sam - 2
Thành viên

Bài viết: 40
|
 |
« Trả lời #441 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 07:12:41 pm » |
|
Bốn mươi năm đã trôi qua, trong những ngày này các phương tiện truyền thông đại chúng đang rôn ràng kỷ niệm 40 năm Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không. Những ký ức của ngày ấy lại ùa về. Chúng tôi những người Lính trường Vôi cũng cảm thấy nao lòng, hân hoan xen lẫn chút tự hào vì đã từng có thời gian chịu đựng, chứng kiến,và làm việc trên khu vực mà có sự tàn phá hủy diệt của đạn bom, chứng kiến tinh thần anh dũng quả cảm của quân dân thủ đô làm nên thắng lợi Điện Biên Phủ trên không góp phần chấm dứt chiến tranh ỏ Việt nam. Cũng vào giờ này của ngày hôm nay bốn mươi năm về trước tốp B52 đầu tiên dải bom xuống Hà Nội mở màn chiến dịch 12 ngày đêm đánh phá thủ đô. Nhân ngày này, dưới đây là chút kỷ niệm nhỏ của tôi về mười hai ngày đêm năm 1972 ấy. Mùa đông năm 1972 chúng tôi đang ở phân hiệu II của trưởng Vôi ( Trường công nhân kỹ thuật I – Tổng cục kỹ thuật) là những dãy nhà và xưởng nằm lọt dưới tán rừng lim của huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc.Ngày ấy máy bay Mỹ ném bom ác liệt trên miền Bắc. tât cả các loại máy bay cường kích,tiêm kích ,loại tối tân nhất đương thời kể cả máy bay ném bom chiến lược B52 được huy động đẻ đánh phá các cầu cống,nhà máy, kho tàng, sân bay, vị trí quân sự và các thành phố . Ác liệt và tàn khốc nhất là cuộc tập kich 12 ngày đêm vào thủ đô Hà Nội và một số thành phố vào khoảng thời gian từ 18 tháng 12 đến 30 tháng 12 năm ấy. Chúng tôi là đơn vị kỹ thuật không trực tiếp tham gia chiến đấu, nhưng thỉnh thoảng vẫn cử những đơn vị, cán bộ chiến sĩ đến những công trình, những binh trạm trong tuyến lửa ở khu bốn, ở Trường Sơn và một số trọng điểm để tham gia vào các công trình kỹ thuật phục vụ trực tiếp chiến đấu. Tôi còn nhớ chiều hôm ấy, ngày 26 / 12/ 1972 lệnh của thủ trưởng đơn vị là trung đội tôi chuẩn bi quân tư trang sẵn sàn nhân lệnh lên đường làm nhiệm vụ. Ngày ấy chúng tôi còn trẻ lắm mới mười tám đôi mươi khi nhận được lệnh rất hồ hởi, chỉ băn khoăn một nỗi vì bí mật quân sự không biết nơi đến là đâu để viết thư báo tin cho người thân. Sáng sớm hôm sau chúng tôi được điều lên ba chiếc xe vận tải ZIL 157 mui trần. Hạ hai thành xe xuống thành hai hàng ghế giã chiến xe bắt đầu chuyển bánh. Sáng sớm giữa mùa đông với cái rét cắt da, từng đợt gió đông bắc thổi ào ào ngồi trên xe không mui với chiếc áo bông chiến sĩ không đủ ấm chúng tôi ngồi co ro sát vào nhau cho đỡ lạnh. Xe chạy theo hướng Hà Nội dọc hai bên đường nhìn những cảnh vừa bị máy bay oanh tạc đêm qua mà se long; những cảnh đổ nát của nhà cửa, những hố bom sâu hoắm nối đuôi nhau thành dãy dài của vệt bom B52 trên miệng những hố bom vẫn còn xám ngoét màu của khói lửa. Gần đường số 3 đường Hà Nội – Thái Nguyên ở khu vực Đông Anh là trạm biến thế nơi từng là trung tâm phân phối điện lớn nhât của miền bắc lúc bấy giờ cũng bị đánh phá tan hoang gần như san phẳng. Chúng tôi tiếp tục hành quân gần đến cầu Đuống thì biết cầu đã bị đánh sập phải vòng lai qua cầu phao Đông Trù đi dọc bờ đê qua cầu phao Chương Dương sang Hà Nội. Lại nói đến cầu phao Chương Dương, gọi là cầu phao nhưng không phải bắc hoàn toàn bằng những phao nổi mà được ghép kết hợp bằng nhừng mảng tre,nứa từ bên này sang bên kia sông trên những mảng đó làm một lối đi bằng ván đử để xe cộ lưu thông.Đúng là từ cái khó ló cái khôn của người Việt Nam. Khi cầu bị đánh phá những mảng tre nứa kia đâu có bị chìm như những loại phao nổi nó chỉ bị dạt ra. Sau trận đánh người ta chỉ việc bổ xung ,gom lại giup cho việc ghép nối cầu nhanh chóng. Sang đến đất thủ đô phố phường vắng vẻ các nhà tên phố hầu như bị khóa cửa hầu hết những người dân đi sơ tán ở các vùng nông thôn.Trên phố chỉ còn những công nhân, những tự vệ trên mũ có sao vuông đeo một khẩu súng trường, trên lưng không quên đeo một chiếc mũ rơm to bè đap xe đi trên các con phố. Xe chúng tôi qua một số tuyến phố rồi lên đường Hoàng Hoa Thám một cảnh tượng làm chúng tôi hết sức vui mừng là được chứng kiến một mảnh xác máy bay B52 làm sạt góc mội căn nhà hai tầng ngay trên đường Hoàng Hoa Thám mà xe chúng tôi qua. Trên xác máy bay đó vẫn còn leo lét ngọn lửa và một cột khói nhỏ bay lên. Nghe đâu chiếc B52 này mới bị tên lửa ta băn rơi cách đây vài tiếng đồng hồ. Chiến tranh khốc liệt như thế, nhiều khu phố, xí nghiệp nhất là phố Khâm Thiên, vừa bị bom giải thảm hủy diệt đêm qua nhưng sáng nay qua các phố vẫn thấy xe đap, vẫn thấy tàu điện leng keng vẫn thấy các cửa hàng mậu dịch quốc doanh mở cửa, loa phóng thanh vẫn đưa những bản tin chiến thắng và những bài ca sôi sục lòng người. Thế mới biết quân dân thủ đô bình tĩnh và bản lĩnh như thế nào. Còn chúng tôi đang đi vào vùng chiến sự khốc liệt để làm nhiệm vụ. Điểm tập kết của chúng tôi là dốc Bưởi, còn có cách gọi khác là dốc 800 nay là đầu đường Hoàng Quốc Việt. Ngày ấy đây là một đơn vị quân đội, chính xác hơn là Phòng công nghệ thuộc Cục quản lý xe – Tổng cục hậu cần. Gọi là Phòng công nghệ nhưng trước mắt chung tôi là một bãi đất trên đó có các căn nhà cấp bốn đa số lợp bằng giấy dầu là nơi có những máy móc để nghiên cứu, chế thử những đề tài,công trình kỹ thuật của ngành xe, máy quân đội. Chúng tôi xuống xe, tập hợp thành ba hàng ngang để nghe phổ biến kế hoạch,nhiệm vụ của đợt công tác này. Tập hợp chưa được bao lâu thì còi báo động phòng không vang lên chung tôi nhanh chóng tản ra chui xuống những hầm chữ A hay các công sự cá nhân có sẵn rải rác trên địa bàn. Do tính chấ đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ, để tránh thương vong và bảo toàn lực lượng, ban chỉ huy hội ý chớp nhoáng và quyết định rời chung tôi vào đóng quân cách đó vài cây số đó là làng Xuân Đỉnh, nơi có các cây hồng xiêm nổi tiếng. Nhiệm vụ cụ thể của chúng tôi là lao động,học tập và cùng các cán bộ, kỹ sư, thợ bậc cao, thợ lành nghề thực hiện một số khâu góp phần cải tiến, lắp ráp, chế thử một số đè tài kỹ thuật như cải tiến xe ZIL 130 thành xe lưỡng cư vừa chạy trên cạn vừa chạy dưới nước; Lắp ráp chế thử xe mô tô; Lắp ráp chế thử xe ô tô vận tải…Ít người có thể hình dung ra và biết được những năm 1971, 1972 của thế ký trước ngành xe quân đội đã chế thử ra hai loại xe gắn máy lấy tên là Âp Bắc I và Ấp Bắc II cùng một loại ô tô vận tải lấy tên là TRƯỜNG SƠN. Máy bay Mỹ đánh phá hủy diệt Hà Nội nhưng chủ yếu về ban đêm, nắm bắt được quy luật đó nên ngày ngày chúng tôi được xe chở từ nơi đóng quân đến nơi làm việc.Ở cái nơi chiến trận ác liệt này vũ khí của chúng tôi không có gì khác ngoài cây bút chì, com pa, thước kẻ và những bản vẽ chằng chịt chi tiết máy, công việc là can, vẽ và vận hành máy công cụ. Ngày nay với khoa học, công nghệ phát triển vẽ một bản vẽ kỹ thuật quá đơn giản chỉ vài lệnh trên bàn phím vài cái nhấn chuột rồi đưa sang máy in là được bản vẽ đẹp, chính xác còn ngày xưa chúng tôi phải vẽ chì bằng tay tẩy tẩy xóa xóa mất rất nhiều thời gian mới được một bản vẽ sau đó can ra giấy bóng mờ và in nhờ hóa chất và nắng mặt trời. Có những lần đang in thì có máy bay,phải xuống hầm khi báo yên lên bản in đã bị hỏng hết do tấm kính chặn bị xô dịch khỏi vị trí ban đầu thế là lại phải làm lại từ đầu. Lại nói cải tiến xe ZIL 130 nó là loại xe chỉ có một cầu, chạy trên đường bằng rất tốt có tải trọng lớn nhưng chạy đường dốc hiểm trở như đường Trường Sơn độ bám đường, leo dốc không phù hợp nên bộ đội ta đã cải tiến nó; Cắt xén gắn hai phao sắt, nâng thùng, lăp ghép chân vịt vào trục các đăng dưới gầm xe, làm bánh lái và cơ cấu điều khiển…Thế là thành xe lưỡng cư. Nói thi đơn giản nhưng băt tay vào việc thì quả là hắc búa biết bao phương án kỹ thuật được đưa ra, những ý kiến phản biện được đáp lại rồi cuối cùng cũng có phương án tối ưu ra được sản phẩm và đã được thực nghiệm tuy vẫn còn một ít hạn chế. Xe gắn máy Ấp Bắc được chế tao dựa vào hai phụ tùng chính là bánh xe và máy nổ lấy từ máy phun chất lỏng tạo sương dùng phun thuốc trừ sâu. Máy được cắt gọt bỏ bớt phần không phù hợp, chế tạo thêm phần chuyển động, nhông xích…Còn khung sườn, các bộ phận khác được gò, hàn và lắp ráp thủ công. Xe được chạy thử đáp ứng được một số yêu cầu kỹ thuật cơ bản. Ô tô vận tải Trường Sơn việc lắp ráp, chế tạo là một kỳ công. Trừ máy và bộ phận chuyển động còn lại chế tạo mới hoàn toàn từ khung xe, thùng xe, cabin đều do bàn tay của những người lính thợ tạo nên. Riêng phần máy do Liên Xô viện trợ, ngày ấy hàng viện chợ đều có hoặc in, hoặc dập nổi, đúc nổi hàng chữ “Chế tạo tại Liên Xô”hay logo, thương hiêu loại xe đó.Để xe phải là thương hiệu do ngành xe quân đội chế tạo, những chi tiết có hàng chữ trên đều được làm lại; Một công việc hết sức khó khăn phải đảm bảo các thông số kỹ thuât, modun lắp ghép thì mới lắp giáp được ví như trên nắp máy của động cơ bằng nhôm có chữ đúc nổi zil 130 phải bỏ đi và đúc, gia công lại có chữ Trường Sơn nhãn hiệu của Việt Nam… Biết bao khó nhọc để tạo nên một một chiếc xe vận tải mang nhãn hiệu Trương Sơn do Việt Nam chế tạo và những sản phẩm mới trong điều kiện đạn bom khốc liêt là một kỳ công,dám nghĩ dám làm của những người lính thợ trong đó có một phần rất nhỏ bé của người Lính trường Vôi. Tuy rằng những sản phẩm làm ra cách đây 40 năn mang ý nghĩa chính trị nhiều hơn công năng nó góp phần vào công cuộc đánh thắng quân thù và đông viên chính mình rằng trong hoàn cảnh đạn bom ác liệt, phương tiện kỹ thuật hạn chế người Việt Nam vẫn có thể tạo ra những sản phẩm hữu hiệu có ảnh hưởng thắng lợi nhất định trong cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc.
|