "Đưa tay ra sau đầu! Úp mặt vào đầu gối!”. Chỉ huy đội thành thạo làm theo răm rắp. Vị tướng đang muốn liếc mắt xem họ đột nhiên từ đâu hiện ra như ma hiện vậy nhưng vừa hơi ngửng đầu đã có tiếng quát bên tai: "Ngồi yên?". Tướng quân rúm người, chỉ huy đội ở bên cạnh cười phá lên, mặt vẫn úp vào đầu gối: "Thế nào, thưa tướng quân, chúng tôi đã thắng rồi chứ ạ?” - "Thắng, các anh thắng rồi?" - Cục trưởng lẩm bẩm vẻ miễn cưỡng, tay vẫn ôm đầu cúi xuống. Sau đó trấn tĩnh lại, ông thì thào: "Anh ra lệnh cho họ thôi đi!".


Những chuyện như vậy không hiếm. "Alfa" là hiện tượng hết sức nghịch lí. Một đội quân như vậy mà không có nổi trường bắn riêng, thường xuyên đi mượn, đi thuê của nơi khác. Thật bất tiện. Nhưng không có cách khác. Thí dụ, một lần, họ đến một bãi tập, các nhân viên của đội gặp ngay một tay đại úy quân đội nghiêm khắc. Anh này liếc mắt nhìn những chàng trai mặt đồng phục nửa dân sự, nửa quân sự với mái tóc dài, hoàn toàn không phải kiểu tóc quân nhân. Anh ta cười đánh cho một câu: "Du kích…". Phải ở vào địa vị một sĩ quan dự bị mới tập trung, loại sĩ quan mà người ta thường tặng cho cái tên đích đáng là "quân du kích” dù chỉ một lần, thì mới thấm thía sự khinh bỉ và cay độc mà tay sĩ quan chính quy này biểu lộ. Các chiến sĩ đội "Alfa” hiểu cả. Họ lặng im. Họ đã quen với nhiều tình huống và luôn tuân theo một lời giáo huấn cũ là cứ việc kể đủ mọi chuyện về bản thân, trừ sự thật. Lầu này họ lại bằng lòng chấp nhận cái vỏ tay đại úy gán cho, chịu làm đồ "du kích" trong vài giờ. Tay này đắc ý, đi dọc theo hàng lính, nói:

- Bây giờ trung sĩ Xemionov sẽ giới thiệu quy tắc an toàn xạ kích hướng dẫn cách cầm súng để bản thân người bắn và người bên cạnh không bị sát thương.

Anh ta xoay người vẫy trung sĩ. Anh này đưa các sĩ quan lên tuyến bắn, cố gắng giảng giải rất lâu cách lắp băng đạn, đưa đạn lên hộp khóa nòng, sau đó ra lệnh cho tốp đầu: "Bắn!". Ba nhân viên "Alfa" nâng súng bắn liền một băng. Trung sĩ liếc các sĩ quan trẻ bực bội, định nói tại sao không bắn ba phát một, nhưng anh ta im lặng. Trung sĩ chạy trước đến tấm bia, khi các chàng trai đến theo thì thấy anh ta trố mắt: không một viên chệch mục tiêu. Họ thảo luận về kết quả, khi ngoảnh lại tay trung sĩ biến mất từ lúc nào. Anh ta quay về chỗ đại úy. Anh này hào hứng hỏi:

- Có chuyện gì vậy, Xemionov? Được mấy điểm mười? Tôi biết các anh lắm, các chàng du kích ạ. Lại dùi lỗ bằng tuôcnơvit chứ gì?

Trung sĩ mang tấm bia đến. Đại úy nhấc lên giơ ra ánh sáng. Anh ta có vẻ bối rối. Rất giống lỗ đạn khoan. Nhưng chúng nhiều quá và tập trung đến nỗi... Không thể tưởng tượng được... Đại úy là tay từng trải, đã gặp khối tay súng, quá biết các thiện xạ du kích nghĩa là gì. Toàn là những kẻ không biết bắn. Một lũ không biết bắn cả thôi. Còn ở đây, thật quỷ quái, tấm bia bị đạn bới nát như cháo. Đại úy giơ lại tấm bia ra ánh sáng.

- Không tin được nhỉ? - Grigori Zolotovxki, một trong những tay súng giỏi của "Alfa" hỏi đại úy.

- Các anh tin được à? Còn tôi có lẽ không tin...

Đại úy liếc những khuôn mặt tươi cười của "các chàng du kích" và nghĩ họ thông đồng nhau đánh lừa mình. Anh ta lắc đầu, trách:

- Ôi, các người, thế mà là người lớn nghiêm chỉnh, tôi biết ngay các cậu dùng que thông nòng đục lỗ mà!

- Thôi được, thưa đại úy, chúng tôi đùa một tí ấy mà. Anh đứng đây, nếu thích thì cứ xem. - Zolotovxki nói. Và anh hô:

- Tốp hai bước lên, bước đều, bước!

Với tốp này kết quả cũng hệt như vậy. Cả đại úy lẫn trung sĩ đứng bên cạnh cùng im lặng, cảm thấy có điều gì đó không ổn. Thỉnh thoảng họ lại cùng nhân viên "Alfa" tiến lại gần tấm bia, nhìn nhằm nhằm vào tấm bia, nghe tiếng thở dài thất vọng của các “du kích" khi phát đạn trúng điểm “9". Sau buổi bắn, không nói một lời, đại úy tiễn anh em ra tận ôtô, nhìn vào bên trong và hỏi, giọng ngạc nhiên:

- Thế các anh từ đâu tới vậy?

Các chiến sĩ cười vang. Thế mà anh bảo "biết tỏng cả rồi".

Ôtô chuyển bánh lao đi. Một cậu hét to:

- Đúng, chúng tôi là du kích, thưa đại úy, du kích đấy! Đừng thắc mắc... Chúc ngủ ngon nhé!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM