vetran
Cựu chiến binh

Bài viết: 1145
Một thời để nhớ.
|
 |
« Trả lời #432 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2012, 07:54:33 pm » |
|
.Thưa các bác tham gia topic, lâu quá Anhtho chẳng có thông tin nào đưa lên trang. Sợ topic chìm sâu Vetran tôi xin mạo muội tham gia một bài. Nếu Min Mod thấy bất cập xin xóa giùm, không cần thông báo. Thưa các bác! Phần lớn mọi người trong chúng ta từng được đọc những tác phẩm văn chương trong kho tàng văn học đồ sộ của Trung Hoa ngay từ lúc còn ngồi ghế nhà trường phổ thông, nhưng theo thời gian, qua sự cọ sát với hiện thực cuộc sống và sự học hành hiểu biết hơn, chúng ta mới thấy mình cảm nhận được giá trị các tác phẩm còn rất hạn chế. Tôi xin trao đổi với các bác một tác phẩm mà loại phương tiện thông tin đại chúng lớn là đài truyền hình hay công chiếu vào những dịp hè với mục đích cho học sinh thưởng thức, nhưng tác phẩm đồ sộ này ở mỗi tầm mức nhận thức đã làm say mê hàng trăm triệu khán giả Nam, Phụ, Lão chứ không phải chỉ là ấu nhi đó là tiểu thuyết thần ma “Tây du ký” của Ngô Thừa Ân. Một tác phẩm bắt đầu bằng câu chuyện có thật của xã hội Trung Quốc. Một tác phẩm trong “tứ đại danh tác” văn học cổ điển Trung Hoa (cùng với Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung. Thủy Hử của Thi Nại Am và Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần). Đến năm 1986 bộ phim nhiều tập cùng tên do: Đới Anh Lộc, Châu ỨcThanh biên kịch. Nữ đạo diễn Dương Khiết biên kịch và đạo diễn. Quay phim Dương Sùng Thu cùng giàn diễn viên xuất sắc của Trung Hoa lục địa ra đời, trở thành bộ phim kinh điển cho người xem toàn thế giới chiêm ngưỡng điểm nhấn nghệ thuật hoàn hảo và nhập tâm bằng hình ảnh sống động các nhân vật thần thoại trong tác phẩm. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta chỉ chú ý đến tính hài hước châm biếm của tác phẩm. Ta dễ bị lôi kéo sự chú ý vào những tiểu tiết thần thoại, truyền thuyết thần ma của nhân vật trong diễn tiến của cốt truyện, mà ít chú ý đến tính triết học và nội hàm xã hội sâu xa của tác phẩm. Tôi xin trao đổi với các bác khía cạnh triết lý nhỏ trong mối quan hệ với Kinh Dịch của tác phẩm. Vấn đề đáng chú ý là Ngô Thừa Ân đã dựa vào Bát Quái Chu Dịch, Âm Dương Ngũ Hành của Nho gia và Kim Đan Đaị Đạo của Đạo Gia kết cấu tác phẩm để biểu hiện pháp lý vô thường của Đạo Phật. Cố nhiên mối liên hệ giữa “Tây Du Kí” với Kinh Dịch rất chặt chẽ từ biểu hiện những quẻ dịch trong Hà Đồ, Lạc Thư đến những con số thần bí, sơ đồ hóa mười hai quẻ dịch do Càn Khôn giao biến tuần hoàn thăng giáng. Mở đầu tác phẩm, chúng ta gặp ngay hàng loạt các con số mô tả sự hình thành vũ trụ và sự ra đời của Hầu Vương. Số của trời đất là 129.600 năm là một Nguyên. Đó là điểm không gian và thời gian trái đất và các tinh tú khác vận hành nằm vào đúng vị trí cũ trong vũ trụ trước đó. Thời gian ấy được chia thành 12 hội (Tý, sửu, dần, mão....hợi), một hội là 10.800 năm. Kích thước tảng đá sinh ra Hầu Vương cao 3 trượng, 6 thước, 5 tấc. Xung quanh rộng 2 trượng 4 thước hợp với chính lịch là 24 tiết khí, trên mặt có 9 khiếu, 8 lỗ hợp với cửu cung bát quái. Theo Chu Dịch Càn Khôn giao biến, tuần hoàn thăng giáng trong 20 năm của Hầu Vương là quá trình từ hư vô về hư vô, là một vòng tuần hoàn tự nhiên ứng với 12 tháng 24 tiết khí là một năm cũng như một cuộc đời trong qui luật cuả vũ trụ được thể hiện từ 12 quẻ : Địa lôi Phục. Địa Trạch Lâm. Địa Thiên thái. Lôi Thiên đại tráng. Trạch Thiên quải. Thuần Càn. Thiên Phong cấu. Thiên Sơn độn. Thiên Địa bĩ. Phong Địa quan. Sơn Địa bác và Thuần Khôn. Những con số trên không phải tác giả sử dụng ngẫu nhiên mà dựa trên nguyên tắc “Tham thiên, lưỡng địa” biểu hiện trong thuyết quái truyện là:Trời tròn là số 3, đất vuông là số 4 (2x2) Đây chính là số đo của hình tròn và hình vuông trong kỉ hà học cổ đại. Các số lẻ: 1,3,5,7,9 là những số dương. Các số chẵn gồm 2,4,6,8,10 là số âm. Như vậy thì số tám và 9 là số cực đại của trời và đất vì nó là bội số của (trời 3) và ( đất 4). Những con số được định vị trong bát quái (Càn, Khảm, cấn...đoài) và mang tính chất của ngũ hành(Kim, mộc....thổ). người ta lấy số 5 đứng giữa các số dương để tính Thập Thiên can (Giáp, ất, bính.....quí). và lấy số 6 đứng giữa các số âm để định ra Thập Nhị Địa chi ( Tý, sửu, dần.....hợi)Những con số này ngưng kết thành “những con số mô thức”mang tính “thần bí” “ma thuật” những con số được lưu giữ trong đời sống tôn giáo, trong đạo đức, tâm lý cộng đồng và trong văn học nghệ thuật. Trong “Tây Du ký” Ngô Thừa Ân hay dùng con số 3 và 9 là hai số dương để có những số khác là bội số của chúng. Ví dụ Tôn Ngộ Không có 72 phép thuật chính là tích của 9 và tám. Trư Bát Giới có 36 phép thuật chính là tích của 9 và 4. Sự hơn thua phép thuật của lão Hầu và lão Trư không phải ở những con số 72 hay 36 mà chính là từ hai con số cực đại của trời đất ( 9 và tám) bao quát Càn Khôn, biến hóa khôn lường. Thậm chí số cây đào trong vườn đào của Tây Vương Mẫu có 3600 gốc, tới 18.000 năm mới chín cũng chỉ là bội số của 3 và 9 mà thôi. Những con số âm dương liên quan đến sinh thành của ngũ hành ví dụ số 2 là số sinh và số 7 là số thành của Hỏa, thì các sự kiện nói đến lửa đều liên quan đến số 7 hoặc bội số của nó: Tôn Ngộ Không bị thiêu trong lò bát quái 7x7=49 ngày. Muốn lửa của Hỏa Diệm Sơn tắt hẳn thì phải quạt 7x7=49 lần, mặc dù quạt ba tiêu chỉ quạt 3 lần là mưa đã rơi. Hoặc như cái bồ cào của lão Trư gồm: 9 răng ngọc, 2 vòng vàng. Cán bồ cào có vẽ Lục diệu(6) ngũ tinh (7), tứ mùa(4), bát tiết(tám). Những con số ấy là tập hợp trời đất, âm dương, nhật nguyệt, tinh tú, thần tướng đủ cả. Con số 3 được tác giả hay dùng để liên kết các sự kiện như: “ ba lần đại náo thiên cung” “ba lần đánh bạch Cốt Tinh” “ ba lần bị bắt ở Ngũ Trang Quán” “ba lần mượn quạt ba tiêu”. Đó là quan điểm của người Trung Hoa “Sự bất quá tam ”. nhưng nó sâu sắc ở chỗ cũng một loại hình nhưng khác nhau về chi tiết tạo lên những kịch tính hấp dẫn trong từng trường đoạn. Chúng ta thấy cái xảo diệu mà tác giả dùng con số thần bí để liên kết nhân vật từ nhiều thành phần tưởng không liên quan gì với nhau thành nhóm nhân vật thống nhất chặt chẽ. Tôi lấy ví dụ như “tứ chúng” đáng lẽ là 5 nhưng (Long mã) được coi là vật đưa chân. Tôi nhận thấy bốn thầy trò Đường Tăng gắn bó với nhau bởi ba trọng trách: Tình nghĩa thầy trò. Lợi ích tập đoàn. Và mục đích cao cả. Đường Tăng thực hiện trọng trách nhà tu hành đi Tây Thiên thỉnh kinh. Ba đồ đệ phò tá Đường Tăng tới nơi mới được giải thoát “tội nghiệt” để tu thành “chánh quả”. Mục đích và lợi ích của nhóm là thống nhất và thỏa mãn đảm bảo cho kết cấu tính cách nhóm là bền chặt. Tuy nhiên các bác thấy Đường Tăng có lý tưởng cao cả, đạo đức siêu tuyệt, ý chí kiên cường và ngôn hạnh câu nệ bảo thủ. Nhưng sức lực trói con gà chặt, trí tuệ không hơn người bình thường nhưng phải điều hành ba “yêu đồ” ngang nghạnh bất kham để vượt qua thiên sơn vạn thủy. Trải qua 9x9=81 nạn tai để nhận được “Chân kinh”. Quá trình ấy xảy ra những xung đột đầy kịch tính. Đường tăng dùng “Khẩn cô nhi “ để khống chế Ngộ Không. Thông qua Ngộ Không khống chế Bát giới. Ngộ Không tượng trưng cho trí tuệ và phản kháng. Bát giới hồn hậu, phác thực, lao khổ và có đủ 10 tính xấu của lợn là tham ăn, thích ngủ, lười nhác, háo sắc và đần độn... Nhưng sự ngu si của lão Trư, sự cần mẫn của Sa tăng mới làm nổi rõ sự khôn ngoan láu cá của Ngộ Không. Còn Đường Tăng tiêu biểu cho sự vĩ đại và ngu xuẩn của loài người khi sức lực tài năng chỉ có hạn mà giám tin tưởng lấy đạo đức chỉ huy cảm hóa các yêu đồ đã tu luyện nhiều kiếp thành tinh. Tất cả những cá tính của thầy trò Đường Tăng luôn tồn tại trong mỗi cá nhân chúng ta, mà do sự phấn đấu rèn luyện tri hành theo hướng nào thì mỗi bản chất cá tính phát triển theo phần trội, lặn từng hướng tốt xấu khác nhau. Dưới góc độ âm dương ngũ hành, nhóm bốn người này có sự thống nhất của các mặt đối lập, tạo thành một kết cấu có dự ứng lực vững chắc , bền chặt. Nhóm có quan hệ thầy trò như tình cha con, tình đồng môn huynh đệ. Mặc dù bốn con người bốn tính cách, ở bốn nơi nhưng coi nhau như anh em một nhà. Tuy nhiên cũng không tránh khỏi những xung đột thậm chí gay gắt dọa phá vỡ mối liên kết nhóm. Đạo giáo gọi Thủy Ngân là Mộc Mẫu. Thủy ngân sinh Hợi. Hợi là lợn, chỉ Trư Bát giới. Lại gọi chì là Kim công, chì sinh ra Canh tân, thuộc Kim-Thân. Thân là khỉ, chỉ Tôn Ngộ Không. Nếu xét về địa chi thì Hợi xung khắc với Thân nên Ngộ Không và bát Giới luôn gây bất hòa. Lão Trư hay lợi dụng bàn tay Đường tăng trị Ngộ Không bằng cách xúi bẩy ghen ghét tranh công làm cho bao lần Ngộ không khốn đốn do sự ngu dốt của Đường tăng. Mâu thuẫn này được điều hòa từ khi xuất hiện của Sa Tăng. Sa là họ cũng để chỉ nơi ở của Sa hòa thượng đó là Lưu Sa hà. Lưu Sa là loại đất cát triền sông chưa ổn định.Theo chiết tự “Hòa thượng” hòa có nghĩa là điều tiết, không tranh chấp. Thượng là là nắm vững lý lẽ siêu việt, vậy nên Sa hòa Thượng lấy “Dĩ hòa vi thượng” coi sự điều hòa cân bằng là trên hết, vả lại trong Hà đồ và Lạc thư thì số 5 thuộc màu vàng của Thổ đứng giữa, tức là “Ngũ hoàng trung thổ” có thể điều hòa bốn hành còn lại là kim, mộc, thủy hỏa, cho nên tính cách của Sa tăng phù hợp với sự nhu thuận của Thổ mà điều hòa được xung khắc của khỉ và lợn tức là Kim công và Mộc mẫu. Như vậy chúng ta nhận thấy sự liên kết các con số thần bí trong Kinh dịch, tác giả đã tạo ra sự đổi mới về nghệ thuật, đem lại hứng thú thẩm mỹ cho độc giả vì theo các con số thì dễ nhớ, dễ theo dõi vận mệnh của nhóm trong các hoàn cảnh, tạo ra tiêu chí cho tính hoàn chỉnh, thống nhất của hệ thống tổ chức của tác phẩm. Cũng như vậy, các bác biết rằng theo văn hóa Trung Hoa thì sự liên kết các con số không chỉ có ở “Tây du ký” mà trong “Tam quốc chí diễn nghĩa có “Tam kết nghĩa vườn đào” “Ngũ hổ tướng”. Trong “Thủy Hử” có 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Trong “Hồng Lâu Mộng” có “Thập nhị kim thoa” là những con số bí ẩn biết nói. Các bác chú ý, nếu nghiên cứu về tôn giáo, chúng ta mới hiểu rõ hơn về cách bố trí dàn dựng các mối quan hệ thuận nghịc của thế giới Thần, Phật, Tiên Thánh qua các tiểu tiết như trang phục bảo bối của các nhân vật là những đạo sĩ, thần tiên thuộc Đạo giáo, trước ngực sau lưng luôn có hình tượng của lưỡng nghi. Hai vai và ống tay áo luôn mang biểu tượng quẻ Càn Khôn, Thủy Hỏa. Trang phục, dụng cụ hành đạo của Hòa thượng, bồ tát, phật tổ đạo Phật như Tích trượng, cà sa, bình bát.v.v đều có ý nghĩa riêng và đều đại biểu cho một phái hay một hệ phái tu hành. Các bảo bối biểu hiện bản lĩnh uy lực của thiên binh thiên tướng, của yêu ma thần quái cũng được khắc họa rõ nét như Tháp cửu tầng của “Văn xương đế quân”. Kính chiếu yêu của "Lý Thiên Vương" vòng lửa của "Natra". Quạt ba tiêu của “Thiết Phiến công chúa – vợ của Ngưu ma vương”v.v. Một chi tiết cho chúng ta thấy các yêu đồ nghiệt súc hoành hành trần gian phần lớn thuộc sở hữu của thế giới Trời, thần, phật, Tiên do quản lý không chặt làm sơ sẩy thất thoát xuống trần. Rồi đến khi xảy ra sự cố hậu quả xấu thì chính các vị lại ngăn cản Ngộ Không không cho tiêu diệt mà xin thu phục về cõi trên“Xử lý nội bộ”. Cũng qua quá trình “phục quái hàng yêu” trên đường phò thầy đi thỉnh kinh, chúng ta nhận thấy mối quan hệ khá sâu sắc của Lão Tôn với giới thần tiên cũng như với thế giới yêu ma quỉ quái vì họ đều là những cá nhân tu luyện đạt được những bản lĩnh phi thường khác nhau nhưng tùy thuộc vào sự giác ngộ chính tà. Một số chi tiết cuối cùng nếu không tìm hiểu sâu Phật giáo thì chúng ta rất thắc mắc bỡ ngỡ trước tiểu đoạn tác giả và đạo diễn đưa vào là nơi cửa Phật vẫn xảy ra hành vi đòi và hối lộ để nhận được chân kinh. Rồi lúc phơi kinh, thầy trò Đường Tăng đã làm rách kinh, nói lên tình trạng “Tam sao thất bản” của kinh sách và đến trời đất cũng không vẹn toàn mà mọi sự vật, sự việc cũng chỉ là tương đối như thuyết tương đối của Enstein và các nguyên lý của triết học duy vật biện chứng trong thế giới "Vật chất". Ngoài ra trong toàn bộ diễn biến của bộ phim nếu chúng ta chú ý sẽ nhận thấy nhiều hành động ứng xử vô lý và thiếu logic của chính những nhân vật chính. Ví dụ Đường Tăng dù là nhà tu hành nhưng đang tu ở kiếp NGƯỜI là kiếp "Trần mắt thịt" thì không thể sống dưới nước được vì chi tiết đối trọng là Ngộ Không đã thành tinh mà còn không giỏi khi chiến đấu dưới nước kia mà. Hoặc như Tôn Ngộ Không từng "Hoán Vũ Đằng vân" mà vẫn cứ bối rối khi qua một trở ngại vớ vẩn trước một tiểu yêu. Vài lời bộc bạch xin các bác tham gia topic đại xá.
|