Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Pháp
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH LONG CHÂU HÀ 1
(Tiến công, từ ngày 3 đến ngày 12 tháng 10 năm 1950)
Vào năm 1950, ở Nam Bộ, Pháp chú trọng củng cố ngụy quân, ngụy quyền, giao việc bình định chiếm đóng cho ngụy binh, tiến hành các cuộc càn quét mở rộng địa bàn chiếm đóng, thi hành nhiều biện pháp nhằm cắt liên lạc giữa các khu 7, 8, 9, giữa Nam Bộ với Cam-pu-chia và Nam Bộ với Trung Bộ.
Ở vùng Long Châu Hậu, chúng tăng cường các hoạt động quân sự, tung do thám, gián điệp vào vùng căn cứ du kích để thăm dò lực lượng ta, tăng quân đóng thêm đồn bốt ở vùng tranh chấp và trục giao thông chính như Long Xuyên - Châu Đốc, Châu Đốc - Nhà Bàn, Tịnh Biên - Chi Lăng, Mặc Cần Dưng - Núi Sập.
Lợi dụng mùa nước địch có nhiều sơ hở, tháng 9 năm 1950, Bộ tư lệnh Khu 9 quyết định mở chiến dịch tiến công địch ở địa bàn ba huyện Tịnh Biên, Châu Thành và Tri Tôn tỉnh Long Châu Hậu. Giữa tháng 9, Bộ tư lệnh Khu 9 điều tiểu đoàn 404 thuộc trung đoàn Tây Đô lên tham gia chiến dịch và thành lập các bộ phận chỉ đạo chiến dịch. Ngày 22 tháng 9, Ban chỉ huy chiến dịch được thành lập, đồng chí Huỳnh Thủ làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Sa làm Chính uỷ, đồng chí Nguyễn Tấn Khương làm Chỉ huy phó.
Chiến dịch được mang tên Chiến dịch Long Châu Hậu1 với mục đích giành dân, khôi phục cơ sở đồng bào Khơ-me, Bảy Núi, tạo điều kiện tiến ra vùng Long Xuyên, Châu Phú A và vùng Hoà Hảo, Long Châu Tiền, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, gây khí thế mới để chuyển sang tổng phản công.
Lực lượng tham gia chiến dịch gồm hai tiểu đoàn chủ lực của Khu là 404 và 406 thuộc trung đoàn Tây Đô; ba đại đội bộ đội địa phương Long Châu Hậu (1084, 1095, 2004); Biệt động đội 304; một tiểu đội I-sa-rắc, một trung đội dân quân tập trung của Tịnh Biên và Tri Tôn, cùng các đơn vị dân quân du kích các xã trong vùng mở chiến dịch.
Đầu tháng 10 năm 1950 (lúc này là tháng nước nổi lớn nhất ở vùng Long Châu Hậu), mọi công việc chuẩn bị cho chiến dịch đã hoàn tất. Ban chỉ huy chiến dịch quyết định mở màn chiến dịch vào đêm 3 tháng 10 năm 1950 để kịp thời hưởng ứng với Chiến dịch Biên Giới ở ngoài Bắc. Chiến dịch được tiến hành theo hai đợt.
Đợt 1: Trên hướng chính, đêm 3 tháng 10, tiểu đoàn 404 tiến công đồn Vĩnh Trung, diệt 17 tên. Địch ở Nhà Bàn đưa lực lượng vào ứng cứu. Tiểu đoàn 406 phục kích bên ngoài, chặn đánh diệt 10 tên, phá hai xe, bảo đảm an toàn cho lực lượng của tiểu đoàn 404.
Ở mặt trận phụ, đại đội 2004 phá nhiều đoạn lộ từ Tri Tôn ra cầu sắt Cây Me và phá sập cầu Cây Me; đại đội 1084 chặn đánh địch từ Vĩnh Thông vào núi Tượng; đại đội 1095 ở ngã ba Lê Trì cũng phá được nhiều đoạn lộ. Ở mặt trận phối hợp, du kích thành Châu Đốc đốt kho lúa của địch ở Châu Thành, phá hỏng cầu sắt Núi Sam. Du kích và quần chúng Châu Phú A làm nhiều chướng ngại vật trên đường Châu Đốc - Núi Sam và quanh chân Núi Sam.
Do chưa diệt được cứ điểm Vĩnh Trung, ngày 4 tháng 10, tiểu đoàn 404 tiếp tục vây đồn, tiểu đoàn 406 phá sập cầu Bưng Tiền, uy hiếp địch trên đường Nhà Bàn - Vĩnh Trung. Địch ở các lô cốt 1, 2, 3, 4, 5 dọc đường Nhà Bàn - Vĩnh Trung bỏ chạy. Ngày 6 tháng 10, địch phải tăng quân đến Nhà Bàn để chuẩn bị giải tỏa cho Vĩnh Trung.
Hướng Tri Tôn, đêm 6 trăng 10 các tháp canh từ số 10 đến 15 cũng bỏ chạy, ta hoàn toàn làm chủ lộ Vĩnh Trung - Tri Tôn. Đồn Vĩnh Trung hoàn toàn bị cô lập.
Sáng ngày 7 tháng 10, địch sử dụng bảy xe cam nhông chở 150 lính, được sự chi viện của pháo binh đặt ở Cầu Mai, tổ chức giải toả cho Vĩnh Trung. Bộ đội ta ngăn chặn địch ở đoạn Nhà Bàn - Vĩnh Trung quyết liệt, song nhận thấy đạn dược có hạn, Ban chỉ huy chiến dịch quyết định lui quân, kết thúc đợt 1 chiến dịch.
Đợt 2: Chiến dịch được bắt đầu từ ngày 9 tháng 10. Đại đội 1095 cùng đội biệt động 304 và dân quân du kích Tri Tôn đánh các tháp canh quanh thị trấn Tri Tôn, đại đội 2004 hoạt động vũ trang tuyên truyền từ Châu Lăng đến Tri Tôn, hỗ trợ quần chúng thành lập Ban chấp hành hội Liên Việt lâm thời ở xã Nam Quy. Đại đội 1068 hoạt động từ ngã ba Chơn Cu đi Vĩnh Trung và Nhà Bàn để nghi binh thu hút địch. Các tiểu đoàn 406 và 404 làm nhiệm vụ đánh viện trên đường Nhà Bàn - Tri Tôn và vũ trang tuyên truyền từ Tri Tôn ra Châu Lăng.
Trước hoạt động của ta, địch không có phản ứng gì. Chiều ngày 12, ta chủ động kết thúc chiến dịch. Các đơn vị chủ lực rút về căn cứ để lại đại đội 2006 của tiểu đoàn 406 cùng địa phương củng cố cơ sở quần chúng.
Kết quả 10 ngày chiến dịch, ta tiêu diệt 49 tên, làm bị thương 65 tên, bức hàng 25 tên, phá hủy ba xe, san bằng 42 lô cốt, thu 22 súng và nhiều đạn dược, đồ dùng quân sự.
Chiến dịch Long Châu Hà 1 đã diệt một bộ phận sinh lực địch, bẻ gãy kế hoạch tiến công mùa nước của chúng ở vùng Bảy Núi, vũ trang tuyên truyền, vận động được nhiều đồng bào Khơ-me ở vùng Tịnh Biên - Tri Tôn trở về với kháng chiến.
Chiến dịch quy mô tuy nhỏ song đã có sự phối hợp hoạt động trên nhiều hướng, phối hợp giữa tiến công quân sự với vũ trang tuyên truyền, vận động quần chúng, tạo được sự đoàn kết phấn khởi của nhân dân và lực lượng vũ trang trong vùng.
___________________________________
1.Sau này có Chiến dịch Long Châu Hà 2, nên gọi chiến dịch này là Long Châu Hà 1.
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH BẾN CÁT 2
(Tiến công, từ ngày 7 tháng 10 đến ngày 15 tháng 11 năm 1950)
Mùa thu 1950, tại Gia Định, sau khi tăng cường đóng quân trong hệ thống đồn bốt và lập thêm nhiều tháp canh mới, thực dân Pháp bung ra lấn chiếm các vùng ngoại vi Hóc Môn, Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè và tung quân càn quét mãnh liệt vào các căn cứ của ta ở Mỹ Bình, Bến Cát, Vườn Thơm, Rừng Sác, trong đó uy hiếp mạnh căn cứ Hóc Môn và Bến Cát, ngăn chặn hành lang vận tải và thông tin liên lạc từ thành phố Sài Gòn lên các căn cứ Hố Bò, An Nhơn Tây và Long Nguyên của ta.
Trước tình hình đó, tháng 10 năm 1950, phối hợp với Chiến dịch Biên Giới ngoài Bắc Bộ, Bộ tư lệnh Khu 7 quyết định mở Chiến dịch Bến Cát lần thứ hai, nhằm mục đích cắt đứt và giải phóng đường số 7 và số 14 của địch mở rộng căn cứ liên hoàn của ta hai bên sông Sài Gòn, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong toàn khu, mở thông đường tiếp tế từ Khu 8 lên Sài Gòn và vùng căn cứ miền Đông Nam Bộ. Với riêng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định thì Chiến dịch Bến Cát 2 sẽ có tác dụng trực tiếp chia cắt đường 5, Hóc Môn, giải toả áp lực của địch ở Hóc Môn vào căn cứ của ta, nối thông hành lang từ Sài Gòn lên căn cứ của Đặc khu.
Huyện Bến Cát ở phía tây bắc Sài Gòn, nằm kẹp giữa đường 13 ở phía đông và sông Sài Gòn ở phía tây (địa hình: như ở Chiến dịch Bến Cát 1 đã trình bày).
Trên địa bàn chiến dịch, địch tổ chức phòng thủ tương đối mạnh. Ngoài hai cứ điểm chính Bến Cát và Dầu Tiếng, chúng còn có bốn đồn kiên cố: Bến Súc, Rạch Bắp, Rạch Kiến và Bà Thiện. Trên tuyến đường số 7 và 14 chúng đóng 17 tháp canh. Quân số lên tới hai tiểu đoàn bộ binh với trang bị vũ khí mạnh, có 12 máy bay, tám xe tăng, 73 xe cơ giới ngoài ra còn có pháo 105mm và 155mm chi viện.
Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm hai tiểu đoàn 303 chủ lực Khu và tiểu đoàn 302 thuộc liên trung đoàn 301 - 310; chín đại đội độc lập gồm hai đại đội của tiểu đoàn 304 thuộc liên trung đoàn 306 - 312; hai đại đội binh chủng và năm đại đội độc lập của các huyện Bến Cát, Hớn Quản, Châu Thành, Trảng Bàng, Hóc Môn, cùng với hơn ba vạn dân quân du kích và dân công của các địa phương trên. Phối hợp với chiến dịch, bộ đội và dân quân du kích các tỉnh lân cận (Thủ Dầu Một, Biên Hoà, Tây Ninh) phá giao thông, đánh nghi binh, quấy rối kìm chân địch, không cho chúng tiếp viện cho Bến Cát khi bộ đội ta tiến công.
Bộ chỉ huy chiến dịch: Chỉ huy trưởng: Tô Ký; Chính trị viên: Nguyễn Duy Hanh; Tham mưu trưởng: Lê Đức Anh.
Chiến dịch chia làm ba đợt.
Đợt 1 (từ ngày 7 đến 10 tháng 10):
Theo kế hoạch, 23 giờ ngày 7 tháng 10 phân đội đánh cầu Bến Cát cho nổ mìn đánh sập cầu làm hiệu lệnh nổ súng, mở màn chiến dịch. Nhưng 21 giờ cùng ngày, phân đội đánh tháp canh Suy-nô (Sunaud) trên đường tiếp cận mục tiêu gặp địch, đã nổ súng trước giờ quy định. Thấy vậy, phân đội đánh tháp canh Kiến Điền cũng nổ súng, làm cho quân địch đề phòng và đưa quân ra ứng viện. Do đó phân đội đánh cầu Bến Cát chưa kịp nổ bộc phá, phải rút quân.
Tại đồn Bến Súc1 mục tiêu chủ yếu của chiến dịch do hai đại đội của tiểu đoàn 302 và đại đội 902 bộ đội địa phương huyện Bến Cát đảm nhiệm; do có bộ phận bị lạc đường nên đến 3 giờ ngày 8 tháng 10 mới triển khai xong (chậm hơn 4 giờ). 3 giờ 10 phút, tập trung hoả lực bắn vào đồn, trong đó có khẩu 75mm vừa moi ở dưới đất lên (chôn giấu từ năm 1949), pháo bắn được hai quả, không trúng đồn thì hỏng, phải sửa chữa. Hai tổ trinh sát công binh dùng FT phá hai lô cốt số 1 và số 2. Bộ đội xung phong đánh chiếm trại lính, sở chỉ huy, kho đạn, làm chủ được nửa phần phía nam đồn. Địch cho xe thiết giáp ra, dùng hoả lực ngăn chặn ta quyết liệt. Khẩu pháo bị hỏng, ta sửa mãi không được, nên ban chỉ huy trận đánh cho bộ đội rút lui. Ngày hôm sau, quân Pháp mở trận càn lớn vào căn cứ của tỉnh, chúng sục sạo cố tìm khẩu pháo của ta; nhiều nhà cửa ruộng vườn bị chúng đốt phá.
Cũng trong đêm 7 rạng 8 tháng 10, ta tiến công và diệt các tháp canh Suy-nô, Kiến Điền, Sở Sao, Truông Thân. Tại đồn Rạch Bắp, quân ta đào hầm ngầm mới tới ngoài hàng rào, đúng giờ hiệp đồng, các chiến sĩ ta xung phong, nhưng không vào được đồn phải lui quân.
Ngày 8 tháng 10, địch tổ chức ứng cứu Bến Cát. Chúng cho ba máy bay đánh phá các xã Thanh Tuyền và Kiến An. Ba trung đội thiết giáp từ cây Soài theo đường 7 tăng viện cho Bến Súc. Một tàu và hai ca nô từ Thủ Dầu Một theo đường sông lên bảo vệ cho Bến Súc từ phía tây.
Ngày 9 tháng 10, ta chuyển sang phá hoại đường 7 và 14. Lực lượng dự bị được điều lên bố trí trận địa đánh phục kích trên đường 14, đoạn từ Dầu Tiếng đi Bến Súc. Tiểu đoàn 304 vận động về Long Nguyên theo quốc lộ 13 đón đánh địch càn vào căn cứ. Bốn ngày chiến đấu đầu tiên, chiến dịch phát triển không thuận lợi. Ngày 10 tháng 10 đợt 1 kết thúc.
Đợt 2 (từ 13 đến 30 tháng 10):
Các đơn vị triển khai lực lượng bao vây các vị trí, tháp canh và tiến hành phá giao thông.
Ngày 15, có cơ sở làm nội ứng trong đồn Mát-xa-ri, hai tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn 302 bao vây đồn và buộc hai trung đội lính ngụy ra hàng, mang hết vũ khí theo kháng chiến. Ta thu hai xe vũ khí và đồ dùng quân sự. Cùng ngày, đại đội 902 đánh sập một tháp canh trên quốc lộ 7. Các tháp canh: Làng 18, Nhíp 27, IRCI, Mỹ Thành, Cây Đa... lần lượt bị quân ta tiêu diệt hoặc bức rút.
Trên hướng quốc lộ 13, trong hai ngày 21 và 22 tháng 10, các tiểu đoàn 303, 302 và 304 chặn đánh quyết liệt các đoàn xe vận tải, đốt và phá 65 xe, 175 tấn mủ cao su, thu 12 xe, 11 máy thông tin vô tuyến điện. Từ cuối tháng 10 trở đi, hàng chục tháp canh của địch bị nhổ. Đoạn đường từ Bến Súc đi Dầu Tiếng bị cắt đứt. Ngày 30 tháng 10, ta đánh chìm ba tàu (trong đoàn tàu tiếp tế) trên sông Sài Gòn. Đợt 2 chiến dịch kết thúc.
Đợt 3 (từ 11 đến 15 tháng 11 năm 1950):
Hai tiểu đoàn 302, 304 trở lại hoạt động dọc tuyến quốc lộ 7 và 14, bao vây đồn Rạch Bắp, Rạch Kiến, hỗ trợ lực lượng dân quân du kích và quần chúng phá đường. Tiểu đoàn 303 cùng bộ đội địa phương bám đánh địch trên đường 13 và đường xe lửa.
Đêm 8 tháng 11, bằng phương pháp bí mật luồn sâu lót sẵn, nổ súng bất ngờ, trong ngoài kết hợp, tiểu đoàn 302 tiến công tiêu diệt đồn Bến Súc; diệt một trung đội Âu - Phi, thu một khẩu trọng liên và nhiều súng trường, đạn dược. Ngày 15 tháng 11, hai tiểu đoàn 302 và 303 diệt 20 xe địch và lực lượng đi hộ tống trên quốc lộ 13, đoạn phía nam Hớn Quản. Đêm 15 ta đặt bộc phá đánh sập cầu Bến Cát, cắt đứt đường số 7. Ta chủ động kết thúc chiến dịch.
Kết quả: Địch bị diệt 509 tên, bị thương 155 tên, bị bắt 120 tên. Ta đánh sập và bức rút hơn một chục tháp canh, đồn bốt, 12 cầu cống, phá 84 xe quân sự, năm đầu máy xe lửa, bảy xuồng và tàu thuỷ, thu nhiều súng đạn và đồ dùng quân sự.
Đây là một chiến dịch được coi là đầu tiên và lớn nhất của miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp. Lần đầu tiên lực lượng vũ trang nhân dân Gia Định tham gia một chiến dịch hợp đồng nhiều đơn vị. Chiến dịch không những đạt được yêu cầu cơ bản đề ra ban đầu, mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho quân và dân miền Đông Nam Bộ về khả năng hiệp đồng tác chiến, sử dụng nhiều lực lượng trên một địa bàn rộng, về đánh đồn bốt, về sử dụng đặc công, pháo binh, chuẩn bị hậu cần và huy động lực lượng quần chúng tham gia với quy mô lớn, về cách phân chia chiến dịch ra nhiều đợt và tổ chức củng cố, điều chỉnh, rút kinh nghiệm giữa hai đợt chiến đấu, về kết hợp linh hoạt, sáng tạo giữa tiến công trực diện với công tác binh vận, giữa lực lượng đánh từ ngoài vào với lực lượng nội ứng ở bên trong để đạt được hiệu quả chiến đấu cao.
Trong Hội nghị tổng kết chiến dịch, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ uỷ đánh giá: Chiến dịch Bến Cát 2 đã đánh dấu một bước trưởng thành quan trọng của các lực lượng vũ trang Khu 7, đưa phong trào kháng chiến của quân và dân miền Đông Nam Bộ hoà nhịp với cuộc kháng chiến trên chiến trường cả nước.
______________________________________
1.Trong cuốn “Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến” tr. 241 ghi là đồn Rạch Kiến.
chuongxedap:
CHIẾN DỊCH TRẦN HƯNG ĐẠO1
(Tiến công, từ ngày 25 tháng 12 năm 1950 đến ngày 18 tháng 1 năm 1951)
Ngay từ đầu năm 1950, Đảng ta đã xác định “Đánh dần trung du, củng cố căn cứ địa chính” là một nhiệm vụ thiết thực của quân và dân ta. Trong kế hoạch tác chiến Thu Đông 1950, Bộ Tổng tham mưu đã xác định sau Chiến dịch Biên Giới sẽ mở tiếp chiến dịch mới ở Trung du. Cuối tháng 9 năm 1950, Bộ Tổng tham mưu đã cử cán bộ xuống phối hợp với Liên khu Việt Bắc tiến hành chuẩn bị chiến trường. Sau Chiến dịch Biên Giới sau khi được Ban Thường vụ Trung ương Đảng phê chuẩn Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở Chiến dịch Trần Hưng Đạo tiến công địch ở Trung Du và một số hướng khác nhằm mục đích: “Tiêu diệt sinh lực địch. Mở rộng khu lương thực, phát triển du kích chiến tranh. Tranh thủ thời gian, phá kế hoạch củng cố của địch, tạo điều kiện mới để tiêu diệt sinh lực địch nhiều hơn nữa”.
Trung du là miền đất có giá trị chiến lược nhiều mặt. Sau khi ta giải phóng biên giới, mở rộng vùng tự do ra khắp vùng phía bắc Bắc bộ, thì Trung du trở thành tuyến phòng thủ chủ yếu của địch, cùng với tuyến sông Đáy ở phía tây nam tạo thành một vành đai ôm lấy vùng đồng bằng, chống lại mọi sự xâm nhập của ta. Trung du cũng là một kho người, kho của có khả năng cung cấp khá dồi dào cho chiến tranh và là một bàn đạp thuận tiện để địch tập trung lực lượng và binh khí kỹ thuật tiến công, uy hiếp Việt Bắc.
Sau thất bại ở Chiến dịch Biên Giới, địch hết sức hoang mang dao động, chúng tăng cường phòng thủ trên tuyến bắc Hà Nội, rút bỏ nhiều vị trí ở vùng rừng núi cô lập, tập trung hầu như toàn bộ lực lượng cơ động chiến lược ra chiến trường Bắc bộ và hướng lực lượng này về phía Trung du nhằm đối phó với cuộc tiến công lớn của ta từ phía bắc xuống.
Lực lượng địch ở Trung du lúc này có tám tiểu đoàn và tám đại đội chiếm đóng ở các khu vực Phú Yên (một tiểu đoàn), Phù Lỗ (một tiểu đoàn, hai đại đội), Vĩnh Yên (hai tiểu đoàn, hai đại đội), Bắc Ninh (hai tiểu đoàn), Lục Nam (một tiểu đoàn), Bắc Giang (một tiểu đoàn, bốn đại đội). Ngoài ra còn các binh đoàn cơ động mới thành lập đứng chân ở Bắc Ninh (GM1), Gia Lâm (GM2), Vĩnh Yên (GM3), Bắc Giang (GM5), Phù Lỗ (GMNA)... sẵn sàng được tung ra để làm nhiệm vụ tiến công và tăng cường phòng thủ cho phía trước.
Về phía ta, ngay từ trung tuần tháng 112, Đảng uỷ, Bộ chỉ huy chiến dịch đã được thành lập. Đồng chí Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Ủy viên thường vụ Trung ương Đảng được chỉ định làm Bí thư kiêm Chỉ huy trưởng mặt trận, các cơ quan của Bộ chỉ huy chiến dịch Biên Giới được chuyển thành cơ quan của Bộ chỉ huy Chiến dịch Trần Hưng Đạo.
Sau khi được thành lập, Đảng ủy chiến dịch đã họp và xác định: trong thời kỳ đầu, hướng chính chiến dịch là vùng Trung du từ Việt Trì đến Bắc Giang, trong đó hướng tiến công chủ yếu nhằm vào Vĩnh Yên, Phúc Yên. Hướng phối hợp là đông bắc và Liên khu 3. Nếu tình hình thuận lợi sẽ tiếp tục tiến công chủ yếu ở Trung du, trong trường hợp khác có thể chuyển hướng sang đường 18 hoặc Liên khu 3.
Về lực lượng, trên hướng chính, Bộ chỉ huy chiến dịch sử dụng Đại đoàn 308, Đại đoàn 312 (thiếu trung đoàn 165) và ba liên đội sơn pháo 75mm (mỗi liên đội có sáu khẩu). Hướng đông bắc (hướng phụ), thành lập mặt trận có trung đoàn 174 và 98. Hướng Liên khu 3, giao cho Đại đoàn 320 và 304 hoạt động ở vùng Ninh Bình và Sơn Tây. Tổng quân số tham gia chiến dịch lên tới 43.500 người.
Trong quá trình chuẩn bị, Bộ chỉ huy xác định nguyên tắc chiến dịch là: “Trước chia lực lượng đánh nhỏ, sau tập trung đánh to”, đồng loạt đánh nhiều trận nhỏ, song từng trận phải tập trung ưu thế lực lượng, góp nhiều thắng lợi nhỏ thành thắng lợi lớn. Về chiến thuật, áp dụng cách đánh “Bôn tập” tức là chuẩn bị sẵn rồi từ xa cơ động tới đánh nhanh, giải quyết nhanh, rút nhanh.
Cũng trong tháng 11, phòng cung cấp chiến dịch được thành lập do đồng chí Trần Hữu Dực - Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách và bắt đầu triển khai toàn diện công tác bảo đảm. Một hệ thống kho tàng, bệnh viện dã chiến được bố trí trên các hướng tiến công của chiến dịch. Nhiều kho gạo nhỏ được đưa sát vào khu vực dự kiến chiến đấu để đảm bảo có thể nhanh chóng tiếp lương cho bộ đội khi chiến đấu. Bộ đội được cấp lương khô, các đại đội được cấp phiếu “vận động chiến” để có thể lấy lương thực, thực phẩm ngay tại chỗ ở tất cả các xã vùng tạm chiếm trên địa bàn xảy ra chiến sự.
Các trường quân y tạm thời nghỉ học để tập trung phục vụ chiến dịch. Trên 300 y sĩ, bác sĩ, y tá, cứu thương được huy động. Cục Quân y đã tổ chức ba bệnh viện, ba đội điều trị trên ba hướng chiến dịch. Các trung đoàn được phối thuộc từ 250 đến 300 dân công làm nhiệm vụ tải thương. Trên 27.600 dân công thường trực được huy động và ta đã chuẩn bị được 4.960 tấn lương thực, 416 tấn đạn dược vũ khí đảm bảo cho chiến dịch3.
Ngày 15 tháng 12 năm 1950, Đảng uỷ chiến dịch họp tại xã Hợp Thành, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên kiểm điểm công tác chuẩn bị và triệu tập hội nghị giao nhiệm vụ cho các đại đoàn trên hướng chủ yếu. Đại đoàn 308 được phối thuộc hai đại đội sơn pháo 75mm có nhiệm vụ tiến công địch trên hướng chủ yếu Trung du, trước mắt tiêu diệt bốn vị trí: Hữu Bằng, Tú Tạo, đồi Cà Phê, Chợ Thá. Đại đoàn 312 (hai trung đoàn) được phối thuộc một đại đội sơn pháo 75mm, tiến công trên hướng thứ yếu. Trước mặt tiêu diệt hai vị trí Chợ Vàng và Ba Huyên.
Trên các hướng phối hợp: khu Duyên hải Đông bắc, trung đoàn 174 và trung đoàn 98 tiêu diệt hai cứ điểm Bình Liêu và Hoành Mô. Ở hướng Liên khu 3, các trung đoàn 48, 64, 52 và lực lượng vũ trang địa phương do Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ huy và đặt kế hoạch.
Bộ chỉ huy dự kiến nổ súng vào đêm 26 tháng 12. Thượng tuần tháng 12 năm 1950, sau một thời gian chấn chỉnh huấn luyện ở Cao Bằng, Lạng Sơn, năm trung đoàn của Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 bắt đầu hành quân về Trung du và hoàn tất mọi công tác chuẩn bị.
Chiến dịch được tiến hành theo hai đợt. Đợt 1, theo kế hoạch, ta sẽ nổ súng vào ngày 26 tháng 12, nhưng ngày 25, binh đoàn cơ động số 3 (GM3) của địch gồm ba tiểu đoàn mở cuộc hành quân Bê-cát-sin đánh lên Xuân Trạch, Liễu Sơn, Thản Sơn (Vĩnh Yên), đúng vào khu vực tập kết của Đại đoàn 312.
Cuộc hành quân của địch tuy bất ngờ, song không gây đảo lộn lớn cho ta. Bộ đội ta đã chuẩn bị xong và sẵn sàng nổ súng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 312 nổ súng chặn đánh cuộc hành quân, mở màn đợt 1 chiến dịch.
Đại đoàn 312 nhanh chóng triển khai thế trận chặn đánh địch. Ngày 25 tháng 12 năm 1950, tiểu đoàn 10 dù thuộc địa (10e BPC) và tiểu đoàn Mường chia làm hai cánh tiến vào Thản Sơn, Liễn Sơn. Trung đoàn 141 cùng bộ đội địa phương Vĩnh Phú, Phú Thọ chặn đánh, địch buộc phải dừng tại Liễn Sơn chờ quân ứng cứu. Ngày 26, tiểu đoàn 24 Xê-nê-gan (24e BMTS) lên ứng cứu cũng bị chặn đánh phải dừng lại ở Xuân Trạch, một làng nằm giữa những quả đồi xen kẽ rừng thưa, tây Liễn Sơn khoảng năm ki-lô-mét.
Dự kiến địch sẽ dừng lại tại Xuân Trạch, Đại đoàn 312 đã điều trung đoàn 209 và tiểu đoàn 428 trung đoàn 141 về hướng Xuân Trạch chặn địch và hình thành thế bao vây không cho địch rút chạy. Khi biết tiểu đoàn 24 Xê-nê-gan dừng lại ở Xuân Trạch, trung đoàn 209 đã nhanh chóng tổ chức lực lượng quyết tâm tiêu diệt tiểu đoàn địch vào sáng ngày 27. Theo phương án, tiểu đoàn 154 được tăng cường hoả lực tiến công trên hướng chủ yếu vào bắc Xuân Trạch. Tiểu đoàn 130 tiến công điểm cao 10, nam làng Xuân Trạch. Tiểu đoàn 428 trung đoàn 141 đánh vào Xuân Trạch từ phía tây. Tiểu đoàn 166 làm lực lượng dự bị của trung đoàn.
_____________________________________
1.Còn gọi là Chiến dịch Trung Du.
2.Đảng uỷ chiến dịch được chỉ định sớm, nhưng ngày 30 tháng 11 mới có quyết định chính thức (số 64 QW/TƯ) gồm: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Chu Văn Tấn, Trần Hữu Dực, Đào Văn Trường.
3.Trong thực tế chiến đấu, Hậu cần chiến dịch đã cung cấp cho bộ đội 1.653 tấn lương thực thực phẩm, 3,2 tấn đạn (nhỏ hơn nhiều so với kế hoạch chuẩn bị), cứu chữa 2.048 thương binh.
chuongxedap:
5 giờ sáng ngày 27 tháng 12 năm 1950, Đại đoàn 312 phát lệnh tiến công Xuân Trạch, sau 15 phút hoả lực chuẩn bị, bộ đội ta trên các hướng tổ chức nhiều mũi xung phong, vây chặt làng Xuân Trạch. Ở điểm cao 10 địch chống trả quyết liệt, tiểu đoàn 130 tiến công gặp khó khăn, tiểu đoàn 154 phải tổ chức một mũi đánh sang phía tây hỗ trợ cho tiểu đoàn 130. Khoảng 7 giờ 30 phút, sau hai đợt tiến công quyết liệt ta hoàn toàn làm chủ khu vực Xuân Trạch diệt gọn cả tiểu đoàn địch, bắt sống 240 tù binh, trong đó có tên đại uý tiểu đoàn trưởng. Bị thua đau ở Xuân Trạch, Liễn Sơn, binh đoàn số 3 vội vã rút về Vĩnh Yên củng cố.
Nhận thấy về cơ bản ta vẫn giữ được bí mật, bất ngờ, địch chưa có biến động đáng kể, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tiếp tục tác chiến theo kế hoạch đã định, chỉ điều chỉnh tạm thời chưa đánh Ba Huyên mà đánh hai vị trí khác là Thằn Lằn và Yên Phụ. Trên hướng chủ yếu, trong ba đêm 27, 28, 29 tháng 12, Đại đoàn 308 lần lượt tiêu diệt năm vị trí Tú Đạo, đồi Cà Phê, Hữu Bằng, Thằn Lằn và Yên Phụ. Đánh các vị trí này, các đơn vị đều dùng hình thức “bôn tập”, bộ đội vận động một chặng đường hơn 10 ki-lô-mét, vừa hành quân vừa chuẩn bị, tiếp cận mục tiêu, đánh nhanh, giải quyết nhanh gọn rồi rút trong đêm.
Trên hướng thứ yếu, đến 27 tháng 12, tiểu đoàn 166 trung đoàn 209 được tăng cường hai khẩu pháo 75mm tiến đánh đồn Chợ Vàng. Do tổ chức không chặt chẽ, chủ quan, trận đánh kéo dài đến sáng ta vẫn chưa chiếm được đồn, thương vong lớn, tiểu đoàn 166 phải rút ra ngoài củng cố. Đêm 28, tiểu đoàn được tăng cường hai đại đội của tiểu đoàn 130 vào đánh tiếp cũng không được, ta không giải quyết được đồn Chợ Vàng. Cùng đêm 28, tiểu đoàn 154 đánh hai bốt Sơn Kiệu và Hội An cũng không thành công.
Ở hướng phối hợp Duyên hải Đông bắc, trung đoàn 174 và 98 tiêu diệt cứ điểm Bình Liêu (khoảng 300 địch) vào đêm 26 và tổ chức đánh viện trên đường 18 vào ngày hôm sau. Địch ở đây phải rút bỏ một số vị trí, co về lập khu trung tâm đề kháng ở Tiên Yên để cố thủ.
Sau đêm 29, ta chủ động kết thúc đợt 1. Kết quả ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.300 tên địch, thu nhiều vũ khí. Ta thương vong khá lớn: hy sinh 118 đồng chí, bị thương 630 đồng chí.
Trước những trận tiến công bất ngờ của ta ở Trung du, địch vội vã điều ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh từ Nam bộ ra tăng cường cho Bắc bộ, đưa bốn tiểu đoàn bộ binh ở đồng bằng Bắc bộ lên tăng cường cho vùng Duyên hải Đông bắc. Trên hướng Trung du, các binh đoàn cơ động Pháp vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực Cầu Đuống, có ý định phản kích lại để giành thế chủ động.
Về ta, kế hoạch đợt 2 được xác định như sau: trung đoàn 141 của Đại đoàn 312 tiến công đồn Bảo Chúc, một vị trí quan trọng của địch để thu hút viện binh; Đại đoàn 308 và trung đoàn 209 Đại đoàn 312 làm nhiệm vụ đánh viện trên các hướng từ Vĩnh Yên và Phúc Yên tới. Trên hướng phối hợp, trước ngày hướng chính nổ súng, trung đoàn 98 và 174 sẽ đánh Cẩm Lý và Đồng Kế để nghi binh thu hút địch.
Đêm 12 tháng 1 năm 1951, trung đoàn 98 và 174 nổ súng mở đầu đợt hai chiến dịch. Trung đoàn 174 diệt được đồn Đồng Kế, trung đoàn 98 đánh đồn Cẩm Lý không thành công.
Đêm 13 tháng 1, các đơn vị trên hướng chính bước vào chiến dịch. Trung đoàn 141 đánh đồn Ba Huyên (Bảo Chúc), hai trung đoàn 86, 36 của Đại đoàn 308 và trung đoàn 209 tiến ra chiếm lĩnh trận địa ở Cẩm Trạch, Thanh Vân, Đạo Tú sẵn sàng đánh viện.
Ba Huyên là một cứ điểm mạnh, tiền đồn phía bắc của thị xã Vĩnh Yên, đồn được xây dựng trên quả đồi cao hơn địa hình xung quanh, có hệ thống lô cốt, hầm hào và nhiều lớp vật cản bằng tường cao, hào sâu, hàng rào kẽm gai... Đồn do năm trung đội (hai trung đội ngụy, ba trung đội Âu - Phi) chiếm giữ.
Được đại đoàn giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt đồn Ba Huyên, trung đoàn 141 sử dụng tiểu đoàn 11 và đại đội 58 của tiểu đoàn 428 tiến công trên hướng chủ yếu. Tiểu đoàn 16 làm nhiệm vụ dương công, tiểu đoàn 428 làm lực lượng dự bị. Sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, đêm ngày 13 tháng 1, trung đoàn vào chiếm lĩnh trận địa, tổ chức cắt rào, khắc phục vật cản. 1 giờ 10 phút ngày 14 tháng 1 năm 1951, ta bắt đầu nổ súng tiến công. Trận chiến đấu diễn ra gay go ác liệt. Từ nửa đêm đến 4 giờ sáng, ta mới mở hết hàng rào và đến 10 giờ ngày 14, ta mới tiêu diệt toàn bộ địch, làm chủ trận địa.
Được tin Ba Huyên bị đánh, GM3 của địch tổ chức hai cánh quân từ Vĩnh Yên đến ứng cứu. Khoảng 8 giờ sáng, tiểu đoàn 8 Mường đi đầu đội hình tới ngang Thuỷ An thì bị trung đoàn 209 chặn đánh, bị thiệt hại nặng phải quay về dãy đồi Cẩm Trạch tổ chức chống đỡ, chờ lực lượng phía sau lên. Thấy địch ở phía sau đã tới khu vực dự kiến, trung đoàn 36 và 88 xuất kích, kết hợp với trung đoàn 209 hình thành thế bao vây chia cắt, đánh địch thiệt hại nặng ở khu vực Xóm Le, Đạo Tú và truy kích chúng đến sát cửa ngõ thị xã Vĩnh Yên.
Các lực lượng còn lại của hai đại đoàn thừa thắng hạ một loạt đồn bốt Tam Lộng, Quất Lưu, Mậu Thông, Mậu Lâm... áp sát xuống đường số 2.
Cuộc tiến công của ta ở sát thị xã Vĩnh Yên lập tức gây náo động tới Hà Nội. Ngay ngày 14, địch điều vội GM1 từ Lục Nam lên hỗ trợ cho GM3, đồng thời thả một tiểu đoàn dù xuống tây Vĩnh Yên năm ki-lô-mét.
Về ta, sau thắng lợi ngày 14 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định bao vây thị xã Vĩnh Yên và tổ chức đánh viện đến giải vây cho thị xã. Đại đoàn 312 triển khai ở khu vực Bảo Sơn - Đình Trung. Đại đoàn 308 triển khai ở nam, bắc đường số 2, phía đông thị xã trên khu vực Khai Quang, Ấp Hương, Tam Lộng, Ngoại Trạch, Mậu Thông...
Sáng ngày 15, sau khi cho máy bay ném bom bắn phá dọc đường 2, GM1 từ Hương Canh tiến quân lên thị xã. Đại đoàn 308 tổ chức phục kích chặn đánh ở Mậu Thông - Khai Quang và tây nam Ngoại Trạch. Cuộc chiến ở khu vực phía đông thị xã diễn ra ác liệt, địch dùng cả bom napan - loại bom cháy mới được Mỹ viện trợ, để đánh ta. Đến tối, do bị thương vong nhiều, các đơn vị của ta được lệnh rời khỏi trận địa.
Quyết giữ thị xã Vĩnh Yên, sáng ngày 16, hai binh đoàn cơ động (GM1, GM3) chia làm ba cánh đánh chiếm khu núi Đanh, một dãy điểm cao có giá trị ở phía bắc, đông bắc thị xã Vĩnh Yên 6 - 7 ki-lô-mét. Trên điểm cao Núi Đanh, đã có một bộ phận của trung đoàn 209 chiếm giữ từ trước, song do có lực lượng áp đảo và có sự chi viện của không quân, pháo binh, địch đã đánh chiếm lại toàn bộ khu vực.
Trước tình hình trên, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở khu vực núi Đanh. Hai trung đoàn 88, 36 của Đại đoàn 308 cùng trung đoàn 209 Đại đoàn 312 tiến công địch ở núi Đanh, trung đoàn 141 chặn đường rút của chúng về thị xã, trung đoàn 102 làm lực lượng dự bị.
Khoảng 13 giờ 30 ngày 16, ta bắt đầu tiến công địch ở núi Đanh. Trung đoàn 209 chiếm các điểm cao 70, 103 chặn đánh một bộ phận GM3 buộc chúng phải quay về Vĩnh Yên. Trung đoàn 36 tiến công địch ở điểm cao 157 song không thành công. Đêm 16, ta tiến công các điểm cao 47, 101, 210. Sau nhiều đợt xung phong ta chiếm các điểm cao 47, 101, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn Ma-rốc. Riêng điểm cao 210, ta xung phong nhiều lần song đều không thành công. Khoảng 2 giờ ngày 17, ta thu quân, kết thúc chiến dịch.
Kết quả, qua 23 ngày đêm chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu 5.000 tên địch (bắt sống hơn 2.036 tên), đánh thiệt hại nặng sáu tiểu đoàn, diệt 30 vị trí, thu hơn 1.200 súng (có 13 pháo 75mm), 48 máy vô tuyến điện phá huỷ nhiều xe và phương tiện kỹ thuật, giải phóng một phần phía bắc tỉnh Vĩnh Yên - Phúc Yên ở Trung du và hai huyện Bình Liêu, Hoành Mô ở Đông bắc.
Chiến dịch Trung du là chiến dịch đầu tiên ta sử dụng hai đại đoàn tác chiến ở vùng đồi núi thấp, nơi địch có điều kiện phát huy thế mạnh về hoả lực và cơ động hơn ở chiến trường rừng núi. Chiến dịch đã tạo điều kiện cho bộ đội trưởng thành một bước quan trọng cả về đánh địch trong công sự (công kiên) và đánh địch ngoài công sự (vận động), cả đánh đêm và đánh ngày, trong điều kiện phải thường xuyên đối phó với phi pháo địch ở địa hình trống trải.
Mặc dù kết quả chiến dịch còn hạn chế so vai yêu cầu đề ra và ta còn có một số khuyết điểm trong chỉ đạo và thực hành chiến dịch, song Chiến dịch Trung Du vẫn là “một thắng lợi quan trọng, một bước tiến vững chắc của bộ đội ta về kỹ thuật, chiến thuật và tinh thần chiến đấu... một bước thành công trên con đường tiến tới vận động chiến của quân đội ta”1.
Về nghệ thuật chiến dịch, để khoét sâu chỗ yếu của địch là binh lực bố trí phân tán thành những cứ điểm nhỏ và để hạn chế chỗ mạnh của chúng về lực lượng ứng chiến và hoả lực phi pháo, Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề ra cách đánh khá phù hợp. Đó là bôn tập để tiêu diệt cứ điểm nhỏ, đánh đồng loạt để căng kéo lực lượng cơ động ứng chiến của địch, đánh đêm, đánh nhanh, rút nhanh, giải quyết trong đêm để hạn chế phi pháo.
Trong quá trình chiến dịch, ta thực hiện phương châm “đánh điểm diệt viện, vây điểm diệt viện, lấy diệt viện làm chính”. Vừa tổ chức tiến công đồng loạt các cứ điểm theo kế hoạch, vừa nhanh chóng chớp thời cơ tập trung lực lượng diệt các cụm lớn quân địch tạm dừng hoặc phòng ngự lâm thời ngoài căn cứ (như ở Xuân Trạch, Liễn Sơn, núi Đanh...).
Tuy nhiên, việc chọn hướng tiến công vào Trung du của ta lúc ấy là chưa phù hợp, vì đây là nơi địch phát huy được chỗ mạnh của chúng là hoả lực và sức cơ động. Còn ta, tuy đã có bước phát triển đáng kể song vẫn còn nhiều hạn chế so với chúng về trang bị binh khí kỹ thuật. Trong quá trình chiến dịch có những thời điểm ta đã bỏ lỡ thời cơ như không kịp thời truy kích khi địch tháo chạy (sau trận Liễn Sơn - Xuân Trạch), hoặc không tổ chức tiến công ngay thị xã Vĩnh Yên khi địch đang hoang mang dao động.
_______________________________________
1.Báo cáo kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xb 1963. t.1, tr.142.
macbupda:
Góp sức với bác Chuongxedap một chút nào: Bản đồ chiến dịch Long Châu Hà 1
Navigation
[0] Message Index
[#] Next page
[*] Previous page