Các bạn thân mến

Chủ đề Tăng- Chống tăng cũng đã đầy và không còn nhiều điều thú vị. Nên đây là lúc chúng ta chuyển sang chủ đề mới: Máy bay.
Dĩ nhiên, đích đến của chủ đề này sẽ là viễn cảnh một cuộc chiến giữa những chiếc Raptors (F15SE/F22/F35) với Flankers (Su27/Su30/SU35/T50) hoặc Chendu (J11B/J14/J16/J20) hay EF (EF2k/Raf/Jas).
Các bạn thử đoán trước cục diện của trận chiến?
Trước Thế Chiến 2, trong khi các cường quốc hoặc còn ỷ y vào khả năng ngăn chặn chiến tranh, hoặc còn bận rộn thanh trừng tướng lĩnh, thì nước Đức Quốc xã đã lẳng lặng đổ tiền của vào công nghệ vũ khí. Cho đến cuối cuộc chiến, họ đã tiên phong trong một số công nghệ mũi nhọn - trong đó có phản lực và tên lửa.
Messerschmitt Me-262 - chiếc máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên của thế giới - là một sản phẩm ưu việt lúc đó.

Với hai động cơ phản lực, nó tốc độ đỉnh 870kmh. So với máy bay tiêm kích tốt nhất của Đồng minh khi đó - P51 Mustang dùng động cơ piston - nó nhanh hơn tới 24%. Nó tăng tốc ngang hay leo dốc đều nhanh hơn P51D tới 70%. Về khả năng cơ động, nó là vô địch.
Trong khi thân được bọc giáp chống đạn 20mm của máy bay Đồng minh, thì nó mang theo 4 cây súng 30 mm và 4 quả rocket R4M 50mm - với hoả lực quy đổi là gấp 7 lần so với P51D. Ngoài ra, nó là chiếc máy bay đầu tiên trang bị một radar thụ động để phát hiện và cảnh báo nguồn phát tín hiệu radio. Như thế, về vũ khí và avionics, nó ăn đứt mọi chiếc máy bay của tất cả không quân Đồng minh cùng thời.
Với ưu thế toàn diện như thế, nó hoàn toàn có thể ngăn chặn Đồng minh chiếm ưu thế trên không từ nửa sau Thế chiến, bảo vệ thành công hạ tầng công nghiệp chiến tranh của nước Đức - và bằng cách đó thay đổi cục diện của cuộc chiến.
May mắn cho loài người chuyện đó không xảy ra. Giá như...
Giá như nó có số phận khác với một loạt tướng lĩnh tài năng của Quân đội Đức lúc bấy giờ - Rommel, Guderian, Von Manstein hay Adolf Galland - tướng chỉ huy không quân tiêm kích. Giá như nó tránh được những mệnh lệnh vô căn cứ, những yêu cầu vô lý và những cơn giận bất thường của Hitler.
- Năm 1940, sau vài chiến thắng chẻ tre ban đầu, Hitler tự tin là có thể nuốt chửng châu Âu trong 18 tháng, nên ra lệnh ngưng lại mọi dự án vũ khí cần nhiều thời gian hơn thế - trong đó có Me262. Dù các viên tướng không quân kín đáo bất tuân lệnh, nhưng việc phát triển chậm đi nhiều.
- Tháng 7/43 mẫu đầu tiên bay thử thành công. Một năm sau, khi bắt đầu đi vào sản xuất đại trà thì Hitler ra lệnh ngưng lại vì không tin các viên tướng không quân của mình nữa.
- Dù vậy, các viên tướng không quân vẫn tìm cách kéo Hitler tham gia buổi bay trình diễn vào tháng 12/43. Và khi mọi người tin là Hitler đã bị thuyết phục bởi chiếc máy bay tiêm kích siêu việt, thì Hitler ra lệnh là cải hoán nó thành máy bay ném bom. Dù vậy, các viên tướng vẫn cho làm tiêm kích.
- Đầu năm 1944, các nhà máy sản xuất Me262 hai lần bị ném bom, nên đến tháng 4/1944 mới xuất xưởng lô đầu. Tình cờ, Hitler phát hiện những chiếc này không phải là máy bay ném bom nên đùng đùng nổi giận. Một loạt tướng bị cách chức, Me262 bị chuyển sang không quân ném bom, phi công được đào tạo để ném bom và bất kỳ từ nào gọi Me262 là "tiêm kích" đều bị cấm.
- Đến tháng 9/44, lô Me262 đầu tiên xuất xưởng và đưa vào chiến đấu. Nhưng chúng không được đưa ra đối mặt với các đoàn máy bay ném bom của đồng minh, mà chỉ được giao nhiệm vụ bay đi ném 2 quả bom đâu đó rồi quay về ẩn nấp. Rốt cuộc, nguyên lô 60 chiếc bị Đồng minh ném bom phá huỷ ngay trên mặt đất.
- Trước việc bầu trời bị không quân Đồng Minh chiếm lĩnh, cuối cùng Hitler đồng ý chuyển 6 chiếc Me262 còn lại sang làm đúng nhiệm vụ của nó: đánh chặn. Và từ đây cho đến cuối chiến tranh, cho dù trễ, cho dù ít ỏi, cho dù không đủ xăng để bay, nhưng Messerschmitt Me-262 trở thành một đe doạ thường trực với không quân đồng minh.
Và chúng được gắn với một cái tên nổi tiếng khác - Jagdverband 44 - phi đội tử thần của viên tướng Adolf Galland.
......Chúng ta quay trở lại hiện tại.
Triết lý ưu thế không quân Mỹ là dựa 3 cái: tàng hình, căn cứ ngon, và BVR
- Căn cứ: căn cứ không quân và tàu sân bay là biểu tượng của sức mạnh không quân Mẽo. Tuy nhiên CHina có thể
+ Đe dọa tàu sân bay bởi ASBM , tàu ngầm mang torpedo, SS-N-22 và SS-N-27 ASBM, máy bay mang ASBM và HARMs
+ Đe dọa sân bay mặt đất: SRBM và IRBM, cruises missiles
Lực lượng đông đảo của tàu vè hải quân và không quân và tên lửa có thể áp đảo lực lưỡng Mẽo tại WESTPAC
http://img132.imageshack.us/img132/9721/wespact.pngKhông có sân bay gần thì khỏi mơ ưu thế không quân. Chỉ cần 34 quả tên lửa với các sub head thì sân bay Katena đi đời luôn. Không quân Mỹ chỉ có 1 sân bay 500 dặm trong vòng của Eo biển Tai wan . Trong khi đó TQ có nhiều sân bay không có bố trí xăng nhiều, mặt rắn thậm chí ngầm. có tới 27 sân bay gần taiwan

- Tàng hình: nói tàng hình cho vui chứ không phải thực sự tàng hình chỉ là làm giảm khả năng dò radar của đối phương.Chuối nhất là các radar VHF được Liên xô sản xuât tùm lùm nhất là radar di động.
- Nào nói về BVR: cái này có từ thời Việt nam với AIM-7 Sparrow nhưng siêu chuối với tỷ lệ 0.08. Hiện thời thì đúng là như pa taza trích: 17 ăn 10 như vậy là 0.59 nhưng đợi đã
Vậy nghĩa là gì ?
trong 10 cái rớt của AIM 120 thì toàn là Mic dở hơi, không có counter measure ECM hoặc máy bay mic 29 Fulcrum của serb thì hệ thống radar tịt, không quân lúc đó áp đảo và 4 phát giết than ôi không nằm trong BVR. Tất cả cái đó đều là ảo tưởng nếu đem ra chiến với CHinese Flankers . 24/3/199 1 chú mic 29 ăn 1 phát chết nhưng sau đó một chú mic khác lại né được 3 phát AIM120
Thuơ xa xưa, AIM9 được thiết kế không chống được các maneuvering object. AIM9 đã ngừng sản xuat từ năm 1982 nhưng Anh vẫn dùng để chiến nhau với Argentian và tỷ lệ là 26 phát AIM thì được giết 17, tỷ lệ PK=0.73
Đến thập kỷ 80 thì các quốc gia đầu gấu phát triển hệ thống flares có IR decoy để đánh lừa . Sau đó không quân Mẽo cho ra loại chống nhiễu . Tuy nhiễn các flares cực kỳ hiệu quả
- Tất cả không quân hải quân marine Mẽo bắn ra 48 con AIM9m trong Bão táp sa mạc thì chỉ có 11 kills, tỷ lệ giảm tới ok=0.23 như thời Vietnam war
Kết luận: hệ thống radar và IR đã chống lại hiệu quả BVR
- Số lượng: KHông quân Tàu duy trì phi công và bào trì tới 80% sẵn sàng chiến đấu k kém gì Mẽo.
Sorties tới eo Đài loan của Mẽo là 138 chuyến 1 ngày trong khi của Tàu là 1300
Nếu oánh nhau thì k bít ai ăn ai ở trò flares. Tàu có thể đông 3 ăn 1 nếu Mẽo xuất kích tử Kadena còn nếu tử Ardensen thì bị ăn 10:1
Vì bị đông thế nên iêu cầu chất lượng phải áp đảo lại 9:1 mà tốt nhất là 100:1. Tỷ lệ này thì hơi ốm roài vì thậm chí trong lịch sử Không quân Mẽo roài Không quan Đức cũng chả làm sao có được.CHỉ duy nhất Isarel là có được áp đảo trên
Lưc lượng JV44 có áp đảo sau:

+trang bị Me262
+ tốc độ 24% nhanh hơn Mẽo, giảm thời gian phát hiện 62%
+ bắn mạnh hơn gấp đôi lực lượng thông thường của Đức
+ toàn aces.Riêng 6 chú aces đã giết hơn 1,100 chiếc
+ tỷ lệ chất lượng gấp 20 lần lực lượng thong thường của Luftware
>> Tỷ lệ áp đảo chất lượng là 9:1
Vậy thì f22 và f35 của chúng ta ra sao đây ?
Chúng ta chỉ có tung đồng xèng cho ràng chinese không có BVR tương tự, không có chống tàng hình và chúng ta có sân bay đủ gần thì may ra có được tỷ lệ 3:1
Flanker mới là bố của F22
- Flanker là chú đáng ngại nhất
+ xăng lớn
+ mang vác nhiều
+ dễ nâng cấp và rẻ
- Chú su35BM lại còn đa dạng đồ chơi không chiến tới 14 AAMs, trang bị ngon lành IR, hệ thống chống tên lửa tới 215 dặm và hệ tên lửa vung vít ra nhiều mục tiêu

- Đều trang bị hệ thống IRSTS mà máy bay MẼo k có, có thẻ theo dõi 50km và đuôi 90 km, cover 90độ
- AMRAAm có đầu nhiệt có thể phát hiện F22 và báo động tên lửa ở tầm 50 dặm
- AMRAAM ở March 4 có thể tới 1200 độ F shock nón và có thể track tới 45 dặm
- Advance IRSTS sẽ được tích hợp QWIP quantum well inrared photodetector sẽ làm tăng khả năng lên khá cao. Typhoon đã được trang bị hệ thống này tuy chua chính thức tuyên bố , có khả nâng nhận bít 50 dặm

- Tầm với rada đã tăng gấp đôi trong 8 năm qua và sẽ còn tăng nữa , tới 2020 thì bất kỳ tàng hình nào cũng đều bị phát hiện bởi flanker trong vòng 25 dặm trở lên

Còn tiếp......